LỜI
CHÚA TUẦN 3 MÙA THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNTN 3A – ÁNH SÁNG TRONG
BÓNG TỐI SỰ CHẾT
CNTN 3B - NHỮNG KẺ CHÀI LƯỚI
NGƯỜI
CNTN 3C - THÁNH THẦN CHÚA NGỰ
TRÊN TÔI
THỨ HAI - TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA
THÁNH THẦN
THỨ BA - MẸ CHÚA VÀ ANH EM
CHÚA GIÊSU
THỨ TƯ - DỤ NGÔN GIEO HẠT GIỐNG
THỨ SÁU - NƯỚC THIÊN CHÚA
PHÁT TRIỂN
THỨ BẢY - CHÚA GIÊSU QUYỀN
NĂNG
LỄ KÍNH - TÔNG ĐỒ PHAOLÔ TRỞ
LẠI
LỄ KÍNH HAI THÁNH TIMÔTHÊ VÀ
TITÔ - DIỄN VĂN TRUYỀN GIÁO
LỄ GIAO THỪA - PHÓ THÁC CHO
CHÚA CỦA MÙA XUÂN
MỒNG MỘT TẾT - PHÓ THÁC CHO
CHÚA CỦA MÙA XUÂN
MỒNG HAI TẾT - THỜ CHA KÍNH
MẸ
MỒNG BA TẾT – HƯỞNG NIỀM VUI
CỦA CHỦ
CNTN 3A – ÁNH SÁNG TRONG
BÓNG TỐI SỰ CHẾT
Lời Chúa: Mt 4, 12-23
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người
rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất
Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng:
"Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông
Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy
hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết.” Từ bấy giờ,
Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!"
Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai
anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới
biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: "Các ngươi hãy theo
Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta.” Lập tức hai
ông bỏ lưới đó mà theo Người.
Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con
ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người
cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.
Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội
đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền
trong dân.
TRUYỆN KỂ
1. Kitô hữu ấm đồng
Một phụ nữ đang học hỏi Kinh Thánh, đi xuống tầng hầm của căn
nhà và trải nghiệm một khám phá thú vị. Một vài củ khoai tây đã nảy mầm ở góc tối
nhất của căn phòng.
Lúc đầu, bà không thể hiểu làm thế nào chúng có đủ ánh sáng để
phát triển. Nhưng sau đó, bà nhận thấy rằng bà đã treo một chiếc ấm đồng trên
xà nhà gần cửa sổ hầm. Bà giữ cho cái ấm sáng bóng đến mức nó phản chiếu những
tia nắng mặt trời vào khoai tây. Bà nói: “Khi tôi nhìn thấy sự phản chiếu đó,
tôi nghĩ, ‘Tôi có thể không phải là một nhà truyền giáo hay một giáo viên có khả
năng giải thích Kinh Thánh, nhưng ít nhất tôi có thể là một “Kitô hữu ấm đồng”,
đón nhận những tia sáng của Chúa Kitô và phản chiếu ánh sáng của Ngài cho ai đó
ở một góc tối nào đó.’”
* Bài học Kinh Thánh hôm nay cho chúng ta biết rằng Chúa Kitô đã
đến như Ánh sáng và đưa chúng ta vào Ánh sáng bằng cách kêu gọi chúng ta sám hối
và đến với Vương quốc của Thiên Chúa. (Lm. Chirakkal).
2. Thắp sáng
Mẹ Têrêsa cho chúng ta một gương mẫu tuyệt đẹp về việc đưa một
con người ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng. Một ngày nọ tại Melbourne, Úc,
Mẹ đến thăm một người nghèo mà hầu như chẳng ai biết đến sự tồn tại của ông.
Căn phòng nơi ông sống ở trong tình trạng bị bỏ mặc, vô cùng bừa bộn. Phòng
không có ánh sáng; người đàn ông hầu như không bao giờ mở rèm cửa. Ông không có
lấy một người bạn trên đời.
Mẹ bắt đầu dọn dẹp và sắp xếp lại căn phòng. Ban đầu, ông phản đối,
nói: “Cứ để yên đó. Mọi sự cứ như vậy là được rồi.” Nhưng Mẹ vẫn tiếp tục. Dưới
một đống rác, Mẹ tìm thấy một chiếc đèn dầu rất đẹp, nhưng bị phủ đầy bụi bẩn.
Mẹ lau chùi và đánh bóng nó. Rồi Mẹ hỏi ông: “Sao ông không bao giờ thắp đèn?”
Ông đáp: “Thắp đèn để làm gì? Chẳng có ai đến thăm tôi. Tôi cũng không gặp ai cả.”
Mẹ nói: “Ông có hứa sẽ thắp đèn nếu một trong các nữ tu của tôi đến thăm ông
không?” Ông trả lời: “Có. Nếu tôi nghe thấy tiếng người, tôi sẽ thắp đèn.”
Hai nữ tu của Mẹ Têrêsa bắt đầu đến thăm ông đều đặn. Dần dần,
cuộc sống của ông được cải thiện. — Một ngày kia, ông nói với các nữ tu: “Thưa
các Sơ, từ nay tôi có thể tự xoay xở được. Xin các Sơ làm ơn giúp tôi một việc:
hãy nói với Sơ đầu tiên, người đã đến thăm tôi, rằng ánh sáng Sơ đã thắp lên
trong cuộc đời tôi vẫn còn đang cháy.” (Flor McCarthy, New Sunday and Holy Day
Liturgies; trích dẫn bởi cha Botelho)
3. Chuyện đào vàng
Một sử gia kể lại rằng, cách đây khá lâu, một nhóm thợ đào vàng
rời Bannock, bang Montana, lên đường đi tìm vàng. Suốt nhiều ngày liền, họ phải
chịu đựng muôn vàn gian khổ và thời tiết khắc nghiệt đến mức có người không trụ
nổi và đã bỏ mạng dọc đường. Tuy vậy, những người còn lại vẫn không nản chí, tiếp
tục tiến bước, cho đến một ngày họ chạm trán với một toán thổ dân da đỏ hung
hãn. Những người này tước đoạt ngựa và tư trang của họ, chỉ để lại vài con ngựa
què quặt. Trước khi thả họ đi, người da đỏ cảnh cáo rằng đừng bao giờ quay lại,
vì nếu còn trở lại lần nữa thì tính mạng họ sẽ gặp nguy hiểm.
Nhóm thợ đào vàng buồn bã quay đầu trở về, lòng đầy thất vọng. Đến
tối, họ quyết định dừng chân bên một con suối để cắm trại. Một người trong nhóm
lội xuống suối rửa mặt và nhận ra có điều gì đó khác thường ở một hòn đá. Anh
nhặt hòn đá lên, đập vỡ ra, và chợt nhận ra: họ đã gặp vàng ngay tại đó! Thế là
những người khác cũng ùa tới, cùng nhau đào bới và thu được một mẻ vàng kha
khá. Ngày hôm sau, họ còn phát hiện nhiều vàng hơn nữa và vui mừng khôn xiết.
Sang ngày kế tiếp, họ trở về lại Bannock để mang theo đầy đủ dụng cụ và ngựa cần
thiết hòng thu gom kho báu của mình nhiều hơn. Họ thề sẽ không tiết lộ cho bất
cứ ai về phát hiện phi thường ấy.
Nhưng khi vừa chuẩn bị lên đường, họ bỗng thấy mình bị bao quanh
bởi khoảng ba trăm thợ đào vàng khác, ai nấy cũng hào hứng không kém. Rõ ràng
là có ai đó đã “lộ bí mật”! Thế nhưng, sự thật là chẳng có ai tiết lộ điều gì cả.
Chính nét mặt rạng rỡ, niềm vui hân hoan hiện rõ trên gương mặt
họ đã khiến những người khác nhận ra chắc chắn phải có một lý do rất đặc biệt.
Vì thế, mọi người quyết định nhập cuộc, tin chắc rằng chẳng bao lâu nữa họ cũng
sẽ được vui mừng hớn hở như những người kia. Những gương mặt bừng sáng của các
thợ đào vàng thành công đã vô tình “phản bội” bí mật của họ!
* Còn gương mặt chúng ta thì sao? Liệu có bộc lộ rằng chúng ta
đã tìm được kho tàng quý giá nhất — là chính Đức Giêsu Kitô — hay chưa?
4. Ánh sáng xuất hiện
Một vài thung lũng trên dãy núi Alpes sâu đến nỗi tia nắng mặt
trời không thể chiếu tới trong nhiều ngày hoặc thậm chí nhiều tuần vào giữa mùa
đông. Những ngày này có thể rất buồn chán đối với những người sống trong các
thung lũng. Cuộc sống gần như là một đêm dài. Một linh mục phục vụ tại một
trong những thung lũng đó kể lại câu chuyện sau đây.
Một ngày vào giữa mùa đông, ngài đang ở trong lớp học giáo lý
trò chuyện với bọn trẻ, những đứa đã không nhìn thấy mặt trời trong chín ngày.
Rồi đột nhiên, một tia nắng chiếu vào lớp học. Khi nhìn thấy chút ánh sáng, bọn
trẻ đã trèo lên bàn và reo hò vui sướng. Điều này cho thấy rằng, mặc dù mặt trời
có thể không chạm vào da thịt, nhưng nó có thể sưởi ấm tâm hồn.
* Ánh sáng là nguồn vui lớn lao. Đối với người bệnh, ban đêm là
thời điểm khó khăn nhất. Họ chào đón những tia sáng đầu tiên báo hiệu đêm tàn
và ngày mới bắt đầu biết bao! Việc có điện ở những vùng nông thôn đã thay đổi
hoàn toàn cuộc sống của những nông dân. (Flor McCarthy, New Sunday and Holy Day
Liturgies; được trích dẫn bởi Cha Botelho)
5. Bỏ mọi sự
Bạn đã nghe câu chuyện về Pizarro, nhà chinh phục nước Peru
chưa? Người Tây Ban Nha tin rằng các dòng sông ở Peru chảy đầy vàng và người ta
có thể chỉ cần nhặt vàng từ những con sông này. Pizarro đã tập hợp một nhóm người
thích phiêu lưu và khao khát tìm vàng. Họ đã vượt qua Đại Tây Dương và eo đất
Panama.
Chuyến đi không hề dễ dàng, họ đã trải qua những thời điểm hết sức
khó khăn. Trên biển có bão tố, còn trên đất liền thì có rắn độc và thú dữ.
Không có thức ăn, và nhóm người đã phải đối mặt với nhiều khó khăn và do đó quyết
định quay trở lại Tây Ban Nha.
Pizarro rút gươm ra và vạch một đường trên cát bằng thanh gươm của
mình, chia cắt phía bắc và phía nam. Sau đó, ông nói với nhóm binh lính của
mình: “Các anh em, ở phía nam của lằn ranh này là đói khát, hiểm nguy, trần trụi,
thử thách và cái chết, trong khi ở phía bắc là niềm vui, sự dễ dàng và thoải
mái. Riêng tôi, tôi đi về phía nam,” và ông bước qua vạch kẻ về phía nam.
* Bảy người đã theo ông không phải vì thích vàng mà vì họ yêu mến
và tin tưởng Pizarro. Các môn đệ đầu tiên cũng đã bỏ mọi sự để bước theo Đức
Giêsu vì họ yêu mến Người. (Elias Dias trong “Những câu chuyện thiêng liêng cho
các gia đình”
6. Cách trình bày
Đức Giêsu đến rao giảng “Nước Trời đã đến gần.” Vậy Nước ấy có
điều gì khiến những người đánh cá đầu tiên đó phấn khởi đến thế đến nỗi họ đã bỏ
lại mọi sự? Và tại sao chúng ta lại không hào hứng như vậy?
Điều đó làm tôi nhớ đến câu chuyện đọc đâu đó về một người phụ nữ,
cho rằng chó sẽ khỏe mạnh hơn nếu mỗi ngày được cho ăn một muỗng canh dầu gan
cá tuyết. Vì thế, ngày nào bà cũng làm theo cùng một quy trình: đuổi theo con
chó cho đến khi bắt được nó, vật nó xuống, rồi cố ép cho bằng được thứ thuốc
tanh ấy vào cổ họng nó. Một ngày nọ, giữa lúc đang vất vả với “liệu pháp y
khoa” này, chai dầu bị đá đổ. Thở dài, bà nới lỏng tay giữ con chó để lau chỗ dầu
đổ.
Thật ngạc nhiên, con chó chạy lại vũng dầu và bắt đầu liếm lấy
liếm để. Con chó rất thích dầu gan cá tuyết. Điều nó phản đối chỉ là cách người
chủ cho nó dùng mà thôi. (Bill McNabb và Steven Mabry, Awaken Your Students to
Scripture).
* Đôi khi, tôi nghĩ điều tương tự cũng đã xảy ra với Tin Mừng về
Nước Thiên Chúa. Tin Mừng ấy đã được trình bày quá vụng về đến nỗi chúng ta
chưa bao giờ bị cuốn hút bởi vẻ hấp dẫn và sức mạnh của nó.
7. Hoán cải
Giáo sư sử học về Giáo hội J. Edwin Orr từng kể lại về sự kiện
ơn Chúa Thánh Thần được tuôn đổ trong thời Phục Hưng tại xứ Wales vào thế kỷ
XIX. Khi con người khao khát được đầy ơn Thánh Thần, họ đã thành tâm kiểm điểm
lại đời sống mình, mạnh dạn thú nhận những sai lỗi đã phạm và quyết tâm đền bù
những điều bất công trong quá khứ.
Điều này đã dẫn đến một tình huống hết sức bất ngờ tại các xưởng
đóng tàu dọc theo bờ biển Wales. Trong nhiều năm, công nhân đã lén lấy cắp đủ mọi
thứ: từ xe cút kít, búa, kìm...cho đến các dụng cụ lao động khác. Nhưng khi
lương tâm được thức tỉnh và lòng họ hướng về Thiên Chúa, người ta bắt đầu mang
trả lại những gì mình đã chiếm đoạt. Chẳng bao lâu sau, các xưởng đóng tàu bị
“ngập lụt” bởi những vật dụng được hoàn trả. Những đống dụng cụ chất cao đến mức
một số xưởng buộc phải treo biển thông báo: “Nếu bạn được Chúa thúc đẩy để trả
lại những gì mình đã lấy, thì hãy biết rằng ban quản lý đã tha thứ cho bạn và
mong bạn cứ giữ lại những gì đã lấy.”
* Câu chuyện ấy khiến chúng ta không khỏi tự hỏi: Chẳng phải sẽ
thật tuyệt vời sao nếu một cuộc phục hưng như thế lan tỏa khắp thế giới hôm
nay? Chẳng phải chúng ta sẽ vui mừng biết bao nếu con người sẵn sàng sửa chữa
những sai trái mình đã gây ra? Chẳng phải thế giới sẽ trở nên đáng tin cậy hơn
nếu mỗi người sống ngay chính vì Thiên Chúa ngự trong tâm hồn họ? Hãy thử hình
dung một thế giới không còn trộm cướp, không còn bạo lực giết chóc, không còn
những gia đình tan vỡ hay cảnh nghiện ngập tàn phá con người.
Để bước vào Nước Thiên Chúa ấy, Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức
Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta hoán cải, thay đổi tận căn lối sống, và canh
tân đời mình trong ánh sáng của Thiên Chúa.
8. Lưới người
Khi các nhà truyền giáo buộc phải rời khỏi Trung Quốc vào năm
1951, các Kitô hữu bắt đầu bị chính quyền đàn áp khốc liệt, tương lai của Hội
Thánh dường như vô cùng ảm đạm. Khi áp lực gia tăng, nhiều người nhanh chóng bỏ
đạo. Với sự xuất hiện của Cách mạng Văn hóa và việc đàn áp mọi sinh hoạt tôn
giáo có tổ chức, người ta tưởng rằng Kitô giáo tại Trung Quốc đã đến hồi diệt
vong.
Thế nhưng, chính trong thời kỳ bách hại khủng khiếp ấy, những
Kitô hữu kiên vững, không sợ thách thức các thế lực của trần gian, đã bắt đầu
âm thầm họp nhau trong các gia đình. Khi các buổi phụng vụ chính thức bị cấm trong
thời kỳ “Đại Nhảy Vọt”, những cuộc họp nhỏ tại gia trở thành cơ cấu chủ yếu của
Hội Thánh. Khi các mục tử bị giết hại hoặc bị giam cầm, các tín hữu giáo dân đã
đứng lên đảm nhận vai trò lãnh đạo; đặc biệt các phụ nữ đã tham gia rất tích cực.
Khi nhà cửa của giáo dân bị Hồng Vệ Binh lục soát và mọi cuốn Kinh Thánh cùng
sách vở Kitô giáo bị tiêu hủy, người ta đã dựa vào trí nhớ Lời Chúa và những
kinh nghiệm sống đức tin để nâng đỡ lẫn nhau.
Khi các Kitô hữu trong những nhóm nhỏ này thể hiện lòng can đảm
phi thường, nhiệt thành và yêu thương, Tin Mừng đã lan tỏa đến hàng xóm và đồng
nghiệp của họ. Họ sẵn sàng chia sẻ lương thực và quần áo của mình cho những người
nghèo túng và thiếu thốn, nhất là các gia đình có người trụ cột bị giết hoặc bị
tống giam. Họ thăm viếng người đau buồn, cầu nguyện cho bệnh nhân và được chứng
kiến những phép lạ chữa lành kỳ diệu của Thiên Chúa.
Tiêu biểu là câu chuyện về một số tín hữu chăm sóc tận tình cho
một cô giáo trường Đảng khi cô lâm bệnh nặng. Lòng trắc ẩn của họ chân thành đến
mức, sau khi bình phục, cô cũng đón nhận tin Chúa, dù sau đó phải chịu sự chế
giễu công khai khi trở lại làm việc. Bị buộc phải xuất hiện trong một buổi “tự
phê bình” công khai, cô đã phản đối: “Khi tôi đau ốm, các người chẳng làm gì để
giúp tôi. Chính các Kitô hữu đã làm tất cả!” Sự thật ấy đã khiến những kẻ chỉ
trích cô phải câm lặng. Ngày nay, Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc vẫn sống động
và không ngừng phát triển, bởi vì từng Kitô hữu đã làm tròn phần việc của mình,
trở nên những kẻ “lưới người.” (Cha King Duncan)
9. Chuyện vui
Trước phòng sinh. Trước phòng sinh của một bệnh viện, có ba ông
bố tương lai đứng chờ mà lòng như lửa đốt. Người thì đi tới đi lui, người thì
ngồi xuống lại đứng lên, ai cũng căng thẳng như đang chờ kết quả thi đại học. Một
lát sau, cô hộ sinh bước ra, nở nụ cười rất tươi.
Cô nhìn người đàn ông thứ nhất và nói: “Chúc mừng anh! Vợ anh vừa
sinh một cặp song sinh.” Ông bố nghe xong liền reo lên: “Trời ơi, hên quá! Tôi
đang làm việc cho đội bóng tên là Song Long. Đúng là ‘trúng mánh’ rồi!”
Cô hộ sinh quay sang người thứ hai: “Còn anh, xin chúc mừng! Vợ
anh sinh ba, các bé đều khỏe mạnh.” Ông này vỗ tay cái đét: “Quá tuyệt! Tôi là
phó giám đốc công ty Ba Sao. Từ nay chắc công ty tôi làm ăn phát đạt!”
Nhưng khi cô hộ sinh vừa quay sang người đàn ông thứ ba, chưa kịp
nói gì thì ông đã tái mét mặt mày, mồ hôi đầm đìa, rồi bất ngờ chạy thẳng ra cửa.
Cô hộ sinh hoảng hốt gọi theo: “Anh ơi, có chuyện gì vậy? Sao anh chạy dữ vậy?”
Vừa leo lên xe, ông vừa la lớn: “Tôi phải về công ty xin nghỉ việc gấp! Tôi là
giám đốc hãng nước giải khát Bảy Vị!”
* Lời mời gọi sám hối của Chúa Giêsu có thể làm ta bất ngờ, thậm
chí giật mình. Nhưng đó không phải là tin xấu, mà là tin mừng—vì Thiên Chúa
đang đến rất gần, để ban sự sống dồi dào hơn cho mỗi người chúng ta. (Đức Ông
Dennis Clarke).
10. Xin vâng để hợp tác với Chúa
Hai người giáo dân đứng ngoài chợ nói chuyện với nhau:
- Anh nghĩ xem chúng ta có cần tiếp tay với Cha xứ để lo việc họ
đạo không? Người thứ nhất hỏi.
- Tôi cũng thường nghĩ đến điều đó. Nhưng khi tôi thấy chung
quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín thì tôi không muốn gia nhập
nhóm nhỏ ấy nữa.
Nãy giờ đứng bên cạnh đã nghe hết, anh chen vào:
- Đúng thế, chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng
các anh có biết tại sao không?
- Tại sao? Tại sao? Xin cho chúng tôi biết với.
- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã kêu mời mọi người cộng tác.
Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó là những người biết nói “VÂNG.”
Khi Chúa gọi ai, việc đầu tiên là Ngài bảo người đó từ bỏ. Ơn gọi
đầu tiên trong Cựu Ước là như thế: Thiên Chúa nói với Abraham “Hãy đi khỏi xứ sở
ngươi, khỏi nhà cha ngươi...” (St 12,1). Ơn gọi đầu tiên trong Tân Ước cũng như
thế: 4 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu “lập tức bỏ chài lưới (bỏ thuyền, bỏ cha
mẹ lại) mà theo Ngài” (Mt 4,20.22). Tất cả những ơn gọi khác cũng phải như thế
thôi.
11. Ngư phủ là những môn đệ đầu tiên.
Trong số những đến nghe Ngài rao giảng, Chúa Giêsu đã chú ý tới
hai cặp anh em. Họ đều là những ngư phủ đang hành nghề trên biển Galilê. Họ
không phải là những học giả uyên bác, hoặc những người có ảnh hưởng lớn. Họ
không giàu sang, không có địa vị trong xã hội. Họ không phải là những người
nghèo mạt mà chỉ là những công nhân bình thường. Chúa Giêsu đã chọn lựa những
người bình thường này. Và với những người như thế Ngài đã dùng họ để làm bất cứ
công tác nào.
Nhiều học giả cho rằng sở dĩ Chúa chọn những ngư phủ lành nghề
như vậy là vì họ có một số đức tính thiết yếu để có thể trở thành những tay
đánh lưới người cho Chúa:
a/ Kiên nhẫn: người ngư phủ thường là những người rất kiên nhẫn.
Họ kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi cá cắn mồi, nếu cứ sốt ruột và dời chỗ luôn
thì không bao giờ thành người thợ câu được.
b/ Bền chí: người ngư phủ giỏi thường là những người rất bền
chí, không bao giờ ngã lòng. Thua keo này họ bày keo khác.
c/Can đảm: người ngư phủ giỏi thường bao cũng là những người rất
can đảm. Người Hy lạp thuở xưa, khi cầu khẩn với các thần phù hộ, họ thường
nói: “thuyền tôi quá nhỏ mà biển cả thì quá lớn.” Người ngư phủ giỏi phải liều
mình đương đầu với sóng to gió lớn.
d/Thấy thời cơ: người ngư phủ giỏi thường là những người biết rõ
thời điểm để hành động. Người ấy phải biết khi nào nên và khi nào không nên thả
lưới.
e/ Biết dùng mồi thích hợp: người ngư phủ giỏi thường là những người
biết chọn lựa mồi thích hợp. Cá này ưa mồi này, cá khác thích mồi khác.
Phaolô nói: “Tôi trở nên mọi sự đối với mọi người để may ra được
một vài người.”
f/ Biết ẩn mình: người ngư phủ giỏi thường là những người biết ẩn
mình. Nếu ngư phủ lộ diện, dầu chỉ là cái bóng, cá cũng không cắn câu.
Vâng Chúa Giêsu đã chọn lựa Galilê là miền đất được chuẩn bị kỹ
lưỡng để tiếp nhận hạt giống Tin Mừng và cũng đã chọn những con người có phẩm
chất đạo đức tốt để bắt đầu sứ vụ công khai của mình. Nói theo kiểu Đông phương
của chúng ta: rõ ràng là đã đủ mọi yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa...
12. Thắp lên tình yêu thương
Một ngày kia khi đến Melbourne bên Australia, Mẹ Têrêsa Calcutta
đã đến thăm một người nghèo không ai biết đến. Người này sống trong một căn phòng
rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy
một bóng đèn.
Mẹ Têrêsa bắt tay vào việc thu dọn đồ đạc.
Ông gắt lên:
- Cứ để yên mọi thứ cho tôi.
Nhưng mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, mẹ tìm thấy một
chiếc đèn trong góc phòng. Đèn bám đầy bụi bặm, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng
đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi:
- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên?
- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu thấy mặt ai.
- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm
ông không?
- Vâng. Nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.
Từ đó mỗi ngày hai nữ tu của mẹ Têrêsa đều đến thăm ông và giúp
đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy.
- Bây giờ tự tôi, tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin
làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng: ngọn đèn mà bà đã thắp lên nay vẫn sáng.
Ngọn đèn Mẹ Têrêsa thắp lên cho ông cụ này nay vẫn sáng.
Vâng chúng ta hãy làm sáng lên trên thế giới hôm nay ánh sáng của
tình thương, của tình người, của chân lý để ánh sáng ấy làm cho cuộc sống của
con người trên thế giới hôm nay có thêm được những ý nghĩa cao đẹp và hạnh phúc
hơn. Amen.
13. Cám dỗ muốn hơn người
Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn
nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp kỳ cạnh tranh
gay gắt trong công việc, anh ta càng gia tăng lời khẩn cầu gấp bội.
Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên hiện ra với anh và nói:
"Thấy nhà ngươi thành tâm cầu xin nên ta không nỡ chối từ. Thôi thì bây giờ
cứ cho ta biết ngươi muốn gì, ta sẽ ban cho... và đồng thời để tỏ cho nhân gian
biết lòng quảng đại của ta thì hễ ban cho ngươi điều chi, ta cũng ban cho đồng
nghiệp hay hàng xóm của ngươi như thế... và có khi gấp đôi luôn.”
Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng hân hoan
qua sầu buồn lo lắng. Anh tự nhủ: "Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus
thì mấy thằng bạn...chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, thế thì không được!
Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm... họ sẽ được
tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn
thì coi chừng đồng nghiệp sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con
mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó được hai vợ, trong mình chỉ có một...
Thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng xin
như thế thì làm sao mà hơn được.”
Chàng thương gia nhíu mày đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo
lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với thần: "Lạy
ngài, xin vui lòng cho tôi đui một con mắt.”
Tình trạng hơn thua làm nảy sinh phe nhóm bè phái, cùng với bao
tranh chấp ghét ghen, không chỉ xảy ra ngoài đời, trong các đoàn thể chính trị
xã hội, nhưng phải đau lòng mà nói: có khi nó còn xuất hiện trong những tổ chức
manh danh có đạo, hay thuộc về Giáo hội.
Và đâu phải chỉ có trong Giáo hội của thời đại hôm nay, nhưng từ
thời sơ khai, hiện tượng tranh chấp, phe nhóm, cũng đã xảy ra: "Tôi, tôi về
phe Appolo. Tôi, tôi về phe Phaolô. Còn tôi, tôi về phe Kêpha Phêrô.”
14. Được cứu độ bằng tình yêu--Lm. HK
Epictète là một triết gia - nô lệ tại xứ Syracuse. Ông vua độc
tài của Syracuse đọc sách của Epictète viết, thấy hay quá nên mới ra quyết định
cho Epictète không phải làm nô lệ nữa. Epictète trả lời:
- Vua hãy tự giải thoát chính mình đi.
- Nhưng ta là vua mà, ông vua độc tài ngạc nhiên.
- Một nhà độc tài là kẻ phải làm nô lệ cho các dục vọng của
mình, còn một người nô lệ làm chủ được các dục vọng của mình mới là một người tự
do. Hỡi Đức Vua, hãy tự giải thoát chính mình đi.
Ai cũng thấy rõ sức mạnh rất lớn của các dục vọng trong lòng
mình, như cổ nhân đẽ khéo ví von: “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba
đào dị nịch nhân” (Mưa không xiềng xích vẫn lưu được khách, sắc chẳng ba đào dễ
đắm lòng người).
Có dục vọng tốt nhưng cũng có dục vọng xấu lôi kéo con người và
xích chặt tâm hồn họ vào tội lỗi. Trong Thánh Kinh, các dục vọng tội lỗi được
diễn tả như bóng tối mịt mù ràng buộc và ngăn cản nhân loại trên đường tìm đến
hạnh phúc đời đời: “Họ phải sống trong cảnh tối tăm mù mịt, kiếp lầm than xiềng
xích gông cùm; vì họ chống cưỡng lời Thiên Chúa, dám khinh nhờn lệnh Đấng Tối
Cao” (Tv 107,10).
15. Tiếng gọi của Chúa
Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu Albert
Schweitzer làm “người hùng của thế kỷ.” Hai năm sau (1952). Albert Schweitzer
được giải thưởng Nobel hoà bình. Schweitzer được toàn thế giới tuyên dương là một
thiên tài đa dạng: Ông vừa là một triết gia lừng danh, một nhà thần học nổi tiếng,
một sử gia đáng kính, một nhạc công sôlô trong dàn nhạc và còn là một bác sĩ thừa
sai nữa.
Nhưng điểm nổi bật nhất nơi ông là niềm tin Kitô giáo sâu sắc.
Chính niềm tin này đã khiến ông thành “người hùng của thế kỷ”: Năm 21 tuổi,
Schweitzer tự hứa với mình là sẽ nghiên cứu nghệ thuật và khoa học cho đến năm
30 tuổi, rồi sẽ cống hiến cuộc đời còn lại cho những người thiếu thốn bằng một
hình thức phục vụ trực tiếp nào đó. Và thế rồi, vào sinh nhật thứ 30 của ông,
nhằm ngày 13/10/1905, ông đến một hộp thư ở Paris gởi một số thư về cho bố mẹ
và bè bạn thân thiết nhất, báo cho họ biết ông sắp sửa ghi tên vào đại học để lấy
bằng y khoa, sau đó ông sẽ đi Phi Châu sống như một bác sĩ thừa sai để phục vụ
đám dân nghèo.
Những lá thư của ông lập tức bị phản đối ngay. Bà con và bè bạn
ông đồng loạt phản đối dự tính mà họ cho là điên rồ của ông. Họ bảo ông là một
người đem chôn dấu tài năng đã được uỷ thác cho ông… Tuy nhiên, Schweitzer vẫn
khăng khăng thực hiện những ý định của mình. Năm 38 tuổi, ông trở thành một bác
sĩ y khoa thực thụ. Năm 43 tuổi, ông đến Phi Châu mở một bệnh viện cạnh bờ rừng
của khu vực gọi là Phi Châu xích đạo. Tại đây, ròng rã suốt hơn bốn mươi năm trời,
ông đã dùng hết tài năng và sức lực để đêm ngày tận tuỵ săn sóc những người dân
bản xứ nghèo nàn bệnh tật, với tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái. Sau cùng
ông đã chết ở đó vào năm 1965, hưởng thọ 90 tuổi.
16. Muốn giữ chiếc áo rách
Một linh sư ấn Giáo rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử.
Nhận thấy anh ta không cần sự dìu dắt của mình nữa, nên ông bỏ mặc anh trong
túp lều tranh rách nát bên cạnh bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ
tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách của
mình. Đó là tài sản duy nhất của anh.
Ngày kia, anh nhận ra chiếc áo của mình phơi ở bờ sông đã bị chuột
cắn rách tả tơi. Anh đành phải vào làng xin một chiếc áo khác. Cái áo này cũng
bị chuột gặm nát như tương. Anh mới xin về một con mèo. Lần này, anh khỏi phải
lo chuột quấy phá. Nhưng không xin áo thì phải xin cơm bánh.
Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình
như một gánh nặng cho dân làng. Vì thế, anh tìm cách tậu cho bằng được một con
bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn.
Nhữg ngày đầu, anh con tự mình cắt cỏ. Về lâu về dài, anh đành
phải thuê người cắt cỏ vì không có thì giờ cầu nguyện. Bò càng ngày càng sinh sản
ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng.
Chẳng mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã trở thành
nông trại. Con người đâ một thời muốn bỏ tất cả mọi sự đê trở thành một tu sĩ,
nay nghiễm nhiên là một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, nên anh cũng
muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ.
Khi vị linh sư có dịp về thăm ngôi làng cũ, ông ngạc nhiên vô
cùng vì túp lều nghèo nàn bên bờ sông nay đã là cả một cơ nghiệp. Ông hỏi người
đệ tử:
- Thế này nghĩa là gì hở con?
Người đệ tử mới trả lời:
- Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu cũng
chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách?
Cám dỗ nào cũng ngọt ngào như mật lôi kéo bầy ong, như hương hoa
cuốn hút đàn bướm. Có nhiều thứ săn đuổi chúng ta trong cuộc sống lắm! Bao lâu
còn mang bản tính con người, bấy lâu người ta còn thích hưởng thụ, dễ dãi, tiện
nghi, thoải mái. Con ngườl chỉ có thể thắng vượt cám dỗ khi họ tự biết chính
mình.
17. Theo Chúa là một khúc quanh đòi từ bỏ của cuộc đời
Có nhiều người đã nghe được tiếng Chúa, một thứ tiếng vọng lên từ
bên trong, tuy âm thầm nhưng rất rõ, mời gọi nhưng không kém phần thúc thách.
Đáp lại tiếng Chúa là bước vào một khúc quanh mới của đời mình và từ đó bản
thân được đổi khác.
Ơn gọi của Mẹ Têrêsa Calcutta là một thí dụ. Mẹ sinh năm 1910 tại
Nam Tư. Năm 18 tuổi Mẹ nhập dòng Đức Bà Lorettô ở Ái Nhĩ Lan. Sau đó được cử
sang Ấn Độ để vào tập viện. Mẹ đã cống hiến gần 20 năm trời cho việc dạy môn địa
lý tại một trường của nhà dòng dành cho các thiếu nữ thuộc những gia đình khá
giả. Nếu Chúa không lên tiếng gọi, thì chắc cuộc đời Mẹ sẽ trôi đi êm đềm bên
đám học trò giàu có. Thế rồi vào một ngày nọ, nhân đi qua một đường phố ở
Calcutta, Mẹ bắt gặp một người đàn bà đang hấp hối trên vỉa hè. Chuột và kiến
đã kéo đến gặm nhấm con người bất hạnh đó. Mẹ liền vực người thiếu phụ tới nhà
thương. Mẹ nhất định cứ đứng ở trước cổng cho đến khi người ta mở cửa đón nhận
bệnh nhân sắp chết.
Từ biến cố này Mẹ cảm nhận được lời mời gọi của Chúa, muốn Mẹ hiến
mình cho những kẻ bị bỏ rơi. Và thế là Mẹ xin ra khỏi dòng, đến sống ở một khu
vực tăm tối của thành phố. Chắc hẳn lúc đó, Mẹ không ngờ mình sẽ là người sáng
lập một hội dòng mới chuyên lo việc bác ái, giúp đỡ những người nghèo khổ.
Lắng nghe và tìm biết ý Chúa qua các biến cố, qua các sự kiện đã
đành. Điều quan trọng hơn là có dám đáp trả lời mời gọi của Ngài hay không. Nhiều
khi chúng ta đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ như không hề nghe thấy tiếng Chúa, để
khỏi phải đáp trả, khỏi phải từ bỏ. Bởi vì chúng có quá nhiều những sợi dây vấn
vương quấn chặt lấy cuộc đời và bản thân, khiến chúng ta không dễ gì tháo gỡ được.
Những sợi dây vấn vương ấy là tiền bạc, địa vị, vui thú...
Từ bỏ là đặt mọi sự dưới Chúa, coi Chúa là giá trị tuyệt đối, vượt
lên trên tất cả. Và như thế phải có tình yêu mãnh liệt mới có thể từ bỏ lập tực
những gì chúng ta đang ôm ấp bởi vì từ bỏ là thước đo tình yêu của chúng ta đối
với Chúa.
18. Sống đức tin
Vị linh mục tuyên úy hỏi người thủy thủ trẻ tuổi: “Ai đã dẫn đưa
bạn tới Chúa Giêsu Kitô?” Anh ta chần chừ suy nghĩ, vì nghĩ rằng phải sử dụng
tên tuổi của những nhà giảng thuyết trứ danh, bèn hỏi lại vị tuyên úy: “Thưa
cha, chắc không cần phải là người giảng thuyết chứ?” Rồi anh nói tiếp: “Đó là đời
sống đạo của mẹ con.” Hầu hết chúng ta đã đón nhận đức tin từ cha mẹ. Khi lớn
lên không bao giờ thắc mắc rằng chúng ta đã không phải là Kitô hữu. Chúng ta giữ
đức tin trong khi được dạy cách làm dấu, đọc kinh Lạy Cha, đi nhà thờ dự lễ… học
cách thức chào hỏi, lễ phép bởi cha mẹ, thầy cô nơi trường học. Do đấy, tất cả
mọi người trong gia đình, cộng đoàn hay xã hội đều được mời gọi đóng góp vào sứ
mạng “ngư phủ bắt người.”
Bạn có tin được không, ngay cả con chó cũng có thể dẫn đưa một
người về với Đức Kitô: Một ông lão không bao giờ để ý gì tới Thiên Chúa, hay đời
sống tinh thần, nhưng vợ ông lại là một Kitô hữu rất đạo đức. Bà đã cầu nguyện
cho chồng nhiều năm, nhưng dường như lời cầu xin của bà chưa được đáp trả vì
ông không bao giờ chịu đến nhà thờ chung với bà. Người đàn bà đạo hạnh đáng
thương này đi lễ hằng tuần với một con chó già. Nó đi theo bà vào nhà thờ, rồi
phủ phục nằm im dưới gầm ghế ngồi.
Khi người đàn bà chết, con chó có vẻ buồn bã lắm. Một vài lần,
lão già chú ý thấy con chó rời nhà vào một giờ nhất định, rồi trở về đúng giờ.
Một buổi sáng Chúa nhật, ông lão đi theo con chó xem nó đã đi đến đâu. Con chó
dường như có vẻ hứng khởi và vui vẻ khi có người cùng đi với nó dọc theo lối bộ
hành cho đến cửa nhà thờ. Ông lão ngừng lại khi thấy nó nhanh nhẹn nhẩy lên những
bậc thềm rồi đứng chờ ông ở cửa nhà thờ. Sau khi đứng lại nghỉ ngơi giây lát,
chưa quyết định phải làm gì, ông lão tự nhủ: “Vào nhà thờ theo con chó cũng được.
Đâu có hại gì!” Ông đã vào nhà thờ, đi theo con chó đến ngay chỗ vợ ông vẫn thường
ngồi. Nhớ đến vợ, ông ngồi xuống và lắng nghe. Chúa nhật kế tiếp, ông lão lại
đi đến nhà thờ với con chó trung thành của ông.
Dần dần, người ta đã thấy ông ở trong nhà thờ ngay chỗ vợ ông vẫn
thường ngồi với con chó nằm thinh lặng dưới gầm ghế. Sau cùng ông đã tham gia cộng
đoàn và cho phép Tin Mừng thấm nhập vào cuộc đời ông.
19. Sám hối
Có một vị ẩn sĩ nọ, sau bao nhiêu năm tu luyện bỗng thấy hương
thơm sự thánh thiện của mình bay tỏa khắp nơi, nhiều người tiến đến vấn ký cũng
như để xin ông cầu nguyện cho. Từ đó vị ẩn sĩ thường hãnh diện về tiếng tăm của
mình. Một buổi sáng nọ, ông đến thăm một ngôi nhà thờ nằm bên cạnh một dòng
sông. Đi dọc theo bờ sông, ông thấy có một người đàn ông đang ngồi khóc lóc thảm
thiết. Đến gần, vị ẩn sĩ mới nhận ra đó là người đàn ông mà khi nghe nhắc đến
tên tất cả mọi người dân trong vùng đều phải run sợ, vì hắn là một tên cướp giết
người không gớm tay.
Vị ẩn sĩ định làm ngơ bỏ đi, nhưng người đàn ông tiến đến quì gối
xuống trước mặt ông và xưng tội. Nghe xong một danh mục những tội mà cả đời ông
không dám nghĩ tới, và khi so sánh với cuộc sống hoàn toàn trong sạch của mình,
vị ẩn sĩ tự nhiên nổi giận. Ông nghĩ đến cơn giận thánh của Chúa Giêsu khi vào
Đền thờ Giêrusalem, thế là thay vì đưa tay ban phép giải tội, vị ẩn sĩ lại to
tiếng quát bảo người đàn ông như sau: “Một tên đầu trộm đuôi cướp như ngươi mà
hy vọng được Chúa tha thứ sao? Ta nói thật cho ngươi: cây gậy ta đang cầm trên
tay đây trở thành bông còn dễ hơn là việc Chúa tha thứ cho ngươi.”
Nói xong những lời đó, vị ẩn sĩ bỏ mặc cho tội nhân chìm đắm
trong thất vọng và ông tiếp tục cất bước. Thế nhưng ông chưa kịp đi được mười
bước thì cây gậy của ông đang cầm trong tay bỗng bị cắm sâu xuống đất. Ông dùng
tất cả sức lực của mình để kéo nó lên khỏi đat nhưng cây gậy vẫn không nhúc
nhích. Và lạ lùng thay, từ thân cây gậy, lá, cành và hoa trái từ từ mọc lên. Rồi
nhà ẩn sĩ lại nghe có tiếng phán bảo: “Sự tha thứ của Chúa dành cho một tội
nhân sám hối còn dễ hơn một cây gậy trổ bông. Một người có tội biết ăn năn trở lại
được tha thứ còn dễ dàng hơn là một kẻ kiêu hãnh.”
20. Bắt đầu từ lòng sám hối
Tác giả cuốn Đắc Nhân Tâm kể lại kinh nghiệm của một vị giám đốc
ngân hàng khá nổi tiếng ở Mỹ. Nhà kinh doanh này luôn mang theo cuốn sổ tay và
ghi lại những việc xảy ra trong ngày. Cuối tuần, sau cơm tối, ông vào phòng
đóng cửa lại và mở ra đọc. Trước mỗi sự kiện ông luôn suy nghĩ và tự hỏi: Lần
đó tôi thành công nhờ đâu? Có thể khéo léo hơn được nữa không? Trong việc ấy,
tôi sai ở chỗ nào và hậu quả ra sao? Mỗi khi nhận ra sai lầm, tôi rất xấu hổ và
cố gắng rút ra bài học cho lần sau. Nhờ vậy, càng lớn tuổi tôi càng ít sai lầm
và việc kinh doanh phát đạt hơn.
Nếu một người vì muốn thuận lợi cho công việc đã biết nhìn lại,
để nhận ra những khuyết điểm và sửa sai, ngõ hầu có thể thành đạt hơn trong
tương lai, vậy muốn sống cuộc đời có ý nghĩa nhất, chúng ta cần phải làm gì?
Kinh Thánh cho chúng ta những chỉ dẫn: Thánh Gioan tiền hô đã
kêu mời dân chúng hoán cải để có thể đón gặp Đấng muôn dân đang trông đợi (Mt
3, 2). Còn Đức Giêsu, khi khởi đầu sứ vụ cứu thế, Người kêu gọi: “Hãy sám hối,
vì Nước Trời đã gần đến.” (Mt 4, 17) Trước khi về trời, Đức Giêsu đã căn dặn
các tông đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ
Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24, 47)
21. Niềm tin là ánh sáng chiếu soi trong bóng tối
Cuối thập niên 1970, Darryl Stingley, một cầu thủ thuộc hàng đầu
thế giới, là thành viên của đội bóng New England Patriot. Một buổi chiều tháng
tám nọ, trong một trận đấu trước mùa bóng, Daryl đã bị cầu thủ Jack Tatum của đội
Oakland Raiders chơi xấu rất nặng. Cú va chạm mạnh vào xương do Tatum gây ra
khíên chàng vận động viên 27 tuổi đời này bị tê liệt từ ngực trở xuống. Hiện
nay Darryl chỉ có thể sử dụng được một bàn tay và suốt ngày phải quanh quẩn với
chiếc xe lăn chạy bằng điện.
Ðối với Darryl Stingley, chiều hôm tháng tám ấy, ánh sáng đã tắt
lịm rồi. Thế nhưng, Darryl không bao giờ đầu hàng. Chàng biết rằng đằng kia vẫn
có một người có thể bật ánh sáng lên trở lại. Chàng tin vào lời tiên tri Isaia:
"Dân chúng đang sống trong tăm tối sẽ nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng
đó sẽ chiếu dọi trên những kẻ đang sống trong tối tăm chết chóc.” Và khi Ánh
sáng đã bùng lên trở lại cho Darryl thì Ánh sáng ấy lại rạng rỡ hơn bao giờ hết.
Darryl hiện vẫn phải ngồi xe lăn và không bước bộ được nhưng chàng đã có được một
tầm nhìn hoàn toàn mới mẻ về chính mình và cuộc sống.
Trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Newsweek Darryl nhấn mạnh rằng
về một số phương diện, cuộc sống hiện nay của chàng tốt đẹp hơn lúc trước.
Chàng nói về những ngày còn chơi bóng với đội Patriots như sau: "Tôi đã từng
có một thị kiến lờ mờ. Tôi chỉ muốn được trở thành một vận động viên giỏi hết sức
có thể, nên rất nhiều sự việc vào thời gian đó đã bị lơ là bỏ qua. Giờ đây tôi
đã trở về lại với dân chúng."
