Lời Chúa tuần 2 thường niên _ câu truyện minh họa

LỜI CHÚA TUẦN 2 MÙA THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA

CNTN 2A – CHIÊN THIÊN CHÚA

CNTN 2B – MẦU NHIỆM ƠN GỌI

CNTN 2C – HÓA NƯỚC THÀNH RƯỢU Ở CANA

THỨ HAI - RƯỢU MỚI TRONG BẦU DA MỚI

THỨ BA - CỐT LÕI CỦA LỀ LUẬT

THỨ TƯ - CẦN LÀM VIỆC LÀNH

THỨ NĂM - CHÚA GIÊSU LÀ AI?

THỨ SÁU - CHÚA GỌI NHÓM MƯỜI HAI

THỨ BẢY - THÂN NHÂN CỦA CHÚA

 

CNTN 2A – CHIÊN THIÊN CHÚA

Lời Chúa: Ga 1, 29-34

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước.”

Và Gioan đã làm chứng rằng: "Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.” Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa.”

TRUYỆN KỂ

1. Đây Chiên Thiên Chúa--TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong Thánh Lễ, ta đọc Chiên Thiên Chúa nhiều lần. Có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa của cụm từ “Chiên Thiên Chúa.” Nhưng khi Gioan Baotixita giới thiệu Chúa Giêsu cho dân Do Thái: “Đây là Chiên Thiên Chúa” thì người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ.

Trong Kinh Thánh, chiên được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái.

Thế nhưng chiên còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Hằng năm, vào Lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết. Người Do Thái ăn thịt Chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu. Nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Lễ Vượt Qua được cử hành vào đầu mùa xuân. Người Do Thái nhớ đến con chiên. Con chiên đã chết cho họ được sống. Máu chiên đã đưa họ ra khỏi mùa đông tăm tối, tiến vào mùa xuân tươi sáng. Máu chiên đã giúp giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, đưa họ về miền Đất Hứa, sống trong tự do.

Chúa Giêsu đã chịu tử hình vào dịp Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Bữa tiệc ly chính là tiệc Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu ăn với các môn đệ. Chịu chết vào dịp Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu chính là con chiên của Thiên Chúa bị sát tế để cứu nhân loại.

Chúa Giêsu là con chiên hiền lành, không hé môi khi bị đem đi xén lông. Người khiêm nhường gánh lấy tội lỗi nhân loại.

2. Đây Chiên Thiên Chúa.

Muốn giới thiệu khuôn mặt của một người thì người ta phải giới thiệu một khuôn mặt hấp dẫn, đàng này thánh Gioan lại không theo khuôn thức đó. Người ta kể rằng: một tu sĩ kia muốn họa lại chân dung của Đức Giêsu. Được phép của bề trên, ông đi rảo khắp nơi để tìm cho kỳ được người mẫu thích hợp. Thế nhưng, càng tìm kiếm, ông càng khám phá ra rằng, không thể có người nào trên trần gian này hòan tòan giống Đức Giêsu. Từ đó, ông đi đến kết luận: Gương mặt Đức Giêsu phải là tổng hợp của tất cả vẻ đẹp của con người trên trần gian này. Do đó, thay vì chỉ chọn một người mẫu, ông đi thu nhặt tất cả những nét đẹp trên mọi gương mặt mà ông đã gặp.

Thầy dòng kia đã quá băn khoăn về khuôn mặt Chúa Cứu thế, còn thánh Gioan tẩy giả, qua bài Tin mừng hôm nay, thì lại quá đơn giản. Ngài giới thiệu Chúa, bằng một hình ảnh và một tên rất thường: “Đây Chiên của Thiên Chúa.”

Biểu tượng “Con Chiên” mang một dòng lịch sử súc tích. Nó có liên hệ chặt chẽ với những biến cố của ơn cứu độ. Theo truyền thống Do thái trong sách Xuất hành, Thiên Chúa đã phán với Maisen: “Suốt thời gian sắp tới, mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con chiên tuổi được một năm, một con hiến tế vào buổi sáng, con kia vào buổi chiều” (Xh 29,38-39)

Theo đó, qua suốt thời gian dài cho đến năm 70, khi đền thờ bị phá hủy, mỗi ngày vào buổi sáng sớm và buổi chiều, các tư tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên nhỏ cỡ một tuổi làm của lễ tòan thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy, tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước Thiên Chúa.

3. Kitô hữu

Người Kitô hữu là muối, là linh hồn của thế gian. Họ là thành phần của đám đông nhưng lại hành động như men. Họ không thể phân biệt khỏi quần chúng, nhưng họ khác biệt hòan tòan. Một tác giả vô danh hồi thế kỷ thứ 3 đã viết trong tác phẩm gửi cho Diognetus như sau:

 “Người Kitô hữu không khác với những người khác về cư trú, về ngôn ngữ hay về lối sống. Bởi vì họ không cư ngụ thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của lòai người như một số người nọ. Họ sống rải rác trong các thánh phốâ Hy lạp lẫn trong các thành thị của người Mandi, tùy theo số phận dun dủi. Họ sống theo tập tục của dân bản xứ trong cách phục sức, ăn uống, và cách sống nhưng bộc lộ một thái độ sống khiến nhiều người cho là lạ lùng, khó tin nữa. Họ sống trong quê hương của họ mà như những kẻ ở đâu. Họ tuân thủ mọi cái chung như các công dân khác và chịu mọi gánh nặng dường như ngọai kiều. Miền xa lạ cũng là quê hương của họ nhưng mọi quê hương chỉ là đất khách cho họ mà thôi. Họ cũng dựng vợ gả chồng như ai và sinh đẻ con cái, nhưng chẳng hề bỏ con. Họ đồng bàn nhưng chẳng đồng sàng…” (Trích Các bài đọc II, Mùa Phục sinh, tr 84).

Muốn chiếu giãi ánh sáng Chúa Kitô cho người khác, chúng ta phải chiêm ngắm Chúa Kitô bằng cách học hỏi Lời Chúa, áp dụng vào đời sống hằng ngày để chúng ta có thể nói được như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19). Nếu Đức Kitô sống ta, Ngài sẽ hóan đổi dần con người của ta để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ chiếu giãi Chúa Kitô cho người khác được.

4. Nét mặt Chúa Giêsu.

Du khách đến Roma thường đi thăm ngôi thánh đường cổ tên là Dominus sub aquis, vì phía trên bàn thờ có một tượng thánh giá rất đặc biệt: bất cứ ai đến quì trước thánh giá cầu nguyện với tất cả lòng thành đều được sức mạnh và niềm an ủi thẳm sâu.

Người ta kể rằng: Tác giả tượng thánh giá bằng cẩm thạch này đã mất rất nhiều năm mới hòan thành được tác phẩm. Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập bỏ, vì ông cho rằng tác phẩm vẫn chưa diễn đạt được điều ông muốn. Khi ông bắt tay vào công trình lần thứ ba thì cũng là lúc ông gặp nhiều thử thách nhất. Nhiều người ganh tị nên tìm cách hạ uy tín ông. Vợ con ông qua đời trong những hòan cảnh thật đáng thương.

Ai cũng tưởng rằng cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc. Trái lại ông càng miệt mài chú tâm vào công trình. Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của mình lên khuôn mặt của Đức Kitô. Bức tượng của Chúa Giêsu trên thánh giá không còn là phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm hồn. Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người nghệ sĩ muốn tháp nhập vào đó (Thiên Phúc, Tất cả là Hồng ân tr 52-53).

5. Cây dẻ và cây sậy.

Cây dẻ tự hào mình là thứ cây cổ thụ cao lớn đồ sộ, hiên ngang đứng giữa trời đất giang tay đón gió. Dẻ đưa mắt nhìn xuống đám cây lau sống lụp xụp trong bùn dưới chân mình. Dẻ tỏ vẻ khinh khi bảo: “Kìa lòai chi chúng bay mà ta vừa rung lá, bay đã cúi đầu lo sợ.” Khóm lau trả lời: “Chúng tôi cúi đầu mà không gẫy thân. Còn ông hãy coi chừng.” Và cứ thế, lời qua tiếng lại mỗi ngày. Bỗng một ngày kia, trận bão từ biển Đông thổi vào. Cây dẻ cứ đứng vững như trồng, còn lau đua nhau cúi sát mặt. Nhưng trên gió cứ thổi lên, thổi lên từng hồi. Dẻ ta vẫn đứng sừng sững, còn lau nằm sát nước. Bỗng một tiếng đổ sụp vang trời dội đất. Cây dẻ đã trốc rễ và vật mình nằm sõng sượt không thốt lên lời. Qua cơn bão táp, lau đứng dậy vững vàng.

Vâng, lau cúi mình nhưng lau không bị gẫy. Lời thánh Phaolô “trong lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh” là thế đó!

6. Được sống nhờ con chiên.

Trên mái một nhà thờ ở Werden, nước Đức, người ta có thể nhìn thấy một tảng đá chạm trổ một con chiên. Đây là câu chuyện về tảng đá đó. Một công nhân đang làm trên mái nhà thờ này thì dây thừng an tòan bị đứt, anh công nhân bị rớt xuống sân nhà thờ, mà sân thì xếp đầy những đống đá lớn. Thế nhưng anh công nhân không bị thương nặng. Có một con chiên đang gặm cỏ giũa hai khối đá lớn. Anh công nhân rớt xuống trên con chiên và đè nó chết, làm tiêu tan điều được coi là cú rơi định mệnh.

Để nhớ ơn, anh công nhân đã chạm trổ một con chiên bằng đá và đặt trên mái nhà thờ. Đó là một cách tốt đẹp bày tỏ lòng biết ơn của anh ta đối với một con vật đần độn, đã cứu mạng anh mà nó không biết (Arthur Tonne).

Thánh lễ nào cũng là thánh lễ tạ ơn. Chúng ta sốt sắng dâng Thánh lễ này để cảm tạ Chúa vì công ơn cứu chuộc Đức Kitô đã dành cho chúng ta, và trước khi rước lễ, chúng ta cầu xin với Chúa Giêsu bằng lời nguyện “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con.”

7. Tầm thường mà cao cả

Thiên Chúa nhưng Chúa đã sống hoà mình với mọi người. Nhưng khi sống hòa mình với mọi người chúng ta thấy Ngài vẫn luôn giữ được phẩm giá của mình là Thiên Chúa. Xin được gửi đến anh chị em một bài thơ mà tác giả là Rabindranath Tagore, một nhà văn hào được cả loài người kính nể và yêu mến. Ông đã có rất nhiều cảm nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu mặc dù ông không phải là một người có đạo. Đây là một bài thơ ông viết ra để để mô tả về cuộc đời của Chúa, một cuộc đời cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài vẫn giữ được tâm hồn cao thượng.

Sáng hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng. Con cứ thắc mắc mãi: ở nhà quê thì có gì vui đâu mà lại đi tổ chức... du lịch?

Vậy mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cầy đằng sau con trâu gầy còm của một bác nông dân. Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ vào một mảnh ruộng khác đang khô nước.

Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa... Con cũng đành phải làm theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những vất vả cực nhọc! Rõ khổ!

Đến quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cầy chất phác và vui tính sau khi uống một bát nước vối họ mời. Chúa quay lại bảo con: “Nào, chúng mình về một khu ngoại thành đi!”

Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành cho khách du lịch để nghỉ ngơi... Vậy mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại đã ghé vào, xắn tay áo xin cùng làm với họ. Chúa cũng xúc đá, cũng đội sọt cát trên vai hoặc lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường...

Cứ thế, vừa làm Chúa vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm lưng áo. Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ mệt, hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.

Xập tối Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc sau khi rít một điếu thuốc rê với họ. Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó. Con cứ ngỡ phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối, Đói bụng lắm rồi còn gì.

Thế mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng phong. Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm đổ thuốc, lau mặt thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên mùi hôi tanh ghê sợ.

Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp hối sau đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng nỗi tủi nhục, bị con cháu và xã hội xua đuổi. Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ giúp giặt khăn rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa...

Mãi đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt cho cụ già vừa qua đời. Về lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây, khổ quá đi mất!

Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện, biết vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vạ vật như thế này...

Thế rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con: “Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé” Con thở phào yên tâm.

Nhưng tối khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào? Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha... “

Đến lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật lên lời tâm nguyện: “Con cố gắng cúi mình khiêm nhu, xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi, vẫn không sao chạm được...

Vâng sống như Chúa Giêsu là sống như thế: Cao cả trong những cái tầm thường nhưng tầm thường với một tâm hồn cao cả.

8. Người tôi tớ hiền lành và khiêm nhường

Đức Cha Roncali, khi còn làm Sứ thần Tòa thánh ở Bungari đã nhận được một bức thư mà một linh mục nọ đã viết để bêu xấu Ngài. Vị linh mục chỉ trích Ngài một cách thậm tệ, nhưng Đức Cha không hề buồn giận chút nào. Ngài vẫn cầu nguyện cho người anh em linh mục đó.

Hai mươi năm sau, Ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng với tước hiệu Gioan 23. Trong một lần về Rôma để yết kiến Đức Thánh Cha, vị linh mục kia cũng ghi danh vào trong phái đoàn để gặp gỡ vị chủ chăn đáng kính. Vị linh mục này hy vọng rằng thời gian đã lâu, vả lại với bao công việc bề bộn, có lẽ Đức Thánh Cha chẳng còn nhớđến bức thư năm xưa.

Nhưng khi vào triều yết, vị linh mục này rất ngạc nhiên khi được Đức Thánh Cha chào đón niềm nở và hỏi thăm công việc mục vụ của Ngài rất chân tình. Sau đó vị chủ chăn tiến đến bàn làm việc lấy ra cuốn sách nguyện, trong đó có kẹp lá thư mà vị linh mục kia đã gửi cho Ngài trước đây.

Đức Thánh Cha nói: “Con yên tâm, Cha cảm ơn con nhiều lắm. Cha vẫn giữ món quà quý giá này và để nó trong sách nguyện của Cha. Cha vẫn thường đọc lại bức thư đó để xét mình hằng ngày.” Sau đó, Đức Thánh Cha ôm hôn vị linh mục một cách thắm thiết.”

Đây là hình ảnh rõ nét về một vị mục tử chân chính, luôn diễn bày sự khiêm tốn và hiền lành đối với hết mọi người, nhất là đối với các anh em linh mục.

9. Gánh tội trần gian

Có câu chuyện kể rằng, một đệ tử kia, sau nhiều năm tu học với một đạo sư danh tiếng, và giờ đây anh muốn vĩnh biệt vợ con để vào nơi thâm sơn cùng cốc, nhưng anh lại chưa dứt bỏ vợ con được, nên mới nhờ đạo sư hiến kế.

Vị đạo sư dạy cho anh một phương pháp Yoga bí truyền, giúp anh có thể chết giả trong vòng cả hàng mười tiếng đồng hồ.

Thế là hôm ấy, người đệ tử đột nhiên lăn ra chết. Vợ con kêu gào thảm thiết.

Hay tin, vị đạo sư đến thăm. Chứng kiến cảnh vợ góa con côi, vị đạo sư hé mở cho gia đình biết là mình có thể làm cho người chết sống lại được, với điều kiện là có một người trong gia đình chấp nhận chết thay cho người xấu số.

Khi đề nghị người vợ, thì người vợ nức nở than rằng: “Tôi còn cả một gánh nặng gia đình. Nếu tôi chết đi thì lấy ai nuôi đàn con thơ dại …”

Nói tóm lại, chị cần phải sống, không thể chết thay cho anh được.

Đến phiên người con cả thì anh cũng vịn đủ mọi lý do để chứng minh rằng anh cần cho gia đình, cần giúp mẹ để lo cho đàn em. Gia đình không thể thiếu anh.

Rồi đến người con thứ hai, thứ ba… cũng vậy.

Người cha nằm nghe hết sự tình. Anh chợt nhận ra rằng trên đời ít có ai dám chết thay cho người khác. Dù là người vợ mà mình hết mực yêu thương, dù là người con mà mình đã từng hy sinh tất cả cho chúng. Anh giác ngộ và anh đã thóat ly gia đình không thương tiếc.

Hôm nay thánh Gioan giới thiệu với chúng ta: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian.”

Tội trần gian đã làm chúng ta phải chết. Chính Chúa Giêsu đến gánh cái chết của chúng ta để chúng ta được sống.

10. Con Chiên đền tội

Mùa hè năm nào vua Duy Tân cũng ra nghỉ mát ở cửa Tùng, một cửa biển đẹp, yên tĩnh, bãi tắm bằng phẳng, cát trắng mịn màng.

Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay còn dính cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa vừa hỏi đùa:

- Tay bẩn lấy thì lấy nước mà rửa, còn 'nước' bẩn lấy gì mà rửa?

Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì Vua hỏi tiếp:

- "Nước bẩn thì làm thế nào cho sạch?”

Người thị vệ vẫn không trả lời được. Vua Duy Tân bèn nói:

- Nước bẩn thì lấy máu mà rửa!"

Nhà vua khéo chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác ngàn lần đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.

Khi đất nước bị làm nhục, làm bẩn bởi ngoại bang, không có thứ nước nào có thể rửa được, mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, lấy máu đào rửa cho sạch cái nhục vong quốc.

Nhìn theo góc độ thánh kinh, tội lỗi cũng là một vết nhơ trầm trọng không có thứ nước nào có thể tẩy xoá được mà phải cần đến... máu!

11. Tình yêu cứu chữa

Một ngày kia có một bình trà bằng sứ cổ rất đẹp và qúy giá. Người ta yêu thích, và thán phục tác phẩm tuyệt diệu đó. Nhưng không may một ngày nọ, người giúp việc vô ý đánh rơi. Nó vỡ ra. Vỡ cả nắp lẫn vòi. Bình trà sứ đẹp đó coi như vô dụng và bị ném vào đống đồ phế thải.

Nó nằm trong đống phế thải, bụi bặm bám vào nó, rêu mốc mọc lên, bao phủ cái đẹp của nó. Thỉnh thoảng có người đi ngang qua đống phế thải đó tìm kiếm, mong tìm được một cái gì đó có thể sửa chửa và sử dụng lại được chăng. Tuy nhiên ít có người muốn cầm nó lên làm gì cho bẩn tay. Họ chỉ thường liếc qua rồi vội vã đi tìm thứ khác. Cái bình trà đáng thương kia chỉ còn có mơ. Mơ rằng có một ngày nào đó mình sẽ được nguyên ven trở lại.

Rồi một ngày, một người trồng hoa nổi tiếng, ông đến đống phế thải, mắt ông bổng chú ý đến bình trà vỡ. Ông nhận ra một cái gì đó xuyên qua lớp bụi bặm rêu phong. Một ý tưởng chợt đến. Ông sẽ dùng nó làm một bình hoa.

Cho vào một ít đất, ông gieo hạt giống vào, và đặt trên cửa sổ trước nhà. Thời gian trôi qua, hạt giống mọc lên một cây hoa xinh đẹp. Nó xinh đẹp đến nỗi người qua đường phải dừng lại để ngắm nghía nó. Những cánh hoa tuyệt đẹp, nhưng chính cái bình mà cây hoa đang mọc lên lại còn đẹp hơn. Họ hỏi: “Ông tìm ở đâu ra cái bình dễ thương này?”; Người trồng hoa trả lời: “ Ở trong đống đồ phế thải.”

12. Người phải lớn lên

Một Rabbi già nằm trên giường bệnh. Bên giường ông, các môn đệ đang xầm xì với nhau.

Một người trong họ nói:

- Từ thời Salomon đến giờ, chưa có ai khôn ngoan như thầy.

Một người khác nói:

- Và cả đức tin của thầy nữa, nó mạnh mẽ không kém đức tin của tổ phụ chúng ta là Abraham.

Người thứ ba nói:

- Sự kiên nhẫn của thầy cũng không thua gì của ông Gióp.

Người thứ tư tiếp lời:

- Chỉ có ông Môisê mới có thể so sánh với thầy về mức độ hoán cải sâu xa với Chúa như vậy.

Vị Rabbi có vẻ trằn trọc. Khi những môn đệ đi rồi, vợ ông hỏi:

Anh có nghe họ ca tụng anh không?

Rabbi trả lời:

- Có chứ!

Người vợ thắc mắc:

- Vậy sao trông anh có vẻ khó chịu thế?

Người chồng trả lời:

- Vì chẳng ai đề cập đến tính khiêm nhường của anh cả!

Dù Gioan được nhiều người biết đến và ca tụng, nhưng ông một mực từ chối tất cả những danh hiệu nào người ta gán cho ông.Ông chỉ có một mục đích là làm chứng và giới thiệu Đấng Thiên Chúa tuyển chọn, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, dọn đường cho Đấng ấy đến.

13. Gánh tội

Có một câu chuyện thương tâm rằng: Một cô gái đang có người yêu bị một kẻ lạ mặt hãm hiếp và đã có thai. Cô khổ tâm vô cùng vì bị người yêu khước từ và gia đình ngờ vực. Cô đã đến gặp Đức Cha Fulton Sheen than thở với ngài và hỏi ngài: "Tại sao con phải ra nông nỗi này?" Sau khi lắng nghe với tất cả sự cảm thông, Đức Cha ôn tồn trả lời cô gái: "Vì chị đã phải gánh tội của một người.” Rồi Đức Cha Sheen kết luận: Nếu chỉ vì phải gánh tội của một người mà cô gái kia phải đau khổ buồn sầu như thế, thì khi phải gánh chịu tội của cả nhân loại Chúa Giêsu đã phải chịu đau khổ buồn sầu biết chừng nào!

Gánh lấy hết tội lỗi con người mà mang vào thân mình, đó là cái giá mà Con Thiên Chúa đã phải trả cho tình yêu đối với con người. Chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, Đấng đã trở nên Chiên Thiên Chúa để xóa bỏ tội trần gian, chúng ta cũng được mời gọi tháp nhập vào Con Chiên Giêsu để trở nên những con chiên của Thiên Chúa, và sống xứng đáng với ơn gọi của mình là một con chiên của Thiên Chúa.

14. Cây kiếm gỗ (đức tin)

Ngày xưa, có một vị vua ngày đêm lo lắng về sự an nguy cho vương quốc của mình, về kho báu của mình, và đặc biệt về ngai vàng của mình. Ông không tìm thấy bình an trong cuộc sống; các vị quan trở nên mối nghi ngờ, và tương lai trở nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho ông.

Từ chốn cung điện nhìn xuống đám dân nghèo, ông cảm thấy như thèm muốn được như họ, vì ông thấy họ toát lên nỗi đơn sơ, chất phát và không lo lắng cho tương lai. Quá tò mò lối sống của dân nghèo, vị vua quyết định hóa trang thành người ăn mày để tìm hiểu nguyên nhân nào đã làm cho những dân nghèo được bình an và không lo lắng.

Ngày kia, vị vua giả dạng người ăn mày gõ cửa một người nghèo để xin ăn. Người nghèo mời người ăn mày vào và cùng chia sẻ một ổ bánh mì với thái độ hạnh phúc và yêu đời.

Vị vua giả dạng hỏi:

- “Điều gì đã làm ông hạnh phúc như vậy?”

Người nghèo đáp:

- “Tôi có một ngày rất tốt. Tôi sửa giày và kiếm đủ tiền để mua ổ bánh cho buổi tối nay.”

Vị vua giả dạng hỏi tiếp:

- “Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu ngày mai ông không kiếm đủ tiền mua bánh mì?”

- “Tôi có niềm tin vào mỗi ngày. Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp.” Người nghèo đáp.

Sau khi ra về, vị vua muốn thử niềm tin người thợ giày. Ông ra lệnh cấm những người sửa giày dép hành nghề. Khi biết mình bị cấm hành nghề sửa giày dép, người thợ giày nhủ thầm: “Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp.” Ngay lập tức ông thấy một vài phụ nữ đang gánh nước ra chợ bán rau, ông xin được gánh nước thuê cho họ. Và hôm đó, ông kiếm đủ tiền để mua bánh mì cho buổi tối.

Tối đến, vị vua dưới dạng người ăn mày thăm người nghèo. Người nghèo vẫn thái độ ung dung, hạnh phúc với ổ bánh mì của mình. Hôm sau, vua ra lệnh cấm không cho phép hành nghề gánh nước thuê. Và cứ như thế, người nghèo đã thay đổi nhiều nghề khác nhau, nhưng nơi ông vẫn luôn có sự bình an và tin tưởng vào triết lý sống từng ngày cùa mình. Còn vị vua vẫn không thể nào hiểu nổi sự bình an và niềm tin của người nghèo kia. Mỗi lần bị cấm hành nghề, người nghèo vẫn thản nhiên tin rằng, “Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp.”

Vì quá tò mò trước triết lý sống của người nghèo này, vị vua ra lệnh và dàn xếp để người nghèo làm lính cho cung điện. Thật đáng thương, người nghèo không được phát lương hằng ngày, nhưng hằng tháng. Dầu vậy, ông đã bán lưỡi gươm và có đủ tiền để mua bánh mì cho một tháng. Tối đến, ông vẫn có bánh mì và vẫn hạnh phúc.

Vị vua giả dạng thăm ông và hỏi:

- “Hôm nay ông làm nghề gì mà kiếm tiến mua bánh mì?”

- “Tôi được làm lính cho vua.” Người nghèo đáp. Ông cũng đơn sơ kể rằng: “Làm lính nhận lương mỗi tháng, nên tôi đã bán lưỡi gươm thật và đủ tiền để mua bánh mì cho một tháng. Sau khi có lương, tôi sẽ chuộc lại lưỡi gươm và như thế tôi sẽ có cuộc sống tốt hơn. Hiện nay tôi đang dùng lưỡi gươm bằng gỗ.”

Nhà vua giả dạng hỏi tiếp:

- “Nhưng nếu ông phải rút gươm ra vào ngày mai thì sao?” Người nghèo vẫn thản nhiên, “Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp.”

Quả thật, hôm sau người ta bắt được một tên trộm và bị kết án xử chém. Vua yêu cầu người nghèo trong trang phục lính thực hiện việc này. Vì nhà vua biết rằng, với lưỡi kiếm gỗ, người nghèo này sẽ không thể thực hiện được việc này, và như thế để xem thử niềm tin vào triết lý sống từng ngày của ông có thể giúp ông hay không.

Tên tử tội quì mọp xuống chân anh lính và thống thiết van xin được tha mạng vì còn vợ và con nhỏ. Anh nhà nghèo trong tranh phục lính nhìn đám đông xung quanh và hô lớn tiếng:

- “Lạy Đấng Tối Cao, nếu người sắp bị hành quyết này là người có tội, thì xin cho con được phép thi hành lệnh của vua. Nếu người này vô tội, xin hãy biến lưỡi gươm này thành gươm gỗ.”

Ngay tức khắc, anh rút lưỡi gươm và lưỡi gươm anh cầm trên tay là lưỡi gươm gỗ. Đám đông đồng thanh la lên:

- “Đây là phép lạ,” và người bị kết án được tha.

Vị Vua truyền lệnh tha tên ăn trộm đồng thời tiến đến người lính nghèo thú nhận rằng:

- “Trẫm chính là người ăn mày mỗi tối tại nhà ngươi. Từ nay trở đi, trẫm muốn ngươi là bạn và là quân sư cho trẫm.”

15. Tất cả để vinh danh Chúa hơn

Có một câu chuyện kể về bản di chúc của một người sắp quá cố, trong đó có đoạn viết: “Khi tôi chết, xin đừng ghi tên tuổi, chức nghiệp của tôi qua tấm bia nơi phần mộ, nhưng hãy ghi rằng: ‘Những gì tôi đang có, xin trả lại cho đời. Những gì thuộc về tôi nay không còn nữa. Những gì tôi cho đi, từ nay thuộc về tôi’.” Thật tuyệt vời khi không nghĩ gì cho mình, mà chỉ còn nghĩ đến người khác, ngay cả lúc chết!

Hôm nay, thánh Gioan Tẩy Giả sau khi đã trả lời cho các Tư tế và thầy Lêvi về thân thế, vai trò của mình, ông đã lợi dụng cơ hội này để giới thiệu cho họ biết về Đấng Kitô mà muôn dân đang mong đợi.

