Lời Chúa tuần 3 và Tết Nguyên Đán _ câu truyện minh họa

LỜI CHÚA TUẦN 3 MÙA THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA

CNTN 3A – ÁNH SÁNG TRONG BÓNG TỐI SỰ CHẾT

CNTN 3B - NHỮNG KẺ CHÀI LƯỚI NGƯỜI

CNTN 3C - THÁNH THẦN CHÚA NGỰ TRÊN TÔI

THỨ HAI - TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN

THỨ BA - MẸ CHÚA VÀ ANH EM CHÚA GIÊSU

THỨ TƯ - DỤ NGÔN GIEO HẠT GIỐNG

THỨ NĂM – ĐÈN ĐẶT TRÊN ĐẾ CAO

THỨ SÁU - NƯỚC THIÊN CHÚA PHÁT TRIỂN

THỨ BẢY - CHÚA GIÊSU QUYỀN NĂNG

LỄ KÍNH - TÔNG ĐỒ PHAOLÔ TRỞ LẠI

LỄ KÍNH HAI THÁNH TIMÔTHÊ VÀ TITÔ - DIỄN VĂN TRUYỀN GIÁO

LỄ GIAO THỪA - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN

MỒNG MỘT TẾT - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN

MỒNG HAI TẾT - THỜ CHA KÍNH MẸ

MỒNG BA TẾT – HƯỞNG NIỀM VUI CỦA CHỦ

 

 

CNTN 3A – ÁNH SÁNG TRONG BÓNG TỐI SỰ CHẾT

Lời Chúa: Mt 4, 12-23

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết.” Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!"

Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: "Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta.” Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người.

Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.

Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

TRUYỆN KỂ

1. Kitô hữu ấm đồng

Một phụ nữ đang học hỏi Kinh Thánh, đi xuống tầng hầm của căn nhà và trải nghiệm một khám phá thú vị. Một vài củ khoai tây đã nảy mầm ở góc tối nhất của căn phòng.

Lúc đầu, bà không thể hiểu làm thế nào chúng có đủ ánh sáng để phát triển. Nhưng sau đó, bà nhận thấy rằng bà đã treo một chiếc ấm đồng trên xà nhà gần cửa sổ hầm. Bà giữ cho cái ấm sáng bóng đến mức nó phản chiếu những tia nắng mặt trời vào khoai tây. Bà nói: “Khi tôi nhìn thấy sự phản chiếu đó, tôi nghĩ, ‘Tôi có thể không phải là một nhà truyền giáo hay một giáo viên có khả năng giải thích Kinh Thánh, nhưng ít nhất tôi có thể là một “Kitô hữu ấm đồng”, đón nhận những tia sáng của Chúa Kitô và phản chiếu ánh sáng của Ngài cho ai đó ở một góc tối nào đó.’”

* Bài học Kinh Thánh hôm nay cho chúng ta biết rằng Chúa Kitô đã đến như Ánh sáng và đưa chúng ta vào Ánh sáng bằng cách kêu gọi chúng ta sám hối và đến với Vương quốc của Thiên Chúa. (Lm. Chirakkal).

2. Thắp sáng

Mẹ Têrêsa cho chúng ta một gương mẫu tuyệt đẹp về việc đưa một con người ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng. Một ngày nọ tại Melbourne, Úc, Mẹ đến thăm một người nghèo mà hầu như chẳng ai biết đến sự tồn tại của ông. Căn phòng nơi ông sống ở trong tình trạng bị bỏ mặc, vô cùng bừa bộn. Phòng không có ánh sáng; người đàn ông hầu như không bao giờ mở rèm cửa. Ông không có lấy một người bạn trên đời.

Mẹ bắt đầu dọn dẹp và sắp xếp lại căn phòng. Ban đầu, ông phản đối, nói: “Cứ để yên đó. Mọi sự cứ như vậy là được rồi.” Nhưng Mẹ vẫn tiếp tục. Dưới một đống rác, Mẹ tìm thấy một chiếc đèn dầu rất đẹp, nhưng bị phủ đầy bụi bẩn. Mẹ lau chùi và đánh bóng nó. Rồi Mẹ hỏi ông: “Sao ông không bao giờ thắp đèn?” Ông đáp: “Thắp đèn để làm gì? Chẳng có ai đến thăm tôi. Tôi cũng không gặp ai cả.” Mẹ nói: “Ông có hứa sẽ thắp đèn nếu một trong các nữ tu của tôi đến thăm ông không?” Ông trả lời: “Có. Nếu tôi nghe thấy tiếng người, tôi sẽ thắp đèn.”

Hai nữ tu của Mẹ Têrêsa bắt đầu đến thăm ông đều đặn. Dần dần, cuộc sống của ông được cải thiện. — Một ngày kia, ông nói với các nữ tu: “Thưa các Sơ, từ nay tôi có thể tự xoay xở được. Xin các Sơ làm ơn giúp tôi một việc: hãy nói với Sơ đầu tiên, người đã đến thăm tôi, rằng ánh sáng Sơ đã thắp lên trong cuộc đời tôi vẫn còn đang cháy.” (Flor McCarthy, New Sunday and Holy Day Liturgies; trích dẫn bởi cha Botelho)

3. Chuyện đào vàng

Một sử gia kể lại rằng, cách đây khá lâu, một nhóm thợ đào vàng rời Bannock, bang Montana, lên đường đi tìm vàng. Suốt nhiều ngày liền, họ phải chịu đựng muôn vàn gian khổ và thời tiết khắc nghiệt đến mức có người không trụ nổi và đã bỏ mạng dọc đường. Tuy vậy, những người còn lại vẫn không nản chí, tiếp tục tiến bước, cho đến một ngày họ chạm trán với một toán thổ dân da đỏ hung hãn. Những người này tước đoạt ngựa và tư trang của họ, chỉ để lại vài con ngựa què quặt. Trước khi thả họ đi, người da đỏ cảnh cáo rằng đừng bao giờ quay lại, vì nếu còn trở lại lần nữa thì tính mạng họ sẽ gặp nguy hiểm.

Nhóm thợ đào vàng buồn bã quay đầu trở về, lòng đầy thất vọng. Đến tối, họ quyết định dừng chân bên một con suối để cắm trại. Một người trong nhóm lội xuống suối rửa mặt và nhận ra có điều gì đó khác thường ở một hòn đá. Anh nhặt hòn đá lên, đập vỡ ra, và chợt nhận ra: họ đã gặp vàng ngay tại đó! Thế là những người khác cũng ùa tới, cùng nhau đào bới và thu được một mẻ vàng kha khá. Ngày hôm sau, họ còn phát hiện nhiều vàng hơn nữa và vui mừng khôn xiết. Sang ngày kế tiếp, họ trở về lại Bannock để mang theo đầy đủ dụng cụ và ngựa cần thiết hòng thu gom kho báu của mình nhiều hơn. Họ thề sẽ không tiết lộ cho bất cứ ai về phát hiện phi thường ấy.

Nhưng khi vừa chuẩn bị lên đường, họ bỗng thấy mình bị bao quanh bởi khoảng ba trăm thợ đào vàng khác, ai nấy cũng hào hứng không kém. Rõ ràng là có ai đó đã “lộ bí mật”! Thế nhưng, sự thật là chẳng có ai tiết lộ điều gì cả.

Chính nét mặt rạng rỡ, niềm vui hân hoan hiện rõ trên gương mặt họ đã khiến những người khác nhận ra chắc chắn phải có một lý do rất đặc biệt. Vì thế, mọi người quyết định nhập cuộc, tin chắc rằng chẳng bao lâu nữa họ cũng sẽ được vui mừng hớn hở như những người kia. Những gương mặt bừng sáng của các thợ đào vàng thành công đã vô tình “phản bội” bí mật của họ!

* Còn gương mặt chúng ta thì sao? Liệu có bộc lộ rằng chúng ta đã tìm được kho tàng quý giá nhất — là chính Đức Giêsu Kitô — hay chưa?

4. Ánh sáng xuất hiện

Một vài thung lũng trên dãy núi Alpes sâu đến nỗi tia nắng mặt trời không thể chiếu tới trong nhiều ngày hoặc thậm chí nhiều tuần vào giữa mùa đông. Những ngày này có thể rất buồn chán đối với những người sống trong các thung lũng. Cuộc sống gần như là một đêm dài. Một linh mục phục vụ tại một trong những thung lũng đó kể lại câu chuyện sau đây.

Một ngày vào giữa mùa đông, ngài đang ở trong lớp học giáo lý trò chuyện với bọn trẻ, những đứa đã không nhìn thấy mặt trời trong chín ngày. Rồi đột nhiên, một tia nắng chiếu vào lớp học. Khi nhìn thấy chút ánh sáng, bọn trẻ đã trèo lên bàn và reo hò vui sướng. Điều này cho thấy rằng, mặc dù mặt trời có thể không chạm vào da thịt, nhưng nó có thể sưởi ấm tâm hồn.

* Ánh sáng là nguồn vui lớn lao. Đối với người bệnh, ban đêm là thời điểm khó khăn nhất. Họ chào đón những tia sáng đầu tiên báo hiệu đêm tàn và ngày mới bắt đầu biết bao! Việc có điện ở những vùng nông thôn đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của những nông dân. (Flor McCarthy, New Sunday and Holy Day Liturgies; được trích dẫn bởi Cha Botelho)

5. Bỏ mọi sự

Bạn đã nghe câu chuyện về Pizarro, nhà chinh phục nước Peru chưa? Người Tây Ban Nha tin rằng các dòng sông ở Peru chảy đầy vàng và người ta có thể chỉ cần nhặt vàng từ những con sông này. Pizarro đã tập hợp một nhóm người thích phiêu lưu và khao khát tìm vàng. Họ đã vượt qua Đại Tây Dương và eo đất Panama.

Chuyến đi không hề dễ dàng, họ đã trải qua những thời điểm hết sức khó khăn. Trên biển có bão tố, còn trên đất liền thì có rắn độc và thú dữ. Không có thức ăn, và nhóm người đã phải đối mặt với nhiều khó khăn và do đó quyết định quay trở lại Tây Ban Nha.

Pizarro rút gươm ra và vạch một đường trên cát bằng thanh gươm của mình, chia cắt phía bắc và phía nam. Sau đó, ông nói với nhóm binh lính của mình: “Các anh em, ở phía nam của lằn ranh này là đói khát, hiểm nguy, trần trụi, thử thách và cái chết, trong khi ở phía bắc là niềm vui, sự dễ dàng và thoải mái. Riêng tôi, tôi đi về phía nam,” và ông bước qua vạch kẻ về phía nam.

* Bảy người đã theo ông không phải vì thích vàng mà vì họ yêu mến và tin tưởng Pizarro. Các môn đệ đầu tiên cũng đã bỏ mọi sự để bước theo Đức Giêsu vì họ yêu mến Người. (Elias Dias trong “Những câu chuyện thiêng liêng cho các gia đình”

6. Cách trình bày

Đức Giêsu đến rao giảng “Nước Trời đã đến gần.” Vậy Nước ấy có điều gì khiến những người đánh cá đầu tiên đó phấn khởi đến thế đến nỗi họ đã bỏ lại mọi sự? Và tại sao chúng ta lại không hào hứng như vậy?

Điều đó làm tôi nhớ đến câu chuyện đọc đâu đó về một người phụ nữ, cho rằng chó sẽ khỏe mạnh hơn nếu mỗi ngày được cho ăn một muỗng canh dầu gan cá tuyết. Vì thế, ngày nào bà cũng làm theo cùng một quy trình: đuổi theo con chó cho đến khi bắt được nó, vật nó xuống, rồi cố ép cho bằng được thứ thuốc tanh ấy vào cổ họng nó. Một ngày nọ, giữa lúc đang vất vả với “liệu pháp y khoa” này, chai dầu bị đá đổ. Thở dài, bà nới lỏng tay giữ con chó để lau chỗ dầu đổ.

Thật ngạc nhiên, con chó chạy lại vũng dầu và bắt đầu liếm lấy liếm để. Con chó rất thích dầu gan cá tuyết. Điều nó phản đối chỉ là cách người chủ cho nó dùng mà thôi. (Bill McNabb và Steven Mabry, Awaken Your Students to Scripture).

* Đôi khi, tôi nghĩ điều tương tự cũng đã xảy ra với Tin Mừng về Nước Thiên Chúa. Tin Mừng ấy đã được trình bày quá vụng về đến nỗi chúng ta chưa bao giờ bị cuốn hút bởi vẻ hấp dẫn và sức mạnh của nó.

7. Hoán cải

Giáo sư sử học về Giáo hội J. Edwin Orr từng kể lại về sự kiện ơn Chúa Thánh Thần được tuôn đổ trong thời Phục Hưng tại xứ Wales vào thế kỷ XIX. Khi con người khao khát được đầy ơn Thánh Thần, họ đã thành tâm kiểm điểm lại đời sống mình, mạnh dạn thú nhận những sai lỗi đã phạm và quyết tâm đền bù những điều bất công trong quá khứ.

Điều này đã dẫn đến một tình huống hết sức bất ngờ tại các xưởng đóng tàu dọc theo bờ biển Wales. Trong nhiều năm, công nhân đã lén lấy cắp đủ mọi thứ: từ xe cút kít, búa, kìm...cho đến các dụng cụ lao động khác. Nhưng khi lương tâm được thức tỉnh và lòng họ hướng về Thiên Chúa, người ta bắt đầu mang trả lại những gì mình đã chiếm đoạt. Chẳng bao lâu sau, các xưởng đóng tàu bị “ngập lụt” bởi những vật dụng được hoàn trả. Những đống dụng cụ chất cao đến mức một số xưởng buộc phải treo biển thông báo: “Nếu bạn được Chúa thúc đẩy để trả lại những gì mình đã lấy, thì hãy biết rằng ban quản lý đã tha thứ cho bạn và mong bạn cứ giữ lại những gì đã lấy.”