Stingley còn nói rõ hơn với phóng viên tờ Chicago Tribune rằng tấn
thảm kịch đã biến cuộc sống của chàng nên tốt hơn một cách mới mẻ lạ lùng:
"Ðối với tôi đây là một cuộc tái sinh. Không chỉ về mặt thể lý mà còn về mặt
tâm linh nữa... Hiện nay, tôi đã thực sự tìm được nhiều ý nghĩa và mục đích hơn
cho cuộc sống hơn bất cứ thời điểm nào trước đây.”
22. Ánh sáng dẫn đường
Có một bài ca phổ biến do Ðức Hồng Y Newman sáng tác. Bài ca này
diễn tả cuộc tìm kiếm chính lộ của Ngài để bước theo Chúa Giêsu. Hồng Y Newman
viết bài ca này khi còn là một thanh niên từ Ý vượt biển trở về cố hương của
Ngài là Anh Quốc. Trong lúc con tàu nán lại ở Sicile, chàng trai Newman bị ngã
bệnh suýt chết. Trong thời gian bình phục, chàng đã viết lại những dòng sau:
Ôi ánh sáng yêu thương,
Xin dẫn con đi giữa cơn tăm tối
mịt mùng.
Xin hãy dẫn dắt con,
Vì bóng đêm quá dầy đặc,
Mà con lại đang xa nhà.
Xin hãy dẫn dắt con,
Hãy điều khiển bước chân con.
Con không xin đựơc trông thấy
Cảnh tượng từ đằng xa,
Mà chỉ xin được dẫn đi từng bước,
Từng bước một thôi!
23. Trên mọi nẻo đường cần có ánh sáng
Một người canh giữ ngọn đèn biển tại Calais đang kể về độ sáng của
ngọn đèn. Theo ông, ánh sáng của nó có thể thấy được từ khoảng mười dặm Anh đường
biển. Một du khách hỏi ông:
- Nếu đèn tình cờ bị tắt thì sao?
- Không bao giờ! Không thể được!
Ông ta la lên, kinh hãi vì ý tưởng đó, và chỉ tay ra ngoài biển:
- Thưa ông, ngoài kia, ở nơi chúng ta không thấy được, có những
con tàu đang đi đến mọi miền thế giới. Nếu tối nay, ngọn hải đăng bị tắt đi thì
trong vòng sáu tháng tôi sẽ nhận một lá thư đến từ Ấn độ, Mỹ châu, hay từ một
nơi mà tôi chưa từng nghe nói đến. Lá thư đó viết ‘vào đêm đó, giờ đó, ngọn hải
đăng Calais lu mờ, người trực bỏ bê trách nhiệm, tàu biển gặp nguy hiểm.’ Thưa
ông, có những lúc trong đêm tối, thời tiết bão tố, tôi nhìn ra biển, và cảm thấy
như những đôi mắt của thế giới đang nhìn vào ngọn đèn của tôi.
Bị lụi tắt? Hay mờ nhạt đi? Không bao giờ!
(D. Williamson)
Sẽ ra sao nếu một chiếc tàu đang vào bờ giữa đêm tối mù mịt mà
không có đèn biển? Sẽ ra sao nếu trong hành trình cuộc đời, người ta giải quyết
các vấn đề mà không có niềm tin?
Trên mọi nẻo đường, cần có ánh sáng!
24. Ai tìm thì sẽ gặp
Cha Burns là chủ chăn mới của một ngôi nhà thờ nhỏ ở Kavirando,
Phi châu. Chủ nhật đầu tiên ngài thấy một người què lết ra giữa lối đi của nhà
thờ để tìm đường ra sau giờ lễ. Một tháng sau, cha lại thấy anh xuất hiện trong
nhà thờ. Sau thánh lễ, cha hỏi thăm anh:
- Chào anh bạn, có lẽ tôi đã thấy anh một lần rồi.
- Con tên là Joseph, anh mỉm cười.
- Thấy anh đi lễ, tôi mừng lắm, nhà anh có gần đây không?
- Con ở làng bên cạnh, cách đây khoảng 40 km.
- Anh phải lết 40 km để đi dự lễ ư?
- Vâng, thưa cha! Rất tiếc là con không thể dự lễ mỗi tuần. Mỗi
tháng một lần là hết sức con rồi, đường xa mệt lắm cha ạ!
- Lần sau, anh cứ ở nhà, cha Burns đề nghị, tôi sẽ qua làng anh
dâng thánh lễ, mỗi tháng một lần. Anh có thể dự lễ và rước lễ tại nhà. Có lẽ một
vài người bạn bè không công giáo của anh cũng thích đến đó với anh.
Từ đó, ngôi nhà tranh nhỏ bé của Joseph trở thành nhà cầu nguyện.
Chúa Giêsu đến ngự ở đó. Nhiều bạn bè Joseph đến tham dự thánh lễ. Dần dà họ
xây được một nhà nguyện xinh xắn và một linh mục được phái đến với họ. Đôi lúc
Joseph nghĩ trong lòng rằng chính nhờ những buổi đi lễ cực nhọc ở Kavirando mà
hôm nay Chúa đã ngự ở đây!
25. Từ bỏ tất cả để được tất cả
Nhà tâm lý Abraham Maslow có một giải đáp lý thú cho câu hỏi tại
sao có quá ít người dám “từ bỏ tất cả” để đi theo một ước mơ hoặc săn đuổi một
mục đích cao thượng. Ông nói rằng họ sợ đạt được điều họ có thể. Họ hân hoan vì
khả năng của họ, nhưng cũng rùng mình vì nó.
Tôi đã đáp trả thế nào cho suy nghĩ muốn bước đi trong niềm tin
và gắn bó với Chúa Giêsu? Tôi đã phản ứng ra sao với ý tưởng dấn thân vào một mục
đích cao cả với Chúa Giêsu?
Hiện tại là món quà Chúa trao tặng tôi. Tương lai là món quà tôi
dâng lên Chúa.
26. Tình yêu chiếu sáng và lòng vị kỷ chắn sáng
Điêu khắc gia đại tài Michelangelo thường gắn một cây nến nhỏ
trên nón mình để cái bóng của ông không đổ lên bức tranh đang vẽ, lên pho tượng
đang đắp. Điều đó làm cho F.L.McKean suy nghĩ: “chúng ta cũng phải hết sức cẩn
thận, đừng để cho cái bóng của mình, những kẻ tìm kiếm tư lợi, đổ trên điều mà
chúng ta đang làm cho Chúa Kitô.”
Đúng thế, thập giá Đức Kitô cũng có thể ra vô hiệu khi bị che chắn
bởi bóng tối của lòng vị kỷ nơi các Kitô hữu, tình yêu tinh tuyền của Đức Kitô
bị lu mờ bởi sự chia rẽ giữa những kẻ tuyên xưng niềm tin vào Ngài. Vì thế mà
thánh Phaolô tha thiết nài xin: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng
hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi
ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2-4).
“Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết ở nhiệt thành, biết mến Chúa
cho xứng đáng, biết thi ân mà không xá kể, biết chiến đấu mà không sợ đau
thương, biết hoạt động mà không tìm an nghỉ. Tận tình với chức vụ mà không mong
phần thưởng nào khác, một biết mình làm theo ý Chúa luôn. Amen” (thánh Ignatiô
Loyôla)
27. Bác sĩ để quên
Paddy đang hồi phục sau ca mổ, ba bạn thân ghé thăm để khích lệ
anh. Ngoài chuyện thăm hỏi, họ kể cho anh về những ca mổ họ nghe biết.
Một người nói: “Tôi nghe có một ca mổ họ để quên cái gạc trong bụng
bệnh nhân và phải mổ để lấy ra.”
Người khác kể về ca mổ bác sĩ để quên kéo bên trong và bệnh nhân
phải mổ lần nữa để lấy ra. Vừa nói xong, bác sĩ thực hiện ca mổ cho Paddy thò đầu
vào cửa gọi lớn: “Có ai thấy mũ của tôi không?” Và Paddy ngất đi.
Một lần xưng thú không chân thành giống như một ca mổ tồi tệ. Một
vài thứ bị để quên và phải thực hiện một ca mổ khác để lấy ra.
CNTN 3B - NHỮNG KẺ
CHÀI LƯỚI NGƯỜI
Lời Chúa: Mc 1, 14-20
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin
Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần
đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm.” Đang lúc đi dọc theo bờ biển
Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là
những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho
các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người.”
Lập tức các ông bỏ lưới theo Người. Đi xa hơn một chút nữa, Người
thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người
liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người
làm công, và đi theo Người. Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Chàng trị trưởng trẻ
Tin tức trên báo chí (theo VietCatholic News ngày 22/9/2000) về
chàng thị trưởng đẹp trai của thành phố Ficarra, mới 34 tuổi, đã lặng lẽ từ nhiệm
để đi tu, đã gây chấn động toàn nước Ý.
Hôm 20/09/2000, Antonio Mancuso đã chính thức đến trình diện tại
một dòng tu ở Milan, bắt đầu cuộc đời một tu sĩ. Antonio cho biết anh đã thấy
mình có ơn gọi linh mục từ ngày còn là cậu bé giúp lễ, đã suy nghĩ trong bao
năm về vấn đề này và trằn trọc rất nhiều sau khi theo dõi các bài thuyết giảng
của Đức Thánh Cha trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới Lần Thứ 15. Antonio bỏ lại
sau mình chức vụ thị trưởng, căn nhà do cha anh để lại, một mẹ già, hai anh em,
và thành phố Ficarra xinh đẹp với 2.000 cư dân dưới quyền.
Quyền thị trưởng Franco Tumeo đã xác nhận quyết định của Antonio
với thông tấn xã ANSA. Ông nói: "Quyết định mà thị trưởng chúng ta đã chọn
cần phải được hoàn toàn tôn trọng và hy vọng rằng không ai lợi dụng chuyện đó.
Chẳng cần phải nói, chúng ta cầu chúc cho Antonio Mancuso những điều tốt đẹp nhất
với xác tín rằng quyết định của anh là hoa trái của những suy nghĩ trong nhiều
năm qua." Quyết định từ nhiệm của anh sẽ khiến cho thành phố Ficarra phải
bầu cử lại sớm hơn, có lẽ vào tháng 6/2001. Tạm thời một ủy ban đặc biệt sẽ
thay thế công việc của nguyên thị trưởng. Với bằng chính trị học ưu hạng,
Antonio đang là một ngôi sao sáng chói của đảng Dân Chủ Thiên Chúa giáo Ý.
Anh đã là thị trưởng trẻ nhất của quốc gia này, lúc mới 27 tuổi,
từ 1992 đến cuối tháng 9 vừa qua. Ngày 14/09/2000, một tháng kể từ Đại Hội Giới
Trẻ Thế Giới Lần Thứ 15, sau nhiều đêm không ngủ, Antonio đã từ giã tòa thị trưởng
chẳng nói với ai một lời nào. Thư từ nhiệm đã được gởi đến văn phòng 2 ngày sau
đó qua đường bưu điện.
2. Sống và chia sẻ niềm tin
Đức Tổng Giám mục Helder Camara của Braxin có lần đã chia sẻ
kinh nghiệm như sau:
Tôi có người anh lớn hơn tôi 5 tuổi, đã rửa tội từ lúc mới sinh,
và từng theo học nhiều năm trong trường dòng. Nhưng lớn lên anh bắt đầu bê trễ,
bỏ đọc kinh, bỏ dự lễ, và cuối cùng bỏ… đạo.
Sau khi tôi thụ phong linh mục, anh cùng với tôi sống chung với
người chị độc thân. Mỗi lần biết tôi sắp đi giảng tĩnh tâm, anh lại hỏi:
- Hôm nay chú nói về đề tài gì?
Tôi lại có dịp giải thích cho anh những điều mình sắp giảng. Anh
chỉ lắng nghe, không bình luận.
Tám năm sau, anh bị mắc căn bệnh hiểm nghèo. Biết mình sắp chết,
anh gọi tôi lại và nói:
- Lâu nay tôi để ý quan sát, thấy không có sự cách biệt giữa lời
chú giảng và việc chú làm. Vậy xin hỏi chú, tôi có thể dựa vào Đức tin của Chúa
để rước lễ không?
Tôi trả lời:
- Em tin là Chúa lòng lành vô cùng sẽ đoái thương anh.
Bấy giờ anh tôi nói trong nỗi xúc động:
- Ngay bây giờ thì chưa được đâu, vì tôi chưa xưng tội.
Tôi định tìm cho anh một linh mục khác nhưng anh đòi xưng tội với
tôi. Sau khi rước lễ xong, anh thều thào trong nước mắt.
- Tôi tin, tôi tin, chú ạ. Bây giờ tôi tin không phải dựa vào đức
tin của chú, mà tôi thực sự xác tín rằng Chúa yêu thương tôi!
Ít phút sau đó anh đã ra đi trong bình an, thanh thản.
3. Tôi đang làm việc cho ai
Chuyện này kể về một vị rabbi thánh thiện. Trong tỉnh của ông, những
nhà giàu ở một vùng biệt lập nên phải thuê người canh gác ban đêm.
Một đêm kia vị rabbi trên đường về nhà thì gặp một người gác dan
đang đi tới đi lui. Vị rabbi hỏi: "Anh đang làm việc cho ai vậy?" Người
gác dan không trả lời mà hỏi lại: "Thế ông đang làm cho ai vậy?" Câu
hỏi quá bất ngờ, xưa nay vị rabbi chưa hề nghĩ đến. Vì thế ông bối rối đáp
"Tôi không làm việc cho ai cả." Nhưng trả lời xong ông còn bối rối
thêm. Thế là hai người cứ im lặng đi tới đi lui bên nhau. Một lúc sau, vị Rabbi
hỏi người gác dan: "Anh có muốn làm việc cho to không?" Người gác dan
cũng đáp lại bằng một câu hỏi: "Nhưng ông mướn tôi để làm gì?" Vị
rabbi trả lời: "Để thỉnh thoảng ông lại hỏi tôi câu hồi này: "Ông
đang làm việc cho ai vậy?"
Đó cũng là câu chúng ta phải thỉnh thoảng hỏi chính mình:
"Tôi đang làm việc cho ai vậy?" (Flor McCarthy)
4. Dòng suối vọng từ xa.
Một nhà thám hiểm nọ, lạc mất giữa sa mạc, đi từ đụn cát này
sang cồn cát nọ, nhìn hết hướng này sang hướng kia, nơi đâu cũng chỉ thấy toàn
là cát với cát. Lê gót trong tuyệt vọng, tình cờ, chân ông vấp phải một cây
khô, ông vấp ngã và nằm vùi trên gốc cây, ông không còn đủ sức để đứng lên, ông
không còn đủ sức để chiến đấu và ông cũng không còn chút hy vọng sống sót nào.
Trong tư thế bất động ấy, nhà thám hiểm bỗng ý thức được sự
thinh lặng của sa mạc: bốn bề chỉ có thinh lặng. Thình lình, ông ngẩng đầu lên,
trong sự thinh lặng tuyệt đối của sa mạc, ông bỗng nghe được như có tiếng thì
thào yếu ớt vọng lại bên tai. Dồn tất cả sự chú ý, nhà thám hiểm mới nhận thức:
đó là tiếng róc rách chảy của một dòng suối từ xa vọng lại. Như sống lại từ cõi
chết, ông định hướng nơi xuất phát của tiếng suối, rồi dùng nguồn năng lực còn
sót lại, ông cố gắng lê lết cho đến khi tìm được dòng suối.
Cuộc sống có quá nhiều bận rộn và ồn ào, khiến chúng ta không
nghe được tiếng nói và nhận ra sự hiện diện của Chúa. Có thinh lặng từ cõi lòng
chúng ta mới nghe được tiếng mời gọi thì thầm của Chúa trong từng giây phút của
cuộc sống.
5. Thánh Phanxicô Borgia.
Phanxicô Borgia
(1510-1572) được cắt cử tháp tùng thi hài của hoàng hậu Isabelle, một mỹ nhân sắc
nước hương trời, đến chỗ an táng của hoàng tộc. Trước khi hạ huyệt, quan tài được
mở ra để được xác nhận. Cảnh tượng đã làm đảo lộn cuộc đời chàng. Phanxicô từ
biệt triều đình, vào dòng Tên, trở nên vị thánh. Tổng quyền thứ ba của dòng.
Ngài nói:”Từ nay mọi danh vọng và lạc thú trần gian chẳng dính dáng gì đến
Phanxicô nữa”! Phanxicô Borgia đã nghe một tiếng gọi từ bên trong.
Ngày hôm nay, trên khắp mọi
nẻo đường trần gian, chúng ta vẫn có thể giáp mặt với Đức Giêsu khi Ngài đi
ngang qua giữa chúng ta, như xưa Ngài đãõ “đi ngang qua” giữa các môn đệ bên bờ
sông Giorđan.
Đức Giêsu không bao giờ
ép uổng, không bao giờ giăng bẫy rình bắt ai. Ngài chẳng hề làm áp lực, cũng
không tìm cách mê hoặc dụ dỗ người nào. Nguời ta vẫn có thể đi sát bên Ngài mà
không hay biết, vẫn có thể thấy Ngài mà không buồn nhìn theo. Có khi chúng ta
phải cần đến cái nhìn hay lời khuyên của một ai khác, của ai đó thì thầm bên
tai “Đây là chiên Thiên Chúa." Tuy nhiên chỉ có người nào biết tìm kiếm và
khát khao chân lý và tình yêu thật mới có thể nắm bắt, mới có thể lay động và lắng
nghe (Fiches dominicales B, tr 66).
6. Sức mạnh biến đổi của tình yêu
Ngày kia có một cụ già, thật già, già đến nỗi cụ không thể nhớ
những ngày tuổi trẻ của cụ nữa. Hình như cụ thực sự chưa hề biết tuổi trẻ là
gì. Trong đời sống của cụ, cụ chưa hề biết suy nghĩ, cũng không biết khóc.
Không gì trên trần gian này có thể làm cho cụ ngạc nhiên hoặc cụ phật lòng. Cụ
sống những ngày lặng lẽ trôi qua một cách buồn nản và nhàn rỗi bên trong một
cái lều nhỏ dựng ở đầu làng. Cụ thường nhìn mọi sự với cặp mắt đầy dửng dưng.
Tuy nhiên, những người trong làng lại kính trọng cụ như người khôn ngoan và thường
đến xin cụ những lời khuyên bảo.
Thanh niên trong làng hỏi cụ: phải làm gì để được hạnh phúc?
Cụ đáp:
- Hạnh phúc chỉ là phát minh của người khờ dại.
Cả những người có tâm hồn cao thượng, có thiện chí muốn phục vụ
người khác cũng dừng bước hỏi cụ:
- Phải làm cách nào để hiến thân phục vụ cho mọi người?
Cụ trả lời:
- Hiến thân phục vụ cho người khác chỉ là một việc điên rồ vô
ích.
Một phụ huynh đến hỏi:
- Phải làm thế nào để giáo dục con cái đi để chúng biết đi trên
đường thánh thiện?
Cụ trả lời cách mỉa mai:
- Con cái chẳng khác gì như con rắn độc, phải coi chừng khỏi bị
rắn cắn.
Ngày này qua ngày khác, những lời khuyên bảo đầy vẻ bi quan của
cụ như những mũi thuốc độc ngấm vào tâm trí mọi người già trẻ trong làng. Đời sống
của dân làng bị chôn vùi trong bầu khí bi quan nghẹt thở đó. Thế rồi, một Thiên
Chúa đoái nhìn tới cụ với cặp mắt đầy thương xót và thầm nhủ
- Thật là tội nghiệp cho cụ già suốt đời không được ai yêu
thương
Rồi Chúa gọi một em bé đến và bảo:
- Hãy đi đến tặng cho cụ già một cái hôn đầy tình thương.
Em bé vui vẻ chạy đến túp lều xiêu vẹo ở đầu làng, ôm cổ cụ già
và đặt lên má cụ một cái hôn đầy âu yếm. Lần đầu tiên trong đời, cụ già thấy cảm
thấy xúc động. Nụ hôn hồn nhiên của em bé đã làm cho tâm hồn chai đá và dửng
dưng của cụ rung lên. Trong chốc lát, mắt cụ bỗng sáng lên và thay đổi cái nhìn
về mọi sự. Sau cùng, cụ đã cảm nghiệm được thề nào là niềm vui, hạnh phúc và thế
nào là lạc quan. Với niềm vui sướng đó, cụ già tắt thở trong nụ cười và ánh mắt
còn hướng về em bé đã ban tặng cụ nụ hôn, nụ hôn có sức biến đổi đời sống cụ.
Amen.
7. Tình yêu là lẽ sống
Vào một buổi chiều năm 1953 các ký giả và một số nhân viên chính
phủ tụ tập nhau lại tại một nhà ga xe lửa ở Chicago để chào mừng người vừa được
giải thưởng Hòa bình Nobel năm đó trở về quê quán của mình.
Người vừa xuống khỏi xe là một người đàn ông to lớn, tóc ngắn,
chòm râu cắt rất gọn ghẽ.
Các máy hình chớp liên hồi. Còn các nhân vật cao cấp của thành
phố thì mở rộng vòng tay chuẩn bị đón chào người con yêu quí của quê hương.
Người được giải Nobel đưa tay chào mọi người và rồi ngay lâp tức
ông đưa mắt hướng về hướng bên phải của sân ga. Sau đó ông xin kiếu mọi mọi người
vài phút rồi đi thẳng về hướng đó. Mọi người đều nghĩ là chắc ông để quên một
cái gì chăng.
Ông băng qua đám đông đi thẳng đến chỗ một người đàn bà lớn tuổi
đang khệ nệ với hai cái "valises" nặng hai bên. Ông giơ tay đỡ lấy một
cái, mỉm cười với bà và dẫn bà ra một chiếc xe búyt gần đó. Sau khi giúp người
đàn bà lên xe xong, ông chúc bà thượng lộ bình an. Rồi quay lại với những người
đang chờ chào đón ông, ông nói với họ: "Xin lỗi quí vị vì đã bắt quí vị phải
chờ đợi"
Người mà tôi vừa nói đó
là Bác sĩ Albert Schweitzer, một nhà truyền giáo nổi tiếng đã dành cả cuộc đời
của mình để phục vụ những người nghèo tại Phi châu. Chính vì những phục vụ vô vị
lợi và cao cả của ông mà ủy ban Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel Hoà
bình năm đó cho Ông.
Chứng kiến cử chỉ bình thường nhưng cũng rất cao thượng đó, một
người trong ban tổ chức lễ đón tiếp đã nói với các ký giả như thế này "Đây
là lần đầu tiên tôi thấy một bài giảng biết đi."
8. Ai tìm thì sẽ gặp
John Henry Newman đến Rôma vì muốn minh xác Chúa Giêsu có mời gọi
ông theo Ngài như một Kitô hữu hay không?
Một ngày kia trên đường trở về, ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin
hướng dẫn con. Con không thể tìm được đường đi. Xin hướng dẫn con, ôi Ánh Sáng
dịu dàng!"
Những lời này đem lại cho ông sự an bình, đến nỗi ông lấy bút và
bắt đầu viết: Ông đã viết lời cho một thánh ca nổi tiếng: “Xin hướng dẫn con,
ôi Ánh Sáng dịu dàng."
Trở về Anh, ông đã gia nhập đạo Công giáo và trở thành một trong
những người lãnh đạo vĩ đại nhất. Đó là Đức Hồng Y Newman.
Tôi có thể nhớ lại đã bao giờ tôi đặt tất cả niềm tin vào Chúa,
để Ngài dẫn tôi qua tăm tối mịt mùng như Newman chưa?
“Xin hướng dẫn con, ôi Ánh Sáng dịu dàng. Đêm thì tăm tối, mà
con lại ở xa quê. Xin hướng dẫn con… Con không đòi hỏi được thấy. Bước đường
còn xa, nhưng chỉ một lời hứa đã đủ cho con” (John Henry Newman) (Trích “Viễn
tượng 2000”).
9. Chúa giêsu là bước ngoặt cho lịch sử một cuộc đời
Tháng chín năm 1862 cuộc Nam Bắc phân tranh của Hoa Kỳ đã dứt
khoát nghiêng thế thuận lợi về cho quân đội phương Nam. Tinh thần quân đội
phương Bắc rơi vào mức thấp nhất của cuộc chiến. Một số rất lớn các toán quân
liên bang rút lui về Virginia. Các nhà lãnh đạo địa phương bắt đau lo sợ điều tệ
hại nhất sắp xảy ra. Họ không còn phương cách nào để đảo ngược tình thế và biến
những toán quân bị đánh te tua, kiệt sức trở thành một đạo quân hữu dụng trở lại.
Chỉ có một vị tướng có thể làm nên được phép lạ này. Đó là tướng
Mc.Clellan. Ông đã huấn luyện binh lính chiến đấu, họ yêu qúi và khâm phục ông.
Thế nhưng bộ quốc phòng đã không thấy điều này; cả đến nội các chính phủ cũng
chả nhận thấy ngoại trừ một mình Tổng Thống Lincoln. May mắn thay, Lincoln đã
phớt lờ những lời phản đối của các cố vấn và đặt Mc.Clellan trở lại vị trí chỉ
huy. Lincoln ra lệnh cho ông xuống Virginia để tặng cho các binh sĩ ấy điều mà
không người nào khac trên mặt đất có thể trao cho họ, đó là: Nhiệt tình, sức mạnh
và Hy vọng. Mc.Clellan chấp nhận nhiệm vụ chỉ huy. Ông leo lên con ô mã to lớn
và phóng xuống những nẻo đường cát bụi ở vùng Virginia.
Quả là khó giải thích điều xảy ra tiếp sau đó. Các lãnh tụ
phương Bắc chẳng thể giải thích được. Các binh lính phương Bắc cũng chẳng thể
giải thích được. Ngay cả Mc.Clellan cũng chẳng thể giải thích được. Mc.Clellan
gặp các lực lượng Liên Bang đang rút quân. Ông giơ nón lên cao vẫy chào và hô
lên những khẩu hiệu cổ xuý lòng can đảm. Nhìn thấy chủ tướng quí yêu, đám lính
mệt mỏi bắt đầu bình tâm lại: Họ bắt đầu cảm giác một cách kỳ lạ rằng kể từ bây
giờ mọi sự sẽ đổi khác. Và giờ đây mọi sự đều có thể ổn định trở lại.
Bây giờ chúng ta hãy xem Bruce Catton một sử gia danh tiếng viết
về cuộc nội chiến đã mô tả nỗi phấn khích ngày càng gia tăng khi có tin
Mc.Clellan lại trở về vị trí chỉ huy như sau: “Từ dặm này đến dặm nọ suốt con
đường vùng Virginia những toán quân đi đứng chuệnh choạng bắt đầu hồi sinh, họ
ném mũ nón, túi vải lên không trung và hò hét cho đến khi khan cả cổ… bởi vì họ
đa nhìn thấy vị anh hùng lanh lợi nhỏ con ấy đang cỡi ngựa xuất hiện dưới ánh
sáng sao màu tím. Một cách nào đó, đây chính là bước ngoặt của cuộc chiến…
không ai có thể cắt nghĩa được điều ấy cho đầy đủ… (Trích trong cuốn this
Hallowed Ground: vùng đất Thánh này)
Nhưng dẫu sao, đó chính là điều mà Lincoln và phương Bắc đang cần
và lịch sử đã mãi mãi thay đổi nhờ điều ấy.
Câu chuyện của tướng Mc Clellan cho thấy nguời lãnh đạo ảnh hưởng
đến tinh thần kẻ dưới mãnh liệt thế nào. Ralph Emerson quả quyết: “Điếu cần thiết
cốt yếu trong cuộc sống là gặp được một ai đó có khả năng giúp ta làm những gì
ta có thể làm."
Đấy là công việc của Chúa Giêsu qua Tin mừng hôm nay. Chẳng những
Chúa Giêsu tạo nguồn hứng khởi cho ta, mà Ngài còn làm hơn thế nữa. Ngài có thể
ngự vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực hiện tiềm năng sung mãn nhất của mình.
10. Tiếng gọi của tình yêu
Văn hào Montalembert có một cô con gái dâng mình làm nữ tu. Ông
viết: “Người tình ấy là ai, chết treo trên cây thập giá mà có thể lôi kéo như vậy?
Người tình ấy là ai mà có một sức hấp dẫn không cưỡng lại được, như một con
chim mồi sà xuống và cuốn đi? Phải chăng đó là một người? Không. Đó là Thiên
Chúa. Đó là bí ẩn, đó là chìa khóa đưa vào cõi thâm sâu. Chỉ có Thiên Chúa mới
có thể thành công và đòi hỏi một cuộc hy sinh như thế.”
Bà Thánh Jeanne-Francoise Chantal (1572-1641) là một bà mẹ đạo đức.
Sau khi chồng qua đời, bà lo nuôi dưỡng, giáo dục và tác thành cho bốn con, có
nơi có chốn tự lập được. Bà nghe tiếng Chúa gọi sống đời tận hiến, giúp đỡ người
nghèo. Nhưng ngày bà quyết định ra đi thì các con ngăn cản và nằm ngang chận cửa.
Nước mắt tràn trụa, Bà nói: “Dầu sao tôi cũng là một Bà Mẹ." Nhưng tình
thương Chúa mạnh hơn tình mẫu tử, Bà bước qua con và đi Annecy, lập nên Dòng
Thăm Viếng, tháng 6 năm 1610.
Họ ra đi theo tiếng gọi của Chúa, nhưng đối lại, Chúa hứa ban
cho họ những gì? Thật lạ lùng! Ngài không hứa ban cho họ một cuộc sống dễ dãi đầy
tiện nghi vì chính Ngài cũng “Không có một hòn đá gối đầu!” Ngài không hứa ban
chức tước, đường hoạn lộ tiến thân, vì Ngài truyền dạy phải chọn chỗ tốt nhất,
không được tự gọi là Thầy, là Cha mà chỉ là tôi tớ. Ngài không hứa ban cho một
cuộc sống nhàn hạ, vì “ai đã ra tay cầm cày, thì không được ngó lui.” Vậy, Ngài
hứa gì? Thưa: Một đời sống dấn thân phục vụ các linh hồn, một đời sống vất vả
đi “chài lưới người”, bắt từng cá nhân, từng tập thể.
11. Tin Mừng của sám hối
Trong sưu tập về các thánh ẩn tu trong sa mạc, có kể giai thoại
như sau: Có hai tội nhân quyết tâm vào sa mạc để ăn chay đền tội. Nguyên một
năm ròng rã, mỗi người giam mình trong một túp lều riêng, ngày đêm ăn chay, cầu
nguyện và đánh tội. Ngày ngày các tu sĩ của cộng đoàn nọ đem thức ăn đến tận
căn lều riêng cho từng người. Sau đúng một năm thử thách, các tu sĩ nhận thấy
có sự khác biệt giữa hai người: một người thì vui vẻ, khỏe mạnh; một người thì ốm
o buồn phiền. Cả hai đến trình diện trước Bề Trên cộng đoàn để chờ xem họ có xứng
đáng được gia nhập cộng đoàn hay không. Khi được hỏi suốt một năm qua, họ đã
suy niệm về những gì.
Người ốm o buồn sầu cho biết:
– Trong năm qua, ngày ngày tôi nhớ lại những tội đã phạm, từng
giây từng phút tôi nhớ đến những hình phạt sẽ gánh chịu, tôi sợ hãi đến mất ăn
mất ngủ.
Đến lượt mình, người vui vẻ khỏe mạnh trả lời:
– Suốt một năm qua, từng giây từng phút, tôi hằng cảm tạ Chúa vì
đã tha thứ cho tôi: tôi luôn nghĩ tới tình yêu của Ngài.
Các tu sĩ trong cộng đoàn rất cảm kích trước tâm tình của người
vui tươi khỏe mạnh vì lòng sám hối của anh đã biến thành lời ca cảm tạ tri ân
tình yêu Chúa.
Sám hối là khởi đầu của sự nên thánh. Dĩ nhiên, không phải tất cả
những vị thánh đều bắt buộc phải là những tội nhân, nhưng tất cả đều phải bắt đầu
với ý thức về tội lỗi và sự yếu hèn của mình. Càng ý thức về con người tội lỗi,
bất toàn của mình, con người càng cảm nhận được tình yêu của Chúa. Đó là cảm nhận
của vua Đavít, của thánh Phêrô, của thánh Augustinô và của tất cả các vị đại
thánh trong lịch sử Giáo Hội.
Lời đầu tiên Chúa Giêsu dùng để khai mạc sứ mệnh của Ngài chính
là: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."
12. Đôi tay của Chúa
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và sự tin tưởng
của người dân trong làng vừa mới được giải phóng khỏi tay quân đội Đức quốc xã,
toán lính thuộc lực lượng đồng minh cố gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng
Chúa Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm
sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như toàn bức
tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là không thể nào hàn gắn lại được,
vì các mảnh vỡ quá vụn nát. Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ
dở công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy hai khúc gỗ gắn
vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ bất
hủ, không những đánh động được tâm hồn của những người dân trong làng, mà còn
thu hút nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc tận mắt hàng chữ đầy ý nghĩa.
Anh chị em có đoán được hàng chữ này không? Đó là: “Chính bạn là đôi tay của
Chúa."
Thiên Chúa cần con người. Chúa Giêsu cần chúng ta như đôi tay nối
dài của Ngài.
13. Sức mạnh của tình yêu
Cựu Hoàng Edward VIII của Anh Quốc, vào năm 1936 khi còn đang
trên ngai Hoàng Đế nước Anh, bỗng ông si mê một thiếu phụ thuộc hàng thứ dân,
đã một lần bà ly dị chồng.
Theo luật Anh Quốc, thì nhà Vua không được phép cưới một người
đàn bà như thế, vì là điều xỉ nhục cho quốc thể. Bởi đó, nhà Vua phải chọn một
trong hai con đường:
Phải bỏ mối si tình đó, nếu còn muốn là Hoàng Đế cai trị Anh Quốc.
Nếu muốn được yêu đương tự do thì phải bỏ ngôi vị Hoàng Đế, trở
thành một người thứ dân.
Chỉ vì muốn đáp tiếng gọi của ái tình, Cựu Hoàng Edward đã chọn
con đường thứ hai, trả lại cho Anh Quốc uy quyền và mọi danh vọng, để được cùng
người yêu sang Pháp Quốc, sống cuộc đời bình thường như mọi người công dân
khác.
Thế rồi, vào 1972 Cựu Hoàng Edward bỗng lâm bệnh nặng. Vừa được
tin này, Nữ Hoàng Elizabeth là cháu của ông đang cai trị Anh Quốc, vội vàng từ
Luân Đôn bay thẳng sang Paris, xin vào thăm bác của bà, nhưng Cựu Hoàng Edward
nhất mực từ chối. Sau vì Nữ Hoàng năn nỉ mãi, nên ông đã đòi một điều kiện là:
Nếu bà muốn được vào thăm ông, thì phải phong cho người yêu của ông trở thành
hàng công chúa, để người yêu của ông được nở mày nở mặt với đời, không còn bị
người đời mỉa mai là hạng đàn bà thứ dân.
Vì tình huyết nhục, Nữ Hoàng Elizabeth đành phải chấp nhận điều
kiện để ông được toại nguyện. Thế là ông vui sướng đến độ ngất xỉu, rồi chết
luôn ngày 28 tháng 5 năm 1972. Cựu Hoàng Edward VIII chỉ vì muốn được tự do
theo tiếng gọi của ái tình, ông đã đành bỏ ngai vàng Hoàng Đế và mọi vinh sang
danh vọng; nhưng rồi lại cũng chỉ vì muốn danh vọng cho người yêu của ông, mà
ông đã vui sướng đến chết đi vì danh vọng.
14. Sám hối là bước đầu tiên
“…Suốt năm năm qua, không đêm nào là em không tự sám hối về những
lỗi lầm mình đã gây ra, vì em tin rằng, sám hối cũng là một cách để nhắc nhở
mình không bao giờ được phạm phải sai lầm như thế nữa” và “em tin với những gì
mình đã nhận ra, cảm thấy, với quyết tâm trong lao động, cải tạo em sẽ có cơ hội
làm lại đời mình, có cơ hội để bù đắp lại những gì mình gây ra cho anh chị, vợ
con. Anh chị hãy tha thứ và cho em một cơ hội nữa anh chị nhé." Một lá thư
phạm nhân trại giam Thanh Lâm gửi cho gia đình bị hại, lời sám hối lỗi lầm của
mình đã gây ra, mong được tha thứ và quyết tâm sửa đổi và làm lại cuộc đời và
đã viết ra những dòng sám hối chân thành này.
Một bức thư khác, phạm nhân đã tâm sự: “…dù cháu có nói thế nào
đi nữa, hay có phải chịu hình phạt nghiêm khắc thế nào thì cũng không thể làm
vơi đi nỗi đau mà gia đình bác phải trải qua khi phải mất đi người con yêu quý,
nhưng trong thâm tâm cháu lúc nào cũng cầu mong nhận được sự tha thứ từ gia
đình của bác vì sự việc xảy ra…."
Lời xin lỗi không bao giờ là muộn. Cho dù, lời đó có được chấp
nhận để tha thứ hay không, thì còn phải tùy thuộc vào thời gian vết thương được
chữa lành. Nhưng ít ra, phạm nhân nói lên nỗi lòng của mình, và họ sẽ vơi đi nỗi
ray rứt, dằn xé của lương tâm, vì tội lỗi mình đã gây ra. Và gia đình bị hại cảm
thấy nhẹ đi phần nào sự căm phẫn và oan ức. Sống trên đời cần có một tấm lòng.
Một tấm lòng khoan dung, vị tha là tâm hồn cao thượng. Hơn nữa, lời xin lỗi là
một tiến trình sám hối của một con người biết nhìn ra sai lầm và tội lỗi của
mình. Đây cũng là chủ đề chính trong các bài đọc Lời Chúa hôm nay.
Khởi đi từ sách Giô-na, Thiên Chúa sai ông đến thành Ni-ni-vê,
kêu gọi dân chúng bỏ đường gian ác mà trở lại, ăn năn sám hối thì tại họa sẽ
không giáng xuống trên họ nữa. Và Chúa Giê-su bắt đầu sứ mạng rao giảng, Ngài
kêu gọi: ” Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đến gần. Anh em hãy sám hối
và tin Tin Mừng.” (Mc 1, 15)
15. Lời Chúa gọi hôm nay
Khi 15 tuổi, Margaret Mehren là một thành viên của phong trào
thanh thiếu niên Đức Quốc Xã ở Đức.
Sau cuộc chiến, cô tìm hiểu về sự diệt chủng trong các trại tập
trung của Đức Quốc Xã. Và cô thật sửng sốt. Bỗng dưng cô nhận ra rằng Hitler
không phải là một người lãnh đạo đáng vinh dự như cô nghĩ. Cô thề sẽ không bao giờ
tin vào người lớn.
Chính trong tâm trạng này mà Margaret cũng bắt đầu hồ nghi về
thái độ vô thần của cô. Một ngày kia cô cầu xin với Thiên Chúa, “Lạy Chúa, nếu
Ngài thực sự hiện diện, hãy cho con những dấu hiệu.”
Khoảng thời gian này, tình cờ cô đọc Kinh Thánh. Cô cố gắng đọc
một vài lần, nhưng chẳng tìm thấy ý nghĩa gì cả. Và rồi một đêm kia, cô lại cầm
quyển sách ấy lên. Lần này, nó thật có ý nghĩa! Sau này cô viết:
Điều gì đó đã xảy đến với tôi khi đọc những lời của Chúa Giêsu.
Tôi biết Người đang sống!… Tôi biết Người ở đó, tuy tôi không nghe và thấy gì cả.
Đức Giêsu thì có thật, thật hơn bất cứ gì chung quanh tôi – bàn
ghế, sách vở, chậu kiểng. Tôi không còn cô độc. Cuộc đời tôi không còn là một
ngõ cụt.
Một vài năm sau, khi 21 tuổi, Margaret trở nên một nữ tu dòng
Phanxicô. Ngày nay, 25 năm sau, chị là một nữ tu truyền giáo, dạy học sinh ở
Nam Phi Châu.
16. Việc mình thì quáng.
Thi sĩ La Fontaine, một nhà thơ ngụ ngôn của Pháp, có kể chuyện
như sau: Một hôm, chúa tể sơn lâm triệu tập cả triều thần nhà thú lại và phán bảo:
– Hiện nay tất cả chúng ta đều bị bệnh dịch hoành hành. Theo trẫm
xét thấy thì hẳn có người đã phạm tội xúc phạm đến Thượng Đế. Bởi vậy, theo ý
trẫm thì tất cả mọi người đều phải thú tội. Ai có tội nặng hơn cả thì phải làm
con vật hy sinh đền tội. Có như vậy, mới mong Thượng Đế nguôi cơn giận, tha phạt
cho toàn dân. Thế là mọi người đều lần lượt thú nhận tội lỗi.
Trước hết sư tử thú nhận hay ăn cừu, ăn nai, đôi khi ăn cả thịt
người.
Sau sư tử, các con thú khác cũng ra trước mặt mọi người thú tội
một cách công khai.
Cuối cùng, một chú lừa hiền lành, khờ khạo, than rằng mình cũng
có ăn một ít cỏ mà không xin phép chủ ruộng.
Thế là cả hội đồng đứng lên la hét buộc tội chú lừa, cho chú lừa
là kẻ phạm tội nặng nhất, là nguyên nhân của tai họa.
17. Ma qủi và sám hối.
Một hôm Satan kêu trách Chúa rằng:
– Chúa thật là bất công! Cụ thể là có rất nhiều kẻ phạm đủ thứ tội
ác, thế mà Ngài vẫn hay tha tội cho chúng. Có nhiều kẻ sa đi ngã lại nhiều lần
cùng một thứ tội, mà khi chúng ăn năn sám hối thì Ngài vẫn tha thứ cho chúng.
Còn tôi, tôi chỉ phạm tội không vâng lời Ngài duy chỉ một lần, thế mà Ngài kết
án phạt tôi phải hoả ngục đời đời, và không bao giờ tha thứ cho tôi Bấy giờ
Thiên Chúa ôn tồn nói với tên qủi kia rằng:
– Sở dĩ Ta tha tội cho con cái loài người tội lỗi vì chúng khiêm
tốn nhận mình là kẻ có tội, và hồi tâm sám hối, quyết tâm canh tân đời sống.
Còn ngươi, từ ngày ngươi phạm tội kiêu ngạo bất tuân lời Ta và bị phạt trong hoả
ngục đến nay, đã có bao giờ ngươi khiêm nhường nhận lỗi và hồi tâm sám hối để
xin Ta tha thứ cho ngươi hay chưa?
18. Tình bạn quý báu
Trận chiến giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796,
kết liễu ngày 17.11.1796 như sau:
Đại tướng Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắc
qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, Đại tướng Bonaparte hô tiến
qua cầu. Không một ai qua! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước
qua cầu, miệng hô:”Ai yêu tổ quốc thì theo ta." Ngó lại, trên cầu chỉ có một
mình mà lá cờ đã rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13
tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống chân bước qua cầu theo Đại
tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, Đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấm dứt
cuộc chiến tranh ấy.
Tám năm sau, Bonaparte là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có
nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã
21 tuổi hiện trong quân đoàn đó.
Hỏi đến Vidal thì cậu đã đi nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng
đế Napoléon bãi bỏ tất cả lễ nghi quân cách, đi thẳng đến làng Vidal, theo sau
đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn. Rồi đi bộ với Vidal trở về. Vidal từ chối
và mời Hoàng đế lên xe. Hoàng đế Napoléon đáp:”Tám năm trước con đã liều chết
theo ta trên con đường chết, nay trên đường đau khổ con cho ta theo con cho có
bạn”
19. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
Một lần kia, trên một bài báo, nhà tỉ phú George Soros đã than
thở: “Tôi không biết mình đang giàu hay đang nghèo; tôi đang làm chủ số phận
hay là nô lệ cho thành công? Bởi vì để thành công tôi phải làm việc như một con
chó; để giàu có tôi phải chịu căng thẳng trường kỳ; và để duy trì phú quí tôi
phải chịu cảnh bất an liên tục, một sự bất an mà thiết tưởng kẻ nghèo khổ nhất
hiện nay cũng chưa phải gánh chịu.”
Thế rồi một hôm kia, một tiếng gọi vang lên từ nơi thẳm sâu của
tâm hồn George Soros. Trong âm thầm ông đã hành động. Ông chi viện hàng năm 300
triệu đô la cho người nghèo bên phương Đông, trợ giúp 50 triệu cho người
Macedoine đang bị các nước chung quanh cô lập; ông chi 50 triệu cho thành phố
Sarajevo trong việc tái thiết hệ thống cung cấp nước cho người di tản; ông còn
trả tiền cho gần 30 ngàn khoa học gia thuộc khối cộng sản sau khi sụp đổ, để họ
không cộng tác với những quốc gia khủng bố, chế tạo bom đạn nguyên tử, gây tang
thương cho thế giới. Sau những công tác cứu trợ nhiều quốc gia và dân tộc,
Soros tâm sự: “Chỉ từ khi biết yêu thương và chia sẻ, đời tôi mới bắt đầu nếm
được mùi hạnh phúc và sung túc thật sự.”
Đúng vậy, chỉ khi biết yêu thương và phục vụ con người trong đường
lối của Thiên Chúa, chúng ta mới cảm nếm được giá trị và ý nghĩa của đời mình.
20. Biết nhận lỗi
Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào một cái hang,
thấy có một ông lão, bèn hỏi rằnh: “Hang này tên gọi là hang gì?”
Ông lão thưa: “Tên là hang Ngu Công.”