Thật vậy, Gioan Tẩy Giả đã không ham hố quyền lợi, uy tín, công danh, vì thế, khi ông thấy Đức Giêsu tiến về phía mình thì đã hô lên và chỉ cho mọi người biết về con người và sứ vụ của Đức Giêsu, ông nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29).

Khi nói như thế, Gioan đã thực sự khiêm nhường khi nhận mình chỉ là người dọn đường cho Đấng Cứu Thế, nay Đấng ấy đến, ông không ngần ngại reo lên để mọi người biết và tin theo Ngài! Đồng thời ông cũng trao lại cho Đức Giêsu tất cả mọi sự từ uy tín, đến sứ vụ...

16. Khiêm nhường để được sống

Ngày kia một ông triết gia nọ thuê đò qua sông. Ông hất hàm hỏi anh lái đò:

- Này chú, chú có biết đọc biết viết hay không?

- Bẩm nhà cháu nghèo, nên cháu không được đi học ạ.

- Ồ, thế thì uổng mất một phần ba cuộc đời. Vậy chú có biết triết lý, suy luận những sự cao siêu như ta đây hay không?

- Bẩm nhà cháu quê mùa dốt nát thì làm sao mà biết suy luận được?

- Thật đáng tiếc, lại uổng mất một phần ba cuộc đời.

Lúc ấy, đà đã ra giữa sông, chẳng may gặp phải xoáy nước. Ông triết gia hoảng sợ đứng lên, con đò tròng trành rồi lật úp. Anh lái đò cố gắng lắm mới bơi được vào bờ còn ông triết gia thì chơi vơi và bị dòng nước cuốn trôi. Thấy thế, anh lái đò bèn lẩm bẩm:

- Không biết bơi thì uổng cả một đời.

Trước hết kẻ khiêm nhường sẽ được mọi người yêu thương, còn kẻ kiêu căng sẽ bị mọi người ghét bỏ. Không những được mọi người yêu thương mà hơn thế nữa, kẻ khiêm nhường còn được chính Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc.

17. Điều đáng quý hơn

Thánh Tôma Aquinô là một nhà thần học nổi tiếng, một vị tiến sĩ của Giáo hội vào thời trung cổ. Hôm ấy, có một vị giáo sư tên là Pondo đến Rôma. Ông trọ tại dòng Đaminh và ngỏ ý muốn đi thăm đền thờ Latêranô những hành lý lại quá cồng kềnh. Cha bề trên nói với ông là cứ việc nhờ một thày dòng nào vác giùm cũng được. Vừa nhìn thấy một tu sĩ đang quì cầu nguyện trước tượng thánh giá ở trong vườn, ông bèn lên tiếng gọi:

- Ê thày mập mập kia, lại vác giùm cho mớ hành lý này nhé.

Không ngờ thày mập mập ấy chính là thánh Tôma Aquinô, vị tiến sĩ thiên thần, người bạn thân thiết của Đức thánh Cha và quen biết với các vị hoàng đế. Mặc dù bị phù thũng và bước đi rất đau đớn, nhưng thánh nhân vẫn vui vẻ giúp đỡ cho Pondo. Trong lúc đi đường, vị giáo sư hỏi thánh nhân làm gì tại nhà dòng? Thánh nhân trả lời:

- Tôi cố gắng học biết hơn về Thiên Chúa.

Giáo sư Pondo vui vẻ nói:

- Tôi đã dạy môn đó tại các đại học nổi tiếng, nhưng từ lâu tôi đã chuyển sang một môn khác thực tế hơn, đó là môn luật. Còn thần học chỉ thích hợp với những kẻ viễn vông và ưa phức tạp. Câu chuyện cứ tiếp tục cho đến khi một vị Giám mục đi qua, ngạc nhiên và kêu lên:

- Ủa, Thày Tôma, thày làm gì vậy?

Biết được người mang hành lý hộ mình là Tôma Aquinô, vị giáo sư liền ấp úng xin lỗi, thế những thánh nhân đã ôn tồn trả lời: Giáo sư chẳng có gì phải xin lỗi cả, tôi chỉ làm tròn bổn phận của tôi mà thôi, giáo sư hãy tin tôi, không phải những điều tôi viết là đáng kể, nhưng chính hành động bác ái này mới là đáng kể và có giá trị hơn mọi cuốn sách của tôi.

18. Nhạc phẩm "Đấng Cứu Thế"

Vào một buổi tối năm 1741, người ta thấy người nhạc sĩ già Hallmen lang thang trong một phố nghèo lênh đênh bên Anh Quốc. Người nhạc sĩ già như đang nuốt từng nỗi đắng cay mà triều đình đã dành cho ông. Từ hơn 40 năm qua, ông đã đem tất cả tài năng và sự hăng say của mình để phục vụ triều đình. Thế nhưng, giờ đây ông cảm thấy mình giống như một trái chanh đã vắt hết nước.

Bốn năm trước đó, ông đã bị chứng xuất huyết não làm cho ông bị bại hẳn một bên, khiến ông không còn đi đứng bình thường và sáng tác được. Nhưng dần dần nhờ ý chí sắt đá, ông đã thu hồi được khả năng đi lại và bắt đầu sáng tác lại. Nhưng giờ đây với cái tuổi 60 và với khí trời lạnh như cắt của nước Anh, ông cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Tình cờ, khi đi qua một ngôi Thánh Đường, ông bỗng nghe vọng lên trong tâm hồn ông chính tiếng kêu của Chúa Giêsu: Lạy Chúa con, lạy Chúa trời con. Sao Chúa bỏ con.”

Như có một sự thôi thúc lạ lùng, người nhạc sĩ quay về nhà, trong đám giấy vứt ngổn ngang trên bàn làm việc, ông đọc được câu Kinh Thánh như sau: "Người đã bị khinh bỉ và bị mọi người phế bỏ.” Nguồn cảm hứng tưởng đã cạn nay lại trải cuộn trên từng trang giấy, hết trang này đến trang khác, những nốt nhạc cứ thế mà tuôn trào. Sau hai mươi bốn ngày làm việc liên lỉ, nhạc sĩ Hallmen đã hoàn thành tác phẩm để đời tựa đề là: "Đấng Cứu Thế.” Từ đó, cứ mỗi dạo Giáng Sinh và Phục Sinh người ta lại có dịp nghe được tác phẩm tuyệt trác để đời.

19. Đấng xoá tội trần gian

Ở Tây Ban Nha có tượng Thánh giá đặc biệt. Cánh tay trái của Chúa Giêsu vẫn còn đóng vào gỗ giá, nhưng cánh tay phải thì rời ra và đưa ra phía trịíớc trong tư thế ban phép lành. Người địa phương kể nguồn gốc thánh giá nầy như sau:

Có một tội nhân đến xưng tội với Linh Mục chính xứ ngay dưới cây Thánh giá nầy. Vị Linh Mục thường nghiêm khắc, tội nhân về lòng đầy nhẹ nhàng. Nhưng rồi cứ chứng nào tật nấy, anh vẫn sa ngđã lại rồi đến xưng tội đó mãi. Linh Mục răn đe anh:

- Đây là lần cuối cùng tôi giải tội cho anh.

Chẳng bao lâu anh tái phạm nữa và đến xưng tội. Linh Mụcũnghiêm nghị từ chối và bảo:

- Anh đừng đùa với Chúa nữa.

Nhưng lạ thay, bàn tay phải của chúa Giêsu bỗng ban phép lành cho tội nhân, và có tiếng từ cây Thánh giá vọng ra:

- Chính Ta đã đổ máu ra chuộc tội người nầy chứ không phải con.

20. Đấng Cứu Độ duy nhất của loài người

Ở Ý, một trong những thắng cảnh danh tiếng nhứt là ngọn tháp nghiêng ở thành Pisa, quê hương của nhà thiên văn học kiêm vật lý học Ganinê. Đây là một trong bảy kỳ quan thế giới, phải trải qua 199 năm xây cất, từ năm 1173 đến năm 1372. Đỉnh tháp nghiêng hẳn một bên, cho mọi người hiểu rằng tháp đang từ từ đổ xuống như cây cổ thụ đang bị trốc gốc, như đời người đang đi đến cõi chết.

Tháp được xây dựng bằng đá cẩm thạch quý giá, nhưng không có nền vững chắc. Nền toà tháp cao 55m, dày 4m, đã bắt đầu xê dịch khi xây xong từng thứ ba. Trong 8 thế kỷ qua, mỗi năm tháp lún nghiêng 1 ly. Mỗi năm chỉ nghiêng thêm 1 ly thôi, nhưng đến nay đã nghiêng đến 16,5 bộ. Khi tháp được 800 tuổi, Chính phủ Ý đã đóng cửa tháp vì rất nguy hiểm cho mọi người. Và quốc hội Ý dự trù xuất 110 triệu mỹ kim cho kế hoạch ngăn chặn tháp bị đổ xuống.

Xây nhà nhất là xây tháp, cần phải xây trên nền móng vững chắc, như thế công trình xây dựng mới kiên cố bền vững.

Còn xây nhà tinh thần để được cứu rỗi, cần phải xây trên nền móng vững chắc là Chúa Kitô, như lời Thánh Phaolô xác quyết: “Theo ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi đặt nền móng như một kiến trúc sư lành nghề, còn người khác thì xây trên nền móng đó. Nhưng ai nấy phải coi chừng về cách mình xây cất. Không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô” (1Cr.3,l0-1). Người là Đấng cứu độ duy nhất của loài Người, vì đây là chiên Thiên Chúa Đống Cứu độ trần gian", mà trong Tin mừng hôm nay thánh Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu cho chúng ta, và "chứng thực Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn (Ga. l,34), để chịu chết và sống lại cứu rỗi chúng ta.

21. Người tôi tớ đau khổ

Câu chuyện thánh Clement: Thánh nhân thường đi xin để giúp các em mồ côi. Một hôm thánh nhân đi vào một quán ăn. Khi thánh nhân đến một bàn có nhiều thanh niên đang ngồi ăn để xin thì bị một thanh niên xỉ nhục và nhổ nước bọt vào mặt. Thánh nhân hết sức bình tĩnh trả lời: "cám ơn anh! đó là cái anh cho tôi. Vậy phần của các em mồ côi đâu?" Anh thanh niên nọ xấu hổ quá buộc phải móc hầu bao đưa cho. Hiền lành và khiêm nhường còn là những nhân đức cốt lõi nhất giúp ta sống các nhân đức khác. Có một vị linh mục lớn tưổi rất đạo đức tốt lành. Một giáo dân thấy cha đạo đức thánh thiện nên mới hỏi: Cha có bí quyết nào mà sống được như thế? Cha xứ ôn tồn trả lời: Bí quyết của tôi là sống hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giêsu.

Để kết thúc, tôi xin mượn lời Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận để gởi đến quý ông bà anh chị em: "Thử thách cay đắng nhất là chấp nhận giới hạn của mình. Chịu đóng đinh vào một thánh giá hẹp, con càng đau đớn hơn. Nếu thánh giá rộng con còn được thoải mái hơn phần nào!” Nghĩa là càng khiêm tốn thì càng hạnh phúc hơn. Cầu chúc quý ông bà anh chị em luôn biết sống hiền lành và khiêm nhường để luôn được an vui hạnh phúc trong cuộc sống mình và mai sau được hạnh phúc vĩnh cửu.

22. Đền đáp ân tình

Huyền thoại Ấn Độ kể rằng: Thuở trái đất này còn hoang sơ, có một con thỏ tên là Pôlixa rất thương người, ai xin gì cũng cho, không bao giờ từ chối người nào.

Ngày kia, một lão ông lom khom chống gậy tới than thở với thỏ Pôlixa:

- Suốt mùa nước lũ vừa qua, lão không có gì để ăn, đói lả người, chắc lão sẽ chết nay mai thôi. Trước khi chết, lão chỉ xin một miếng thịt thỏ mà lão rất thèm thuồng bấy lâu. Vậy thỏ Pôlixa có cho lão được không?

Thỏ Pôlixa nhìn ông lão hom hem yếu đuối, tội nghiệp, liền nói:

- Được rồi, ông chờ cháu một lát.

Thế là Pôlixa vội đi kiếm củi, xếp thành đống, mồi lửa và nói:

- Ông chờ thịt cháu chín, rồi ông lấy àm ăn nhé!

Nói xong, thỏ chụm chân nhảy vào lửa. Bỗng nhiên, lửa tắt, ông lão biến mất. Thì ra đó là một vị thần được sai tới để thử lòng thỏ. Về sau để thưởng công, Thượng Đế đã cho thỏ Pôlixa về vui đùa mãi mãi bên mặt trăng.

Huyền thoại nào cũng mang một sứ điệp cho con người. Nếu thỏ Pôlixa là hình ảnh của những ai biết hy sinh thân mình cho kẻ khác, thì “Con Chiên” trong Tin Mừng hôm nay chính là hiện thân của Đấng đã hiến thân vì nhân loại. Đó là Đức Giêsu Kitô mà Gioan đã giới thiệu với các môn đệ của ông: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29).

23. Từ bỏ để hiện diện

Ngọn núi Mount Rushmore, tọa lạc trên những rặng đồi Black Hills của tiểu bang South Dakota, nổi tiếng vì có những bức điêu khắc khổng lồ khuôn mặt của bốn vị tổng thống Hoa Kỳ: George Washington, Thomas Jeffrson, Abraham Lincoln và Theodore Roosevelt. Mỗi bức tượng đầu người có chiều cao khoảng 18 mét, và toàn thể cấu trúc cao tới 1945 mét, trên mặt đất. Phải mất 14 năm để thực hiện công trình này. Khi được hỏi ông đã thực hiện công trình này như thế nào, điêu khắc gia Gutzon Borglum trả lời với một ánh mắt sáng ngời: “Ôi, những bức hình đó đã ở đấy 40 triệu năm nay rồi. Tất cả những điều tôi phải làm là cho nổ mìn 400.000 tấn đá để mọi người nhìn thấy chúng mà thôi.”

Chúng ta, là những người con cái của Thiên Chúa cũng đã hiện diện trong tâm trí Ngài từ ngàn đời. Từ đời đời, Ngài đã tạo nên chúng ta và cứu chuộc chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

Mỗi người được mời gọi nên giống Chúa Kitô qua con đường từ bỏ của tình yêu, con đường của Chiên Thiên Chúa: “Ai muốn theo Ta hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.”

24. Vì hạnh phúc của nhân loại

Kalashnikov, cha đẻ của khẩu tiểu liên AK-47 nổi tiếng, mới qua đời ngày 23/12/2013, ở tuổi 94. Ông đã được Liên Xô coi là anh hùng quốc gia và là biểu tượng cho quá khứ hào hùng của nước này.

Khẩu súng AK-47 do ông sáng chế được sử dụng hết sức phổ biến trên cả thế giới. Thế nhưng thay vì tự hào, sáng chế đó đã trở nên một nỗi đau lòng cho ông. Tờ Izvestia dẫn lời ông viết trong thư gửi đức Thượng phụ Kirill hồi tháng 4/2013: "Tôi không thể chịu đựng nổi nỗi đau tinh thần. Tôi không ngừng dằn vặt bản thân rằng khẩu súng mà tôi sáng chế đã tước đi sinh mạng nhiều người thì liệu bản thân tôi, một tín đồ Kitô và Chính thống giáo, có phải chịu trách nhiệm hay không."

Sự sống hạnh phúc được bắt đầu khi chúng ta để Chúa điều khiển cuộc sống mình, khi chúng ta tôn thờ Chúa với sự tôn thờ đích thực là đời sống yêu thương: “Bấy giờ chúng sẽ là dân Ta, và Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau này được hạnh phúc.” (Gr 32,37-39)

Chúa là tình yêu, đặc tính của tình yêu là luôn đi bước trước, vì thế mà “Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta; những ai đón nhận Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (Ga 1,14a.12a). Tất cả là vì hạnh phúc cho chúng ta.

25. Chịu chết thay

Theo sách Đại Việt thông sử, cuối tháng 4 năm 1418, Lê Lợi bị thua trận chạy về Chí Linh, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp, Lê Lợi họp các tướng lại hỏi:

- Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám khoác hoàng bào mà hi sinh vì ta không?

Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói:

- Thần nay nguyện được liều thân vì chúa công.

Lê Lợi trao cẩm bào cho Lê Lai, lại ban cho hai thớt voi và 500 quân. Lê Lai đưa quân ra khiêu chiến và hô to:

- Ta là chúa Lam Sơn đây!

Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên bao vây quyết bắt sống. Lê Lai và quân lính theo ông xung trận hết lòng giết giặc, nhưng địch quân vừa mạnh và đông nên ông bị bắt và đem đi hành hình. Người đời sau vẫn ca tụng: Lê Lai liều thân cứu chúa.

Trong đêm ra khỏi đất nô lệ Ai Cập, theo lời dạy của Maisen, tất cả các gia đình thuộc dòng dõi tổ phụ Giacob đều giết chiên và lấy máu ghi trên cửa nhà làm dấu, nhờ vậy con cháu và loài vật của họ được an toàn; đang khi con đầu lòng của người và vật trong các gia đình người Ai Cập đều bị giết chết. Từ khi vào được đất hứa, hằng năm người Do Thái cử hành lễ Vượt Qua với nghi lễ giết chiên, để nhắc lại biến cố này mà ca tụng ơn cứu thoát của Giavê Thiên Chúa. Vì thế, khi giới thiệu Đức Giêsu với dân chúng, thánh Gioan đã nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian.” (Ga 1, 29)

26. Ân sủng kỳ diệu

John Newton là thuyền trưởng một tàu buôn nô lệ. Ngày 10.5.1748, tàu ông gặp một cơn bão rất lớn trên đường về. Cơn bão làm cho ông cảm nghiệm được bàn tay giải cứu kỳ diệu của Chúa, và sau đó thúc đẩy ông viết bài thánh ca nổi tiếng “Amazing Grace” (Ân sủng kỳ diệu) lấy cảm hứng từ lời tạ ơn của Đavít: “Lạy Đức Chúa là Thiên Chúa, con là ai và nhà của con là gì, mà Ngài đã đưa con tới địa vị này” (1Sb 17,16)

Bài hát đó được phổ biến rộng rãi giữa những người đấu tranh cho tự do và nhân quyền. Nhiều người cho rằng bài ca đó cũng được dụng để chống nạn buôn bán nô lệ vì Newton trước đó cũng từng buôn nô lệ. Đặc biệt đối với người da đỏ thuộc bộ tộc Cherokee, bài hát đó được coi như là quốc ca của họ, vì họ đã tìm thấy nơi đó niềm an ủi khi nhớ lại những người gục chết trên đường tập trung vào những khu định cư dành cho người da đỏ.

Một lời nguyện của Đavít và giáo lý của Giáo hội đã cho tôi thấy rõ tôi đã là gì, đang là gì, và sẽ là gì trong mầu nhiệm cứu độ đầy tình yêu Chúa.

Vượt lên trên mọi ràng buộc trần tục, lời Chúa sẽ đưa tôi trở về với sự tự do được là chính mình, sự tự do của một “cái tôi” hạnh phúc được liên kết với chính sự sống của Chúa.

Nước Trời là đó: “Tôi vui sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật Chúa ghi tận đáy lòng tôi.” (Tv 40,9)

27. Cuộc sống để thưởng thức chứ không trình diễn

Trong tác phẩm “Thức tỉnh”, cha Ant. de Mello đã kể một câu truyện được đảm bảo là có thật, nhưng cũng có thể được xem như một ngụ ngôn hay. Chuyện xảy ra ở một thị trấn nhỏ bên Mỹ nơi có những người đêm đêm tụ tập lại chơi nhạc. Họ có một tay kèn sắcxô, một tay trống và một tay vĩ cầm. Tất cả đều là những cụ già tụ họp lại với nhau vì thích chơi nhạc dù không phải là những nhạc công điêu luyện. Họ hài lòng và thú vị… cho đến ngày họ mời được một nhạc trưởng mới tham gia.

Đó là một người có năng lực và nhiều tham vọng. Ông nói với mọi người: “Chúng ta phải tổ chức một buổi hoà nhạc, chúng ta phải trình diễn một buổi ra mắt dân chúng thị trấn này.”

Thế rồi ông loại dần những nhạc công chơi không khá lắm, mướn thêm một số nhạc sĩ chuyên nghiệp để xây dựng thành một dàn nhạc có quy củ. Chẳng bao lâu, họ trở thành một dàn nhạc nổi tiếng được báo chí nhắc đến. Một vài thành viên đã bắt đầu nghĩ đến công diễn ở thành phố lớn.

Nhưng nhớ lại những ngày bắt đầu, có mấy cụ già nói với giọng tiếc nuối: “Thật tiếc cho cái thời huy hoàng xưa ấy, cái thời mà chúng mình chơi không hay nhưng lại rất được sung sướng.”

Chơi không hay nhưng lại rất được sung sướng! Một câu nói đơn sơ mà lại cho thấy cái hạnh phúc thật của đời người không chịu lệ thuộc vào mọi đánh giá trần gian, mọi quy ước nằm ngoài con người.

28. Tình yêu là lý do

- Anh bạn tôi đã không trở về sau cuộc chiến, thưa ngài. Hãy cho phép tôi ra ngoài kiếm anh ta, một người lính hỏi viên sĩ quan.

- Không được, viên sĩ quan trả lời, tôi không muốn anh bỏ mạng vì một người có lẽ đã chết rồi.

Thế nhưng anh lính vẫn đi. Một giờ sau, anh trở về, trên mình đầy những vết thương nặng nề, với thi hài của người bạn trên vai.

- Tôi đã bảo là anh ta chết rồi. Bây giờ tôi lại sắp mất một chiến sĩ. Anh thấy có đáng phải ra ngoài đó để lôi về một cái xác không?

- Đáng chứ, thưa ngài. Lúc tôi tìm thấy, anh ấy vẫn còn sống, và anh ấy nói với tôi: “Jack, tôi biết chắc thế nào anh cũng đến.”

‘Đáng hay không đáng làm’ là một câu hỏi lớn vì nó giúp chúng ta định hình cho cả cuộc đời. Câu hỏi thì lớn nhưng câu trả lời lại nằm nơi từng quyết định nhỏ bé, mà câu trả lời tối hảo là câu trả lời đến từ tình yêu, dù đôi lúc nó đi ngược với những suy tính tự nhiên.

29. Tôi là thứ ba

Gale Sayers là hậu vệ nổi tiếng vào thập niên 1960 của đội banh bầu dục Chicago Bears. Lúc nào anh cũng đeo một miếng mề đay bằng vàng kích cỡ bằng nửa đồng đôla, trên đó ghi hàng chữ ‘Tôi là thứ ba.”

Khi được hỏi ý nghĩa của tấm mề đay đó, anh cho biết rằng đó là khẩu hiệu của huấn luyện viên Bill Easton của anh. Ông thường đặt hàng chữ này trong một cái khung nhỏ trên bàn làm việc của ông.

Khi Gale tò mò hỏi ông ý nghĩa của hàng chữ đó, thì Easton giải thích: “Chúa là thứ nhất, các bạn tôi thứ nhì, và tôi là thứ ba.”

Từ đó, anh lấy hàng chữ trên làm châm ngôn sống cho đời mình và đặt làm một tấm mề đay với hàng chữ đó để đeo luôn trên cổ. Trong quyển tự thuật, Gale nói: “Không hẳn lúc nào tôi cũng thành công trong việc này, nhưng dù sao việc mang câu ấy quanh cổ cũng giúp tôi khỏi đi trệch đường quá xa.”

Để tình yêu cứu độ thực sự sinh được hoa trái là ân sủng và bình an, tôi cũng được mời gọi đáp trả bằng một tình yêu quên mình như tình yêu của Đức Kitô.

Lạy Chúa, xin cho con cũng yêu đến quên mình như Chúa, luôn sẵn sàng trước lời mời gọi yêu thương: “Này con xin đến!”

30. Chọn điều tốt nhất

Một thiếu nữ đến xin cha linh hướng góp ý kiến để chọn bạn trăm năm:

- Xin cha cho con ý kiến, con quen anh này đã lâu, con biết rõ về tông tích, cũng như lý lịch về đời sống riêng tư của bạn trai con.

- Gốc gác bạn con thế nào?

- Thưa anh ấy là con nhà trí thức, có địa vị lớn trong xã hội: ba anh là chủ tịch thành phố này, mẹ anh là bác sĩ, gia đình rất giàu có.

- Zérô (0).

- Anh mới lấy bằng Tiến sĩ Kinh Tế hạng ưu.

- Zéro(0).

- Anh rất đẹp trai, phông tướng, hiền lành.

- Zéro (0).

- Anh ta rất đạo đức, đi dự Lễ mỗi ngày, rất thuộc Lời Chúa, tham gia nhiều sinh hoạt Nhà Thờ, được nhiều người thương mến và khen ngợi.

- Hoan hô số 1. Vì bạn con mỗi lần hiệp dâng Thánh Lễ là được trực tiếp nghe Chúa Giêsu giảng dạy, như tác giả thư Do Thái viết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1-2: Tung Hô Tin Mừng). Vì Chúa Giêsu là số 1.

Cô nàng hớn hở:

- Thưa cha, cha đã bảo bạn con là ba số 0, và được Chúa Giêsu là số 1 ở với anh hằng ngày, vậy bạn trai của con là số 1. 000?

- Đúng thế, may mắn cho con, cha cầu chúc cho con đi đến hôn nhân với anh ấy, và gia đình con phải là Thánh Gia Nazareth thứ hai.

Thế là cô nàng nhảy lên:

- “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, Ngài đã thực hiện bao kỳ công… Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Mừng vui lên reo hò đàn hát” (Tv 98/97, 3-4: Đáp ca).

31. Đấng xóa tội trần gian

Mặc dù chúng ta mừng sinh nhật của Chúa Giêsu, “Chiên Thiên Chúa”, vào tháng 12, nhưng một số học sinh giả cho rằng Ngài được sinh vào mùa xuân, mùa “chiên cứu sinh sản,” Họ nghĩ như vậy là vì thánh Luca thuật lại rằng vào đêm Chúa Giêsu giáng sinh, các mục đồng tụ họp cừu thành bầy ở cánh đồng. Thông thường, cừu được lùa vào hang vào ban đêm, ngoại trừ mùa cừu sinh sản. (Hang động khống tốt cho việc cừu sinh sản) Điều này giải thích tại sao thánh Giuse và Đức Maria đi tìm môt nơi trú ẩn ở trong hang đá. (Hang đá thì trống trong mùa cừu sinh sản) Điều này phù hợp với việc Chúa Giêsu sinh hạ vào dịp những con cừu sinh ra sẽ được dành cho việc tế lễ trong Đền thờ Giêrusalem. Bởi vì chính Chúa Giêsu cũng được dành làm “Chiên Thiên Chúa” được hiến tế.

Đau khổ hy sinh chiếm vị trí nào trong cuộc đời tôi?Tôi phản ứng ra sao trước đau khổ hy sinh?

Chúa Giêsu không đến để khử trừ đau khổ, nhưng để đổ đầy nó bằng sự hiện diện của Ngài. (Paul Claudel)

32. Chiên Thiên Chúa

Tước hiệu “ Chiên Thiên Chúa” gợi lên hai hình ảnh Kinh thánh nổi bật. Thứ nhất là “những con chiên hy sinh” được dâng hằng ngày ở Đền thờ Giêrusalem (Xh 29) Thứ hai là “Chiên vượt qua” mà dân Do thái dâng cho Thiên Chúa, trong lúc họ chuẩn bị ra khỏi Ai cập. Máu chiên vượt qua được bôi trên cửa nhà người Do thái để bảo vệ họ khỏi các thiên thần ngang qua giết các con đầu lòng của người Ai cập tối hôm đó (Xh 12) Tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” đồng nhất Chúa Giêsu với “Chiên hy sinh” và “Chiên vượt qua” mới. Máu của Ngài không những cứu dân Israel, mà còn cứu mọi người khỏi tội lỗi (1 Cr5,7)

Tôi đang trở lại với Chúa Giêsu vì Ngài cứu tôi khỏi tội lỗi thế nào? Tôi có thể làm nhiếu hơn không?