* Câu chuyện ấy khiến chúng ta không khỏi tự hỏi: Chẳng phải sẽ thật tuyệt vời sao nếu một cuộc phục hưng như thế lan tỏa khắp thế giới hôm nay? Chẳng phải chúng ta sẽ vui mừng biết bao nếu con người sẵn sàng sửa chữa những sai trái mình đã gây ra? Chẳng phải thế giới sẽ trở nên đáng tin cậy hơn nếu mỗi người sống ngay chính vì Thiên Chúa ngự trong tâm hồn họ? Hãy thử hình dung một thế giới không còn trộm cướp, không còn bạo lực giết chóc, không còn những gia đình tan vỡ hay cảnh nghiện ngập tàn phá con người.

Để bước vào Nước Thiên Chúa ấy, Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta hoán cải, thay đổi tận căn lối sống, và canh tân đời mình trong ánh sáng của Thiên Chúa.

8. Lưới người

Khi các nhà truyền giáo buộc phải rời khỏi Trung Quốc vào năm 1951, các Kitô hữu bắt đầu bị chính quyền đàn áp khốc liệt, tương lai của Hội Thánh dường như vô cùng ảm đạm. Khi áp lực gia tăng, nhiều người nhanh chóng bỏ đạo. Với sự xuất hiện của Cách mạng Văn hóa và việc đàn áp mọi sinh hoạt tôn giáo có tổ chức, người ta tưởng rằng Kitô giáo tại Trung Quốc đã đến hồi diệt vong.

Thế nhưng, chính trong thời kỳ bách hại khủng khiếp ấy, những Kitô hữu kiên vững, không sợ thách thức các thế lực của trần gian, đã bắt đầu âm thầm họp nhau trong các gia đình. Khi các buổi phụng vụ chính thức bị cấm trong thời kỳ “Đại Nhảy Vọt”, những cuộc họp nhỏ tại gia trở thành cơ cấu chủ yếu của Hội Thánh. Khi các mục tử bị giết hại hoặc bị giam cầm, các tín hữu giáo dân đã đứng lên đảm nhận vai trò lãnh đạo; đặc biệt các phụ nữ đã tham gia rất tích cực. Khi nhà cửa của giáo dân bị Hồng Vệ Binh lục soát và mọi cuốn Kinh Thánh cùng sách vở Kitô giáo bị tiêu hủy, người ta đã dựa vào trí nhớ Lời Chúa và những kinh nghiệm sống đức tin để nâng đỡ lẫn nhau.

Khi các Kitô hữu trong những nhóm nhỏ này thể hiện lòng can đảm phi thường, nhiệt thành và yêu thương, Tin Mừng đã lan tỏa đến hàng xóm và đồng nghiệp của họ. Họ sẵn sàng chia sẻ lương thực và quần áo của mình cho những người nghèo túng và thiếu thốn, nhất là các gia đình có người trụ cột bị giết hoặc bị tống giam. Họ thăm viếng người đau buồn, cầu nguyện cho bệnh nhân và được chứng kiến những phép lạ chữa lành kỳ diệu của Thiên Chúa.

Tiêu biểu là câu chuyện về một số tín hữu chăm sóc tận tình cho một cô giáo trường Đảng khi cô lâm bệnh nặng. Lòng trắc ẩn của họ chân thành đến mức, sau khi bình phục, cô cũng đón nhận tin Chúa, dù sau đó phải chịu sự chế giễu công khai khi trở lại làm việc. Bị buộc phải xuất hiện trong một buổi “tự phê bình” công khai, cô đã phản đối: “Khi tôi đau ốm, các người chẳng làm gì để giúp tôi. Chính các Kitô hữu đã làm tất cả!” Sự thật ấy đã khiến những kẻ chỉ trích cô phải câm lặng. Ngày nay, Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc vẫn sống động và không ngừng phát triển, bởi vì từng Kitô hữu đã làm tròn phần việc của mình, trở nên những kẻ “lưới người.” (Cha King Duncan)

9. Chuyện vui

Trước phòng sinh. Trước phòng sinh của một bệnh viện, có ba ông bố tương lai đứng chờ mà lòng như lửa đốt. Người thì đi tới đi lui, người thì ngồi xuống lại đứng lên, ai cũng căng thẳng như đang chờ kết quả thi đại học. Một lát sau, cô hộ sinh bước ra, nở nụ cười rất tươi.

Cô nhìn người đàn ông thứ nhất và nói: “Chúc mừng anh! Vợ anh vừa sinh một cặp song sinh.” Ông bố nghe xong liền reo lên: “Trời ơi, hên quá! Tôi đang làm việc cho đội bóng tên là Song Long. Đúng là ‘trúng mánh’ rồi!”

Cô hộ sinh quay sang người thứ hai: “Còn anh, xin chúc mừng! Vợ anh sinh ba, các bé đều khỏe mạnh.” Ông này vỗ tay cái đét: “Quá tuyệt! Tôi là phó giám đốc công ty Ba Sao. Từ nay chắc công ty tôi làm ăn phát đạt!”

Nhưng khi cô hộ sinh vừa quay sang người đàn ông thứ ba, chưa kịp nói gì thì ông đã tái mét mặt mày, mồ hôi đầm đìa, rồi bất ngờ chạy thẳng ra cửa. Cô hộ sinh hoảng hốt gọi theo: “Anh ơi, có chuyện gì vậy? Sao anh chạy dữ vậy?” Vừa leo lên xe, ông vừa la lớn: “Tôi phải về công ty xin nghỉ việc gấp! Tôi là giám đốc hãng nước giải khát Bảy Vị!”

* Lời mời gọi sám hối của Chúa Giêsu có thể làm ta bất ngờ, thậm chí giật mình. Nhưng đó không phải là tin xấu, mà là tin mừng—vì Thiên Chúa đang đến rất gần, để ban sự sống dồi dào hơn cho mỗi người chúng ta. (Đức Ông Dennis Clarke).

10. Xin vâng để hợp tác với Chúa

Hai người giáo dân đứng ngoài chợ nói chuyện với nhau:

- Anh nghĩ xem chúng ta có cần tiếp tay với Cha xứ để lo việc họ đạo không? Người thứ nhất hỏi.

- Tôi cũng thường nghĩ đến điều đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.

Nãy giờ đứng bên cạnh đã nghe hết, anh chen vào:

- Đúng thế, chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao không?

- Tại sao? Tại sao? Xin cho chúng tôi biết với.

- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó là những người biết nói “VÂNG.”

Khi Chúa gọi ai, việc đầu tiên là Ngài bảo người đó từ bỏ. Ơn gọi đầu tiên trong Cựu Ước là như thế: Thiên Chúa nói với Abraham “Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi nhà cha ngươi...” (St 12,1). Ơn gọi đầu tiên trong Tân Ước cũng như thế: 4 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu “lập tức bỏ chài lưới (bỏ thuyền, bỏ cha mẹ lại) mà theo Ngài” (Mt 4,20.22). Tất cả những ơn gọi khác cũng phải như thế thôi.

11. Ngư phủ là những môn đệ đầu tiên.

Trong số những đến nghe Ngài rao giảng, Chúa Giêsu đã chú ý tới hai cặp anh em. Họ đều là những ngư phủ đang hành nghề trên biển Galilê. Họ không phải là những học giả uyên bác, hoặc những người có ảnh hưởng lớn. Họ không giàu sang, không có địa vị trong xã hội. Họ không phải là những người nghèo mạt mà chỉ là những công nhân bình thường. Chúa Giêsu đã chọn lựa những người bình thường này. Và với những người như thế Ngài đã dùng họ để làm bất cứ công tác nào.

Nhiều học giả cho rằng sở dĩ Chúa chọn những ngư phủ lành nghề như vậy là vì họ có một số đức tính thiết yếu để có thể trở thành những tay đánh lưới người cho Chúa:

a/ Kiên nhẫn: người ngư phủ thường là những người rất kiên nhẫn. Họ kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi cá cắn mồi, nếu cứ sốt ruột và dời chỗ luôn thì không bao giờ thành người thợ câu được.

b/ Bền chí: người ngư phủ giỏi thường là những người rất bền chí, không bao giờ ngã lòng. Thua keo này họ bày keo khác.

c/Can đảm: người ngư phủ giỏi thường bao cũng là những người rất can đảm. Người Hy lạp thuở xưa, khi cầu khẩn với các thần phù hộ, họ thường nói: “thuyền tôi quá nhỏ mà biển cả thì quá lớn.” Người ngư phủ giỏi phải liều mình đương đầu với sóng to gió lớn.

d/Thấy thời cơ: người ngư phủ giỏi thường là những người biết rõ thời điểm để hành động. Người ấy phải biết khi nào nên và khi nào không nên thả lưới.

e/ Biết dùng mồi thích hợp: người ngư phủ giỏi thường là những người biết chọn lựa mồi thích hợp. Cá này ưa mồi này, cá khác thích mồi khác.

Phaolô nói: “Tôi trở nên mọi sự đối với mọi người để may ra được một vài người.”

f/ Biết ẩn mình: người ngư phủ giỏi thường là những người biết ẩn mình. Nếu ngư phủ lộ diện, dầu chỉ là cái bóng, cá cũng không cắn câu.

Vâng Chúa Giêsu đã chọn lựa Galilê là miền đất được chuẩn bị kỹ lưỡng để tiếp nhận hạt giống Tin Mừng và cũng đã chọn những con người có phẩm chất đạo đức tốt để bắt đầu sứ vụ công khai của mình. Nói theo kiểu Đông phương của chúng ta: rõ ràng là đã đủ mọi yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa...

12. Thắp lên tình yêu thương

Một ngày kia khi đến Melbourne bên Australia, Mẹ Têrêsa Calcutta đã đến thăm một người nghèo không ai biết đến. Người này sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn.

Mẹ Têrêsa bắt tay vào việc thu dọn đồ đạc.

Ông gắt lên:

- Cứ để yên mọi thứ cho tôi.

Nhưng mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, mẹ tìm thấy một chiếc đèn trong góc phòng. Đèn bám đầy bụi bặm, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi:

- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên?

- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu thấy mặt ai.

- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không?

- Vâng. Nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó mỗi ngày hai nữ tu của mẹ Têrêsa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy.

- Bây giờ tự tôi, tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng: ngọn đèn mà bà đã thắp lên nay vẫn sáng.

Ngọn đèn Mẹ Têrêsa thắp lên cho ông cụ này nay vẫn sáng.

Vâng chúng ta hãy làm sáng lên trên thế giới hôm nay ánh sáng của tình thương, của tình người, của chân lý để ánh sáng ấy làm cho cuộc sống của con người trên thế giới hôm nay có thêm được những ý nghĩa cao đẹp và hạnh phúc hơn. Amen.

13. Cám dỗ muốn hơn người

Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp kỳ cạnh tranh gay gắt trong công việc, anh ta càng gia tăng lời khẩn cầu gấp bội.

Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên hiện ra với anh và nói: "Thấy nhà ngươi thành tâm cầu xin nên ta không nỡ chối từ. Thôi thì bây giờ cứ cho ta biết ngươi muốn gì, ta sẽ ban cho... và đồng thời để tỏ cho nhân gian biết lòng quảng đại của ta thì hễ ban cho ngươi điều chi, ta cũng ban cho đồng nghiệp hay hàng xóm của ngươi như thế... và có khi gấp đôi luôn.”

Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng hân hoan qua sầu buồn lo lắng. Anh tự nhủ: "Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy thằng bạn...chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, thế thì không được! Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm... họ sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn thì coi chừng đồng nghiệp sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó được hai vợ, trong mình chỉ có một... Thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng xin như thế thì làm sao mà hơn được.”

Chàng thương gia nhíu mày đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với thần: "Lạy ngài, xin vui lòng cho tôi đui một con mắt.”

Tình trạng hơn thua làm nảy sinh phe nhóm bè phái, cùng với bao tranh chấp ghét ghen, không chỉ xảy ra ngoài đời, trong các đoàn thể chính trị xã hội, nhưng phải đau lòng mà nói: có khi nó còn xuất hiện trong những tổ chức manh danh có đạo, hay thuộc về Giáo hội.

Và đâu phải chỉ có trong Giáo hội của thời đại hôm nay, nhưng từ thời sơ khai, hiện tượng tranh chấp, phe nhóm, cũng đã xảy ra: "Tôi, tôi về phe Appolo. Tôi, tôi về phe Phaolô. Còn tôi, tôi về phe Kêpha Phêrô.”

14. Được cứu độ bằng tình yêu--Lm. HK

Epictète là một triết gia - nô lệ tại xứ Syracuse. Ông vua độc tài của Syracuse đọc sách của Epictète viết, thấy hay quá nên mới ra quyết định cho Epictète không phải làm nô lệ nữa. Epictète trả lời:

- Vua hãy tự giải thoát chính mình đi.

- Nhưng ta là vua mà, ông vua độc tài ngạc nhiên.

- Một nhà độc tài là kẻ phải làm nô lệ cho các dục vọng của mình, còn một người nô lệ làm chủ được các dục vọng của mình mới là một người tự do. Hỡi Đức Vua, hãy tự giải thoát chính mình đi.

Ai cũng thấy rõ sức mạnh rất lớn của các dục vọng trong lòng mình, như cổ nhân đẽ khéo ví von: “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Mưa không xiềng xích vẫn lưu được khách, sắc chẳng ba đào dễ đắm lòng người).

Có dục vọng tốt nhưng cũng có dục vọng xấu lôi kéo con người và xích chặt tâm hồn họ vào tội lỗi. Trong Thánh Kinh, các dục vọng tội lỗi được diễn tả như bóng tối mịt mù ràng buộc và ngăn cản nhân loại trên đường tìm đến hạnh phúc đời đời: “Họ phải sống trong cảnh tối tăm mù mịt, kiếp lầm than xiềng xích gông cùm; vì họ chống cưỡng lời Thiên Chúa, dám khinh nhờn lệnh Đấng Tối Cao” (Tv 107,10).

15. Tiếng gọi của Chúa

Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu Albert Schweitzer làm “người hùng của thế kỷ.” Hai năm sau (1952). Albert Schweitzer được giải thưởng Nobel hoà bình. Schweitzer được toàn thế giới tuyên dương là một thiên tài đa dạng: Ông vừa là một triết gia lừng danh, một nhà thần học nổi tiếng, một sử gia đáng kính, một nhạc công sôlô trong dàn nhạc và còn là một bác sĩ thừa sai nữa.