Vua hỏi: “Tại sao mà lại đặt tên như thế?”
Ông lão thưa: “Tại kẻ hạ thấn đây mới có tên ấy.”
Nhà vua nói: “Coi dáng lão, không phải là người ngu, cớ gì lại đặt
cái tên như thế?”
Ông lão trả lời: “Để hạ thần xin nói: Nguyên hạ thần có con bò đẻ
được một con, khi bò con đã lớn, thì hạ thần đem đi bán, rồi lấy tiền mua một
con ngựa con, đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm, có chàng thiếu niên dến, lấy
lý: bò không đẻ ra được ngựa, bèn bắt con ngựa đem đi. Tôi chịu mất, không cãi
được, vì thế xa gần cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang ngu công.”
Hoàn Công nói: “Lão thế thì ngu thật.”
Buổi chiều hôm sau, Hoàn Công đem câu truyện kể lại cho Quản Trọng
nghe. Quản Trọng nói “Đó chính là cái ngu của hạ thần. Nếu được vua giỏi như
vua Nghiêu, bề tôi như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ giám ngỗ ngược lấy con ngựa
của người ta như vậy. Ngu Công mà đành để mất ngựa, là biết rõ hình pháp ngày
nay không ra gì. Xin nhà vua kíp chỉnh đốn các chính sự lại.”
Đực Khổng Tử nghe truyện này nói: “Đệ tử ta đâu, ghi lấy việc ấy:
Hoàn Công là Bá Quân, Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bậc khôn ngoan nhất đời,
mà vẫn còn cho mình là ngu dại.”
Quản Trọng đã nhận việc sơ xuất trên, cho là lỗi tại mình, lỗi tại
phép nước, lỗi tại vua, và xin vua sửa đổi, chỉnh đốn chính sự.
CNTN 3C - THÁNH THẦN
CHÚA NGỰ TRÊN TÔI
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Luca.
Vì có nhiều người khởi công chép
lại những biến cố đã xảy ra giữa chúng ta, theo như các kẻ từ đầu đã chứng kiến
và phục vụ lời Chúa, đã truyền lại cho chúng ta, phần tôi, thưa ngài Thêophilê,
sau khi tìm hỏi cẩn thận mọi sự từ đầu, tôi quyết định viết cho ngài bài tường
thuật sau đây, để ngài hiểu chân lý các giáo huấn ngài đã lãnh nhận.
Bấy giờ Chúa Giêsu trở về
Galilêa trong quyền lực Thánh Thần, và danh tiếng Người lan tràn khắp cả miền
chung quanh. Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người ca tụng.
Người đến Nadarét, nơi Người
sinh trưởng, và theo thói quen của Người, thì ngày nghỉ lễ, Người vào hội đường.
Người đứng dậy để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở
sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng:
"Thánh Thần Chúa ngự trên
tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo
khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị
giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công
bố năm hồng ân và ngày khen thưởng.:
Người gấp sách lại, trao cho thừa
tác viên, và ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người
bắt đầu nói với họ: "Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa
nghe.:
TRUYỆN KỂ
1. Xóa nợ.
Ngày xưa có một lãnh chúa, và các tá đền của ông thì nợ ông tiền
thuê đất. Chẳng bao lâu họ thấy mình nợ nần chồng chất. Họ thấy mình không tài
nào thoát ra tình cảnh khó khăn ấy, tuy ông lãnh chúa là người nhân ái và nhẫn
nại. Nhưng các tá điền tự hỏi, ông cho họ thêm bao nhiêu thời gian để trả hết nợ.
Điều đáng sợ là cả khi ông cho họ đến ngày họ chết, họ cũng không thể trả hết nợ.
Kế đó một quản lý mới của lãnh chúa xuất hiện và bắt đầu làm một
cuộc kinh lý. Trong suốt cuộc kinh lý ấy, quản lý đã hỏi mỗi tá điền mắc nợ bao
nhiêu. Nhưng thật đáng kinh ngạc, quản lý không dừng ở đó. ông đi thăm từng
nhà, ông hỏi người ta ăn uống ra sao. Ông hỏi thăm người già, người bệnh, người
khó ở. Chính ông thấu hiểu những vấn đề và những lo lắng của họ.
Rồi một ngày kia, ông tập họp họ lại, nói rằng ông có một sứ điệp
quan trọng mà lãnh chúa tức chủ đất gởi cho họ. Các tá điền họp lại trong sợ
hãi và run rẩy, tưởng rằng cái ngày thanh toán khủng khiếp sau cùng đã đến. Các
tá điền đã biết hoặc nghĩ rằng mình đã biết những lời mà ông quản lý sắp nói. Hẳn
ông sẽ nói rằng: “Trong suốt cuộc kinh lý, tôi đã khám phá rằng không một người
nào trong các anh lo lắng việc trả nợ. Các anh chỉ nên tự trách mình. Các anh
chỉ là một đám lười biếng, chẳng làm được việc gì. Chủ đất đã chán ngấy các
anh. Ông ấy đã cho các anh vô số cơ hội, nhưng các anh vẫn không làm ra của cải.
Các anh khiến ông ấy không còn chọn lựa nào khác là lấy lại đất đai khỏi tay
các anh và đưa nó cho những người khác và họ sẽ trả được nợ của họ.:
Đó là những gì họ chờ đợi ông quản lý nói, dù rằng trong lòng họ,
họ mong mỏi một điều gì khác. Rồi người quản lý bắt đầu nói: “Chủ đất biết rằng
tất cả các anh đều mắc nợ số tiền lớn. Oâng ấy nhờ tôi nói với các anh những điều
sau đây.: Quản lý ngừng nói. Họ chờ đợi cơn bão ập tới và gắng hết sức mình để
chống lại nó. “Thế thì”, quản lý nói tiếp “Tôi có một tin mừng cho các anh.: Một
lần nữa ông ngừng lại. Tin mừng! Họ không thể tin điều họ nghe.”Chủ đất nhờ tôi
nói với các anh rằng các anh có thể quên hết nợ nần. Ông ấy xóa hết nợ nần cho
các anh. Từ hôm nay, các anh có thể bắt đầu lại từ đầu.:
Họ reo hò mừng rỡ. Các tá điền ôm hôn nhau. Một số người bắt đầu
nhảy múa, đã lâu rồi họ không nhảy múa. Khi họ trở về nhà mình với tâm hồn
thanh thản, lần đầu tiên trong nhiều năm, họ nhận thấy mặt trời chiếu sáng,
chim hát ca và những bông hoa rực rỡ nở rộ trong các cánh đồng.
Tin mừng Đức Giêsu loan báo trong hội đường Nazareth cũng như thế.
Ngài là người quản lý mới mà Thiên Chúa sai đến với dân mắc nợ Người. Theo người
Pharisêu, ngày của Chúa phải là ngày phán xét. Và ở đây, Đức Giêsu tuyên bố rằng
đó là ngày của ân huệ Thiên Chúa, không chỉ dành cho những người đáng khen mà
dành cho tất cả mọi người.
2. Chẳng nghe được gì hết.
Trong vở kịch “The Royal Hunt of the sun” (Hoàng gia đi săn mặt
trời) có kể lại cuộc chinh phục dân da đỏ ở Pêru của người Tây ban nha vào thế
kỷ 16, trong đó có một màn kể lại câu chuyện một người nọ biếu cho tù trưởng bộ
lạc da đỏ một cuốn Thánh Kinh và bảo ông ta: “Đây là Lời Chúa, Ngài nói với
chúng ta qua cuốn sách này.: Viên tù trưởng nghiêm trang cầm cuốn Thánh Kinh
lên, xem xét kỹ lưỡng và dịu dàng đặt nó vào lỗ tai. Ông cố gắng nghe đi nghe lại
nhưng chẳng nghe được gì hết. Thế là ông ta nghĩ rằng mình bị phỉnh gạt, nên giận
dữ dằn mạnh cuốn sách xuống đất.
Màn bi kịch trên khiến chúng ta tự nhủ: “Vậy chúng ta phải lắng
nghe Lời Chúa như thế nào”? Chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng ba cách thức:
bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của linh hồn…
(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm C, tr 166-167).
Chúng ta phải làm sao để Lời Chúa được diễn lại sống động nơi
tâm trí chúng ta, phải ghi khắc lời ấy vào trái tim chúng ta và phải bàn bạc với
Chúa cũng như lắng nghe điều Ngài nhắn nhủ chúng ta qua lời ấy.
3. Bà có họ hàng với Chúa.
Sau đó, khi cả hai bước ra ngoài
phố, người đàn bà tốt bụng liền nói với cậu bé:
- Chúc cháu vui vẻ và một đêm ngủ
ngon.
Cậu bé trố mắt nhìn người vừa
cho quà và hỏi:
- Thưa bà, bà có phải là Chúa
không?
Bà cúi xuống mỉm cười vỗ nhẹ vào
vai cậu và trả lời:
- Con ơi, không phải đâu, ta chỉ
là một trong những đứa con của Chúa thôi!
Cậu bé như khám phá được điều gì
mới lạ:
- Cháu đã sớm biết ngay là bà có
họ hàng với Chúa mà.
Sống đời bác ái yêu thương là dấu
chỉ con cái Chúa và là dấu chỉ anh em với nhau. Đức Giêsu đã xác nhận: “Mẹ tôi
và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc
6,21).
4. Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô
Có một chuyện kể về một dân kia chưa từng nghe nói tới quyển Tin
Mừng. Một hôm có một người lạ đến báo cho họ rằng "Tôi đến đây mang cho
các người một tin mừng.: Rủi thay người ấy mang bệnh và chết trước khi nói rõ
cho họ biết tin mừng ấy là gì. Họ mới lục lúi của người ấy và gặp một quyển
sách có tựa đề là "Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.: Họ đoán rằng đó chính là
cái tin mừng mà người kia muốn báo cho họ biết. Thế là họ bắt đầu đọc quyển
sách ấy. Sách viết về một nhân vật giàu lòng nhân ái, làm nhiều việc lạ lùng để
giúp cho những người khốn khổ và dạy nhiều điều rất cao thượng.
Đọc xong quyển sách, một người trong họ nói: "Tiếc thay người
mang quyển sách này đã chết. Chắc là một môn đệ của ông Kitô ấy.: Một người
nói: "Nhưng chắc là ở nơi ông ấy sống cũng có nhiều một đệ khác của ông
Kitô.: Một người khác nữa góp ý: "Chúng ta thử gởi người đến đấy xem các
môn đệ ông Kitô sống những lời ngài dạy thế nào.: Mọi người tán thành.
Họ cử Francis đi. Đây là một chàng trai rất chín chắn. Chàng đã
tìm đến nơi, tiếp xúc với rất nhiều người, sau đó trở về. Khi chàng vừa về tới
nơi thì những người đồng hương của chàng đặt những câu hỏi tới tấp:
"Những tín đồ của quyển sách ấy có thương yêu nhau
không?"
"Họ có hòa thuận với nhau không?"
"Họ có đơn sơ không?"
Họ có hạnh phúc không?"
Tất cả các câu hỏi đều có thể tóm trong một câu duy nhất này:
"Những môn đệ của ông Kitô ấy có sống theo quyển sách của Ông ta không?:
Và sau đây là báo cáo của Francis:
Trên căn bản, tôi đã gặp được 5 hạng môn đệ của ông Kitô ấy:
Hạng thứ nhất chỉ mang danh Kitô thôi. Dù họ có rửa tội nhưng họ
chẳng sống theo một lời dạy nào của Ngài cả.
Hạng thứ hai là những người làm môn đệ Đức Kitô theo thói quen.
Mặc dù người ta thấy họ giữ những điều Đức Kitô dạy, nhưng những điều đó chẳng ảnh
hưởng gì đến cách sống của họ cả. Tôi đã quan sát cách sống của họ một thời
gian lâu và thấy ra rằng thực ra họ sống theo những nguyên tắc không liên can
gì tới lời dạy của Đức Kitô, một số còn ngược lại nữa.
Hạng thứ ba gồm một số người rõ ràng là sùng mộ đức tin Kitô. Họ
cố sức làm những việc tốt, nhưng xem ra họ thiếu sức sống, họ không thực sự có
được những đức tính của Thầy họ.
Hạng thứ tư có thể được gọi là những Kitô hữu thực hành. Dường
như họ đã nắm được trọng tâm của Tin Mừng. Họ biết quan tâm đến người khác và
không xấu hổ vì người khác biết họ là Kitô hữu. Ở một vài nơi tôi thấy họ bị
bách hại. Ở một vài nơi khác tôi thấy họ phải gặp tình cảnh có lẽ còn tồi tệ
hơn nữa, đó là bị đồng bào của chính họ đối xử lạnh nhạt.
Hạng thứ năm không nhiều. Đó là những người mà tôi không ngại gọi
là những Kitô hữu chính danh. Họ sống Tin Mừng cách sâu sắc. Khi gặp họ, tôi tưởng
là gặp chính Đức Kitô.
5. Tin Mừng không chỉ là chuyện chữ viết
Ngày nọ, Dwight Moody thuyết giảng trước một đám đông. Ông để hết
tâm hồn vào bài giảng và chỉ nghĩ tới nội đung cũng như hiệu quả Lời Chúa nơi
các tâm hồn hơn là quan tâm đến văn chương bóng bẩy. Khi giảng xong, một văn
nhân đến gặp Moody và nói:
- Tôi phải thành thực nói rằng trong bài giảng tối nay, ngài đã
phạm ít là 11 lỗi văn phạm.
Moody đáp:
- Rất biết ơn ông: Điều ông nói tôi không nghi ngờ gì. Khi còn
bé, tôi học kém lắm. Tôi vẫn muốn có giờ học thêm. Nhưng tôi đã dùng tất cả vốn
liếng văn phạm của mình để phục vụ Đức Kitô. Vì vậy Lời Chúa có tác động gì đối
với ông không?
Con người hôm nay khao khát niềm vui, ánh sáng, tự do, nhưng ít
người chịu tin vào Ðức Kitô
chỉ vì cuộc đời đầy sầu muộn, bóng tối và nô lệ, thậm chí có khi
còn trở thành người áp bức anh em, bịt mắt và giam hãm anh em nhân trong ngục
tù.
6. Bản dịch Thánh Kinh hiện sinh
Một công nhân hầm mỏ được một anh bạn hỏi:
- Anh làm gì trong Hội Thánh Kinh Hải Ngoại?
- Tôi làm việc dịch thuật.
- Anh mà đòi dịch thuật? .
- Đúng, tôi lo dịch Lời Chúa trong Thánh Kinh vào đời sống hằng
ngày của tôi.
7. Học làm người trước đã
Tại một bộ lạc trong rừng già Phi châu, có ba thanh niên, sau
khi trải qua một số thử thách, đã đến trình diện với viên tù trưởng của họ. Ông
nhìn từng người rồi nói: “Trong sáu ngày qua, các ngươi đã được đưa vào rừng
sâu để trải qua một cuộc thử thách, sau không biết bao nhiêu gian khổ và nguy
hiểm, các ngươi đã trở về bình an vô sự, nhưng vẫn chưa đủ, các ngươi hãy kể lại
cho ta nghe tất cả những gì các ngươi đã làm trong sáu ngày qua để xứng đáng được
gọi là chiến sĩ.:
Lần lượt mỗi người kể lại thành tích của mình. Người thứ nhất
cho biết là anh đã giết được con báo. Người thứ hai kể lại anh đã hạ được một
con trăn khổng lồ. Đến phiên mình, người thứ ba chỉ biết đứng im lặng, tên anh
là Ma-ma-đu. Ông tù trưởng hỏi anh: “Nào Ma-ma-đu, ngươi đã làm được gì?: Một
cách nhỏ nhẹ, anh nói rằng anh đã lấy được một tảng mật ong. Nghe thế mọi người
cười ồ lên, bởi vì họ cho rằng lấy được mật ong thì có gì đáng gọi là một thành
tích. Ông tù trưởng hỏi anh: “Tại sao ngươi lấy mật ong mà không chịu đi săn
thú dữ?: Ma-ma-đu trả lời: “Cha mẹ tôi đã già yếu bệnh tật, tôi luôn nghĩ đến
các ngài, cho nên tôi đã lấy mật ong mang về biếu các ngài.: Nghe thế, viên tù
trưởng liền đứng dậy, ông lấy cây đao trao cho người thanh niên và tuyên bố:
“Ngươi hãy cầm lấy cây đao, bởi vì ngươi là người xứng đáng để lãnh nhận danh
hiệu chiến sĩ hơn cả. Trước khi trở thành một người thợ săn giỏi, cần phải nên
người đã, và chỉ có một cách duy nhất để biết một kẻ nào đó đã thực sự nên người
là kẻ đó biết đặt tình thương trên tất cả mọi sự và hiếu thảo với cha mẹ mình.:
8. Lời Chúa cần được nghe bằng trái tim
Tác giả tập sách có tựa đề: “Cuộc Săn Đuổi Mặt Trời” kể lại cuộc
mạo hiểm của những người lính Hoàng Gia Tây Ban Nha trong thế kỷ XIX đi chiếm
thuộc địa bên Nam Mỹ, tại vùng đất mà ngày nay gọi là quốc gia Pe-ru.
Một người trong nhóm đem tặng cho viên tù trưởng trong bộ lạc da
đỏ một quyển Kinh Thánh và nói: Đây là quyển sách Thánh, nơi Thiên Chúa nói với
con người và ban cho con, những ai lắng nghe được lời Ngài, một sức mạnh phi
thường vượt qua được mọi gian nan thử thách và được hạnh phúc trường sinh.
Đón nhận quyển sách,viên tù trưởng kia vui mừng vội mau tìm nơi
vắng đưa sách lên tai để lắng nghe Thiên Chúa nói. Nhưng thật là vôi ích, ông cầm
lên, đưa xuống đủ cách mà im lặng vẫn hoàn im lặng, không có tiếng Thiên Chúa
nào phán cả. Bực mình, viên tù trưởng ném sách đi và lẩm bẩm: Ta bị gạt, ta đã
bị gạt.
9. Đường lối Chúa thì khác
Xưa có ông Trần Công, là người tốt, gặp ai cũng giúp, gặp việc
gì cũng làm. Một hôm ông đến làng Hòa Đa, nơi đây đang bị hạn hán, đồng ruộng nứt
nẻ, sông ngòi khô quêo không một giọt nước. Đi cả ngày, thấy khô cổ, ông vào
làng kiếm nước, nhà nào cũng bỏ đi nơi khác. Ông trèo lên một ngọn núi cao, thấy
xa xa một toán người cầm bình nước, ông gọi xin. Người kia nói:
- Làng chúng tôi bị hạn hán 6 tháng trời, dân làng bỏ đi nơi
khác hết trọi Giá có người nào lên thỉnh thần mưa, nhắc khéo hộ chút thì tốt
quá. Trần Công nói ngay:
- Tôi đây, chứ ai nữa. Rồi ông xấn xả đi liền, đi cả ngày chưa tới.
Ông trèo lên đồi trọc, thấy bà già khòm lưng bị nhốt trong nhà kêu cứu:
- Cứu tôi với. Ông chạy đến thả tự do cho bà. Bà hỏi:
- Ông đi đâu đấy? Ông trả lời:
- Tôi đi tìm thần mưa giúp làng Hòa Đa, họ bị hạn hán lâu ngày rồi,
xin thần mưa thương họ chút.
- Nhà Thần mưa còn xa lắm. Để tôi biếu ông cái này, nó có phép
thần thông thu ngắn đoạn đường. Chỉ cần nói mình muốn đi đâu là đủ. Trần Công
vui vẻ nhận tặng vật, cảm ơn, rồi bảo gậy:
- Hỡi gậy thần, hãy đưa ta tới xứ thần mưa. Tự nhiên ông thấy
hoa mắt, cây nối, núi non chạy như bay về phía sau. Phút chốc ông thấy mình đến
xứ Thần mư. Ông đến gọi cổng thì một người trương phi xuất hiện tự xưng là Thần
mưa. Trần Công nói:
- Xin Thần mưa giáng phúc cho làng Hòa Đa, lâu quá rồi không có
một giọt nước. Thần Mưa chỉ cho ông một con tuấn mã và một bình nước, rồi sai ông
cỡi tuấn mã đi rải nước xuống các làng ông muốn. Bỗng chốc, nước vẩy nước mưa
lai láng cả mặt đất. Đến làng Hòa Đa Trần Công dội cả bình nước xuống, khiến
thành bão lụt, trôi chảy cả nhà cửa, đất đai. Hôm sau ông từ giã ra về, cái gậy
thần lại cuốn ông như lần trước. Đến làng Hòa Đa, nhà cửa, đất đai trôi sạch,
khiến ông tiếc xót chép miệng than “Làm ơn nên oán.:
Đường lối của con người nghĩ là tốt, là hay nhưng đường lối Chúa
thì khác.
10. Tấm lòng vàng
Tại California bên Hoa Kỳ có một người ăn xin được nhiều người
biết là ông En-đi-va-gát 70 tuổi. Ngày ngày ông đi nhặt những chiếc lông nhung.
Ông không phải là kẻ ăn xin tầm thường, mà là người ăn xin triệu phú. Ông được
trúng số độc đắc, thế là từ một người ăn xin nghèo khó nay trở thành triệu phú.
Nhưng ông không quên nguồn gốc của ông. Và vì đó mà ông rất
thương yêu những người đồng cảnh ngộ. Sở dĩ ông tiếp tục ăn xin là để gần gũi
những người nghèo khổ bất hạnh để ông giúp đỡ. Tiền xin được ông đem giúp trẻ
em nghèo được tiếp tục đến trường, các sinh viên theo đuổi việc học. Ngay lúc
trúng số, ông đã biếu ngay 20 ngàn mỹ kim vào quỹ học bổng.
Ông là một triệu phú đích thực. Ông giàu không phải vì trúng số
mà giàu vì tấm lòng vàng.
Nét đẹp của câu chuyện trên đây là người triệu phú lại chấp nhận
ăn xin cho người nghèo. Cũng như trong Tin mừng hôm nay, Đấng được Thiên Chúa xức
dầu tấn phong nghĩa là được phong vương lại được sai đi để chăm lo cho những
người nghèo khó, tù đày, đui mù, bị áp bức…
11. Vì hạnh phúc tha nhân
Truyện cổ Trung Hoa kể lại: Hai nước kia định giao chiến với
nhau. Quân đội đôi bên đã đặt trong tình thế ứng chiến. Cả hai nước đều cho người
đi trinh thám để tìm địa điểm tấn công thuận lợi nhất. Thế là chiến tranh xem
ra không thể tránh.
Sau một thời gian quan sát kỹ lưỡng, đội trinh sát đôi bên đều về
trình lên thượng cấp:
“Có một địa điểm nằm trên khu vực thuận lợi cho cuộc tấn công.
Nhưng ngay tại địa điểm đó có một gia đình sinh sống, gồm hai vợ chồng và đàn
con thơ đang sống đầm ấm hạnh phúc trong một mái nhà tranh xiêu vẹo. Chúng tôi
đã tìm cách tiếp xúc với gia đình này. Họ là những người rất chân chất làm ăn
và rất hiếu khách. Họ tha thiết được sống yên ổn trong mái chòi tranh nhỏ bé của
họ. Nếu chúng ta tấn công vào đất địch, buộc lòng chúng ta phải tiêu hủy căn
nhà của họ và sát hại chính họ nữa; như thế là chúng ta cướp mất hạnh phúc của
họ. Chúng ta nghĩ rằng cuộc tấn công không thể diễn ra được.: Nghe xong báo
cáo, bộ tổng tham mưu hai nước đều thấy hợp lý, nên chiến tranh đã không xảy
ra.
12. Nghe bằng ba lỗ tai
Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần tấn phong để loan báo Tin mừng
cho chúng ta.
Chúng ta cần phải nghe Lời Chúa bằng ba cách: bằng lỗ tai của
tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của tâm hồn.
Bởi thế, mỗi khi sắp nghe Linh mục đọc Tin mừng trong Thánh lễ,
mỗi người Kitô hữu chúng ta làm dấu thánh giá trên trán, trên miệng và trên ngực:
làm dấu thánh giá trên trán có ý xin cho chúng ta hiểu được Lời Chúa; làm dấu
thánh giá trên miệng để xin cho chúng ta biết nói Lời Chúa cho kẻ khác; làm dấu
thánh giá trên ngực có ý xin Chúa cho chúng ta biết mến mộ Lời Chúa.
Lắng nghe Lời Chúa bằng lỗ tai của trái tim là ghi tạc Lời Chúa
vào trái tim, và cố gắng áp dụng lời đó vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống
chúng ta như Charlic Pitts. Ông là chủ công ty xây dựng ở Toronto, Canađa. Ông
càng làm ăn phát đạt thì cá nhân và gia đình ông càng bê bối sa đọa. Ông phải cầu
cứu tới việc đọc Kinh Thánh. Tình cờ ông đọc thấy: “Kẻ nào được cả thế giới mà
phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân thì nào có ích lợi gì” (Lc.9,25).
Ông ghi khắc lời đó vào trái tim và suy nghĩ xem phải áp dụng lời đó vào hoàn cảnh
của ông thế nào.
Và nghe Lời Chúa bằng lỗ tai tâm hồn là xin Chúa hướng dẫn phải
làm gì theo Lời Chúa, như Charlie Pitts làm sau đây. Sau khi cầu nguyện, ông
bàn luận với vợ con rồi bán công ty, lấy tiền mua một khách sạn, lợi tức của việc
kinh doanh này ông dùng để giúp công cuộc truyền giáo.
13. Tôi không biết
Nhiều tu sĩ cao niên đến gặp thầy Antôn. Ở giữa là thầy Giuse.
Muốn thử họ, thầy Antôn đưa ra cho họ một lời Thánh Kinh, và bắt đầu từ tu sĩ
trẻ nhất, thầy hỏi ý nghĩa của lời ấy. Mỗi tu sĩ đều nói theo khả năng của
mình. Nhưng với tu sĩ nào thì thầy Antôn cũng nói: "Anh chưa tìm ra ý
nghĩa.:
Tu sĩ cuối cùng nói với thầy Giuse:
- "Còn thầy, thầy giải thích lời đó ra sao?"
Thầy Giuse đáp:
- "Tôi không biết.:
Lúc ấy thầy Antôn nói:
- "Đúng, thầy Giuse đã tìm được giải đáp, vì Thầy nói: tôi
không biết.:
Trước lời giải đáp của những vị tu sĩ cao niên đã nhiều năm sống
đời tu hành trong hoang địa, ngày đêm không ngừng suy niệm Lời Chúa, thầy Antôn
vẫn nhất mực nói: "Anh chưa tìm ra ý nghĩa.: Nhưng với thầy Giuse, người
có uy tín nhất, người đã trả lời "tôi không biết", thầy Antôn lại bảo:
"chính thầy Giuse đã tìm được giải đáp.:
Trước mầu nhiệm của Thiên Chúa, trí khôn con người làm sao có thể
hiểu nổi và ngôn ngữ của con người làm sao có thể diễn tả được? Bởi vậy, cách
giải thích Lời Chúa trung thực nhất là thú nhận rằng mình không giải thích nổi.
Chỉ Thiên Chúa mới hiểu biết Lời Ngài và nói Lời Ngài cách thích đáng và xứng hợp.
14. Xóa nợ cho nhau
Trước lúc lìa đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có giao cho con
cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm
tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh tổng đốc Hải
Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng
tuyệt đối không được ai mở ra xem, trừ quan tổng đốc.
Cái ống tre ấy truyền đến người cháu bảy đời của Trạng, mới rước
lên dinh quan tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống
thấy một cuộn giấy, ông rút ra xem thấy có hai câu chữ nho: ‘Ngã cứu nhi thượng
lương chi ách. Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần’. Nghĩa là: ‘Ta cứu ngươi khỏi xà
nhà đổ. Ngươi cứu cháu bảy đời của ta còn nghèo’.
Đang lúc bận việc, quan tổng đốc thấy hai câu nói xấc xược ấy,
ông liền nổi giận. Sẵn cầm chiếc quạt trên tay, ông đứng phắt dậy, chạy lại định
đánh người cháu bảy đời của Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà ngay
trên đỉnh đầu đổ xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ông mới vừa bước
ra, nên không sao cả.
Quan tổng đốc lúc đó mới giật mình hiểu rõ Trạng đã cứu mình khỏi
cái chết bất đắc kỳ tử. Quan ân cần xin lỗi người cháu ông, mời về tư thất đãi
cơm rượu, rồi cho một số tiền khá lớn, để cứu giúp cho gia đình cháu của Trạng
đang lâm hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.
15. Luật phải hướng thiện
Người ta kể: "Có ông nhà giàu Do Thái kia có tên là Rabba,
nhiều ruộng vườn, gia nhân đầy tớ và thợ làm công. Một hôm có người thợ làm việc
cho ông lỡ làm bể một thùng rượu, ông giận dữ mắng, chửi thậm tệ và buộc bồi
thường. Bọn thợ đến than phiền với một tiến sĩ luật, vị này khuyên ông Rabba
tha cho đám thợ nghèo. Ông Rabba hỏi vị luật sĩ: "Đây có phải là luật Chúa
không?" Vị tiến sĩ trả lời: "Phải, nếu ông hiểu biết tinh thần luật.:
Nghe thấy, Rabba tha không đòi đám thợ bồi thường nữa. Có lần
khác, đám thợ can đảm than thở thẳng với ông chủ của họ: "Thưa ông, chúng
tôi quá nghèo túng, mặc dầu được ông thương cho việc làm và chúng tôi cũng đã
làm hết sức như ông thấy, nhưng chúng tôi cũng đói khổ và thiếu thốn mọi sự.: Vị
tiến sĩ biết chuyện, nói với ông Rabba: "Ông hãy cho họ lãnh lương tháng
trước đi, nhưng đừng ghi sổ và sau đó sẽ quên chuyện này.:
Ông Rabba hỏi: "Đây có phải là luật Chúa không?" Vị tiến
sĩ luật trả lời: "Phải, nếu ông hiểu tinh thần luật, vì thật ra luật Chúa
đòi buộc công bằng, nhưng có chủ đích làm cho con người trở nên tốt lành hơn.:
16. Sứ mạng của con người
Sau khi nghe giảng về Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Chúa đầy
lòng yêu thương, một thính giả không đồng tình với vị giảng thuyết. Đầu óc ông
quay cuồng bởi những câu hỏi như:
Làm sao người ta có thể tin Thiên Chúa là Đấng nhân lành khi
Ngài nhắm mắt làm ngơ trước cảnh biết bao nhiêu người nghèo khổ, tuyệt vọng, mất
phương hướng phải sống trong sầu đau mà không ban cho họ một tin mừng, một tia
hy vọng?
Làm sao người ta tin được Thiên Chúa là Cha nhân ái khi có biết
bao người phải chịu cảnh giam cầm trong ngục tù vật chất, trong sự trói buộc của
các đam mê mà Ngài không ra tay giải thoát?
Thật khó tin có Thiên Chúa là Đấng tốt lành khi Ngài để cho những
người mù, nhất là mù tối trong tâm hồn, không được nhìn thấy ánh sáng chân lý.
Và bao nhiêu người bị áp bức, bị gông cùm sao Chúa không giải
thoát họ?
Đêm hôm ấy, trằn trọc không ngủ được vì những câu hỏi ấy lởn vởn
trong đầu, ông chợt nhận ra câu đáp của Thiên Chúa từ trong vắng lặng của đêm
trường:
- Ta đã ra tay rồi đó, sao con còn trách Ta?
- Ngài ra tay lúc nào đâu? Ngài đã làm gì để cứu vớt những người
tuyệt vọng, những người bị giam cầm, những người mù tối, những người bị áp bức?
- Ta đã dựng nên con và đặt con hiện diện giữa lòng đời để con
thay Ta mà hành động. Thế sao còn trách Ta?
Có một điều quan trọng nhưng thường bị lãng quên, đó là chúng ta
là những cánh tay, là những bàn tay của Thiên Chúa và Ngài hành động, Ngài thực
hiện mọi việc qua chúng ta, hình ảnh của Thiên Chúa.
17. Thần Khí Chúa ngự trên tôi
Cách nay không lâu, trên tờ báo Catholic Register người ta học
thấy có câu chuyện “Trở Về” rất đáng suy tư. Số là anh Jim O’Donnell, một công
dân Hoa kỳ 36 tuổi đang làm việc tại Luân Đôn, Anh quốc, cho một nhóm các ngân
hàng của Hồng Kông và Shangai. Jim O’Donnell đã gây sửng sốt cho giới doanh
thương Hồng Kông, Luân Đôn và cả New York khi tuyên bố rằng anh sẽ về nước, nghỉ
việc, mặc dầu khi ấy các ngân hàng vừa tăng lương cho anh với số tiền là
1.650.000 đôla một năm.
Nhiều người thắc mắc tại sao anh Jim không tiếp tục công việc để
hưởng số lương bổng mà không ít kẻ nằm mơ cũng chưa thấy được số lẻ của nó. Bạn
có biết lý do anh trở về nước không?
Rất lạ! Anh về nước là để cho kịp niên học tại một chủng viện
vào mùa Thu 98. Anh muốn đi học để trở thành linh mục. Đúng là anh trở về với
tâm hồn của Đức Kitô, với Thần khí của Thiên Chúa, với tinh thần hy sinh những
gì thuộc về xác thịt, quyền lợi, sở thích riêng tư, để thực hiện một ước vọng mới
là mang Tin mừng, niềm vui và sự sống chân lý cho muôn người.
18. Kitô hữu
Có một câu truyện cổ tích kể về một tên cướp khét tiếng tại vùng
Viễn Đông bị trọng thương và được chở đến một nhà thương của các nhà truyền giáo.
Sau một vài tuần tịnh dưỡng và được săn sóc đầy đủ, tên cướp đã được phục hồi
hoàn toàn. Tên cướp rất biết ơn các nhà truyền giáo và tự hứa là sẽ không bao
giờ ăn cướp của bất cứ Kitô hữu nào. Lời hứa của tên cướp đã được đồn ra và hễ
ai gặp tên cướp ấy đều thú rằng, "Tôi là Kitô hữu." Như thế, tên cướp
đã gặp vấn đề và hắn thắc mắc làm sao biết được ai là Kitô hữu và ai không phải
là Kitô hữu. Hắn đã trở lại nhà thương và hỏi các nhà truyền giáo. Các nhà truyền
giáo đã nói với hắn rằng nếu ai là Kitô hữu thì tất nhiên phải biết Kinh Lạy
Cha và 10 Giới Răn. Từ hôm đó, ai tự xưng với hắn là Kitô hữu thì đều phải đọc
Kinh Lạy Cha và Thập Giới.
Nếu mọi người đang hiện diện nơi đây được hỏi để chứng minh đức
tin của mình bằng Kinh Lạy Cha và Thập Giới, tôi không biết có bao nhiêu người
sẽ thi đậu.
19. Lời ban sự sống
Một ông vua tuổi đã cao mà chưa đọc hết được một cuốn sách nào.
Ông đã mất quá nhiều thời gian cho chinh chiến, cả đời ông chỉ thấy có gươm
giáo, chỉ biết có máu và lửa. Đến cuối đời ông mới giật mình tỉnh ngộ, tiếc nuối,
và muốn có được một cái nhìn bao quát lịch sử loài người để từ đó mà có được một
cái nhìn về cuộc sống con người.
Nhưng sách về lịch sử loài người quá nhiều, không thể đọc hết,
nên nhà vua ra lệnh cho sử quan đọc và thu ngắn lại. Với sự giúp đỡ của 50 người
trong ban tu thư, viên sử quan đã bắt tay vào làm việc ngày đêm miệt mài và đã
tóm lược tất cả lịch sử loài người trong 10 cuốn sách đồ sộ dâng lên dức vua.
Nhà vua thấy 10 cuốn sách đồ sộ là quá dài so với thời gian vắn
vỏi còn lại của đời mình nên ban tu thư phải cố gắng thêm 5 năm nữa dể tóm lược
tất cả trong chỉ một cuốn sách dâng lên. Nhưng lúc đó vua đã già yếu, nằm liệt
trên giường bệnh chờ chết.
Biết mình không thể đọc được dù chỉ một trang, nhà vua ra lệnh
cho sử quan tóm tắt tất cả lịch sử loài người chỉ trong một câu. Suy nghĩ một hồi
lâu, nhớ lại tất cả những gì mình đã biết về lịch sử nhân loại, viên sử quan
tâu vua: "Tâu Đức Vua, thần xin tóm lại như sau: ‘Lịch sử con người từ
khai thiên lập địa đến nay là sinh ra, đau khổ, và chết.”
Với một người không có đức tin thì tất cả cuộc sống con người chỉ
là một cái chết liên tục từ khi sinh ra. Nhưng với người có đức tin thì Thiên
Chúa không dựng nên con người để chết, mà để sống mãi với sự sống của chính
Ngài, là nghe, hiểu và yêu mến Thiên Chúa: "Ai yêu mến Ta thì sẽ giữ lời
Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi
mình nó” (Ga 14,23).
20. Thánh Thần Chúa ngự trên tôi
Một Linh mục thao thao giảng trong tuần Tĩnh tâm, thu hút được rất
nhiều người đến nghe, linh mục cảm thấy mình tuyệt quá, nhất là năm nay giảng
thành công chưa từng thấy.
Trong suốt tuần Tĩnh tâm, có một cụ già luôn đến sớm và ngồi
hàng ghế đầu tiên, tỏ vẻ chăm chú nghe cha giảng. Sau tuần tĩnh tâm, cha hỏi
ông cụ:
- Cụ nghe thế nào? Tuyệt không?
- Thưa cha, con nghe câu sau thì quên câu trước, con lại là người
thất học, với tuổi già này, làm sao con hiểu được những lời cao siêu cha giảng!
Con đến nhà thờ sớm để có chỗ trên ngồi, tránh làm chia trí mọi người và cầu
nguyện cho cha thôi.
Lúc ấy Linh mục mới nhận ra rằng: kết quả việc mình làm hôm nay
còn tùy nhiều người cầu nguyện cho, để ơn Chúa đổ xuống thêm. Đúng như lời
thánh Phao-lô nói:
“Tôi trồng, anh tưới, Thiên Chúa mới làm cho mọc lên!” (1 Cr
3,6).
21. Bài giảng biết đi
Toàn bộ cuộc sống của Ngài, lời
nói và việc làm, đều là Tin Mừng của Thiên Chúa. Nói cách khác, nhận ra Ngài là
nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho và sẽ được thúc đẩy tiếp tục loan báo
như Ngài.
Chúng ta đã có nhiều nỗ lực loan
báo Tin Mừng, nhưng hiệu quả không mấy khả quan. Có thể chúng ta là nguyên nhân
thất bại đó bạn, bởi những việc chúng ta làm không phù hợp với Lời Chúa chúng
ta loan báo.
22. Sứ điệp của Chúa Giêsu
Các vị tổng thống Mỹ đưa ra lời phát biểu đầu tiên ngay sau khi
tuyên thệ nhậm chức. Bài phát biểu thường cho thấy một cái nhìn sâu sắc về những
gì người ta chờ mong nơi chúng. Tin mừng hôm nay cũng giống như một bài phát biểu.
Chúa Giêsu được Chúa Cha chọn vào sứ vụ của Đấng Mêsia. Ngài bắt đầu sứ vụ bằng
cách đứng giữa đám đông và nói cho ta điều ta chờ đợi nơi Ngài trong sứ mệnh cứu
thế.
Điều gì làm tôi ngạc nhiên, ít là về những gì Chúa Giêsu đã nói
trong sứ điệp khai mạc của Ngài? Tại sao?
Tôi biết rõ con người, và tôi nói với các bạn rằng Chúa Giêsu
Kitô không phải là một con người. (Napoleon Bonaparte)
THỨ HAI - TỘI PHẠM
ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN
Lời Chúa: Mc 3, 22-30
Khi ấy, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: "Ông ấy
bị quỷ Belgiêbút ám", và nói thêm rằng: "Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy
trừ quỷ."
Khi đã gọi họ lại, Chúa Giêsu phán bằng dụ ngôn rằng:
"Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước
đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự
phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong. Chẳng ai có thể
vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi
sau mới cướp phá nhà y.
Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng
của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần,
sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời." Ðó là vì họ nói
"Người bị thần ô uế ám."
TRUYỆN KỂ
1. Không nghi ngờ và thất vọng.
Người ta kể: một hôm có một chàng thanh niên đến gặp cha Placido
Vicardi, dòng Biển Đức, ở Italia, để xin xưng tội. Chàng thanh niên này quì xuống
và thưa với cha Vicardi:
- Thưa cha, con là kẻ tội lỗi khốn nạn nhất, vì con đã phạm đủ mọi
thứ tội.
Cha Vicarđi đáp:
- Đúng, con đã phạm đủ mọi thứ tội, nhưng con không phải là kẻ
có tội khốn nạn nhất, vì có một tội nặng nhất mà con đã không phạm tội ấy.
Chàng thanh niên ngẩng đầu lên nhìn cha Vicardi ngạc nhiên hỏi:
- Thưa cha, làm sao cha biết? Tội đó là tội nào vậy?
Cha Vicardi trả lời:
- Tội nặng nhất mà con đã không phạm, đó là con đã không nghi ngờ
và thất vọng về lòng từ bi của Chúa. Sở dĩ cha biết như thế, vì nếu không, thì
con đã không đến đây để xin lãnh nhận Bí tích Giải tội. Vậy, nhân danh Đấng giầu
lòng từ bi và yêu thương mà con vẫn hằng tin tưởng cậy trông, cha tha thứ hết mọi
tội lỗi cho con. Con hãy về, và cố gắng đền đáp lòng yêu thương tha thứ của
Chúa nhá.
2. Ma quỷ, tội của ma quỷ, và thánh Gieronimo
Thánh Hiêrônimô sinh năm 340 tại Stridon miền Dalmatie, nước Nam
tư. Ngài là một đấng thông minh đạo đức, đã được Đức Thánh Cha Damasus
(366-380) trao cho sứ mạng dịch toàn bộ Thánh Kinh sang La ngữ. Bản dịch này vẫn
còn dùng trong Phụng vụ Giáo Hội: đó là bản dịch phổ thông (Vulgata).
Ngài đã sang thánh địa, vào trong hang Bêlem để ẩn thân, cầu
nguyện và phiên dịch Kinh Thánh. Thế mà theo lời ngài thuật lại, có những lúc
ma quỷ xác thịt cám dỗ ngài hết sức nặng nề! Chúng làm ngài nhớ lại những quang
cảnh xa hoa trụy lạc, những bạn bè xấu nết dâm đãng ngày trước ở thủ đô Rôma. Để
chống trả với cám dỗ của ma quỉ, ngài đã ăn chay kiêng khem hãm mình và cầm đá
đấm vào ngực.
Với ơn Chúa và ý chí mình, ngài đã chiến thắng. Đức Boniface VII
suy tôn ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh. Ngài mất năm 420.
3. Chúa Giêsu còn mạnh hơn.
Đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa hai em nhỏ:
- Nếu Satan đến cám dỗ, bạn làm sao chống trả?
- Mình biết Satan đến để cám dỗ, nhưng khi nó gõ cửa lòng mình,
mình bảo: Có phải Chúa Giêsu gõ cửa đấy không ạ? Khi Satan nghe tên Giêsu là nó
biến ngay!
Như vậy, chúng ta thấy một người mạnh nhất cũng không thể một
mình chống lại Satan (Góp nhặt).
Muốn chống nổi Satan chúng ta phải cậy dựa vào Chúa.
4. Chúa thấy
Một thiếu nữ trắc nết nọ đến cám dỗ một thánh nhân phạm tội với
mình. Ngài bảo:
- Được lắm, ta hãy kiếm một nơi nào kín đáo đi.
Cô gái dẫn Ngài vào một căn phòng và đóng cửa lại. Ngài bảo:
- Đây tôi sợ chưa được kín đáo.
Cô lại đưa Ngài đến một căn phòng khác có một lối vô cong queo lại
thêm hai lớp cửa thật là vững chắc. Ngài nói:
- Tôi vẫn còn ngại, chỗ vững chắc như chỗ này cũng chưa kín đủ,
với lại nhỡ có ai đột nhập thì làm sao thoát thân!
Cô ta lại đưa Ngài lên tầng lầu cao nhất, lại có hệ thống báo động
và nhiều lối thông thương, chuồn đi rất dễ. Cô bảo:
- Như thế này thì thật là cẩn mật... Muốn thấy đã là điều không
thể, huống nữa lại đi vào.
Lúc ấy thánh nhân mới dốc bầu tâm sự ra:
- Cô ơi, không có chỗ nào kín cả!
Cô gái ngạc nhiên trố mắt nhìn Ngài. Ngài nói tiếp:
- Làm sao ta che mắt Thiên Chúa nổi.
Rồi Ngài khuyên răn, dạy dỗ cô gái, về sau cô trở thành người đạo
đức, có lòng sám hối sâu xa...
5. Thích ứng để truyền giáo
Đọc lại lịch sử truyền giáo của các nhà thừa sai trên Miền Thượng
(Tây Nguyên – Việt Nam) trong cuốn: “Dân Làng Hồ”, tác giả cho thấy rất rõ yếu
tố sống còn, thành công hay thất bại, phụ thuộc rất nhiều vào việc thích ứng
hay không thích ứng của các thừa sai!
Khi nói đến truyền giáo, yếu tố thích ứng là điều rất quan trọng,
vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố này khi sai
các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng và truyền cho họ đừng mang theo bao bị, giày
dép, túi tiền... Người ta cho ăn thức ăn gì thì hãy ăn. Điều này ngược lại với
quan niệm của người Pharisêu, vì mỗi khi họ đi đâu xa, thường thì họ luôn chuẩn
bị cho mình những thứ căn bản như tiền, bao bị và thức ăn để đảm bảo sự thanh sạch,
vì nếu không có những thứ đó, họ e sợ bị nhiễm uế nơi dân ngoại...