Như con chiên… Ngài đã bị giết vì tội lỗi của dân Ngài. (Is 53,7. 8)

33. Ở lại trong Chúa Kitô

Gắn bó mật thiết với Chúa Kitô có nghĩa là tội lỗi không còn làm chủ của ta nữa. Điều đókhông nhất thiết là tội lỗi biến mất khỏi đời ta. Emile Giffin nói về người kitô hữu: “Trong khi là con người mới trong Chúa Kitô, họ vẫn mang theo mình nhiều nét của con người cũ. Tội lỗi và cám dỗ và tiến lại dần mà họ không nhận ra. Con người mới và con người cũ đồng hiện hữu nơi cuộc đời ta trong sự đấu tranh thường xuyên. Người kitô trưởng thành chấp nhận tính hai mặt này như một cái gì họ sẽ kinh nghiệm trong suốt cuộc sống,”

Đâu là con người cũ mà tôi vẫn kinh nghiệm trong đời tôi?

Lạy Chúa, con thú nhận rằng con chưa là người con phải đạt tới, nhưng tạ ơn Chúa vì con không phải là người trước kia nữa. (Maxie Dunman)

CNTN 2B – MẦU NHIỆM ƠN GỌI

Lời Chúa: Ga 1, 35-42

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa.” Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo Mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì?" Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem.” Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười.

Anrê, em ông Simon Phêrô, (là) một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô.” Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: "Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá.” Đó là lời Chúa.

TRUYỆN KỂ

1. Hãy đến mà xem

Vào khoảng năm 1965 về trước, thời bấy giờ chưa có vô tuyến truyền hình, nên mỗi lần có trận giao đấu bóng đá giữa hai đội mạnh, thính giả toàn quốc chỉ được nghe tường thuật về trận đấu qua làn sóng của đài phát thanh.

Thật khó hình dung nổi diễn tiến trận đấu với những pha đi bóng gay cấn, những cú sút ngoạn mục khi chỉ được nghe bằng tai.

Hiện nay, chuyện theo dõi trận đấu qua đài phát thanh đã thuộc về quá khứ vì ưu thế vượt trội của kỹ thuật truyền hình. Nhờ đủ dạng sóng truyền hình hiện đại bao trùm trái đất, người hâm mộ bóng đá từ phần nửa bên nầy địa cầu có thể chứng kiến, như thể tận mắt, từng chi tiết, từng pha đi bóng của những cầu thủ trong những trận đấu diễn ra ở nửa bên kia trái đất.

Thế là từ khi có truyền hình, không ai mê bóng đá lại theo dõi trận đấu qua đài phát thanh nữa. Từ kỹ thuật truyền thanh chuyển qua truyền hình là cả một bước tiến vượt bậc.

Tiến trình mặc khải cũng trải qua hai chặng đường như thế.

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ” (Dt 1,1a).

“Nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1,1b)

2. Tiếng Chúa gọi

Olalla Oliveros, người mẫu nổi tiếng đã tham gia chụp nhiều bộ ảnh quyến rũ, diễn viên chính trong nhiều bộ phim, gương mặt của cô xuất hiện trên các tấm biển khắp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nữ người mẫu đã quyết định trở thành một nữ tu, gia nhập Dòng thánh Michael. Mặc dù sự nghiệp vẫn đang phát triển, nhưng Olalla Oliveros không còn cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ.

Ở tuổi 36, cô quyết định từ bỏ sự nghiệp và khoác lên mình chiếc áo nữ tu sau khi đến viếng Nhà thờ Đức Mẹ Fatima ở Bồ Đào Nha. Không muốn nói nhiều về quyết định của mình, Oliveros chỉ cho biết cảm giác khi tới nơi này giống như có một trận động đất rung chuyển trong người: “Chúa không bao giờ sai, Ngài hỏi tôi có sẵn sàng theo Ngài và tôi không thể từ chối.”

Trên một trang web, Oliveros chia sẻ rằng cô đã có những cảm giác rất kỳ lạ. Từ sau chuyến thăm nhà thờ, hình ảnh bản thân mặc chiếc áo nữ tu luôn hiển hiện trong tâm trí Oliveros. Vì thế, cô đã quyết định từ bỏ công việc của mình để trở thành một nữ tu và đổi tên thành Olalla del Sí de María. Trên tờ El Tiempo, Oliveros chia sẻ: “Là một người mẫu bạn phải có thân hình chuẩn, là hình mẫu để mọi người noi theo. Tôi cảm thấy áp lực. Tôi cũng mệt với những lời nói dối, hình thức, một xã hội đầy bạo lực, ngoại tình, ma túy, rượu, thù oán và một thế giới đề cao vật chất, hưởng thụ, dâm dục, lừa đảo.” Oliveros cho biết thêm: “Tôi không lấy việc trở thành một nữ tu để lăng xê tên tuổi của bản thân, mà chỉ muốn trở thành một hình mẫu đề cao phẩm giá thực sự của người phụ nữ.”

Oliveros không phải là người mẫu đầu tiên quyết định từ bỏ cuộc sống bận rộn trên sàn catwalk để chọn lấy một cuộc sống bình lặng trong tu viện. Amada Rosa Pérez là một trong những người mẫu hàng đầu của Colombia trước khi trở thành một nữ tu vào năm 2005, vì cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống căng thẳng của mình. (Theo Daily Mail)

3. Tìm và gặp Chúa trong Kinh Thánh

Giáo huấn của Công Đồng Vat. II: “Họ phải biết tìm gặp Chúa Kitô trong việc trung thành suy gẫm Lời Chúa, trong việc thông hiệp tích cực các Mầu Nhiệm chí thánh của Giáo Hội, nhất là Bí tích Thánh Thể và Kinh Phụng Vụ” (Sắc Lệnh Đào Tạo Linh Mục số 8).

Lần kia, đại tướng Lew Wallace và đại tá Robert Ingersoll, hai người vô thần đang nói chuyện với nhau về những người Công Giáo mê tín, tin vào ông Giêsu nào đó, kẻ bất lực, bị người ta kết án trên thập giá! Và này cuốn lịch sử về hắn mà bọn Công Giáo gọi là Thánh Kinh, nhưng chúng vẫn mù quáng mà đọc!

Lew Wallace thề với Robert Ingersoll là sẽ vạch ra cho những kẻ cuồng tín ấy thấy những điều lếu láo trong Thánh Kinh. Robert chúc cho Lew thành công trong ý định này. Lew bỏ ra 5 năm nghiên cứu Thánh Kinh, kết quả ngược lại: thay vì ông tìm thấy những điều mê tín trong đó để khích bác kẻ có Đạo, thì ông lại nhận thấy ơn cứu độ phát xuất từ thập giá Đức Kitô tuôn xuống, cứu bao kẻ tuyệt vọng. Ông đã viết lên tác phẩm Benhur và sau người ta đóng thành phim rất nổi tiếng.

Lew Wallace nhờ lưu lại trong Lời Chúa, ông đã được Ngài cho trở nên chứng nhân Tin Mừng.

4. Cảm nghiệm gặp gỡ Chúa:

Tiếng Chúa kêu gọi con người bằng nhiều cách thế khác nhau: Chỉ một vài trường hợp đặc biệt, Chúa đã thân hiện đến, kêu gọi đích danh, như trường hợp của cậu Samuel, nhưng hầu hết Chúa đã dùng những cách thế thông thường, như lời khuyên nhủ của các vị đại diện Chúa, lời giảng dạy của một vị giảng thuyết, một ơn soi dẫn trong tâm hồn, một giấc chiêm bao hay một biến cố nào đó của cuộc đời. Trong tất cả mọi hoàn cảnh đó, các Thánh đã mau mắn đáp lại, khi các ngài nhận ra thánh ý Chúa.

Thánh Phanxicô thành Assisi, một chàng trai giầu sang háo danh, cũng chỉ vì nghe lời Chúa phán được trưng lại trong một bài giảng: “Con người được lợi lãi cả thế gian, mà thiệt mất linh hồn mình thì được ích gì." Ngài đã quyết tâm bỏ mọi sự, sống đời khó nghèo và đã chinh phục được biết bao người theo ngài, để hiến thân phụng sự Chúa, xây dựng Giáo Hội và giúp ích cho biết bao linh hồn.

Thánh Ignatiô, một sĩ quan quân đội bị trọng thương, đang thời gian nằm điệu trị tại bệnh viện, bất ngờ đọc cuốn truyện các Thánh, ngài cảm thấy thán phục, nên đã quyết tâm sống theo thánh ý Chúa soi dẫn, lập nên một Hội Dòng lớn với danh hiệu Dòng Chúa Giêsu, đem lại bao lợi ích cho Giáo Hội và thế giới.

Thánh Augustinô, từ một chàng trai trụy lạc tội lỗi được cải hóa và đã trở nên một vị Đại Thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội, chinh phục biết bao linh hồn trở về với Chúa, qua những tác phẩm giáo huấn và lời giảng dạy khôn ngoan của ngài… Còn biết bao trường hợp tương tự, ơn Chúa đã thực hiện cách lạ lùng nơi đời sống của các Thánh.

Văn hào Pháp Paul Claudel: một buổi chiều kia rảnh rỗi Paul Claudel rảo bước dạo chơi và tình cờ đi ngang một nhà thờ. Từ trong nhà thờ vang ra tiếng hát thánh ca thanh thoát, siêu phàm. Tiếng Thánh ca ấy đã thu hút ông buớc vào. Ông cảm xúc và ở lại cho đến hết buổi lễ. Và từ chiều hôm đó trở đi, Paul Claudel đã trở thành một tín hữu sốt sắng kiên trì trong Đức Tin. Ông viết nhiều quyển sách truyền bá Đức tin và ca tụng Thiên Chúa, ca tụng Đức Mẹ. Mọi sự bắt đầu vào một buổi chiều đáng nhớ.

Thomas Merton: Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi, năm 20 tuổi ông trở thành đảng viên cộng sản, ông hoàn toàn không tin gì về những sự siêu nhiên và sống một nếp sống chạy theo vật chất, nhục lạc. Một đêm kia khi đang ở trong một khách sạn, tự dưng ông nhìn lại đời mình, thấy nó quá trống rỗng và cũng quá nhầy nhụa, đến nỗi ông chê chán chính mình. Lúc đó chẳng biết làm gì khác, Thomas Merton quỳ gối xuống và cầu nguyện: “Lạy Chúa, từ trước tới nay tôi chẳng hề tin Chúa và ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết có Chúa hay không. Nhưng nếu thật có Chúa thì xin Ngài hãy giúp kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhầy nhụa của đời tôi hiện tại."

Đêm hôm đó lần đầu tiên Thomas Merton cầu nguyện. Ông đã gặp được Chúa và từ đó mãi mãi gắn bó với Chúa. Sau đó ông đi tu dòng Trappe. Mọi sự bắt đầu từ một đêm gặp Chúa.

5. Chúa gọi, con người đứng lên

Tháng 3 năm 1998, Đức Cha Gioan Bta Phạm Minh Mẫn, Giám mục phó giáo phận Mỹ Tho, được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục tổng giáo phận Saigon. Từ Lyon nước Pháp, nữ tu Marie Claude Faure, cựu Tổng quyền Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, đã gởi đến ĐC Gioan Bta những lời khích lệ như sau:

Chúa cần một người cha cho dân Ngài Ngài đã chọn một cụ già. Thế là Abraham đứng lên…

Ngài cần một người phát ngôn. Ngài đã chọn một kẻ nhút nhát nói năng ngọng nghệu. Thế là Môsê đứng lên…

Ngài cần một lãnh tụ dẫn dắt dân Ngài. Ngài đã chọn kẻ nhỏ nhất, yếu nhất. Thế là Đavít đứng lên…

Ngài cần một tảng đá để đặt nền cho tòa nhà. Ngài đã chọn một người chối thầy. Thế là Phêrô đứng lên…

Ngài cần một gương mặt để nói cho người ta biết tình thương của Ngài. Ngài đã chọn một cô điếm. Đó là Maria Mađalêna.

Ngài cần một nhân chứng để hô to sứ điệp của Ngài. Ngài đã chọn một kẻ bách hại đạo. Đó là Phaolô thành Tarsô…

Ngài cần ai đó để tập họp dân Ngài và để Ngài đến với những kẻ khác. Ngài đã chọn Đức Cha: dù Đức Cha run sợ, Đức Cha sẽ có thể không đứng lên sao?

Thật là một lời khích lệ sâu sắc biết bao! Phải chăng đó cũng là lời khích lệ dành cho chúng ta hôm nay, để chúng ta cũng biết can đảm đứng lên, sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa: lên đường thi hành ý Chúa và chu toàn ơn gọi đời mình.

6. Giới thiệu Chúa cho anh em

Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, chúng tàn phá thành phố và làng mạc. Chúng bắt những tù binh này làm việc như những đầy tớ trên đất Syrie. Trong số những người bị bắt, có một cô gái. Người ta không nói tên của cô ta.

Cô trở thành đầy tớ của viên sĩ quan nổi tiếng người Syrie, tên là Naaman. Vua Syrie rất hài lòng về Naaman, vì ông là một sĩ quan rất gan dạ. Rủi thay ông vừa mắc bệnh phong.

Một ngày kia, cô tớ gái nói với bà chủ: “Giá mà ông chủ Naaman được gặp tiên tri Elisa, đang sống ở Samaria, thì ngài sẽ chữa cho ông chủ tôi khỏi bệnh” Nghe vậy, Naaman xin vua Syrie viết thư giới thiệu cho vua Israel. Ông cũng mang theo vải vóc, vàng bạc làm quà tặng.

Khi vua Israel đọc thư, ông rất lo, vì ông nghĩ vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng Elisa nghe biết, ông xin nhà vua để mình chữa bệnh cho Naaman. Elisa không gặp Naaman, nhưng chỉ gởi một lá thư: “Hãy đi tắm trong dòng sông Giodan 7 lần và ông sẽ được khỏi."

Naaman rất tự ái, ông không chịu tắm, nhưng đầy tớ khuyên ông cứ làm như lời nhà Tiên tri. Và quả nhiên, Naaman đã được chữa khỏi, da của ông trở nên mịn màng như da đứa trẻ. Naaman dâng cho Elisa quà tặng, nhưng người của Thiên Chúa không nhận, chỉ chúc cho ông “Hãy về bình an."

Chúng ta đừng bao giờ quên đứa tớ gái nhỏ bé ở đầu câu chuyện, em đã mau mắn giới thiệu tiên tri Elisa cho Naaman. Nếu cô bé giữ im lặng, thì Naaman sẽ không bao giờ được chữa lành.

Hôm nay, Anrê cũng giới thiệu Phêrô em mình cho Đức Giêsu: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (Ga.1,41). Rồi dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu.

7. Tìm đời sống toàn hảo

Ở đời ai cũng muốn đi tìm cái hơn. Muốn giàu có hơn, học hành giỏi hơn, có bằng cấp cao hơn. Lấy vợ gả chồng đôi khi cũng nhằm chỗ cao hơn mà tính. Thật không may, người ta chỉ đi tìm cái hơn về vật chất bằng mọi giá, ngay cả bằng những cách bất chính mà không kể gì đến những giá trị đạo đức tinh thần. Gần đây tôi đọc được bài thờ trào phúc “Cha và con và… sự đời” của Nguyễn Văn Thắm trên báo Tuổi Trẻ Cười nói lên cái tâm trạng đó của con người.

Cha:

Con ơi! Lấy vợ xem tông, Lấy chồng chọn giống… mới mong sang giàu
Chồng mà chức trọng quyền cao, Phong bì, quà biếu… cửa sau rộn ràng.
Vợ mà con cái nhà quan, Mình đi xin việc dễ dàng như chơi.

Con gái:

Thôi… con sợ lắm cha ơi! Quan mà tham nhũng người đời dèm pha!

Cha:

Dèm pha mặc kệ dèm pha. Có xe đời mới, có nhà tầng cao.
Còn hơn cơm mắm, canh rau, Nhà tranh, vách lá chui vào… chui ra!

Con trai:

Con quan phung phí xa hoa, Thời trang đủ kiểu, cưới mà làm chi!
Tối ngày kẻ mắt, cắt mi Môi son, má phấn… lấy gì nuôi con?

Cha:

Mày tưởng có bằng là ngon? Thử đi xin việc, cúi lòn… còm lưng!
Quà thì tay xách, tay bưng Tới lui mỏi gối, mòn chân… hết tiền!

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Gioan 1:35 -42, khi Chúa Giêsu chú ý thấy hai người môn đệ của Gioan đi theo Ngài, Ngài quay lại và hỏi họ, “Các ngươi đi tìm gì?” Họ trả lời: “Thưa thầy, thầy ở đâu?” Họ đang là môn đệ của Gioan, lại muốn bỏ Gioan mà đi theo Chúa Giêsu, để tìm “cái hơn." Giống như chúng ta, họ cũng muốn sống một đời sống đầy đủ hơn. Nhưng khác chúng ta, chúng ta đi tìm kiếm đời sống vật chất cao hơn, còn Anrê và Philip lại đi tìm một đời sống tinh thần cao hơn. Họ muốn có một đời sống đích thực! Và chính Gioan, thầy của họ đã chỉ cho họ thấy khi Chúa đi ngang qua: “Đây là Chiên Thiên Chúa." (1:36).

8. Chúa gọi sống điều tốt hơn

Vào thế kỷ thứ XI, Vua Henry III của vương quốc Bavaria, nay là một tiểu bang thuộc vùng Tây Nam nước Đức, đã chán ngán làm vua và trở nên quá mệt mỏi trong việc điều hành đất nước nên ngài ao ước được sống ẩn dật trong một tu viện. Nhà Vua đi tới một tu viện gần đó để xin ý kiến của vị tu viện trưởng.

Cha tu viện trưởng nhận ra ngài là vua đã quen với việc điều hành và ra những chỉ thị nên nói với vua rằng: “Nếu vào sống trong tu viện như một tu sĩ thì việc trước hết là vua phải vâng lời cha bề trên tu viện trưởng và phải làm theo lệnh truyền của ngài.” Vua Henry III nhận thấy điều đó quá dễ dàng, không thành vấn đề. Vua sẵn lòng vâng lời cha bề trong trong bất cứ chuyện gì.

Cha bề trên mới nói: “Vậy thì tốt lắm, tôi sẽ chỉ cho nhà vua điều phải làm. Nhà vua hãy trở về hoàng cung và phục vụ đất nước trong ngôi vị mà Thiên Chúa đã định đặt cho ngài.”

Theo ý Vua Henry III, “cái hơn” là vào tu viện sống đời cầu nguyện và chiêm niệm như một tu sĩ. Nhưng cha bề trên đã giúp cho ngài nhận ra không phải chỉ là “cái hơn” mà là cái hoàn hảo nhất, sung mãn nhất. Đó là gặp gỡ Đức Kitô ngay trong cuộc sống của mình, rồi giới thiệu Chúa đến với tha nhân qua việc chu toàn bổn phận mà Thiên Chúa đã xếp đặt cho ngài: xây dựng một xã hôi công bằng, an bình, mang lại ích lợi cho toàn dân.

Vua Henry III đã trở về với công việc bổn phận để gặp gỡ Chúa Giêsu và trở nên người môn đệ chân chính của ngài (Mt 7:24).

9. Đáp lời Chúa kêu gọi

Sau 9 năm trường giầm gìa trong vũng bùn lầy trụy lạc tội lỗi, Thiên Chúa đã kêu gọi và thức tỉnh lương tâm Margarita de Cortone, bằng cách cho người cô gái hoang đàng ấy chứng kiến một cảnh ghê rợn. Một thây chết nát rữa thối tha là tình nhân của nàng trước đây, tại một góc rừng lúc bất ngờ nàng đi qua. Trước cảnh hãi hùng đó, khiến nàng rất bàng hoàng xúc động và tự hỏi: “Lạy Chúa, sau đó còn lại cái gì?”

Thế rồi, người con gái tội lỗi đó đã trở về với gia đình, xin lỗi thân phụ. Để tỏ lòng ăn năn sám hối, nàng đã tròng một giây thừng vào cổ và đã đến xin các Cha Dòng Thánh Phanxicô hướng dẫn. Rồi sau 3 năm đầy thử thách, với nhiều đêm ngày khóc lóc, ăn chay, đền tội, Margarita đã khoác trên mình bộ tu phục Dòng Ba Thánh Phanxicô, sống cuộc đời thánh thiện.

Để đáp lại tình Chúa yêu thương và lời kêu gọi của Chúa, Margarita đã biến nhà mình thành một bệnh xá vừa săn sóc bệnh nhân vừa lao động sản xuất để nuôi họ.

Ma quỉ căm hờn, dùng trăm phương ngàn kế để cám dỗ Margarita bỏ đàng nhân đức, trở lại đàng tội lỗi trụy lạc; nhưng Margarita đã toàn thắng và luôn vững tiến trên đàng nhân đức. Ơn Chúa tuôn trào trên tôi tớ trung nghĩa của Ngài, khiến Margarita đã làm cho vô số tội nhân cải tà qui chính, bỏ đàng tội lỗi, ăn năn trở lại với Chúa.

10. Theo Chúa hay theo mình

Bước theo Ngài – Thiện Mỹ

Người Ấn Độ kể rằng:

Có một thanh niên khao khát được nhìn thấy Chúa. Ngày đêm anh cầu nguyện cho ước mong được thành sự thật.

Không bao lâu Chúa hiện đến với anh dưới hình dạng một người đẹp đẽ, uy quyền và dễ mến. Chúa hỏi anh:

– Con có muốn đi với Ta một quãng đường không?

Người thanh niên cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chúa và anh cùng sánh bước như đôi bạn tri kỷ. Đi được một lúc Chúa hỏi:

– Ta khát nước, con có thể đi tìm cho Ta ít nước không? Người thanh niên hăm hở đi tìm nước. Lòng anh tràn ngập hân hoan. Còn gì sung sướng cho bằng đi tìm nước cho Chúa.

Nhưng anh đi mãi mà không thấy nước đâu. Anh tiếp tục đi và sau cùng anh tới một dòng sông, anh đang chuẩn bị lấy nước mang về cho Chúa thì tình cờ xuất hiện một cô gái xinh đẹp, cô gái đẹp tới độ làm người thanh niên không còn thấy cảnh vật chung quanh cũng chẳng nghĩ đến mang nước về cho Chúa nữa.

Anh lân la đến làm quen với cô gái. Họ thương nhau, lấy nhau và sinh nhiều con cái, không gì hạnh phúc cho bằng… Thế rồi chuyện không may xảy ra, một cơn ôn dịch xảy tới, người thanh niên đưa vợ con đi nơi khác. Khi đi qua một chiếc cầu thình lình mưa gió thổi đến, nước dâng lên,cuốn cả vợ con anh. Còn anh thì may mắn bám được vào một gốc cây. Anh khóc thương cho số phận vợ con cũng như kiếp cô đơn của mình.

Giữa lúc đó Chúa lại xuất hiện trước mặt anh. Ngài ôn tồn hỏi:

– Này con, con có mang nước về cho ta không? Con làm gì để Ta chờ đợi cả tiếng đồng hồ vậy!

11. Sinh ra để thua cuộc

Norman Vincent Peale là tác giả nổi tiếng viết khá nhiều sách trong đó có best-seller “The Power of Positive Thinking." Một ngày kia, đang dạo phố ở Hồng Kông, Peale tình cờ đi ngang qua một tiệm xâm hình. Trên khung cửa kiếng trưng bày đủ loại đủ kiểu xâm nhưng có một hàng chữ đập mạnh vào mắt Peale: “Born to Lose” (sinh ra để thua cuộc). Không nén nỗi tò mò, Peale đẩy cửa buớc vào, chỉ vào hàng chữ trên rồi nói: “That one!”

Người thợ xâm không nói không rằng chỉ lẳng lặng ra hiệu cởi áo ngoài ra thì Peale liền xua tay: “Không! Tôi không có ý xâm đâu nhưng chỉ muốn hỏi là đã có ai vào xâm hàng chữ ‘Born to Lose’ kia chưa?” “Cũng có vài người.” “Ông không đùa đấy chứ?” Peale trố mắt kinh ngạc. Bằng một giọng lơ lớ tiếng Anh, người thợ xâm bình thản trả lời: “Before tattoo on chest, tattoo on mind.” (Truớc khi xâm trên ngực, [họ] đã xâm trong đầu rồi)…

Peale choáng váng mặt mày như không tin vào tai mình nữa. Sao ai lại vào đây và xâm trên da thịt mình những chữ rất tiêu cực kia? Oái ăm thay! Điều gì cũng có thể xảy ra dưới ánh mặt trời này!!!

Thực thế, linh mục tâm lý gia dòng Tên John Powell đã viết là có những người không bao giờ tin tưởng vào khả năng mình. Giả như có ai nhờ điều gì hoặc cậy việc chi, họ điều tìm đủ mọi cách từ chối thoái thác. Có thể một phần vì ngại ngùng, nhưng cũng có thể phần lớn của sự ngại ngùng kia là họ không tin chính vào sức mình.

12. Đức tin đòi được chia sẻ

Cách đây mấy năm, có một ông lão được nhận vào bệnh viện để điều trị bệnh. Sau khi ông cụ được dễ chịu, cô y tá hỏi ông lão vài câu hỏi theo thông lệ, vì cô phải điền vào một trong các giấy tờ thủ tục nhập bệnh viện. Một trong những câu cô hỏi ông lão là: “Tôn giáo ông quí chuộng hơn cả là tôn giáo nào?" Cụ già nhìn cô y tá và nói: “Tôi rất vui sướng được cô hỏi câu ấy, tôi luôn luôn muốn là một người công giáo, nhưng trước đây chưa có ai hỏi tôi như vậy. Chính cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy."

Câu chuyện có thực trên đặt cho chúng ta một vấn đề gây bối rối: Tại sao trong chúng ta có nhiều người do dự khi phải chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác? hoặc chúng ta có thể đặt lại câu hỏi này như sau: Nếu chúng ta tin rằng Phúc Âm thực sự là Tin Mừng, thì tại sao chúng ta lại không chia sẻ nó với kẻ khác? hoặc nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho tàng vĩ đại nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, thì tại sao chúng ta không chia sẻ với người khác đức tin của mình nơi Đức Kitô?

13. Học cho biết lắng nghe

William Arthur Ward (1921-1994) nhận định: “Trước khi nói, hãy lắng nghe; trước khi viết, hãy suy nghĩ; trước khi chi tiêu, hãy kiếm được; trước khi đầu tư, hãy tìm hiểu; trước khi phê phán, hãy chờ đợi; trước khi cầu nguyện, hãy tha thứ; trước khi bỏ cuộc, hãy thử làm; trước khi nghỉ hưu, hãy tiết kiệm; trước khi chết, hãy cho đi." Thính giác là một trong ngũ quan, nhưng là giác quan quan trọng nhất. Lắng nghe là một nghệ thuật, vì còn phải biết cách nghe.

Có thể nói rằng phải thực sự khiêm nhường mới có thể lắng nghe. Nói là gieo, nghe là gặt. Nghe có lợi hơn nói: Nói ít thì sai ít, nói nhiều thì sai nhiều, không nói thì không sai. Người ta ví von:“Người nói hay không bằng người nghe giỏi."

Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential có một slogan thật thú vị: “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu." Dĩ nhiên lời đó không thể tuyệt đối vì nặng tính “quảng cáo”, có chút gì đó là “nổ” mà thôi, nhưng qua đó, chúng ta biết được rằng việc “lắng nghe” có tầm quan trọng riêng. Lắng nghe là nghe thấy và chú ý, chứ không nghe cho “có lệ”, nghe vì “không điếc." Nghe và hiểu có hệ lụy với nhau.

Tuy nhiên, hai động thái “lắng nghe” và “thấu hiểu” lại có một khoảng cách nhất định, đồng thời còn có những mức độ khác nhau, thậm chí có thể chúng ta vẫn nghe nhưng không hiểu (x. Lc 8:10), và Chúa Giêsu đã phải nhắc nhở nhiều lần: “Ai có tai thì nghe” [ai có tai nghe thì (hãy) nghe] (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35; Kh 13:9).

14. Dòng suối vọng từ xa.

 Một nhà thám hiểm nọ, lạc mất giữa sa mạc, đi từ đụn cát này sang cồn cát nọ, nhìn hết hướng này sang hướng kia, nơi đâu cũng chỉ thấy toàn là cát với cát. Lê gót trong tuyệt vọng, tình cờ, chân ông vấp phải một cây khô, ông vấp ngã và nằm vùi trên gốc cây, ông không còn đủ sức để đứng lên, ông không còn đủ sức để chiến đấu và ông cũng không còn chút hy vọng sống sót nào.