Nhưng điểm nổi bật nhất nơi ông là niềm tin Kitô giáo sâu sắc. Chính niềm tin này đã khiến ông thành “người hùng của thế kỷ”: Năm 21 tuổi, Schweitzer tự hứa với mình là sẽ nghiên cứu nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi, rồi sẽ cống hiến cuộc đời còn lại cho những người thiếu thốn bằng một hình thức phục vụ trực tiếp nào đó. Và thế rồi, vào sinh nhật thứ 30 của ông, nhằm ngày 13/10/1905, ông đến một hộp thư ở Paris gởi một số thư về cho bố mẹ và bè bạn thân thiết nhất, báo cho họ biết ông sắp sửa ghi tên vào đại học để lấy bằng y khoa, sau đó ông sẽ đi Phi Châu sống như một bác sĩ thừa sai để phục vụ đám dân nghèo.

Những lá thư của ông lập tức bị phản đối ngay. Bà con và bè bạn ông đồng loạt phản đối dự tính mà họ cho là điên rồ của ông. Họ bảo ông là một người đem chôn dấu tài năng đã được uỷ thác cho ông… Tuy nhiên, Schweitzer vẫn khăng khăng thực hiện những ý định của mình. Năm 38 tuổi, ông trở thành một bác sĩ y khoa thực thụ. Năm 43 tuổi, ông đến Phi Châu mở một bệnh viện cạnh bờ rừng của khu vực gọi là Phi Châu xích đạo. Tại đây, ròng rã suốt hơn bốn mươi năm trời, ông đã dùng hết tài năng và sức lực để đêm ngày tận tuỵ săn sóc những người dân bản xứ nghèo nàn bệnh tật, với tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái. Sau cùng ông đã chết ở đó vào năm 1965, hưởng thọ 90 tuổi.

16. Muốn giữ chiếc áo rách

Một linh sư ấn Giáo rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy anh ta không cần sự dìu dắt của mình nữa, nên ông bỏ mặc anh trong túp lều tranh rách nát bên cạnh bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách của mình. Đó là tài sản duy nhất của anh.

Ngày kia, anh nhận ra chiếc áo của mình phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn rách tả tơi. Anh đành phải vào làng xin một chiếc áo khác. Cái áo này cũng bị chuột gặm nát như tương. Anh mới xin về một con mèo. Lần này, anh khỏi phải lo chuột quấy phá. Nhưng không xin áo thì phải xin cơm bánh.

Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một gánh nặng cho dân làng. Vì thế, anh tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn.

Nhữg ngày đầu, anh con tự mình cắt cỏ. Về lâu về dài, anh đành phải thuê người cắt cỏ vì không có thì giờ cầu nguyện. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng.

Chẳng mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã trở thành nông trại. Con người đâ một thời muốn bỏ tất cả mọi sự đê trở thành một tu sĩ, nay nghiễm nhiên là một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ.

Khi vị linh sư có dịp về thăm ngôi làng cũ, ông ngạc nhiên vô cùng vì túp lều nghèo nàn bên bờ sông nay đã là cả một cơ nghiệp. Ông hỏi người đệ tử:

- Thế này nghĩa là gì hở con?

Người đệ tử mới trả lời:

- Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu cũng chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách?

Cám dỗ nào cũng ngọt ngào như mật lôi kéo bầy ong, như hương hoa cuốn hút đàn bướm. Có nhiều thứ săn đuổi chúng ta trong cuộc sống lắm! Bao lâu còn mang bản tính con người, bấy lâu người ta còn thích hưởng thụ, dễ dãi, tiện nghi, thoải mái. Con ngườl chỉ có thể thắng vượt cám dỗ khi họ tự biết chính mình.

17. Theo Chúa là một khúc quanh đòi từ bỏ của cuộc đời

Có nhiều người đã nghe được tiếng Chúa, một thứ tiếng vọng lên từ bên trong, tuy âm thầm nhưng rất rõ, mời gọi nhưng không kém phần thúc thách. Đáp lại tiếng Chúa là bước vào một khúc quanh mới của đời mình và từ đó bản thân được đổi khác.

Ơn gọi của Mẹ Têrêsa Calcutta là một thí dụ. Mẹ sinh năm 1910 tại Nam Tư. Năm 18 tuổi Mẹ nhập dòng Đức Bà Lorettô ở Ái Nhĩ Lan. Sau đó được cử sang Ấn Độ để vào tập viện. Mẹ đã cống hiến gần 20 năm trời cho việc dạy môn địa lý tại một trường của nhà dòng dành cho các thiếu nữ thuộc những gia đình khá giả. Nếu Chúa không lên tiếng gọi, thì chắc cuộc đời Mẹ sẽ trôi đi êm đềm bên đám học trò giàu có. Thế rồi vào một ngày nọ, nhân đi qua một đường phố ở Calcutta, Mẹ bắt gặp một người đàn bà đang hấp hối trên vỉa hè. Chuột và kiến đã kéo đến gặm nhấm con người bất hạnh đó. Mẹ liền vực người thiếu phụ tới nhà thương. Mẹ nhất định cứ đứng ở trước cổng cho đến khi người ta mở cửa đón nhận bệnh nhân sắp chết.

Từ biến cố này Mẹ cảm nhận được lời mời gọi của Chúa, muốn Mẹ hiến mình cho những kẻ bị bỏ rơi. Và thế là Mẹ xin ra khỏi dòng, đến sống ở một khu vực tăm tối của thành phố. Chắc hẳn lúc đó, Mẹ không ngờ mình sẽ là người sáng lập một hội dòng mới chuyên lo việc bác ái, giúp đỡ những người nghèo khổ.

Lắng nghe và tìm biết ý Chúa qua các biến cố, qua các sự kiện đã đành. Điều quan trọng hơn là có dám đáp trả lời mời gọi của Ngài hay không. Nhiều khi chúng ta đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ như không hề nghe thấy tiếng Chúa, để khỏi phải đáp trả, khỏi phải từ bỏ. Bởi vì chúng có quá nhiều những sợi dây vấn vương quấn chặt lấy cuộc đời và bản thân, khiến chúng ta không dễ gì tháo gỡ được. Những sợi dây vấn vương ấy là tiền bạc, địa vị, vui thú...

Từ bỏ là đặt mọi sự dưới Chúa, coi Chúa là giá trị tuyệt đối, vượt lên trên tất cả. Và như thế phải có tình yêu mãnh liệt mới có thể từ bỏ lập tực những gì chúng ta đang ôm ấp bởi vì từ bỏ là thước đo tình yêu của chúng ta đối với Chúa.

18. Sống đức tin

Vị linh mục tuyên úy hỏi người thủy thủ trẻ tuổi: “Ai đã dẫn đưa bạn tới Chúa Giêsu Kitô?” Anh ta chần chừ suy nghĩ, vì nghĩ rằng phải sử dụng tên tuổi của những nhà giảng thuyết trứ danh, bèn hỏi lại vị tuyên úy: “Thưa cha, chắc không cần phải là người giảng thuyết chứ?” Rồi anh nói tiếp: “Đó là đời sống đạo của mẹ con.” Hầu hết chúng ta đã đón nhận đức tin từ cha mẹ. Khi lớn lên không bao giờ thắc mắc rằng chúng ta đã không phải là Kitô hữu. Chúng ta giữ đức tin trong khi được dạy cách làm dấu, đọc kinh Lạy Cha, đi nhà thờ dự lễ… học cách thức chào hỏi, lễ phép bởi cha mẹ, thầy cô nơi trường học. Do đấy, tất cả mọi người trong gia đình, cộng đoàn hay xã hội đều được mời gọi đóng góp vào sứ mạng “ngư phủ bắt người.”

Bạn có tin được không, ngay cả con chó cũng có thể dẫn đưa một người về với Đức Kitô: Một ông lão không bao giờ để ý gì tới Thiên Chúa, hay đời sống tinh thần, nhưng vợ ông lại là một Kitô hữu rất đạo đức. Bà đã cầu nguyện cho chồng nhiều năm, nhưng dường như lời cầu xin của bà chưa được đáp trả vì ông không bao giờ chịu đến nhà thờ chung với bà. Người đàn bà đạo hạnh đáng thương này đi lễ hằng tuần với một con chó già. Nó đi theo bà vào nhà thờ, rồi phủ phục nằm im dưới gầm ghế ngồi.

Khi người đàn bà chết, con chó có vẻ buồn bã lắm. Một vài lần, lão già chú ý thấy con chó rời nhà vào một giờ nhất định, rồi trở về đúng giờ. Một buổi sáng Chúa nhật, ông lão đi theo con chó xem nó đã đi đến đâu. Con chó dường như có vẻ hứng khởi và vui vẻ khi có người cùng đi với nó dọc theo lối bộ hành cho đến cửa nhà thờ. Ông lão ngừng lại khi thấy nó nhanh nhẹn nhẩy lên những bậc thềm rồi đứng chờ ông ở cửa nhà thờ. Sau khi đứng lại nghỉ ngơi giây lát, chưa quyết định phải làm gì, ông lão tự nhủ: “Vào nhà thờ theo con chó cũng được. Đâu có hại gì!” Ông đã vào nhà thờ, đi theo con chó đến ngay chỗ vợ ông vẫn thường ngồi. Nhớ đến vợ, ông ngồi xuống và lắng nghe. Chúa nhật kế tiếp, ông lão lại đi đến nhà thờ với con chó trung thành của ông.

Dần dần, người ta đã thấy ông ở trong nhà thờ ngay chỗ vợ ông vẫn thường ngồi với con chó nằm thinh lặng dưới gầm ghế. Sau cùng ông đã tham gia cộng đoàn và cho phép Tin Mừng thấm nhập vào cuộc đời ông.

19. Sám hối

Có một vị ẩn sĩ nọ, sau bao nhiêu năm tu luyện bỗng thấy hương thơm sự thánh thiện của mình bay tỏa khắp nơi, nhiều người tiến đến vấn ký cũng như để xin ông cầu nguyện cho. Từ đó vị ẩn sĩ thường hãnh diện về tiếng tăm của mình. Một buổi sáng nọ, ông đến thăm một ngôi nhà thờ nằm bên cạnh một dòng sông. Đi dọc theo bờ sông, ông thấy có một người đàn ông đang ngồi khóc lóc thảm thiết. Đến gần, vị ẩn sĩ mới nhận ra đó là người đàn ông mà khi nghe nhắc đến tên tất cả mọi người dân trong vùng đều phải run sợ, vì hắn là một tên cướp giết người không gớm tay.

Vị ẩn sĩ định làm ngơ bỏ đi, nhưng người đàn ông tiến đến quì gối xuống trước mặt ông và xưng tội. Nghe xong một danh mục những tội mà cả đời ông không dám nghĩ tới, và khi so sánh với cuộc sống hoàn toàn trong sạch của mình, vị ẩn sĩ tự nhiên nổi giận. Ông nghĩ đến cơn giận thánh của Chúa Giêsu khi vào Đền thờ Giêrusalem, thế là thay vì đưa tay ban phép giải tội, vị ẩn sĩ lại to tiếng quát bảo người đàn ông như sau: “Một tên đầu trộm đuôi cướp như ngươi mà hy vọng được Chúa tha thứ sao? Ta nói thật cho ngươi: cây gậy ta đang cầm trên tay đây trở thành bông còn dễ hơn là việc Chúa tha thứ cho ngươi.”

Nói xong những lời đó, vị ẩn sĩ bỏ mặc cho tội nhân chìm đắm trong thất vọng và ông tiếp tục cất bước. Thế nhưng ông chưa kịp đi được mười bước thì cây gậy của ông đang cầm trong tay bỗng bị cắm sâu xuống đất. Ông dùng tất cả sức lực của mình để kéo nó lên khỏi đat nhưng cây gậy vẫn không nhúc nhích. Và lạ lùng thay, từ thân cây gậy, lá, cành và hoa trái từ từ mọc lên. Rồi nhà ẩn sĩ lại nghe có tiếng phán bảo: “Sự tha thứ của Chúa dành cho một tội nhân sám hối còn dễ hơn một cây gậy trổ bông. Một người có tội biết ăn năn trở lại được tha thứ còn dễ dàng hơn là một kẻ kiêu hãnh.”

20. Bắt đầu từ lòng sám hối

Tác giả cuốn Đắc Nhân Tâm kể lại kinh nghiệm của một vị giám đốc ngân hàng khá nổi tiếng ở Mỹ. Nhà kinh doanh này luôn mang theo cuốn sổ tay và ghi lại những việc xảy ra trong ngày. Cuối tuần, sau cơm tối, ông vào phòng đóng cửa lại và mở ra đọc. Trước mỗi sự kiện ông luôn suy nghĩ và tự hỏi: Lần đó tôi thành công nhờ đâu? Có thể khéo léo hơn được nữa không? Trong việc ấy, tôi sai ở chỗ nào và hậu quả ra sao? Mỗi khi nhận ra sai lầm, tôi rất xấu hổ và cố gắng rút ra bài học cho lần sau. Nhờ vậy, càng lớn tuổi tôi càng ít sai lầm và việc kinh doanh phát đạt hơn.

Nếu một người vì muốn thuận lợi cho công việc đã biết nhìn lại, để nhận ra những khuyết điểm và sửa sai, ngõ hầu có thể thành đạt hơn trong tương lai, vậy muốn sống cuộc đời có ý nghĩa nhất, chúng ta cần phải làm gì?

Kinh Thánh cho chúng ta những chỉ dẫn: Thánh Gioan tiền hô đã kêu mời dân chúng hoán cải để có thể đón gặp Đấng muôn dân đang trông đợi (Mt 3, 2). Còn Đức Giêsu, khi khởi đầu sứ vụ cứu thế, Người kêu gọi: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến.” (Mt 4, 17) Trước khi về trời, Đức Giêsu đã căn dặn các tông đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24, 47)

21. Niềm tin là ánh sáng chiếu soi trong bóng tối

Cuối thập niên 1970, Darryl Stingley, một cầu thủ thuộc hàng đầu thế giới, là thành viên của đội bóng New England Patriot. Một buổi chiều tháng tám nọ, trong một trận đấu trước mùa bóng, Daryl đã bị cầu thủ Jack Tatum của đội Oakland Raiders chơi xấu rất nặng. Cú va chạm mạnh vào xương do Tatum gây ra khíên chàng vận động viên 27 tuổi đời này bị tê liệt từ ngực trở xuống. Hiện nay Darryl chỉ có thể sử dụng được một bàn tay và suốt ngày phải quanh quẩn với chiếc xe lăn chạy bằng điện.