Người môn đệ của Đức Giêsu phải khác! Khác để hiệp nhất, hiệp
thông, hòa đồng; khác để sống tình huynh đệ, bác ái; khác để thích ứng và hội
nhập; khác để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa; khác để sống phó thác
trong sự an bài của Thiên Chúa.
6. Tha thứ là việc làm của Thánh Thần
Sự nghiệp ca hát của Marvin Gaye, người đoạt giải Grammy, đã đột
nhiên kết thúc vào năm 1980 khi chính cha của anh bắn chết anh. Tuổi thơ của
Marvin gặp nhiều đau khổ do chính sự hung ác của người cha gây ra và để lại nơi
anh một vết thương không bao giờ lành. Để nói về tình trạng bi đát này, người bạn
và là người chép tiểu sử của anh viết: “Marvin thật sự tin tưởng nhiều vào Chúa
Giêsu, nhưng anh không bao giờ áp dụng bài học tha thứ của Chúa Giêsu đối với
người cha của anh. Kết quả là nó đã hủy diệt cả hai.”
Sự thất bại của Marvin trong việc theo gương Chúa Giêsu để tha
thứ mời gọi tôi nhớ lại có ai đã làm thương tổn cho tôi không và xin Chúa giúp
tôi tha thứ tất cả cho họ.
Những kẻ có tâm hồn nhỏ mọn không thể biết được hào quang của sự
tha thứ (Frederick Robertson).
7. Thánh Thần là sức mạnh của tâm hồn
J.S. Abbott, người viết tiểu thuyết của Napoleon Bonaparte, đã
ghi nhận câu nói của vị lãnh tụ Pháp này: “Tôi có những người sùng mộ đến độ sẵn
sàng chết vì tôi. Ánh mắt giọng nói của tôi, một lời nói của tôi có thể nhóm
lên trong lòng họ một ngọn lửa thiêng. Thực ra, tôi có sở hữu một bí quyết có sức
nâng bổng tâm hồn người ta lên.” Vua Đavít cũng là một nhà lãnh đạo có khả năng
thu hút quần chúng. Khả năng tự nhiên này càng được phát triển hơn nhờ ân sủng:
“Thiên Chúa các cơ binh ở với ông.”
Ai là những người tôi lãnh đạo và tạo ảnh hưởng? Làm thế nào tôi
có thể trở nên một mẫu gương cho họ?
Quan tâm được coi là điều cần thiết hơn. Tin tưởng được coi là
điều khôn ngoan hơn. Phục vụ được coi là điều thực tế hơn.
8. Thánh Thần bị coi thường là cái chết tâm hồn
Một cậu bé Châu Phi và một số người lớn Châu Âu sống sót trong một
vụ rơi máy bay ở một khu rừng già. Cậu bé nói cậu biết rõ đường ra khỏi khu rừng,
nhưng người lớn không nghe cậu. Họ đi theo đường của họ và đã chết, trong khi cậu
bé Châu Phi sống sót. Câu truyện này cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về tội chống
lại Chúa Thánh Thần. Đó cũng là chối bỏ sự hiện diện của Thần Khí trong Chúa
Giêsu. Đó là gán cho ma quỷ những gì thuộc về Chúa Thánh Thần.
Bằng cách nào tôi có thể mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa Thánh
Thần hoạt động trong đời tôi?
Nếu Chúa Giêsu bị kết án nơi tòa án hôm nay, chắc hẳn sẽ có hai
bác sĩ khám nghiệm để xem Ngài có bị ảo tưởng không, và rồi sẽ được đưa vào nhà
thương điên (Bernard Shaw).
9. Chỉ tình yêu mới hiểu
Rồi anh ta tuôn ra những lời
nguyền rủa. Đức vua không hiểu ngôn ngữ của anh ta nên quay về các triều thần,
hỏi: “Có ai biết người ấy nói gì không?”
Một ông quan ngồi gần tâu: “Muôn
tâu bệ hạ, người ấy nói: Chúa thương yêu những ai biết nén giận và tha thứ cho
kẻ thù”
Đức vua rất cảm động khi nghe những
lời ấy. Ngài ra lệnh đình chỉ việc hành hình. Nhờ vậy mà đoàn tù binh thoát chết.
Viên quan cận thần đó lẽ nào
không có phần bị xúc phạm trong lời chửi rủa của tên tù binh. Nhưng may thay,
điều duy nhất mà trái tim ông hiểu được là nỗi đau khổ của người khác, cũng như
sự độc ác và ngu dại của chiến tranh:
“Lấy đao chém nước, nước càng chảy
mạnh, nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm. Lấy oán báo oán, oán thù chồng chất, lấy
ân báo oán, thù oán tiêu tan.”
"Lạy Thiên Chúa, tế phẩm
dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng
khinh chê." (Tv 51,19)
THỨ BA - MẸ CHÚA VÀ
ANH EM CHÚA GIÊSU
Lời Chúa: Mc 3,31-35
Khi ấy, mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai
người vào mời Chúa ra.
Bấy giờ có đám đông ngồi chung quanh Người và họ trình với Người
rằng: "Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy."
Người trả lời rằng: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?"
Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói:
"Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là
anh chị em và là mẹ Ta."
TRUYỆN KỂ
1. Gia đình Thiên Chúa
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Cuộc đón rước Hòm Bia thật long trọng. Đa-vít ca hát nhảy múa hết
mình. Và dâng lễ vật trọng hậu lên Thiên Chúa: “Khi những người khiêng Hòm Bia
của Đức Chúa đi được sáu bước, thì vua sát tế một con bò và một con bê béo. Vua
Đa-vít quấn ê-phốt vải gai, nhảy múa hết sức mình trước nhan Đức Chúa." Việc
dâng lễ vật tuy trọng hậu, nhưng chỉ rời rạc. Không qui tụ được toàn dân. “Rồi
toàn dân ai nấy về nhà mình” (năm chẵn).
2. Môn đệ Khổng Tử
Khổng Tử có một người cháu tên là Khổng Miệt và một người học
trò tên là Bật Tử Tiện, cả hai ra làm quan cùng một thời. Một hôm Khổng Tử hỏi người
cháu:
- Từ khi ra làm quan đến giờ, ngươi đã được điều gì và mất điều
gì?
Khổng Miệt trả lời:
- Từ khi làm quan, tôi chưa được điều gì, mà đã mất ba điều:
không có giờ học tập vì thế trình độ vẫn thấp, lương bổng không đủ giúp người
thân, công việc bề bộn nên không có giờ thăm viếng bạn bè.
Nghe thế, Khổng Tử rất buồn lòng.
Một ngày nọ, Khổng Tử cũng hỏi Bật Tử Tiện cùng một câu như đã hỏi
Khổng Miệt, Bật Tử Tiện đáp:
- Từ khi ra làm quan, tôi chưa mất điều gì, mà đã được ba điều:
Những điều đã học nay đem ra thực hành, vì thế việc học được rõ ràng thêm;
lương bổng tuy ít nhưng cũng có thể giúp người thân phần nào, do đó mà thân thiện
hơn; công việc tuy nhiều, những cũng bớt chút thời giờ thăm bạn bè khiến tình bạn
càng thân thiết.
Câu trả lời của Bật Tử Tiện được Khổng Tử khen là chí lý và thực
là câu trả lời của người quân tử.
3. Con lừa của Chúa
Thánh Gioan Vianney, lúc còn là một chủng sinh, học hành rất chậm
chạp, tưởng chừng như ngài không có đủ khả năng để tiến tới chức Lm. Ngày kia,
thừa lệnh giám mục giáo phận, một vị giáo sư thần học, đã đến khảo sát Vianney,
tội nghiệp Vianney đã không thưa được câu nào. Không giữ được bình tĩnh, vị
giáo sư đã đập bàn quát lớn: “Vianney, anh dốt như lừa. Với một con lừa như
anh, Giáo hội sẽ làm được gì?”
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa thầy, ngày xưa Samson
chỉ dùng có một cái hàm của một con lừa, để đánh bại được ba ngàn quân
Philitinh, vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được gì sao?”
4. Thực hành Lời Chúa.
Trong Chúa nhật đầu tiên tại một giáo xứ, vị linh mục vừa nhận
chức đã giảng một bài giảng rất văn hoa, xúc tích, sâu sắc, hùng hồn. Tất cả
các tín hữu có mặt hôm ấy cảm thấy rất sốt sắng và phấn khởi. Có lẽ có nhiều
người đã dâng lời cảm tạ Thiên Chúa, vì Ngài đã ban cho họ một vị linh mục có
tài ăn nói: “Phun châu nhả ngọc."
Tiếng đồn về cha xứ mới lan mau như lửa cháy, vì thế vào Chúa nhật
kế tiếp, nhà thờ bỗng trở nên đông đảo hơn các Chúa nhật khác. Mọi người nóng
lòng chở đợi cho đến lúc cha giảng. Nhưng cha xứ lại giảng một bài gần giống
như bài giảng Chúa nhật tuần trước đó. Rồi trong Thánh lễ Chúa nhật thứ 3, thứ
4, kế tiếp đó cũng vẫn một bài giảng đó.
Hội đồng giáo xứ liền cử người đến hỏi cha xứ xem tại sao mà
ngài lại cứ giảng đi giảng lại một bài giảng hoài như vậy? Cha xứ bèn trả lời:
- Tại sao anh chị em vẫn cứ sống như cách đây 6 tuần trước. Khi
nào anh chị em đem áp dụng những gì tôi đã trình bầy tôi sẽ giảng bài giảng mới.
5. Người thân của Chúa
Nàng là một thiếu nữ trẻ đẹp, đã đính hôn với một chàng trai, và
đang chờ đợi ngày làm lễ thành hôn. Thế rồi một hôm, bỗng nàng cảm thấy đau ở
tay. Nàng đến gặp một Bác sĩ. Sau khi đã khám nghiệm, bác sĩ cho biết, nàng mắc
bệnh phong cùi. Thế là tương lai hoàn toàn sụp đổ ngay ở dưới chân. Sao mà số
phận của nàng nghiệt ngã đến thế. Rồi cùng với bao nhiêu người cùi khác, nàng
phải vào sống trong trại cùi. Những trại này thường được thiết lập ở một nơi xa
xôi hẻo lánh, tách biệt khỏi gia đình và xã hội.
Hôm ấy người ta chở nàng đến trại cùi. Vừa đến nơi, thấy những
người đàn bà rách rưới bẩn thỉu, nàng bật khóc và tinh thần xuống tột độ. Sự
tuyệt vọng đã hiện rõ trên khuôn mặt xinh xắn của nàng. Những người đưa nàng đến
đây đều có cùng một ý nghĩ là, có thể nàng sẽ tự tử.
Nhưng may thay, mấy ngày hôm sau, một vị thừa sai đang phục vụ
trong trại cùi đã đến xin nàng giúp ngài săn sóc cho những người cùi khác.
Một tia hy vọng đã lóe lên trong đầu nàng. Từ đó, nàng bắt tay
vào việc bằng cách mở lớp dạy chữ cho các em cùi và những người lớn chưa biết
chữ. Nàng cũng hướng dẫn những phụ nữ có con cách chăm sóc và nuôi nấng con cho
chu đáo.
Nhưng điều nàng làm hay nhất là những buổi sinh hoạt mà nàng đứng
ra hướng dẫn, đã thay đổi hẳn bộ mặt của trại cùi một cách rõ nét. Nhờ cây đàn
Accordion được các vị thừa sai sắm cho, nàng đã tạo nên được một bầu không khí
vui nhộn và ấm cúng cho cả trại cùi.
Ít lâu sau, có người hỏi cảm tưởng của nàng về cuộc sống nàng
đang sống thì người thiếu nữ Ấn Độ đó trả lời rằng:
- Khi vừa mới đến đây, tôi bắt đầu hồ nghi Thiên Chúa. Tôi không
biết có Thiên Chúa hay không nữa. Vì nếu có Thiên Chúa là tình thương, thì làm
sao mà Ngài lại để cho con người khổ sở như thế này. Nhưng bây giờ thì tôi biết
đó là ý Chúa. Và rõ ràng đối với tôi là Ngài muốn cho tôi ở đây, để làm vơi đi
những nỗi sầu khổ của bao nhiêu người đang sống ở chốn này. Vì thế, tôi không
còn buồn nản như lúc mới tới đây nữa, mà tôi hân hoan thực thi ý của Chúa. Bao
lâu tôi còn sống tôi sẽ cảm tạ Chúa vì Ngài đã dắt đưa tôi tới đây.”
Vâng! Người thiếu nữ trên đây đã trở thành mẹ và anh chị em của
Chúa rồi.
THỨ TƯ - DỤ NGÔN
GIEO HẠT GIỐNG
Lời Chúa: Mc 4,1-20
Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy ở bờ biển và có đám đông
dân chúng tụ lại gần Người, nên Người xuống ngồi trong một chiếc thuyền trên mặt
biển, tất cả đám đông thì ở trên đất theo dọc bờ biển.
Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều, và khi giảng, Người nói
với họ rằng: "Các ngươi hãy nghe! Nầy người gieo hạt đi gieo hạt giống.
Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết. Phần khác
rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất. Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất
không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ,
nên bị chết khô. Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết
mà không sinh hoa trái được. Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và
sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm."
Và Người phán rằng: "Ai có tai nghe thì hãy nghe."
Khi Người còn lại một mình, thì mười hai ông là những kẻ luôn ở
với Người, hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn, Người liền bảo các ông: "Các con
được ơn biết mầu nhiệm về nước Thiên Chúa, còn những người khác ở ngoài thì mọi
sự được giảng dạy bằng dụ ngôn, vì chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu,
kẻo chúng trở lại mà được tha tội." Người nói với các ông: "Các con
không hiểu dụ ngôn đó sao? Vậy thì hiểu sao được tất cả những dụ ngôn khác?
Người gieo hạt là gieo lời Chúa. Vệ đường mà lời Chúa được gieo
vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong
tâm hồn họ. Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe
lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những
người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa
ngã liền. Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời
Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh
hoa trái được. Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời
Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm."
TRUYỆN KỂ
1. Mội thánh có một câu Lời Chúa
Chỉ cần một hạt giống lời Chúa rơi vào tâm hồn bạn, như rơi vào
thửa đất màu mỡ, đời bạn có thể thay đổi hoàn toàn.
Têrêsa Hài Đồng đã để lòng mình đón lấy lời này: “Ai không nên
như trẻ thơ thì chẳng được vào Nước Trời.” Chị đã nên thánh nhờ suốt đời sống
phó thác như trẻ thơ.
Têrêsa Calcutta đã để lòng mình đón lấy lời này: “Những gì ngươi
làm cho một anh em nhỏ nhất, là làm cho chính Ta.” Mẹ Têrêsa đã không bao giờ
quên mình đang tiếp xúc với Giêsu mỗi khi Mẹ gặp người nghèo khổ, bệnh tật.
2. Hạt giống Lời Chúa
Phan Linh là một nhân vật nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khoa học
kỹ thuật và văn chương. Một hôm ông nhận được một món quà của một người bạn từ Ấn
Ðộ, đó là một cái chổi rơm. Nhận thấy có những hạt lúa dính ở cọng rơm, ông nhặt
lấy và đem đi gieo, sau đó ông cũng phân phát cho bà con cùng gieo, thu hoạch rất
khả quan và dần dần lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nhập giống lúa mới và
khai sinh kỹ nghệ làm chổi phục vụ cho cả nước.
3. Đón nhận hay khước từ
Thánh Âu Tinh nói: “Thiên Chúa sinh ra bạn, Ngài không cần hỏi ý
kiến bạn, nhưng khi muốn cứu chuộc bạn, Người phải hỏi ý kiến bạn."
Thật vậy, Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do, đây là gia sản
quý giá mà Thiên Chúa không ngần ngại ban tặng cho một loài thụ tạo. Vì thế,
con người hoàn toàn có trách nhiệm khi sử dụng tự do của mình trong cuộc sống.
4. Hạt giống Lời Chúa rơi vào đất nào?
Mắt cậu sáng lên và mau mắn đọc
thuộc lòng những câu trích từ sách Coran là sách thánh của các tín đồ Hồi giáo.
Nhà truyền giáo nói thêm:
- Bây giờ, con thử viết những lời
đó trên đất để cha có thể hiểu dễ dàng hơn và học mau thuộc hơn không?
Cậu bé đáp:
- Thưa cha, không được! Lời
Thánh phải được viết trong trí và ghi trong lòng chứ không thể viết trên đất được.
Theo tư tưởng của cậu bé đó thì
Kinh Thánh phải được ghi khắc trong tâm hồn, nghĩa là Lời Chúa phải thấm nhập
vào lòng trí người Kitô hữu để họ phải sống bằng Lời Chúa.
Sống đạo là để cho Lời Chúa thấm
nhập tâm hồn.
Sống đạo là để cho Lời Chúa hướng
dẫn cuộc sống.
Sống đạo là để cho Lời Chúa tuôn
trào ra cửa miệng và thấm nhuần môi trường sống.
5. Lời Chúa biến đổi tâm hồn.
Một bác nông phu quê mùa chất phác nọ đã trở lại Kitô giáo. Được
Lời Chúa soi sáng và hướng dẫn, Đức tin cũng như lòng mến Chúa chân thành của
bác ngày càng trở nên mạnh mẽ, mạnh đến độ gặp ai, ở chỗ nào bác cũng sốt sắng
nói về Chúa cho người ta nghe.
Một hôm, có một người vô thần đến gặp bác, với ý định đặt một số
câu hỏi để dằn mặt bác để bác khỏi đi rao giảng về Đức Kitô.
Người vô thần hỏi:
- Ông có biết Đức Kitô mà ông vẫn hăng say quảng cáo, sinh ra
ngày nào không?
Bác nông phu trả lời:
- Ngày 25 tháng 12.
Người vô thần nhún vai, trợn mắt, lắc đầu ra chiều khinh bỉ, rồi
hỏi tiếp:
- Thế ông có biết Đức Kitô của ông chết năm bao nhiêu tuổi
không?
Bị hỏi bất ngờ, bác nông phu còn đang ấp úng để tìm câu trả lời,
thì người vô thần kia đã cướp lời: - Ông thấy không, ông có biết gì về Đức Kitô
của ông đâu. Vậy mà cứ đi quảng cáo về ông ta rùm beng.
Sau lời chê bai của người vô thần, bác nông phu bình tĩnh giải
thích:
- Tôi không biết nhiều về Đức Kitô. Nhưng có một điều tôi biết
chắc là, hai năm trước đây, tôi là một người chè chén say sưa, tôi rất hay nóng
giận, đập phá nhà cửa, đánh đập vợ con. Hai năm trước đây, không bao giờ tôi thấy
vợ tôi nở một nụ cười, con cái tôi không còn xa tránh tôi nữa. Bầu khí trong
gia đình tôi đã trở nên nhẹ nhõm, vui tươi. Còn riêng tôi, tôi đã bỏ được những
tính xấu trước đây. Tất cả những điều ấy, tôi tin là Đức Kitô đã làm cho tôi và
gia đình tôi được thay đổi. Tôi nghĩ, tôi biết như thế về Đức Kitô, cũng đã là
quá nhiều rồi.
6. Giác ngộ
Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh
Bagayad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông
thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của
mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi "Bệ hạ
có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không?" Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ
trả lời "Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã..."
Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất
cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu
cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua
"Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được..." Giác ngộ đích
thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý"
7. Ai tìm sẽ gặp
Đại tướng Lew Wallace, một đảng viên cao cấp của đảng cộng sản
vô thần. Lần kia ông nói với người bạn của ông rằng: “Bọn Công giáo thật ngu đần,
chúng tôn thờ một tử tội bị treo trên thập giá là ông Giêsu! Chúng lại mê đọc
sách của bọn vô học thức là Nhóm 12 môn đệ của ông Giê-su (x Cv 4,13). Sách này
toàn là chuyện mê tín, trái khoa học! Tôi sẽ để ra 5 năm đọc sách ấy, và tôi
quyết mở mắt cho bọn Công Giáo khỏi bị mù quáng, để chúng được sáng suốt như
tôi!”
Thế nhưng, sau 5 năm nghiên cứu Thánh Kinh, kết quả ngược lại,
thay vì ông mở mắt cho người Công Giáo, thì chính ông lại được Chúa mở mắt cho,
ông nhìn thấy lúc Chúa bị đâm, nước và máu từ cạnh sườn Ngài dốc ra hết, lúc ấy
một trận mưa rào trút nước, chuyển tải máu Đức Giêsu từ đồi Sọ chảy xuống thung
lũng có những người cùi đang tắm mưa, ai đằm mình trong nước đó đều được lành mạnh.Chuyện
này đã được đóng thành phim có tựa đề “Benhur”rất nổi tiếng! Ông Lew Wallace trở
thành chứng nhân cho Đức Giêsu: chỉ có Ngài mới thực là Đấng Cứu Độ!
8. Tình yêu biết tha thứ
Trong cuốn “Tha thứ và quên đi”, Lewis Smedes kể về một tù nhân
lao động trong bệnh viện tại chiến trường của Đức Quốc Xã. Ngày kia, một y tá hộ
tống anh đến giường một người lính Đức đang hấp hối. Người này xin được tha thứ
vì đã góp phần trong việc sát tế người Do thái: “Tôi biết điều tôi xin là quá
nhiều. Nhưng nếu không được tha thứ, tôi không thể nào chết thanh thản được”
Tù nhân suy nghĩ một lúc rồi bỏ đi, không tha thứ cho người lính
Đức. Tù nhân này sống sót sau cuộc chiến, nhưng không thể quên được sự kiện
này. Nó quấy rầy anh suốt quãng đời còn lại.
Nếu một ai đó khó tha thứ cho người khác tôi sẽ khuyên họ cho điều
gì? Tại sao?
Khi chúng ta không chịu tha thứ, chúng ta phá sập chiếc cầu dẫn
chúng ta tới Thiên đàng, bởi vì mỗi người đều cần được tha thứ (George
Herbert).
9. Dụ ngôn của tâm hồn
Một nữ sinh trung học nói với thầy giáo: “Khi nghe nói dụ ngôn về
Người gieo giống, em có cảm tưởng chính Chúa Giêsu nói với chính em. Trước đây,
vị hướng dẫn của em và em đã trao đổi và em quyết tâm rất nhiều điều. Nhưng hôm
qua, em đã vấp ngã. Em đã không giữ được một trong những quyết tâm đó. Em đã để
những lo lắng về trường lớp và cuộc sống làm chúng bị lung lạc”
Ở mức độ nào, tôi để hạt giống rơi vào bụi gai như nữ sinh này?
Tôi có thường để những lo lắng của cuộc sống bóp nghẹt Lời Chúa trong lòng tôi
không?
Bạn càng trung thành lắng nghe tiếng nội tâm, bạn càng có khả
năng nghe rõ những âm thanh bên ngoài (George Dana Boardman).
10. Luôn luôn gieo
Vào thập niên 1930, một du khách thám hiểm dãy Alpes, anh đến một
dải đất trọc, rộng mênh mông. Bỗng anh sững sờ, vì giữa vùng đất cằn cỗi ấy, một
cụ già đang lom khom với một ống sắt dài; ông dùng ống sắt đâm xuống làm thành
những chiếc lỗ. Đoạn bốc ra từ chiếc túi những hạt nhỏ, ông gieo vào mỗi lỗ một
hạt. Ông nói, “Tôi đã trồng hơn 100 ngàn hạt sồi. Có lẽ chỉ một phần mười sẽ mọc
lên." 20 năm sau, du khách kia về lại vùng đất hoang. Không thể tin được,
một rừng sồi xinh đẹp trải dài hàng chục dặm!
“Người gieo giống đi ra
gieo giống." Để có thể ‘luôn luôn gieo’, trước hết, tâm hồn chúng ta phải
luôn thao thức và cần được chăm sóc. “Việc chăm sóc tâm hồn tựa hồ việc xới đất:
nhổ cái ác, trồng cái thiện; bứng tróc niềm kiêu hãnh từ gốc rễ, vun quén sự
khiêm nhường; vứt bỏ mọi tham lam và giữ lấy lòng thương xót; khinh thường sự ô
uế và yêu thích sự trong trắng!” - Thánh Caesarius Arles. Một yếu tố cần thiết
khác là biết chờ đợi, “Gieo là một cử chỉ tin tưởng và hy vọng; nhưng sau đó, bạn
và tôi phải bước vào thời gian chờ đợi. Vì rằng, việc mọc lên là công việc của
Chúa!” - Bênêđictô XVI.
“Lạy Chúa, xin cứ dùng
con như khí cụ bình an của Lời. Ngày nào con ngưng thở, ngày ấy con ngừng
gieo!”, Amen.
THỨ NĂM – ĐÈN ĐẶT TRÊN ĐẾ
CAO
Lời Chúa: Mc 4, 21-25
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn
sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá
đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà
không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe.”
Và Người bảo họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy.
Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy,
và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái
đang có cũng bị lấy mất.”
TRUYỆN KỂ
1. Ðong đấu nào
Thi hào Tagore có kể câu truyện ngụ ngôn như sau: Có một người
hành khất nọ ngồi bên vệ đường. Hôm ấy, đức vua ngự giá đi ngang qua. Người
hành khất cố lê lết đến cổng làng, ngồi đó và nhủ thầm: "Ðây là dịp may hiếm
có, tôi sẽ xin đức vua bố thí cho tôi.”
Từ xa, khi thấy xe đức vua, người hành khất đã vẫy tay chào.
Nhưng không ai ngờ, khi xe dừng lại, vua chẳng cho gì mà còn giơ tay xin người
hành khất bố thí. Người hành khất liền đưa tay vào cái bị, lấy ra một nắm thóc
và đặt vào bàn tay vua một hạt thóc. Ðức vua cám ơn, rồi tặng lại một món quà
nhỏ bỏ vào cái bị ấy.
Khi về đến nhà, người hành khất mở bị ra, thì thấy giữa những hạt
thóc một hạt kim cương sáng ngời. Lúc đó, người hành khất mới hối tiếc:
"Phải chi ta cho đức vua cả bị thóc này, thì ta đã được cả một bị kim
cương.”
2. Cây nến trong tay Thiên Chúa
Buổi chiều, người nọ lấy cây nến nhỏ từ trong hộp ra và leo lên
tầng tháp cao. Cây nến hỏi:
- Chúng ta đi đâu?
- Đi lên cao hơn để chỉ đường
cho tàu bè vào cảng.
- Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm
sao tàu bè thấy được?
- Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng
thôi, còn mọi việc ta lo.
Tới đỉnh tháp, người nọ đặt cây nến vào trong một cái đèn có
ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó, ánh sáng lan tỏa và mọi tàu bè đều thấy.
Chúng ta cũng là cây nến trong tay Thiên Chúa. Chỉ cần ta cháy
sáng, còn kết quả là ở Thiên Chúa.
3. Các con là chứng nhân của Thầy
Vì thế, năm 1937, ông Gandhi, một lãnh tụ vĩ đại của Ấn độ, đã
nói với các nhà truyền giáo câu này để chúng ta suy nghĩ: ”Hãy để cho đời sống
của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần
đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận
ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ đến sự cao cả của người Kitô hữu
khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả
những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu, chứ không phải là chú giải nó.”
Là ánh sáng, chúng ta phải chiếu soi cho thế gian bằng đời sống
gương sáng và đem tinh thần Chúa Kitô thấm nhiễm vào môi trường sống của mình.
Chúa bảo chúng ta: ”Các con là chứng nhân của Thầy”, nhưng nhiều khi chúng ta
vô tình hay hữu ý đã trở thành phản chứng, làm méo mó khuôn mặt của Đức Kitô,
khiến người ta không muốn theo Chúa.
4. Ngọn hải đăng.
Vào một đêm mưa bão, ngọn hải đăng bị mất điện tắt ngấm. Người
phụ trách hải đăng vội vã đốt một cây nến nhỏ và cầm cây nến theo đường cầu
thang leo lên sân thượng để đốt đèn lên. Bấy giờ cây nến mới lên tiếng hỏi người
phụ trách rằng:
- Ông đem tôi đi đâu vậy?
Ông trả lời:
- Ta mang nhà ngươi lên sân thượng để chiếu sáng giúp tầu bè từ
ngoài khơi biết đường trở về và cập bến an toàn.
Cây nến lại nói:
- Nhưng tôi chỉ là cây nên nhỏ bé thế này thì tầu bè ở tận ngoài
khơi làm sao nhìn thấy ánh sáng của tôi được?
Người phụ trách trả lời:
- Bây giờ ta chỉ cần nhà ngươi đừng bị gió thổi tắt là được. Còn
các chuyện khác thì đã có ta lo liệu.
Khi cả hai leo lên đến nơi, thì người phụ trách đã dùng cây nến châm
lửa và trong giây lát ánh sáng từ cây đèn lồng rực lên chiếu tỏa ra chung
quanh. Chiếc đèn lồng này đã được thiết kế để khi cần có thể xử dụng thay bóng
đèn điện. Ánh sáng của nó có sức chiếu ra tận ngoài khơi, hầu giúp tầu bè dễ
dàng định hướng để quay về cập bến an toàn.
5. Tai và lưỡi được vào thiên đàng
Một nông dân nghèo Nhật bản vào thiên đàng và điều đầu tiên ông
nhìn thấy là một kệ dài với những vật rất kỳ lạ. Ông hỏi:
- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?
- Không, đó là những cái tai. Chúng là của những người khi sống ở
đời nghe được những điều tốt, nhưng họ không làm. Nên khi chết, tai họ vào
thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không.
Một lát sau, ông lại thấy một kệ khác với những vật kỳ quái. Ông
hỏi:
- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?
- Không, đó là những cái lưỡi. Chúng là của những người sống ở đời
bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ không làm hoặc không sống
điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể
thì không (Góp nhặt)
6. Nến được đặt trên giá
Lời Chúa quả có sức chiếu sáng rất mạnh. Chỉ tiếc rằng, Lời Chúa
rót vào tai một số người giống như dầu châm vào những cây đèn không chịu cháy
sáng cho nên cũng vô ích. Bà Chiara Lubich nói: “Chúng ta phải sống thế nào để
cho dù các sách Tin Mừng trên khắp thế giới có bị đốt hết đi thì người ta cũng
vẫn có thể nhìn vào cuộc sống chúng ta mà chép lại Tin Mừng đúng từng câu, từng
chữ.”
Chiara rất thích thể thao, nhưng rồi một hôm khi dang chơi
tennis, cô thấy đau ở vai. Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ cho cô biết cô đã bị ung
thư và phải nằm viện. Trong thời gian điều trị, cô đã cố quên cái đau đớn trong
thân xác để giúp đỡ mọi người. Khi cô thấy tóc mình rụng quá nhiều vì xạ trị cô
đã nói: - Con xin dâng tất cả cho Chúa Giêsu.
Trước khi lìa đời, Chiara dặn dò mọi người:
- Xin đừng khóc cho tôi, tôi đang đến với Chúa Giêsu. Trong lễ
an táng của tôi, tôi muốn mọi người đều ca hát ngợi khen Chúa.
Đức Cha Jean Koret, vị Giám Mục Tiệp Khắc đã từng phải sống lén
lút dưới chế độ Cộng Sản của Tiệp Khắc trước kia, tâm sự rằng: Ngài đã gặp gỡ
được nhiều người tốt, lúc Ngài phải đi làm việc như một công nhân, hơn là lúc
Ngài ở trong toà Giám Mục.
Tiết lộ trên đây của Đức Cha Jean Koret, đã phản ánh trung thực
điều Chúa Giêsu đã phán: ”Có ai đốt đèn rồi đem để ở trong thùng hay dưới gầm
giường không? Nào chẳng phải là đặt trên giá đèn sao?” (Mc 4,21).
7. Điều mong ước thánh thiện
Anh Nguyễn Văn Được khoe với bạn Phạm Minh Cho:
- Tớ mới được anh Tốt tặng cho một
chiếc xe hơi trị giá 100. 000 USD.
- Ồ, tôi ước. . ước…
- Bạn ước được chiếc xe như tôi
chứ gì?
- Ồ không, tôi ước được giống
anh Tốt của bạn.
Chỉ một câu nói của anh Cho đã lộ ra tấm lòng anh giống Chúa, bởi
vì Chúa là Đấng Cho (x Ga 3, 16; 1Ga 4, 16). Anh bạn này đúng là cây đèn cháy
sáng, đáng được được đặt lên đế cao soi sáng mọi người.
8. Chúa mới tỏa sáng
Chuyện kể rằng có một ngôi chùa kia quanh năm suốt tháng vắng vẻ
“như chùa Bà Đanh.” Vị sư trụ trì liền thỉnh một tượng Phật to về đặt trong
chùa. Thế nhưng tình thế vẫn không thay đổi. Vị sư liền tìm đến một thiền sư ẩn
tu trong núi sâu vấn kế. Vị thiền sư trả lời: “Vì thầy chỉ thỉnh tượng Phật chứ
không thỉnh Phật.”
Các ki-tô hữu có khi cũng rơi vào tình huống tương tự khi nghe
Chúa Giê-su nói “Các con là ánh sáng thế gian” rồi tưởng rằng mình đã nắm gọn
chân lý trong tay và tự đặt mình “trên đế cao” mà quên rằng mình mới chỉ là cái
đèn chưa có ánh sáng. Phải toả sáng bằng ánh sáng Chúa Kitô thì sự hiện diện của
ngọn đèn trên đế cao mới có ý nghĩa.
Dù là đèn dầu hay đèn điện… cũng phải tiếp xúc với nguồn năng lượng
mới có thể toả sáng. Ngọn đèn kitô hữu toả sáng bằng ánh sáng Chúa Ki-tô bằng
cách sống những giá trị Tin Mừng một cách dạn dĩ, không mặc cảm, không sợ sệt.
Cũng như năng lượng phải được đốt cháy, người ki-tô hữu phải dám chấp nhận hy
sinh, thập giá, theo gương Thầy Giê-su thì mới toả sáng được.
9. Đong đấu nào
“Không ai là một hòn đảo,” chân lý đó là bất di bất dịch: ngay cả
Daniel Defoe khi viết truyện “Robinson một mình trên hoang đảo” cũng đã tạo ra
cho Robinson một nhân vật để bầu bạn là chàng thổ dân mà ông đặt tên là “Thứ Sáu.”
Sống là sống cùng, sống với. Thiên Chúa đã không tạo dựng những
con người cô độc, Ngài cũng không cứu rỗi con người cách riêng rẽ; trái lại,
Ngài tập họp họ thành một dân tộc để nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự
Ngài trong thánh thiện.
Chân lý đó của cuộc sống kéo theo qui luật cho và nhận: cái gì
đã được ban không thì cũng phải cho không. Từ sự sống, tình yêu, đến đức tin,
và sự sống đời đời,… những điều đó, chúng ta có đều đã lãnh nhận cách dư đầy từ
Thiên Chúa; vậy chúng ta cũng phải chia sẻ cho nhau cách quảng đại như vậy.
Ngài cũng sẽ tiếp tục hành xử cách ấy đối với chúng ta: “Anh em đong đấu nào,
thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy.”
10. Nợ tình yêu thương
Ted Kenedy mất đi một chân vì căn bệnh ung thư ở tuổi 12. Năm 20
tuổi, anh dành nhiều thì giờ để nói chuyện với những người khác cũng trong tình
trạng giống như của anh. Về khả năng hồi phục của mình, anh nói: “Người ta cho
rằng tôi quá tin tưởng. Nhiều người trong gia đình tôi đã thù lao cho những bác
sĩ giỏi nhất để tôi chữa trị cách tốt nhất. Vì thế điều tôi quan tâm khi thực
hiện những buổi nói chuyện đó là muốn trả món nợ tôi đang mắc với gia đình tôi.
Đối với tôi, những buổi nói chuyện ấy còn quá ít để làm cho người khác thấy rằng
việc tôi khỏi bệnh hẳn là điều không thể có được nếu bản thân tôi đã không có một
cố gắng nào.”
Tôi có thể đáp đền ơn Chúa và gia đình tôi về những đặc ân tôi
đã nhận được từ Chúa và gia đình như thế nào?
Không bao giờ chúng ta thấy mình được hạnh phúc nếu chúng ta
không nhận ra ở một mức độ nào đó rằng những đặc ân Thiên Chúa ban là điều tốt
hơn cả.
11. Cảm nhận tình yêu Chúa
Một người cha của năm đứa con ở nhà một mình. Vợ và các con ông
đến nhà bà ngoại vài ngày. Nghe xong bản tin cuối ngày, ông tắt tivi. Ông ngồi
yên lặng và chợt nhìn lên tấm ảnh gia đình. Chăm chú nhìn vào tấm ảnh, ông bỗng
xúc động vì nhận ra Chúa đã chúc phúc cho gia đình ông như thế nào, đến độ những
giọt nước mắt vui sướng chảy ra lăn dài trên má.
Tôi thử nhớ lại xem đã có bao giờ tôi cảm nghiệm được Thiên Chúa
chúc phúc cho tôi nhiều đến thế chưa? Điều gì đưa đến cái nhìn sâu xa này? Kết
quả ra sao?
Hãy học nơi vua Đavít để biết tạ ơn mọi sự. Những dòng trong cuốn
Thánh vịnh được gieo bằng hạt giống của lời tạ ơn (Jeremy Taytor).
12. Đức tin và tình yêu cần việc làm
Một tu sĩ nọ cả đời ngồi thiền trong một hang đá. Môn đệ của ông
đem đến cho ông một ít lúa mì để ăn và một ít nước để uống. Vì không vận dụng mắt
và chân, vị tu sĩ mất đi khả năng nhìn và đi.
Khả năng của linh hồn cũng giống như khả năng của thể xác: càng
sử dụng, nó càng trở nên phong phú; trái lại, càng ít sử dụng, nó càng trở nên
yếu đuối. Một khi ta hoàn toàn ngừng sử dụng nó thì chẳng bao lâu ta sẽ mất đi
cái nguồn ít ỏi mà ta có.
Tôi đã rơi vào tình trạng nguy hiểm mà việc đánh mất sức mạnh
tinh thần tới mức nào, chẳng hạn như khả năng tin tưởng và yêu thương, khi tôi
ít sử dụng chúng?
Đức tin Kitô không được sống chỉ là đức tin yếu kém. Và đức tin ấy
vẫn chưa được thử nghiệm (Gilbert K. Chesterton).
THỨ SÁU - NƯỚC THIÊN CHÚA
PHÁT TRIỂN
Lời Chúa: Mc 4, 26-34
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước Thiên
Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay
ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa.
Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt.
Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".
Người còn phán: "Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên
Chúa? hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? Nước đó giống như hạt cải,
khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi
gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim
trời có thể tới núp bóng được".
Người dùng nhiều dụ ngôn như thế mà rao giảng lời Chúa cho họ,
tuỳ sức họ có thể hiểu được, và Người chỉ nói với họ bằng dụ ngôn, nhưng khi ở
riêng với các môn đệ, Người giải thích tất cả cho các ông.
TRUYỆN KỂ
1. Phải kiên trì
Nhà tâm lý học Weldon cho rằng, hạt giống kỳ lạ nhất thế giới là
hạt giống của một giống tre bên Trung Quốc. Hạt giống nằm yên dưới lòng đất đến
5 năm, rồi mới nhú chồi non lên mặt đất. Suốt thời gian 5 năm này, người trồng
phải vất vả chăm sóc tre, nào là tưới nước, nào là bón phân, mà họ không hề
nhìn thấy hệ thống rễ phức tạp đang sinh sôi lan tràn trong lòng đất.
Cuối cùng, một sự sống đã vươn lên đầy kinh ngạc: Chỉ trong 6 tuần
sau khi nhú lên khỏi mặt đất, cây tre đã mọc cao lên gần 3 mét... Một sức sống
mãnh liệt đã vươn lên mạnh mẽ nhờ hệ thống rễ được nuôi dưỡng 5 năm trong lòng
đất, chính những hệ thống rễ này tiếp sức cho mầm non để nó có thể tăng trưởng
một cách mau chóng thần kỳ…
Hạt giống của cây tre lạ kỳ này lớn mạnh đầy sức sống gợi cho
chúng ta hình ảnh của hạt giống nước Trời: Hạt gieo vào lòng đất được nuôi dưỡng
bởi đất, nảy mầm và lớn lên với thời gian. Hạt giống nước Trời sẽ trưởng thành
như là hạt cải - “hạt bé nhất” nhưng khi nảy mầm và lớn lên lại thành cây lớn
nhất trong các loại rau. Nước Trời được khởi đầu rất nhỏ bé là Chúa Giêsu cùng
nhóm nhỏ môn đệ. Sau 20 thế kỷ, Kitô giáo đã lan tràn khắp nơi, đến với mọi dân
tộc…
“Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn
lên.
Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả,
nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1Cr
3,6-7).
2. Giải đáp ba thắc mắc.
Một hôm, cha Petitjean đến giảng đạo tại Nagasaki cho một số
đông người Nhật. Nghĩ rằng họ đều là người bên lương nên sau bài giảng, ngài
tươi cười hỏi:
- Anh em có thắc mắc gì không?
Một người đưa tay đặt câu hỏi:
- Chúng tôi muốn được hỏi ông ba điều, yêu cầu ông trả lời có
hay không? Câu hỏi thứ nhất, các ông có tin Đức Mẹ Đồng trinh không?
- Có.
- Câu hỏi thứ hai: các ông có vâng lời và thông hiệp với Đức
Thánh Cha không?
- Có.
- Câu hỏi thứ ba: Là Linh mục, các ông có giữ mình đồng trinh và
sống độc thân không?
- Có.
- Vậy thì mấy trăm người chúng tôi đây với ông là đồng đạo.
Chúng tôi là người Công giáo cả đây.
Cha Petitjean bàng hoàng như từ cung trăng rơi xuống. Cha con âu
yếm ôm cổ nhau. Nhà truyền giáo hỏi:
- Bấy lâu nay, có ai giảng dạy cho các anh không?
- Thưa cha, không có ai suốt hai thế kỷ rồi! Đó là nhờ ông bà tổ
tiên chúng con truyền lại, rồi chúng con âm thầm cầu nguyện, dạy giáo lý cho
con em, đoàn kết đùm bọc nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông bà chúng con
trước khi chết có nhắn nhủ: Sau này có ai đến giảng đạo hãy cảnh giác, phải lấy
ba tiêu chuẩn ấy mà nhận xem họ có phải là các cha đích thực, là người của Hội
thánh sai đến.
Giáo hội Nhật Bản đã tái sinh.
3. Có gieo, có gặt
Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái kể chuyện: Một ngày kia, một tông đồ giáo
dân dẫn tôi đến gia đình của một người lương làm nghề kéo xe lôi. Đến đấy tôi
nhận được một món quà rất bất ngờ và rất to lớn: cả nhà gồm vợ chồng và 7 đứa
con xin theo đạo.
Khi được tôi hỏi lý do thì người chồng cho biết: Mười mấy năm
trước, khi còn nhỏ, anh học trường các sư huynh Lasan và đã có lòng mộ mến Đạo
Chúa. Lòng mộ mến ấy vẫn âm ỉ trong lòng anh. Tuần trước, khi anh gặp người
tông đồ giáo dân này, tàn lửa âm ỉ đó bỗng bùng lên thành một ngọn lửa thôi
thúc anh phải xin theo Chúa.
Nếu các sư huynh Lasan của trường kia và những tông đồ giáo dân
nọ đã không chịu khó gieo giống vì nghĩ rằng có gieo cũng vô ích thì hôm nay
tôi đã không gặt được thành quả này. “Người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt
giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa.”
4. Sự sống là một mầu nhiệm
Chúa Giêsu cho biết Lời của Chúa có sức phát triển ngay từ bên
trong, tuy âm thầm nhưng liên lỉ và rất mạnh mẽ.
Một giáo sư thực vật học kia tay cầm một hạt giống nhỏ màu nâu
và nói với cả lớp rằng:
- Tôi biết rõ hợp chất của hạt giống này. Nó gồm hydro, carbon
và nitro. Tôi biết đúng tỉ lệ và có thể tạo ra một hạt giống khác trông y như hạt
giống này.
Một học sinh đứng lên hỏi: - Thưa thầy, nếu đem hạt giống thầy
chế tạo đó mà gieo xuống đất, nó có thể mọc lên không ạ?
Giáo sư trả lời:
- Với hạt giống của tôi, điều đó không thể được. Nhưng nếu tôi
đem hạt giống mà Thiên Chúa đã làm ra, nó sẽ mọc lên thành cây, vì nó chứa đựng
nguyên tắc nhiệm mầu mà chúng ta gọi là nguyên tắc sinh tồn.
Hạt giống chứa đựng sự sống. Con người, dù có tài giỏi tới đâu
đi nữa cũng chỉ có thể tạo ra những hạt giống tương tự hoặc tạo ra những người
máy robot, nhưng không thể nào tạo ra sự sống được.
5. Tôi trồng, Apollo tưới, nhưng chính Thiên Chúa cho mọc lên
Một ông lão người Pháp nọ, sau khi vợ qua đời đã mang đứa con
trai duy nhất của ông đến một vùng đất khô cằn nhất của miền Trung nước Pháp để
lập nghiệp. Thật ra, người đàn ông này chỉ muốn quên đi cái quá khứ quá khó
khăn vất vả của mình. Miền đất khô cằn nơi ông đặt chân đến còn vỏn vẹn chỉ có
5 ngôi làng nhỏ, Dân cư thì thưa thớt. Họ sống trong những căn nhà xiêu vẹo đổ
nát. Đa số đã bỏ đi đến những thành phố lớn để tìm công ăn việc làm.