 Trong tư thế bất động ấy, nhà thám hiểm bỗng ý thức được sự thinh lặng của sa mạc: bốn bề chỉ có thinh lặng. Thình lình, ông ngẩng đầu lên, trong sự thinh lặng tuyệt đối của sa mạc, ông bỗng nghe được như có tiếng thì thào yếu ớt vọng lại bên tai. Dồn tất cả sự chú ý, nhà thám hiểm mới nhận thức: đó là tiếng róc rách chảy của một dòng suối từ xa vọng lại. Như sống lại từ cõi chết, ông định hướng nơi xuất phát của tiếng suối, rồi dùng nguồn năng lực còn sót lại, ông cố gắng lê lết cho đến khi tìm được dòng suối.

 Cuộc sống có quá nhiều bận rộn và ồn ào, khiến chúng ta không nghe được tiếng nói và nhận ra sự hiện diện của Chúa. Có thinh lặng từ cõi lòng chúng ta mới nghe được tiếng mời gọi thì thầm của Chúa trong từng giây phút của cuộc sống.

15. Thánh Phanxicô Borgia.

 Phanxicô Borgia (1510-1572) được cắt cử tháp tùng thi hài của hoàng hậu Isabelle, một mỹ nhân sắc nước hương trời, đến chỗ an táng của hoàng tộc. Trước khi hạ huyệt, quan tài được mở ra để được xác nhận. Cảnh tượng đã làm đảo lộn cuộc đời chàng. Phanxicô từ biệt triều đình, vào dòng Tên, trở nên vị thánh. Tổng quyền thứ ba của dòng. Ngài nói:”Từ nay mọi danh vọng và lạc thú trần gian chẳng dính dáng gì đến Phanxicô nữa”! Phanxicô Borgia đã nghe một tiếng gọi từ bên trong.

 Ngày hôm nay, trên khắp mọi nẻo đường trần gian, chúng ta vẫn có thể giáp mặt với Đức Giêsu khi Ngài đi ngang qua giữa chúng ta, như xưa Ngài đãõ “đi ngang qua” giữa các môn đệ bên bờ sông Giorđan.

 Đức Giêsu không bao giờ ép uổng, không bao giờ giăng bẫy rình bắt ai. Ngài chẳng hề làm áp lực, cũng không tìm cách mê hoặc dụ dỗ người nào. Nguời ta vẫn có thể đi sát bên Ngài mà không hay biết, vẫn có thể thấy Ngài mà không buồn nhìn theo. Có khi chúng ta phải cần đến cái nhìn hay lời khuyên của một ai khác, của ai đó thì thầm bên tai “Đây là Chiên Thiên Chúa." Tuy nhiên chỉ có người nào biết tìm kiếm và khát khao chân lý và tình yêu thật mới có thể nắm bắt, mới có thể lay động và lắng nghe (Fiches dominicales B, tr 66).

16. Lóng bác ái thu hút

Chuyện kể rằng: một hôm, trên đường trở về nhà xứ, một linh mục kia vừa đi vừa cầm trí đọc kinh. Có hai thanh niên cùng về chung đường. Khi đã đi cách linh mục kia một đoạn khá xa, họ gặp một người hành khất ngồi bên lề đường giơ tay xin họ. Một anh cho ông ấy mấy đồng lẻ trong khi anh kia nảy ra một ý tưởng, anh nói với bạn:

 - Ông cha hồi nãy thế nào cũng đi qua đây. Tôi cá với anh là ông ta chẳng bố thí cho người ăn mày này đâu, chúng ta thử rình xem.

 Cả hai trốn vào bụi cây gần đó. Ít phút sau, vị linh mục kia đi tới. Ngài đứng lại nhìn người ăn mày, đưa tay lục hết túi trên túi dưới, rồi nói với người ăn mày:

 - Ông bạn đáng thương ơi, rất tiếc tôi chẳng có đồng nào giúp ông.

 Hai thanh niên nghe thấy thế thì khúc khích cười nói:

 - Anh thấy chưa, tôi nói có sai đâu.

 Lúc ấy người ăn mày lại tiếp tục nài xin. Vị linh mục nhìn người ăn mày rồi bảo ông ta:

 - Ông đợi tôi một chút.

 Ngài nhìn trước nhìn sau, rồi chui vào bụi cây gần đó, loay hoay một hồi rồi bước ra, tay cầm một chiếc quần dài đã cuộn gọn lại. Ngài đưa cho người ăn mày và ân cần nói:

 - Đây, ông bạn cầm đỡ chiếc quần này, tuy nó hơi cũ lại đang mặc dở dang, nhưng có lẽ nó cũng giúp phần nào cho ông bạn. Nhớ đừng kể cho ai nghe đấy. Thôi tôi đi nhé.

 Hôm sau, có hai người khách lạ đến bấm chuông nhà xứ rất sớm và xin xưng tội. Vị Linh mục nhận ngồi toà giải tội ngay. Và tất cả đầu đuôi câu chuyện đã được hai thanh niên thuật lại, lòng hối hận, dạ chân thành ăn năn. Vị Linh mục ngẩn ngơ thốt lên:

 - Ôi Thiên Chúa nhân lành, chỉ với một chiếc quần cũ thôi mà Ngài đã đem về cho con những hai linh hồn. Tạ ơn Chúa.

17. Tìm danh

Có người đã để cả cuộc đời của mình đi tìm danh vọng. Họ sẵn sàng trả mọi giá để có được nó.

Hêrôđê là một thí dụ. Ông đã trả một giá khá cao để có được ngai vàng và để bảo vệ ngai vàng đó ngay từ lúc vừa mới lên ngôi ông đã cho thủ tiêu các thành viên trong Tòa Án Tối Cao của người Do thái. Sau đó ông đã không ngần ngại tàn sát các nhân viên trong tòa án mà không cần suy tính trước. Chưa hết vì sợ cả những người trong gia đình có thể làm nguy hại đến ngai vàng của mình ông đã giết luôn người vợ là bà Mariamne và người mẹ nàng là bà Alexandra. Giết như vậy cũng chưa đủ, ông giết luôn người con trưởng là Antipater, và sau đó là hai người con trai thứ: đó là Alexander và Aristobolus. Giết như vậy ông cũng chưa an tâm, ngay khi còn trị vì ông đã lên kế hoạch để tàn sát hết các nhân sĩ tại thành Giêrusalem khi ông lâm chung.

Và chắc hẳn anh chị em không thể nào quên việc ông đã cho lệnh giết hết các trẻ thơ từ hai tuổi trở xuống tại thành Bêlem và các vùng phụ cận chỉ vì sợ sau này một trong những đứa trẻ ấy sẽ chiếm mất ngai vàng của ông!

Vâng đó là một thí dụ trong muôn ngàn thí dụ cho chúng ta thấy cái giá phải trả cho một cho một cuộc săn tìm danh vọng. Thế nhưng rồi cuộc đời của ông sẽ đi về đâu? Có sống mãi để ngự trên cái ngai vàng mà ông đã phải trả một giá quá đắt để bảo vệ nó không? Lịch sử cho chúng ta thấy kết cục cuộc đời của ông cũng là chốn lao tù và ông đã phải nhận một cái chết không toàn thây!

18. Tìm tiền.

Có người dành suốt đời để tìm tiền bạc. Để biện minh cho việc tìm kiếm tiền bạc là một điều chính đáng người ta đã mặc cho tiền bạc một giá trị hầu như thần thánh, có một sức mạnh vô song

Tiền là tiên là phật.
Là sức bật của lò so.
là thước đo của lòng người.
Là nụ cười của tuổi trẻ
Là sức khỏe của người già.
Tiền là hy vọng.
Là cái lọng che thân
Là cái cân công lý.
Tiền là hết ý.

Tiền bạc cần thật. Rất cần là đàng khác nhưng nó không phải là thần, là thánh như nhiều người tưởng.

19. Nô lệ cho tiền của

Vua Louis XV thăm thống chế De Saxe trong cơn hấp hối.

- Nhà ngươi muốn xin gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho.

- Tâu hoàng thượng xin hoàng thượng cho hạ thần được sống thêm một giờ nữa để thanh toán các việc cho xong.

Vua Louis quyền thế nhưng cũng phải ngậm ngùi rút lui.

Ngày kia, một nhà tỷ phú trên giường chết đã phải tuyên bố:

- Trong 40 năm trời, tôi đã làm việc như người nô lệ để chất đống của cải lên; sau đó tôi lại phải coi giữ như một thám tử và tất cả những của cải đó đã cho tôi cái gì? Thức ăn, nhà ở và quần áo…, chỉ có thế chứ không còn gì hơn nữa.

Tiền bạc cần nhưng chỉ cần như một giá trị trao đổi chứ không cần như là mục đích.

20. Tìm lạc thú.

Có người cả đời đi săn tìm lạc thú

Cha Michel Quoist bảo: "Lạc thú là một cơn đói không bao giờ biết no, một cơn khát không bao giờ thỏa."

Augustinô lúc còn trai trẻ đã nếm đủ hết mọi thứ lạc thứ ở trên đời. Nhưng rồi cũng chính chàng thanh niên đó sau khi đã chán ngán với những thứ mình đã hưởng thụ phải thốt lên: "Hỡi Augustinô! Khi săn đuổi lạc thú ngươi đã tìm thấy cái gì?"

21. Phút đầu gặp gỡ

Mấy vần thơ của Thế Lữ: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, ngàn năm hầu dễ mấy ai quên” hẳn cũng diễn tả tâm trạng của hai môn đệ lần đầu gặp gỡ Đức Ki-tô. Khi nghe Gio-an Tẩy giả giới thiệu Chúa Giê-su: “Đây là Chiên Thiên Chúa”, hai ông bị cuốn hút và đi theo Ngài. Giây phút họ gặp Chúa thật ấn tượng đến độ họ nhớ rất rõ: “Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười." Như Mô-sê được Đức Chúa thu hút qua ngọn lửa cháy trong bụi gai, ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng thú nhận: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con và con đã để cho Ngài quyến rũ” (Gr 20,7). Đức Ki-tô có sức thu hút diệu kỳ khiến cho các ông “đến và ở lại với Ngài." Và các ông đã ở lại mãi và trở thành môn đệ của Ngài.

ĐTC Phan-xi-cô nói: “Đức Ki-tô Đang Sống, Ngài không bao giờ là lỗi thời, không bao giờ mất sự hấp dẫn, trẻ trung, Ngài là Đấng Cứu độ cho nhân loại” (Tông huấn Đức Ki-tô đang sống). Đó là sức hút của “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1,29), sức hút của thập giá, của hiến thân chịu chết để bạn được “giải thoát khỏi tội lỗi, buồn phiền trống rỗng và cô đơn trong tâm hồn” (số 119). Bạn có buông bỏ mình để Chúa “quyến rũ” bạn “vác thập giá” và đi theo Ngài không?

Bạn vác thập giá mình đi theo Chúa bằng cách mỗi ngày bạn làm ít là một việc hy sinh, phục vụ.

22. Hãy đến mà xem

Có hai người bạn thân thiết cùng quyết chí lên đường tìm cho kỳ được điều quý giá nhất trên đời. Mỗi người đi một ngả và hẹn sẽ gặp lại nhau khi đã đạt được ước nguyện.

Người thứ nhất lặn lội đi tìm viên ngọc mà ông cho là quý giá nhất. Ông băng rừng vượt biển, đi đến bất cứ nơi đâu nghe nói có bán đá quý. Cuối cùng, ông đã thỏa mãn vì tìm mua được một viên ngọc tuyệt hảo. Trở lại quê hương, ông có ý chờ đợi người bạn thân, vừa để khoe viên ngọc của mình, vừa tò mò muốn biết điều quý giá của bạn mình là gì.

Nhiều năm trôi qua mà người bạn vẫn bặt vô âm tín. Ông đi khắp nơi để mong thụ giáo với các bậc hiền nhân để hỏi xem: “Muốn tìm gặp được Thiên Chúa thì phải làm gì?” Ông cũng tìm đọc các sách đạo đức, nghiền ngẫm suy tư, nhưng rồi ông vẫn chưa gặp được Thiên Chúa... Một ngày kia, đang thơ thẩn đi dọc theo một con lạch nhỏ, ông bỗng thấy một con vịt mẹ và một đàn vịt con đang bơi lội. Ðàn vịt con cứ muốn tách ra đi riêng để mò tôm tép, vì thế, vịt mẹ cứ phải kiên nhẫn lặn lội tìm hết đứa con này đến đứa con kia, muốn chúng phải quay về với đàn. Ngẫm nghĩ một lúc, ông chợt mỉm cười rạng rỡ và vội vã lên đường trở về quê hương với hai bàn tay trắng.

Vừa gặp lại nhau, người bạn tìm được ngọc quý đã buột miệng hỏi: "Nào, anh hãy cho tôi xem món đồ quý giá nhất mà anh đã tìm được. Tôi nghĩ đó phải là một cái gì tuyệt diệu, bởi vì trông anh thật hạnh phúc mãn nguyện!"

Người bạn trở về với hai bàn tay trắng nhưng tâm hồn thì tràn ngập hân hoan liền cất tiếng trả lời: "Tôi đã đi tìm Thiên Chúa, và cuối cùng tôi mới hiểu ra rằng: chính Thiên Chúa, Người đã đi tìm gặp tôi!"

23. Mầu nhiệm ơn gọi

Trong cuốn “Trên Đường Lữ Hành”, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã kể câu truyện “Được Gọi để Gọi.” Câu truyện viết về một chị nữ tu tên Céline, giữ nhiệm vụ coi nhà khách và trực khách tại tu viện.

Trong suốt 40 năm trường, chị nữ tu ấy chỉ làm một việc duy nhất: đi gọi người khác để gặp khách. Chị thường nói đùa: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi luôn luôn gọi người khác. Tôi được gọi để gọi.”

Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng. Công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh. Việc làm của chị luôn bị gián đoạn để tạo nên sự liên lạc cho những người khác. Mọi người đều “lấy cắp” thời giờ của chị, nhưng chị vẫn vui tươi trong nhiệm vụ.

Thế rồi, một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chị Céline đã ngã qụy trên hành lang nhà dòng. Chị bị thổ huyết vì chứng lao phổi, chị thều thào trong hơi thở cuối: “Chúa đến gọi tôi lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng.” Sau đó, chị đã bình an ra đi theo tiếng Chúa gọi.

Chị nữ tu Céline đã đáp lại tiếng Chúa gọi và suốt đời trung thành với Ơn Gọi của mình: “được Chúa gọi để gọi người khác.” Hôm nay, Tin Mừng theo thánh Gioan cũng thuật lại ơn gọi của thánh Gioan, Anrê và Phêrô. Qua lời giới thiệu của thánh Gioan Tẩy Giả: “Đây là Chiên Thiên Chúa”, Gioan và Anrê đã bỏ thầy mình là Gioan Tẩy Giả để đến với Chúa và trở thành môn đệ của Chúa. Sau khi đã gặp gỡ Chúa, Anrê lại trở về gọi anh mình là Simon Phêrô đến gặp gỡ Chúa và đi theo Ngài.

24. Tìm gì thế?

Nước Tống có người được hòn ngọc, đem biếu quan Tư thành là Tử Hãn. Tử Hãn không nhận, người biếu ngọc thưa rằng:

- Ngọc này tôi đã cho thợ ngọc xem, quả là một thứ ngọc rất báu nên mới dám dâng quan lớn. Xin quan lớn nhận cho tôi vui lòng.

- Ngươi cho ngọc là của báu, ta cho tính không tham là của báu. Ngươi đem ngọc cho ta, nếu ta nhận thì hai bên cùng mất cả của báu. Âu là ngươi cứ đem về. Ai giữ lấy vật báu của người ấy, như thế vật báu của hai người còn cả. Thế chẳng hơn ư?

Người biếu ngọc cúi đầu thưa:

- Chúng tôi là thường dân mà lại có ngọc quí này, chỉ sợ bị trộm cướp mà có khi hại đến thân.

Tử Hãn thấy thế, lưu người ấy lại, gọi thợ ngọc đến giũa ngọc, bán được tiền rồi, bèn đưa cho người ấy để làm giàu.

Sống niềm tin vào Đức Kitô không nhất thiết là thông hiểu giáo lý, mà cốt yếu ở tại biết mình tìm điều gì, và phải làm gì. Tin theo Đức Kitô, do đó, không chỉ đơn giản là lời tuyên xưng niềm tin ngoài miệng mà đòi phải thay đổi cả cuộc sống. Các môn đệ đầu tiên của Đức Kitô là những kiểu mẫu cho hành trình tin theo Đức Kitô: Khi đến với Gioan Tẩy giả, họ tỏ ra khao khát tìm một lẽ sống; khi Đức Giêsu được giới thiệu với họ, họ “liền đi theo Đức Giêsu.” Điều kiện đầu tiên của đức tin, do đó, là một tâm hồn sẵn sàng, như Sa-mu-en dù đang lúc ngủ say mà nghe Chúa gọi liền thưa: “Dạ, con đây” và chạy ngay để tìm biết Chúa muốn gì.

Thầy Rabbi Samlai thuyết giảng: Sáu trăm mười ba điều luật đã được ban cho Mô-sê (…) Rồi Đa-vít rút gọn lại còn mười một điều. Sau đó đến tiên tri Isaia rút lại còn sáu điều. Rồi đến tiên tri Mica rút lại chỉ còn ba. Một lần nữa tiên tri Isaia lại rút chúng lại thành hai điều, là sống chính trực và công minh, như đã được viết: “Đức Chúa được suy tôn, vì Người ngự trên chốn cao vời. Người làm cho Xi-on được đầy chính trực công minh” (Is 33,5). Và cuối cùng là đến tiên tri Amốt rút lại chỉ còn một điều, là “Hãy tìm Ta thì các ngươi sẽ được sống” (Am 5,4).

Thiên Chúa là điều tôi cần và phải tìm suốt đời. Thành bại đời tôi là ở đó, nhưng có nhiều lúc tôi phải tự hỏi lại mình: “Tôi tìm gì thế?”

CNTN 2C – HÓA NƯỚC THÀNH RƯỢU Ở CANA

Lời Chúa: Ga 2, 1-12

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa. Và có mẹ của Chúa Giêsu ở đó. Chúa Giêsu và các môn đệ Người cũng được mời dự tiệc cưới.

Và bỗng thiếu rượu, mẹ Chúa Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi.” Chúa Giêsu nói với mẹ: "Hỡi bà, Con với bà có can chi đâu, giờ Con chưa đến.”

Mẹ Người nói với những người giúp việc: "Hễ Người bảo gì, thì phải làm theo.” Ở đó có sáu chum đá, dùng vào việc thanh tẩy của người Do-thái, mỗi chum đựng được hai hoặc ba thùng nước.

Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy đổ nước đầy các chum.” Họ đổ đầy tới miệng. Và Chúa Giêsu bảo họ: "Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc!" Và họ đã đem đi. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu, ông không biết tự đâu ra, nhưng những người giúp việc đã múc nước thì biết, ông mới gọi tân lang mà nói: "Ai cũng đem rượu ngon ra trước, khi khách ngà ngà thì mới đem rượu xoàng hơn. Còn ông, ông lại giữ rượu ngon tới giờ này.”

Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên này tại Cana xứ Galilêa, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người tin Người.

TRUYỆN KỂ

1. Đám cưới vĩ đại nhất

Một trong những đám cưới được xem là vĩ đại nhật trong lịch sử nhân loại, đó là đám cưới Alexandre Đại Đế với Công chúa Roxane của Ba Tư vào thế kỷ thứ tư trước công nguyên.

Khi quyết định lấy một người châu Á, dĩ nhiên, Alexandre theo tiếng gọi của con tim, nhưng ông còn muốn biểu lộ ý chí thống nhất các dân tộc từ đông sang tây. Ông đã hy vọng được một người con nối dõi hai dòng máu đông tây để thống nhất hai phần đất của địa cầu. Đám cưới được cử hành trong bảy ngày bảy đêm, nơi nơi đều có yến tiệc. Để tăng thêm long trọng, Alexandre cho tổ chức những cuộc tranh tài thể thao: Thế Vận Hội được khai sinh từ đó (Lẽ Sống, 1991 tr. 133)

Nhân loại từ xưa đến nay, không có tiệc mừng nào vui mừng lớn lao ăn sâu vào lòng các dân tộc bằng tiệc cưới. Tại sao vậy?

Thưa, vì tiệc cưới chúc mừng một công trình tốt đẹp nhất của loài người, một công trình của tình yêu. Tình yêu là nền tảng tác tạo sinh tồn của loài người. Nhờ tình yêu Thiên Chúa, con người đã được tạo dựng và được ban cho một quà tặng làm gia nghiệp khổng lồ là cả một vũ trụ mênh mông, chất đầy muôn loài muôn vật rực rỡ muôn màu, lừng hương thơm ngát. Cũng nhờ tình yêu đậm đà trong mình, con người biểu lộ ý chí thống nhất nên một và dâng hiến cho nhau một niềm hạnh phúc dồi dào hơn bất cứ hạnh phúc nào trên trần gian này. Hạnh phúc kết hợp đó càng được bền vững dài lâu nhờ sinh thành con cái bởi chính thịt máu mình, một quà tặng tuyệt vời hơn bất cứ tặng phẩm nào khác. Đó là công trình tốt đẹp nhất mà Thiên Chúa đã thiết lập, đến nỗi nhiều lần Đức Giêsu đã ví nước trời giống như tiệc cưới Hoàng Tử.

Chính vì thế, toàn bộ gia đình thân mẫu Đức Giêsu, Đức Giêsu và các môn đệ đã đến dự tiệc cưới Cana. Cũng chính vì thế, khi thấy thiếu rượu, Đức Mẹ đã vội vã xin con mình cứu giúp, không cần phải để tới lúc quản tiệc và chàng rể kêu van.

2. Tình mẹ trong gia đình

Ở đất Vũ Bình có giống vượn đỏ như vang, nõn nà như tơ, trông xa lấp lánh rất là đẹp mắt. Có hai mẹ con vượn, mẹ thì khôn ngoan, tinh anh, con thì ngây ngô, nhẹ dạ, nhưng lúc nào mẹ con cũng đi bên nhau. Người đi săn không thể nào nhử mồi đánh bẫy được, mới lấy thuốc độc sát vào đầu mũi tên, rình lúc vượn mẹ vô ý thì bắn. Khi vượn mẹ bị trúng tên, biết mình không thể sống được, liền vắt sữa ra cho con uống, xong rồi lăn ra chết.

Người đi săn quay về phía vượn con, cầm roi quất vào xác vượn mẹ. Vượn con trông thấy kêu gào thương xót chạy lại gần, người đi săn liền vồ lấy mà bắt sống. Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ thì mới yên, đôi khi lại ôm lấy mẹ kêu gào thảm thiết. Không được mấy hôm vượn con cũng lăn ra chết.

Tình mẫu tử của giống vượn lông đỏ làm cho chúng ta vô cùng xúc động: Tuy nhiên, chúng ta cũng có một người mẹ, hết lòng chăm lo cho từng đứa con còn lớn lao hơn gấp bội. Đó chính là Mẹ Maria.

Có thể nói, một trong những trang đẹp nhất của sách Tin Mừng Gioan, chính là bài tường thuật về "Tiệc cưới Cana.” Chính nơi tiệc cưới này, Mẹ đã bày tỏ thật sâu sắc tình mẫu tử của người.

3. Đức Maria, gương mẫu của sứ vụ

Tin Mừng thánh Gioan chỉ nhắc tới Đức Maria có hai lần: một lần ở Cana lúc Chúa Giêsu mới bắt đầu sứ vụ, và một lần dưới chân thập giá lúc Ngài hoàn thành sứ vụ. Hai lần ở đầu và cuối, ngụ ý bao hàm tất cả. Các Tin Mừng nhất lãm nói rõ hơn về điều này.

Trong biến cố Truyền tin, khi được hỏi có muốn làm mẹ Đấng Cứu Thế hay không, Người đã bỏ ý riêng sang một bên để quảng đại "Xin Vâng" theo thánh ý Chúa. Sứ vụ đôi khi có nghĩa là sẵn sàng gác sang một bên những chương trình riêng của mình, để đáp lại lời Chúa mời hợp tác trong chương trình của Ngài.

Trong biến cố Thăm viếng, khi vừa hay tin người chị họ của mình đã mang thai 6 tháng và đang cần người giúp đỡ, Đức Maria đã vội vã đến nơi. Sứ vụ đôi khi có nghĩa là phải có sáng kiến: thấy nhu cầu, và mau mắn phục vụ.

Trong biến cố Cana, Đức Mẹ thoáng nhận ra vẻ bối rối của nhà chủ, Người hiểu ngay là họ thiếu rượu, và Người đã xin Con giúp đỡ. Sứ vụ đôi khi cần phải tế nhị: nhận ra điều người ta đang cần, nhưng ý thức rằng bản thân mình không làm gì được, nên giới thiệu cho kẻ có khả năng giúp đỡ.

Trên đồi Golgotha, Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn con yêu dấu đang hấp hối, rất đau lòng nhưng chỉ biết lặng thinh. Sứ vụ có khi còn có nghĩa là chấp nhận bất lực không làm gì được, chỉ biết phó thác.

Tất cả chúng ta đều được Chúa trao sứ vụ: sứ vụ đối với gia đình, sứ vụ với Giáo Hội, sứ vụ với xã hội, sứ vụ với tất cả mọi người. Chúng ta hãy nhìn gương Đức Mẹ và bắt chước Người.

4. Con sâu trong tảng đá

Một hôm Đức Ala gọi một Thiên sứ đến và truyền lệnh: "Ngươi hãy xuống trần gian để đưa về đây người đàn bà góa có 4 đứa con thơ.” Thiên sứ ra đi, gặp ngay người đàn bà góa đang cho đứa con nhỏ nhất bú. Ngài nhìn người đàn bà với 4 đứa con dại, rồi lại lên Đức Ala để tha thiết nài xin rút lại lệnh truyền. Làm sao có thể nhẫn tâm tách lìa người mẹ khỏi những đứa con thơ ấy? Nhưng lời van xin của Sứ thần chẳng mảy may đánh động được Đức Ala. Cuối cùng Sứ thần đành phải vâng lệnh Đức Ala mà cướp người mẹ góa khỏi bầy con thơ và đưa về trời.

Hoàn thành công tác, nhưng xem chừng vị thiên sứ lại có vẻ buồn. Phải, làm sao vui được trước cảnh chia ly giữa mẹ và con? Thấy sứ thần buồn, Đức Ala gọi đến và đưa vào sa mạc. Ngài chỉ cho sứ thần thấy một tảng đá lớn và bảo đập nó ra. Tảng đá vừa vỡ đôi, sứ thần ngạc nhiên vô cùng, vì từ trong tảng đá một con sâu nhỏ từ từ bò ra. Chợt hiểu được ý nghĩa của sự kiện ấy, sứ thần bỗng thốt lên: "Ôi lạy Đấng tối cao, mầu nhiệm thay công cuộc sáng tạo của Ngài. Với sự khôn ngoan thượng trí và tình yêu vô biên, Ngài đã không bỏ mặc một tạo vật bé nhỏ như con sâu kia, thì hẳn Ngài cũng sẽ không quên được 4 đứa trẻ mồ côi là con cái của Ngài."

5. Cái nhìn của bậc thánh nhân

Một buổi trưa hè nóng bức, Thánh Phanxicô Assisi sau khi đi đường mệt nhọc đã tìm được một chỗ nghỉ chân rất thoải mái. Chỗ đó là dưới một gốc cây có tàng lá che mát, bên dưới là một dòng nước trong lành mát rượi. Thánh nhân rửa tay rửa mặt xong xuôi rồi ngả mình dưới tàng lá. Bỗng dưng người bật khóc. Vì người nghĩ: từ không biết bao đời, Chúa đã biết hôm nay mình đến đây, Chúa biết mình mệt, cho nên Chúa đã đặt sẵn ở đây một bóng mát và một dòng suối để cho mình nghỉ ngơi.

Cái nhìn của bậc thánh nhân đã nhận ra những điều mà người phàm không bao giờ thấy được.