Ðối với Darryl Stingley, chiều hôm tháng tám ấy, ánh sáng đã tắt lịm rồi. Thế nhưng, Darryl không bao giờ đầu hàng. Chàng biết rằng đằng kia vẫn có một người có thể bật ánh sáng lên trở lại. Chàng tin vào lời tiên tri Isaia: "Dân chúng đang sống trong tăm tối sẽ nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng đó sẽ chiếu dọi trên những kẻ đang sống trong tối tăm chết chóc.” Và khi Ánh sáng đã bùng lên trở lại cho Darryl thì Ánh sáng ấy lại rạng rỡ hơn bao giờ hết. Darryl hiện vẫn phải ngồi xe lăn và không bước bộ được nhưng chàng đã có được một tầm nhìn hoàn toàn mới mẻ về chính mình và cuộc sống.

Trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Newsweek Darryl nhấn mạnh rằng về một số phương diện, cuộc sống hiện nay của chàng tốt đẹp hơn lúc trước. Chàng nói về những ngày còn chơi bóng với đội Patriots như sau: "Tôi đã từng có một thị kiến lờ mờ. Tôi chỉ muốn được trở thành một vận động viên giỏi hết sức có thể, nên rất nhiều sự việc vào thời gian đó đã bị lơ là bỏ qua. Giờ đây tôi đã trở về lại với dân chúng."

Stingley còn nói rõ hơn với phóng viên tờ Chicago Tribune rằng tấn thảm kịch đã biến cuộc sống của chàng nên tốt hơn một cách mới mẻ lạ lùng: "Ðối với tôi đây là một cuộc tái sinh. Không chỉ về mặt thể lý mà còn về mặt tâm linh nữa... Hiện nay, tôi đã thực sự tìm được nhiều ý nghĩa và mục đích hơn cho cuộc sống hơn bất cứ thời điểm nào trước đây.”

22. Ánh sáng dẫn đường

Có một bài ca phổ biến do Ðức Hồng Y Newman sáng tác. Bài ca này diễn tả cuộc tìm kiếm chính lộ của Ngài để bước theo Chúa Giêsu. Hồng Y Newman viết bài ca này khi còn là một thanh niên từ Ý vượt biển trở về cố hương của Ngài là Anh Quốc. Trong lúc con tàu nán lại ở Sicile, chàng trai Newman bị ngã bệnh suýt chết. Trong thời gian bình phục, chàng đã viết lại những dòng sau:

Ôi ánh sáng yêu thương,

Xin dẫn con đi giữa cơn tăm tối mịt mùng.

Xin hãy dẫn dắt con,

Vì bóng đêm quá dầy đặc,

Mà con lại đang xa nhà.

Xin hãy dẫn dắt con,

Hãy điều khiển bước chân con.

Con không xin đựơc trông thấy

Cảnh tượng từ đằng xa,

Mà chỉ xin được dẫn đi từng bước,

Từng bước một thôi!

23. Trên mọi nẻo đường cần có ánh sáng

Một người canh giữ ngọn đèn biển tại Calais đang kể về độ sáng của ngọn đèn. Theo ông, ánh sáng của nó có thể thấy được từ khoảng mười dặm Anh đường biển. Một du khách hỏi ông:

- Nếu đèn tình cờ bị tắt thì sao?

- Không bao giờ! Không thể được!

Ông ta la lên, kinh hãi vì ý tưởng đó, và chỉ tay ra ngoài biển:

- Thưa ông, ngoài kia, ở nơi chúng ta không thấy được, có những con tàu đang đi đến mọi miền thế giới. Nếu tối nay, ngọn hải đăng bị tắt đi thì trong vòng sáu tháng tôi sẽ nhận một lá thư đến từ Ấn độ, Mỹ châu, hay từ một nơi mà tôi chưa từng nghe nói đến. Lá thư đó viết ‘vào đêm đó, giờ đó, ngọn hải đăng Calais lu mờ, người trực bỏ bê trách nhiệm, tàu biển gặp nguy hiểm.’ Thưa ông, có những lúc trong đêm tối, thời tiết bão tố, tôi nhìn ra biển, và cảm thấy như những đôi mắt của thế giới đang nhìn vào ngọn đèn của tôi.

Bị lụi tắt? Hay mờ nhạt đi? Không bao giờ!

(D. Williamson)

Sẽ ra sao nếu một chiếc tàu đang vào bờ giữa đêm tối mù mịt mà không có đèn biển? Sẽ ra sao nếu trong hành trình cuộc đời, người ta giải quyết các vấn đề mà không có niềm tin?

Trên mọi nẻo đường, cần có ánh sáng!

24. Ai tìm thì sẽ gặp

Cha Burns là chủ chăn mới của một ngôi nhà thờ nhỏ ở Kavirando, Phi châu. Chủ nhật đầu tiên ngài thấy một người què lết ra giữa lối đi của nhà thờ để tìm đường ra sau giờ lễ. Một tháng sau, cha lại thấy anh xuất hiện trong nhà thờ. Sau thánh lễ, cha hỏi thăm anh:

- Chào anh bạn, có lẽ tôi đã thấy anh một lần rồi.

- Con tên là Joseph, anh mỉm cười.

- Thấy anh đi lễ, tôi mừng lắm, nhà anh có gần đây không?

- Con ở làng bên cạnh, cách đây khoảng 40 km.

- Anh phải lết 40 km để đi dự lễ ư?

- Vâng, thưa cha! Rất tiếc là con không thể dự lễ mỗi tuần. Mỗi tháng một lần là hết sức con rồi, đường xa mệt lắm cha ạ!

- Lần sau, anh cứ ở nhà, cha Burns đề nghị, tôi sẽ qua làng anh dâng thánh lễ, mỗi tháng một lần. Anh có thể dự lễ và rước lễ tại nhà. Có lẽ một vài người bạn bè không công giáo của anh cũng thích đến đó với anh.

Từ đó, ngôi nhà tranh nhỏ bé của Joseph trở thành nhà cầu nguyện. Chúa Giêsu đến ngự ở đó. Nhiều bạn bè Joseph đến tham dự thánh lễ. Dần dà họ xây được một nhà nguyện xinh xắn và một linh mục được phái đến với họ. Đôi lúc Joseph nghĩ trong lòng rằng chính nhờ những buổi đi lễ cực nhọc ở Kavirando mà hôm nay Chúa đã ngự ở đây!

25. Từ bỏ tất cả để được tất cả

Nhà tâm lý Abraham Maslow có một giải đáp lý thú cho câu hỏi tại sao có quá ít người dám “từ bỏ tất cả” để đi theo một ước mơ hoặc săn đuổi một mục đích cao thượng. Ông nói rằng họ sợ đạt được điều họ có thể. Họ hân hoan vì khả năng của họ, nhưng cũng rùng mình vì nó.

Tôi đã đáp trả thế nào cho suy nghĩ muốn bước đi trong niềm tin và gắn bó với Chúa Giêsu? Tôi đã phản ứng ra sao với ý tưởng dấn thân vào một mục đích cao cả với Chúa Giêsu?

Hiện tại là món quà Chúa trao tặng tôi. Tương lai là món quà tôi dâng lên Chúa.

26. Tình yêu chiếu sáng và lòng vị kỷ chắn sáng

Điêu khắc gia đại tài Michelangelo thường gắn một cây nến nhỏ trên nón mình để cái bóng của ông không đổ lên bức tranh đang vẽ, lên pho tượng đang đắp. Điều đó làm cho F.L.McKean suy nghĩ: “chúng ta cũng phải hết sức cẩn thận, đừng để cho cái bóng của mình, những kẻ tìm kiếm tư lợi, đổ trên điều mà chúng ta đang làm cho Chúa Kitô.”

Đúng thế, thập giá Đức Kitô cũng có thể ra vô hiệu khi bị che chắn bởi bóng tối của lòng vị kỷ nơi các Kitô hữu, tình yêu tinh tuyền của Đức Kitô bị lu mờ bởi sự chia rẽ giữa những kẻ tuyên xưng niềm tin vào Ngài. Vì thế mà thánh Phaolô tha thiết nài xin: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2-4).

“Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết ở nhiệt thành, biết mến Chúa cho xứng đáng, biết thi ân mà không xá kể, biết chiến đấu mà không sợ đau thương, biết hoạt động mà không tìm an nghỉ. Tận tình với chức vụ mà không mong phần thưởng nào khác, một biết mình làm theo ý Chúa luôn. Amen” (thánh Ignatiô Loyôla)

27. Bác sĩ để quên

Paddy đang hồi phục sau ca mổ, ba bạn thân ghé thăm để khích lệ anh. Ngoài chuyện thăm hỏi, họ kể cho anh về những ca mổ họ nghe biết.

Một người nói: “Tôi nghe có một ca mổ họ để quên cái gạc trong bụng bệnh nhân và phải mổ để lấy ra.”

Người khác kể về ca mổ bác sĩ để quên kéo bên trong và bệnh nhân phải mổ lần nữa để lấy ra. Vừa nói xong, bác sĩ thực hiện ca mổ cho Paddy thò đầu vào cửa gọi lớn: “Có ai thấy mũ của tôi không?” Và Paddy ngất đi.

Một lần xưng thú không chân thành giống như một ca mổ tồi tệ. Một vài thứ bị để quên và phải thực hiện một ca mổ khác để lấy ra.

CNTN 3B - NHỮNG KẺ CHÀI LƯỚI NGƯỜI

Lời Chúa: Mc 1, 14-20

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm.” Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người.”

Lập tức các ông bỏ lưới theo Người. Đi xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người. Đó là lời Chúa.

TRUYỆN KỂ

1. Chàng trị trưởng trẻ

Tin tức trên báo chí (theo VietCatholic News ngày 22/9/2000) về chàng thị trưởng đẹp trai của thành phố Ficarra, mới 34 tuổi, đã lặng lẽ từ nhiệm để đi tu, đã gây chấn động toàn nước Ý.

Hôm 20/09/2000, Antonio Mancuso đã chính thức đến trình diện tại một dòng tu ở Milan, bắt đầu cuộc đời một tu sĩ. Antonio cho biết anh đã thấy mình có ơn gọi linh mục từ ngày còn là cậu bé giúp lễ, đã suy nghĩ trong bao năm về vấn đề này và trằn trọc rất nhiều sau khi theo dõi các bài thuyết giảng của Đức Thánh Cha trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới Lần Thứ 15. Antonio bỏ lại sau mình chức vụ thị trưởng, căn nhà do cha anh để lại, một mẹ già, hai anh em, và thành phố Ficarra xinh đẹp với 2.000 cư dân dưới quyền.

Quyền thị trưởng Franco Tumeo đã xác nhận quyết định của Antonio với thông tấn xã ANSA. Ông nói: "Quyết định mà thị trưởng chúng ta đã chọn cần phải được hoàn toàn tôn trọng và hy vọng rằng không ai lợi dụng chuyện đó. Chẳng cần phải nói, chúng ta cầu chúc cho Antonio Mancuso những điều tốt đẹp nhất với xác tín rằng quyết định của anh là hoa trái của những suy nghĩ trong nhiều năm qua." Quyết định từ nhiệm của anh sẽ khiến cho thành phố Ficarra phải bầu cử lại sớm hơn, có lẽ vào tháng 6/2001. Tạm thời một ủy ban đặc biệt sẽ thay thế công việc của nguyên thị trưởng. Với bằng chính trị học ưu hạng, Antonio đang là một ngôi sao sáng chói của đảng Dân Chủ Thiên Chúa giáo Ý.

Anh đã là thị trưởng trẻ nhất của quốc gia này, lúc mới 27 tuổi, từ 1992 đến cuối tháng 9 vừa qua. Ngày 14/09/2000, một tháng kể từ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới Lần Thứ 15, sau nhiều đêm không ngủ, Antonio đã từ giã tòa thị trưởng chẳng nói với ai một lời nào. Thư từ nhiệm đã được gởi đến văn phòng 2 ngày sau đó qua đường bưu điện.

2. Sống và chia sẻ niềm tin

Đức Tổng Giám mục Helder Camara của Braxin có lần đã chia sẻ kinh nghiệm như sau:

Tôi có người anh lớn hơn tôi 5 tuổi, đã rửa tội từ lúc mới sinh, và từng theo học nhiều năm trong trường dòng. Nhưng lớn lên anh bắt đầu bê trễ, bỏ đọc kinh, bỏ dự lễ, và cuối cùng bỏ… đạo.

Sau khi tôi thụ phong linh mục, anh cùng với tôi sống chung với người chị độc thân. Mỗi lần biết tôi sắp đi giảng tĩnh tâm, anh lại hỏi:

- Hôm nay chú nói về đề tài gì?

Tôi lại có dịp giải thích cho anh những điều mình sắp giảng. Anh chỉ lắng nghe, không bình luận.

Tám năm sau, anh bị mắc căn bệnh hiểm nghèo. Biết mình sắp chết, anh gọi tôi lại và nói:

- Lâu nay tôi để ý quan sát, thấy không có sự cách biệt giữa lời chú giảng và việc chú làm. Vậy xin hỏi chú, tôi có thể dựa vào Đức tin của Chúa để rước lễ không?

Tôi trả lời:

- Em tin là Chúa lòng lành vô cùng sẽ đoái thương anh.

Bấy giờ anh tôi nói trong nỗi xúc động:

- Ngay bây giờ thì chưa được đâu, vì tôi chưa xưng tội.

Tôi định tìm cho anh một linh mục khác nhưng anh đòi xưng tội với tôi. Sau khi rước lễ xong, anh thều thào trong nước mắt.

- Tôi tin, tôi tin, chú ạ. Bây giờ tôi tin không phải dựa vào đức tin của chú, mà tôi thực sự xác tín rằng Chúa yêu thương tôi!