Ông lão trên 60 tuổi đưa mắt nhìn khung cảnh chung quanh và đi đến
kết luận như sau: ”Nếu không có cây cối thì chỉ trong vòng một thời gian ngắn nữa,
cả vùng này sẽ trở thành sa mạc hoang vu”. Sau khi đã dọn chỗ cho đàn cừu và một
số gia súc khác, ông lão tự đi bộ dọc theo các lối đi và cúi xuống nhặt từng hạt
dẻ. Ông lựa những hạt tốt để làm giống. Ông ngâm vào nước. Khi mặt trời vừa
lên, ông dùng ruột thanh sắt nhọn moi những lỗ nhỏ và cứ mỗi lỗ ông đặt một hạt
dẻ vào đó.
Ngày qua ngày, liên tiếp trong ba năm trời như thế, ông lão đã
trồng được tất cả 100.000 cây dẻ con. Ông hy vọng rằng, dù chúng có chết đi thì
ít ra cũng phải có 10 ngàn cây còn sống sót. Ông cũng hy vọng rằng, Chúa sẽ cho
ông được sống thêm vài năm để làm cho xong công tác trồng cây này. Ông qua đời
năm 1947, hưởng thọ 89 tuổi.
Từ những hạt dẻ ông đã cặm cụi moi từng lỗ nhỏ để đặt vào bây giờ
nước Pháp có một trong những khu rừng đẹp nhất thế giới. Trong ba khóm rừng, mỗi
khóm dài 1 cây số, rộng 3 cây số, những cây dẻ xinh tươi to lớn đã có mặt để chứa
được nước mưa, làm cho cây cối xung quanh được xinh tươi và biến khu đồi khô cằn
ngày xưa thành những dòng suối róc rách, chim chóc đã trở lại. Sự sống cũng bắt
đầu chớm nở... Dân chúng từ từ trở lại với ngôi làng cũ để xây nhà và làm lại
cuộc đời.
Lúc đầu hạt giống Nước Trời quả thật là khiêm tốn, nhỏ bé. Thế nhưng,
ngày hôm nay thì nào có ai dám hồ nghi về những khu rừng Giáo Hội đang hiện diện
trên hành tinh mà chúng ta gọi là thế giới kỳ diệu này.
6. Chúa bán hạt giống
Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ. Chị thấy mình bước vào một
siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quày hàng đặc biệt, người ta chen chân
không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu đứng bán ở quày hàng này.
Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: “Chúa mà cũng bán hàng sao?
Chúa bán cái gì ở đây vậy?”
Chúa trả lời: “Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim
con.”
Chị nói liền một hồi: “Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình
yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi. Suy nghĩ một lúc, chị lại
thêm: không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng, cho con và cho những người
thân yêu của con nữa.”
Chúa mỉm cười và nói: “Hỡi con yêu dấu, ở đây, Ta không bán hoa
trái mà chỉ bán hạt giống thôi.” (Anthony de Mello).
7. Giáo hội Hàn Quốc trẻ trung
Tôi có đi du lịch hành hương đất nước Hàn Quốc. Theo linh mục
Piero Gheddo, thuộc Hội Truyền Giáo Nước Ngoài Milano: “Trong suốt 50 năm qua
có lẽ đã không có quốc gia nào trên thế giới có được sự phát triển liên tục
trên mọi bình diện chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo như Hàn Quốc. Sự phát
triển mạnh mẽ này cũng xảy ra đối với Kitô giáo nữa. Thật thế, từ năm 1960 đến
năm 2010, dân số Hàn Quốc từ 23 triệu đã tăng lên 48 triệu người. Lợi tức bình
quân tính trên đầu người gia tăng từ 1.300 USD lên 19.500 USD hằng năm. Số Kitô
hữu từ 2% tăng lên 30%, trong đó có khoảng 11% là tín hữu Công giáo, tức khoảng
5,4 triệu. Số linh mục từ 250 lên đến 5.000.” (Nhật báo Avenire (Tương lai), cơ
quan ngôn luận chính thức của Hội đồng Giám mục Italia số ra ngày 8-4-2012).
Với hơn 5.000 linh mục hiện nay, tính bình quân, mỗi vị coi sóc
1.100 tín hữu. Hồi năm 2008, số tín hữu Công giáo đã vượt 10% tổng số dân Hàn
Quốc và gia tăng 3% mỗi năm.
Theo thống kê của Giáo Hội năm 2009, số người lãnh nhận bí tích
Rửa tội đã là 159.000, và đã có 149 phó tế được thụ phong linh mục, tức gia
tăng 21 vị so với năm 2008. Trong năm 2009 có 69% người Hàn Quốc thuộc lứa tuổi
23 tới 40. Điều này cho thấy người dân Hàn Quốc rất trẻ trung và tràn đầy sức sống.
Đức Hồng y Nicholas Cheong Jin Suk, Tổng Giám mục thủ đô Seoul,
cho biết trong 10 năm qua, số tín hữu Công giáo Hàn Quốc đã gia tăng từ 3 lên đến
hơn 5 triệu, khiến cho Giáo Hội Hàn Quốc là Giáo Hội tiến triển mạnh nhất châu
Á. Tại Hàn Quốc, quyền tự do tôn giáo được hoàn toàn tôn trọng.
Hiện nay Giáo Hội Hàn Quốc đang sống chương trình gọi là
"Rao giảng Tin Mừng hai mươi hai mươi", có nghĩa là mọi tín hữu trong
Giáo Hội phải dấn thân truyền giáo làm sao để vào năm 2020, số tín hữu Công
giáo đạt tỷ lệ 20% tổng số dân Hàn Quốc, nghĩa là gia tăng gấp đôi số tín hữu
hiện nay lên 10 triệu.
8. Tất cả vì Hội Thánh
Trong một bữa cơm thân mật có người hỏi đức ông Felgallô: “Đức
ông là người thân cận Đức Thánh Cha, vậy có gì nơi Đức Thánh Cha làm đức ông cảm
động hơn hết?”
Đức ông Felgallô đã trả lời ngay: “Dĩ nhiên Đức Thánh Cha Phaolô
VI là một vị giáo hoàng thông minh và thánh thiện, nhưng riêng tôi, điều làm
tôi cảm kích hơn cả, là ngài muốn hy sinh vì yêu Giáo Hội. Mỗi khi hòa mình với
đám đông ở Bombay, ở Manilla chẳng hạn, hầu như ngài quên tất cả. Ngài để cho mọi
người lôi kéo. Chúng tôi, những kẻ có nhiệm vụ, bảo vệ ngài, phải lắm phen cực
nhọc… nên những lúc thân mật cha con, chúng tôi vẫn thưa với ngài: thưa đức
thánh cha, chúng con thấy đức thánh cha vất vả quá, với muôn nghìn lo âu: thức
khuya, dậy sớm, lắm phen nguy hiểm đến tính mệnh. Đức thánh cha đã để cho lũ
đông lạ mặt lôi kéo, chúng con ngăn cản bảo vệ không nổi. Xin đức thánh cha gìn
giữ sức khỏe cho. Nhưng mỗi lần thưa ngài như thế, ngài đều đáp lại với chúng
tôi như một điệp khúc nhỏ nhẹ, dịu dàng: Tất cả vì Hội Thánh, vì Hội Thánh. Nhiều
khi chúng tôi mệt lả, ngao ngán, nhưng nhớ đến câu nói của ngài, chúng tôi phải
vươn lên với ngài, không thể bỏ ngài, và càng cảm phục kính mến ngài hơn nữa.”
9. Hội Thánh có Chúa ở cùng
Một hôm vì quá tức giận, Napoléon đã nói thẳng với hồng y
Consalvi, quốc vụ khanh tòa thánh: “Ông không biết sao? Tôi có thể tiêu diệt cả
Giáo Hội!”
Hồng y Consalvi hóm hỉnh trả lời: “Thưa ngài, chính chúng tôi
đây là những kẻ sống trong Giáo Hội, chúng tôi thấy rõ, dù biết bao gương xấu,
tội lõi, chia rẽ, khuyết điểm, của chính Giáo Hội, cũng như bao cuộc bách hại
cũng không phá nổi Giáo Hội, qua 19 thế kỷ, thì làm sao mà ngài phá Giáo Hội được?”
Về cuối đời, chính Napoléon đã tuyên bố: “Các dân nước qua đi,
các ngai vàng đổ sụp, Hội Thánh vẫn tồn tại.”
Chúa Giêsu đã phán: “Cha sẽ ở với chúng con, mọi ngày cho đến tận
thế.” (Mt 20,20)
10. Tình yêu là sức mạnh của Giáo Hội
Sau những tháng năm làm đầy tớ cho một gia đình quý tộc, Sophie
Berdanska phải thất nghiệp đói rách, lang thang... Ngày kia gia đình Merston, một
gia đình Do Thái thuê nàng về chăm sóc cho mấy đứa trẻ trong nhà họ. Ngay hôm đầu
tiên, khi biết được Sophie là người Công giáo, ông chủ đặt điều kiện là
"nàng không được giảng đạo" cho con cái của ông. Sophie nhận lời. Và
chiều hôm ấy, lúc còn lại một mình trong phòng, nàng lấy một mảnh giấy nhỏ, viết
một giòng chữ, xếp lại và bỏ vào huy chương cha nàng để lại rồi mang vào cổ. Lũ
trẻ trong nhà nhiều lần đòi Sophie cho coi chiếc huy chương ấy, nhưng Sophie nhất
định không cho: Bí mật của đời cô mà!
Dưới sự chăm sóc chỉ bảo của Sophie, lũ trẻ trong gia đình
Merston càng ngày càng nên nhu mì, ngoan ngoãn. Cuộc sống đang trôi qua lặng lẽ
thì một hôm, họa tai dồn dập xảy tới: Bé Naim đau nặng cả nhà cuống quít đưa bé
đi bệnh viện. Sophie tình nguyện túc trực ngày đêm ở đó. Rồi thêm hai đứa nữa
cũng ngã bệnh. Gánh đã nặng lại càng nặng thêm trên đôi vai Sophie. Tuy nhiên,
nàng vẫn tận tình phục vụ cách vui vẻ, cho đến khi ba đứa nhỏ trở lại bình thường.
Nhưng rồi một hôm, kết quả của những ngày lao nhọc thức khuya, dậy sớm: Sophie
ngã bệnh và từ trần.
Hai năm trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Sophie Berdanska. Người
ta thấy cả gia đình Merston dậy sớm và cùng nhau đến một nhà thờ Công giáo dự
Thánh lễ... Phải chăng là phép lạ?
Không! Sau khi Sophie đã mất được ít lâu, lúc tình cờ mở chiếc
huy chương của nàng mà tụi trẻ đã vất lăn lóc từ lâu trong một xó, ông Merston
rút ra được một mảnh giấy trên có ghi dòng chữ: "Khi người ta cấm tôi nói
về đạo của tôi, tôi quyết sống đạo tôi trước mặt họ như một chứng tích hùng hồn".
Ông hết sức bàng hoàng cảm phục. Rồi gia đình của ông cũng thế. Và sau đó, tất
cả mọi người đến nhà thờ xin nhận lãnh Bí tích Rửa tội.
Hôm nay, họ đang trên đường đến nhà thờ dự lễ giỗ lần thứ hai của
Sophie Berdanska, vị tông đồ trẻ đã mang Tin Mừng đến cho họ bằng một cuộc sống
âm thầm, nhưng chan chứa tình yêu, bác ái. (Những người lữ hành trên đường hy vọng)
11. Hạt cải nhỏ bé
Hội Thánh Chúa Kitô được ví như hạt cải nhỏ bé (x Mc 4,13: Tin Mừng),
nhưng khi mọc lên thành cây lớn làm cho muôn dân đến nương nhờ. Cụ thể nhìn vào
lịch sử Hội Thánh hơn 20 thế kỷ nay:
- Nhờ sáng kiến của Đức Giáo hoàng Grégorio XIII (1505-1583) mà
thế giới có chung một niên lịch, khởi đi từ ngày Con Chúa giáng trần.
- Nếu không có thày Dòng Guion (955 – 1050) lấy nốt nhạc từ bài
kinh tiếng La Tinh, thì làm sao ngành âm nhạc của thế giới được phát triển như
hôm nay.
- Ngay tại Việt Nam, nếu đạo Công Giáo không có mặt, thì làm sao
dân tộc ta có được chữ viết như ngày nay.
Gần chúng ta nhất:
- Mẹ Têrêsa Calcutta là người phụ nữ nhỏ bé, lại được nhiều cường
quốc trên thế giới xin mẹ làm Công dân Danh dự, để mẹ là người mẫu cho loài người
biết thương yêu nhau. Nhưng nếu mẹ Têrêsa không được bón tưới bằng chính Lời và
Máu Thịt Chúa Giêsu, thì chắc chắn cũng chẳng ai biết đến mẹ.
12. Chỉ cần tin
Kinh nghiệm quí báu của Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
được ngài kể lại:
“Trong 9 năm biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà
lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại
ở trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp vì nóng bức và
hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ, với 8 năm
kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ
giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẫn uất nổi
lên trong tôi.
Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi: “Tại
sao con day dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của
Chúa. Tất cả những gì ngươi đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng
thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường học,
các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo… đều là việc rất tốt và đúng là công
việc của Thiên Chúa chứ không phải là Thiên Chúa! Nếu Chúa muốn con rời bỏ tất
cả những việc đó, hãy bỏ ngay, và hãy tín thác nơi Ngài! Thiên Chúa sẽ giao việc
của con cho người khác có khả năng hơn con. Con đã chọn Chúa, chứ không phải những
công việc của Chúa!” Ánh sáng ấy đã mang lại cho tôi niềm an bình và giúp tôi
vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý.
Từ đó, một sự an lành tràn ngập tâm hồn tôi và lưu lại trong tôi suốt 13 năm tù
đày” (Chứng nhân hy vọng – bài suy niệm thứ 5).
Đừng bao giờ chán nản và tuyệt vọng, hãy kiên nhẫn, bởi chẳng có
việc gì vừa bắt đầu thực hiện mà lại đạt kế quả hoàn chỉnh ngay. Nhiệm vụ của mỗi
người kitô hữu chúng ta, như thánh Phaolô nói trong bài đọc 2: “Chúng ta chỉ có
một tham vọng là làm đẹp lòng Thiên Chúa” (x. 2 Cor 5, 9).
13. Tương lai bắt đầu từ hôm nay
Rosa Parks là một nữ thợ máy da đen. Một ngày nọ vào năm 1955 ở
Alabama, cô đã bị bắt, bị còng tay và bị tống giam vì không chịu nhường chỗ cho
người da trắng trên xe buýt. Sự kiện này đã trở thành một hạt giống mà từ đó dấy
lên phong trào Dân Quyền. Mười năm sau, tại đại hội vì tự do, Rosa được ban tặng
danh hiệu: “Người phụ nữ đầu tiên của Phong trào Dân Quyền.”
Tại sao tôi tin hay không tin rằng một ai đó có thể gây ảnh hưởng
trong thế giới ngày nay?
Ngày mai sẽ đến từ đâu? Tương lai bắt đầu thế nào? Từ một ngày
làm việc trong mùa đông băng giá và trong trái tim một phụ nữ da màu. (Eva
Merriam)
14. Chúa chọn những gì yếu đuối
Amado Nervo đã sáng tác bài thơ dựa trên dụ ngôn của Chúa Giêsu.
Một đoạn thơ như sau:
“Con chỉ là một tia lửa,
Xin biến con thành ngọn lửa.
Con chỉ là một sợi tơ,
Xin biến con thành cây đàn.
Con chỉ là một mô đất,
Xin cho con thành ngọn núi.
Con chỉ là một giọt nước,
Xin biến con thành nguồn suối”
Tôi có thật sự xác tín rằng nếu Chúa Giêsu có thể làm cho một hạt
cải bé nhỏ thành một cây cao ngất, thì Ngài cũng có thể làm cho tài năng bé nhỏ
của tôi trở nên vĩ đại cho Nước Chúa không?
Thiên Chúa chọn những gì thế gian cho là yếu đuối, để làm cho những
kẻ hùng mạnh phải xấu hổ (1Cr 1,27).
THỨ BẢY - CHÚA
GIÊSU QUYỀN NĂNG
Lời Chúa: Mc 4, 35-41
Ngày ấy, khi chiều đến, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng:
"Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ.: Các ông giải tán đám đông; vì Người
đang ở dưới thuyền, nên các ông chở Người đi. Cũng có nhiều thuyền khác theo
Người.
Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi
sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người
và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến
sao?"
Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi,
hãy lặng đi.: Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ. Rồi Người nói với các ông:
"Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?" Bấy giờ các ông
kinh hãi và nói với nhau rằng: "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều
vâng lệnh Người?"
TRUYỆN KỂ
1. Có Chúa, sẽ bình an
Trong một trại tù nọ, người ta
nhận thấy có một vị giám mục khoảng ngoài 60 tuổi. Họ thấy ngài rất bình an và
vui tươi, mặc dù bản án dành cho ngài là bất công, và hình khổ mà ngài phải chịu
quả là đớn đau.
Khi được hỏi: “Thưa đức cha, tại
sao đức cha bình an đến như vậy? Người ta bỏ vạ, vu khống đức cha mà đức cha vẫn
vui tươi??”
Đức cha trả lời rằng: “Thưa, tôi
làm gì và ở đâu đều có Chúa. có Chúa là niềm vui và bình an. Hạnh phúc của đời
người là khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa và được sống với Ngài. Tôi được
sống với Ngài và trong Ngài, lẽ nào tôi không vui!:
2. Chúa nâng đỡ đức tin ông Gióp
Gióp là một người công chính,
ngay thẳng, thế nhưng ông đã gặp biết bao thử thách trong đời… Gióp đã có lúc mất
hy vọng:
“Tôi thừa hưởng, những tháng
ngày tuyệt vọng. Ngả lưng nằm, tôi thầm nhủ: Khi nào trời sáng đây? Vừa thức giấc,
tôi đã lại hỏi: Khi nào trời lại tối? Và ngày qua ngày: Một ngày đời tôi, thấm
thoắt hơn thoi đưa, và tàn lụi không hy vọng” (G 7,4.6).
“Từ cơn dông tố” của cuộc đời
Gióp và giữa những phát biểu nhân sinh quan để giải thích sự đau khổ theo lý
thuyết suông, dựa trên tư tưởng của con người, Thiên Chúa đã nói với Gióp:
Trong những đau khổ, những sự việc khó hiểu và bí ẩn của một cuộc đời, hãy luôn
xác tín vào Thiên Chúa, Ngài là chủ vũ trụ vạn vật, Ngài hiển trị trên tất cả,
Ngài sẽ dẹp tan mọi sóng gió của cuộc đời như Lời Ngài ra lệnh với nỗi khổ của
Gióp: “Vỗ sóng ba đào cũng phải dừng tại đây” (G 38,11).
3. Vua trời đất
Một ngày kia, viên lái đò chở
hoàng đế César qua sông, thấy sóng cả đã ngả tay chèo, được hoàng đế phán ra một
câu bất hủ: “Anh không biết là anh đang chở hoàng đế César sao”?
Một vị hoàng đế bất lực trước
cơn cuồng phong dữ dội, thế mà dám nói những lời như thế! Thì huống hồ ở đây,
không phải là vị vua trần thế mà là vua cả trên trời Ngài làm sao cho sóng gió
bão táp phải lặng yên sao! Thánh vịnh đã nói:
Đổi phong ba thành gió thoảng nhẹ nhàng
Sóng đang gầm, bỗng im tiếng.
Họ vui mừng vì trời yên bể lặng
Và Chúa dẫn đưa về bến mong chờ. (Tv 107,29-30)
4 Cha tôi cầm lái con tầu.
Một thi sĩ người Anh, ông Byron,
có viết một câu chuyện như sau:
Hôm ấy, một con tầu đang rẽ sóng
lướt đi trên mặt biển mênh mông. Bỗng chốc, bầu trời kéo mây đen đặc. Rồi giông
tố âm ầm nổi lên, sấm chớp kinh hoàng. Mưa càng lớn, gió càng mạnh. Các hành khách
kêu la hỗn loạn. Duy có một em bé cứ ngồi chơi trên boong tầu như không có gì xẩy
ra cả.
Lạ lùng, một thủy thủ dương to
đôi mắt hỏi em:
- Em không sợ chết sao?
Cậu bé thản nhiên trả lời:
- Sao lại sợ? Chính ba em cầm
lái con tầu này mà!
5. Đức Kitô là nguồn sự sống
Thi sĩ Lord Tennyson và một người
bạn đang đi dạo trong vườn hoa và cùng nhau trao đổi về những chủ đề thời thượng
của quần chúng. Là một Kitô hữu, người bạn muốn biết thái độ của thi sĩ dối với
Đức Kitô như thế nào. Sau mấy giây thinh lặng người bạn hỏi: "Anh có khi
nào nghĩ về Đức Kitô không?"
Tennyson đưa tay ngắt một bông
hoa rực rỡ tỏa hương bên đường và nói: "Như mặt trời dối với đóa hoa thế
nào, thì Đức Kitô dối với tôi cũng vậy."
6. Thập giá thuyên chữa đau khổ
Có một người đàn bà đạo đức nọ
trong cơn bệnh thập tử nhất sinh, chỉ có hy vọng duy nhất để cứu sống là phải
chịu một cuộc giải phẫu. Người đàn bà chấp nhận cuộc giải phẫu với hy vọng còn
tiếp tục sống để lo cho người con trai của bà.
Khi người ta bắt đầu giải phẫu,
bà yêu cầu cho con bà được chứng kiến những giờ phút đau đớn của bà. Thời đó
chưa có thuốc tê cho nên bệnh nhân thường phải trải qua những đau đớn khủng khiếp.
Mặc dù đau đớn, nhưng người đàn
bà xem ra vẫn can đảm chịu đựng được. Thế nhưng vào tới những giây phút cuối,
khi lưỡi dao mổ của các bác sĩ chạm đến gần trái tim thì người đàn bà rùng minh
và miệng kêu lên: "Lạy Chúa!"
Chứng kiến cảnh đau đớn của người
mẹ, đứa copn trai không cầm được cảm xúc đã thốt lên những lời xúc phạm đến
Thiên Chúa. Ngay lúc đó người đàn bà nghiêm chỉnh bảo con: "Hỡi con, im
đi, con làm mẹ đau đớn hơn lưỡi dao mổ của các bác sĩ nhiều. Con đã làm xỉ nhục
Đấng ban sức mạnh và an ủi cho mẹ"
Nói xong, bà mở bàn tay ra cho mọi
người xem một tượng chịu nạn nhỏ mà bà nắm chặt trong tay suốt từ lúc bắt đầu
cuộc giải phẫu đến giờ. Đó là thuốc tê đã làm dịu những cơn đau của bà.
Sau mấy tháng quần quại đau đớn
trên giường bệnh, người đàn bà đã an nghỉ trong Chúa. Trước khi lìa đời, bà đã
trao ảnh chuộc tội đó lại cho người con trai và dặn cậu: "Con hãy giữ lấy ảnh
này vì đó sẽ là niềm an ủi cho con.:
7. Con thuyền Giáo Hội
Từ khi được Chúa thành lập đến
nay, con thuyền Giáo Hội đã phải trải qua không biết bao nhiêu là những cơn
sóng gió, bão táp phũ phàng nhưng Giáo Hội vẫn luôn được Chúa che chở giữ gìn.
Xin được trích ra đây một ít sự kiện:
* Saladin là một vua Hồi Giáo.
Có lần ông vua này đã gởi cho Đức Giáo Hoàng một lá thư trong đó vỏn vẹn có một
dòng.
- Ta sẽ lấy Đền thờ Phêrô làm Đền
thờ Mohamét!
Và Đức Giáo Hoàng cũng trả lời
chỉ vỏn vẹn có một câu: “Thuyền Thánh Phêrô có thể có lúc lắc nhưng nhất định
không chìm” (Fluctuat nec mergitur).
Câu nói thời danh này đã đi vào
lịch sử.
* Suốt cuộc đời, Luther đã dùng
mọi phương thế để lăng nhục và đánh đổ Hội Thánh, nhưng rồi những mong ước của
ông ta không thành tựu. Trên giường bệnh, ông còn xin cục phấn và gắng gượng viết
lên vách câu này: “Lúc sinh thời, ta là thứ dịch tễ cho mi thì khi chết, ta sẽ
chôn vùi mi theo.: Thế nhưng, Luther đã chẳng mang theo được gì ngoài sự thất vọng
của ông.
* Nối chí Luther có ông Voltaire
ở thế kỷ XVIII. Thông minh, nhưng nham hiểm, ông đã viết bao nhiêu sách và đã
diễn thuyết bao nhiêu bài để cổ động, hô hào tiêu diệt Hội Thánh Công giáo. Ông
công khai tuyên bố rằng, chỉ 20 năm nữa thôi, Hội Thánh Công giáo sẽ đi đời. Thế
nhưng, thật là trớ trêu: Đúng 20 năm sau lời tuyên bố đó, thì ông chết, còn
Giáo Hội của Chúa vẫn kiên vững!
* Năm 1903, Jaurès (1859-1914),
nhà hùng biện người Pháp thấy Hội Thánh phải đương đầu với nhiều khó khăn, cùng
lúc có nhiều nước có đạo đã bỏ rơi, ông vui mừng reo lên: “Sóng đưa thuyền
Phêrô vào bờ, bây giờ nước rút, thuyền mắc cạn, nằm trơ trên bãi cát.: Nhưng sự
thực nước rút rồi thì nước lại lên, và thuyền Phêrô lại tiếp tục ra khơi!
* Cũng ở nước Pháp, trước
Jaurès, có Napoléon, một nhân vật đã từng làm chấn động trời Âu, đã bắt và đem
Đức Giáo Hoàng Piô VII (1742 -1823) về giam giữ tại lâu đài Fontainebleau bên
Pháp. Lúc đó những kẻ nghịch với Giáo Hội đã vui sướng reo lên:
- Đây là Đức Giáo Hoàng cuối
cùng.
Nhưng rồi Napoléon thất bại, bị
cầm tù tại đảo St. Hèlene, và Đức Giáo Hoàng lại trở về Rôma. Chính Đức Giáo
Hoàng Piô VII đã đứng lên và đón rước gia đình tan rã của Napoléon gồm một mẹ
già, 04 anh chị em là Lucien, Jérôme, Louis và Pauline, kể cả ông cậu là Hồng y
Fesch, sau khi ông bị đi đày.
Tóm lại, trước đây cũng như mãi
mãi về sau, dù Giáo Hội có thể bị nhiều thử thách, nhưng Hội Thánh nhất định sẽ
mãi mãi tồn tại. Henrich Heine (1797-1856) thi hào người Đức, đã ý thức rất rõ
về điều đó cho nên ông viết: “Đã lâu rồi, tôi không còn công kích Hội Thánh
Công giáo nữa. Tôi đã đọ sức trí khôn ngoan của loài người và nhận thấy rằng:
Các đợt tấn công vào tảng đá khổng lồ và kiên cố đó không thể làm cho tảng đá sứt
mẻ hoặc nhúc nhích được.:
8. Giáo hội trong tay Chúa
Một cán bộ Cộng sản nói với các
Linh mục trong dịp Tĩnh Tâm như thế này: “Theo tôi, các Linh mục Ấn Độ chậm tiến
ít là 200 năm. Các ông mù tịt về tất cả các hệ thống tân thời để quảng bá tư tưởng.
Các ông dùng tiền để xây cơ sở, còn chúng tôi dùng tiền để in sách và làm báo
chí. Các ông mở trường và dạy con nít biết đọc biết viết, rồi các ông không cho
chúng nó cái gì để đọc. Chúng tôi cho tất cả, từ những chữ viết trên tường tới
báo chí, từ những sách lớn tới sách nhỏ thích hợp cho mỗi lứa tuổi và hoàn cảnh.
Các ông có rất nhiều báo chí đạo đức, nhưng có rất ít báo chí tư tưởng…
Các ông lập các nhà in để kiếm tiền, chúng tôi
lập nhà in để tuyên truyền, các ông phân phát sữa bột cho dân nghèo, chúng tôi
phân phát tư tưởng. Các ông bận tâm lo lắng nuôi cái bụng của dân, chúng tôi
nuôi tâm trí. Các ông nói là tư tưởng hướng dẫn thế giới, nhưng các ông không
quảng bá tư tưởng. Trong cuộc đọ sức tư tưởng, các ông đã thua trên khắp thế giới
và cả trên đất Ấn Độ… trên bình diện tư tưởng các ông đã bại trận, vì chúng tôi
tạo được dư luận, còn các ông thì bất lực. Các ông phải tiêu hơn ít nữa 100 lần
cho báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình để giúp những ai muốn học và
những ai có khả năng tạo dư luận. Lời khuyên của tôi đáng giá ngàn vàng. Và vì
đã cho các ông lời khuyên này, tôi đáng bị loại khỏi đảng!”
9. Giáo hội được xây trên lòng
tin
Sau ngày đắc cử, Đức giáo hoàng
Phanxicô không đến ở trong dinh thự các giáo hoàng nhưng lưu lại tại căn phòng
trong Nhà Trọ Thánh Marta để ở gần các cộng sự viên của mình. Ngài quan tâm tới
những người “nghèo nhất, yếu đuối nhất, ít quan trọng nhất.: Ngài luôn kêu gọi
các tu sĩ đến với những người sống bên lề xã hội. Người ta nhận ra Đức
Phanxicô, sau ba tháng trên ngôi vị giáo hoàng, muốn xây dựng một “Giáo hội
nghèo, cho người nghèo” đúng như lý tưởng sống của vị thánh mà ngài đã chọn làm
danh hiệu giáo hoàng của mình. Đó cũng là mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đã truyền cho
các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo. Quả thật thay vì nhắc các ông trang
bị đầy đủ các phương tiện vật chất, Chúa Giêsu muốn các ông lên đường với gói
hành trang gọn nhẹ: không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Ngài muốn các
ông sống nghèo như chính Ngài đã sinh ra, sống, rao giảng và chết trong khó
nghèo.
Chúng ta đang muốn xây dựng Giáo
hội nào: giàu cho người giàu? hay nghèo cho người nghèo? Những người nghèo và
cô thế cô thân có được cộng đoàn quan tâm giúp đỡ không? Tiền giáo xứ giúp cho
người nghèo là bao nhiêu so với tiền xây dựng, tiền tổ chức các cuộc lễ lạy,
đình đám?
10. Chiên giữa sói
Trần Hằng, quyền thần thời Xuân
thu, giết vua Giản Công nước Tề, lập vua Bình Công. Lúc giết vua xong, Trần Hằng
sai sáu dũng sĩ đến bắt Tử Uyên Thê phải theo mình.
Tử Uyên Thê nói: “Nhà ngươi muốn
cho ta vào đảng, ý hẳn cho ta là “trí” chăng, nhưng bầy tôi giết vua mà không cản
được, ta chẳng phải là trí; cho ta là “nhân” chăng, nếu thấy lợi mà phản nước,
ta chẳng phải là nhân; cho ta là “dũng” chăng, nhưng đem binh đến ăn hiếp ta,
ta sợ mà theo ngươi, ta cũng chẳng phải là dũng.
“Vì bằng ta không có ba điều ấy,
ta về phe với ngươi thì có bổ ích gì cho ngươi. Ví bằng ta có ba điều ấy, thì đời
nào ta theo ngươi ma ngươi dỗ.”
Trần Hằng bèn tha Tử Uyên Thê.
(Cổ học tinh hoa)
Qua câu trả lời đơn giản, Tử
Uyên Thê đã phô bày ba chữ nhân, trí, và dũng của ông: Không sợ Trần Hằng mà từ
chối, đó là dũng; không vì tham lợi mà phản vua, đó là nhân; và khéo léo dùng
ngay ba chữ nhân, trí, dũng, để từ chối hợp tác và tố cáo điều sai lỗi của Trần
Hằng.
Khi sai các môn đệ đi trước chuẩn
bị cho Người, Chúa Giêsu báo trước: “Này Ta sai các con như con chiên ở giữa
sói rừng.” (Lc 10,3)
11. Giữa lòng thuyền
“The Storm on the Sea of Galilee”, “Bão Trên
Biển Galilê”, là một kiệt tác sơn dầu vẽ về “biển” duy nhất gần 400 tuổi của
Rembrandt! Tiếc thay, từ 1990, nó bị đánh cắp; đến nay, vẫn biệt vô âm tín.
Danh hoạ mô tả khoảnh khắc nhóm Mười Hai cầu cứu Chúa Giêsu khi thuyền của họ sắp
chìm. Một số cật lực chống chọi; số khác co rúm vì sợ hãi hoặc lùi về mạn thuyền;
và thật thú vị, Rembrandt, môn đệ 13, xuất hiện giữa bức tranh. Tác giả như muốn
nói, “Từ giữa lòng thuyền, Ngài nhận ra tôi!”; và bạn,
“Bạn sẽ ở đâu trong bão?"
“Bạn sẽ ở đâu trong bão?" Lời Chúa hôm
nay gợi lên những cơn bão cuộc đời. Nó có thể là cơn bão đang hất tung con thuyền
Giáo Hội, đang vùi dập con tàu thế giới, hoặc đang muốn nhấn chìm con thuyền
nan đời bạn. Trong cơn hỗn mang, bạn ở đâu? Ngài thấy bạn? Bạn có lắng đọng đủ
để nghe Ngài trách yêu, “Các con vẫn chưa có lòng tin sao?"
12. Hãy nhìn lên
Một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, bỗng cơn cuồng phong
bất ngờ ập đến. Sợ những cánh buồm bị xé nát, và gió mạnh kéo con tàu đi không
kiểm soát được, vị thuyền trưởng ra lệnh cho một thủy thủ trẻ trèo lên cột những
cánh buồm lại.
Anh ta chưa bao giờ trèo lên cột buồm vào lúc thời tiết khắc
nghiệt như thế, nên khi leo được một đoạn, gió thổi như muốn hất văng anh xuống
biển, nhìn xuống lại thấy những ngọn sóng cao ngất, sự sợ hãi làm tay chân anh
tê cứng nên hoảng hốt la lên:
- Cứu, cứu, tôi chết mất!
Vị thuyền trưởng la to như muốn át cả sóng gió:
- Hãy nhìn lên đỉnh cột buồn; nếu anh cứ nhìn xuống như thế anh
sẽ chết.
LỄ KÍNH - TÔNG ĐỒ
PHAOLÔ TRỞ LẠI
Lời Chúa: Mc 16, 15-18
Khi ấy, Chúa Giêsu (hiện ra với
mười một môn đệ và) nói: ”Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho
mọi tạo vật.
Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ
được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những dấu lạ đi theo những
người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn
trong tay, và nếu uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những
người bệnh, và bệnh nhân được lành mạnh."
TRUYỆN KỂ
1. Con phải làm gì?
Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay
kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách
hại các Kitô hữu. Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường anh đang đi.
Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những
kẻ bỏ đạo Do Thái chính thống, để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà
họ tin là đã phục sinh. Trong tư cách là một người Pharisêu nhiệt thành và
nghiêm túc (c. 3), Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị những kẻ phản đạo,
bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).
Chính lúc đang say sưa đến gần
thành Đamát thì anh bị quật ngã. Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở sang một
trang mới. Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến bước, thì ánh sáng chói lòa từ
trời làm anh ngã quỵ (c. 7).
Khi Saun nghĩ mình là người sáng
mắt, thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11). Khi anh định chỉ đạo cho
những kẻ lầm đường lạc lối, thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi
(c. 11).
Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh
với người mà anh chỉ nghe tiếng nói. Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự giới
thiệu: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang
bắt bớ” (c. 8).
Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ
chính Đức Giêsu. Đức Giêsu và các Kitô hữu là một. Bài học đầu tiên này Saun sẽ
chẳng thể nào quên.
“Lạy Chúa, con phải làm gì?” (c.
10).
Lần đầu tiên Saun gọi người mà
anh không hề tin là Chúa. Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là Chúa, anh lập tức
phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.
2. Cây nến trong tay Chúa
Buổi chiều, người nọ lấy cây nến
nhỏ từ trong hộp ra và leo lên tầng tháp cao. Cây nến hỏi:
- Chúng ta đi đâu?
- Đi lên cao hơn để chỉ đường
cho tàu bè vào cảng.
- Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm
sao tàu bè thấy được?
- Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng
thôi, còn mọi việc ta lo.
Tới đỉnh tháp, người nọ đặt cây
nến vào trong một cái đèn có ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó, ánh sáng
lan tỏa và mọi tầu bè đều thấy.
Chúng ta cũng là cây nến trong
tay Thiên Chúa. Chỉ cần ta cháy sáng, còn kết quả là ở Thiên Chúa.
3. Cần sống Lời Chúa
Một nông dân nghèo Nhật bản vào
thiên đàng và điều đầu tiên ông nhìn thấy là một kệ dài với những vật rất kỳ lạ.
Ông hỏi:
- Cái gì thế? Có phải để nấu
xúp?
- Không, đó là những cái tai.
Chúng là của những người khi sống ở đời nghe được những điều tốt, nhưng họ
không làm. Nên khi chết, tai họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể
thì không.
Một lát sau, ông lại thấy một kệ
khác với những vật kỳ quái. Ông hỏi:
- Cái gì thế? Có phải để nấu
xúp?
- Không, đó là những cái lưỡi.
Chúng là của những người sống ở đời bảo người khác làm điều tốt và sống tốt,
nhưng chính họ không làm hoặc không sống điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào
thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không
4. Phaolo – con người của sự hiệp
nhất
Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm biến
cố trở lại của Thánh Phaolô.
Theo Sách Công Vụ các sứ đồ, quyển
sử ký ghi lại trong giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Saolê, tên gọi Do Thái của
Phaolô, là một thanh niên phong thái và đầy nhiệt huyết đối với Ðạo. Vừa thụ huấn
xong với một thầy Rabbi nổi tiếng trong nước, Saolê xung phong đi săn lùng những
người môn đệ của Ðức Kitô mà anh cho là một bè phái đi ngược lại với Ðạo giáo.
Một hôm, đang trên đường đi
Damascô để lùng bắt các môn đệ của Chúa Giêsu, anh đã bị một luồng Sáng đánh quật
té xuống khỏi ngựa và từ trong ánh sáng ấy, anh đã nhận ra tiếng nói của Chúa
Giêsu: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt hại."
Từ đó, sự hăng say bách hại các
Kitô hữu đã biến thành lòng nhiệt thành phụng sự Giáo Hội của Ðức Kitô. Thiên
Chúa đã sử dụng Phaolô làm khí cụ Truyền Giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, tức là
các dân tộc ở ngoại Do Thái Giáo.
Cuộc trở lại của Thánh Phaolô đã
đánh dấu một khúc quan trọng nhất trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi. Tin Mừng
không chỉ giới hạn trong ranh giới của Do Thái cũng như lề luật Maisen, Tin Mừng
còn là một nối dài của Do Thái Giáo, nhưng chính là một Tôn Giáo mới cho mọi
dân tộc, mọi văn hóa.
Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở
lại của thánh Phaolô như cao điểm của tuần lễ cầu cho hiệp nhất. Nơi thánh
Phaolô, con người đã dám vượt ra khỏi ranh giới của dân tộc, của Ðạo Giáo của
mình, để tuyên bố: Hãy trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, La Mã với người La
Mã, nô lệ với người nô lệ. Giáo Hội nhận ra kiểu mẫu đích thực của hiệp nhất. Sự
hiệp nhất chỉ có thể thực hiện được, nếu mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu có đủ
can đảm ra khỏi chính mình. Phải chăng đó không là đòi hỏi đầu tiên của sự trở
lại?
5. Thập giá
Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên sự
rao truyền không mệt mỏi và ngài sống sứ điệp thập giá.
Thập giá Thánh Phaolô phải vác lấy
theo gương Đức Giêsu, chính là những khổ đau ngài trải qua trong cuộc đời, đặc
biệt trên bước đường truyền giáo (2Cr 11,24-33) và cuối cùng bị cầm tù và bị giết
chết.
Tuy nhiên ngài vui mừng vác lấy
thập giá với ý thức: “Những gian nan thử thách Đức Giêsu còn phải chịu, tôi xin
mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl
1,24).
* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng
con can trường vác lấy thập giá đến đỉnh đồi Canvê với Chúa, để cùng được phục
sinh vinh quang với Chúa.
6. Tận hiến
Đức tin cứu độ là món quà tặng
cho ai tận hiến cho Đức Kitô một cách tuyệt đối, tự nguyện và cá biệt.
Mọi tín hữu đều được gọi sống đức
ái hoàn hảo, nhưng những ai tự nguyện sống đời tận hiến, thì buộc tuân giữ đức
vâng phục, nghèo khó và khiết tịnh trong đời sống độc thân vì Nước Trời (Sách
Giáo Lý số 915).
Nhờ đời sống tận hiến để thánh
hóa trần gian, các thành viên tu hội đời tham dự vào nhiệm vụ phúc âm hóa của Hội
Thánh, “ngay giữa đời và từ môi trường đời”, nơi đó họ hiện diện và tác động
như “men trong bột” (Sách Giáo Lý số 929).
* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp các
tâm hồn tận hiến luôn được bền đổ đến cùng.
7. Cuốn theo thần khí
“Thập giá, cột thu lôi của ân sủng, làm tắt
cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng của tình yêu Ngài! Trên đường
Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi của ân sủng quật ngã, và người này
đã ‘cuốn theo Thần Khí’ của Đấng Phục Sinh!"
Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ một
con người đã bị “cột thu lôi của ân sủng quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự
cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau biến
cố chết và sống lại của Chúa Giêsu vào những năm đầu Kitô giáo. Bởi lẽ, ân sủng
của Ngài đã biến đổi Phaolô, một con người đã để mình ‘cuốn theo Thần Khí’.
Phaolô cho biết, trước khi được
Chúa tỏ mình, ông “đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”; tuy nhiên, theo cách rất
phá hoại! Phaolô đàn áp những người tin “Đạo mới”; và rồi, cuộc hiện ra của
Ngài trên đường Đamas với câu hỏi, “Saun, Saun, sao ngươi bắt bớ ta?”, kèm theo
câu trả lời lạnh lùng, “Ta là Giêsu Nazareth mà ngươi đang bắt bớ” đã khiến
Phaolô dừng bước - bài đọc một. Từ đó, Đấng Phục Sinh đã biến “Saun”, có nghĩa
là ‘tìm kiếm, đòi hỏi và khát vọng’, thành một “Phaolô”, có nghĩa là ‘hèn mọn,
nhỏ bé và khiêm tốn’. Phaolô đã chỗi dậy, tiến về phía trước, ‘cuốn theo Thần
Khí’, phục vụ Chúa theo một cách rất khác. Thay vì bắt bớ những người tin,
Phaolô loan báo tình yêu của Ngài như lệnh truyền, “Hãy đi khắp tứ phương thiên
hạ, mà loan báo Tin Mừng!”
LỄ KÍNH HAI THÁNH
TIMÔTHÊ VÀ TITÔ - DIỄN VĂN TRUYỀN GIÁO
Lời Chúa: Lc 10, 1-9
Khi ấy, Chúa chọn thêm bảy mươi
hai người nữa và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và
các nơi mà chính Người sẽ tới. Người bảo các ông rằng: ”Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của người.
Các con hãy đi. Này Thầy sai các
con như con chiên ở giữa sói rừng. Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị,
giày dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên các con hãy
nói: ”Bình an cho nhà này." Nếu ở đấy có con cái sự bình an, thì sự bình
an của các con sẽ đến trên người ấy. Bằng không, sự bình an lại trở về với các
con. Các con ở lại trong nhà đó, ăn uống những thứ họ có, vì thợ đáng được trả
công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ.
Khi vào thành nào mà người ta tiếp
các con, các con hãy ăn những thức người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh nhân
trong thành và nói với họ rằng: ”Nước Thiên Chúa đã đến gần các ngươi."
TRUYỆN KỂ
1. Có gieo mới có gặt
Linh mục Carôlô Hồ Bạc Xái kể
chuyện: Một ngày kia, một tông đồ giáo dân dẫn tôi đến gia đình của một người
làm nghề kéo xe lôi. Đến đấy tôi nhận được một món quà hết sức bất ngờ và rất
to lớn: Cả nhà gồm vợ chồng và 7 đứa con xin theo đạo. Khi được hỏi lý do thì
người chồng cho biết: Mười mấy năm trước khi còn nhỏ, anh học trường các sư
huynh Lasan và dã có lòng mộ mến Đạo Chúa. Lòng mộ mến ấy vẫn âm ỉ trong lòng
anh. Tuần trước khi anh gặp người tông đồ giáo dân này, tàn lửa âm ỉ đó bỗng
bùng lên thành một ngọn lửa thôi thúc anh phải xin theo Chúa.
Nếu các sư huynh Lasan trước kia
và những tông đồ giáo dân nọ không chịu khó gieo giống vì nghĩ rằng có gieo
cũng vô ích thì hôm nay tôi không gặt được thành quả này. "Đêm hay ngày,
người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì
người ấy không biết"
2. Cần người hợp tác
Có hai người giáo dân đứng ngoài
chợ nói chuyện với nhau: - Anh nghĩ xem, chúng ta có cần tiếp tay với cha xứ để
lo việc họ đạo không ? Người thứ nhất hỏi.
- Tôi cũng thường nghĩ đến điều
đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín
thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.