6. Sẩy hết.

Có một chị kia muốn lập gia đình với một anh thanh niên trong xứ. Muốn hỏi ý kiến cha xứ xem chị ta có nên lấy anh ấy không.

Cha hỏi:

- Anh ấy thế nào?

Chị thưa:

- Anh ấy có bằng Thạc sĩ, cha ạ.

Cha xứ trả lời:

- Hết sẩy. Còn gì nữa?

- Anh ấy chơi dương cầm hay lắm.

- Hết sẩy.

- Anh ấy là hoạ sĩ nữa.

- Hết sẩy!

- Anh ấy lại có tài ngoại giao nữa.

- Hết sẩy!

- Anh ấy lại là con nhà giầu nữa.

- Hết sẩy.

- Nhưng còn một điều con hơi thắc mắc, đó là anh ta khô khan, không xưng tội rước lễ?

Cha xứ trợn mắt, lắc đầu:

- Ồ! SẨY HẾT.

7. Xin tài trợ.

Linh mục Sylvano và mục sư Tin lành Henri cùng nhau đến lâu đài Pa-xi-an để xin hoàng tử trợ giúp tài chính cho dự án của mình.

Linh mục Sylvano có ý định xin tiền để xây nhà thờ. Còn mục sư Henri thì xin tiền để xây trường học.

Đến nơi, họ được hoàng tử Auguste tiếp kiến riêng từng người một. Người được vào trước là mục sư Henri. Nhưng chỉ vài phút sau người ta thấy mục sự bước ra với vẻ mặt buồn thiu, vì dự án không được hoàng tử chấp nhận.

Mục sư ngồi lại chờ linh mục Sylvano để cùng về chung. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy linh mục bước ra khỏi phòng tiếp kiến của hoàng tử, vẻ mặt hớn hở, tay xách một túi tiền khá nặng. Mục sự Henri liền thắc mắc hỏi:

- Tại sao linh mục lại được tài trợ như thế?

Linh mục Sylvano trả lời:

- Dĩ nhiên đúng như vậy. Thoạt đầu hoàng tử chối từ lời xin của tôi. Nhưng khi nhìn qua bên cạnh thấy có hoàng thái hậu, tôi liền đến trước hoàng thái hậu để xin ngài bầu cử cho. Và hoàng tử đã đổi ý kiến, nghe lời khẩn cầu của hoàng thái hậu mà tài trợ cho dự án của tôi. Hoàng tử đã thưa với mẹ:”Mẹ đồng ý thì con cũng đồng ý”

“Mẹ đồng ý thì con cũng đồng ý.” Đó là điều mà câu chuyện trên đây muốn nhắc nhở.

Người công giáo chúng ta có lòng tôn sùng Đức Mẹ Maria. Chúng ta đến với Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Mẹ khẩn cầu cho chúng ta và cùng với chúng ta thì làm sao Chúa Giêsu có thể từ chối.

8. Mời Chúa vào nhà

Một phụ nữ kể về việc trang trí nội thất của gia đình. Mọi việc trang hoàng đều được vợ chồng đồng ý. Bỗng một hôm chồng bà tự ý bảo người thợ treo ảnh Chúa Giêsu vào chỗ trang trọng nhất trong nhà. Bà không bằng lòng, cố hết sức thuyết phục chồng đổi ý nhưng ông vẫn khăng khăng.

Đang lúc hai vợ chồng cãi nhau, bà sực nhớ lời Chúa Giêsu: “Ai nhìn nhận Ta trước mặt kẻ khác. Ta cũng sẽ nhìn nhận kẻ ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt.10:32).

Thế là bà chịu theo ý chồng. Và từ đó Chúa Giêsu luôn ban cho gia đình bà an vui hạnh phúc, đến nỗi một người bạn sau khi ngắm bức ảnh đã thốt lên: “Lúc nào tôi cũng thấy gia đình chị yên vui. Ấn tượng mạnh nhất tác động trên bạn bè khách khứa chúng tôi là mỗi khi nhìn lên ảnh Chúa Giêsu, tâm hồn chúng tôi luôn được nâng cao….”

Và bà đã kết luận: “Theo thiển ý tôi, một khi bạn biết mời Chúa vào nhà chắc bạn sẽ được biến đổi hoàn toàn.”

9. Vị khách quên mời

Đôi tân hôn trẻ trong Tin Mừng hôm nay đã mời Chúa Giêsu vào nhà họ và Ngài đã làm phép lạ đầu tiên ở đó khi họ thiếu rượu. Nhờ phép lạ nước lã hóa thành rượu ngon, Chúa Giêsu đã cứu vãn tình thế lúng túng của nhà đám và đem lại niềm vui tràn đầy cho mọi người.

Thực tế mà nói, mỗi cặp vợ chồng thường thiếu một cái gì đó vào một lúc nào đó trong đời sống hôn nhân gia đình: thiếu kiên nhẫn, thiếu hiểu nhau, thiếu thông cảm… và đôi khi thiếu ngay cả tình yêu, như giữa bữa tiệc thiếu rượu vậy. Bạn hết tiền, bạn không có việc làm, bạn thiếu sức khỏe… bạn hãy mời Chúa Giêsu đến, như đôi tân hôn ở Cana, bạn sẽ được giúp đỡ những gì bạn cần để hôn nhân bạn hạnh phúc hơn. Bạn phải làm phần của bạn: bạn phải làm việc nhiều hơn, hy sinh nhiều hơn, suy tính nhiều hơn. Giả sử hôn nhân của bạn điêu đứng vì thiếu kiên nhẫn, bạn hãy bàn hỏi, lập kế hoạch để bạn có thể kiên nhẫn làm sao và khi nào? Rồi - đây là điều quan trọng - bạn hãy xin Chúa Giêsu giúp bạn kiên nhẫn. Bạn thiếu hụt tài chánh ư? Bạn lập kế hoạch làm sổ chi tiêu. Rồi - đây là điều quan trọng nhất - bạn xin Chúa Giêsu giúp bạn đủ chi tiêu.

Sự sai lầm của các cặp vợ chồng là đã không xin Chúa giúp giải quyết vần đề. Đức Cha Tihamer Toth đã hỏi các bạn trẻ: "Các bạn có biết cái tội đầu tiên mà đôi bạn Công giáo đã phạm không? Và Ngài đã trả lời: Đó là khi làm đám cưới, các bạn đã mời tất cả, nào là bà con, bạn hữu, phụ dâu, phụ rễ, cả thợ trang điểm, thợ may, mời luôn dàn nhạc, mời hết chỉ trừ Chúa Giêsu là không có trong danh sách được mời. Đó là cái tội đầu tiên của đôi tân hôn. Và cái tội đầu tiên nầy là khởi điểm của một cuộc phiêu lưu dẫn đôi bạn trẻ vào một con đường vô định, một con đường đầy bóng tối…"

10. Có Chúa ở trong nhà

Một em bé gái mới lên năm, vừa cùng mẹ đọc kinh trước khi ăn cơm. Mẹ em thường ứng khẩu những lời cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, xin hãy nên vị khách quý của bữa cơm hôm nay.” Bà cầu nguyện chưa xong, thì bỗng em bé nhìn mẹ và nói: "Nhưng thưa mẹ, con không muốn Chúa Giêsu làm người khách của chúng ta.” Bà mẹ hoảng hốt hỏi lại: "Tại sao lại thế?" Em bé trả lời: "Vâng, thưa mẹ, là người khách, Chúa chỉ đến một vài lần thôi. Con muốn Chúa Giêsu đến đây và ở lại luôn mãi với chúng ta" (Knight).

Chúa Giêsu phải có mặt trong đám cưới của anh chị em. Chúa Giêsu phải là một phần tử của gia đình anh chị em. Ngài sẵn sàng giúp đỡ. Ngài đang chờ anh chị em xin Ngài, như Đức Maria đã làm tại Cana. Tốt nhất anh chị em hãy cầu xin qua Đức Maria những gì anh chị em cần trong đời sống hôn nhân, gia đình của anh chị em. Như vậy sẽ không có gì thiếu nữa.

Giáo dân Châu Âu xưa kia có một câu tục ngữ như thế nầy: "Nếu bạn đi du lịch bằng đường bộ, bạn hãy đọc một kinh Kính Mừng. Nếu bạn đi du lịch bằng đường biển, bạn hãy đọc hai kinh Kính Mừng. Nếu bạn đi cưới vợ, lấy chồng, bạn hãy đọc một trăm kinh Kính Mừng.” Phải, đời sống hôn nhân gia đình đâu phải chỉ là một chuyến du lịch mà là cả một cuộc hành trình đến mãn đời. Không có sự hiện diện của Chúa, không có Đức Mẹ, vợ chồng khó lòng trung thành với nhau trọn tình vẹn nghĩa thủy chung được, nhất là những khi thiếu rượu nồng của tình yêu.

11. Cách tỏ tình của Chúa

Ngày xưa có những người đi hành hương từ những nơi rất xa xôi, đến Giêrusalem, đi hết tháng nầy qua tháng khác vừa đi vừa hành khất kiếm ăn dọc đường. Có một người hành hương nọ lên đường, lương thực đem đi đã hết từ lâu rồi, áo quần lem luốc. Ông ta phải đi qua một trường học, nhằm lúc học sinh tan trường. Thấy ông ăn mặc thô hèn,đám học sinh hú nhau: Ê, có một thằng điên anh em ơi! Chúng đuổi theo đằng sau và lấy đất liêng ông.

Ông nhủ thầm: lạy Chúa, con đói gần chết, đã không thương thì chớ, chúng còn chọc ghẹo con, bảo con là điên khùng. Chuá ở đâu, sao cứ làm thinh hoài vậy! Ông đi một quảng nữa gặp một cánh rừng, bụng đói cồn cào, bước đi hết nổi, ông bèn ngồi dưới một gốc cây và thầm thưa với Chúa: Chắc con chết mất Chúa ơi! Sao Chúa không sai một người nào đến cứu con với. Vừa nói xong thì nghe một tiếng đệt, ông quay lại thấy một trái xoài rụng, ông lượm và nhai ngấu nghiến. Mấy con quạ trên cây lại làm rụng hai trái nữa. Ăn hết ba trái xoài và uống một ngụm nước suối, thấy khỏe hẳn lên, ông lại lên đường. Đi hết cánh rừng, ông gặp một con chó. Con chó nhìn ông một lúc rồi vẩy đuôi cúi đầu đi về phía ông. Ông làm quen, xoa đầu nó và biết có chó tức là có nhà gần đâu đây.

Ông theo con chó và đến một căn nhà, gặp một người đàn ông. Sau vài câu chào hỏi, biết ông là khách hành hương, chủ nhà mời ông vào, vì gia đình nầy là người công giáo. Sau bữa cơm chiều, chủ nhà gọi đứa con út là bé Tom đặt ngồi trên bắp vế ông và nói chuyện với khách. Vừa nói chuyện vừa thọc léc và nhéo tai bé Tom, bé Tom vừa cười vừa la lên chí chóe. Chủ nhà nhìn khách cười và nói: "Khi người ta thương nhau thì người ta tự do muốn cư xử với nhau sao cũng được. Và thường thương ai, người ta lại thích làm khổ người mình yêu thương. Nói xong ông lại thọc léc thằng bé làm nó dẫy dụa và la lên.

Và khi nghe người khách kể những gì ông gặp trên đường và nỗi thất vọng của ông ta, chủ nhà bảo: "Anh đừng buồn khi người ta cho anh là khùng là điên. Anh đi tìm Chúa tức là anh yêu Chúa. Vì thế Người được tự do gọi anh là khùng là điên: thằng điên của Ta. Đó là cách Chuá tỏ tình với anh đó, ông bạn ạ.

12. Ngoại hình và nội tâm

Một vị “vua” nước Nhật muốn có một khoảng thời gian thư giãn sau mỗi ngày làm việc căng thẳng. Vua cho gọi những người biết nói khôi hài đến hoàng cung. Hôm đó, một nhà sư được mời. Mọi người đã an tọa, vua nói với nhà sư hãy bắt đầu những câu chuyện khôi hài để mọi người được cười vui sảng khoái.

Nhà sư xin vua nói trước, để mình dựa theo đó mà phụ họa cho câu chuyện được thêm phong phú.

Nhìn cái đầu trọc của nhà sư, vua nói: “Ta nhìn nhà ngươi giống như con heo !”

Đáp lại, nhà sư thưa: “Thần nhìn đức vua giống như Đức Phật !”

Đức vua cười nói: “Ta nhìn ngươi giống con heo, cớ sao ngươi nhìn ta lại giống Đức Phật ?”

Nhà sư thưa “Vì thần có tâm phật, nên nhìn ai cũng giống Đức Phật cả ?”

Như vậy, kẻ có tâm phật, nhìn mọi người đều là phật, còn kẻ có tâm heo, thì nhìn tất cả đều là heo.

Giê-su, Đấng đầy tràn Thánh Thần, tình yêu và sự sống, mọi sự phát xuất từ Ngài đều là chân, thiện, mỹ, và đều đem lại hồng ân cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Người

13. Lòng tin của Đức Mẹ

Nửa đêm thình lình phát hỏa dữ dội trong một căn nhà, mọi người hốt hoảng ùa chạy ra sân để thoát nạn. Sau khi cả nhà ra sân, ông bố mới thấy còn thiếu thằng út lên ba. Trong cơn lo sợ, ông đang định chạy vào trong nhà để kiếm con, thình lình nghe thấy tiếng la hét trên lầu, ông ngước nhìn lên thấy đứa con trai út đang mở cửa sổ phòng ló đầu kêu cứu... Ông bố mừng rỡ hô lớn:

- Con ơi! hãy nhảy xuống đi, bố đỡ con ở dưới này! Nhưng đứa bé hoảng sợ la lên:

- Bố ơi, khói mù mịt con không nhìn thấy bố! Ông bố tiếp la lớn:

- Con không nhìn thấy bố... nhưng bố nhìn thấy con!

Thế là cậu bé đã an tâm nhảy vào bàn tay rắn chắc vững vàng của người cha. Chỉ cần niềm tin “bố nhìn thấy con” đã cho đứa bé nghị lực để lao ra giữa khói lửa mịt mù.

Quả là, đức tin có thể chuyển núi dời non. Đức tin sẽ giúp con người chiến thắng mọi khó khăn vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Đức tin sẽ mang lại cho con người bình an tâm hồn ngay trong những thử thách gian truân.

Hôm nay tại tiệc cưới Cana, những người giúp việc đã được nghe Mẹ Maria nói trước: “Người bảo gì các anh hãy làm như vậy.” Họ đã tin và đã làm theo lời Chúa. Họ đã được như ý. Rượu nồng tình yêu đã đổ chan chứa nhờ tin vào quyền năng của Chúa.

14. Họ hết rượu rồi

Tài liệu của US Census Bureau năm 2010 cho biết, tỉ lệ ly dị trung bình của nước Mỹ là khoảng 50%, tiểu bang đi đầu là California 60%, mà Quận Cam là vùng có tỉ lệ ly dị cao nhất, gần 70%.

Từ nhiều năm trở lại đây, tỉ lệ lập gia đình trong dân số Hoa Kỳ ngày càng giảm, trong khi con số ly dị từ các cặp vợ chồng đó ngày một tăng lên. Cứ ba cặp đôi nào vượt qua được các thử thách và quyết định đi tới hôn nhân, thì chỉ 1 trong số đó sẽ giữ được mái ấm của mình. Với tỉ lệ ly dị cao tới gần 70% giữa các đôi vợ chồng ở Quận Cam, có thể nói rằng những đứa trẻ nào ở Quận Cam, mà có được cả ba lẫn mẹ để thưa chào trước khi đi học hay khi về nhà, là những đứa trẻ may mắn.

Tóm lại, cứ 10 cặp vợ chồng ở Quận Cam thì 7 cặp sẽ kết thúc trong sự tan vỡ. Theo khảo sát thì ba cặp còn lại, cũng nghĩ tới việc ly dị nhưng họ không biến ý nghĩ đó thành hiện thực. Trong cuộc sống hiện đại, khi thời gian là vàng bạc, con người dường như quyết định mọi thứ nhanh chóng hơn, kể cả việc chấm dứt đời sống vợ chồng. Khi nghĩ tới việc ly dị như một phương án, để kết thúc cho mọi khó khăn trong đời sống gia đình, thiết nghĩ một chút thời gian để nói chuyện với nhau, có thể giữ bạn lại ở bên phía 30% may mắn của các cặp vợ chồng ở Quận Cam. (Thiên An, Người Việt)

Hôm nay, Thánh sử Gioan mời gọi chúng ta đi dự tiệc cưới Cana cùng với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các tông đồ tân tuyển. Tiệc cưới diễn ra ban đầu suôn sẻ, nhưng bất ngờ xảy ra sự cố ngoài dự trù.

Khi đôi tân hôn đang còn nôn nóng, chờ đợi mời nhau chén rượu hợp cẩn, khi những lời chúc phúc trăm năm hạnh phúc, chưa kịp biến thành hiện thực, thì bất ngờ mối lo âu, hốt hoảng đã vội len lỏi ập đến, như kẻ trộm âm thầm giữa đêm khuya. Tiệc cưới sắp hết rượu!

Không Chúa, “hết rượu rồi!”

Đại tiệc đang hồi cao trào, náo nhiệt, tưng bừng, nhưng Mẹ Maria luôn quan tâm, luôn lắng nghe và luôn thấu hiểu tình trạng con cái, khi gia nhân lo lắng, băn khoăn, loáng thoáng xầm xì hết rượu. “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: “Họ hết rượu rồi.”(Ga 2, 3)

15. Sức mạnh của lời Đức Mẹ cầu bầu

Linh mục Sylvano và mục sư Henri đến lâu đài Pa-xi-an gặp Hoàng tử Auguste để xin giúp tài chính xây dựng. Linh mục thì xây nhà thờ, Mục sư thì xây trường học. Hoàng tử tiếp riêng mỗi vị. Mục sư gặp Hoàng tử xong ra ngoài vẻ mặt buồn thiu vì không được hoàng tử chấp thuận. Đến lượt Linh mục vào, xong ra ngoài rất vui. Mục sư hỏi sao ông được hoàng tử chấp thuận? Linh mục nói ban đầu tôi cũng bị từ chối nhưng tôi thấy có hoàng thái hậu ở gần đó nên tới thưa với hoàng thái hậu và được bà bầu cử nên hoàng tử đổi ý và nói nếu mẹ thuận thì con cũng thuận.

Trong việc cầu nguyện cũng vậy nếu ta xin Đức Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta thì điều chúng ta xin có nhiều khả năng được Chúa chấp nhận như lời kinh Hãy nhớ: "Xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời.” Amen.

16. Giá trị của lời chào

Một nữ công nhân làm việc tại nhà máy chế biến thịt đông lạnh. Ngày hôm ấy, sau khi hoàn thành công việc, như thường lệ cô đi vào kho đông lạnh để kiểm tra một chút. Đột nhiên, cửa phòng bị đóng và khóa lại, cô bị nhốt ở bên trong mà không một ai biết.

Cô vừa hét khản cổ họng vừa đập cửa với hy vọng có người nghe được tiếng mình mà đến cứu, nhưng vẫn không có ai nghe thấy. Lúc này tất cả công nhân đã tan ca, toàn bộ nhà máy đều yên tĩnh.

Sau 6 giờ chiều hôm ấy, nữ công nhân lạnh cóng người, tuyệt vọng và đau khổ… Đang lúc cô tưởng như không chịu đựng được nữa thì bất ngờ được người bảo vệ đến mở cửa cứu ra ngoài.

Hôm sau, cô gái hỏi người bảo vệ tại sao lại biết mình ở trong đó để đến mở cửa, mặc dù đây không phải khu vực mà ông ấy quản lý.

Người bảo vệ trả lời: “Tôi làm việc ở nhà máy này đã 35 năm rồi. Mỗi ngày đều có mấy trăm công nhân ra ra vào vào. Nhưng cô là người duy nhất mà ngày nào sáng sớm đi làm cũng chào hỏi tôi và buổi tối tan làm lại chào tạm biệt tôi trong khi có rất nhiều người xem như không nhìn thấy tôi vậy! Hôm nay, tôi biết rõ ràng buổi sáng cô có đi làm bởi vì sáng sớm cô còn nói “cháu chào bác!” Nhưng sau khi tan làm buổi chiều, tôi lại không nghe thấy tiếng cô chào: “Tạm biệt bác, hẹn ngày mai gặp lại!” Thế là tôi quyết định đi vào trong nhà xưởng tìm xem thế nào. Tôi đi đến những chỗ góc hẻo lánh tìm cô và cuối cùng lại nghe thấy tiếng khóc và tìm thấy cô ở trong kho đông lạnh…”

Noi gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các gia nhân trong bài Tin Mừng, mỗi chúng ta hãy thể hiện sự quan tâm của chúng ta đối với những người xung quanh. Hãy luôn khiêm tốn nhã nhặn, yêu thương và tôn trọng những người xung quanh mình bởi vì bạn không thể biết được sự tình gì sẽ xuất hiện vào ngày mai! (Theo NTDTV, Mai Trà biên dịch)

17. Ai xin thì sẽ được

Có một bà lão đạo đức, nhưng nghèo đến nỗi không có đủ tiền mua gạo ăn. Hôm nọ, đói quá không làm gì nổi, bà chỉ còn cách quỳ gối giữa nhà, hết lòng tha thiết van nài cùng Chúa: "Lạy Chúa! Xin giúp con có gạo nấu cơm ăn chiều nay, nếu không, chắc con chết mất. Xin Chúa thương con " Lúc đó, một người vô thần tình cờ đi ngang, anh ta giở một trò để tiêu khiển niềm tin của bà. Anh chạy lẹ ra tiệm tạp hoá gần đó, mua một ký gạo, rồi trở về ném túi gạo qua lỗ vách lá, rơi bịch trước mặt bà. Bà lão vô cùng mừng rỡ và hết sức ngỡ ngàng, đến nỗi quên cả đói khát vừa hô to: "Cám ơn Chúa, con cám ơn Chúa."

Bà vừa chạy vừa khoe với lối xóm là Chúa đã nhận lời bà cầu xin. Thấy bà già đã trúng kế mình, anh chàng vô thần cười chế nhạo, và nói rõ là anh ta vừa ra tiệm tạp hoá mua túi gạo, rồi ném qua lỗ vách cho bà. Nhưng bà lão đáp:

" Có thể là anh mang gạo đến cho tôi nhưng tôi bảo đảm là lời tôi cầu nguyện đã được Chúa nhận lời. Tôi cầu xin chiều nay có gạo nấu cơm, và Chúa đã ban cho tôi y như lời tôi cầu. Tạ ơn Chúa, cám ơn anh. "

Bà lão đã hết gạo, bà đã xin gạo và được gạo, bà tạ ơn Chúa và nhận ra đó là ơn huệ Chúa ban, cho dù gạo đó đến từ một âm mưu đen tối. Nhưng ai âm mưu thế nào không cần biết, chỉ biết tạ ơn Chúa vì đó là ơn lành Chúa ban.

Còn chúng ta, nếu chúng ta chưa có gì trong đời sống cầu nguyện, thì hãy bắt đầu ngay hôm nay.

18. Có Chúa hiện diện

Có một tu viện nọ, các thầy sống chung với nhau mà luôn cải cọ, ganh ghét, nói xấu chỉ trích nhau làm gương xấu cho cả vùng đó. Vì thế không còn ai muốn lui tới tu viẹân nữa. Thầy bề trên thấy tình cảnh như thế rất đau buồn nhưng không biết cách làm sao giải quyết.

Thế là một hôm thầy bề trên quyết định tìm đến một vị ẩn sĩ để tâm sự về những tình trạng xấu trong dòng mong tìm ra cách giải quyết. Vị ẩn sĩ trầm ngâm nghe những lời tâm tình của thầy bề trên rồi nói: Thầy hãy về nói lại với anh em trong dòng rằng "Có Chúa Giêsu đang cải trang thành một thầy đang sống cùng chúng ta.” Thầy bề trên về tập hợp các anh em trong dòng nói "có Chúa Giêsu đang cải trang thành một người trong anh em chúng ta.”Vậy anh em phải sống thế nào để không đóng đinh Ngài vào thập giá một lần nữa. Từ ngày đó thầy này nghĩ thầy kia là Chúa Giêsu nên không còn dám xúc phạm nữa. Vì thế các thầy thay đổi cách đối xử với nhau, sự bình an, yêu thương đã trở lại trong tu viện. Từ sự yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ của các thầy người ta thấy được niềm vui và sự bình an. Thế là người ta lại kéo nhau đến tu viện để tìm sự bình an đông hơn trước.

Cũng thế, nếu thật sự chúng ta để Chúa Giêsu bước vào trong đời sống chúng ta thì sẽ không còn buồn chán, thất vọng, ganh ghét, chỉ trích nhau xảy ra.

19. Đến với Đức Mẹ

Từ “bà” dường như hơi khó nghe đối với chúng ta. Nhưng thực ra, nó có một ý nghĩa khác trong thế giới thời cổ. Chẳng hạn Odysseus goi Penelope người vợ yêu dấu của mình là bà. Hoàng đế La mã cũng gọi nữ hoàng Ai cập Cleopatre bằng danh xưng này. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu từ “bà” là biết rằng người Anh đã sử dụng từ “quý bà” để gọi một phụ nữ quý tộc.

Rất nhiều kitô hữu đã kêu cầu Đức Maria trong lúc gian nguy. Điều này gợi lên câu hỏi: Lần cuối cùng tôi kêu cầu Đức Maria là khi nào? Tại sao?

Lay Mẹ Chúa Kitô, Ngôi sao biển, xin cầu bầu cho những kẻ lầm lạc, xin cầu bầu cho con. (Bài thánh ca xưa)

20. Làm con Đức Mẹ

Cậu Karol Wojtyla lên 7 tuổi, đứng bên giường mẹ đang hấp hối, cậu khóc nức nở! Người mẹ nắm tay con ôn tồn nói: “Con đừng khóc, mẹ này chỉ là vú nuôi con, khi Chúa rước vú này về với Chúa, thì người Mẹ thật của con là Đức Maria xuất hiện, sẽ đích thân chăm sóc con.”

 Từ ngày ấy, cậu tỏ lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt, tưởng đó cũng là lý do quan trọng mà ngày 18-10-1978 Chúa đã chọn ngài lên ngôi Giáo hoàng (Gioan Phaolô II), đem lại nhiều lợi ích cho Hội Thánh và cả xã hội trong mọi lãnh vực.

 Vậy ta được làm con Chúa trong Hội Thánh, thì Đức Maria mới thực là Mẹ thật của ta.

 Một chú bé nghèo khổ, quần áo tả tơi, không biết chữ o tròn hay méo, lê đôi chân gầy đi đến một khu phố nghèo nàn ở Ba-lê (Pháp). Chú ấy là tên là Gioan, lên 6 tuổi, đi tìm ông già Bouin, sống bằng nghề viết thư mướn.

 Chú bé vào nhà lễ phép cúi đầu chào ông cụ. Ông già hỏi:

- Cháu muốn gì?

Chú vội thưa:

- Cháu muốn viết một bức thư.

Ông già ra giá ngay:

- Đưa đây 10 xu.

Chú bé ngập ngừng rồi thưa lại:

- Xin lỗi cụ, cháu không có tiền.

Nói xong chú thất thểu đi ra, ông già ngó theo thương hại, kêu chú trở lại:

- Này, mày không có đến 10 xu sao? Mày là con ai?

Chú bé từ tốn đáp:

- Dạ cháu là con má cháu.

Ông già nói:

- Vậy là ta hiểu rồi, cháu không có 10 xu, má cháu cũng không có, vậy viết thư để xin chút cháo ăn đỡ đói phải không?

Chú bé gật đầu. Ông già nói tiếp:

- Được rồi vào đây ông viết giúp cho.

Ông Bou-in nghĩ thầm: mình có hy sinh một chút thời giờ, tốn ít mực, ít giấy thì cũng chẳng ra nghèo. Ông liền lấy bút giấy ra viết: Ba-lê, ngày… tháng… năm… Kính thưa ông.” Ông đọc lại cho chú bé nghe và bảo muốn gì thì nói để ông viết tiếp. Chú bé ấp úng:

- Dạ không phải ông ạ!

Ông già gạn hỏi:

- Không phải ông thì bà?