Ít phút sau đó anh đã ra đi trong bình an, thanh thản.

3. Tôi đang làm việc cho ai

Chuyện này kể về một vị rabbi thánh thiện. Trong tỉnh của ông, những nhà giàu ở một vùng biệt lập nên phải thuê người canh gác ban đêm.

Một đêm kia vị rabbi trên đường về nhà thì gặp một người gác dan đang đi tới đi lui. Vị rabbi hỏi: "Anh đang làm việc cho ai vậy?" Người gác dan không trả lời mà hỏi lại: "Thế ông đang làm cho ai vậy?" Câu hỏi quá bất ngờ, xưa nay vị rabbi chưa hề nghĩ đến. Vì thế ông bối rối đáp "Tôi không làm việc cho ai cả." Nhưng trả lời xong ông còn bối rối thêm. Thế là hai người cứ im lặng đi tới đi lui bên nhau. Một lúc sau, vị Rabbi hỏi người gác dan: "Anh có muốn làm việc cho to không?" Người gác dan cũng đáp lại bằng một câu hỏi: "Nhưng ông mướn tôi để làm gì?" Vị rabbi trả lời: "Để thỉnh thoảng ông lại hỏi tôi câu hồi này: "Ông đang làm việc cho ai vậy?"

Đó cũng là câu chúng ta phải thỉnh thoảng hỏi chính mình: "Tôi đang làm việc cho ai vậy?" (Flor McCarthy)

4. Dòng suối vọng từ xa.

Một nhà thám hiểm nọ, lạc mất giữa sa mạc, đi từ đụn cát này sang cồn cát nọ, nhìn hết hướng này sang hướng kia, nơi đâu cũng chỉ thấy toàn là cát với cát. Lê gót trong tuyệt vọng, tình cờ, chân ông vấp phải một cây khô, ông vấp ngã và nằm vùi trên gốc cây, ông không còn đủ sức để đứng lên, ông không còn đủ sức để chiến đấu và ông cũng không còn chút hy vọng sống sót nào.

Trong tư thế bất động ấy, nhà thám hiểm bỗng ý thức được sự thinh lặng của sa mạc: bốn bề chỉ có thinh lặng. Thình lình, ông ngẩng đầu lên, trong sự thinh lặng tuyệt đối của sa mạc, ông bỗng nghe được như có tiếng thì thào yếu ớt vọng lại bên tai. Dồn tất cả sự chú ý, nhà thám hiểm mới nhận thức: đó là tiếng róc rách chảy của một dòng suối từ xa vọng lại. Như sống lại từ cõi chết, ông định hướng nơi xuất phát của tiếng suối, rồi dùng nguồn năng lực còn sót lại, ông cố gắng lê lết cho đến khi tìm được dòng suối.

Cuộc sống có quá nhiều bận rộn và ồn ào, khiến chúng ta không nghe được tiếng nói và nhận ra sự hiện diện của Chúa. Có thinh lặng từ cõi lòng chúng ta mới nghe được tiếng mời gọi thì thầm của Chúa trong từng giây phút của cuộc sống.

5. Thánh Phanxicô Borgia.

 Phanxicô Borgia (1510-1572) được cắt cử tháp tùng thi hài của hoàng hậu Isabelle, một mỹ nhân sắc nước hương trời, đến chỗ an táng của hoàng tộc. Trước khi hạ huyệt, quan tài được mở ra để được xác nhận. Cảnh tượng đã làm đảo lộn cuộc đời chàng. Phanxicô từ biệt triều đình, vào dòng Tên, trở nên vị thánh. Tổng quyền thứ ba của dòng. Ngài nói:”Từ nay mọi danh vọng và lạc thú trần gian chẳng dính dáng gì đến Phanxicô nữa”! Phanxicô Borgia đã nghe một tiếng gọi từ bên trong.

 Ngày hôm nay, trên khắp mọi nẻo đường trần gian, chúng ta vẫn có thể giáp mặt với Đức Giêsu khi Ngài đi ngang qua giữa chúng ta, như xưa Ngài đãõ “đi ngang qua” giữa các môn đệ bên bờ sông Giorđan.

 Đức Giêsu không bao giờ ép uổng, không bao giờ giăng bẫy rình bắt ai. Ngài chẳng hề làm áp lực, cũng không tìm cách mê hoặc dụ dỗ người nào. Nguời ta vẫn có thể đi sát bên Ngài mà không hay biết, vẫn có thể thấy Ngài mà không buồn nhìn theo. Có khi chúng ta phải cần đến cái nhìn hay lời khuyên của một ai khác, của ai đó thì thầm bên tai “Đây là chiên Thiên Chúa." Tuy nhiên chỉ có người nào biết tìm kiếm và khát khao chân lý và tình yêu thật mới có thể nắm bắt, mới có thể lay động và lắng nghe (Fiches dominicales B, tr 66).

6. Sức mạnh biến đổi của tình yêu

Ngày kia có một cụ già, thật già, già đến nỗi cụ không thể nhớ những ngày tuổi trẻ của cụ nữa. Hình như cụ thực sự chưa hề biết tuổi trẻ là gì. Trong đời sống của cụ, cụ chưa hề biết suy nghĩ, cũng không biết khóc. Không gì trên trần gian này có thể làm cho cụ ngạc nhiên hoặc cụ phật lòng. Cụ sống những ngày lặng lẽ trôi qua một cách buồn nản và nhàn rỗi bên trong một cái lều nhỏ dựng ở đầu làng. Cụ thường nhìn mọi sự với cặp mắt đầy dửng dưng. Tuy nhiên, những người trong làng lại kính trọng cụ như người khôn ngoan và thường đến xin cụ những lời khuyên bảo.

Thanh niên trong làng hỏi cụ: phải làm gì để được hạnh phúc?

Cụ đáp:

- Hạnh phúc chỉ là phát minh của người khờ dại.

Cả những người có tâm hồn cao thượng, có thiện chí muốn phục vụ người khác cũng dừng bước hỏi cụ:

- Phải làm cách nào để hiến thân phục vụ cho mọi người?

Cụ trả lời:

- Hiến thân phục vụ cho người khác chỉ là một việc điên rồ vô ích.

 Một phụ huynh đến hỏi:

- Phải làm thế nào để giáo dục con cái đi để chúng biết đi trên đường thánh thiện?

Cụ trả lời cách mỉa mai:

- Con cái chẳng khác gì như con rắn độc, phải coi chừng khỏi bị rắn cắn.

Ngày này qua ngày khác, những lời khuyên bảo đầy vẻ bi quan của cụ như những mũi thuốc độc ngấm vào tâm trí mọi người già trẻ trong làng. Đời sống của dân làng bị chôn vùi trong bầu khí bi quan nghẹt thở đó. Thế rồi, một Thiên Chúa đoái nhìn tới cụ với cặp mắt đầy thương xót và thầm nhủ

- Thật là tội nghiệp cho cụ già suốt đời không được ai yêu thương

Rồi Chúa gọi một em bé đến và bảo:

- Hãy đi đến tặng cho cụ già một cái hôn đầy tình thương.

Em bé vui vẻ chạy đến túp lều xiêu vẹo ở đầu làng, ôm cổ cụ già và đặt lên má cụ một cái hôn đầy âu yếm. Lần đầu tiên trong đời, cụ già thấy cảm thấy xúc động. Nụ hôn hồn nhiên của em bé đã làm cho tâm hồn chai đá và dửng dưng của cụ rung lên. Trong chốc lát, mắt cụ bỗng sáng lên và thay đổi cái nhìn về mọi sự. Sau cùng, cụ đã cảm nghiệm được thề nào là niềm vui, hạnh phúc và thế nào là lạc quan. Với niềm vui sướng đó, cụ già tắt thở trong nụ cười và ánh mắt còn hướng về em bé đã ban tặng cụ nụ hôn, nụ hôn có sức biến đổi đời sống cụ. Amen.

7. Tình yêu là lẽ sống

Vào một buổi chiều năm 1953 các ký giả và một số nhân viên chính phủ tụ tập nhau lại tại một nhà ga xe lửa ở Chicago để chào mừng người vừa được giải thưởng Hòa bình Nobel năm đó trở về quê quán của mình.

Người vừa xuống khỏi xe là một người đàn ông to lớn, tóc ngắn, chòm râu cắt rất gọn ghẽ.

Các máy hình chớp liên hồi. Còn các nhân vật cao cấp của thành phố thì mở rộng vòng tay chuẩn bị đón chào người con yêu quí của quê hương.

Người được giải Nobel đưa tay chào mọi người và rồi ngay lâp tức ông đưa mắt hướng về hướng bên phải của sân ga. Sau đó ông xin kiếu mọi mọi người vài phút rồi đi thẳng về hướng đó. Mọi người đều nghĩ là chắc ông để quên một cái gì chăng.

Ông băng qua đám đông đi thẳng đến chỗ một người đàn bà lớn tuổi đang khệ nệ với hai cái "valises" nặng hai bên. Ông giơ tay đỡ lấy một cái, mỉm cười với bà và dẫn bà ra một chiếc xe búyt gần đó. Sau khi giúp người đàn bà lên xe xong, ông chúc bà thượng lộ bình an. Rồi quay lại với những người đang chờ chào đón ông, ông nói với họ: "Xin lỗi quí vị vì đã bắt quí vị phải chờ đợi"

 Người mà tôi vừa nói đó là Bác sĩ Albert Schweitzer, một nhà truyền giáo nổi tiếng đã dành cả cuộc đời của mình để phục vụ những người nghèo tại Phi châu. Chính vì những phục vụ vô vị lợi và cao cả của ông mà ủy ban Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel Hoà bình năm đó cho Ông.

Chứng kiến cử chỉ bình thường nhưng cũng rất cao thượng đó, một người trong ban tổ chức lễ đón tiếp đã nói với các ký giả như thế này "Đây là lần đầu tiên tôi thấy một bài giảng biết đi."

8. Ai tìm thì sẽ gặp

John Henry Newman đến Rôma vì muốn minh xác Chúa Giêsu có mời gọi ông theo Ngài như một Kitô hữu hay không?

Một ngày kia trên đường trở về, ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hướng dẫn con. Con không thể tìm được đường đi. Xin hướng dẫn con, ôi Ánh Sáng dịu dàng!"

Những lời này đem lại cho ông sự an bình, đến nỗi ông lấy bút và bắt đầu viết: Ông đã viết lời cho một thánh ca nổi tiếng: “Xin hướng dẫn con, ôi Ánh Sáng dịu dàng."

Trở về Anh, ông đã gia nhập đạo Công giáo và trở thành một trong những người lãnh đạo vĩ đại nhất. Đó là Đức Hồng Y Newman.

Tôi có thể nhớ lại đã bao giờ tôi đặt tất cả niềm tin vào Chúa, để Ngài dẫn tôi qua tăm tối mịt mùng như Newman chưa?

“Xin hướng dẫn con, ôi Ánh Sáng dịu dàng. Đêm thì tăm tối, mà con lại ở xa quê. Xin hướng dẫn con… Con không đòi hỏi được thấy. Bước đường còn xa, nhưng chỉ một lời hứa đã đủ cho con” (John Henry Newman) (Trích “Viễn tượng 2000”).

9. Chúa giêsu là bước ngoặt cho lịch sử một cuộc đời

Tháng chín năm 1862 cuộc Nam Bắc phân tranh của Hoa Kỳ đã dứt khoát nghiêng thế thuận lợi về cho quân đội phương Nam. Tinh thần quân đội phương Bắc rơi vào mức thấp nhất của cuộc chiến. Một số rất lớn các toán quân liên bang rút lui về Virginia. Các nhà lãnh đạo địa phương bắt đau lo sợ điều tệ hại nhất sắp xảy ra. Họ không còn phương cách nào để đảo ngược tình thế và biến những toán quân bị đánh te tua, kiệt sức trở thành một đạo quân hữu dụng trở lại.

Chỉ có một vị tướng có thể làm nên được phép lạ này. Đó là tướng Mc.Clellan. Ông đã huấn luyện binh lính chiến đấu, họ yêu qúi và khâm phục ông. Thế nhưng bộ quốc phòng đã không thấy điều này; cả đến nội các chính phủ cũng chả nhận thấy ngoại trừ một mình Tổng Thống Lincoln. May mắn thay, Lincoln đã phớt lờ những lời phản đối của các cố vấn và đặt Mc.Clellan trở lại vị trí chỉ huy. Lincoln ra lệnh cho ông xuống Virginia để tặng cho các binh sĩ ấy điều mà không người nào khac trên mặt đất có thể trao cho họ, đó là: Nhiệt tình, sức mạnh và Hy vọng. Mc.Clellan chấp nhận nhiệm vụ chỉ huy. Ông leo lên con ô mã to lớn và phóng xuống những nẻo đường cát bụi ở vùng Virginia.

Quả là khó giải thích điều xảy ra tiếp sau đó. Các lãnh tụ phương Bắc chẳng thể giải thích được. Các binh lính phương Bắc cũng chẳng thể giải thích được. Ngay cả Mc.Clellan cũng chẳng thể giải thích được. Mc.Clellan gặp các lực lượng Liên Bang đang rút quân. Ông giơ nón lên cao vẫy chào và hô lên những khẩu hiệu cổ xuý lòng can đảm. Nhìn thấy chủ tướng quí yêu, đám lính mệt mỏi bắt đầu bình tâm lại: Họ bắt đầu cảm giác một cách kỳ lạ rằng kể từ bây giờ mọi sự sẽ đổi khác. Và giờ đây mọi sự đều có thể ổn định trở lại.

Bây giờ chúng ta hãy xem Bruce Catton một sử gia danh tiếng viết về cuộc nội chiến đã mô tả nỗi phấn khích ngày càng gia tăng khi có tin Mc.Clellan lại trở về vị trí chỉ huy như sau: “Từ dặm này đến dặm nọ suốt con đường vùng Virginia những toán quân đi đứng chuệnh choạng bắt đầu hồi sinh, họ ném mũ nón, túi vải lên không trung và hò hét cho đến khi khan cả cổ… bởi vì họ đa nhìn thấy vị anh hùng lanh lợi nhỏ con ấy đang cỡi ngựa xuất hiện dưới ánh sáng sao màu tím. Một cách nào đó, đây chính là bước ngoặt của cuộc chiến… không ai có thể cắt nghĩa được điều ấy cho đầy đủ… (Trích trong cuốn this Hallowed Ground: vùng đất Thánh này)

Nhưng dẫu sao, đó chính là điều mà Lincoln và phương Bắc đang cần và lịch sử đã mãi mãi thay đổi nhờ điều ấy.