Một người thứ ba từ nãy đến giờ
đứng bên cạnh đã nghe được câu chuyện giữa hai người, anh chen vào: - Đúng thế,
chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao
không ?
- Tại sao ? Tại sao ? Xin cho
chúng tôi biết với.
- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã
kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó
là những người biết nói “VÂNG."
3. Trao tặng là hai chữ đầu tiên
để truyền giáo
Một lần, có một người đàn bà
giàu có người Hindou đến thăm Mẹ Têrêsa. Bà ta nói với Mẹ:
- Thưa Mẹ, con ước ao được chia
sẻ với Mẹ và cộng tác với mẹ trong các hoạt động từ thiện.
- Tốt lắm! -Mẹ đáp lại một cách
vui vẻ
Rồi bà ta thú thực với Mẹ là bà
ta có một điểm yếu rất khó bỏ, đó là tính khoe khoang, ưa làm dáng. Bà thích mặc
những chiếc áo Xa-ri, những bộ đồ Ấn Độ lộng lẫy và đắt tiền. Hôm ấy, bà mặc một
bộ áo Xa-ri giá trị 65 dollars, trong khi chiếc áo Xa-ri của Mẹ Têrêsa đang mặc
chỉ trị giá 65 xu, chưa đầy một dollar, Như được ơn trên soi sáng Mẹ Têrêsa bỗng
nảy ra được tư tưởng hay. Mẹ đề nghị với bà ấy bắt đầu cộng tác với Mẹ về những
bộ áo xa-ri đó. Mẹ khiêm tốn đền nghị:
- Từ nay trở đi, thay vì mua sắm
những bộ áo xa-ri giá 65 hoặc 100 dollars, thì bà chỉ nên mua những bộ rẻ tiền
hơn, chừng 45 hoặc 50 dollars thôi. Số tiền còn lại, bà hãy mua những bộ áo
xari khác dành cho người nghèo.
Bà ấy vui vẻ hưởng ứng lời đề
nghị của Mẹ, rồi dần dần bà cũng biết dùng những bộ áo xari rẻ tiền hơn. Sau
này chính bà cũng đã thú nhận với Mẹ Têrêsa rằng:
- Thưa Mẹ, từ ngày con bắt đầu từ
bỏ những vẻ hào nhoáng bên ngoài vô ích bên ngoài đó, tâm hồn con cảm thấy được
tự do hơn, nhẹ nhàng hơn. Con đã học biết và hiểu rõ hơn thế nào là cho đi thế
nào là chia sẻ. Và trong cách chia sẻ như thế, con phải thú nhận rằng chính con
đã được lãnh nhận nhiều hơn thứ con cho đi và chia sẻ với anh chị em nghèo khổ!
4. Ngày khai sinh nước Úc
Ngày 26 tháng 01 là ngày quốc
khánh của người Australia. Ngày 26/01/1788, lá cờ của nước Anh lần đầu tiên được
cắm trên lãnh thổ của Australia, đánh dấu đợt định cư đầu tiên của 730 người.
730 cựu tù nhân này đã được coi như là thủy tổ của đa số người dân Australia
này nay.
Ðối với chính phủ Anh thời bấy
giờ, việc lưu đày các tù nhân qua một vùng đất xa lạ là một biện pháp giúp giải
quyết vấn đề ứ đọng tại các nhà tù trong nước. Nhưng đối với 730 người lần đầu
tiên của Australia này, thì đây là cơ hội để làm lại cuộc đời. Dù muốn dù
không, người dân Australia chính hiệu ngày nay không thể phủ nhận được sự kiện
là quốc gia của họ đã được khai sinh do những con người mà xã hội muốn xua đuổi
cho rảnh tay.
Ngày nay, Australia được xếp vào
hạng những nước tiên tiến về mọi mặt. Nhưng có lẽ họ không thể quên được công
ơn xây dựng của cha ông họ, dù tông tích của họ có là một quá khứ xấu xa đến
đâu.
Câu chuyện lập quốc của nước
Australia có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào hai chữ Quan Phòng trong Kitô
giáo của chúng ta. Lời của thánh Phaolô là một xác quyết về sự quan phòng ấy:
nơi nào có tội lỗi càng nhiều, nơi đó Thiên Chúa càng ban ơn dồi dào.
5. Tiêu chuẩn người môn đệ của
Chúa
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã cảm
nghiệm sâu xa thân phận của người môn đệ Đức Ki-tô được sai đi đơn côi “như
chiên đi vào giữa bầy sói”, không thể bám víu vào bất cứ một sự hỗ trợ thông
thường nào người ta có thể có: không mang theo “túi tiền, bao bị, giày dép…” Thế
nhưng lời nói đầu tiên và luôn luôn ở trên môi miệng người môn đệ bao giờ cũng
là lời nói đem lại bình an.
Chính vì thế, khi suy niệm về sứ
mạng tông đồ, Ngài đã tự hỏi: “Bị nhục mạ, bắt bớ, đuổi từ thành này sang thành
khác là dấu Chúa thương con, Chúa chọn con làm tông đồ thật. Tôi tớ không hơn
chủ, môn đệ không hơn Thầy. Họ đối xử với Thầy thế nào thì họ cũng sẽ đối xử với
các con như vậy’’ (Đường Hy Vọng).
Không phải chỉ các linh mục tu
sĩ mà mọi tín hữu, qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, đều là môn đệ và được sai
đi với sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống đơn sơ, khó nghèo và yêu
thương, tha thứ. Bạn thử nhìn lại mình xem đã thể hiện được đến mức nào hình ảnh
người môn đệ “không túi tiền, bao bị, giày dép” mà miệng luôn tươi cười nói lời
chúc bình an?
6. Lời khuyên vàng ngọc
Một cán bộ Cộng sản nói với các
Linh mục trong dịp Tĩnh Tâm như thế này: “Theo tôi, các Linh mục Ấn Độ chậm tiến
ít là 200 năm. Các ông mù tịt về tất cả các hệ thống tân thời để quảng bá tư tưởng.
Các ông dùng tiền để xây cơ sở, còn chúng tôi dùng tiền để in sách và làm báo
chí. Các ông mở trường và dạy con nít biết đọc biết viết, rồi các ông không cho
chúng nó cái gì để đọc. Chúng tôi cho tất cả, từ những chữ viết trên tường tới
báo chí, từ những sách lớn tới sách nhỏ thích hợp cho mỗi lứa tuổi và hoàn cảnh.
Các ông có rất nhiều báo chí đạo đức, nhưng có rất ít báo chí tư tưởng…
Các ông lập các nhà in để kiếm
tiền, chúng tôi lập nhà in để tuyên truyền, các ông phân phát sữa bột cho dân
nghèo, chúng tôi phân phát tư tưởng. Các ông bận tâm lo lắng nuôi cái bụng của
dân, chúng tôi nuôi tâm trí. Các ông nói là tư tưởng hướng dẫn thế giới, nhưng
các ông không quảng bá tư tưởng. Trong cuộc đọ sức tư tưởng, các ông đã thua
trên khắp thế giới và cả trên đất Ấn Độ… trên bình diện tư tưởng các ông đã bại
trận, vì chúng tôi tạo được dư luận, còn các ông thì bất lực. Các ông phải tiêu
hơn ít nữa 100 lần cho báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình để giúp những
ai muốn học và những ai có khả năng tạo dư luận. Lời khuyên của tôi đáng giá
ngàn vàng. Và vì đã cho các ông lời khuyên này, tôi đáng bị loại khỏi đảng!”
7. Sứ vụ "nghèo"
Sau ngày đắc cử, Đức giáo hoàng
Phanxicô không đến ở trong dinh thự các giáo hoàng nhưng lưu lại tại căn phòng
trong Nhà Trọ Thánh Marta để ở gần các cộng sự viên của mình. Ngài quan tâm tới
những người “nghèo nhất, yếu đuối nhất, ít quan trọng nhất."
Ngài luôn kêu gọi các tu sĩ đến
với những người sống bên lề xã hội. Người ta nhận ra Đức Phanxicô, sau ba tháng
trên ngôi vị giáo hoàng, muốn xây dựng một “Giáo hội nghèo, cho người nghèo”
đúng như lý tưởng sống của vị thánh mà ngài đã chọn làm danh hiệu giáo hoàng của
mình. Đó cũng là mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ khi sai các
ông đi truyền giáo. Quả thật thay vì nhắc các ông trang bị đầy đủ các phương tiện
vật chất, Chúa Giêsu muốn các ông lên đường với gói hành trang gọn nhẹ: không
mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Ngài muốn các ông sống nghèo như chính
Ngài đã sinh ra, sống, rao giảng và chết trong khó nghèo.
Chúng ta đang muốn xây dựng Giáo
hội nào: giàu cho người giàu? hay nghèo cho người nghèo? Những người nghèo và
cô thế cô thân có được cộng đoàn quan tâm giúp đỡ không? Tiền giáo xứ giúp cho
người nghèo là bao nhiêu so với tiền xây dựng, tiền tổ chức các cuộc lễ lạy,
đình đám?
8. Chú tâm loan báo Tin Mừng
Thánh Giêrônimô (340-420) khi
còn là thanh niên mải miết học tập tiếng Latinh (La văn là cổ ngữ phổ thông thời
đó) Ngài còn sống sa đọa, ham mê thú vui xác thịt. 19 tuổi ngài mới lãnh bí
tích thánh tẩy. Nhưng rồi nghĩ tới cuộc đời chóng qua, nghĩ tới phần rỗi là
quan trọng, ngài trở lại với Chúa, từ bỏ tất cả, tới sống trong sa mạc Chalcis
như một ẩn sĩ.
Nơi đây ngài sống khổ cực và thiếu
thốn, vì bệnh tật mà nhất là các cơn cám dỗ trở lại cuộc đời sa đọa trước. Ngài
nói: “Trong đầu óc tôi thường thấy mình giữa đám gái nhảy”, và ngài còn nói
thêm: “Một người chết yểu trong xác thịt như vậy mà ngọn lửa thèm muốn còn cháy
lên dữ dội…”
Để kiềm chế óc tưởng tượng, ngài
phải luôn luôn cầu nguyện, ăn chay, đánh tội, và nhất là ngài chú tâm học tiếng
Do Thái để rồi cố gắng và vất vả dịch toàn bộ Thánh Kinh ra tiếng Latinh. Bản dịch
phổ thông (bản Thánh Kinh bằng tiếng Latinh) đã được thánh Giêrônimô phiên dịch
hay nhuận đính (trừ các sách: Khôn Ngoan, Huấn Ca, Baruch và hai cuốn Macabêô).
Thánh Giêrônimô qua đời an bình
và thánh thiện tại Bêlem ngày 30 tháng 9 năm 420.
9. Bình an đến từ trái tim
Cô Helen Keller là một người
không thấy và nghe được mà đã trở thành một nhà diễn thuyết lỗi lạc trước công
chúng. Một ngày nọ, sau bài diễn thuyết, có người hỏi cô: “Nếu được ban một điều
ước, cô sẽ ước gì?” Người đặt câu hỏi nghĩ rằng Helen có thể sẽ nói: “Tôi ước
được thấy và nghe." Nhưng Helen đã trả lời: “Tôi ước mong một nền hòa bình
trên khắp thế giới."
Lạy Chúa, đó mới thực là điều
đáng ước mơ. Nếu không có hòa bình chúng con mở mắt ra chỉ thấy kẻ thù, mở tai
ra chỉ nghe toàn những lời xúc phạm, chửi bới. Thấy mà chi, nghe mà chi?
Còn khi tình yêu thấm đẫm đến mọi
ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn thì mỗi người chúng con được trở nên những tạo vật
mới, sống trong một thế giới mới, nhìn và nghe bằng trái tim, thấy mọi người là
anh em!
Tốt đẹp biết bao, hạnh phúc biết
bao! Đó mới đúng là điều Chúa mong muốn khi dạy chúng con “Vào bất cứ nhà nào,
trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Sự bình an đó đã được bắt
đầu bằng tình yêu thí mạng của Chúa trên thập giá xưa, vì chúng con.
10. Dấu tích của tình yêu
Bốn mươi năm sau khi rời bỏ trại
giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo Levi vẫn còn mang hình xăm với con số của ông
khi ở đó. Khi người ta hỏi ông tại sao không xóa nó đi, ông đáp: “Tại sao tôi
phải làm thế? Không có nhiều trong chúng ta được đưa vào thế giới để làm nhân
chứng.”
Alexander Solzhenitsyn nói rằng
ông vẫn còn bốn mảnh vải dùng để vá mạng con số mà người ta phát cho ông khi
còn trong nhà tù. Ông không phải là người duy nhất đem chúng ra khỏi trại giam.
Không xấu hổ về những điều đó, ông nói: “Trong một số gia đình, chúng được phô
bày ra như những thành tích.”
Thánh Phaolô cũng không xấu hổ
vì những dấu tích mà ông mang trên mình ông vì Đức Giêsu Kitô. Ông nói với những
tín hữu Galát: “Những dấu tích trên người tôi là những dấu tích của Đức Kitô.”
11. Sống chứng nhân
Có một linh mục người Mỹ thuộc
dòng Tên, giảng dạy tại một trường đại học Công giáo nổi tiếng tại Phi Luật
Tân. Ngày kia, tình cờ vị linh mục này đi vào một khu xóm lao động nghèo nàn và
gặp một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau một hồi trao đổi, linh mục người Mỹ đã hỏi
tu sĩ người Bỉ như sau:
- Anh ở đây làm gì vậy?
Tu sĩ người Bỉ trả lời:
- Tôi đi chợ, nấu ăn, giặt giũ
quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu xóm lao động này.
Nghe thế vị giáo sư người Mỹ có
lẽ như tiếc rẻ cho sự hy sinh lãng phí ấy, nên mới nói về mình như sau: Tôi
sang đây là để dạy học và thuyết trình, tôi đi đây đi đó, tôi đào tạo những con
người hữu ích cho xã hội.
Qua cuộc đối thoại này, có lẽ
chúng ta thấy được những khía cạnh khác nhau của việc truyền giáo trong Hội
Thánh. Vị linh mục người Mỹ trên đây là điển hình cho một đội ngũ đông đảo các
nhà truyền giáo của Hội Thánh trên khắp thế giới, từ thành thị đến nông thôn, từ
học đường đến công sở. Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động rao giảng
thì cũng có những nhà truyền giáo âm thầm, sống như những chứng nhân.
12. Xây dựng bình an
Lm. Mark Link
Chủ đề: "Sứ vụ của chúng ta
là đem bình an của Đức Kitô đến cho thế gian"
Trong năm 1980, một tờ báo phát
hành trên toàn quốc có đăng một câu chuyện khác thường. Một người kia ra xe của
ông đang đậu trước một trung tâm thương mại lớn. Ngay trên ghế ngồi, có một mẩu
giấy viết:
"Thưa ông/bà;
Tôi đã định ăn cắp chiếc xe này
cho đến khi tôi chợt nhìn thấy hàng chữ 'Peace-Be-to-You' (Bình An-Cho-Bạn) dán
trên kính xe. Nó làm tôi do dự và suy nghĩ. Tôi nghĩ nếu tôi ăn cắp chiếc xe
này, ông bà chắc chắn sẽ không có bình an, và ngược lại, tôi cũng không cảm thấy
bình an, vì đây là 'chuyến ăn hàng' đầu tiên của tôi. Do đó, 'bình an cho bạn'
và cho tôi. Nhớ lái xe cẩn thận và lần sau đừng quên khóa cửa.”
Ký tên: "Người Muốn Ăn Cắp
Xe.”
Câu chuyện khác thường đó làm
sáng tỏ mệnh lệnh khác thường của Chúa Giêsu mà Người đã ban cho các môn đệ
trong bài phúc âm hôm nay:
"Vào bất cứ nhà nào, trước
hết các con hãy nói, 'Bình an cho nhà này. ' Nếu một người yêu chuộng bình an sống
ở đó, lời chúc bình an của các con sẽ ở với họ; nếu không, hãy lấy lại lời chúc
bình an.”
13. Chúa Giêsu ẩn mình nơi các
tôn giáo
Các giám mục Malaysia, Singapore
và Brunei đã liệt kê những gì có thể học được nơi họ.
Học cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người Hồi giáo.
Học và chiêm niệm nơi người Ấn giáo.
Học từ bỏ của cải và trọng sự sống nơi người Phật tử.
Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi đạo Khổng.
Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người theo đạo Lão.
Càng học, ta càng dễ giới thiệu
Ðức Giêsu, và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.
14. Tiểu sử hai thánh Timôthêô
và Titô
+ Thánh Timôthêô.
Thánh Timôthêô và Titô là hai
môn đệ thân tín và nổi tiếng của thánh Phaolô, nên Hội thánh cho mừng lễ các
ngài chung một ngày, ngay sau ngày kính thánh Phaolô trở lại.
Timôthêô sinh ở Lycaonia thuộc
vùng Tiểu Á. Thân mẫu ngài là người Do Thái và thân phụ ngài là người dân ngoại.
Khi Phaolô đến Lycaonia rao giảng, thì một số người trong gia đình của Timothêô
là bà ngoại, thân mẫu cũng như chính Timôthêô đã được trở nên những Kitô hữu.
Nhiều năm sau, Phaolô trở lại đây một lần nữa. Lúc này Timôthêô đã khôn lớn.
Phaolô tự nhiên như có linh cảm Timôthêô là người được Chúa gửi đến cho mình.
Phaolô đã ngỏ ý muốn gọi Timôthêô làm tông đồ truyền giáo cho Chúa. Timôthêô đã
hân hoan đáp lại lời mời gọi của Phaolô. Thế là Timôthêô rời bỏ cha mẹ và nhà cửa
và lên đường. Ngài cùng chia sẻ đau khổ với Phaolô, vui mừng mang Lời Chúa đến
cho mọi người. Timôthêô là tông đồ yêu quý đặc biệt của Phaolô; và Phaolô xem
ngài như đứa con nhỏ của mình. Ngài đã cùng Phaolô đi khắp nơi cho tới khi ngài
được cử làm Giám mục tiên khởi giáo đoàn Êphêsô, một giáo đoàn rất nổi tiếng thời
đó.
Timôthêô đã hết lòng lo cho đoàn
chiên, luôn được thánh Phaolô nâng đỡ khuyên bảo. Trong suốt thời gian làm Giám
mục tại đây, ngài đã nhận được hai bức thư của thánh Phaolô. Trong lá thư thứ
I, Phaolô đã đưa ra những chỉ dẫn giúp cho Timôthêo tổ chức và điều khiển các cộng
đoàn, đồng thời cũng khuyên phải luôn trung thành với giáo lý lành mạnh cũng
như can đảm bảo toàn giáo lý đã được giao phó
Với lá thư thứ hai, thánh Phaolô
đã bộc lộ hết cõi lòng của Ngài như một người cha để lại những di chúc tinh thần
cho người con yêu quí. Những lời cuối cùng của người cha để lại cho người con
là những lời dặn dò tâm huyết ”Cha tha thiết khuyên con: hãy rao giảng lời
Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả
lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau
khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh”
(2Tm 4,15)
Sau khi Phaolô qua đời, Timôthêô
được phước sống với thánh Gioan tông đồ, là môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu.
Thánh nhân đã được phúc tử đạo
năm 97.
+ Thánh Titô.
Thánh Titô là con một gia đình
ngoại giáo, được thánh Phaolô dạy đạo, rửa tội, gọi là ”người con chân thành”,
đồng thời cũng trao cho nhiều trách vụ quan trọng. Theo truyền thuyết, thánh
tông đồ đã đặt ngài làm Giám mục giáo đoàn Kêta. Phaolô đã luôn khuyên ngài phải
sống xứng đáng với danh nghĩa là người đứng đầu cộng đoàn, đồng thời phải đối xử
thế nào cho thích hợp với mỗi hạng người. Đây là tâm tình của Phaolô: “Tôi là
Phaolô, tôi tớ của Thiên Chúa và tông đồ của Đức Giêsu Kitô. Tôi gửi lời thăm
anh Titô, người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung. Xin Thiên
Chúa là Cha và xin Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta, ban cho anh ân sủng và
bình an. Tôi đã để anh ở lại Kêta, chính là để anh hoàn thành công cuộc tổ chức
và đặt kỳ mục trong mỗi thành, như tôi đã truyền cho anh. Hãy dạy những gì hợp
với giáo lý lành mạnh. Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng chừng mực,
vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở
sao cho xứng đáng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng
biết dạy bảo điều lành. Anh hãy nhắc nhở cho mọi người rằng ai nấy phải phục
tùng và tuân lệnh các nhà chức trách, các người cầm quyền, phải sẵn sàng làm mọi
việc tốt, và đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, luôn luôn
tỏ lòng nhân từ với mọi người. (Titô 1,15; 3,18).
Titô làm Giám mục vùng quần đảo
Crêta, nơi ngài định cư cho tới khi qua đời khoảng năm 105.
15. Xin vâng là hợp tác
Có hai người giáo dân đứng ngoài
chợ nói chuyện với nhau: - Anh nghĩ xem, chúng ta có cần tiếp tay với cha xứ để
lo việc họ đạo không ? Người thứ nhất hỏi.
- Tôi cũng thường nghĩ đến điều
đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín
thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.
Một người thứ ba từ nãy đến giờ
đứng bên cạnh đã nghe được câu chuyện giữa hai người, anh chen vào: - Đúng thế,
chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao
không ?
- Tại sao ? Tại sao ? Xin cho
chúng tôi biết với.
- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã
kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó
là những người biết nói “VÂNG.”
16. Chia sẻ là bài giảng
Một lần, có một người đàn bà
giàu có người Hindou đến thăm Mẹ Têrêsa. Bà ta nói với Mẹ:
- Thưa Mẹ, con ước ao được chia
sẻ với Mẹ và cộng tác với mẹ trong các hoạt động từ thiện.
- Tốt lắm! -Mẹ đáp lại một cách
vui vẻ
Rồi bà ta thú thực với Mẹ là bà
ta có một điểm yếu rất khó bỏ, đó là tính khoe khoang, ưa làm dáng. Bà thích mặc
những chiếc áo Xa-ri, những bộ đồ Ấn Độ lộng lẫy và đắt tiền. Hôm ấy, bà mặc một
bộ áo Xa-ri giá trị 65 dollars, trong khi chiếc áo Xa-ri của Mẹ Têrêsa đang mặc
chỉ trị giá 65 xu, chưa đầy một dollar, Như được ơn trên soi sáng Mẹ Têrêsa bỗng
nảy ra được tư tưởng hay. Mẹ đề nghị với bà ấy bắt đầu cộng tác với Mẹ về những
bộ áo xa-ri đó. Mẹ khiêm tốn đền nghị:
- Từ nay trở đi, thay vì mua sắm
những bộ áo xa-ri giá 65 hoặc 100 dollars, thì bà chỉ nên mua những bộ rẻ tiền
hơn, chừng 45 hoặc 50 dollars thôi. Số tiền còn lại, bà hãy mua những bộ áo
xari khác dành cho người nghèo.
Bà ấy vui vẻ hưởng ứng lời đề
nghị của Mẹ, rồi dần dần bà cũng biết dùng những bộ áo xari rẻ tiền hơn. Sau
này chính bà cũng đã thú nhận với Mẹ Têrêsa rằng:
- Thưa Mẹ, từ ngày con bắt đầu từ
bỏ những vẻ hào nhoáng bên ngoài vô ích bên ngoài đó, tâm hồn con cảm thấy được
tự do hơn, nhẹ nhàng hơn. Con đã học biết và hiểu rõ hơn thế nào là cho đi thế
nào là chia sẻ. Và trong cách chia sẻ như thế, con phải thú nhận rằng chính con
đã được lãnh nhận nhiều hơn thứ con cho đi và chia sẻ với anh chị em nghèo khổ!
17. Quốc Khánh của Australia
Ngày 26 tháng 01 là ngày quốc
khánh của người Australia.
Ngày 26/01/1788, lá cờ của nước
Anh lần đầu tiên được cắm trên lãnh thổ của Australia, đánh dấu đợt định cư đầu
tiên của 730 người. 730 cựu tù nhân này đã được coi như là thủy tổ của đa số
người dân Australia này nay.
Ðối với chính phủ Anh thời bấy
giờ, việc lưu đày các tù nhân qua một vùng đất xa lạ là một biện pháp giúp giải
quyết vấn đề ứ đọng tại các nhà tù trong nước. Nhưng đối với 730 người lần đầu
tiên của Australia này, thì đây là cơ hội để làm lại cuộc đời. Dù muốn dù
không, người dân Australia chính hiệu ngày nay không thể phủ nhận được sự kiện
là quốc gia của họ đẫ được lhai sinh do những con người mà xã hội muốn xua đuổi
cho rảnh tay.
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ hai
Thánh Timôtê và Titô, hai người con tinh thần và cộng sự viên gần gũi của thánh
Phaolô mà chúng ta tưởng niệm biến cố trở lại ngày hôm qua.
LỄ GIAO THỪA - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN
Lời Chúa: Mt 5, 1-10
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo
thánh Mátthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ
đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người.
Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là
của họ.
Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.
Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp.
Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.
Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót
thương.
Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem
Thiên Chúa.
Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên
Chúa.
Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là
của họ.”
TRUYỆN KỂ
1. Sử dụng thời gian
Chính Thiên Chúa mới là chủ của
thời gian nhưng Thiên Chúa lại ban thời gian đó cho con người để con người sử dụng.
Con người sử dụng thời gian để làm gì thì Sách Giảng Viên đã có những gợi ý rất
hay:
Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều
có lúc, mọi việc đều có thời: có thời để chào đời, có thời để lìa thế; có thời
để trồng cây, có thời để nhổ cây; có thời để giết chết, có thời để chữa lành; có
thời để phá đổ, có thời để xây dựng; có thời để khóc lóc, có thời để vui cười; có
thời để than van, có thời để múa nhảy; có thời để quăng đá, có thời để lượm đá;
có thời để ôm hôn, có thời để tránh hôn; có thời để kiếm tìm, có thời để đánh mất;
có thời để giữ lại, có thời để vất đi; có thời để xé rách, có thời để vá khâu; có
thời để làm Thiên, có thời để lên tiếng; có thời để yêu thương, có thời để thù
ghét; có thời để gây chiến, có thời để làm hoà.
Vì mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn
tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Điều gì đang có, xưa kia
đã có, điều gì sẽ có, xưa đã có rồi.
Người công chính cũng như kẻ
gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử. Vì mọi sự, mọi việc, đều có thời, có lúc.
(GV 3,1-8;14-15)
Vâng quả đúng như vậy: mọi sự đều
có lúc, mọi việc đều có thời và thời giờ đi thật mau. Dù ta muốn hay không muốn,
bằng lòng hay không bằng lòng, vui hay buồn, sướng hay khổ, thời giờ vẫn cứ đi,
luôn luôn đi về phía trước.
2. Tốc độ của thời gian
Trong một bài thơ cổ, người ta đọc
thấy những dòng chữ này:
Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười tôi khóc thì lúc đó thời gian
bò tới
Khi tôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn thì thời gian đi bộ
Khi tôi trưởng thành, tôi là người chững chạc thì thời gian chạy
Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già thì thời gian
bay
Chẳng bao lâu nữa là tôi chết Thì thời gian đi mất
Ôi lạy Chúa, khi cái chết đến thì ngoài Chúa ra, không còn gì là
quan trọng nữa.
Như vậy vấn đề còn lại là tôi phải
sử dụng thời giờ Chúa ban cho tôi như thế nào?
3. Biết sử dụng thời gian
Vào một ngày cuối năm khi những
giờ phút cuối cùng của năm cũ đang dần dần lui vào quá khứ, và giờ phút giao thừa
đang dần dần đi tới với tất cả những huyền bí của thời gian.
Trong một túp lều tranh nhỏ bé,
một bác nhà quê đang ngồi lim dim, lẻ loi một mình trong cô quạnh. Trí khôn bác
đang dồn dập những ý tưởng mơ hồ viển vông về ngày Tết đang tới.
Tết tới, những gia đình bác quá
nghèo thành thử chẳng thấy được hương vị gì của của ngày tết.
Đang khi tâm hồn của bác còn phảng
phất trong trong cõi mông lung vô hạn, thì bỗng tự trên ngọn tháp nhà thờ đồng
hồ buông xuống 12 tiếng chuông vàng, thanh trong hoan hỉ. Giây phút linh thiêng
của đêm giao thừa vừa mới bắt đầu, thì đột nhiên bác ta thấy một chàng thanh
niên lạ mặt xô cửa bước vào, đi thẳng tới, nặng nề đặt xuống trước mặt bác một
gói gì nằng nặng. Sau đó người thanh niên nhìn chằm chằm vào đôi mắt còn đang
ngỡ ngàng của bác và nói:
- Đây là một túi vàng. Túi vàng
này ngươi hãy dùng cho khôn ngoan, rồi ngươi sẽ gặp được hạnh phúc.
Nói xong người thanh niên lạ mặt
ấy nhún chân một cái rồi bay thẳng lên nóc nhà và biến đi trong đêm tối vào cõi
thanh không.
Trước cảnh tượng vừa lạ lùng vừa
đột ngột đó bác nhà quê cảm thấy rất sửng sốt và hoang mang. Bác đưa tay lên dụi
mạnh vào mắt xem mình còn thức hay đã ngủ,
- Tôi mơ chăng?
Không! Bác không mơ. Hay có thể
nói một giấc mơ đã trở thành sự thật.
Tâm hồn bác dần dần chấn tỉnh lại
và thấy đây không phải là một giấc mơ mà là một sự thật, một sự thật hoàn toàn
hiển nhiên.
Sau một vài phút suy nghĩ, bác
liền nghiêm chỉnh tự nói với chính mình:
"Với số vàng này, một phần
tôi sẽ dùng để trả nợ. Còn dư bao nhiêu, tôi phải tiêu xài cho thật khôn
ngoan."
Kính thưa anh chị em
Câu chuyện trên đây là câu chuyện
của tôi, của anh chị em, của mỗi người chúng ta. Một năm mới nữa lại sắp tới.
Đây là thời gian Chúa ban chúng ta. Chúng quí hơn túi bạc túi vàng. Thánh
Bernađinô nói: "Thời giờ quí bằng Thiên Chúa"
Thời giờ quí hơn vàng hơn bạc.
Vàng bạc mất đi chúng ta có thể có lại. Vàng bạc mất đi chúng ta có thể tìm thấy.
Nhưng một giây một phút qua đi là qua đi mãi mãi. Cho dù có là thần là thánh đi
nữa chúng ta cũng không thể nào tìm lại được một giây, một phút đã qua đi.
Thời giờ quí giá hơn vàng bạc. Vậy
tôi phải bắt chước bác nhà quê kia. Một mặt tôi dùng thời giờ Chúa ban cho tôi
trong năm mới này để trả nợ những gì tôi mắc nợ Chúa. Trong suốt một năm qua,
Người đã ban cho tôi muôn vàn ơn cao qui: Ơn Bình an, ơn trung thành, ơn được sống
trong ơn thánh. Chúa chăn nuôi tôi như mục tử chăn dắt đoàn chiên. Thế nhưng
trong suốt năm qua, rất nhiều lần tôi đáp lại bằng những thất tín nặng nề. Trước
thềm năm mới, tôi xin dâng lên Chúa Xuân những lời cáo lỗi chân thành.
Mặt khác, tôi sẽ dùng năm mới
này cho khôn ngoan, lợi dụng từng giây từng phút mà góp công chuộc tội.
Nếu trong năm mới này hình ảnh
Chúa Xuân trong hồn tôi được thêm tốt đẹp, thì năm mới này sẽ là một năm hồng
ân và cuộc đời tôi sẽ ngập tràn hạnh phúc.
4. Chọn điều tốt nhất
Phúc âm đã kể lại câu chuyện về
ông phú nông như sau: Năm đó, mưa thuận gió hòa, mùa màng trúng lớn. Ông ta thu
tích không biết cơ man nào lúa thóc. Cho nên ông ta đã quyết định phá kho lẫm
cũ nhỏ bé, để xây kho lẫm mới to lớn hơn nhiều. Rồi đưa mắt nhìn về tương lai
giữa lúc ông cảm thấy được bảo đảm thì lời Chúa vang lên:
– Hỡi kẻ điên khùng và dại dột,
nếu như đêm hôm nay người ta đến đòi linh hồn ngươi, thì ngươi sẽ ăn nói làm
sao bây giờ, và những của cải ngươi chắt chiu thu tích sẽ để lại cho ai?
Thánh nữ Têrêxa Avilla đã nói:
– Tất cả sẽ qua đi, chỉ mình
Chúa mới tồn tại muôn đời.
Với Chúa, chúng ta sẽ có được mọi
sự. Một mình Chúa mà thôi, thì cũng đã đủ. Giữa những lao công vất vả, giữa những
giọt mồ hôi và nước mắt, giữa những quyến dũ trần gian, thì đôi mắt chúng ta vẫn
hướng nhìn về Chúa. Chỉ có một sự cần đó là sống cho Chúa để cứu rỗi linh hồn
mình.
Thực vậy, Chúa đã phán:
– Được lời lãi cả thế gian mà mất
linh hồn thì có ích lợi chi.
5. Hạnh phúc ở trong lòng chúng
ta
Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập
hợp lại với nhau để lên kế hoạch làm hại con người. Một con yêu tinh lên tiếng:
“Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người. Nhưng mà cái đó là cái gì?”
Một con yêu tinh khác lên tiếng:
“Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ
phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người
không thể tìm thấy được.”
Một con yêu tinh cho ý kiến:
“Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới.”
Con yêu tinh khác phản đối: “Con
người rất khỏe mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì khó khăn.”
“Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh
phúc ném xuống đáy biển sâu.”
“Không được, con người rất tò
mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả
mọi người sẽ biết.”
Một con yêu tinh trẻ có ý kiến:
“Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác.”
Con yêu tinh già phản đối:
“Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành
tinh khác đấy thôi.”
Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu
tinh già lụ khụ lên tiếng: “Tôi biết phải giấu hạnh phúc ở đâu rồi. Hãy giấu nó
ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp
nơi và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng
bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy!!!”
Tất cả các con yêu tinh đều đồng
ý. Và kể từ đó, rất nhiều người mãi miết kiếm tìm hạnh phúc ở những nơi nào
khác mà không biết rằng nó đang nằm ngay trong lòng mình.
6. Cho thì có phúc hơn là nhận
(Cv 20,35):
Trong một buổi hội thảo về hạnh
phúc gồm 50 người tham dự. Diễn giả khởi đầu bằng một hoạt động tập thể. Ông
đưa cho mỗi người một quả bóng và yêu cầu họ viết tên của mình lên trái bóng bằng
chiếc bút lông. Sau đó, số bóng được thu hết lại trong giỏ rồi được đưa sang một
phòng khác.
Rồi 50 người này lại được tập
trung sang phòng chứa bóng và được yêu cầu hãy tìm quả bóng có ghi tên mình
trong thời hạn 5 phút. Mọi người đều lao vào giỏ xô đẩy nhau để tìm kiếm quả
bóng tên mình và căn phòng trở nên hỗn loạn, khi hết 5 phút mà ít có người tìm
được quả bóng tên mình.
Sau đó, vị diễn giả lại yêu cầu
mỗi người tự nhặt lên một quả bóng bất kỳ rồi tìm chuyển cho người có tên ghi
trên bóng. Chỉ trong vòng 5 phút, ai nấy đều đã có được quả bóng tên mình.
Lúc này, vị diễn giả mới dẫn vào
đề tài về hạnh phúc: Trong cuộc sống, mỗi người đều hối hả đi tìm hạnh phúc của
mình, nhưng thực ra lại không biết chúng nằm ở đâu.
Hạnh phúc của chúng ta nằm xen lẫn
với hạnh phúc của người khác. Hãy tìm cách làm cho người xung quanh có được hạnh
phúc của họ, rồi chúng ta cũng sẽ được người khác mang lại hạnh phúc cho ta.
Cũng như câu chuyện trên cho thấy: khi náo loạn đi tìm bóng thì sẽ không tìm thấy.
Còn khi mỗi người cầm bóng trao cho kẻ khác thì chính họ cũng sẽ được người
khác trao quả bóng hạnh phúc cho mình. Hãy cứ cho đi rồi sẽ được nhận lại: “Vì
anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy”
(Lc 6,38).
7. Tha thứ để có được niềm vui
Ngày 03/10/2019, một thanh niên
da đen 18 tuổi đã làm rúng động nước Mỹ, và có thể còn xa hơn nữa, với thông điệp
tha thứ của anh.
Trong phiên tòa xét xử cô Amber
Guyger, 31 tuổi, cảnh sát viên người da trắng.
Vì mải nói chuyện điện thoại cho
nên cô đã đi nhầm vào phòng của anh Botham Jean, và ngạc nhiên khi thấy anh
Botham đang ngồi ăn kem trong phòng khách, cô liền rút súng ra. Cô tưởng anh tấn
công mình nên cô đã bắn hai phát súng trúng vào tim anh. Botham Jean, 26 tuổi,
người da đen, đã chết trong căn phòng của mình một cách bất ngờ, ngỡ ngàng
không hiểu tại sao mình phải chết!
Trong bối cảnh căng thẳng vì vấn
đề màu da và vì tình trạng bạo hành của cảnh sát, phiên tòa xử cô Amber Guyger
đã diễn ra hết sức căng thẳng.
Kết thúc 4 ngày xét xử, bồi thẩm
đoàn đã nhất trí kết tội cô là ‘sát nhân’. Và kết án 10 năm tù.
Người em trai của Botham tên là
Brandt Jean, 18 tuổi, khi được cho phép nói lên lời cuối với tội nhân, đã sử dụng
thời gian đó tại tòa án để đưa ra một thông điệp tha thứ:
“Tôi không muốn nói hai lần hoặc
hàng trăm lần cô đã lấy đi những gì, và bao nhiêu từ chúng tôi.
Tôi nghĩ rằng cô biết điều đó.
Nhưng tôi chỉ hy vọng rằng cô đến
với Chúa với tất cả mọi tội lỗi và tất cả những gì tôi nghĩ là xấu xa mà cô đã
từng làm trong quá khứ.
Ai trong chúng ta cũng có thể đã
làm một cái gì đó chúng ta không nên làm.
Nếu cô thực sự hối hận. Tôi biết
tôi có thể nói về phần tôi là tôi tha thứ cho cô.
Và tôi biết nếu cô đến với Chúa
và xin Ngài tha thứ thì Ngài sẽ tha thứ cho cô. Thực tâm tôi không muốn cô phải
ngồi tù. Tôi không muốn bất cứ điều gì xấu cho cô.
Ngập ngừng một lúc, anh quay
sang phía chánh án hỏi:
Tôi không biết tôi có thể dành
cho cô ấy một cái ôm không.
Xin vui lòng cho phép tôi.
Bà chánh án Tammy Kemp rất bối rối
trước đề nghị này. Sau một lúc suy nghĩ bà nói “Được.”
Chứng kiến cảnh này bà chánh án
Tammy Kemp đã rơi lệ.
Đây “Thật là một tấm gương đáng
kinh ngạc về tình yêu và sự tha thứ Kitô giáo, chàng trai 18 tuổi đã thay anh
tha thứ cho người sát hại anh và khuyến khích cô ấy hiến dâng cuộc sống của
mình cho Chúa Kitô để bù đắp tội lỗi mình.
Hôm nay đêm giao thừa, nhắc lại
sự kiện này như muốn mời gọi tất cả chúng ta “điều gì tha thứ được thì hãy tha
thừ”, “điều gì có thể quên đi được thì hãy quên đi”, nhất là hãy quên đi oán giận,
hận thù ganh ghét để cho tâm hồn thanh thản bước vào một mùa xuân mới của đất
trời. Và nếu chúng ta là người đã nhận được sự tha thứ của anh em thì hãy hiến
dâng cuộc sống mình phụng sự cho Chúa để bù đắp lại tỗi lỗi của mình.
8. Đừng quá lo cho ngày mai
Một thương gia giàu có nọ đi dạo
trên bờ biển, tình cờ ông thấy có những ngư phủ nằm ngủ một cách ngon lành trên
thuyền, mặc cho sóng nước chòng chành. Tò mò ông đến hỏi một ngư phủ:
- Sao anh không đi đánh cá?
Chàng ngư phủ trả lời:
- Tôi đã đánh bắt số cá đủ cho
ngày hôm nay rồi.
Thấy câu trả lời chưa được thoả
mãn, thương gia hỏi tiếp:
- Sao anh không tiếp tục đi
đánh, để bắt thêm nhiều cá hơn?
Thay vì trả lời, chàng ngư phủ hỏi
lại: - Nhưng thưa ông để làm gì?
Với đầu óc kinh doanh sẵn có,
thương gia kia như muốn vạch đường hướng làm ăn cho anh chàng ngư phủ, nên đã
trả lời:
- Càng đánh bắt được nhiều cá,
anh càng kiếm được nhiều tiền. Có nhiều tiền anh có thể mua được chiếc thuyền lớn
hơn, để có thể ra xa hơn, bắt được nhiều cá hơn. Rồi từ một thuyền, anh sẽ có
thể có hai, ba, bốn chiếc... và như thế anh sẽ là một người giàu có.
Chàng ngư phủ xem chừng như
không thiết tha với kế hoạch làm giàu của thương gia kia nên hỏi tiếp: - Giàu
có rồi làm gì nữa?
Thấy như người đối thoại với
mình quá chất phác, nên thương gia trả lời:
- Rồi anh sẽ được vui hưởng cuộc
sống.
Lúc ấy, chàng ngư phủ mỉm cười
nói:
- Thế tôi nằm đây để ngắm nhìn
trời biển như thế này không phải là vui sướng cuộc đời hay sao?
9. Chúc cho giầu có.
Có người cho rằng: năm mới tốt đẹp
là ở chỗ làm ăn phát tài phát lộc, tiền chảy vào túi như nước như non. Người ta
chúc nhau: “Nhất bản vạn lợi” hay “Một vốn bốn lời”:
Nó lại chúc nhau cái sự giầu
Trăm ngàn vạn mớ để vào đâu?
Người ta chúc nhau giầu có,
nhưng thử hỏi giầu có đến đâu là đã thỏa mãn? Chắc chẳng bao giờ ngươi ta thỏa
mãn với cái lòng tham vô đáy, nên chẳng bao giờ người ta đạt được sự giầu có
như lòng mong ước? Người ta vẫn khát khao sự giầu có mà không được.
Nhiều người đã tôn vinh tiền của
lên hàng thần thánh: thần MAMMON (thần Tiền Của). Vị thần này rất quyền năng,
trở thành ông chủ khắc nghiệt tuyệt đối chi phối con người họ, bắt họ làm nô lệ
cho mình, và có ai thấy mình được hạnh phúc khi phải sống kiếp nô lệ không?
Ngày 06/06/1976 ông Paul Getty,
một người giầu có, đã qua đời. thọ 83 tuổi. Ông để lại khoảng 4 tỉ Mỹ kim. Sau
5 lần ly dị, trong một cuộc phỏng vấn, ông đã tuyên bố: “Tôi đã mong dùng tất cả
gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi sợ mình không
thành công. Tôi sợ không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân ấy.”
Một lần khác, ông đã phải thú nhận
với một phóng viên là ông đã không đạt được hạnh phúc gia đình.
Một lần khác nữa, ông Paul Getty
xác nhận: tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Hơn nữa, ông còn tin rằng tiền
bạc có bà con với nỗi bất hạnh.
10. Chúc cho sống lâu.
Có người cho rằng năm mới tốt đẹp
là ở tại chỗ sống thật lâu thật bền cho đến lúc đầu phủ tuyết, da đồi mồi. Thi
sĩ nói:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Nhưng sống lâu có hạnh phúc
không? Tại sao người ta thường nói: “đa thọ, đa nhục” hoặc thành ngữ có câu:
“Trẻ khôn qua, già lú lại.” Đã “lú lại” sẽ bị con trẻ chê bai! Đã “lú lại” tất
không thể trốn đâu được cái nhục. Không thiếu gì các ông già bà cả bị bỏ rơi,
đang sống tủi sống nhục trong tuổi già. Ít có người già nào nói: mình được hạnh
phúc trong tuổi già.
Ngắm nhìn ngày tháng dần trôi,
người già mới thấm thía câu ca dao:
Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa.
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa… một mình.
Trước cảnh tượng phũ phàng ấy,
người ta tự nhiên cảm thấy ù tai chóng mặt. Để cứu vãn tình thế, tranh thủ thời
gian, họ đâm ra ăn chơi phóng đãng:
Ai ơi, chơi lấy kẻo già,
Măng mọc có lứa, người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già xống xộc nó thì theo sau.
11. Chúc cho vinh sang
Có người cho rằng một năm tốt đẹp
là được mọi người ca tụng, tiếng tăm được vang khắp bốn bể, được thiên hạ nâng
như nâng trứng, hứng như hứng hoa:
Nó lại chúc nhau cái sự sang
Đứa thì buôn tước, đứa buôn
quan.
Danh tiếng vang lừng bốn bể có
làm cho người ta được hạnh phúc không? Đây là một chứng từ mà người ta đã biết:
ông Anatole France là một người giầu có, được mọi người hoan nghênh, được nếm đủ
các thứ khoái lạc trên đời, đã phải thú nhận rằng: “Nếu anh có thể đọc được
trong tâm hồn tôi, anh sẽ rùng mình. Trong trời đất không có vật nào vô phúc bằng
tôi: người ta tưởng tôi sống hạnh phúc. Thật ra, không bao giờ được sung sướng
cả, dầu trong một giờ, dẫu trong một ngày.”