Chú bé run run thưa lại:

- Dạ cũng không phải bà.

Ông Bouin thấy bực mình nên cáu gắt nói:

- Đã không biết ai để gởi mà lại đòi viết thư.

Chú bé lấy hết can đảm thưa lại:

- Dạ, cháu muốn viết thư cho Mẹ Ma-ri-a.

Ông già cười rồi nghiêm nghị nói:

- Mày chế nhạo lão gìa này hả? Cút ra khỏi nhà tao ngay!

 Chú bé ngoan ngoãn bước ra khỏi cửa, ông nhìn theo thấy thương hại nên gọi chú trở lại, quan sát kỹ chú bé một lúc, rồi ông hỏi tiếp:

- Tên cháu là gì?

- Dạ tên cháu là Gioan.

- Gioan gì nữa?

- Dạ, Gioan thôi ạ.

- Nhưng cháu muốn xin gì cùng Đức Mẹ?

- Dạ cháu muốn thưa với Ngài là má cháu đã ngủ từ 4 giờ chiều hôm qua, hai tay để trên ngực, người lạnh ngắt, cháu không làm sao đánh thức má cháu dậy được!

Nghe đến đó ông già hiểu ngay là mẹ em đã chết vì đói, ông rươm rướm nước mắt và nghĩ thầm: mình chẳng thiếu của ăn, còn mẹ con chú này thì lại chết đói! Ông già ôm ghì lấy chú bé vào lòng, và ôn tồn nói:

- Từ nay ông sẽ là ba của cháu.

Vậy một bức thư không được gởi đi, nhưng đã có hiệu quả là cụ già biết thương người, và Mẹ trên trời đã dùng cụ để chăm sóc cậu bé Gioan.

 21. Chúa tỏ mình ra

Sophie Berdanska là một thiếu nữ đang lâm cảnh thất nghiệp, đói rách, được gia đình Merston, người Do thái, thuê chăm sóc cho mấy đứa trẻ trong nhà. Khi biết được Sophie là người Công giáo, ông chủ đặt điều kiện là “không được giảng đạo” cho con cái ông,

Sophie nhận lời. Và nàng viết một dòng chữ vào tờ giấy nhỏ, xếp lại, và bỏ vào tấm huy chương cũ của cha mình, rồi đeo vào cổ.

Lũ trẻ ngày càng nhu mì, ngoan ngoãn. Nhưng tai hoạ đột nhiên ập tới: Bé Naim đau nặng phải nằm viện, Sophie tình nguyện túc trực ngày đêm coi bệnh; rồi lại thêm hai đứa nữa ngã bệnh, gánh nặng của Sophie càng nặng thêm. Nhưng nàng vẫn vui vẻ phục vụ cho đến khi tất cả đều bình phục thì... nàng ngã bệnh và từ trần!

Hai năm đã trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Sophie. Người ta thấy cả nhà ông Merston đến nhà thờ dự thánh lễ. Phép lạ sao?

Vâng! Sau khi Sophie mất được ít lâu, ông Merston tình cờ mở tấm huy chương của Sophie ra và thấy mảnh giấy ghi giòng chữ: "Khi người ta cấm tôi nói về đạo của tôi, tôi quyết sống đạo trước mắt họ như một chứng tích hùng hồn.”

Ông bàng hoàng, cảm phục. Và cả gia đình đến nhà thờ xin được theo đạo...

Chúa tỏ mình ra bằng phép lạ biến đổi nước thành rượu, làm cho u sầu cũng biến thành niềm vui.

Chúa có tỏ mình ra nơi tôi không? Đời sống và sự hiện diện của tôi có mang lại sự phấn khởi và niềm vui sống cho cho người chung quanh không ?

22. Ave Maria

Sau khi tốt nghiệp đại học Michigan, Tom Harmon, trung vệ và là người đoạt giải Heisman Trophy, trở thành phi công. Một ngày nọ, phi cơ của anh bị rơi vào một khu rừng già ở Nam Mỹ. Việc anh được sống sót là như một phép lạ. Mô tả kinh nghiệm của mình, anh viết: “Tôi nói câu “Ave Maria” ít là một triệu lần trong suốt cuộc đi bộ đầy vất vả để tìm đường ra khỏi khu rừng. Thật sự, khi đi xuyên qua khu rừng để tìm đường ra khỏi đó, tôi đã kêu lên “Ave Maria” với hy vọng một ai đó sẽ nghe thấy, đồng thời đó cũng là lời cầu nguyện của tôi”

Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu đóng vai trò quan trọng nào trong đời sống thiêng liêng của tôi?

Thiên Chúa không thể ở khắp mọi nơi, vì vậy Ngài đã dựng nên những người mẹ (Ngạn ngữ Do thái).

THỨ HAI - RƯỢU MỚI TRONG BẦU DA MỚI

Lời Chúa: Mc 2, 18-22

Khi ấy, môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, họ đến nói với Chúa Giêsu rằng: "Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đồ Ngài lại không ăn chay?"

Chúa Giêsu nói với họ: "Các khách dự tiệc cưới có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không? Bao lâu tân lang còn ở với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay.

Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới.”

TRUYỆN KỂ

1. Cốt lõi của đạo

Trong những thập niên gần đây, mặc dầu càng lúc Hiến pháp các quốc gia càng đi sâu vào sự tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước; thế nhưng, sự liên kết giữa tôn giáo và chính trị lại càng đậm nét hơn. Cuộc chiến giữa Tư bản và Cộng sản đã hầu như chấm dứt, nhưng chiến tranh tôn giáo xem chừng vẫn dai dẳng, không những giữa những người khác tôn giáo với nhau, mà ngay cả trong cùng một tôn giáo. Nhìn vào thảm cảnh ấy, ai cũng thắc mắc tự hỏi: Tôn giáo nào mà không dạy ăn ngay ở lành, tôn giáo nào mà không dạy sự khoan dung tha thứ, thế thì tại sao những người có tôn giáo lại nhân danh tôn giáo của mình để gây chiến với người khác hay với chính những người đồng đạo của mình?

Câu trả lời thật đơn giản: sở dĩ người có tôn giáo có thái độ quá khích và bất khoan nhượng, là vì họ chưa sống đúng cái cốt lõi của đạo. Xét cho cùng, cái cốt lõi của tôn giáo nào cũng là tình thương.

Chúa Giêsu cũng muốn chứng tỏ cho chúng ta thấy thế nào là sống đạo.

2. Giữ đạo ở cái vỏ

Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ ở Nhật, đó là “sư máy.” Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: Đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi giơ lên, một tay thì gõ mõ và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật. Sáng kiến này đưa ra nhằm đáp ứng cho ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật.

Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận: Những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương

3. Lời khuyên của mẹ.

Khi thấy con có nét mặt buồn sầu, một hôm mẹ bảo đứa nhỏ:

- Con hãy vào rừng khóc thảm thiết xem rừng bảo con sao.

Đứa bé vào rừng khóc hu hu, khóc lóc thảm thiết lắm. Vừa khóc, vừa nghe thì thấy cả khu rừng đều khóc lóc thảm thiết như đứa bé. Đứa bé đã về học với mẹ như vậy.

Hôm sau mẹ lại bảo nó:

- Con hãy vào rừng và cười thật lớn, xem khu rừng sẽ đối với con thế nào.

Đứa bé cũng làm như vậy và hôm nay thấy cả khu rừng cùng cười vang.

Do vậy, mẹ bảo nó:

- Vui buồn không phải do ngoại cảnh mà do lòng mình mà có.

4. Yêu trong thì hiện tại

Vào Tuần Thánh 1980, Đài phát thanh Vienne nước Áo truyền đi một bài phỏng vấn vô cùng cảm động. Người được phỏng vấn là một nữ sinh viên đang nằm chờ cái chết đến từng ngày tại một bệnh viện ở thủ đô Áo quốc. Cô phát biểu "Sau khi bác sĩ chẩn đoán và cho biết tôi mắc chứng sưng bạch huyết, tôi có cảm tưởng như trời sập xuống trên tôi. Tuy nhiên tôi cũng cảm thấy như Chúa muốn gởi đến cho tôi một cơ may mới. Từ hai ba năm nay tôi đã bắt đầu có một cái nhìn mới. Tôi nhận ra trong đau khổ của riêng tôi cũng như của những người chung quanh phản ảnh chính nỗi đau khổ của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên thập giá. Tôi đã tìm cách yêu thích nỗi đau khổ ấy.”

 Chính vì muốn chấp nhận đau khổ mà cô gái đã ghi danh vào trường Y khoa. Nằm trên giường bệnh, biết mình không còn sống bao lâu nữa, vậy mà cô vẫn cầm trên tay một cuốn sách và cây viết. Cô giải thích "Không ai có thể nói cho tôi biết chắc 100 phần trăm là tôi sẽ không học xong hoặc tôi sẽ không bao giờ trở thành bác sĩ. Tuy nhiên vẫn luôn luôn có những phép lạ. Và riêng tôi, tôi xác tín rằng tôi phải thực thi ý Chúa nếu tôi muốn tiến tới. Đó là cách thế tôi chuẩn bị đón nhận cái chết, chuẩn bị đi vào thiên đàng. Tôi để Chúa làm việc hầu cho tất cả mọi việc trở thành tình yêu. Tất cả mọi sự, từ việc học hành của tôi cho đến những việc nhỏ mọn tôi làm cho người khác. Bởi vì tôi không làm được những việc quan trọng nữa."

 Không khỏi ngạc nhiên trước những lời phát biểu trên đây, người phóng viên liền hỏi "Tôi đọc thấy trên gương mặt của cô niềm vui và hy vọng. Thế nhưng cô còn chờ đợi gì nơi cuộc sống này?"

 Cô gái mỉm cười nói "Tôi chờ đợi mọi sự từ cuộc sống. Nhưng trên hết mọi sự là tình yêu của Chúa. Chính Ngài đã cho tôi nếm thử thiên đàng. Chỉ có như thế tôi mới đương đầu được với những đau khổ đang đè nặng trên tôi.”

5. Tinh thần chay tịnh

Kinh sĩ Feuillet, nhà giảng thuyết thời vua Louis XIV nổi tiếng là người khá cộc cằn và không để ý lắm đến sự tế nhị.

Ngày kia, ngài nhìn hoàng thân, anh của vua ăn lót dạ. Vị hoàng thân này cảm thấy chột dạ, mới hỏi ngài:

- Thưa Cha, ăn một miếng bánh qui bơ (biscuit) có phá chay không?

 - Ngài cứ ăn hết một con bò, nếu ngài muốn, và hãy là một Kitô hữu tốt

Một hôm có 4 anh em đến thăm cha Pambô, họ khen nhau, ca tụng nhân đức của nhau:

- Thưa cha, anh này ăn chay dữ lắm, anh kia không dính bén của cải, người này có lòng bác ái, săn sóc giúp đỡ mọi người; còn người thứ 4 này trong 22 năm trời, lúc nào cũng sốt sắng vâng lời.

Cha Pambô bảo:

- Cha thực tình nói với các con: nhân đức của người thứ 4 trọn lành hơn, quí báu hơn, vì chúng con đều đã làm những việc đáng khen và nhân đức, nhưng vẫn còn đôi chút ý riêng trong đó; còn anh thứ tư đã hoàn toàn sống cho Chúa, không sống gì cho mình nữa, cũng vì thế mà sự nghịệp của anh lớn lao hơn.

Khi nằm trên giường chết, thánh Phanxicô nói câu này: sau khi người ta đã qua đời được 15 phút, tính theo ý riêng mới mất.

Ta nghiệm xét thì cũng thấy rằng: trong một gia đình, cũng như trong một xứ, địa phận, một nước; nếu có sự gì đáng tiếc xảy ra, phần nhiều là do thiếu vâng lời, tùng phục.

Đang hoạt động truyền giáo rất kết quả ở Á châu, từng tỉnh, từng nước trở lại và tương lai rất hứa hẹn; nhưng thánh Phanxicô đã nói câu này: nếu thánh Ignatiô, bề trên cha dạy phải bỏ tất cả để trở về Âu châu, thì cha sẽ xuống tàu về ngay.

6. Ăn chay dễ và ăn chay khó

Hai người biệt phái và thu thuế lên Đền thờ cầu nguyện. Người biệt phái ”khoe” với Chúa là ông ăn chay mỗi tuần tới hai lần. Còn người thu thuế chỉ cúi đầu xuống thành khẩn xin Chúa tha thứ. Chúa khen ai thì hẳn mỗi người chúng ta đều nhớ.

Như vậy, ăn chay đâu phải chỉ là mặc áo nhặm, đánh tội, đeo xiềng xích, ăn cơm với tro, nằm đất, nhịn ăn nhịn uống mà còn phải là biết dấn thân chia sẻ với người nghèo, biết sống tha thứ nhịn nhục, sống khoan dung với những người không làm vừa ý mình, sống can đảm, sống xứng đáng với ơn gọi của một người theo Chúa dù có phải trải qua những thử thách hay gian nan khốn khó.

Hơn nữa sống tha thứ, sống từ bỏ ý riêng, sống khoan dung, cách sống như trên nhiều khi còn khó hơn là nhịn ăn một vài bữa; thông cảm và chia sẻ với người nghèo, người yếu đuối nhiều khi còn khó hơn cả đánh tội. Chúa Giêsu cũng như Hội Thánh mời gọi chúng ta đi vào con đường ăn chay đó.

7. Niềm vui tìm và gặp

Ngày 17.2.2006, một trận lũ bùn kinh khủng đã chôn vùi cả ngôi làng Guinsaugon, tỉnh Leyte, Philippines, mà số người thiệt mạng được dự đoán lên đến con số 1800. Trong cả tuần, người ta tìm kiếm suốt ngày đêm chỉ mong cứu được hết những ai còn sống.

Việc tìm kiếm tập trung chủ yếu vào một ngôi trường có khoảng 250 học sinh đang học khi nửa ngọn núi ập xuống làng. Có một thông tin chưa được kiểm chứng cho biết một số học sinh gửi tin nhắn qua điện thoại di động làm cho các đội cứu hộ hăng hái hẳn lên.

Đêm Chúa nhật 19.2.2006, nghị sĩ Roger Mercado cho biết: “Họ đã chạm được tới đỉnh của ngôi trường. Họ sẽ tiếp tục đào và lắng nghe những âm thanh của sự sống ở bên dưới.” Đêm sau, máy cảm biến của đội cứu hộ Mỹ và Malaysia đã phát hiện ra những tiếng như sột soạt và gõ nhẹ, và họ đã nỗ lực tìm suốt đêm. Trước những dấu hiệu của sự sống, ông Rosette Lerias, tỉnh trưởng Leyte, cho biết: “Đối với tôi, điều đó quá đủ để vui mừng.”

Thật khó mà tưởng tượng được là có ai sống sót sau năm, sáu ngày bị chôn vùi dưới lòng đất ẩm ướt, nhưng người ta vẫn cứ tìm.

Còn hơn thế là cuộc tìm kiếm của tình yêu Thiên Chúa: bao nhiêu ơn lành Chúa ban cũng mau chóng bị tà thần phủ lấp đi: “Nó đâu biết rằng chính Ta đã ban cho nó lúa mì, rượu mới với dầu tươi, cũng chính Ta đã tặng cho nó bạc vàng nhiều vô kể, vậy mà chúng lại đem chế tạo đồ dâng kính Ba-an!”; dù vậy, tình yêu Chúa vẫn luôn tìm kiếm họ, và trong mầu nhiệm nhập thể, Chúa đã lập hôn ước với họ để chia sẻ những giới hạn và đau khổ của phận con người, sẵn lòng mang cả tội lỗi của họ, vì yêu: “Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương” (Hs 2,10.21).

8. Chàng rể còn ở với tôi không?

Nhưng không ai có thể đóng khung tình yêu trong một giới hạn quy định nào. Dù đánh phạt hay chữa lành, mọi việc Chúa làm đều bởi tình yêu. Thần Khí-Tình yêu là rượu mới mà Đức Kitô đem đến, không thể chứa được trong những bầu rượu cũ là lề luật cứ theo chữ viết trong văn bản: “Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao ước mới, không phải Giao ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới làm cho sống” (2Cr 3,6).

Trong cuốn “Chạy trốn”, sau khi kể một câu chuyện ngắn về một nhà ga xe lửa được xây dựng cách làng 3 km, cha Anthony de Mello đã viết: “Một nhà ga hiện đại cách xa đường sắt 3 km thì cũng vô lý không kém một đền thờ người ta hay lui tới nhưng lại cách xa cuộc sống của họ đến 3 cm!”

Tôi trách người khác vì sự lười biếng việc đạo của họ, lại an tâm về sự chuyên chăm giữ luật của mình, nhưng Chúa chỉ hỏi tôi: “Chàng Rể còn ở với tôi không?”

9. Ăn chay, tại sao có và không?

Một lý do tại sao người Do thái có thói quen ăn chay, đó là để chuẩn bị đón Đấng Mêsia và Nước Thiên Chúa đến. Điều này giải thích cho câu trả lời của Chúa Giêsu. Thật vậy, Ngài nói: Đấng Mêsia và Nước Thiên Chúa đã đến, vì thế phải thiết tiệc, chứ không phải ăn chay.” Câu trả lời của Chúa Giêsu nhắc nhớ chúng ta rằng những thực hành tôn giáo đôi khi chỉ còn là thói quen, đến độ chúng ta quên đi mình đang làm gì và tại sao lại làm như vậy.

Làm thế nào tôi có thể giữ được thói quen mà không phương hại đến việc thực hành tôn giáo?

Thói quen là một tên phù thủy. Nó hung bạo với sắc đẹp, nhưng tử tế với vẻ xấu xí. (Ouida)

10. Chỉ vì hai quả mận

Một cậu bé không thích ăn món mận hầm, nhưng đã cố gắng ăn tất cả chỉ chừa lại hai quả. Mẹ cậu nài ép ăn nốt phần còn lại, cậu từ chối. Mẹ cậu đưa cậu đi ngủ và nói: “Thiên Chúa không chịu được những đứa trẻ không biết vâng lời, Ngài rất tức giận với chúng” Tối hôm đó, một cơn bão khủng khiếp ập đến, sấm chớp nổ vang trời. Sợ rằng đứa con trai mình sợ đến chết được, bà đã đến phòng cậu bé để trấn an cậu. Bà thấy nó đứng ở cửa sổ, đăm đăm nhìn ra ngoài và nói: “Tất cả chỉ vì hai quả mận”

Đâu là động lực của tôi trong việc tuân giữ lề luật Chúa? Vì sợ hãi hay vì tình yêu? Động lực đó mạnh đến độ nào?

Lạy Chúa, con sẽ đi bất cứ nơi đâu Chúa muốn, dù núi non, đồng bằng hay biển cả. Con sẽ nói những gì Chúa muốn con nói và sẽ trở thành điều Chúa muốn con trở thành (Mary Brown).

11. Hãy trở nên trẻ thơ

Năm 1876, các nhân viên Liên hiệp Âu Châu chỉ xem điện thoại như một thứ trò chơi. Năm 1878, Quốc hội Anh chế diễu thí nghiệm của Edison về ánh sáng điện. Năm 1945, Đô đốc Leahy gọi bom nguyên tử là “điều ngu xuẩn” không bao giờ thành hiện thực. Những thí dụ trên đây cho thấy tại sao có nhiều người bác bỏ giáo huấn của Chúa Giêsu. Họ đã quá gắn bó với hiện trạng đến nỗi mù lòa trước những viễn tưởng hay những khả thể mới.

Những thí dụ trên mời gọi tôi nhớ lại đã lần nào trong đời tôi cứ khăng khăng không chịu thay đổi, để rồi sau đó nhận ra rằng thay đổi là điều tốt nhất có thể đến với tôi.

Người duy nhất sẵn sàng đón nhận sự thay đổi mà tôi có thể nghĩ đến, đó là một em bé ngây thơ.

12. Vương miện và Thánh Giá

“Không ai đội vương miện trên thiên đàng mà không là người phải ‘đội ngược’ nó dưới đất! Cũng không ai ôm chặt, yêu mến thánh giá dưới đất, nếu không biết mình sẽ được lại niềm vui trên thiên đàng, một ‘niềm vui không bao giờ mất!’” - Một nhà tu đức.

Để có được ‘niềm vui không bao giờ mất’, bạn và tôi phải đội ngược những chiếc vương miện gai góc. Đó là những gì Lời Chúa hôm nay soi rọi! Sở dĩ, các môn đệ của Chúa Giêsu không ăn chay, vì “Chàng Rể” đang ở với họ; nhưng họ sẽ ăn chay khi Thầy của họ và chính họ nếm trải những khổ đau do thập giá gây nên.

Trong cuốn “The Better Part”, “Phần Tốt Hơn”, cha John Bartunek, viết, “Dẫu thập giá không bao giờ vắng mặt trong đời sống một Kitô hữu, nhưng vị Thiên Chúa gặp gỡ mỗi người trên thập giá cũng là vị Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất, đại dương và núi non, tiếng cười và ánh mặt trời. Ngài cũng là Thiên Chúa của tất cả mọi niềm vui trên địa cầu!" Tự nhận là “Chàng Rể”, Chúa Giêsu mặc cho mình tước hiệu vốn chỉ dành cho Thiên Chúa. Cựu Ước mô tả mối quan hệ giữa Israel và Chúa Trời như một giao ước hôn nhân; Israel là nàng dâu, thường là bất trung, và Thiên Chúa là Chàng Rể. Vì yêu thương, Chúa Kitô đến, mang đến niềm vui, một niềm vui dù phải trải qua cái chết, nhưng nó là một niềm vui tiềm tàng sắc màu phục sinh, ‘một niềm vui không bao giờ mất!’.

THỨ BA - CỐT LÕI CỦA LỀ LUẬT

Lời Chúa: Mc 2, 23-28

Vào một ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: "Kìa Thầy xem. Tại sao ngày Sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?"

Người trả lời rằng: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ðavít đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?"

Và Người bảo họ rằng: "Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat."

TRUYỆN KỂ

1. Luật dễ giữ

Một cha xứ mới được bổ nhiệm đến một nhà thờ ở tiểu bang Kentucky, không mấy xa trường đua Churchill Downs nổi tiếng. Vào ngày Chúa nhật đầu tiên, cha xứ mới đã giảng về cái xấu của cờ bạc, đánh cá độ và những tai họa do cờ bạc gây nên cho một số gia đình. Sau thánh lễ, ông chủ tịch hội đồng Giáo xứ liền đến bên cha tân chánh xứ và bảo rằng, những người dâng cúng cho nhà thờ đa số là những người đua cá ngựa và cờ bạc…

Vào Chúa nhật thứ hai kế tiếp, cha xứ giảng về nạn hút thuốc và những tai họa do hút thuốc gây nên, như bị ung thư phổi và chết sớm... Cũng như lần trước, ông chủ tịch lại kéo cha xứ riêng ra và bảo rằng đa số những người dâng cúng rộng rãi cho nhà thờ là những người trồng cây thuốc lá và tiểu bang Kentucky là nổi tiếng nghề này.

Vào Chúa nhật thứ ba kế tiếp, cha xứ giảng về nạn uống rượu bia và tai họa do rượu bia gây nên cho các gia đình, như gây tai nạn xe cộ và đập phá nhà cửa. Cũng như lần trước, ông chủ tịch lại kéo cha xứ lại và bảo rằng, đa số những người dâng cúng rộng rãi cho nhà thờ là những nhà nấu rượu và tiểu bang Kentucky nổi tiếng về công việc này.

Cha xứ thất vọng mới hỏi lại ông chủ tịch rằng: “Vậy tôi có thể giảng về vấn đề gì?" Ông chủ tịch liền trả lời: “Hãy giảng chống lại các nhà chính trị lừa đảo, mà trong Giáo xứ chúng ta không có những hạng người này."

Giữ đạo hình thức, theo cách suy diễn của cá nhân bỏ lề luật Chúa để giữ những điều con người tự coi là đúng… Chúa Giêsu đã nói với những người biệt phái về cách sống đạo hình thức ấy như sau: “Các ông gạt bỏ giới răn của Thiên Chúa qua một bên, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7,8).

2. Mắt đền mắt, răng đền răng

Một người thợ xây đang ở trên giàn ráo cao thì bị xẩy chân rớt xuống, chẳng may trúng phải một người đang đi bộ ngang qua phía dưới. Điều oái oăm là anh thợ chỉ bị xây xát qua loa, còn người khách bộ hành thì bị chấn thương nặng, hôn mê rồi chết khi người ta đưa vào bệnh viện.

Chiếu theo luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” của miền này, gia đình nạn nhân đưa nội vụ ra tòa đòi anh thợ xây phải đền mạng. Vị quan tòa từ lâu đã thấy cái vô lý trong bộ luật địa phương, nhưng truyền thống và hủ tục xưa rất khó thay đổi. Cuối cùng, để cứu người thợ xây oan ức, ông tuyên bố:

- Việc gia đình nạn nhân đòi mạng người thợ xây theo truyền thống là chính đáng, nhưng tôi thấy phải nói rõ. Nếu anh ta đã giết người nhà của các ông bằng cách nào, thì các ông cũng phải giết anh ta bằng cách đó, nghĩa là một người trong gia đình các ông phải trèo lên giàn ráo, nhảy xuống đúng vào đầu anh thợ xây lúc anh đang đi ở phía dưới.

Nghe tòa phân xử, bên gia đình kiện cáo bèn vội vàng xin bãi nại. Anh thợ xây được tha bổng. Sau đó, nhận thức được sự tàn nhẫn phi lý và mù quáng của bộ luật địa phương mình, dân chúng trong vùng quyết định loại bỏ hẳn tính cách “mắt đền mắt, răng đền răng” trong quan hệ xử thế giữa con người với nhau.

3. Dấu hiệu của tình yêu

Trong thế chiến vừa qua, một sĩ quan Anh thấy một sĩ quan Đức bị trọng thương, đang quằn quại bên hàng rào kẽm gai. Bom đạn ầm ầm, khói lửa ngút trời, nên không thể đưa người thương binh vào chỗ an toàn.

Cuối cùng, người sĩ quan Anh tự nhủ: "Mình không đành lòng nhìn một người đau đớn khốn khổ như vậy! "Thế là anh phóng ra giữa lửa đạn, vác người thương binh trên vai và đưa sang phần đất mà quân Đức chiếm đóng.

Khi trận chiến tạm dừng, một sĩ quan Đức bước ra khỏi chiến hào, tháo chiếc thánh giá bạc đeo trước ngực và gắn cho người sĩ quan Anh.

4. Cả lớp đội mũ

Susan là một em bé gái rất đáng yêu. Nhưng thật không may, vừa mới tập tễnh bước chân vào cấp một thì bác sĩ đã phát hiện ra một khối u quái ác trong đầu của em. Em cần phải nhập viện để chữa trị bằng phương pháp xạ trị trong vòng ba tháng. Sau khi xuất viện, em bé vốn dĩ đã ốm yếu, bây giờ trông còn thảm hại hơn. Trước đây, em có một mái tóc vàng rất đẹp, giờ thì đã bị rụng sạch. Dầu vậy, với sự động viên của mọi người, em đã cố gắng vươn lên. Em đã trở lại trường để học phụ đạo, bù cho những bài đã mất. Mỗi ngày em đều đến trường với bộ não vừa bị phẫu thuật. Em phải đội một chiếc mũ để che cái đầu trọc của mình. Đối với một em bé sáu tuổi mà phải chịu như vậy thì thật tội nghiệp.

Cô giáo hiểu rất rõ nỗi đau của em. Trước khi Susan chính thức quay trở lại trường, cô giáo nhiệt tình và trịnh trọng tuyên bố với toàn thể các em học sinh của mình rằng: “Kể từ học kỳ sau, chúng ta sẽ học nhận biết về các loại mũ. Cho nên các em học sinh đều phải đội chiếc mũ yêu thích của mình đến trường, càng mới lạ càng tốt."

Sau ba tháng vắng mặt, đây là lần đầu tiên Susan quay trở lại nơi quen thuộc này. Em đứng trước cửa lớp, từ từ đi vào, trong lòng đầy lo lắng, lưỡng lự vì chiếc mũ mình đang đội.