Câu chuyện của tướng Mc Clellan cho thấy nguời lãnh đạo ảnh hưởng đến tinh thần kẻ dưới mãnh liệt thế nào. Ralph Emerson quả quyết: “Điếu cần thiết cốt yếu trong cuộc sống là gặp được một ai đó có khả năng giúp ta làm những gì ta có thể làm."

Đấy là công việc của Chúa Giêsu qua Tin mừng hôm nay. Chẳng những Chúa Giêsu tạo nguồn hứng khởi cho ta, mà Ngài còn làm hơn thế nữa. Ngài có thể ngự vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực hiện tiềm năng sung mãn nhất của mình.

10. Tiếng gọi của tình yêu

Văn hào Montalembert có một cô con gái dâng mình làm nữ tu. Ông viết: “Người tình ấy là ai, chết treo trên cây thập giá mà có thể lôi kéo như vậy? Người tình ấy là ai mà có một sức hấp dẫn không cưỡng lại được, như một con chim mồi sà xuống và cuốn đi? Phải chăng đó là một người? Không. Đó là Thiên Chúa. Đó là bí ẩn, đó là chìa khóa đưa vào cõi thâm sâu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thành công và đòi hỏi một cuộc hy sinh như thế.”

Bà Thánh Jeanne-Francoise Chantal (1572-1641) là một bà mẹ đạo đức. Sau khi chồng qua đời, bà lo nuôi dưỡng, giáo dục và tác thành cho bốn con, có nơi có chốn tự lập được. Bà nghe tiếng Chúa gọi sống đời tận hiến, giúp đỡ người nghèo. Nhưng ngày bà quyết định ra đi thì các con ngăn cản và nằm ngang chận cửa. Nước mắt tràn trụa, Bà nói: “Dầu sao tôi cũng là một Bà Mẹ." Nhưng tình thương Chúa mạnh hơn tình mẫu tử, Bà bước qua con và đi Annecy, lập nên Dòng Thăm Viếng, tháng 6 năm 1610.

Họ ra đi theo tiếng gọi của Chúa, nhưng đối lại, Chúa hứa ban cho họ những gì? Thật lạ lùng! Ngài không hứa ban cho họ một cuộc sống dễ dãi đầy tiện nghi vì chính Ngài cũng “Không có một hòn đá gối đầu!” Ngài không hứa ban chức tước, đường hoạn lộ tiến thân, vì Ngài truyền dạy phải chọn chỗ tốt nhất, không được tự gọi là Thầy, là Cha mà chỉ là tôi tớ. Ngài không hứa ban cho một cuộc sống nhàn hạ, vì “ai đã ra tay cầm cày, thì không được ngó lui.” Vậy, Ngài hứa gì? Thưa: Một đời sống dấn thân phục vụ các linh hồn, một đời sống vất vả đi “chài lưới người”, bắt từng cá nhân, từng tập thể.

11. Tin Mừng của sám hối

Trong sưu tập về các thánh ẩn tu trong sa mạc, có kể giai thoại như sau: Có hai tội nhân quyết tâm vào sa mạc để ăn chay đền tội. Nguyên một năm ròng rã, mỗi người giam mình trong một túp lều riêng, ngày đêm ăn chay, cầu nguyện và đánh tội. Ngày ngày các tu sĩ của cộng đoàn nọ đem thức ăn đến tận căn lều riêng cho từng người. Sau đúng một năm thử thách, các tu sĩ nhận thấy có sự khác biệt giữa hai người: một người thì vui vẻ, khỏe mạnh; một người thì ốm o buồn phiền. Cả hai đến trình diện trước Bề Trên cộng đoàn để chờ xem họ có xứng đáng được gia nhập cộng đoàn hay không. Khi được hỏi suốt một năm qua, họ đã suy niệm về những gì.

Người ốm o buồn sầu cho biết:

– Trong năm qua, ngày ngày tôi nhớ lại những tội đã phạm, từng giây từng phút tôi nhớ đến những hình phạt sẽ gánh chịu, tôi sợ hãi đến mất ăn mất ngủ.

Đến lượt mình, người vui vẻ khỏe mạnh trả lời:

– Suốt một năm qua, từng giây từng phút, tôi hằng cảm tạ Chúa vì đã tha thứ cho tôi: tôi luôn nghĩ tới tình yêu của Ngài.

Các tu sĩ trong cộng đoàn rất cảm kích trước tâm tình của người vui tươi khỏe mạnh vì lòng sám hối của anh đã biến thành lời ca cảm tạ tri ân tình yêu Chúa.

Sám hối là khởi đầu của sự nên thánh. Dĩ nhiên, không phải tất cả những vị thánh đều bắt buộc phải là những tội nhân, nhưng tất cả đều phải bắt đầu với ý thức về tội lỗi và sự yếu hèn của mình. Càng ý thức về con người tội lỗi, bất toàn của mình, con người càng cảm nhận được tình yêu của Chúa. Đó là cảm nhận của vua Đavít, của thánh Phêrô, của thánh Augustinô và của tất cả các vị đại thánh trong lịch sử Giáo Hội.

Lời đầu tiên Chúa Giêsu dùng để khai mạc sứ mệnh của Ngài chính là: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."

12. Đôi tay của Chúa

Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và sự tin tưởng của người dân trong làng vừa mới được giải phóng khỏi tay quân đội Đức quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng minh cố gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.

Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như toàn bức tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là không thể nào hàn gắn lại được, vì các mảnh vỡ quá vụn nát. Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ dở công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không những đánh động được tâm hồn của những người dân trong làng, mà còn thu hút nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc tận mắt hàng chữ đầy ý nghĩa. Anh chị em có đoán được hàng chữ này không? Đó là: “Chính bạn là đôi tay của Chúa."

Thiên Chúa cần con người. Chúa Giêsu cần chúng ta như đôi tay nối dài của Ngài.

13. Sức mạnh của tình yêu

Cựu Hoàng Edward VIII của Anh Quốc, vào năm 1936 khi còn đang trên ngai Hoàng Đế nước Anh, bỗng ông si mê một thiếu phụ thuộc hàng thứ dân, đã một lần bà ly dị chồng.

Theo luật Anh Quốc, thì nhà Vua không được phép cưới một người đàn bà như thế, vì là điều xỉ nhục cho quốc thể. Bởi đó, nhà Vua phải chọn một trong hai con đường:

Phải bỏ mối si tình đó, nếu còn muốn là Hoàng Đế cai trị Anh Quốc.

Nếu muốn được yêu đương tự do thì phải bỏ ngôi vị Hoàng Đế, trở thành một người thứ dân.

Chỉ vì muốn đáp tiếng gọi của ái tình, Cựu Hoàng Edward đã chọn con đường thứ hai, trả lại cho Anh Quốc uy quyền và mọi danh vọng, để được cùng người yêu sang Pháp Quốc, sống cuộc đời bình thường như mọi người công dân khác.

Thế rồi, vào 1972 Cựu Hoàng Edward bỗng lâm bệnh nặng. Vừa được tin này, Nữ Hoàng Elizabeth là cháu của ông đang cai trị Anh Quốc, vội vàng từ Luân Đôn bay thẳng sang Paris, xin vào thăm bác của bà, nhưng Cựu Hoàng Edward nhất mực từ chối. Sau vì Nữ Hoàng năn nỉ mãi, nên ông đã đòi một điều kiện là: Nếu bà muốn được vào thăm ông, thì phải phong cho người yêu của ông trở thành hàng công chúa, để người yêu của ông được nở mày nở mặt với đời, không còn bị người đời mỉa mai là hạng đàn bà thứ dân.

Vì tình huyết nhục, Nữ Hoàng Elizabeth đành phải chấp nhận điều kiện để ông được toại nguyện. Thế là ông vui sướng đến độ ngất xỉu, rồi chết luôn ngày 28 tháng 5 năm 1972. Cựu Hoàng Edward VIII chỉ vì muốn được tự do theo tiếng gọi của ái tình, ông đã đành bỏ ngai vàng Hoàng Đế và mọi vinh sang danh vọng; nhưng rồi lại cũng chỉ vì muốn danh vọng cho người yêu của ông, mà ông đã vui sướng đến chết đi vì danh vọng.

14. Sám hối là bước đầu tiên

“…Suốt năm năm qua, không đêm nào là em không tự sám hối về những lỗi lầm mình đã gây ra, vì em tin rằng, sám hối cũng là một cách để nhắc nhở mình không bao giờ được phạm phải sai lầm như thế nữa” và “em tin với những gì mình đã nhận ra, cảm thấy, với quyết tâm trong lao động, cải tạo em sẽ có cơ hội làm lại đời mình, có cơ hội để bù đắp lại những gì mình gây ra cho anh chị, vợ con. Anh chị hãy tha thứ và cho em một cơ hội nữa anh chị nhé." Một lá thư phạm nhân trại giam Thanh Lâm gửi cho gia đình bị hại, lời sám hối lỗi lầm của mình đã gây ra, mong được tha thứ và quyết tâm sửa đổi và làm lại cuộc đời và đã viết ra những dòng sám hối chân thành này.

Một bức thư khác, phạm nhân đã tâm sự: “…dù cháu có nói thế nào đi nữa, hay có phải chịu hình phạt nghiêm khắc thế nào thì cũng không thể làm vơi đi nỗi đau mà gia đình bác phải trải qua khi phải mất đi người con yêu quý, nhưng trong thâm tâm cháu lúc nào cũng cầu mong nhận được sự tha thứ từ gia đình của bác vì sự việc xảy ra…."

Lời xin lỗi không bao giờ là muộn. Cho dù, lời đó có được chấp nhận để tha thứ hay không, thì còn phải tùy thuộc vào thời gian vết thương được chữa lành. Nhưng ít ra, phạm nhân nói lên nỗi lòng của mình, và họ sẽ vơi đi nỗi ray rứt, dằn xé của lương tâm, vì tội lỗi mình đã gây ra. Và gia đình bị hại cảm thấy nhẹ đi phần nào sự căm phẫn và oan ức. Sống trên đời cần có một tấm lòng. Một tấm lòng khoan dung, vị tha là tâm hồn cao thượng. Hơn nữa, lời xin lỗi là một tiến trình sám hối của một con người biết nhìn ra sai lầm và tội lỗi của mình. Đây cũng là chủ đề chính trong các bài đọc Lời Chúa hôm nay.

Khởi đi từ sách Giô-na, Thiên Chúa sai ông đến thành Ni-ni-vê, kêu gọi dân chúng bỏ đường gian ác mà trở lại, ăn năn sám hối thì tại họa sẽ không giáng xuống trên họ nữa. Và Chúa Giê-su bắt đầu sứ mạng rao giảng, Ngài kêu gọi: ” Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đến gần. Anh em hãy sám hối và tin Tin Mừng.” (Mc 1, 15)

15. Lời Chúa gọi hôm nay

Khi 15 tuổi, Margaret Mehren là một thành viên của phong trào thanh thiếu niên Đức Quốc Xã ở Đức.

Sau cuộc chiến, cô tìm hiểu về sự diệt chủng trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Và cô thật sửng sốt. Bỗng dưng cô nhận ra rằng Hitler không phải là một người lãnh đạo đáng vinh dự như cô nghĩ. Cô thề sẽ không bao giờ tin vào người lớn.

Chính trong tâm trạng này mà Margaret cũng bắt đầu hồ nghi về thái độ vô thần của cô. Một ngày kia cô cầu xin với Thiên Chúa, “Lạy Chúa, nếu Ngài thực sự hiện diện, hãy cho con những dấu hiệu.”

Khoảng thời gian này, tình cờ cô đọc Kinh Thánh. Cô cố gắng đọc một vài lần, nhưng chẳng tìm thấy ý nghĩa gì cả. Và rồi một đêm kia, cô lại cầm quyển sách ấy lên. Lần này, nó thật có ý nghĩa! Sau này cô viết:

Điều gì đó đã xảy đến với tôi khi đọc những lời của Chúa Giêsu. Tôi biết Người đang sống!… Tôi biết Người ở đó, tuy tôi không nghe và thấy gì cả.

Đức Giêsu thì có thật, thật hơn bất cứ gì chung quanh tôi – bàn ghế, sách vở, chậu kiểng. Tôi không còn cô độc. Cuộc đời tôi không còn là một ngõ cụt.

Một vài năm sau, khi 21 tuổi, Margaret trở nên một nữ tu dòng Phanxicô. Ngày nay, 25 năm sau, chị là một nữ tu truyền giáo, dạy học sinh ở Nam Phi Châu.

16. Việc mình thì quáng.

Thi sĩ La Fontaine, một nhà thơ ngụ ngôn của Pháp, có kể chuyện như sau: Một hôm, chúa tể sơn lâm triệu tập cả triều thần nhà thú lại và phán bảo:

– Hiện nay tất cả chúng ta đều bị bệnh dịch hoành hành. Theo trẫm xét thấy thì hẳn có người đã phạm tội xúc phạm đến Thượng Đế. Bởi vậy, theo ý trẫm thì tất cả mọi người đều phải thú tội. Ai có tội nặng hơn cả thì phải làm con vật hy sinh đền tội. Có như vậy, mới mong Thượng Đế nguôi cơn giận, tha phạt cho toàn dân. Thế là mọi người đều lần lượt thú nhận tội lỗi.

Trước hết sư tử thú nhận hay ăn cừu, ăn nai, đôi khi ăn cả thịt người.

Sau sư tử, các con thú khác cũng ra trước mặt mọi người thú tội một cách công khai.

Cuối cùng, một chú lừa hiền lành, khờ khạo, than rằng mình cũng có ăn một ít cỏ mà không xin phép chủ ruộng.