Còn một chứng từ khác của một
người còn sang hơn quan nữa, tiếng tăm lừng lẫy khắp muôn phương, được thiên hạ
học từ lời ăn tiếng nói, được theo dõi, từ chân tơ kẽ tóc như cô đào minh tinh
màn bạc Brigitte Bardot mà cũng không thấy được hạnh phúc.
–?
– Mộng tôi bây giờ không phải là
thủ vai tài tử quan trọng. Mộng tôi bây giờ là làm thế nào có đủ can đảm rút
lui khỏi màn bạc.
– Thế thì tất cả những công danh
của cô xưa rầy là mây, là khói hay sao?
– Phải! Brigitte Bardot đáp lại
những câu hỏi bồi hồi của một ký giả báo Văn Đàn. Phải! Tất cả là mây khói, là
hư vô.
12. Ba người bạn
Ba người bạn: Người kia có 3 người
bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy thôi. Ngày
kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ. Người bạn thứ nhất
từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến
cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không được ông yêu
thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng
án mà còn được thưởng nữa.
Người bạn thứ nhất là Tiền bạc.
Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái
hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về.
Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào
cửa thiên đàng.
13. Chúc cho hiện tại
Quá khứ đã khép lại....quá khứ
đã chết rồi thưa Anh chị em. Tương lai thì chưa tới. Bác sĩ Osler nói: “Cách
hay nhất và độc nhất để sửa soạn cho ngày mai là đem tất cả thông minh hăng hái
của ta tập trung vào công việc hôm nay”
Robert Louis Stevenson cũng nói:
“Bất cứ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn đầy tình
thương chan chứa trong lòng từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó là
ý nghĩa của cuộc đời”
Edwards Evan bảo: “Đời sống nằm ở
trong hiện tại, trong mỗi ngày chúng ta sống, trong mỗi giờ chúng ta sống,
trong mỗi phút chúng ta sống”
Kalidasa một kịch sĩ nổi tiếng của
Ấn độ có viết một bài thơ nổi tiếng sau đây: “Hãy chăm chú vào ngày hôm nay, vì
nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống.
Nó tuy ngắn ngủi, nhưng chứa tất
cả chân lý về cuộc đời của ta:
Sự sung sướng khi tiến phát
Sự vẻ vang của hành động
Sự rực rỡ của thành công
Vì hôm qua chỉ là một giấc mộng
Và ngày mai chỉ là một ảo tưởng
Nhưng hôm nay nếu biết sống đầy
đủ, ta sẽ thấy hôm qua là một giấc mộng êm đềm và ngày mai là hình ảnh của hy vọng.
Vậy ta hãy chăm chú vào ngay hôm
nay
Và những lời này của Chúa Giêsu:
“Anh em đừng lo cho ngày mai. Nước Trời đang ở giữa anh em. Thiên đàng ở trong
lòng anh em”
Xin chúc Anh chị em được như thế...
Và nếu chúng ta sống được như thế,
chúng ta sẽ có sức khỏe, sẽ dễ làm ra tiền bạc, sẽ có đời sống vui tươi, và cuối
cùng dù không đi tìm, hạnh phúc cũng sẽ đến với chúng ta. Amen.
14. Tin tưởng phó thác
Hoài Nam Tử có thuật lại một câu
truyện như sau: có một ông lão ở gần cửa ải có một con ngựa tự nhiên bỏ sang nước
Hồ. Láng giềng biết tin đó đến hỏi thăm.
Ông lão nói:
– Mất ngựa thế mà biết đâu lại
là cái phúc.
Cách mấy tháng con ngựa của ông
tự nhiên quay trở về, lại về với một con ngựa khác. Láng giềng nghe tin đến mừng.
Ông lão nói:
– Được ngựa thế biết đâu lại là
một mối họa.
Từ khi có con ngựa hay, đứa con
ông lão ngày ngày mải mê tập dượt. Một hôm chẳng may bị té ngã và què mất một
chân.
Láng giềng nghe tin lại đến chia
buồn.
Ông lão nói:
– Con tôi què thế nhưng biết đâu
lại là một cái phúc.
Một năm sau bỗng có giặc Hồ xâm
lăng, nhà vua hạ lệnh tổng động binh. Con ông lão vì què chân cho nên được miễn
nhập ngũ. Trận chiến ác liệt chưa từng thấy. Tướng sĩ lâm trận mười phần tử trận
mất chín. Nhờ được ở nhà mà con ông lão thoát được hiểm nguy chết chóc và nhờ
đó mà hai cha con vẫn còn được sống bên nhau.
Vậy trước hết hãy tìm kiếm Nước
Thiên Chúa và đức công chính của Người… Còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm
cho”
Đây là câu nói thật quan trọng
và cũng là điều kiên tất yếu mà khoa Thần học gọi là điều kiện “sine qua non”
có nghĩa là điều kiện không thể không có để cho một điều gì đó được thành sự
hay được xẩy ra.
Theo bản văn Thánh Kinh hôm nay
thì việc “trước hết phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”
là điều kiện để Chúa thực hiện lời hứa “Còn các điều khác sẽ được ban thêm cho”
Khi tin vào Thiên Chúa con người
cũng còn phải biết phó thác tất cả cho Người. Phải tin vào giá trị của mình
cũng như phải tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Chim chóc hoa cỏ
mà còn được Chúa để ý chăm nom thì huống chi là con người. Bởi thế nói theo kiểu
của Thánh Phaolô thì “ngay cả khi ta phục vụ Thiên Chúa mà ta vẫn bị đói rách
hay bị chết chóc thì ta vẫn không phải là kẻ bị quyền năng Thiên Chúa tử bỏ
(Rom 8,28; Mt 10,28-31) mà đó còn là một cái phúc.(Mt 5,3-12) Chỉ có Thiên Chúa
mới hiểu hết được những sự tốt lành mà Ngài làm cho các con cái của Người.
15. Chúa yêu thương con cái mình
Một biến cố rất đặc biệt xẩy ra
trong Công đoàn các chị nữ tu Bác ái của Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Kể câu truyện
này để anh chị em thấy việc Thiên Chúa làm lạ lùng như thế nào. Mỗi ngày tại
Calcutta hội dòng phải chăm sóc cho khoảng chừng 7000 người một số người bằng cả
giáo xứ Bùi Phát của chúng ta – rồi còn phải lo cung cấp thực phẩm cho họ nữa.
Vào một ngày thứ sáu nọ, chị nữ tu coi sóc nhà bếp đến thưa với mẹ:
– Thưa mẹ, trong nhà không còn
gì ăn cho hôm nay và ngày mai nữa.Tốt hơn hết là chúng ta nên bo cho họ biết điều
đó.
Nghe điều đó, mẹ không biết phải
trả lời cho chị phụ trách nhà bếp như thế nào. Cả 7000 ngàn người ăn chứ đâu phải
ít.
Thế nhưng vào khoảng 9 giờ sáng
hôm đó không hiểu vì lý do gì mà chính quyền Ấn độ tuyên bố đóng cửa tất cả các
trường công lập. Thế là số bánh mì làm sẵn cung cấp cho các học sinh không có
chỗ sử dụng và chúng được chở thẳng tới cho mẹ Têrêxa. Và tất cả 7000 người từ
nhỏ tới lớn có đủ bánh mì ăn trong hai ngày và hơn nữa còn được ăn no nê hơn cả
những lần khác.
Chẳng ai hiểu được lý do. Nhưng
mẹ Têrêxa thì thấy thật rõ. Mẹ nói: “Đó chính là dấu chỉ của Tình thương Thiên
Chúa. Người là người Cha giầu lòng yêu thương đối với con cái mình”
16. Lòng phó thác của thánh
Phanxicô
Thánh Phanxicô Assisi khi trình
bản nội qui lên Đức Thánh Cha để xin Ngài chuẩn y. Sau khi Đức Thánh Cha đọc
xong, ngài hỏi Phanxicô Assisi:
– Các tu sĩ của con sẽ sống bằng
cái gì?
– Tâu Đức Thánh Cha, Thiên Chúa
là một người Cha đầy uy quyền, nhưng Người cũng là một người Mẹ nhân từ.” (?!)
MỒNG MỘT TẾT - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN
Lời Chúa: Mt 6, 25-34
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy
gì mà ăn, hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của
ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo,
không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào
các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể
làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì?
Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng,
không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả
vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy
nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc
cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin. Vậy các con chớ
áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì hoặc sẽ lấy gì mà mặc?
Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần
đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công
chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ
áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn
khổ của ngày ấy." Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Chúng ta nên chúc nhau những
gì?
Nếu chúc cho ông bà anh chị em
được sống lâu, giầu có, được vinh sang… thì thấy không ổn vì tất cả những cái
đó chưa làm nên hạnh phúc vì nó vẫn là mây khói. Xin được lấy lại câu chúc của
thi sĩ Trần Tế Xương một lần nữa:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ai trong đời
Vua quan sĩ thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.
Câu chúc của thi sĩ “Sao được
cho ra cái giống người” xem ra có vẻ hài hước và mang tính cách châm biếm.
Nhưng cái nhìn của ông về con người cũng giống như cái nhìn của nhà hiền triết
Diogène ngày xưa. Đang giữa trưa ông cầm đèn ra giữa thành phố Athènes để đi
tìm cài gì đó. Người ta hỏi tìm gì. Ông trả lời: đi tìm người! Thiếu gì người ở
giữa thành phố mà phải đi tìm? Nhưng ông cho rằng những đám người này chưa phải
là người đúng nghĩa, ông đi tìm một con người chính danh, con người xứng đáng
“linh ư vạn vật” kia!
Năm mới chúng ta chúc nhau hãy
trở nên con người đúng nghĩa, phải “linh ư vạn vật ” mới được.
Đối với người Việt nam Công giáo
chúng ta, thời gian được ban cho chúng ta trong Năm mới này là để chúng ta “làm
người” và “làm con Chúa.” Chúng ta không tự nhiên là người hay là con Chúa được,
có là hay không còn tùy thuộc ở chỗ chúng ta có “làm” và có “làm” được hay
không. Hạt giống không tự nhiên có thể nở thành cây và sinh hoa kết quả: nó cần
phải được gieo cấy trong ruộng trong vườn, và cần phải có thời gian để phát triển.
Con người chúng ta cũng vậy, chúng ta là những cái “nhân” được gieo cấy trong
ruộng đồng là thế gian này và thời gian được ban cho chúng ta làm nên đời mình
bằng cách cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa: ân sủng này cũng ví như ánh sáng
và sương mưa cần thiết cho sự sinh trưởng của cây.
2. Ngày hôm nay
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây
dành cho báo chí, công chúa Masako Owada đã cho biết ý kiến của mình như sau về
hạnh phúc và Tình yêu. Bà nói: Đối với người Châu Âu thì hạnh phúc được gói trọn
trong ba chữ: Tuổi trẻ, sắc đẹp và quyền lực. Còn đối với người Á châu thì là
Tình yêu, sức khỏe và gia đình.”
Sức khỏe là một trong những yếu
tố rất quan trọng làm nên hạnh phúc cho chúng ta, nhưng sức khỏe cũng không thể
do lời chúc mà có. Nó còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác như dinh dưỡng, vệ
sinh, sự điều độ trong cuộc sống.. vân vân...
Và bây giờ tôi xin chúc: Xin
Chúa cho Anh chị em được sống trọn vẹn và đầy đủ những phút giây hiện tại của
cuộc sống trên trần gian này.
Quá khứ đã khép lại....quá khứ
đã chết rồi thưa Anh chị em. Tương lai thì chưa tới. Bác sĩ Osler nói: “Cách
hay nhất và độc nhất để sửa soạn cho ngày mai là đem tất cả thông minh hăng hái
của ta tập trung vào công việc hôm nay”
Robert Louis Stevenson cũng nói:
“Bất cứ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn đầy tình
thương chan chứa trong lòng từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó là
ý nghĩa của cuộc đời”
Edwards Evan bảo: “Đời sống nằm ở
trong hiện tại, trong mỗi ngày chúng ta sống, trong mỗi giờ chúng ta sống,
trong mỗi phút chúng ta sống”
Kalidasa một kịch sĩ nổi tiếng của
Ấn độ có viết một bài thơ nổi tiếng sau đây: “Hãy chăm chú vào ngày hôm nay, vì
nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống.
3. Trước hết là tìm kiếm Nước
Thiên Chúa
Hoài Nam Tử có thuật lại một câu
truyện như sau: có một ông lão ở gần cửa ải có một con ngựa tự nhiên bỏ sang nước
Hồ. Láng giềng biết tin đó đến hỏi thăm.
Ông lão nói:
– Mất ngựa thế mà biết đâu lại
là cái phúc.
Cách mấy tháng con ngựa của ông
tự nhiên quay trở về, lại về với một con ngựa khác. Láng giềng nghe tin đến mừng.
Ông lão nói:
– Được ngựa thế biết đâu lại là
một mối họa.
Từ khi có con ngựa hay, đứa con
ông lão ngày ngày mải mê tập dượt. Một hôm chẳng may bị té ngã và què mất một
chân.
Láng giềng nghe tin lại đến chia
buồn.
Ông lão nói:
– Con tôi què thế nhưng biết đâu
lại là một cái phúc.
Một năm sau bỗng có giặc Hồ xâm
lăng, nhà vua hạ lệnh tổng động binh. Con ông lão vì què chân cho nên được miễn
nhập ngũ. Trận chiến ác liệt chưa từng thấy. Tướng sĩ lâm trận mười phần tử trận
mất chín. Nhờ được ở nhà mà con ông lão thoát được hiểm nguy chết chóc và nhờ
đó mà hai cha con vẫn còn được sống bên nhau.
Vậy trước hết hãy tìm kiếm Nước
Thiên Chúa và đức công chính của Người… Còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm
cho”
Đây là câu nói thật quan trọng
và cũng là điều kiên tất yếu mà khoa Thần học gọi là điều kiện “sine qua non”
có nghĩa là điều kiện không thể không có để cho một điều gì đó được thành sự
hay được xẩy ra.
Theo bản văn Thánh Kinh hôm nay
thì việc “trước hết phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”
là điều kiện để Chúa thực hiện lời hứa “Còn các điều khác sẽ được ban thêm cho”
Việc tìm kiếm nước Thiên Chúa mà
Chúa Giêsu nói ở đây không phải là sự tìm kiếm giống như tìm kiếm một đồ vật
nhưng là thái độ gồm cả ý chí, nỗ lực và hành động hướng về Thiên Chúa, để cho
Thiên Chúa chi phối và điều khiển mọi suy nghĩ và hành động của mình sao cho những
hành động đó thể hiện được thánh ý của Người. Làm được như vậy là con người đã
làm được điều mà bài Tin Mừng hôm nay gọi là tìm kiếm nước Thiên Chúa.
4. Niềm vui và nỗi buồn
Không gì cần thiết cho chúng ta
bằng niềm vui. Phải, niềm vui cũng cần thiết như cơm để ăn, áo để mặc và khí trời
để thở. Niềm vui được biểu lộ nơi ánh mắt, nơi nụ cười, phản ảnh cho một tâm hồn
trong sạch và một trái tim nhiệt thành. Vì thế mà người ta đã bảo:
– Một ông thánh buồn là một ông
thánh đáng buồn vậy.
Thế nhưng đâu là chiếc chìa khóa
đem lại niềm vui cho chúng ta?
Sau khi Chúa Giêsu sống lại, vấn
đề quan trọng đối với các tông đồ chính là niềm vui, bấy giờ tâm hồn các ông ngập
tràn hạnh phúc, bởi vì Chúa Giêsu vẫn còn đó, bên cạnh các ông. Nhưng rồi các
ông sẽ phải buồn phiền vì Chúa Giêsu sẽ từ giã các ông mà về cùng Chúa Cha. Điều
cần thiết cho các tông đồ cũng là điều cần thiết cho chúng ta, những người tín
hữu, đó là niềm vui được kết hiệp với Chúa.
Thực vậy, bao lâu xa cách Chúa,
tâm hồn chúng ta sẽ phải khắc khoải u sầu. Tại sao lại như thế?
Trước hết vì Chúa Giêsu là Đấng
đem lại cho chúng ta niềm vui đích thực. Có một gia đình giàu sang, chuẩn bị
cho cô gái út của mình trong ngày rước lễ lần đầu. Bà mẹ đã may cho cô bé những
bộ quần áo lộng lẫy. Cô bé yên lặng suy nghĩ, rồi với cặp mắt long lanh, cô bé
nói:
– Xin mẹ cứ mặc cho con những bộ
quần áo bình thường như những nhỏ bạn nghèo khổ của con. Niềm vui của con chính
là được gặp gỡ và kết hiệp với Chúa trong ngày trọng đại ấy.
Phải, một khi ngự vào tâm hồn
chúng ta, Chúa sẽ đem đến niềm vui và sự bình an. Vì thế, chỉ có một nỗi buồn
day dứt, đó là chúng ta bị xa cách Chúa bởi tội lỗi mà thôi.
Vua thánh Louis hồi còn nhỏ, thường
ngồi dưới chân mẹ là hoàng hậu Blanche de Castille, ngước mắt nhìn mẹ và chăm
chú lắng nghe những lời mẹ dạy. Ngày kia, người mẹ đặt một tay lên vai con rồi
nghẹn ngào nói:
– Hẳn con biết rằng mẹ yêu con
nhiều lắm, nhưng thà rằng mẹ thấy con chết dưới chân mẹ còn hơn là thấy con phạm
một tội trọng mất lòng Chúa.
Cậu bé yên lặng và suy nghĩ, rồi
trên khuôn mặt cậu bé biểu lộ một điều dốc quyết thật can cảm:
– Thà chết chẳng thà phạm tội.
5. Tôi là người hạnh phúc nhất
Một ông vua giàu có nọ không bao
giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng
đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người
hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận
được tiền do sự cưỡng bách.
Ngày nọ, ông vua giàu có đã quyết
định làm một việc táo bạo: đó là cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm
được những đồng tiền bố thí… Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một
người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông cho tất cả những tiền ăn xin được
vào một chiếc hộp nhỏ. Tuy không là bao so với cả kho tàng của ông, nhưng có lẽ
nó vẫn có giá trị hơn… Ông tự nghĩ: bây giờ ta nới thực sự là người giàu có nhất
trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ
không do một sự cưỡng bách nào.
Khi đã gom góp được một số tiền
khá lớn sau những năm tháng ăn xin trước cửa các giáo đường, ông đã xin từ chức
khỏi ngai vàng và đi đến một phương xa, nơi không ai có thể nhận ra ông. Ông
mua một mảnh đất, và tự tay cất được một ngôi nhà tranh đơn sơ. Không mấy chốc,
do sự hòa nhã, vui tươi của ông, mọi người trong lối xóm đều mến thương ông, nhất
là các em bé. Ông kể chuyện cho chúng nghe, ông đem chúng đi câu cá, ông dạy
chúng ca hát.
Trong đám trẻ nhỏ, có một cậu bé
gia đình còn nghèo hơn cả ông nữa. Cậu bé chỉ có vỏn vẹn một con chim họa mi.
Nghe tin ông đau nặng, cậu bé đã vội vàng mang con chim đến tặng ông, với hy vọng
rằng con chim sẽ hót cho ông được khuây khỏa.
Đón nhận món quà, con người đã từng
là vua của một nước mới thốt lên: “Từ trước đến nay, tất cả những gì tôi có,
tôi đều lãnh nhận do lòng thương xót của người khác. Người ta cho tôi, nhưng
không phải là cho tôi mà là cho một người hành khất. Giờ đây, với món quà tặng
là con chim này, người ta tặng cho tôi với tất cả tấm lòng yêu thương… Chắc chắn,
tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian.”
Một thời gian sau đó, trong
vùng, có một người táđiền nghèo bị người chủ đe dọa lấy nhà và trục xuất ra khỏi
mảnh vườn đang canh tác. Nghĩ đến cảnh hai vợ chồng và 7 đứa con dại bị đuổi ra
khỏi nhà, ông vua không thể nào ăn ngủ được… Cuối cùng, ông quyết định tặng
chính mảnh vườn và ngôi nhà của mình cho gia đình người tá điền nghèo… Và một lần
nữa, không một đồng xu dính túi, ông lên đường trẩy đi một nơi khác.
Bùi ngùi vì phải chia tay với những
người quen biết trong vùng, nhưng ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu
tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì
có phúc hơn là nhận lãnh… Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: “Tôi là người
hạnh phúc nhất trên trần gian này.”
6. Nếu không có mùa xuân?
“Ngày kia, có vài người đến thưa
với Thượng Đế rằng: Tết năm nào cũng có bấy nhiêu việc. Chán quá! Chỉ có bọn
con nít vô tư ham Tết chứ người lớn như chúng con chẳng ham gì Tết vì còn vất vả,
tốn kém hơn ngày thường. Xin Ngài xem xét cho”! Suy đi nghĩ lại, Thượng Đế quyết
định gọi Mùa Xuân trở về Thiên Quốc.
Thế là ba trăm sáu mươi lăm ngày
này trôi qua, lại đến ba trăm sáu mươi lăm ngày khác tiếp nối nhau liên tục. Trẻ
con cứ vùi đầu vào sách vở. Người lớn thì miệt mài chạy theo công việc làm ăn.
Nhà cửa chẳng bao giờ được trang hoàng bởi những nhánh mai vàng rực rỡ và những
chậu hoa kiểng xinh xắn, dễ thương. Các ông bà cụ mỏi mòn bên song cửa ngày này
qua tháng nọ mà bóng dáng con cháu vẫn biền biệt. Bạn bè không có dịp họp mặt
nhau bên ly rượu, mâm cơm để gặp gỡ, chia sẻ tâm tình … Và rồi dần dần, hoa cỏ
nhợt nhạt vì thiếu làn gió xuân ấm áp và những đôi tay chăm sóc. Con người cũng
dần dần xa cách nhau vì thiếu sự quan tâm và tình thương nồng nàn.
Chịu hết nổi, một ngày nọ, con
người lại đến van xin Thượng Đế: “Xin Ngài đem Mùa Xuân trở về với chúng tôi.
Không có Mùa Xuân, có ngày chúng tôi phát điên lên mất.”
Khi Mùa Xuân trở lại, sức sống
và niềm vui lại chan hòa trên cảnh vật và con người …”
Có lẽ Mùa Xuân là một quà tặng
tuyệt vời mà Thượng Đế gửi đến cho vũ trụ và con người. Quà tặng đó là thời
gian, là những vẻ đẹp được kết tinh từ cả một chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc,
và sâu xa hơn, đó là một “món ăn” bổ ích cả thể xác lẫn tinh thần cho con người.
7. Chúa quan phòng
Có hai người bộ hành đi lên đường
đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý, và mang theo một
chú gà cồ làm bạn. Ban đêm đến họ đốt đuốc để soi đường.
Một trong hai người là một tín hữu
rất đạo đức, luôn miệng nói: “Chúa là Ðấng tốt lành quan phòng mọi sự.” Người
kia thì rất cứng lòng tin. Ông rất bực mình mỗi khi nghe người bạn đồng hành
hơi một tí là cầu nguyện “phó thác cho Chúa lòng lành.”Trước khi mặt trời lặn,
họ đến một ngôi làng nhỏ. Họ tìm một nơi để qua đêm. Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng
không có ai đón tiếp họ. Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng
để qua đêm. Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn không có lòng tin mới thốt
lên: “Nào, Chúa tốt lành của anh ở đâu rồi?” Người kia bình tĩnh đáp lại: “Ðây
là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này.”
Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc
cây lớn nằm sát bìa rừng. Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt
lên ngọn đuốc thì một tiếng động mạnh từ xa vang lại. Thì ra, chỉ trong chớp
nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi. Vừa thương tiếc cho chú
lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên
cây để tránh tai họa.Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng mới thốt
lên: “Nào, Chúa quan phòng của anh còn tốt nữa không?” Người tín hữu ngoan đạo
dõng dạc tuyên bố: “Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó
đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Tạ ơn Chúa là Ðấng tốt lành.”
Một vài phút sau, con gà cồ bỗng
kêu la thất thanh. Hai người bộ hành mới trèo cao hơn. Họ nhận ra con gà cồ
đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng. Họa vô đơn chí! Chỉ vài phút sau
đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh
tối tăm ghê rợn. Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thinh lặng trước
lời xiên xỏ của người bạn không tin Chúa của mình.
Sáng hôm sau, hai người mon men
trở lại làng để mua thức ăn. Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã đột
nhập vào làng cướp của giết người. Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng, người
có lòng tin mới giải thích cho người bạn như sau: “Anh đã chứng kiến từ đầu đến
cuối. Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ
chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp. Nếu cơn gió lớn không làm tắt
ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta. Bạn thấy chưa,
trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng quan phòng tuyệt hảo.”
8. Mùa xuân phó thác
Ngày xưa, tại ngôi làng thuộc một
vùng núi, người dân có tục lệ rất hay. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, mọi người
già trẻ lớn bé đều tham dự cuộc thi đua tìm bông hoa đầu tiên của mùa xuân. Ai
tìm thấy và hái được bông hoa ấy, sẽ được xem là người may mắn nhất trong năm.
Một năm nọ, tuyết đông vừa tan,
mặt trời vừa ló dạng, mọi người trong làng kéo nhau lên núi tham gia cuộc thi.
Buổi sáng trôi qua mà không có ai tìm được bông hoa nào. Giữa lúc mọi người
đang chán nản định bỏ cuộc, thì trên triền núi cao, có tiếng reo hò mừng rỡ:
– Tôi đã tìm thấy rồi!
Đó là tiếng reo hò của một cậu
bé trong làng. Mọi người chạy đến chia sẻ niềm vui với cậu bé. Nhưng không may
cho cậu, bông hoa nằm kẹt trong một khe đá dưới vực sâu. Muốn được xem là người
may mắn nhất trong năm, chính cậu phải là người đích thân hái bông hoa ấy.
Năm người đàn ông lực lưỡng nhất
trong làng đem một sợi dây thừng đến giúp cậu bé leo xuống vực. Nhưng cậu bé
không dám leo xuống. Người ta đem đến một sợi dây thừng khác, chắc chắn hơn và
huy động tất cả trai tráng trong làng giữ dây thừng cho cậu. Nhưng cậu cũng
không chịu leo xuống. Mọi người hết lời khích lệ, cổ vũ nhưng vô vọng. Cuối
cùng, cậu bé nói một cách quả quyết:
Tôi sẽ leo xuống vực, với điều
kiện để cho bố tôi nắm dây thừng.
Có lẽ mọi người chúng ta đều
mong ước hái được những bông hoa đầu xuân và trở thành những người may mắn như
vậy. Tuy nhiên, cũng giống như bàn tay hái hoa hồng, phải chấp nhận bị gai nhọn
đâm, thì để có được những bông hoa rực rỡ trong cuộc sống, người ta cũng phải trả
một giá đắt. Cậu bé trong câu chuyện chỉ dám leo xuống vực sâu vì có bàn tay
người cha bảo vệ.
Hôm nay, chúng ta bước vào ngưỡng
cửa của năm mới với tâm hồn đầy âu lo khi nhìn vào năm mới với nhiều bất trắc
và thử thách. Nhưng chúng ta cũng vững tâm vì luôn có bàn tay Chúa bảo vệ và dẫn
đưa. Lời Chúa trong bài Tin Mừng theo thánh Matthêu khiến chúng ta an lòng:
“Các con đừng lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo.”
9. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước
Thiên Chúa.
Năm 1923, một nhóm người giàu có
nổi tiếng của nước Mỹ đã gặp gỡ nhau trong một khách sạn miền Viễn Tây. Họ trao
đổi với nhau những kinh nghiệm làm giàu. Nhưng 25 năm sau, những gì đã xảy đến
cho họ?
Charles Schwab, giám đốc công ty
thép lớn nhất ở Mỹ, đã chết vì bị phá sản.
Samuel Insull, giám đốc công ty
sản xuất đồ gia dụng, đã bỏ nước ra đi và chết không một đồng xu dính túi.
Howard Hopson, giám đốc hãng
Gas, đã trở thành điên loạn. Arthur Cutten, nhà xuất nhập cảng lúa mì, cũng chết
ở nước ngoài trong cảnh nghèo túng.
Richard Whitney, giám đốc hối
đoái New York, đã lên cơn điên phải vào bệnh viện.
Albert Fall, nhân vật cao cấp
trong chính phủ, phải vào tù vì tham nhũng.
Bức tranh trên đây khiến chúng
ta phải suy nghĩ và tự hỏi: sự giàu sang thật sự có phải là niềm hạnh phúc
không? Tiền bạc của cải tự nó không phải là điều xấu. Ai trong chúng ta cũng cần
có tiền bạc của cải để sống xứng với phẩm giá của mình.
Tuy nhiên, tiền bạc của cải luôn
là con dao hai lưỡi: nếu được xử dụng như phương tiện, sẽ giúp chúng ta nên
thánh, nếu được coi như thần tượng, sẽ sai khiến và đè bẹp chúng ta.
Hôm nay, ngày đầu năm mới, Chúa
mời gọi chúng ta hướng tầm nhìn lên cao, vượt lên những lo lắng thế tục, những
dục vọng trần gian, để thấy Chúa chính là cùng đích mà chúng ta kiếm tìm: “Trước
hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những
thứ kia, Người sẽ thêm cho.”
10. Chìa khóa hạnh phúc
Có một người sống trên tầng 80 của
một chung cư cao ngất. Ngày kia, về nhà sau giờ làm việc, người đó choáng váng
nhận ra thang máy của chung cư bị hư. Anh ta buộc phải leo bộ lên căn hộ của
mình.
Anh ta leo đến tầng 20 rất nhanh
nhẹn. Thậm chí còn xách hộ đồ cho người khác. Khi đến tầng 40, anh ta bắt đầu mệt
mỏi, trả lại túi đồ cho người bạn và quyết định để lại cả túi xách của mình, dự
định sẽ quay lại lấy vào ngày hôm sau. Khi lên đến tầng 60, anh ta dừng lại nghỉ
chân nhiều hơn, kéo lê từng bước lên thang lầu.
Cuối cùng, người đó cũng lên đến
căn hộ của mình. Nhưng lên đến nơi, anh ta mới phát hiện ra mình để quên chìa
khóa phòng trong túi xách để lại ở tầng 40. Thế là anh ta đành phải ngủ ngoài
hành lang cho đến khi thang máy được sửa xong.
Câu chuyện này cũng là câu chuyện
của chúng ta. Tòa nhà 80 tầng là cuộc đời của mỗi người. Mỗi tầng lầu là một tuổi
mà chúng ta đã trải qua.
Khi bước vào tuổi 20, chúng ta
hăng hái và đầy quảng đại bước đi trên cuộc hành trình đức tin. Đến tuổi 40,
chúng ta bắt đầu tính toán hơn thiệt, chỉ nghĩ đến mình và thu quén cho mình. Đến
tuổi 60, chúng ta bắt đầu mệt mỏi, lê bước trên đường sống đạo. Điều quan trọng
nhất, khi bước lên tầng 80 của đời người, đứng trước cánh cửa cuối cùng, có thể
chúng ta đã đánh mất chiếc chìa khóa mở ra phần rỗi cho đời mình.
Hôm nay, bắt đầu năm mới, chúng
ta bước lên một tầng lầu mới của tòa nhà cuộc đời. Chúng ta hãy đặt bàn tay
mình vào bàn tay Chúa. Chúa sẽ nâng đỡ dìu dắt chúng ta bước lên một cách vững
vàng.
Đừng mang theo hành trang cồng kềnh
của tiền bạc danh vọng chóng qua, nhưng hãy mang theo trái tim đầy tình yêu
chia sẻ.
Đừng đánh mất chiếc chìa khóa của
niềm tin, chiếc chìa khóa mở ra cho chúng ta cánh cửa hạnh phúc đời đời.
11. Được phần thưởng
Anh Ben Johnson quốc tịch Canađa
đã đoạt giải nhất với huy chương vàng trong Thế Vận Hội, được tổ chức tại
Seoul, thủ đô xứ Hàn vào năm 1988, vì anh là người chạy nhanh nhất thế giới
trong cuộc chạy đua nước rút 100m, chỉ mất có hơn 9 giây. Anh đã được Thủ tướng
Canada gọi điện chúc mừng ngay trên sân thi đấu, mọi người dân Canada vui mừng,
hãnh diện trước chiến thắng này!
Nhưng chỉ ba ngày sau đó, ban
Giám khảo trường thi đã phát giác trong người anh Ben Johnson có chất kích
thích, mà anh đã chích vào trước giờ xuất phát, tức là anh lỗi Luật thi! Thế là
ban Tổ chức đã tước huy chương vàng của anh. Ôi từ đỉnh cao danh vọng anh đã
nhào xuống vực thẳm tủi nhục! Các phái đoàn Canađa ở Seoul không ai còn dám mặc
áo có in hình cờ đất nước mình nữa, cả ngọn cờ Canada tức khắc cũng được chính
các cổ động viên hạ xuống! Mọi người, kể cả dân Canada đều bàn tán, phê phán
hành động này và chối bỏ vận động viên Ben Johnson không phải là dân bản xứ,vì
anh có quốc tịch Canada gốc người Mỹ!
Ở đời này có nhiều người dùng thủ
đoạn để chiếm đoạt danh dự, vinh quang cho bản thân mình, nhưng chắc chắn đến
ngày tận thế, sự thật ấy sẽ được phơi bày và, lúc đó mọi người mới thốt lên: “À
ra thế!”
Vậy ngay bây giờ hãy thực hành lời
thánh Phaolô dạy: “Anh em hãy chạy thế nào để chiếm được phần thưởng! Phàm là
tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng
chóng hư, trái lại chúng ta nhắm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi chạy
mà không phải chạy hờ; cũng vậy tôi đấu quyền mà không phải đấm không khí, trái
lại, tôi nhắm con ngươi đồng tử mà thụi vào chính bản thân và bắt nó qụy lụy phục
tùng, kẻo lỡ đã làm thầy dạy cho kẻ khác, mà chính tôi lại bị thải loại!” (1Cr
9,24-27: bản dịch NTT). Có như thế mới là người thi đấu đúng Luật (x 2 Tm 2,5).
12. Vượt lên trên số phần
Một người thanh niên tên là Tony
Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II
(nay là thánh G.P.II) đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè
năm 1987.
Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ
tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo
Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên cụt 2 tay,
đang hát với tiếng đàn Guitar bằng đôi chân của mình. Ðiều gì đã làm cho khung
cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người?
Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng.
Tony đã chào đời không có hai cánh tay. Nhưng Anh đã vận dụng những ngón chân của
mình để học đàn guitar. Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc
khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.
Anh đã biết biến sự tàn tật kém
may mắn của mình thành một khả năng thuần thục.
Ngạc nhiên trước khả năng lạ
lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: “Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những
chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt
diệu như thế?”
Anh đã trả lời như sau: “Tôi đã
cầu nguyện: Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa. Tôi đã tự
hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi.”
- Không ai trong chúng ta chọn lựa
được sinh ra hay không sinh ra.
- Không ai trong chúng ta chọn lựa
làm đàn ông hay đàn bà.
- Không ai trong chúng ta chọn lựa
được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh
tật, giàu sang hay nghèo hèn…
Dưới mắt người đời, mỗi người
chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh. Người ta vẫn nói: có người
sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người
kém may mắn.
Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của
Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả.
13. Ai hạ mình xuống sẽ được
nâng lên
Ông Booker T. Washington được
sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh của một người nô lệ da đen, và khi ông lên
chín tuổi thì gia đình ông được trả lại sự tự do. Từ đó, ông đã cố gắng hết
mình để đi học và được tốt nghiệp đại học. Sau này ông trở thành một người giáo
dục nổi tiếng và là người tư vấn cho tổng thống Mỹ.
Chuyện kể rằng một buổi sáng nọ,
khi ông còn là chủ tịch của trường Đại Học Tuskegee Institute ở tiểu bang
Alabama, ông đang đi dạo thì có một bà Mỹ da trắng hỏi ông có muốn chặt củi để
kiếm thêm ít tiền không. Ông Booker nhận lời và khiêm nhường xắn tay áo làm việc
đã được mướn. Khi củi đã được chặt và sắp ngăn nắp ở cạnh lò sưởi, thì đứa cháu
gái chạy ra và nhận ra người chặt củi là ai. Sáng hôm sau người bà da trắng đó
đã đến gặp ông tại trường và xin lỗi, nhưng ông chỉ trả lời là “Tôi thích được
có cơ hội làm việc lao động.” Hành động đó đã đánh động bà và bà đã kêu gọi những
người thân bảo trợ cho ngôi trường đó và họ đã ủng hộ rất nhiều.
14. Rủi thành may
John Newton là một người chuyên
nghề buôn bán nô lệ. Một đêm nọ, một cơn bão ập đến đe dọa nhận chìm chiếc tàu
chở nô lệ của ông. John kêu lên cùng Chúa: “Xin cứu chúng con, con hứa sẽ bỏ
nghề này và trở thành nô lệ của Ngài mãi mãi.” Sau khi được cứu sống, John đã bỏ
nghề buôn bán nô lệ và trở thành một thừa sai. Để kỷ niệm cuộc hoán cải này,
ông đã viết lời cho một bài hát nổi tiếng: “Ôi! thật là một ân huệ huyền diệu.
Nó mới ngọt ngào làm sao! Chính điều đó đã cứu rỗi một kẻ khốn khổ như ta. Ta
đã từng lạc đường mà nay đã tìm thấy lối. Ta đã từng mù lòa, mà nay đã trông thấy
được.”
Đã có khi nào Chúa Giêsu giúp đỡ
tôi trong cơn giông tố cuộc đời chưa? Cơn giông tố đó dẫn tôi đến gần Chúa hay
cuốn tôi ra xa Ngài? Tại sao?
Các môn đệ đã ngạc nhiên và nói:
“Người này là ai… Ngay cả gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8,27).
15. Biết lo liệu
Một số thổ dân vớt được một thủy
thủ bị đắm tàu, đưa anh về làng, đặt lên ngôi và cư xử với anh như một ông vua.
Sau đó, người thủy thủ biết được số phận của mình. Ông sẽ làm vua trong vòng một
năm, rồi được đưa đến hòn đảo chết và được để lại đó như một vật tế lễ cho thần
thánh. Người thủy thủ nhanh chóng lập ra kế hoạch. Với tư cách là vua, anh ra lệnh
cho thợ mộc đóng một chiếc tàu, truyền cho các nông dân đến trồng cây trên đảo
và các thợ nề xây nhà trên đó.
Câu truyện này có thể được xem
như một dụ ngôn rất hay về cuộc đời người kitô hữu. Cũng như người thủy thủ bị
đắm tàu, chúng ta biết được tương lai của mình và phải khôn ngoan chuẩn bị cho
tương lai đó.
Tôi đã chuẩn bị cách khôn ngoan
và cẩn thận ra sao cho tương lai của tôi?
Cuộc đời là một hành trình hướng
về nhà Cha (Merman Melville).
16. Cầu nguyện để có Chúa ở cùng
Ba nhà giảng thuyết đang thảo luận
về cách tốt nhất phải áp dụng khi cầu nguyện. Người thứ nhất nói: “Tôi đã thử tất
cả, và thấy rằng quỳ cầu nguyện vẫn là cách tốt nhất.” Người thứ hai nói: “Có
thể điều đó đúng, nhưng hầu hết các nhà thần bí Đông Phương đều đề nghị ngồi xếp
bằng trên sàn là cách tốt nhất.” Người thứ ba nói: “Cách tốt nhất khi cầu nguyện
đối với tôi là ngước mắt lên trời.” Một người thợ điện làm việc gần đấy nghe được
câu truyện liền nói: “Tư thế cầu nguyện tốt nhất đối với tôi là treo một chân
trên cột điện thoại trong cơn sấm sét.”
Tôi có kinh nghiệm tư thế cầu
nguyện tốt nhất không? Tôi có bao giờ cầu nguyện lớn tiếng trước hoặc sau khi
suy niệm không? Tôi có bao giờ ngước mắt lên trời hoặc quỳ gối giây lát trước
khi cầu nguyện không?
Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,
Quỳ trước Tôn Nhan Chúa là Đấng
dựng nên ta (Tv 94,6).
17. Chiếc bình nứt
Có một người gánh nước bằng hai
chiếc bình lớn treo hai đầu một cái đòn gánh. Một trong hai bình ấy bị một vết nứt.
Cái bình còn nguyên kia thì tuyệt hảo và luôn luôn đem về nhà một bình đầy nước.
Chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn nửa bình nước sau khi đi hết đoạn đường dài
từ con suối về đến nhà.
Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng
vậy, người gánh nước chỉ mang về nhà có một bình rưỡi nước. Dĩ nhiên, cái bình
nguyên vẹn rất hãnh diện về thành tích của mình, hoàn tất cách tuyệt hảo nhiệm
vụ nó được tạo ra để thi hành.
Tội nghiệp chiếc bình nứt! Nó rất
xấu hổ về khuyết điểm của mình, và khổ sở vì chỉ hoàn tất được có một nửa công
việc nó được giao phó.
Sau 2 năm chịu đựng cái mà nó
cho là một thất bại chua cay, một ngày nọ chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người
gánh nước bên bờ suối: “Con thật lấy làm xấu hổ, vì vết nứt bên hông làm rỉ mất
nước suốt dọc đường đi về nhà bác.”
Người gánh nước trả lời: “Con đã
chẳng để ý thấy chỉ có hoa mọc trên đường đi bên phía của con à? Ta đã biết
khuyết điểm của con, nên ta đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con, và mỗi
ngày trên đường mình đi về con đều đã tưới nước cho chúng nó...
... Hai năm nay ta vẫn luôn hái
được mấy đóa hoa đẹp đó để chưng trên bàn. Nếu mà con không phải là con y như
thế này, thì trong nhà đâu có được trang hoàng đẹp đẽ như vậy."
MỒNG HAI TẾT - THỜ CHA KÍNH MẸ
Lời Chúa: Lc 1, 67-75
Khi ấy, Dacaria, cha của Gioan,
được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng: "Chúc tụng Thiên Chúa của
Israel, vì Chúa đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người. Chúa đã gầy dựng cho
chúng ta một uy quyền cứu độ trong nhà Ðavít là tôi tớ Chúa, như Người đã phán
qua miệng các thánh nhân từ ngàn xưa, là tiên tri của Chúa; để giải phóng chúng
ta khỏi quân thù, và khỏi tay những người ghen ghét chúng ta; để tỏ lòng từ bi
với tổ tiên chúng ta, và nhớ lại lời thánh ước của Người: lời minh ước mà Người
tuyên thệ, với Abraham tổ phụ chúng ta, rằng: Người cho chúng ta không còn sợ
hãi, sau khi thoát khỏi tay quân thù, được phục vụ trước tôn nhan Người, trong
thánh thiện và công chính trọn đời chúng ta.”
Hoặc:
Lời Chúa: Mt 15, 1-6
Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu
và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng: “Sao môn đệ ông
vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa? “
Người trả lời: “Còn các ông, tại
sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên
Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha
mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng:
những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy
không phải thờ cha kính mẹ nữa.”
Như thế, các ông dựa vào truyền
thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Đạo hiếu là đạo làm người
Qua tổ tiên, Thiên Chúa tạo dựng
nên con người chúng ta. Qua ông bà cha mẹ, Thiên Chúa cho chúng ta nên người
thành toàn. Tri ân tổ tiên là tri ân chính Thiên Chúa, Nguồn Cội của mọi nguồn
cội.
Sách Nhị Thập Tứ Hiếu kể lại 24
gương hiếu thảo đối với mẹ cha. Lão Lai tuy đã già vẫn nhảy múa như con nít để
giúp vui cho cha mẹ. Lục Tích là đứa bé ăn cắp quýt ở bữa tiệc để đem về, vì biết
mẹ thích. Ngô Mãnh, tám tuổi, cởi trần cho muỗi đốt mình để khỏi đốt cha mẹ. Diễm
Tử có cha mẹ già, thèm sữa hươu, nên ông khoác bộ da hươu, giả làm hươu con vào
rừng, để đến gần hươu mẹ vắt sữa nên suýt nữa bị các thợ săn nhắm bắn.
Nếu không hiếu thảo đến mức cao
như các gương trên đây thì ít là hôm nay ta biết ngước lên trời cầu nguyện cho
cha mẹ:
“Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời, Cầu
cho cha mẹ sống đời với con”
2. Hãy bày tỏ lòng hiếu ngay hôm
nay
Một góa phụ vất vả làm lụng
trong nhà máy để nuôi bốn đứa con, giờ nằm hấp hối trên giường.
Đứng xung quanh bà bây giờ là
con cái lớn khôn. Anh trai cả khóc và nói với bà: “Mẹ ạ, mẹ thật tốt và hết
lòng yêu thương chúng con. Chúng con muốn cám ơn mẹ. Chúng con thật hãnh diện về
mẹ.”
Bà nhướng đôi mắt và hỏi: “Tại sao
các con đợi cho đến bây giờ mới nói điều đó? Trước đây các con chẳng bao giờ
nói như vậy.”
Rồi bà nhắm mắt từ biệt.
3. Đôi đũa thứ năm
Bác Năm Hớn có một vợ và hai
con. Chẳng may vợ mất sớm. Một hôm bác mời cha Piô Ngô Phúc Hậu đến dùng cơm với
bác. Trong mâm chỉ có bốn người mà sao lại thắp những 5 đôi đũa bát.
Cha Hậu ngạc nhiên hỏi: “Bát đũa
này dành cho ai?”
Bác trả lời: “Dành cho vợ bác.”
Tuy vợ bác đã khuất, nhưng bác vẫn mời vợ về cùng dùng cơm.