Thế nhưng, điều khiến em không thể ngờ được là trong lớp tất cả các bạn đều đội mũ, đủ kiểu đủ loại, đầy màu sắc. Susan cảm thấy mình và các bạn khác đều như nhau. Lòng em thấy nhẹ nhõm. Một nụ cười rất xinh đẹp đã nở trên môi em.

7. Luật trọng nhất là luật yêu thương

Một linh mục dòng Tiểu đệ Chúa Giêsu, trong tác phẩm “Đấng đang đến”, đã thuật lại câu chuyện của ngài như sau:

Tại Benie Alpes, trong mùa lạnh, thỉnh thoảng có dân du mục đến dựng lều sinh sống, họ toàn là những người nghèo. Một phụ nữ Pháp đến đó tĩnh tâm, thấy một cô gái người Taures đang run lên vì lạnh, chị hỏi: “Sao chị không mặc áo ấm cho đỡ lạnh?”

“Em không có áo ấm”, cô gái Taures trả lời.

Nói chuyện rồi, chị đi ngay đến tịnh xá của cha Charles de Foucauld kẻo trễ giờ cầu nguyện. Trong lúc quỳ chờ cầu nguyện, chị tâm sự với tôi: “Cha ơi, con không sao cầu nguyện được. Con đành phải bỏ giờ cầu nguyện này, trở lại căn lều của cô gái, tặng cho cô chiếc áo ấm của con. Rồi con sẽ trở lại cầu nguyện."

Một việc làm bởi tình yêu là tất cả những gì Chúa muốn. ĐGH Grêgôriô giải thích: “chúng ta phải hiểu luật Chúa là gì, nếu không phải là đức ái, vì nhờ đức ái, tâm trí chúng ta luôn nhớ đến những điều răn phải đem ra thực hành?” (về những vấn đề luân lý trong sách Gióp).

THỨ TƯ - CẦN LÀM VIỆC LÀNH

Lời Chúa: Mc 3, 1-6

Khi ấy, Chúa Giêsu lại vào hội đường và ở đó có một người khô bại một tay. Người ta để ý quan sát xem Chúa có chữa bệnh trong ngày Sabbat không, để tố cáo Người. Chúa bảo người có tay khô bại rằng: "Ngươi hãy đứng ra giữa đây." Rồi Người bảo họ: "Trong ngày Sabbat được làm sự lành hay sự dữ? Ðược cứu sống hay là giết chết?" Nhưng họ thinh lặng.

Bấy giờ Người thịnh nộ đưa mắt nhìn họ và buồn phiền vì lòng họ chai đá, Người bảo bệnh nhân rằng: "Hãy giơ tay ra." Người đó giơ tay ra và tay anh ta được lành. Lập tức, những người biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Người và tìm cách hại Người.

TRUYỆN KỂ

1. Chữ tâm và chữ tài

Văn hào Nga Léon Tolstoi có kể câu chuyện ngụ ngôn: Một ông chủ nọ cho các gia nhân một công việc và bảo họ chỉ chu toàn công việc ấy mà thôi. Ông hứa sẽ thưởng công cho họ, nếu họ làm tốt công việc. Lúc mới bắt tay vào việc, ai cũng muốn làm vừa lòng ông chủ, cho nên để hết tâm trí vào công việc được giao, mà cũng chẳng màng tới phần thưởng ông chủ đã hứa. Cuối cùng, tưởng mình đã có thể tự túc với công việc của mình, họ cũng gạt luôn ông chủ ra khỏi cuộc sống của họ.

Léon Tolstoi đưa ra kết luận: Người ta thường thấy một thái độ như thế nơi các Kitô hữu; họ thay thế đạo của tình thương bằng vô số những nghi lễ trống rỗng vô hồn.

Chúa Giêsu đã từng khẳng định, Ngài không đến để phá bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn (x. Mt 5,17-18), làm cho Luật được trọn nghĩa, là đem cho Lề Luật một ý nghĩa tích cực, một nội dung tình yêu. Chúa không chấp nhận giữ Luật theo nghĩa đen và câu nệ vào hình thức hơn nội dung. Nhất là giữ luật mình hơn Luật của Thiên Chúa để rồi lỗi giới luật căn bản là công bình, yêu thương và lòng tin.

Qua hành động chữa lành người bị bại tay cả trong ngày Sabát, Chúa Giêsu biểu lộ tâm hồn tràn đầy yêu thương đối với con người, đặc biệt người khốn khổ. Qua đó, Ngài thổi tình yêu vào Lề Luật: Ngày Sabát được làm việc lành để thể hiện tình thương. Xin Chúa giúp chúng con ý thức được ý nghĩa của Luật Chúa và giữ Luật vì yêu mến.

Ý lực sống: “Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du)

2. Tòa lâu đài màu nhiệm

Có một chàng thanh niên kia lên đường đi tìm kho tàng quý được cất giấu trong một lâu đài.

Sau những ngày đi đường xa mệt mỏi, anh nhận thấy mình như lạc lối và đang đứng trước một đoạn dốc gồ ghề, bên cạnh những hố sâu thăm thẳm như muốn nuốt chửng thân xác đã hao mòn sinh lực của anh. Trong lúc chiến đấu để lấy lại sự bình tĩnh của tâm hồn, ngước mắt lên, anh thấy một lâu đài tráng lệ hiện ra trước mắt. Trước cổng toà lâu đài tráng lệ có hàng chữ lớn: “Xin mời vào."

Biết mình bị lạc đường nhưng lại gặp may, anh sung sướng tiến lại gần cổng lâu đài. Đứng trước cổng lâu đài anh ngạc nhiên khi thấy có những người lữ hành tuy đã hết sức mỏi mệt nhưng vẫn cứ tiếp tục lê bước đi ngang qua tòa lâu đài mà không chịu dừng lại. Hình như họ không thấy có lâu đài ở trước mắt họ. Thấy vậy, người lữ hành bèn tiến lại gần người gác cổng lâu đài và hỏi: 

- Tại sao những người lữ hành kia không dừng lại để bước vào lâu đài mà cứ tiếp tục đi qua như vậy?

Người gác cổng trả lời:

- Đây là một toà lâu đài màu nhiệm, chỉ có những ai nhận biết mình đã lạc đường mới có thể trông thấy nó. Trái lại, những người tưởng mình biết đường và chỉ cắm đầu chạy theo con đường riêng của họ, thì họ sẽ bị mờ mắt và sẽ không bao giờ nhận thấy lâu đài. Ông quả là người ngay thẳng, nhiệt thành tìm kiếm chân lý, yêu chuộng sự thật. Chính sự khiêm tốn ngay thật đã mở mắt tâm trí ông và dẫn đưa ông tới đây. Xin mời ông bước vào, giờ đây tất cả kho tàng quý giá trong lâu đài này sẽ thuộc về ông.

3. Thấy lòng nhiệt thành

Hôm đó là một buổi tối lạnh lẽo, rét buốt ở miền bắc Virginia cách đây đã nhiều năm. Bộ râu của ông lão cứng ngắc trong cái lạnh của mùa đông khi ông đợi có ai đó giúp ông sang sông. Sự chờ đợi dường như vô tận. Ông có cảm giác tê cóng và cứng đờ cả người ra vì những cơn gió bấc lạnh giá.

Bỗng ông nghe thấy tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang đến gần. Ông chăm chú nhìn những chàng trai phi ngựa rẽ qua khúc quanh. Người đầu tiên chạy qua mà ông đã chẳng hề gọi. Sau đó, một người khác đi qua, rồi một người nữa. Lúc này, tuyết đã rơi, trông ông lão giống như một bức tượng bằng tuyết. Sau đó là người kỵ sĩ cuối cùng. Khi người này đến gần, ông già ra dấu xin người này dừng lại rồi nhẹ nhàng nói:

- Chào cậu, phiền cậu đưa lão già này sang bên kia sông được không? Chẳng có lối nào để đi bộ được cả.

Người kỵ sĩ ngồi trên ngựa đáp: - Được chứ, thưa bác. Bác nhảy lên đây nào.

Thấy ông lão không thể nhấc nổi cơ thể đã gần như đông cứng khỏi mặt đất, chàng trai nhảy xuống và giúp ông leo lên lưng ngựa. Chàng kỵ sĩ không chỉ đưa ông già qua sông mà còn mang ông đến nơi ông định đến cách đó vài dặm nữa.

Khi đến gần một mái nhà tranh nhỏ xíu ấm cúng, chàng kỵ sĩ tò mò hỏi:

- Thưa bác, cháu thấy bác đã để nhiều người cưỡi ngựa khác chạy qua mà không nhờ một ai để giúp bác qua sông. Vậy mà khi cháu đến thì bác lại nhờ cháu ngay lập tức. Cháu thắc mắc không hiểu tại sao, vào một buổi tối mùa đông lạnh giá như thế này, bác lại đợi và nhờ người cuối cùng. Nếu cháu từ chối không giúp bác thì sao?

Ông lão từ từ leo xuống ngựa, nhìn thẳng vào mắt chàng trai, đáp:

- Bác đã ngồi đấy một lúc rồi. Bác nghĩ bác biết cách nhìn người, ông tiếp tục. Bác nhìn vào mắt những chàng trai kia và ngay lập tức bác thấy họ chẳng quan tâm gì đến tình cảnh của bác cả. Nhờ họ giúp cũng chẳng ích gì. Nhưng khi nhìn vào mắt cháu, lòng tốt và sự thương người hiện lên rất rõ. Bác biết rằng, thái độ dịu dàng của cháu sẽ mở ra cho bác cơ hội được giúp đỡ lúc bác cần.

Những lời ấm lòng đó của ông lão làm người kỵ sĩ hết sức cảm động.

- Cháu hết sức cám ơn những gì bác vừa nói - anh nói với ông lão - Có lẽ sẽ chẳng bao giờ cháu quá bận rộn với chuyện riêng của mình mà không đáp lại những gì người khác cần bằng lòng nhiệt thành cả.

4. Có gieo có gặt

Đức cha Harry Flynna ở Lafayette, địa phận Louisiana, thăm viếng một trại tù. Khì ngài sắp từ biệt ra về, một tù nhân hỏi xin ngài một cỗ tràng hạt. Trong túi Đức cha có một cỗ tràng hạt bằng cẩm thạch của xứ Ireland. Dù không muốn bỏ mất nó, nhưng ngài đã cho anh ta. Khi trở về nhà, có người đang chờ ngài với một món quà tặng. Nhìn thấy món quà, Đức cha Flynna như không thể tin vào mắt mình nữa. Đó là cỗ tràng hạt giống hệt cỗ tràng hạt đã cho tù nhân kia.

Lần cuối cùng tôi đặc biệt cho đi thời giờ, tiền bạc, và những vật sở hữu của tôi là lúc nào?

Hãy cho đi những gì tốt nhất, rồi những gì tốt nhất sẽ lại đến với bạn.

5. Việc đạo đức vô hồn

Một người già ở một thị trấn bên Âu Châu thường làm dấu Thánh Giá khi đi ngang qua một bức tường. Người ấy không thể lý giải tại sao mình làm như thế, ngay cả những người già khác cũng làm như vậy. Ngày nọ, các công nhân lau rửa bức tường, trong lúc cạo những chỗ dơ họ thấy trên tường có bức họa Mẹ Maria và Hài nhi Giêsu.

Thật ra, trước kia người ta làm dấu là có lý do. Còn bây giờ, người ta làm một cách mù quáng, chỉ đơn giản như một nghi thức thôi. Một số người Do Thái xưa kia cũng thế. Tôn giáo của họ bị hóa thành nghi thức cứng nhắc. Chúa Giêsu phản đối thứ tôn giáo ấy.

Tôi phải cố gắng thế nào đây để giữ tôn giáo của tôi khỏi trở thành một nghi thức, nhưng là một cử chỉ của yêu thương?

Khi cầu nguyện, thà có trái tim rung cảm hơn là chỉ có những lời nói suông (John Bunyan).

6. Cần làm việc lành

Có câu chuyện kể rằng: hôm ấy một rabbi Do thái cưỡi ngựa đi từ Giêricô về Giêrusalem vừa đi vừa hát thánh ca, trên đường đi, chẳng may con ngựa trượt chân ngã xuống vực, nhanh tay vớ được cành cây nên rabbi không rơi xuống vực. Ông thấy con ngựa rơi xuống nước nên không hề hấn gì, nhưng bờ cao không lên được, ông định chặt nhành cây lấp đất cho con ngựa lên, nhưng sực nhớ hôm đó là ngày sabat không được làm việc tay chân nên thôi, ông liền phục trong bụi cây rình thấy một người hành hương cưỡi ngựa đi qua, ông rút súng bắn người ấy rơi xuống vực, cướp ngựa phóng đi và tiếp tục hát thánh ca...

Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy việc Chúa Giêsu vạch trần sự giả hình của họ, ngày sabat mọi người đến nghe Lời Chúa, còn họ thì đến với ý đồ xấu nhằm để hại người. Giống như câu truyện trên, rabbi kia không dám cứu con ngựa của mình lên vì sợ phạm luật nhưng lại dễ dàng giết người cướp ngựa... Chúa Giêsu biết họ đang rình mò tìm kế hại Ngài, nhưng Ngài vẫn không ngần ngại chữa lành cho anh bị bại tay và qua đó Ngài đặt cho họ một câu hỏi để họ suy nghĩ: ”Ngày sabbat nên làm điều lành hay làm điều dữ”?

Chúa Giêsu thấu rõ ác tâm của nhóm biệt phái, nhưng Ngài không chống đối bằng lời nói mà lấy việc làm, lấy việc cứu giúp người bệnh để sửa dạy họ. Ngài nêu gương cho chúng ta, thay vì ra mặt công khai chống đối kẻ làm hại mình hay người tội lỗi, chúng ta lấy việc lành, lời cầu nguyện, sự hy sinh của chúng ta để dẫn đưa họ về nẻo chính đường ngay.

7. Luật là luật

Chúng ta đã biết những người biệt phái luôn có cái nhìn cứng nhắc về lề luật. Họ chủ trương “luật là luật” và đã là luật thì phải giữ. Có thế thôi. Đối với những người như thế, chúng ta nên đọc và suy nghĩ về câu truyện này:

Một người Do thái qua đời, sau khi đã khám nghiệm các bác sĩ xác nhận người đó đã thực sự chết theo đúng ý nghĩa của y học và đã cấp giấy chứng thực để chôn cất.

Giữa lúc đang chuẩn bị hạ huyệt người ta bỗng nghe có tiếng kêu trong quan tài. Mở nắp quan tài ra, mọi người rất đỗi ngạc nhiên vì thấy kẻ chết đã sống lại.

Thế nhưng vị giáo trưởng chủ trì tang lễ ra hiệu cho mọi người thinh lặng rồi nói với kẻ chết như sau:

- Chúng tôi không biết rõ ông đang sống hay chết. Nhưng căn cứ theo giấy chứng thực của các bác sĩ, ông quả thực đã là người chết. Vậy chúng tôi cứ thi hành theo đúng nhận định của bác sĩ.

Nói xong, ông truyền cho tang lễ đóng nắp quan tài lại và tiếp tục nghi thức an táng.

8. Kẻ lành nhu nhược

"Ra khỏi đó, nhóm Pharisiêu lập tức bàn tình với phe Hêrôđê để tìm cách giết Chúa Giêsu"(Mc 3,6)

Trong ký túc xá Nguyễn Huệ, Hương là một cô gái hiền lành và đoan trang. Hương luôn tìm cách giúp đỡ những người bạn gặp khó khăn vì hoàn cảnh xa gia đình cũng như an ủi những bạn gặp thất bại trong học tập. Từ những việc tốt đó, Hương bị một số bạn bè xấu ghen tương và đố kỵ, tọa rập với nhau để hãm hại. Hương vẫn vô tư không biết chuyện dữ sắp xảy đến với mình. Một ngày kia, cả phòng xôn xao vì một người trong phòng bị mất đồ. Bảo vệ lên làm việc và không thể tin được: "Thủ phạm" lại chính là Hương. Mọi người đều biết rằng Hương không bao giờ làm chuyện đó.

Những kẻ xấu thường không ưa nhau. Nhưng chỉ vì muốn hạ đối thủ chung nên sẵn sàng liên kết với nhau. Tôi là người biết rõ từ A đến Z. Nếu tôi không đủ can đảm đứng ra đương đầu với các bạn kia, sao tôi không biết liên kết với những bạn còn lại trong phòng để bênh vực cho Hương?

9. Jesus only.

Câu chuyện sau đây do mục sư H.A. Ironside kể trong một buổi thuyết trình về Thánh Kinh: Một nhóm Kitô hữu đang họp trong một ngôi nhà. Trước mặt tiền nhà, họ treo một biểu ngữ với hàng chữ ”Jesus only” (chỉ vì Chúa Giêsu mà thôi). Một cơn gió mạnh thổi qua làm mất 3 mẫu tự đầu. Hàng chữ trở thành “Us only” (chỉ vì chúng ta mà thôi).

Mục sư kết luận: đối với một số Kitô hữu, họ tưởng hàng chữ đầu diễn tả đúng ý hưởng của họ, nhưng thực ra ý hướng của họ là hàng chữ thứ hai (Sunday School Times).

THỨ NĂM - CHÚA GIÊSU LÀ AI?

Lời Chúa: Mc 3, 7-12

Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm.

Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người.

Và những thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa", nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người.

TRUYỆN KỂ

1. Biết thì sống

Một hôm, Trang Tử cùng đệ tử đi chơi núi, một người thợ rừng hỏi: "Tại sao cây này không dùng được?", Trang tử liền nói: "Cây này vì bất tài mà được sống lâu."

Về đến nhà, nguời thợ bắt con chim không biết gáy để làm tiệc đãi khách. Hôm sau đệ tử hỏi Trang Tử: - Hôm qua, cái cây trên núi vì bất tài mà sống, con chim hồng vì bất tài mà chết; theo Thầy, Thầy xử trí thế nào?

Trang Tử cười và nói:

- Tài và bất tài đều là quấy cả. Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống.

Ðông Phương đề cao sự khôn ngoan ở đời; Tây Phương chịu ảnh hưởng Hy Lạp cũng dạy: con người lý tưởng là con người biết nhiều. Nhưng biết không chỉ là biết sự vật, mà là biết con người, và biết con người không chỉ là một nhận thức suông, mà thiết yếu là đi vào tri giao mật thiết.

2. Con người chết để con Chúa sống

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi. Hắn ta tàn nhẫn hạ sát đàn ông, phụ nữ kể cả trẻ em. Với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn cũng bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ làm công tác tông đồ thử khuyên nhủ hắn, nhưng tất cả những câu hỏi han, trò chuyện của họ cũng không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với một cặp mắt dữ tợn như một hung thú.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn quyển Tân ước, với một hy vọng mỏng manh là hắn ta sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động khi tiếng nói con người trở nên hoàn toàn bất lực. Niềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishi-I đã đọc và những câu chuyện trong Tân ước hình như có một sự thu hút mãnh liệt khiến hắn cứ tiếp tục đọc, đọc mãi và cuối cùng hắn đọc đến câu chuyện diễn tả cuộc tử nạn của CHÚA GIÊSU. Câu CHÚA GIÊSU cầu nguyện với Chúa Cha trên thập giá: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”, đã thắng sự chống trả cuối cùng trong tâm hồn của hắn.

Sau đó Ishi-I thuật lại: “Ðọc đến câu này tôi mới dừng lại. Con tim tôi hình như bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu hay tôi phải gọi đó là lòng thương xót của Ngài? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin."

Những nhân viên nhà giam có phận sự đến dẫn độ Ishi-I đi hành quyết ngạc nhiên tột độ. Họ đã không gặp được tên sát nhân hung bạo như họ chờ đợi, nhưng là một con người hòa nhã, lễ độ. Ishi-I, tên sát nhân đã được Lời Chúa tái sinh

3. Bệ hạ là tất cả của thần.

Ferdowsi (925-1020) thi sĩ người Ba tư, kể câu chuyện: Một quốc vương nọ phải đi qua sa mạc để đến một ốc đảo. Cùng đi với ông là cả triều đình. Họ mang theo vô số vàng bạc của cải. Dọc đường, một con lạc đà bỗng ngã quị. Từ trên lưng nó, một dòng thác vàng bạc châu báu chảy xuống cát. Người ta thấy được tức khắc sự tham muốn bừng lên trong mắt những người theo hộ giá nhà vua. Bằng một cử chỉ vương giả, quốc vương nói với những người tùy tùng:

- Các khanh hãy tự do nhặt lấy những thứ đó. Trẫm tặng cho các khanh tất cả. Các khanh cũng được tự do đi tiếp với trẫm hoặc lựa chọn con đường khác quay về.

Nói xong, ông tiếp tục lên đường không một chút do dự. Ông nghĩ, tất cả sẽ dừng lại để nhặt cho đến viên kim cương cuối cùng.

Đang đi ông bỗng nghe thấy có tiếng chân theo sau mình. Ông quay lại và nhận ra đó là người hầu cận được tiếng là trung thành nhất của ông. Ông âu yếm nhìn anh và nói:

- Sao nhà ngươi không ở lại nhặt vàng bạc trẫm đã ban tặng? Ngươi không biết rằng, với số vàng bạc ấy ngươi sẽ trở nên giầu sang không?

Người hầu cận trung thành trả lời:

- Tâu bệ hạ, ngài là vua. Đối với hạ thần, bệ hạ là kho tàng quí giá nhất. Bệ hạ là tất cả của thần.

Vâng, Giêsu cũng là Đấng quí giá nhất cho mỗi người chúng ta. Chúa phải là tất cả cho mỗi người chúng ta.

4. Chúa sẵn lòng với ta

 Trong suốt thế chiến thứ hai, có một dạo phi cơ của Đức đã ném bom thủ đô Luân Đôn từng đêm. Người ta không những mất nhà cửa, công ăn việc làm, mà còn phải chịu những thương tích thể xác vô số kể. Nhiều bác sĩ đã rất bận rộn để chữa trị. Có một phụ nữ lớn tuổi, tên là Berwick, mua một bộ quân dụng tự cấp cứu, rồi bà ghi dấu và treo trước cửa nhà với những lời lẽ như sau: “Nếu bạn cần giúp đỡ, hãy gõ cửa” William Barclay đã dùng câu chuyện cảm động nàyđể chứng minh rằng Chúa Giêsu cũng luôn sẵn sàng giúp đỡ ta. Điều ta phải làm là “gõ cửa”

Tôi có thể làm gì để thêm xác tín hơn mãi rằng Chúa sẵn sàng giúp đỡ tôi?

Ai gõ thì sẽ mở cho (Lc 11,10).

5. Ghen thì ghét

Gang Lu và Linhua Shan từ Trung Quốc đến Mỹ. Cả hai là bạn của nhau và cùng ghi danh vào chương trình vật lý không gian của đại học Iowa. Khi Shan được đề cử nhận giải thưởng đặc biệt của trường. Lu bắt đầu ghen tị. Một ngày thuộc tháng 11/1991 sự ghen tị của anh ta bùng nổ. Anh ta đã giết chết năm người bạn của anh và bốn người khác liên quan đến việc đề cử Shan nhận giải thưởng.

Tôi có thể nhớ lại những lần nào tôi cảm thấy coi thường ai hoặc đánh mất thiện cảm với người nào chăng? Cái gì đã giúp tôi xử lý một tình huống như thế?

Khi nỗi đau của lòng ghen tị tàn phá con tim say men chiến thắng, thì chính vẻ bên ngoài cho thấy bản năng điên loạn đã có một áp lực trên ý thức lớn lao như thế nào (Saint Greogory).

6. Mầu nhiệm lớn lao

Người Ai Cập gọi vua là “con Trời”, người Rôma gọi hoàng đế là “thiên tử” Người Do thái gọi những người tốt lành là “con của Chúa” Vậy tại sao Chúa Giêsu lại cấm các thần ô uế gọi Ngài là “Con Thiên Chúa”? Đó chính là vì các thần ô uế sử dụng tước hiệu này theo nghĩa đen, chứ không phải theo nghĩa bóng. Vì thế, Chúa Giêsu bắt chúng phải im lặng, vì Ngài biết rằng dân chúng chưa sẵn sàng trước mạc khải khó tin này. Họ phải được huấn luyện từ từ mới hiểu nổi.

Nếu Chúa Giêsu hiện ra với tôi và sẵn sàng trả lời bất cứ điều gì, thì tôi sẽ hỏi Ngài điều gì?

Tôi có hàng ngàn câu để hỏi Chúa, nhưng khi gặp Ngài, tất cả đều biến mất, chúng chẳng thành vấn đề gì nữa (Christopher Morley).

7. Một Ai đó ở cùng

Lincoln, một tổng thống bị nhiều chỉ trích. Dù biết mình có những sai lầm, nhưng ông không bao giờ làm tổn hại đến tính chính trực. Ông thật mạnh mẽ, “Tôi ước được hoàn thành kế hoạch của chính quyền này, dẫu cuối cùng, khi rời chức vụ, tôi đánh mất mọi bạn bè. Nhưng lúc đó, ít nhất còn lại một người và người ấy sẽ ở bên tôi, trong tôi; ‘một Ai đó ở cùng’ tôi!"

 ‘Một Ai đó ở cùng’ Abraham Lincoln cũng là ‘một Ai đó ở cùng’ Đavít và Giêsu, ‘hậu duệ của Đavít!’. Thật thú vị, Lời Chúa hôm nay cho thấy cả Đavít và ‘hậu duệ của ông’ xem ra không chút sợ hãi trước cái chết đang rình rập mình.

8. Thầy thuốc Giêsu

Trang web Wikipedia liệt kê các danh y trong lịch sử, gồm gần 100 danh y bên Tây và 24 danh y bên Đông, nhưng không thấy có tên “Giêsu.” Có lẽ vì người thống kê quên sót, hoặc vì coi Chúa Giêsu là gì đó còn hơn một danh y nữa. Dù sao, phải nhận rằng ngòi bút của các tác giả Sách Tin Mừng, cách riêng của Mác-cô, khắc hoạ Chúa Giêsu là một nhà chữa bệnh tuyệt vời: người ta từ khắp các nơi lũ lượt đến với Người; Người chữa lành nhiều bệnh nhân khiến ai ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người. Đức Phật thấy cuộc đời là sinh, lão, bệnh, tử; nhưng trong thực tế ốm đau bệnh tật không phải chỉ chiếm có một phần tư biển khổ của nhân loại, mà hẳn gấp nhiều lần hơn thế. Lại nữa, phần lớn nỗi khổ do ốm đau bệnh tật rơi vào đại đa số người nghèo. Vì thế, là hiện thân của Thiên Chúa giàu lòng trắc ẩn, Chúa Giêsu không thể không là một nhà chữa trị.

Hãy nhìn kỹ Chúa Giêsu trong cả cuộc đời và sứ vụ của Người, cho tới biến cố thập giá, để thấy Người là một nhà chữa trị độc đáo, chứ không chỉ là một danh y. Có danh y nào chữa trị bằng cách mang lấy những bệnh tật và gánh lấy những đau khổ của người ta như Chúa Giêsu, người Tôi Trung của Giavê?

9. Hãy gõ cửa

Trong suốt thế chiến thứ hai, có một dạo phi cơ của Đức đã ném bom thủ đô Luân Đôn từng đêm. Người ta không những mất nhà cửa, công ăn việc làm, mà còn phải chịu những thương tích thể xác vô số kể. Nhiều bác sĩ đã rất bận rộn để chữa trị. Có một phụ nữ lớn tuổi, tên là Berwick, mua một bộ quân dụng tự cấp cứu, rồi bà ghi dấu và treo trước cửa nhà với những lời lẽ như sau: “Nếu bạn cần giúp đỡ, hãy gõ cửa” William Barclay đã dùng câu chuyện cảm động nàyđể chứng minh rằng Chúa Giêsu cũng luôn sẵn sàng giúp đỡ ta. Điều ta phải làm là “gõ cửa”

Tôi có thể làm gì để thêm xác tín hơn mãi rằng Chúa sẵn sàng giúp đỡ tôi?

Ai gõ thì sẽ mở cho (Lc 11,10).