Thế là cả hội đồng đứng lên la hét buộc tội chú lừa, cho chú lừa là kẻ phạm tội nặng nhất, là nguyên nhân của tai họa.

17. Ma qủi và sám hối.

Một hôm Satan kêu trách Chúa rằng:

– Chúa thật là bất công! Cụ thể là có rất nhiều kẻ phạm đủ thứ tội ác, thế mà Ngài vẫn hay tha tội cho chúng. Có nhiều kẻ sa đi ngã lại nhiều lần cùng một thứ tội, mà khi chúng ăn năn sám hối thì Ngài vẫn tha thứ cho chúng. Còn tôi, tôi chỉ phạm tội không vâng lời Ngài duy chỉ một lần, thế mà Ngài kết án phạt tôi phải hoả ngục đời đời, và không bao giờ tha thứ cho tôi Bấy giờ Thiên Chúa ôn tồn nói với tên qủi kia rằng:

– Sở dĩ Ta tha tội cho con cái loài người tội lỗi vì chúng khiêm tốn nhận mình là kẻ có tội, và hồi tâm sám hối, quyết tâm canh tân đời sống. Còn ngươi, từ ngày ngươi phạm tội kiêu ngạo bất tuân lời Ta và bị phạt trong hoả ngục đến nay, đã có bao giờ ngươi khiêm nhường nhận lỗi và hồi tâm sám hối để xin Ta tha thứ cho ngươi hay chưa?

18. Tình bạn quý báu

Trận chiến giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796, kết liễu ngày 17.11.1796 như sau:

Đại tướng Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắc qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, Đại tướng Bonaparte hô tiến qua cầu. Không một ai qua! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước qua cầu, miệng hô:”Ai yêu tổ quốc thì theo ta." Ngó lại, trên cầu chỉ có một mình mà lá cờ đã rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13 tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống chân bước qua cầu theo Đại tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, Đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấm dứt cuộc chiến tranh ấy.

Tám năm sau, Bonaparte là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã 21 tuổi hiện trong quân đoàn đó.

Hỏi đến Vidal thì cậu đã đi nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng đế Napoléon bãi bỏ tất cả lễ nghi quân cách, đi thẳng đến làng Vidal, theo sau đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn. Rồi đi bộ với Vidal trở về. Vidal từ chối và mời Hoàng đế lên xe. Hoàng đế Napoléon đáp:”Tám năm trước con đã liều chết theo ta trên con đường chết, nay trên đường đau khổ con cho ta theo con cho có bạn”

19. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân

Một lần kia, trên một bài báo, nhà tỉ phú George Soros đã than thở: “Tôi không biết mình đang giàu hay đang nghèo; tôi đang làm chủ số phận hay là nô lệ cho thành công? Bởi vì để thành công tôi phải làm việc như một con chó; để giàu có tôi phải chịu căng thẳng trường kỳ; và để duy trì phú quí tôi phải chịu cảnh bất an liên tục, một sự bất an mà thiết tưởng kẻ nghèo khổ nhất hiện nay cũng chưa phải gánh chịu.”

Thế rồi một hôm kia, một tiếng gọi vang lên từ nơi thẳm sâu của tâm hồn George Soros. Trong âm thầm ông đã hành động. Ông chi viện hàng năm 300 triệu đô la cho người nghèo bên phương Đông, trợ giúp 50 triệu cho người Macedoine đang bị các nước chung quanh cô lập; ông chi 50 triệu cho thành phố Sarajevo trong việc tái thiết hệ thống cung cấp nước cho người di tản; ông còn trả tiền cho gần 30 ngàn khoa học gia thuộc khối cộng sản sau khi sụp đổ, để họ không cộng tác với những quốc gia khủng bố, chế tạo bom đạn nguyên tử, gây tang thương cho thế giới. Sau những công tác cứu trợ nhiều quốc gia và dân tộc, Soros tâm sự: “Chỉ từ khi biết yêu thương và chia sẻ, đời tôi mới bắt đầu nếm được mùi hạnh phúc và sung túc thật sự.”

Đúng vậy, chỉ khi biết yêu thương và phục vụ con người trong đường lối của Thiên Chúa, chúng ta mới cảm nếm được giá trị và ý nghĩa của đời mình.

20. Biết nhận lỗi

Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào một cái hang, thấy có một ông lão, bèn hỏi rằnh: “Hang này tên gọi là hang gì?”

Ông lão thưa: “Tên là hang Ngu Công.”

Vua hỏi: “Tại sao mà lại đặt tên như thế?”

Ông lão thưa: “Tại kẻ hạ thấn đây mới có tên ấy.”

Nhà vua nói: “Coi dáng lão, không phải là người ngu, cớ gì lại đặt cái tên như thế?”

Ông lão trả lời: “Để hạ thần xin nói: Nguyên hạ thần có con bò đẻ được một con, khi bò con đã lớn, thì hạ thần đem đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con, đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm, có chàng thiếu niên dến, lấy lý: bò không đẻ ra được ngựa, bèn bắt con ngựa đem đi. Tôi chịu mất, không cãi được, vì thế xa gần cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang ngu công.”

Hoàn Công nói: “Lão thế thì ngu thật.”

Buổi chiều hôm sau, Hoàn Công đem câu truyện kể lại cho Quản Trọng nghe. Quản Trọng nói “Đó chính là cái ngu của hạ thần. Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bề tôi như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ giám ngỗ ngược lấy con ngựa của người ta như vậy. Ngu Công mà đành để mất ngựa, là biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì. Xin nhà vua kíp chỉnh đốn các chính sự lại.”

Đực Khổng Tử nghe truyện này nói: “Đệ tử ta đâu, ghi lấy việc ấy: Hoàn Công là Bá Quân, Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bậc khôn ngoan nhất đời, mà vẫn còn cho mình là ngu dại.”

Quản Trọng đã nhận việc sơ xuất trên, cho là lỗi tại mình, lỗi tại phép nước, lỗi tại vua, và xin vua sửa đổi, chỉnh đốn chính sự.

CNTN 3C - THÁNH THẦN CHÚA NGỰ TRÊN TÔI

Lời Chúa: Lc 1, 1-4; 4, 14-21

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Vì có nhiều người khởi công chép lại những biến cố đã xảy ra giữa chúng ta, theo như các kẻ từ đầu đã chứng kiến và phục vụ lời Chúa, đã truyền lại cho chúng ta, phần tôi, thưa ngài Thêophilê, sau khi tìm hỏi cẩn thận mọi sự từ đầu, tôi quyết định viết cho ngài bài tường thuật sau đây, để ngài hiểu chân lý các giáo huấn ngài đã lãnh nhận.

Bấy giờ Chúa Giêsu trở về Galilêa trong quyền lực Thánh Thần, và danh tiếng Người lan tràn khắp cả miền chung quanh. Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người ca tụng.

Người đến Nadarét, nơi Người sinh trưởng, và theo thói quen của Người, thì ngày nghỉ lễ, Người vào hội đường. Người đứng dậy để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng:

"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng.:

Người gấp sách lại, trao cho thừa tác viên, và ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe.:

TRUYỆN KỂ

1. Xóa nợ.

Ngày xưa có một lãnh chúa, và các tá đền của ông thì nợ ông tiền thuê đất. Chẳng bao lâu họ thấy mình nợ nần chồng chất. Họ thấy mình không tài nào thoát ra tình cảnh khó khăn ấy, tuy ông lãnh chúa là người nhân ái và nhẫn nại. Nhưng các tá điền tự hỏi, ông cho họ thêm bao nhiêu thời gian để trả hết nợ. Điều đáng sợ là cả khi ông cho họ đến ngày họ chết, họ cũng không thể trả hết nợ.

Kế đó một quản lý mới của lãnh chúa xuất hiện và bắt đầu làm một cuộc kinh lý. Trong suốt cuộc kinh lý ấy, quản lý đã hỏi mỗi tá điền mắc nợ bao nhiêu. Nhưng thật đáng kinh ngạc, quản lý không dừng ở đó. ông đi thăm từng nhà, ông hỏi người ta ăn uống ra sao. Ông hỏi thăm người già, người bệnh, người khó ở. Chính ông thấu hiểu những vấn đề và những lo lắng của họ.

Rồi một ngày kia, ông tập họp họ lại, nói rằng ông có một sứ điệp quan trọng mà lãnh chúa tức chủ đất gởi cho họ. Các tá điền họp lại trong sợ hãi và run rẩy, tưởng rằng cái ngày thanh toán khủng khiếp sau cùng đã đến. Các tá điền đã biết hoặc nghĩ rằng mình đã biết những lời mà ông quản lý sắp nói. Hẳn ông sẽ nói rằng: “Trong suốt cuộc kinh lý, tôi đã khám phá rằng không một người nào trong các anh lo lắng việc trả nợ. Các anh chỉ nên tự trách mình. Các anh chỉ là một đám lười biếng, chẳng làm được việc gì. Chủ đất đã chán ngấy các anh. Ông ấy đã cho các anh vô số cơ hội, nhưng các anh vẫn không làm ra của cải. Các anh khiến ông ấy không còn chọn lựa nào khác là lấy lại đất đai khỏi tay các anh và đưa nó cho những người khác và họ sẽ trả được nợ của họ.:

Đó là những gì họ chờ đợi ông quản lý nói, dù rằng trong lòng họ, họ mong mỏi một điều gì khác. Rồi người quản lý bắt đầu nói: “Chủ đất biết rằng tất cả các anh đều mắc nợ số tiền lớn. Oâng ấy nhờ tôi nói với các anh những điều sau đây.: Quản lý ngừng nói. Họ chờ đợi cơn bão ập tới và gắng hết sức mình để chống lại nó. “Thế thì”, quản lý nói tiếp “Tôi có một tin mừng cho các anh.: Một lần nữa ông ngừng lại. Tin mừng! Họ không thể tin điều họ nghe.”Chủ đất nhờ tôi nói với các anh rằng các anh có thể quên hết nợ nần. Ông ấy xóa hết nợ nần cho các anh. Từ hôm nay, các anh có thể bắt đầu lại từ đầu.:

Họ reo hò mừng rỡ. Các tá điền ôm hôn nhau. Một số người bắt đầu nhảy múa, đã lâu rồi họ không nhảy múa. Khi họ trở về nhà mình với tâm hồn thanh thản, lần đầu tiên trong nhiều năm, họ nhận thấy mặt trời chiếu sáng, chim hát ca và những bông hoa rực rỡ nở rộ trong các cánh đồng.

Tin mừng Đức Giêsu loan báo trong hội đường Nazareth cũng như thế. Ngài là người quản lý mới mà Thiên Chúa sai đến với dân mắc nợ Người. Theo người Pharisêu, ngày của Chúa phải là ngày phán xét. Và ở đây, Đức Giêsu tuyên bố rằng đó là ngày của ân huệ Thiên Chúa, không chỉ dành cho những người đáng khen mà dành cho tất cả mọi người.

2. Chẳng nghe được gì hết.

Trong vở kịch “The Royal Hunt of the sun” (Hoàng gia đi săn mặt trời) có kể lại cuộc chinh phục dân da đỏ ở Pêru của người Tây ban nha vào thế kỷ 16, trong đó có một màn kể lại câu chuyện một người nọ biếu cho tù trưởng bộ lạc da đỏ một cuốn Thánh Kinh và bảo ông ta: “Đây là Lời Chúa, Ngài nói với chúng ta qua cuốn sách này.: Viên tù trưởng nghiêm trang cầm cuốn Thánh Kinh lên, xem xét kỹ lưỡng và dịu dàng đặt nó vào lỗ tai. Ông cố gắng nghe đi nghe lại nhưng chẳng nghe được gì hết. Thế là ông ta nghĩ rằng mình bị phỉnh gạt, nên giận dữ dằn mạnh cuốn sách xuống đất.

Màn bi kịch trên khiến chúng ta tự nhủ: “Vậy chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa như thế nào”? Chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng ba cách thức: bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của linh hồn… (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm C, tr 166-167).

Chúng ta phải làm sao để Lời Chúa được diễn lại sống động nơi tâm trí chúng ta, phải ghi khắc lời ấy vào trái tim chúng ta và phải bàn bạc với Chúa cũng như lắng nghe điều Ngài nhắn nhủ chúng ta qua lời ấy.

3. Bà có họ hàng với Chúa.

Dan Clack kể lại một câu chuyện như sau: Vào một buổi tối trời tuyết lạnh, một bé trai khoảng sáu, bảy tuổi đang đứng tần ngần nhìn vào gian hàng trưng bày quần áo trước một cửa hàng sang trọng. Em đi chân đất, khoác trên người bộ quần áo cũ kỹ tơi tả, trông như một mảnh giẻ rách. Một bà sang trọng đi ngang qua trông thấy và đọc được ước muốn trong đôi mắt của em. Bà liền đến cầm tay em dẫn vào tiệm và mua cho em một đôi giầy mới và bộ quần áo ấm.

Sau đó, khi cả hai bước ra ngoài phố, người đàn bà tốt bụng liền nói với cậu bé:

- Chúc cháu vui vẻ và một đêm ngủ ngon.

Cậu bé trố mắt nhìn người vừa cho quà và hỏi:

- Thưa bà, bà có phải là Chúa không?

Bà cúi xuống mỉm cười vỗ nhẹ vào vai cậu và trả lời:

- Con ơi, không phải đâu, ta chỉ là một trong những đứa con của Chúa thôi!

Cậu bé như khám phá được điều gì mới lạ:

- Cháu đã sớm biết ngay là bà có họ hàng với Chúa mà.

Sống đời bác ái yêu thương là dấu chỉ con cái Chúa và là dấu chỉ anh em với nhau. Đức Giêsu đã xác nhận: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 6,21).

4. Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô

Có một chuyện kể về một dân kia chưa từng nghe nói tới quyển Tin Mừng. Một hôm có một người lạ đến báo cho họ rằng "Tôi đến đây mang cho các người một tin mừng.: Rủi thay người ấy mang bệnh và chết trước khi nói rõ cho họ biết tin mừng ấy là gì. Họ mới lục lúi của người ấy và gặp một quyển sách có tựa đề là "Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.: Họ đoán rằng đó chính là cái tin mừng mà người kia muốn báo cho họ biết. Thế là họ bắt đầu đọc quyển sách ấy. Sách viết về một nhân vật giàu lòng nhân ái, làm nhiều việc lạ lùng để giúp cho những người khốn khổ và dạy nhiều điều rất cao thượng.