Giáo hội Việt Nam luôn đồng hành
với dân tộc, không những phải giữ lấy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà
còn nâng cao lên, cho nó một ý nghĩa cao quý. Vì thế, Giáo hội Việt Nam muốn
dùng ngày mùng hai Tết để chúng ta kính nhớ ông bà tổ tiên, vì
Người ta có tố có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn
(Ca dao)
Không có ông bà tổ tiên thì không có ta, tất cả những cái ta có
là do ông bà cha mẹ để lại. Không ai được quên công ơn lớn lao đó.
4. Con kiện mẹ.
Tại bang New Jersey bên Hoa kỳ,
một bà mẹ 78 tuổi bị đứa con trai kiện vì bà không trả tiền công cho chàng đã sửa
chiếc xe vận tải của bà.
Bà đã đệ đơn tố ngược lại con
mình, với đề nghị là chàng phải bị đánh đòn vì lúc chàng còn nhỏ, bà đã không
áp dụng câu: “Thương con cho roi cho vọt.”
Trả lời đơn người con trai kiện
mình, bà đã viết: “Nguyên cáo mắc nợ bị cáo 40 năm phục dịch của một người mẹ,
một người giữ em, một người giúp việc nhà, một nhà tâm lý để cố vấn khuyên bảo…
Tất cả những dịch vụ trên nguyên cáo đã không trả tiền công cho bị cáo.”
Bà mẹ viết tiếp: “Như một người
mẹ, nếu luật pháp cho phép, tôi sẽ công khai đánh con tôi, những roi vọt cần
thiết cho nó mà tôi đã không dành cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho
phép mẹ đánh con, thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa
trị con tôi.”
5. Quà tặng của cha
Có một chằng trai sắp thi tốt
nghiệp đại học. Trước đó anh đã nói với cha về ước nguyện có chiếc xe thể thao
xinh đẹp và mong rằng nó sẽ là quà tặng của cha nhân ngày tốt nghệp.
Người cha nghe xong im lặng,
không có ý kiến gì.
Sau ngày chàng trai tốt nghiệp,
người cha đã gọi anh vào phòng, nói rằng ông rất yêu thương và hãnh diện có được
đứa con như anh. Sau đó ông trao cho anh một hộp quà được gói cẩn thận. Ngạc
nhiên, chàng trai mở hộp quà và nhìn thấy đó là một quyển sách thể loại “rèn
nhân cách” được đóng gáy và bọc bìa da rất đẹp. Chàng trai nhíu mày, “với tất cả
tài sản mà cha mình đã có… và món quà tặng cho con tốt nghiệp đại học chỉ là một
quyển sách tầm thường này hay sao?”
Chán nản và buồn phiền với ý
nghĩ đó, chàng trai không nói lời nào với cha mình, rời khỏi phòng, để lại quyển
sách trên bàn. Sau đó anh bỏ nhà ra đi…
Trong một thời gian dài, chàng
trai không liên hệ với cha mình. Cho đến một ngày anh nhận được tin cha mình đã
qua đời và để lại toàn bộ tài sản cho anh ta.
Khi anh về đến căn nhà cũ xưa, sự
buồn phiền và hối hận tràn ngập trong lòng chàng trai khi anh nhớ đến sự cư xử
lạnh nhạt mà anh đã có với cha trước đây. Anh tìm đọc những giấy tờ quan trọng
của cha mình và nhìn thấy cuốn sách “rèn nhân cách” vẫn còn nguyên vẹn trên bàn
như ngày anh từ bỏ nó. Chàng trai mở cuốn sách ra, lật từng trang và thấy một
bao thư được ép chặt trong đó. Anh đã nhẹ nhàng mở bao thư ra, và bỗng dưng nước
mắt anh tuôn trào khi nhận ra đó chính là một chìa khóa xe hơi và tờ hóa đơn của
chính chiếc xe mà anh ta yêu thích ngày trước. Tờ hóa đơn ghi đúng ngày anh ta
tốt nghiệp với dòng chữ đã thanh toán đầy đủ…
Trong cuộc sống của chúng ta
không ai mà không mắc những sai lầm. Có những sai lầm thì sau đó được sửa chữa
và trở nên bình thường. Nhưng có những sai lầm sau khi khắc phục rồi nó vẫn còn
để lại “một vết sẹo” mà khó có thể phai mờ được.
Có thể nói, “vết sẹo” mà chúng
ta đã gây ra đối với đấng sinh thành là đáng trách nhất. Vết sẹo đó sẽ mãi mãi ở
bên chúng ta khiến chúng ta luôn bị nhức nhối lương tâm mỗi khi nhớ đến nó. Như
trong câu chuyện trên, chàng trai sau khi thức tỉnh đã vô cùng ân hận, nhưng
người cha đã không còn nữa để anh ta làm một cái gì đó, dù chỉ là một lời xin lỗi...
Qua những ý tưởng trình bầy trên
đây chúng ta thấy, về mặt tự nhiên, việc hiếu thảo là bổn phận tự nhiên và là dấu
chỉ của một người trưởng thành. Đồng thời, khi sống hiếu thảo cũng là lúc chúng
ta chu toàn giới luật Thiên Chúa và nhờ đó được Ngài chúc phúc.
6. Nắng chiều.
Đây là vở kịch được trình diễn tại
nhà hát thành phố Hồ chí Minh trong liên hoan sân khấu quần chúng năm 1994.
Nội dung: đứa con trai đạt được
danh vọng cao trong xã hội, về đưa mẹ từ nhà quê lên ở chung cho có mẹ và con.
Nhưng tính tình người già không phù hợp với vợ chồng trẻ, anh đã đưa mẹ vào viện
dưỡng lão và luôn chu cấp đầy đủ.
Người mẹ luôn chỉ nhận được những
gói quà và món tiền chu cấp, chứ không gặp được mặt con...
Vậy mà anh vẫn vô tình, vẫn thản
nhiên mỉm cười nhìn cuộc đời trôi đi một cách an bình. Anh không hề biết, đi
bên sự thờ ơ của anh, là nỗi cồn cào, xót đau, chờ đợi của mẹ.
Nỗi đau khổ làm trĩu nặng thêm
trái tim héo úa của mẹ. Sức lực không còn nên mẹ không đợi được anh... chút NẮNG
CHIỀU ít ỏi còn lại đã tắt. (Tuổi trẻ Chủ nhật, số 4 / 94 (535), tr 18)
Ai xem vở kịch này chắc cũng cảm
động đến rỏ nước mắt và thấy rõ sự thờ ơ và vô tình của con cái trước sự cô đơn
của cha mẹ. Thực sự cha mẹ không chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu vật chất mà còn
cần tình nghĩa, cần sự săn sóc của con cái. Chỉ có tình mẫu tử mới làm cho cha
mẹ được ấm lòng. Khi về già, cha mẹ sợ nhất là cảnh cô đơn.
7. Công việc của người mẹ.
Người ta nghiên cứu một gia đình
có hai con, trung bình một năm phải rửa:
18.000 dao, nĩa và thìa ăn.
13.000 đĩa
6.000 tách
3.000 nồi.
Nếu một phụ nữ đặt thức ăn lên
bàn, ăn xong lại dọn đi rửa, rồi lại đặt vào chạn, thì trong một năm người đó
phải mang tổng cộng 5 tấn, và mỗi năm phải đi lại trên quãng đường 2000 km để
mua hàng.
8. Con không hơn cha.
Một mục sư nói với đứa con 15 tuổi
của ông:
- Từ 15-20 tuổi: cha cho con có
quyền tin tưởng là con hơn cha.
- Từ 20-25 tuổi: con thông minh
bằng cha.
- Nhưng từ 25-30 tuổi: thì cha bắt
buộc con phải nhìn nhận là cha thông minh hơn con một một cách tuyệt đối.
Người ta cũng nói: người 70 phải
học với người 71.
Giáo dục cần thiết và qúi giá biết
bao!
Algarotti nói: “Một nền giáo dục
tốt là gia tài giầu sang người cha có thể trối lại cho con mình.”
9. Tờ hóa đơn.
Có một bà mẹ nọ, vì muốn khuyến
khích đứa con nhỏ của mình chăm lo việc nhà, nhất là những công việc nhỏ nhặt,
nên hầu như lúc nào bà cũng thưởng cho nó một món tiền nhiều ít tùy theo công
việc nặng nhẹ.
Lần kia, suốt cả một tuần, bà mẹ
đau liệt giường. Thế là em nhỏ phải giúp mẹ trong nhiều công việc, nhưng không
thấy mẹ tính thù lao. Cuối tuần, em nhỏ viết một cái hóa đơn ghi những công tác
chưa được nhận tiền thưởng gồm: xách nước 2 đồng, nấu cơm 3 đồng, giặt quần áo
5 đồng… Tất cả các thứ tính chung trong một tuần lễ là 80 đồng. Xong, em rón
rén bước vào phòng, dúi tờ hóa đơn vào tay bà mẹ.
Ba phút sau, bà mẹ đưa cho em bé
80 đồng kèm theo một tờ hóa đơn khác, trong đó ghi: công sinh, công nuôi dưỡng,
công dạy dỗ, công học hành, công thầy thuốc mỗi khi đau bệnh… x 10 năm: chưa có
mục nào được thanh toán cả.!
Cầm tờ hóa đơn trong tay, em nhỏ
chợt hiểu, vội chạy vào xin lỗi mẹ.
10. Ý kiến của tù trưởng.
Trong quyển tiểu thuyết nhan đề
“Cội rễ”, tác giả E. Heili viết như sau:
Ở một bô lạc bên Phi châu, người
thanh niên khi đến tuổi trưởng thành sẽ được gọi là “chiến sĩ.” Tuy nhiên, muốn
được mang danh hiệu này, anh phải trải qua một cuộc sát hạch, thường là thả vào
rừng sâu một thời gian.
Năm ấy, có ba thanh niên đến tuổi
trưởng thành và rất muốn được gọi là “chiến sĩ.” Ba chàng đã đến trình diện vị
tù trưởng. Vị tù trưởng chúc mừng và hỏi người thứ nhất: “Trong một tháng qua,
anh đã làm được những gì”? Người thanh niên thưa: “Tôi đã giết được một con hổ
dữ.”
Tù trưởng khen “tốt” rồi bảo anh
đứng sang một bên và hỏi người thứ hai: “Trong tháng qua, anh đã làm được những
gì? Anh có giết được con hổ dữ nào không”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, hổ
dữ thì tôi không giết được, nhưng tôi cũng đã chém được một con trăn to.”
Tù trưởng khen “tốt”, bảo anh đứng
sang một bên và hỏi người thứ ba: “Một tháng qua, anh đã làm được những gì? Anh
có chém được một con hổ dữ hay một con trăn nào không”? Người thanh niên đáp:
“Thưa ngài, hổ hay trăn thì tôi không chém được.” Tù trưởng hỏi tiếp: “Thế anh
làm được gì”? Anh đáp: “Thưa tôi kiếm được một tảng mật ong to.” Tù trưởng hỏi:
“Ngươi kiếm mật ong để làm gì”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, tôi có mẹ
già, mà nhà tôi lại nghèo, nên tôi kiếm mật ong để cho mẹ tôi bồi dưỡng.”
Nghe xong, vị tù trưởng rút con
dao ra trao cho anh và nói: “Ta phong anh làm chiến sĩ, bởi là người thì phải
biết sống hiếu thảo với cha mẹ.”
11. Còn thương bụi chuối sau hè
Nếu như trong văn học Việt nam
cây tre được ví von như người cha thì hình tượng cây chuối cũng được khắc họa
như người mẹ. Người ta thường ca ngợi cây tre nhưng ít ai nói về cây chuối và
ít ai biết được trong hình ảnh đó là những những ý tưởng phong phú. Hình ảnh ấy
đã đi vào văn thơ mộc mạc, dân dã bao nhiêu thì cũng gần gũi thân thương trong
những bài hát, bài thơ bấy nhiêu.
Người ta vịnh cây chuối như sau:
Không rực rỡ như hồng, lan, cúc,
huệ
Không dịu dàng như Tulip, Lily
Hương chẳng thơm, sắc cũng chẳng
tươi gì
Mà nghiêng ngã khi cây vừa trổ nụ
Chứa đựng trong lòng một dòng nhựa
chát
Để một đời xanh ngát những đứa
con
Hiến dâng xong xác cũng chẳng
còn
Nhường lại chỗ cho đàn con khôn
lớn.
12. Cuộc đời cây chuối
Có một em bé hỏi bố rằng:
- Bố ơi, trong cuộc đời của một
cây chuối nó sinh ra được bao nhiêu buồng?
Bố tôi trả lời:
- Chỉ một buồng duy nhất.
Cậu nhỏ ngạc nhiên về câu trả lời
của bố. Nó cứ đinh ninh trong cuộc đời của mình một cây chuối ít nhất cũng cho
vài buồng quả.
Bố nói thêm:
- Khi buồng chuối chín cũng là
lúc cây chuối mẹ chết đi.
Thực vậy, nếu có dịp quan sát một
cây chuối mang một buồng quả chín ta sẽ thấy: Lá của cây chuối mẹ héo rũ và xác
xơ, và thân của nó oằn xuống như sắp gẫy vì nó phải mang trên mình một buồng
chuối nặng trĩu quả. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, khi buồng cuối chín hoàn
toàn, cây chuối mẹ sẽ gục hẳn xuống.
Trong quá trình nuôi buồng chuối,
cây chuối mẹ đã hy sinh những phần tinh túy nhật của mình – chất dinh dưỡng
trong gốc, thân và lá – để dồn cho những quả chuối được chín, để dâng cho đời
những trái chuối ngon ngọt.
Hóa ra lâu nay hằng ngày tôi vẫn
ăn chuối và thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một bụi chuối mà không hề hay biết cây
chuối tượng trưng cho một hình ảnh đẹp về sự hy sinh cao cả đến thế.
Cây tốt lại sinh trái tốt. Cây
chuối từ đời này đến đời kia cứ tiếp tục dâng hiến, hy sinh để cho một mầm sống
mới phát triển. Phẩm chất của cây chuối không chỉ là thơm ngon, là chất bổ dinh
dưỡng mà còn là một bài học quí báu của tình yêu hy sinh đến quên cả tính mạng
mình. Đó là mẫu gương của sự hy sinh, của tình yêu bất diệt.
13. Sóng trước đổ đâu, sóng sau
đổ đó
Dân gian có một câu truyện đã được
truyền lại từ đời này qua đời kia như thế này. Có một đôi vợ chồng kia làm ăn
khá giả nhưng lại cư xử rất keo kiệt với những người trong gia đình. Trong nhà
có một ông bố già. Vì già - đã trên 80 tuổi - cho nên mắt đã mờ, sức đã yếu tay
chân không còn được khoẻ mạnh như hồi còn trẻ. Chính vì vậy mà mỗi khi ăn uống
ông thường đánh rơi ly chén xuống đất làm bể rất nhiều ly chén. Người con dâu
thấy như vậy nên cứ cằn nhằn hoài với chồng. Người cha tuy mắt đã mờ nhưng tai
còn rất thính. Ông rất buồn nhưng không thế làm cách nào khác hơn. Ngồi ăn mà
không cầm được nước mắt. Rồi một hôm khi chị ta xúi chồng đẽo cho cha một cái
chén bằng gỗ để tiện cho việc ăn uống.
Câu truyện tưởng như thế là suôn
sẻ nhưng thật không ngờ là một ngày kia khi hai vợ chồng có việc phải đi xa trở
về. Khi vào trong nhà thì nghe thấy có tiếng gì như những tiếng đục đẽo vọng ra
từ ở một góc nhà. Hai vợ chồng lại gần thì thấy đứa con trai cưng của mình đang
cầm một cái chén bằng gỗ đã được đẽo gần xong. Bà mẹ tò mò hỏi thì đứa con ngây
thơ trả lời:
- Con làm cái chén này để mai
sau ba má có chén mà dùng giống như chén ba má đẽo cho ông nội đang dùng vậy đó.
Kính thưa anh chị em. Không biết
anh chị em có còn nhớ không chứ riêng tôi, tôi rất nhớ câu ngạn ngữ đã có từ
bao thế hệ như thế này: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó - Vâng sóng trước đổ
đâu thì sóng sau sẽ đổ ở đó” anh chị em.
Đó là điều thứ nhất.
14. Hàn Bá Du
Đời nhà Hán bên Trung hoa có một
người nổi tiếng là có lòng hiếu thảo với cha với mẹ. Đó là Bá Du. Hồi còn nhỏ mỗi
khi làm điều gì sai quấy mà bị mẹ đánh thì Bá Du luôn tươi cười vui vẻ nhận lỗi,
không bao giờ dám cãi. Nhưng một ngày nọ sau khi bị mẹ sửa phạt bằng roi thì Bá
Du oà lên khóc. Thấy thế bà mẹ thắc mắc hỏi:
- Bao nhiêu lần mẹ đánh con để dạy
con mà con không khóc thế thì tại sao lần này con lại khóc?
Bá Du lễ phép trả lời:
- Thưa mẹ, những lần trước mẹ
đánh con đau lắm thế nhưng con không khóc vì con thấy sức của mẹ còn mạnh. Lần
này mẹ đánh con, tuy không đau bằng những lần trước nhưng con lại khóc vì con
thấy sức mẹ không còn khoẻ như xưa…mẹ đã già yếu. Con khóc vì thương mẹ chứ
không phải vì giận hờn.
15. Tu nhà
Dương Phủ sinh ra trong một gia
đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.
Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục
có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền
triết.
Đi được nửa đường, ông gặp một Vị
lão tăng. Vị lão tăng khuyên Dương Phủ: “Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được
Phật.”
Dương Phủ hỏi vặn lại: “Phật ở
đâu?” Vị lão tăng giải thích: “Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái
áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy.”
Dương Phủ nghe lời quay về. Đi dọc
đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi
mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt
nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Đức Phật mà vị lão tăng đã mô tả. Từ đấy,
Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.
Thứ nhất thì tu tại gia
Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.
16. Sự tích cây vú sữa
Ngày xưa, ở vùng Lái Thiêu (thuộc
tỉnh Sông Bé) có hai mẹ con sống đơn chiếc bên nhau. Thương con trai mồ côi bố,
người mẹ hết sức cưng chiều con. Vì quá nuông chiều, cậu bé trở nên nghịch phá
và ham chơi.
Một ngày kia, vì phá phách, bị mẹ
quở mắng, cậu bé bỏ nhà ra đi. Cậu đi lang thang hết ngày này sang ngày khác,
ai cho cái gì thì ăn cái ấy.
Một hôm, cậu quyết tâm trở về với
mẹ. Sau bao ngày lặn lội, cậu cũng về tới nhà. Cảnh vật còn nguyên, nhưng mẹ cậu
thì không còn nữa. Cậu bé đâu có biết rằng mẹ cậu vì mong mãi con không về đã
sinh bệnh rồi chết, hóa thành một cây xanh.
Cậu bé gọi hoài, gọi mãi không
thấy mẹ. Cậu chỉ biết ôm lấy cây xanh mà khóc. Bỗng cây xanh run rẩy và rơi xuống
một trái to, da căng mịn và xanh óng ánh.
Vừa đói, vừa mệt, cậu bé đưa quả
lên rồi cắn một miếng, dòng sữa trắng trong quả trào ra, như dòng sữa mẹ thật
thơm ngon.
Vỏ cây xù xì như bàn tay lam lũ
của mẹ, lá cây một mặt xanh bóng, một mặt đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Mẹ
không còn nữa, nhưng mẹ vẫn đứng đó để nuôi con bằng dòng sữa mẹ ngọt ngào.
Từ đó, người ta gọi cây xanh ấy
là cây vú sữa, để tưởng nhớ đến tình mẹ thiêng liêng và cao cả.
17. Sự tích trái dưa hấu
Vào đời Hùng Vương, ở một vùng
quê cách xa kinh đô Phong Châu, có một cậu bé mồ côi thường theo người lớn đi
săn thú và đánh cá. Năm tám tuổi, cậu được lên kinh đô gặp vua Hùng. Thấy cậu
thông minh, nhà vua nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai An Tiêm.
Vua Hùng cưới vợ cho An Tiêm và
cho cả hai vợ chồng đi phá rừng, làm rẫy trồng trọt. Chỉ ít lâu sau, An Tiêm đã
dựng được nhà cửa và gặt được nhiều thóc lúa chứa đầy kho. Thấy thế, bọn người
ghen tị tâu nịnh với vua vì cho rằng An Tiêm coi thường ơn vua. Vua Hùng giận lắm,
không cần tìm hiểu thực hư ra sao, và đày hai vợ chồng ra hoang đảo.
Cây ngay không sợ chết đứng, vì
“người công chính được Chúa độ trì” (Tv 37:17). Ở hoang đảo, có con chim trắng
bay tới làm rơi hạt đen xuống bãi cát trắng. An Tiêm đem trồng thử hạt này.
Chúng mọc thành những dây bò lan trên mặt cát. Cây có nhiều trái màu xanh thẫm
to bằng đầu người. An Tiêm hái một trái đem về cho cả nhà ăn thấy ruột đỏ mà ngọt,
lại có nhiều nước. Loại trái “xanh vỏ, đỏ lòng” đó chính là trái dưa hấu.
Bài học về chữ hiếu: Dù bị Phụ
vương đày ra hoang đảo, nhưng An Tiêm vẫn giữ trọn đạo hiếu với cha, không hề
trách hờn ai. Về sau, vua Hùng hối hận và phục chức cho An Tiêm.
Và chắc hẳn nhiều người (tuổi
trung niên trở lên) còn nhớ sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”, tác phẩm văn học của tác
giả Quách Cư Nghiệp, kể lại gương hiếu thảo của 24 người con đời nhà Nguyên
(Trung Hoa). Chính tác giả cũng là người con chí hiếu.
18. Xin gì dịp đầu năm ?
Trong những ngày đầu năm, chắc hẳn
mỗi người chúng ta đều có chung một ước muốn, đó là xin Chúa ban ơn cho mình
trong năm mới. Phần Chúa thì chắc hẳn cũng sẵn sàng ban ơn cho chúng ta. Vậy
hôm nay chúng ta nên xin gì ?
Một người kia cứ xin Chúa ban ơn
hoài. Chúa nghe mãi đến nỗi phải mệt. Vậy để giải quyết anh này, Chúa nói:
"Bây giờ Ta quyết định ban cho con bất kỳ 3 điều nào mà con xin. Sau đó
thì thôi Ta không ban ơn gì nữa cả.” Anh rất vui sướng và xin ngay: "Xin
cho vợ con chết đề con cưới một người vợ khác tốt hơn.” Chúa nhậm lời, vợ anh
chết. Nhưng khi bà con và bạn bè đến lo chôn cất vợ anh, họ nhắc lại những phẩm
chất tốt của chị, khi đó anh mới tiếc và biết rằng mình đã quá hấp tấp khi xài
lời xin thứ nhất. Anh đành phải xài thêm lời xin thứ hai: Xin cho vợ con sống lại.
Chúa cũng nhậm lời. Thế là anh chỉ còn có một lời xin thôi. Đây là cơ hội cuối
cùng nên anh suy nghĩ rất kỹ phải xin gì ?
Một người bạn góp ý hãy xin cho
được bất tử. Nhưng người khác nói bất tử có ích lợi gì nếu không có sức khoẻ tốt.
Vậy hãy xin sức khoẻ.
Nhưng một người khác nói sức khoẻ
thì làm gì được nếu không có tiền. Vậy hãy xin tiền.
Người thứ ba phản đối: tiền bạc
có nhiều cũng vô ích nếu không có bạn. Hãy xin có thật nhiều bạn. Ý kiến này
cũng có người khác phản đối nữa.
Tóm lại, muốn xin cái gì thì thoạt
đầu thấy cái đó là tốt nhưng suy nghĩ lại thì thấy nó cũng chưa phải là tốt nhất.
Anh chàng bối rối quá, chạy tới nói với Chúa "Xin Chúa dạy con biết phải
làm gì bây giờ ?” Chỉ vì bối rối quá nên anh mới nói với Chúa vậy thôi chứ anh
nào ngờ đây là lời xin thứ ba và cũng là lời xin cuối cùng. Từ nay anh không
còn được quyền xin gì nữa cả. Anh tiếc quá sức, gãi đầu gãi cổ và tự trách
mình. Nhưng khi đó xảy ra một điều bất ngờ, bất ngờ hơn cả sự bất ngờ của anh
khi thốt lên lời xin thứ ba. Sự bất ngờ này là Chúa mỉm cười hài lòng. Chúa
nói: Con thật là khôn ngoan khi xin như vậy. Từ nay Ta sẽ chỉ cho con biết phải
làm gì. Con chỉ việc nghe theo lời Ta chỉ dạy, và đời con sẽ được hạnh phúc, hạnh
phúc muôn đời, hạnh phúc mãi mãi.
Câu chuyện trên đủ trả lời cho
câu hỏi chúng ta đặt ra hồi nảy: Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta nên xin gì với
Chúa.
Xin cho được nhiều tiền chăng ?
Nhưng phải chăng có nhiều tiền là hạnh phúc ? Chúng ta đã thấy nhiều gia đình rất
giàu nhưng vợ chồng con cái đối xử với nhau rất tệ.
Xin cho được sống lâu chăng ?
Nhưng phải chăng sống lâu là hạnh phúc ? Có nhiều người sống lâu quá đến nỗi
con cháu phát chán.
Chúng ta đang rơi vào tình trạng
bối rối của anh chàng kia rồi. Vậy hãy hỏi Chúa xem ta nên xin gì.
Trong Tin Mừng, Chúa bảo:
"Tiên vàn hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính. Rồi mọi thứ
khác Cha trên trời sẽ lo cho chúng con.” Trong ngữ vựng của Tin Mừng, "tìm
sự công chính" có nghĩa là tìm thánh ý Chúa. Như thế, câu trả lời này giống
y câu Chúa đã trả lời cho anh chàng kia: xin cho mình được biết ý Chúa và làm
theo ý Chúa, đó là lời xin khôn ngoan nhất, tốt đẹp nhất, quý giá nhất, vì xin
điều này là sẽ được tất cả mọi điều khác.
MỒNG BA TẾT – HƯỞNG NIỀM VUI CỦA CHỦ
Lời Chúa: Mt 25, 14-30
Bấy giờ, Đức Giêsu kể cho các
môn đệ nghe dụ ngôn này: “Người kia sắp đi xa, gọi tôi tớ đến mà giao phó của cải
mình cho họ. Ông đưa cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một
nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi.
Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy
số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã
lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ
chôn giấu số bạc của chủ.
Sau một thời gian lâu dài, ông
chủ của các đầy tớ ấy đến và yêu cầu họ thanh toán sổ sách. Người đã lãnh năm
nén tiến lại gần, đưa năm nén khác, và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi
năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá
lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung
thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”
Người đã lãnh hai nén cũng tiến
lại gần và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi đã gây lời được
hai nén khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt
lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều
cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”
Rồi người đã lãnh một nén cũng
tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ
không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của
ông dưới đất. Của ông vẫn còn nguyên đây này!” Ông chủ đáp: “Anh thật là tôi tớ
xấu xa và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi,
thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi cho các chủ ngân hàng, để khi tôi đến,
tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy nén bạc khỏi tay nó mà
đưa cho người đã có mười nén. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư
thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ
vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, người ta sẽ phải khóc
lóc nghiến răng.”
hoăc: Lời Chúa: Ga 5,16-20
Khi ấy, các người Do thái gây sự
với Chúa Giêsu, vì Người đã chữa bệnh trong ngày sabbat. Chúa Giêsu trả lời họ
rằng: "Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy.”
Bởi thế, các người Do thái càng
tìm cách giết Người, vì không những Người đã phạm luật nghỉ ngày sabbat, lại
còn gọi Thiên Chúa là Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế,
Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Thật, Ta bảo thật cho các ngươi biết: Chúa
Con không thể tự mình làm gì, nếu không thấy Chúa Cha làm.
Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa
Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu thương Chúa Con, và bày tỏ cho
Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa,
đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục.”
TRUYỆN KỂ
1. Gương lao động của loài kiến
Những ngày ở bậc tiểu học, thập
niên 50, mỗi học sinh đều phải thuộc lòng câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về
“Con ve và con kiến.” Chuyện kể là con ve chỉ thích ca hát suốt các ngày hè
tươi đẹp, còn đàn kiến thì cần cù lo chuyên chở dự trữ lương thực và xây tổ đề
phòng cho những ngày đông giá lạnh. Con ve thực sự tỉnh ngộ và cay đắng khi phải
đến tổ kiến để xin ăn và chỗ ở…
Chuyện này là một mô hình luân
lý của tính khôn ngoan, ham làm việc và biết lo xa của đàn kiến so với những
thói hư tật xấu của loài ve ham chơi.
Hoặc nếu có dịp đọc thơ ngụ ngôn
của Esope, một thi sĩ cổ Hy Lạp, chúng ta cũng thấy có một bài thơ ngụ ngôn
tương tự:
Vào một ngày mùa đông đẹp trời,
vài con kiến đang bận việc sấy khô ngô đã bị uót sau một trận mưa dài. Lúc đó,
một con ve từ đâu bay tới xin kiến cho ít hạt ngô vì nó nói:
- Tôi sắp chết đói mất.
Lũ kiên ngưng làm việc một lúc mặc
dù trái với qui định của chúng. Chúng nói:
- Chúng tôi có thể hỏi: anh đã
làm gì suốt cả mùa hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa
đông?
Ve trả lời:
- Tôi quá bận rộn với việc ca
hát nên không có thời giờ nữa.
Lũ kiến trả lời:
- Nếu anh dùng mùa hè để hát thì
không gì tốt hơn là hãy dùng mùa đông để nhảy múa.
Nói xong, chúng mỉm cười và lại
tiếp tục công việc của mình.
2. Ba người thợ xây thánh đường
Một nhà văn Pháp có kể chuyện ba
anh đẽo đá, đại khái như sau:
Hôm nọ, có người khách đến viếng
ngôi thánh đường vừa khởi công. Ba người thợ đang làm đá. Người khách hỏi một
người:
- Anh làm gì đó?
Người thứ nhất trả lời với giọng
uể oải:
- Tôi đang dũa đá, thật khốn cho
cái đôi tay chai đít phỗng của tôi.
Người thứ hai lễ độ hơn, trả lời:
- Tôi đang kiếm tiền nuôi vợ con
tôi.
Còn người thứ ba hiên ngang trả
lời:
- Còn tôi, tôi đang xây ngôi
thánh đường…
Và người ấy rang rang cất tiếng
hát.
Công đồng Vatican 2 cũng xác quyết:
làm việc là góp phần vào việc sáng tạo và hoàn thành ý định của Thiên Chúa
trong lịch sử:
“Thực vậy, trong khi mưu sinh
cho mình và cho gia đình, tất cả những người nam cũng như nữ hoạt động để phục
vụ xã hội một cách hữu hiệu đều có lý do để tin rằng nhờ lao công của mình họ
tiếp nối công trình của Tạo hóa, phụng sự anh em, đóng góp công lao mình vào việc
hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử” (Gaudium et spes).
Chúng ta hãy phó thác mọi công
việc cho Chúa trong năm mới này. Hãy nỗ lực làm việc không ngừng. Nhưng muốn
cho mọi công việc lao động của ta có ý nghĩa hơn, ta hãy làm với tinh thần vui
tươi, với ý thức rằng ta làm việc để cho Chúa hài lòng, để danh Chúa được cả
sáng và Nước Chúa trị đến nơi ta đang làm việc.
3. Con trâu
Có một câu chuyện huyền thoại về
con trâu như sau: Thuở xưa, Ngọc Hoàng sai một vị thần xuống trần gian mang
theo một bao hạt giống và một bao cỏ để gieo xuống rần gian. Trước khi xuống trần,
Ngọc Hoàng đã tỉ mỉ căn dặn, đến trần gian phải gieo rắc bao hạt giống lúa trước
để dân cư có dư giả mà ăn, còn bao cỏ thì gieo sau để nuôi thú vật. Nhưng khi vị
thần này đến trần gian, thấy phong cảnh khác lạ, nên mải mê xem mà quên lời dặn
của Ngọc Hoàng, để rồi gieo bao cỏ trước và bao hạt giống lúa sau. Từ đó, cỏ
không cần trồng cũng mọc tràn lan khắp mọi nơi, các thú vật ăn không bao giờ hết
vì quá dư thừa và không làm sao diệt cỏ hết được. Còn lúa thì phải gieo trồng rất
cực khổ và khó khăn mới có ăn, bởi vì bị cỏ mọc lấn áp làm lúa phát triển chậm
hơn cỏ.
Bởi lỗi ấy của vị thần, làm cho
ngươi trần gian trồng lúa rất khó nhọc mới có ăn và cỏ thì mọc tự nhiên quá nhiều,
cho nên Ngọc Hoàng mới đẩy vị thần này xuống trần gian hóa thành con trâu để
giúp người trần gian cầy bừa trồng lúa và ăn cỏ, chừng nào hết cỏ sẽ được tha
thứ cùng phục hồi địa vị cũ, nhưng ăn hoài vẫn không bao giờ hết cỏ được, nên
Trâu chưa thoát kiếp trở về thiên đường…
“Có làm thì mới có ăn, không
dưng ai dễ đem phần đến cho.” Vì ở trần gian, cỏ thì nhiều, lúa lại ít. Cây ăn
được thì ít, cây không ăn được thì nhiều. Xem ra con người vất vả hơn con vật.
Vì người phải làm việc vất vả mới có mà ăn, còn con vật thì không cần làm mà Trời
vẫn cho ăn: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” (Tục ngữ).
4. Nhờ ơn Chúa
Một vị linh mục nọ qua đời, và
được đưa đến trước mặt thánh Phêrô để làm một thẩm tra. Thánh Phêrô hỏi:
- Ở dưới thế cha làm được điều
gì?
Vị linh mục nhanh nhẹn và tự hào
trả lời:
- Thưa thánh Phêrô, con xây được
một ngôi thánh đường lớn.
Thanh nhân lấy bút ghi trên giấy:
Một điểm.
- Cha còn làm được gì nữa?
- Dạ, con còn xây một trường học
cho một ngàn học sinh.
Thánh Phêrô ghi tiếp: một điểm.
- Và gì nữa?
Vị linh mục bắt đầu suy nghĩ, rồi
trả lời:
-Dạ, con công tác nhiều vào các
công việc xã hội, từ thiện.
Thánh Phêrô ghi thêm: một điểm.
- Còn gì nữa? Thánh Phêrô hỏi tiếp.
Lần này vị linh mục lo lắng hỏi
thánh Phêrô:
- Dạ thưa thánh cả Phêrô, được
bao nhiêu điểm thì vào thiên đàng?
Thánh Phêrô vui vẻ trả lời: một
ngàn điểm.
Nghe nói thế, vị linh mục bỗng
chột dạ, nghĩ thầm: “Chết mình rồi, làm sao có được chừng ấy điểm đây?” Nếu có
moi óc kể tất cả các sự việc mình làm ở dưới thế e cũng không đủ…”
Và vị linh mục bắt đầu lo sợ, rồi
thất vọng, không còn tự tin.
Trong lúc đó, thánh Phêrô nhắc lại:
- Cha còn làm được điều gì nữa,
cứ kể hết đi!
Với giọng nói nhuốm màu sắc
khiêm tốn và lo sợ, vị linh mục nói:
-Thưa thánh cả, Nhờ Ơn Chúa con
cũng làm được đôi ba việc nhỏ.
Nghe vậy, thánh Phêrô lấy bút
ghi ngay: một ngàn điểm.
Ngài nói:
-Thế là cha được một ngàn lẻ ba
điểm rồi đấy. Cha đã dư được ba điểm. Mời cha vào!
5. Sẵn sàng bắt tay vào việc
Một ông chủ kia giao cho bảy người
thợ cưa, mỗi người phải cưa một khúc cây.
Người thứ nhất nói: khúc cây của
tôi còn tươi quá, nguyện lưỡi cưa sẽ mắc trong đó. Tôi chờ cho đến khi khúc cây
đó khô rồi tôi mới cưa, thế là anh ta nghỉ.
Người thứ hai: lưỡi cưa của tôi
cùn quá, tôi chờ ông chủ đổi cho tôi lưỡi cưa khác bén hơn rồi tôi mới cưa. Và
anh ta cũng nghỉ.
Người thứ ba: khúc cây này cong
bên này cong bên kia. Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi khúc cây khác thẳng hơn. anh
cũng đi nghĩ.
Người thứ bốn: khúc cây của tôi
quá cứng, cứng gấp hai lần khúc cây thường. Tôi chờ có khúc khác mềm hơn. Anh
ta cũng nghỉ.
Người thứ năm: hôm nay trời nóng
quá, đợi ngày nào mát trời hãy cưa. Anh ta cũng nghỉ.
Người thứ sáu: hôm nay tôi nhức
đầu, đợi tới khi nào khỏi tôi mới cưa. Và anh ta cũng nghỉ.
Người thứ bảy cũng nhận một khúc
cây còn tươi, nó cũng cong bên này cong bên kia, thịt nó cũng rất cứng, lưỡi
cưa của anh cũng cùn, trời hôm đó cũng nóng và anh đó cũng nhức đầu. Nhưng anh
đi mài lưỡi cưa và bắt tay vào việc. Nhờ lưỡi cưa đã được mài, khúc cây đã được
cưa xong, do trời nóng và do làm việc, anh ta đổ mồ hôi ra và hết nhức đầu. Anh
sung sướng vì hoàn thành công các được giao.
Hôm sau anh xin ông chủ cho anh
một khúc cây khác để cưa. (A.R Wells)
6. Vượt qua nghịch cảnh
Một người nông dân nọ có một con
lừa già. Một hôm con lừa bị rơi xuống giếng và đau đớn kêu la thống thiết. Sau
khi cẩn thận đánh giá tình hình, dù rất thương cảm cho con lừa, nhưng người
nông dân cũng phải quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn. Anh
gọi thêm mấy người hàng xóm để cùng lấp đất chôn con lừa với ông.
Lúc đầu con lừa bị kích động vì
những gì người ta đang làm đối với nó. Nhưng khi từng xuổng từng xuổng đất tiếp
theo nhau rơi trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên:
Cứ mỗi lần xuổng đất rơi xuống
đè lên vai, mình sẽ lắc cho đất rơi xuống và bước lên trên.
Và nó đã làm như vậy, từng chút
từng chút một.
Hất nó xuống và bước lên trên, hất
nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên – con lừa lặp đi lặp lại
để tự cổ vũ mình.
Mặc cho sự đau đớn phải chịu sau
mỗi xuổng đất. Mặc cho sự bi đát cùng cực của tình huống đang gánh chịu, con lừa
liên tục chiến đấu chống lại sự hoang mang, hoảng sợ, và tiếp tục theo đúng
phương châm “hất nó xuống và bước lên trên.”
Không mất nhiều thời gian, cuối
cùng con lừa già, dù bị bầm dập và kiệt sức, đã hoan hỉ và đắc thắng bước ra khỏi
cái giếng. Những gì tưởng như sẽ đè bẹp và chôn sống nó, trên thực tế đã cứu sống
nó… đều là nhờ cái cách mà con lừa đối diện với nghịch cảnh của mình.
7. Cửa sổ hoặc tấm gương
Một người do thái giàu có nhưng
rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một lời hướng dẫn cho cuộc sống
của mình. Vị giáo trưởng đưa anh đến bên cửa sổ và nói: “Ông hãy nhìn qua cửa sổ
và tôi biết ông thấy gì.” Không một chút do dự, người giàu có trả lời: “Tôi thấy
nhiều người đi qua đi lại.” Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có quay mặt
vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu hỏi
tương tự: “Nào, bây giờ ông thấy gì trong tấm gương ?” - “Dĩ nhiên tôi chỉ thấy
tôi.”
Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút
ra một bài học: “Này nhé, tấm gương được làm bằng kính, phía sau phủ một lớp bạc
mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đàng sau tấm kính thì nhìn vào đó ông
sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình ông thôi. Trái lại khi
nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ, ông đã thấy được những người khác.
8. Có nhiều nén bạc mà không biết
Có một chàng thanh niên lúc nào
cũng ngồi than thân trách phận không may của mình, nên không thể nào giàu có được.
Ngày nọ, một ông lão đi qua thấy vẻ mặt ủ ê của anh ta bèn hỏi:
– Chàng trai kia, sao trông cậu
buồn bã thế, cậu có điều gì không vui sao?
– Cháu không hiểu tại sao cháu
làm việc vất vả mà vẫn nghèo. Chàng trai buồn bã nói.
– Cháu mà nghèo ư, cháu đang
giàu có đấy chứ?
– Chưa thấy ai nói với cháu như
vậy cả, vì thực sự cháu rất nghèo.
– Này nhé: Giả như ta chặt ngón
tay cái của cháu, và trả 3 lượng vàng thì cháu có chịu không?
– Không ạ.
– Giả như ta chặt một bàn tay của
cháu và trả 30 lượng vàng, cháu có chịu không?
– Không bao giờ.
– Vậy nếu ta lấy đi đôi mắt của
cháu và trả cháu 300 lượng vàng, thì cháu thấy thế nào?
– Cũng không được.
– Vậy nếu ta trả cháu 3000 lượng
vàng để hai ông cháu chúng ta hoán đổi số phận, để cháu trở thành một lão già
như ta có được không?
– Đương nhiên là không.
– Cháu muốn giàu. Vậy nếu ta
trao cho cháu 30,000 lượng vàng để lấy đi mạng sống của cháu, thì cháu thấy thế
nào?
– Cháu cảm ơn ông! Cháu đã hiểu
cháu đang là một người giàu có mà cháu không biết.
Những nén bạc không đồng đều, kẻ
nhiều người ít. Nhiều hay ít, số lượng không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi
người làm việc với những nén bạc đó. Chúa chú ý tới cố gắng của mỗi người. Bởi
thế, người đã lãnh năm nén và người đã lãnh hai nén mà xử dụng tốt đều được thưởng
như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ” (x. Mt 25, 21.23). Bạc Chúa trao
cho chúng ta phải ra sức làm việc để sinh lời. Việc sinh lời không hệ tại số lượng
nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ, người ấy biết chủ
tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.
9. Tài
giỏi và trung thành với một nén bạc
Một nữ tu tuổi trung niên đã bước vào khu ổ chuột của một thành
phố lớn ở Ấn Độ. Lúc đó, bà ta chỉ có hai đồng đôla trong ví. Bà không có thu
nhập và cũng không có chỗ để trú thân.
Tất cả cái bà có là niềm tin tưởng rằng Chúa đang mời gọi bà thực hiện một điều gì đó cho người nghèo ở khu vực này. Bà cảm nhận một cách chắc chắn rằng, nếu thực sự là lời mời gọi của Chúa, Chúa sẽ cung cấp tất cả những gì cần thiết.
Bà ta chính là mẹ Têrêxa thành Calcutta. Ngày nay, Mẹ được biết đến và
được kính trọng trên khắp thế giới. Mẹ đã dựng xây 80 trường học, 70 bệnh xá
giúp người cùi, 30 nhà dành cho những người hấp hối và 40,000 cộng sự viên trên
toàn thế giới. Mẹ khởi sự với mấy đồng lẻ chỉ tương đương với vài chiếc bánh và
mấy con cá nhỏ, nhưng mẹ đã sẵn sàng dâng hiến cho Chúa và rồi đã có cả ngàn
ngàn người tiếp tục được nuôi dưỡng và chăm sóc. Thực thế, mẹ đã làm sinh lợi
nhiều điều tốt lành cho Chúa và tha nhân.
Chúng ta nhớ rằng sự quảng đại của Thiên Chúa vĩ đại gấp ngàn lần
sự rộng rãi của chúng ta.
Mẹ Têrêxa Calcutta với dáng thon gầy nhỏ bé, nhưng đã có một
trái tim vĩ đại.
Nhiều vị được Chúa trao số vốn nhỏ bé lại làm vinh hiển Chúa trước
các đại gia và những bậc vị vọng:
- Thánh Maria Madalena, một người bị kết án là phụ nữ tội lỗi
khét tiếng vì bị bảy quỷ thống trị, thế nhưng khi bà được Đức Giêsu trừ bảy quỷ,
từ bấy giờ bà hiến dâng tất cả tài sản cho việc truyền giáo và trở thành người đầu
tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho thế giới (x Lc 8,1-3; Ga 20,18).
- Thánh Gioan Maria Vianey có trí khôn tầm thường, không đủ điểm
trong các môn Thần học ở Đại Chủng Viện, nên đã bị cha Giám đốc sa thải! Nhưng
nhờ cha Sở bảo lãnh,Gioan Vianey được trở lại Chủng Viện, và ngài đã trở nên một
vị Linh mục thánh thiện, nhiệt tình, gương mẫu, xứng đáng là Bổn mạng các cha Sở!
- Thánh nữ Catharina, vì gia cảnh nghèo nên thất học, thế mà nhờ
bà biết cầu nguyện cho Hội Thánh đang gặp sóng gió, bà đã thành công làm cho ba
Giáo hoàng đang tranh ngôi vị vào những năm 1378-1417, một ở Roma, một ở Bỉ, một
ở Pháp, phải từ chức để bầu lại Thủ Lãnh Hội Thánh, thủ đô đặt ở Roma. Vì công
đức ấy mà Hội Thánh tôn vinh bà làm Thánh Tiến sĩ.
Bởi thế, thánh Phaolô nói: “Khi anh em được Thiên Chúa kêu gọi,
thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người
quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì
Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan; những gì thế gian cho là yếu
kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian
cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt
những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr
1,26-29)