10. Chúa Giêsu là ai?

Người Ai Cập gọi vua là “con Trời”, người Rôma gọi hoàng đế là “thiên tử” Người Do thái gọi những người tốt lành là “con của Chúa” Vậy tại sao Chúa Giêsu lại cấm các thần ô uế gọi Ngài là “Con Thiên Chúa”? Đó chính là vì các thần ô uế sử dụng tước hiệu này theo nghĩa đen, chứ không phải theo nghĩa bóng. Vì thế, Chúa Giêsu bắt chúng phải im lặng, vì Ngài biết rằng dân chúng chưa sẵn sàng trước mạc khải khó tin này. Họ phải được huấn luyện từ từ mới hiểu nổi.

Nếu Chúa Giêsu hiện ra với tôi và sẵn sàng trả lời bất cứ điều gì, thì tôi sẽ hỏi Ngài điều gì?

Tôi có hàng ngàn câu để hỏi Chúa, nhưng khi gặp Ngài, tất cả đều biến mất, chúng chẳng thành vấn đề gì nữa (Christopher Morley).

11. Tại sao đổ xô tìm gặp Chúa

Năm vừa qua giá vàng lắm lúc biến động dữ dội: có ngày lên cao ngất ngưởng, có hôm lại trượt dốc thả dài. Người có chút tiền của đã đổ xô mua vàng, bán vàng, để mong thu lợi từ chênh lệch giá mua, giá bán. Tin Mừng hôm nay kể lại sự kiện người bệnh đổ xô đến với Đức Giêsu để được sờ vào Ngài cho khỏi bệnh. Họ chạy đến với Ngài khi sức khỏe bị giảm sút, mạng sống bị đe dọa. Con người chỉ chạy đôn chạy đáo đến với ai hay với cái gì vì nhắm đến lợi lộc.

Với người tín hữu, Đức Giêsu phải là Đấng ta tìm gặp trước tiên và trên hết trong cuộc đời. Ta đến gặp Chúa chủ yếu không phải để xin ơn hay cầu cạnh, nhưng để được tiếp xúc, gần gũi với Đấng đã yêu thương và hiến mạng sống vì ta.

Mặc dù bạn đến với Đức Giêsu cách vô cầu, nhưng Ngài không thể nào để người môn đệ tin tưởng nơi Ngài phải thất vọng. Có thể bạn đang chịu đựng căn bệnh ngặt nghèo về thể lý, hay đau khổ dằn vặt trong tâm hồn? Mời bạn đến gặp Đức Giêsu, “sờ” vào Ngài, thổ lộ với Ngài và tin tưởng Ngài sẽ có phương cách nâng đỡ bạn.

Thế giới hôm nay còn cảnh người ta đổ xô đi tìm gặp Chúa Giêsu nữa hay không? Nếu không thì tại sao?

THỨ SÁU - CHÚA GỌI NHÓM MƯỜI HAI

Lời Chúa: Mc 3, 13-19

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn gọi, và họ đến cùng Người. Người chọn mười hai vị để theo Người, và sai các ông đi giảng và ban cho các ông quyền trừ quỷ.

Mười hai vị ấy là: Simon mà Người đặt tên là Phêrô, Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan là em Giacôbê, (cả hai được Người đặt tên là Boanerges, nghĩa là con của sấm sét), rồi đến Anrê, Philipphê, Bartôlômêô, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông Alphê, Tađêô, Simon nhiệt tâm, và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người.

TRUYỆN KỂ

1. Chúa tuyển chọn 12 Tông đồ.

Một tác giả tưởng tượng việc Chúa Giêsu chọn các Tông đồ như sau: Sau những đêm dài cầu nguyện, Ngài rảo bước khắp nơi nhưng không chọn được người nào, Ngài đành đăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện Ngài, Ngài cũng không chọn được ai.

Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu nguyện: nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa không chọn được ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết, cũng chẳng được ai.

Chán nản vì mất thì giờ vô ích, Chúa Giêsu rời vận động trường để ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy đám dân chài. Ngài đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm hồn vào công việc. Ngài nghĩ thầm họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm Tông đồ của Ngài.

2. Chúa cần đôi tay của tôi

Thế chiến thứ II kết thúc, một binh sĩ Hoa kỳ vẫn ở lại một số miền được giải phóng ở Đức. Họ giúp dân chúng thu dọn và sửa chữa những ngôi nhà đổ nát. Công tác quan trọng là xây dựng lại những nhà thờ bị hư hại vì bom đạn...

Sau khi thu dọn, sửa chữa, sắp đặt, các binh sĩ khựng lại trước một bức tượng của Chúa Giêsu bị đổ nát trên bàn thờ. Bức tượng này xem ra đã được tân trang chỉ trừ đôi tay là biến mất và cho dù cố gắng đến mấy cũng không thể nhặt được những mảnh vụn của đôi tay. Bất lực đứng nhìn bức tượng không tay của Chúa Giêsu các binh sĩ Hoa Kỳ đành phải lấy sơn viết vào tấm bảng và đặt dưới chân Ngài với hàng chữ "Ta không có đôi tay nào khác hơn là đôi tay của các bạn"

3. Chỉ cần ở với Chúa

Chúa Giêsu chọn nhóm 12 người:

Gioan và Giacôbê, những người trẻ nóng tính

Matthêu một người thu thuế cho đế quốc

Simon, một thành viên của nhóm cuồng tín

Phêrô, anh dân chài thất học...

Những con người quá đỗi bình thường ấy có thể làm được gì lớn lao cho Chúa và cho đời?

Chúa Giêsu chọn họ để họ ở với Người và Người ở với họ, để từ một nhóm nhỏ bé đó, tình yêu của Thiên Chúa được rao giảng, con người tìm được hạnh phúc thật.

Thánh Irênê thành Lyon, một vị giám mục sống vào thế kỷ thứ hai, đã đưa ra những lời khuyên sau đây về mối quan hệ của chúng ta với Đấng tạo thành.

Bạn là công trình của Thiên Chúa

Hãy sẵn sàng để cho bàn tay Ngài làm mọi việc đúng thời đúng buổi.

Hãy dâng Ngài trái tim bạn, trái tim mềm dẻo để mặc Ngài uốn nắn.

Hãy là cục đất sét đẫm nước và đừng bao giờ hóa thành khô chai - để dấu tay Ngài có thể in lên - thật rõ.

Còn thánh Phanxicô Xaviê dù có phải mải mê rao giảng Tin Mừng cho lương dân như thế nào đi nữa, nhưng mỗi khi đêm về, Ngài luôn giữ thói quen quỳ gối trước chúa Giêsu Thánh Thể để cầu nguyện. Có lần vì quá mệt, Ngài đã ngủ gục trước bàn thờ. Nhiều lần Ngài đã phải cầu nguyện: “Lạy Chúa, nếu linh hồn con không tỉnh thức được với Chúa, thì ít nữa thân xác con đây cũng muốn được ở gần Ngài."

Cầu nguyện: Chúa ơi, cho con ở với Chúa thật sâu, để con có sức mạnh mà thành người hữu ích cho đời.

4. Làm tông đồ chỉ cần có Chúa trong đời

Một nhà truyền giáo tại Ấn Độ, ông Gordon Marsuel đã xin một tín đồ Ấn Độ giáo, đến sống bên cạnh để dạy ông học tiếng bản xứ. Nhưng tín đồ Ấn giáo này từ chối, anh ta nói:

- Thưa ngài, tôi không thể đến dạy tiếng bản xứ cho ngài, vì lẽ tôi không muốn trở thành Kitô hữu.

Nhà truyền giáo trả lời:

-Tôi chỉ muốn học tiếng bản xứ để có thể giao tiếp với những người chung quanh để hiểu biết họ hơn, chứ không nhằm bắt họ trở lại với đạo Chúa.

Nhưng người tín đồ Ấn giáo đáp lại:

-Thưa ngài, tôi biết vậy. Nhưng đối với tôi, tôi nhận thấy rằng: không một ai có thể sống bên cạnh ngài mà không bị ngài cảm hóa để tin vào Chúa. Tôi không thể dạy ngài vì tôi đã nghĩ, không thể nào sống bên cạnh ngài mà không trở thành Kitô hữu.

Ở với ai thì sẽ thấm nhuần nếp sống của người đó. Kẻ được sai phải “ở với” Đấng sai phái mình để thấm nhuần tinh thần của Ngài, và có như thế họ mới có thể trở thành những sứ giả đích thực và làm việc đúng như ý Chúa muốn.

Các tông đồ đã đóng xong vai trò của mình. Thế còn mỗi người chúng ta thì sao? Thưa mỗi người cũng phải là một tông đồ cho Chúa.

5. Tình yêu hy vọng

Chúa Giêsu gọi Gioan và Giacôbê là “boanerges” có thể dịch là “những kẻ nóng nảy” Họ khó có thể là hạng người mà bạn trông mong để hướng dẫn người khác nên thánh được. Matthêu là người thu thuế, một người hợp tác với La mã, bạn khó mà trông mong anh ta là hạng người hướng dẫn người khác đến sự thánh thiện. Simon, thành viên của nhóm Nhiệt thành, quyết tâm tiêu diệt các binh lính La mã, bạn cũng khó hy vọng anh ta là hạng người dẫn đưa người khác đến sự thánh thiện. Chúa Giêsu nhìn thấu con người, không phải cái họ đang là, mà là cái họ có thể là.

Đến mức độ nào tôi đã cố gắng nhìn con người vượt qua từ cái họ đang là tới cái họ có thể là? Đặc biệt, ai là người cần được tôi cư xử như thế?

Hoa trái ngày mai là kết quả của hạt giống ngày hôm nay (Ngạn ngữ Trung Hoa).

6. Chúa gọi tên

Trước một loạt những tên tuổi khô khan của các tông đồ, chúng ta tự hỏi: mình dựa vào đâu để có thể suy niệm và sống đoạn Tin Mừng hôm nay?

Đây có thể là một cách: chúng ta đã được Thiên Chúa gọi tên từ thuở đời đời: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi” (Is 49,1).

Mỗi lần Thiên Chúa gọi tên ai, Ngài làm cho người ấy hiện hữu, Ngài khắc tên người ấy vào lòng Ngài. Ngài dẫn đưa người ấy vào một tương quan mật thiết với Ngài. Vì thế, sau khi được gọi tên, nhóm Mười Hai đến ở cùng Chúa. Họ đã đáp trả tiếng gọi này bằng nhiều cách khác nhau. Mười một người trở thành tông đồ, một người trở thành kẻ phản bội.

Chúng ta chưa là tông đồ trọn vẹn, cũng không đến nỗi là kẻ phản bội. Chúng ta ở giữa hai. Chúng ta đã nhiều lần từ chối tiếng gọi của Thiên Chúa, nhưng coi chừng có khi chúng ta trở thành kẻ phản bội, minh nhiên chối bỏ Chúa và đức tin của mình.

7. Kết hiệp nên một

Tờ Medimundo của Nam Mỹ có đăng câu truyện:

Bé gái Angelina Lornadi sống ở thành phố Dorila bị ung thư bao tử. Sau nhiều cuộc giải phẫu và nhiều cách điều trị với tất cả mọi cố gắng, bác sĩ Cortez đành phải báo tin buồn cho bà Maria, mẹ của bé Angelina, là ông đã bó tay và bé Angelina sẽ chết. Bà Maria như hóa điên khi nghe điều đó. Bà quì bên cạnh người con gái và cầu nguyện. Mọi người nghe thấy bà cầu xin với Thiên Chúa cho bà chết thay cho con bà. Mọi người ra khỏi phòng cho bà được yên. Khi trở lại, họ không thể tin ở mắt mình: bé Angelina đang đứng cạnh giường, trông rất rạng rỡ và khỏe mạnh, còn bà Maria đang nằm gục trên giường. Bà thều thào nói: “Thiên Chúa đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi.”

Bác sĩ Cortez hết sức kinh ngạc và hoài nghi. Ông cho khám nghiệm bé Angelina và thấy rằng cô bé hoàn toàn khỏe mạnh. Ông cho xét nghiệm bà Maria, và thấy rằng bà sắp chết vì chứng bệnh ung thư bao tử trước đó con gái bà đã mắc phải. Bà Maria đã chết sau đó vài giờ.

Bác sĩ Cortez đã nói: “Tôi không thể giải thích được việc này trên phương diện y học. Có lẽ tôi chưa hiểu hết sức mạnh huyền bí của tình mẫu tử, hoặc một thế lực siêu nhiên nào đó.”

8. Môn đệ của Chúa

Phanxicô Salesio là một người có bẩm tính rất nóng nảy, họ hàng bà con, bạn bè ai cũng biết thế...

Một hôm, có người đến Toà Giám Mục Annecy để thăm thánh nhân. Trong câu chuyện trao đổi hai bên, nhiều lần ông ta đã lớn tiếng cãi vã, đấm bán đấm ghế, chỉ trích phê bình và mắng nhiếc thánh nhân thậm tệ. Thế nhưng, thánh Phanxicô vẫn cứ ngồi nghe cách thinh lặng, thỉnh thoảng lại nhũn nhặn mời ông khách xơi trà, hút thuốc.

Trước những câu nói nặng nề xấc láo, thánh nhân vẫn đáp lại bằng những lời lẽ hết sức dịu dàng, khiến ông khách quý bắt đầu cảm thấy hổ thẹn rồi từ từ rút lui.

Người anh của thánh nhân ngồi ở phòng sau chăm chỉ theo dõi câu chuyện giữa hai bên. Khi người khách vừa ra khỏi cổng, ông phóng ngay ra phòng thánh nhân và lạ thay...

Phanxicô vẫn tươi cười bình tĩnh! Ông liền nói:

- Này chú Phanxicô, xưa nay chú tính nóng như lửa, sao độ này lại hiền từ nhịn nhục đến thế. Tôi ở phòng sau nghe ông ta nói mà sốt ruột lộn gan, muốn nhào ra đánh cho ông ta một trận vỡ mặt ra. Đồ lếu mất dạy!

- Anh ạ, ai cũng có máu Adong cả. Em cũng bực bội tức giận lắm chứ, nhưng em cố gắng theo gương Cha Giêsu, hiền Lành và khiêm nhượng trong lòng. Cứ mỗi dịp như vừa rồi, em lại tập thêm được một chút ít nhân đức bằng cách tự bảo: này hỡi Phanxicô, hãy đậy kỹ vung, đừng mở, đừng nói gì! Rồi cuối cùng em thấy rằng: lấy một giọt mật, thì bắt được cả bầy ruồi; chứ lấy cả thùng giấm, chẳng tóm được một con.

THỨ BẢY - THÂN NHÂN CỦA CHÚA

Lời Chúa: Mc 3, 20-21

Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được.

Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: "Người đã mất trí."

TRUYỆN KỂ

1. Gia đình và phận làm người

Trong tuyển tập "Giới Luật Yêu Thương", Ðức Cha Bùi Tuần đã có một phân tích sâu sắc về mục đích của việc giáo dục gia đình, Ngài viết:

"Các bậc cha mẹ muốn biết xưa nay mình nhằm mục đích gì trong việc giáo dục con cái, thì hãy xét xem ta thường muốn gì, chờ đợi gì ở con cái. Có phải muốn chúng nên giàu sang không? Có phải chờ đợi ở chúng một lợi lộc vật chất chăng? Không thiếu những cha mẹ nhắm cái đó khi giáo dục con cái. Những hy vọng đó không phải là xấu, nhưng chắc chắn không phải là chính mục đích mà cha mẹ phải nhắm để đưa con cái mình đi tới. Mục đích chính đó là gì?"

Mục đích đó là giúp chúng nên người với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó. Mà nên người trước hết là thực hiện đầy đủ ý nghĩa câu nói quen thuộc: "Con người, đầu đội trời, chân đạp đất." Chân đạp đất là thái độ phải thắng dẹp những lôi cuốn tội lỗi thế tục, là đạp lên trên những gì làm cho mình ra hèn như cát bụi, là đạp lên trên những gì đưa ta xuống đất, xuống địa ngục. Nếu chân đạp đất chỉ những sự phàm trần, thì đầu đội trời chỉ những sự siêu phàm. Ðầu đội trời chi thái độ vươn lên những gì cao thượng, đầu đội trời chỉ sự cố gắng phóng mình tới lý tưởng xa vời, đầu đội trời chỉ sự hướng tâm con người về mục đích ở tận bên kia thế giới, đầu đội trời chỉ nỗ lực băng mình lên cao để tìm về quê hương trên trời.

2. Cái nhìn của thân nhân

Có một linh mục sống tại một đất nước phồn thịnh, nhưng khi làm linh mục được 5 năm, ngài đã xin phép bề trên để về Việt Nam phục vụ những bệnh nhân sida, nghiện ngập, những bạn trẻ cơ nhỡ và trẻ em mồ côi. Khi quyết định của ngài được thông báo cho gia đình, bà cố đã không chấp nhận và cho rằng con mình có vấn đề...!!!

3. ”Phải chăng Đức Giêsu là người mất trí, một kẻ điên”?

Bài hát “Mùa Đông Của Anh” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có một câu lột tả hết sự thật của tình yêu đôi lứa là: “Em chỉ là người điên trong vòng tay tình ái." Thật vậy, khi yêu nhau, người ta như một ”kẻ điên” theo sự rung cảm của con tim hơn là lý trí; người ta biết đau khổ và rắc rối do chính sự lựa chọn đem lại, nhưng vẫn lao vào, thậm chí biết rằng có thể mất tất cả từ danh dự đến sự nghiệp, thậm chí mất cả mạng sống... chỉ vì yêu.

Tắt một lời, khi yêu làm người ta lắm khi như người mất trí, như NGƯỜI ĐIÊN.

Nhưng cái “điên” của Chúa là tất cả cho con người đến nỗi hy sinh cả mạng sống vì con người. Thánh Phaolô cũng đã nói về sự “điên rồ của thập giá."

4. Chuyện đáng quan tâm hay không

Một ngày kia có một người hàng xóm đến gặp Socrate, một triết gia Hy lạp nổi tiếng ngày xưa. Ông ta nói:

- Này ông Socrate, ông đã nghe chuyện này chưa?

Socrate vội ngắt lời:

- Khoan đã! Anh có chắc rằng, tất cả những gì anh sắp kể cho tôi đều đúng sự thật không?

Ông hàng xóm ấp úng:

- À, cũng không chắc lắm. Tôi chỉ nghe người ta kể thôi.

Socrate mỉm cười bảo:

- Thế vậy chúng ta không cần quan tâm đến nó trừ phi nó là một chuyện tốt không?

Ông hàng xóm thật sự lúng túng:

- Không, chuyện này không tốt lắm. Phải nói đây là một chuyện xấu.

Socrate vỗ vai ông ta hỏi thêm:

- Chà, anh có nghĩ rằng, tôi cần phải biết chuyện ấy để giúp ngăn ngừa những điều không hay không tốt cho người khác chăng.

Lần này thì ông hàng xóm tiu nghỉu cúi gầm mặt:

- Ờ... Ờ, kể ra thì cũng chẳng giúp được cho ai!

Socrate kết luận:

- Thế này nhé, chúng ta hãy quên ngay chuyện ấy đi. Còn vô số chuyện đáng giá hơn trong đời sống, chúng ta không nên mất công bận tâm vào những chuyện tầm phào, vừa không đúng sự thật, vừa không tốt, lại vừa không cần thiết cho ai.

5. Hạt giống được gieo từ gia đình, tốt lẫn xấu

Một em bé đã giúp môt người bạn nghèo trong lớp. Hạnh phúc quá, em về khoe với mẹ. Không ngờ mẹ mắng: "Không được chơi với đứa khố rách áo ôm đó." NỤ cười trên môi em bé chợt tắt, em thất vọng trước sự cố gắng của mình.

Hôm nay qua lời nói của mình, tôi cũng dập tắt niềm hạnh phúc mỏng manh của người khác. Tôi đã giết chết đi những mầm non hy vọng, sự cố gắng, lòng nhiệt thành của những người chungquanh. Tôi như những người thân của Chúa ngày xưa, không hiểu và không nhìn ra sứ mạng của Ngài để rồi vô tình cản trở buớc rao giảng Tin Mừng nuớc Chúa.

6. Ai mất trí?

Ông Andersen kể chuyện: Một ông vua vô cùng giàu có chẳng thiếu thốn gì, lần kia ông nói với mấy người thợ may:

- Ta muốn các ngươi may chiếc áo đẹp nhất thế gian không ai có.

Thế là ba anh thợ may bàn tính với nhau:

- Vua đâu có thiếu kiểu áo nào đâu, bây giờ chúng ta hãy may cho vua một chiếc áo khôn ngoan.

Ít ngày sau vua hỏi mấy anh thợ may:

- Áo may xong chưa?

- Dạ thưa ngài đã xong. Nhưng áo khôn ngoan này chỉ có những ai khôn ngoan mới nhìn thấy mà thôi, đứa ngu đần không thể thấy được. Xin vua cởi bỏ hết y phục để mặc thử chiếc áo khôn ngoan này.

Thế rồi ba anh thợ may ngắm nghía vuốt ve chiếc áo vô hình, như lời ba anh thợ may đã nói: chiếc áo này chỉ có người khôn ngoan mới nhìn thấy, còn kẻ ngu thì không thấy gì, nhà vua muốn chứng minh mình là người khôn ngoan, chứ không phải là tên ngu đần, nên nói:

- Ồ tuyệt đẹp!

Vua quay sang hỏi các quan trong triều đình:

- Các ngươi có thấy áo khôn ngoan của trẫm đẹp không?

Vì ông nào cũng muốn chứng tỏ mình là người khôn ngoan, ai dại gì nhận mình ngu, nên đều khen:

- Dạ thưa vua, đẹp tuyệt vời.

Thế rồi những kẻ nịnh thần mời vua ngồi lên kiệu rồng để toàn dân chiêm ngưỡng áo khôn ngoan của vua chưa từng ai có. Nhưng khi kiệu vua ra đường mấy, lũ trẻ chỉ trỏ nhau nói:

- Ô vua cởi truồng!

Mấy phụ nữ nghe được, nói nhỏ:

- Im đi! chớ nói kẻo mất mạng đấy!

Nhưng mấy đứa trẻ càng cười khúc khích nói to hơn:

- Ồ vua cởi truồng thật mà!

Té ra chỉ có mấy đứa bé không có gì để mất mới nói lên sự thật!

Vậy để đón nhận được chân lý và dám liều mạng nói lên sự thật, người Kitô hữu chân chính phải có chút điên khùng (Kierkegaard), như người ta nói về Đức Giêsu: “Ông này mất trí rồi!” Chỉ có những ai tin yêu, nghe và làm theo Lời Đức Giêsu mới cất lời cầu: “Lạy Chúa, xin tỏa ánh Tôn Nhan rạng ngời trên chúng con, để chúng con được ơn cứu độ” (Tv 80/79, 4b: ĐC năm chẵn).

7. Mười khuyết điểm của Chúa Giêsu

Chuyện Đức Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận kể: Ngày 12.10.1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1,500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: "Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu.”

1 - Chúa Giêsu kém trí nhớ!

Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43).

2 - Chúa Giêsu không biết làm toán

Trong dụ ngôn con chiên bị mất (xem Mt. 18, 12-14; Lc. 15, 4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!

3 - Chúa Giêsu không sành luận lý

 Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.

"Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc. 14, 12-14).

4 - Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh

"Nầy bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót..." (Mt. 20, 13-16).

5 - Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi

"Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?" (Mt. 9, 11). "Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng" (Lc. 15, 2).

6 - Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng

Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lê-vi (tức thánh Mathêu sau nầy) những người Pha-ri-siêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: "Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-siêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống" (Lc. 6, 33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Da-kêu...

7 - Chúa Giêsu không giữ luật Do thái

"Vào ngày sa-bát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pha-ri-siêu nói: "Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát" (Lc. 6, 1-2).

8 - Chúa Giêsu như điên cuồng

"Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc. 6, 27-31).

9 - Chúa Giêsu phiêu lưu

Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3).

10 - Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn

"Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc. 9, 24).

8. Quên mình mà nghĩ đến bạn

Trung tá Richard Pembrey là một bác sĩ phẫu thuật trong lực lượng vũ trang nước Anh thời đệ nhị thế chiến. Trong cuốn “The Sands of Dunkirk”, ông kể lại một hành động hy sinh đã khiến ông xúc động sâu xa như thế nào: Một người lính nhận ra mình sắp chết đã lấy cái chăn duy nhất anh đang đắp trong những giờ phút sau cùng, và đắp lên người lính bị viêm phổi nằm ở giường bên.

Nghĩa cử hy sinh của người lính trong những giờ phút cuối cùng và hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập giá mời gọi tôi tự hỏi về tinh thần hy sinh của tôi. Lần cuối cùng tôi thực hiện nghĩa cử hy sinh là lúc nào?

Một nghĩa cử hy sinh âm thầm, một hy sinh đầy trách nhiệm với thiện ý đáng giá hơn là những suy nghĩ tốt đẹp, tình cảm nồng ấm, lời cầu nguyện nhiệt thành mà con người đắm chìm vào (Henry Newman).

9. Tình yêu không nói ra

Một cậu con trai bị chết trong một tai nạn. Người cha viết một mẩu giấy và đặt dưới xác cậu trong quan tài: “Cha chưa bao giờ nói với con là cha yêu thương con như thế nào. Cha chưa bao giờ nói với con rằng con chiếm một phần lớn trong trái tim cha. Nhưng bây giờ con đã chết… Vì thế cha viết những dòng này cho con. Cha muốn con biết rằng tình yêu của cha dành cho con và nỗi đau vì chưa bao giờ nói với con về tình yêu này.”

Ai là người tôi viết những dòng như thế, nếu ngày mai người ấy chết? Hôm nay tôi có thể làm gì để chứng minh điều đó?

Hầu hết mọi vấn đề tình cảm có thể gói gọn trong cách cư xử đặc biệt, đó là một người đi khắp nơi và la lên: “Vì Chúa, hãy yêu tôi.” (Thomas Malone).

10. Đời sống tâm linh có bất thường?

J.D. Salinger viết một câu truyện với tựa đề “Teddy” Câu truyện kể về một người bạn trẻ cảm thấy khó sống đời sống thiêng liêng trong thế giới hôm nay. Teddy nói: “Tôi nghĩ rằng khó mà suy niệm và sống đời sống thiêng liêng ở Mỹ. Người ta sẽ cho bạn là một người kỳ dị. Cha tôi nghĩ tôi là hạn lập dị, còn mẹ tôi cũng cho rằng nếu lúc nào cũng nghĩ tới Chúa là điều không tốt cho tôi.” Chúa Giêsu cũng gặp vấn đề tương tự đối với nhiều người trong giới bạn hữu và thân quyến của Ngài.

Người ta phản ứng thế nào khi tôi cố gắng sống đời sống thiêng liêng trong thế giới ngày nay?

Bất cứ lúc nào bạn thấy mình đi về phía đa số, thì đó là lúc bạn phải dừng lại và suy nghĩ?

11. Mất trí

Holmes Jr., “Người Bất Đồng Vĩ Đại”, được coi là một trong những thẩm phán xuất sắc nhất lịch sử Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Holmes ngồi trên Toà Tối cao suốt 30 năm cho đến tuổi 91. Ngày kia, Roosevelt đến thăm Holmes, thấy ông đang đọc Plato; tổng thống hỏi, “Ngài đọc Plato?”; Holmes đáp, “Tôi cải thiện tâm trí, vì tôi được tiếng là mất trí!"

Không chỉ Holmes được tiếng là ‘mất trí’, Chúa Giêsu cũng thế! Tin Mừng hôm nay cho biết, thân nhân Ngài tìm cách bắt Ngài! Đây là một chi tiết thú vị vốn tiết lộ phần nào hành trình đức tin của tất cả chúng ta; vì đôi khi, bạn và tôi cũng được tiếng là ‘mất trí!’.

Đavít là một ví dụ. Với tư cách bề tôi, cậu đã liều mạng với Philitinh, đem chiến thắng về cho Saun; nhưng cũng vì đó, chuốc lấy sự cừu hận. Đến khi ‘Chúa trao Saun vào tay Đavít’, thì Đavít lại nhân ái với người tìm giết mình. Một lần nữa, bài đọc Samuel hôm nay chứng thực điều đó. Hay tin Saun tử trận, Đavít khóc lóc thảm thiết thay vì ăn mừng. Với các thuộc hạ của Đavít, thân chủ của họ khác nào một người ‘mất trí!’.

Lời Chúa Tuần 2 Thường Niên
Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch

 

 EDIT