Đọc xong quyển sách, một người trong họ nói: "Tiếc thay người mang quyển sách này đã chết. Chắc là một môn đệ của ông Kitô ấy.: Một người nói: "Nhưng chắc là ở nơi ông ấy sống cũng có nhiều một đệ khác của ông Kitô.: Một người khác nữa góp ý: "Chúng ta thử gởi người đến đấy xem các môn đệ ông Kitô sống những lời ngài dạy thế nào.: Mọi người tán thành.

Họ cử Francis đi. Đây là một chàng trai rất chín chắn. Chàng đã tìm đến nơi, tiếp xúc với rất nhiều người, sau đó trở về. Khi chàng vừa về tới nơi thì những người đồng hương của chàng đặt những câu hỏi tới tấp:

"Những tín đồ của quyển sách ấy có thương yêu nhau không?"

"Họ có hòa thuận với nhau không?"

"Họ có đơn sơ không?"

Họ có hạnh phúc không?"

Tất cả các câu hỏi đều có thể tóm trong một câu duy nhất này: "Những môn đệ của ông Kitô ấy có sống theo quyển sách của Ông ta không?:

Và sau đây là báo cáo của Francis:

Trên căn bản, tôi đã gặp được 5 hạng môn đệ của ông Kitô ấy:

Hạng thứ nhất chỉ mang danh Kitô thôi. Dù họ có rửa tội nhưng họ chẳng sống theo một lời dạy nào của Ngài cả.

Hạng thứ hai là những người làm môn đệ Đức Kitô theo thói quen. Mặc dù người ta thấy họ giữ những điều Đức Kitô dạy, nhưng những điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến cách sống của họ cả. Tôi đã quan sát cách sống của họ một thời gian lâu và thấy ra rằng thực ra họ sống theo những nguyên tắc không liên can gì tới lời dạy của Đức Kitô, một số còn ngược lại nữa.

Hạng thứ ba gồm một số người rõ ràng là sùng mộ đức tin Kitô. Họ cố sức làm những việc tốt, nhưng xem ra họ thiếu sức sống, họ không thực sự có được những đức tính của Thầy họ.

Hạng thứ tư có thể được gọi là những Kitô hữu thực hành. Dường như họ đã nắm được trọng tâm của Tin Mừng. Họ biết quan tâm đến người khác và không xấu hổ vì người khác biết họ là Kitô hữu. Ở một vài nơi tôi thấy họ bị bách hại. Ở một vài nơi khác tôi thấy họ phải gặp tình cảnh có lẽ còn tồi tệ hơn nữa, đó là bị đồng bào của chính họ đối xử lạnh nhạt.

Hạng thứ năm không nhiều. Đó là những người mà tôi không ngại gọi là những Kitô hữu chính danh. Họ sống Tin Mừng cách sâu sắc. Khi gặp họ, tôi tưởng là gặp chính Đức Kitô.

5. Tin Mừng không chỉ là chuyện chữ viết

Ngày nọ, Dwight Moody thuyết giảng trước một đám đông. Ông để hết tâm hồn vào bài giảng và chỉ nghĩ tới nội đung cũng như hiệu quả Lời Chúa nơi các tâm hồn hơn là quan tâm đến văn chương bóng bẩy. Khi giảng xong, một văn nhân đến gặp Moody và nói:

- Tôi phải thành thực nói rằng trong bài giảng tối nay, ngài đã phạm ít là 11 lỗi văn phạm.

Moody đáp:

- Rất biết ơn ông: Điều ông nói tôi không nghi ngờ gì. Khi còn bé, tôi học kém lắm. Tôi vẫn muốn có giờ học thêm. Nhưng tôi đã dùng tất cả vốn liếng văn phạm của mình để phục vụ Đức Kitô. Vì vậy Lời Chúa có tác động gì đối với ông không?

Con người hôm nay khao khát niềm vui, ánh sáng, tự do, nhưng ít người chịu tin vào Ðức Kitô

chỉ vì cuộc đời đầy sầu muộn, bóng tối và nô lệ, thậm chí có khi còn trở thành người áp bức anh em, bịt mắt và giam hãm anh em nhân trong ngục tù.

6. Bản dịch Thánh Kinh hiện sinh

Một công nhân hầm mỏ được một anh bạn hỏi:

- Anh làm gì trong Hội Thánh Kinh Hải Ngoại?

- Tôi làm việc dịch thuật.

- Anh mà đòi dịch thuật? .

- Đúng, tôi lo dịch Lời Chúa trong Thánh Kinh vào đời sống hằng ngày của tôi.

7. Học làm người trước đã

Tại một bộ lạc trong rừng già Phi châu, có ba thanh niên, sau khi trải qua một số thử thách, đã đến trình diện với viên tù trưởng của họ. Ông nhìn từng người rồi nói: “Trong sáu ngày qua, các ngươi đã được đưa vào rừng sâu để trải qua một cuộc thử thách, sau không biết bao nhiêu gian khổ và nguy hiểm, các ngươi đã trở về bình an vô sự, nhưng vẫn chưa đủ, các ngươi hãy kể lại cho ta nghe tất cả những gì các ngươi đã làm trong sáu ngày qua để xứng đáng được gọi là chiến sĩ.:

Lần lượt mỗi người kể lại thành tích của mình. Người thứ nhất cho biết là anh đã giết được con báo. Người thứ hai kể lại anh đã hạ được một con trăn khổng lồ. Đến phiên mình, người thứ ba chỉ biết đứng im lặng, tên anh là Ma-ma-đu. Ông tù trưởng hỏi anh: “Nào Ma-ma-đu, ngươi đã làm được gì?: Một cách nhỏ nhẹ, anh nói rằng anh đã lấy được một tảng mật ong. Nghe thế mọi người cười ồ lên, bởi vì họ cho rằng lấy được mật ong thì có gì đáng gọi là một thành tích. Ông tù trưởng hỏi anh: “Tại sao ngươi lấy mật ong mà không chịu đi săn thú dữ?: Ma-ma-đu trả lời: “Cha mẹ tôi đã già yếu bệnh tật, tôi luôn nghĩ đến các ngài, cho nên tôi đã lấy mật ong mang về biếu các ngài.: Nghe thế, viên tù trưởng liền đứng dậy, ông lấy cây đao trao cho người thanh niên và tuyên bố: “Ngươi hãy cầm lấy cây đao, bởi vì ngươi là người xứng đáng để lãnh nhận danh hiệu chiến sĩ hơn cả. Trước khi trở thành một người thợ săn giỏi, cần phải nên người đã, và chỉ có một cách duy nhất để biết một kẻ nào đó đã thực sự nên người là kẻ đó biết đặt tình thương trên tất cả mọi sự và hiếu thảo với cha mẹ mình.:

8. Lời Chúa cần được nghe bằng trái tim

Tác giả tập sách có tựa đề: “Cuộc Săn Đuổi Mặt Trời” kể lại cuộc mạo hiểm của những người lính Hoàng Gia Tây Ban Nha trong thế kỷ XIX đi chiếm thuộc địa bên Nam Mỹ, tại vùng đất mà ngày nay gọi là quốc gia Pe-ru.

Một người trong nhóm đem tặng cho viên tù trưởng trong bộ lạc da đỏ một quyển Kinh Thánh và nói: Đây là quyển sách Thánh, nơi Thiên Chúa nói với con người và ban cho con, những ai lắng nghe được lời Ngài, một sức mạnh phi thường vượt qua được mọi gian nan thử thách và được hạnh phúc trường sinh.

Đón nhận quyển sách,viên tù trưởng kia vui mừng vội mau tìm nơi vắng đưa sách lên tai để lắng nghe Thiên Chúa nói. Nhưng thật là vôi ích, ông cầm lên, đưa xuống đủ cách mà im lặng vẫn hoàn im lặng, không có tiếng Thiên Chúa nào phán cả. Bực mình, viên tù trưởng ném sách đi và lẩm bẩm: Ta bị gạt, ta đã bị gạt.

9. Đường lối Chúa thì khác

Xưa có ông Trần Công, là người tốt, gặp ai cũng giúp, gặp việc gì cũng làm. Một hôm ông đến làng Hòa Đa, nơi đây đang bị hạn hán, đồng ruộng nứt nẻ, sông ngòi khô quêo không một giọt nước. Đi cả ngày, thấy khô cổ, ông vào làng kiếm nước, nhà nào cũng bỏ đi nơi khác. Ông trèo lên một ngọn núi cao, thấy xa xa một toán người cầm bình nước, ông gọi xin. Người kia nói:

- Làng chúng tôi bị hạn hán 6 tháng trời, dân làng bỏ đi nơi khác hết trọi Giá có người nào lên thỉnh thần mưa, nhắc khéo hộ chút thì tốt quá. Trần Công nói ngay:

- Tôi đây, chứ ai nữa. Rồi ông xấn xả đi liền, đi cả ngày chưa tới. Ông trèo lên đồi trọc, thấy bà già khòm lưng bị nhốt trong nhà kêu cứu:

- Cứu tôi với. Ông chạy đến thả tự do cho bà. Bà hỏi:

- Ông đi đâu đấy? Ông trả lời:

- Tôi đi tìm thần mưa giúp làng Hòa Đa, họ bị hạn hán lâu ngày rồi, xin thần mưa thương họ chút.

- Nhà Thần mưa còn xa lắm. Để tôi biếu ông cái này, nó có phép thần thông thu ngắn đoạn đường. Chỉ cần nói mình muốn đi đâu là đủ. Trần Công vui vẻ nhận tặng vật, cảm ơn, rồi bảo gậy:

- Hỡi gậy thần, hãy đưa ta tới xứ thần mưa. Tự nhiên ông thấy hoa mắt, cây nối, núi non chạy như bay về phía sau. Phút chốc ông thấy mình đến xứ Thần mư. Ông đến gọi cổng thì một người trương phi xuất hiện tự xưng là Thần mưa. Trần Công nói:

- Xin Thần mưa giáng phúc cho làng Hòa Đa, lâu quá rồi không có một giọt nước. Thần Mưa chỉ cho ông một con tuấn mã và một bình nước, rồi sai ông cỡi tuấn mã đi rải nước xuống các làng ông muốn. Bỗng chốc, nước vẩy nước mưa lai láng cả mặt đất. Đến làng Hòa Đa Trần Công dội cả bình nước xuống, khiến thành bão lụt, trôi chảy cả nhà cửa, đất đai. Hôm sau ông từ giã ra về, cái gậy thần lại cuốn ông như lần trước. Đến làng Hòa Đa, nhà cửa, đất đai trôi sạch, khiến ông tiếc xót chép miệng than “Làm ơn nên oán.:

Đường lối của con người nghĩ là tốt, là hay nhưng đường lối Chúa thì khác.

10. Tấm lòng vàng

Tại California bên Hoa Kỳ có một người ăn xin được nhiều người biết là ông En-đi-va-gát 70 tuổi. Ngày ngày ông đi nhặt những chiếc lông nhung. Ông không phải là kẻ ăn xin tầm thường, mà là người ăn xin triệu phú. Ông được trúng số độc đắc, thế là từ một người ăn xin nghèo khó nay trở thành triệu phú.

Nhưng ông không quên nguồn gốc của ông. Và vì đó mà ông rất thương yêu những người đồng cảnh ngộ. Sở dĩ ông tiếp tục ăn xin là để gần gũi những người nghèo khổ bất hạnh để ông giúp đỡ. Tiền xin được ông đem giúp trẻ em nghèo được tiếp tục đến trường, các sinh viên theo đuổi việc học. Ngay lúc trúng số, ông đã biếu ngay 20 ngàn mỹ kim vào quỹ học bổng.

Ông là một triệu phú đích thực. Ông giàu không phải vì trúng số mà giàu vì tấm lòng vàng.

Nét đẹp của câu chuyện trên đây là người triệu phú lại chấp nhận ăn xin cho người nghèo. Cũng như trong Tin mừng hôm nay, Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong nghĩa là được phong vương lại được sai đi để chăm lo cho những người nghèo khó, tù đày, đui mù, bị áp bức…

11. Vì hạnh phúc tha nhân

Truyện cổ Trung Hoa kể lại: Hai nước kia định giao chiến với nhau. Quân đội đôi bên đã đặt trong tình thế ứng chiến. Cả hai nước đều cho người đi trinh thám để tìm địa điểm tấn công thuận lợi nhất. Thế là chiến tranh xem ra không thể tránh.

Sau một thời gian quan sát kỹ lưỡng, đội trinh sát đôi bên đều về trình lên thượng cấp:

“Có một địa điểm nằm trên khu vực thuận lợi cho cuộc tấn công. Nhưng ngay tại địa điểm đó có một gia đình sinh sống, gồm hai vợ chồng và đàn con thơ đang sống đầm ấm hạnh phúc trong một mái nhà tranh xiêu vẹo. Chúng tôi đã tìm cách tiếp xúc với gia đình này. Họ là những người rất chân chất làm ăn và rất hiếu khách. Họ tha thiết được sống yên ổn trong mái chòi tranh nhỏ bé của họ. Nếu chúng ta tấn công vào đất địch, buộc lòng chúng ta phải tiêu hủy căn nhà của họ và sát hại chính họ nữa; như thế là chúng ta cướp mất hạnh phúc của họ. Chúng ta nghĩ rằng cuộc tấn công không thể diễn ra được.: Nghe xong báo cáo, bộ tổng tham mưu hai nước đều thấy hợp lý, nên chiến tranh đã không xảy ra.

12. Nghe bằng ba lỗ tai

Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần tấn phong để loan báo Tin mừng cho chúng ta.

Chúng ta cần phải nghe Lời Chúa bằng ba cách: bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của tâm hồn.

Bởi thế, mỗi khi sắp nghe Linh mục đọc Tin mừng trong Thánh lễ, mỗi người Kitô hữu chúng ta làm dấu thánh giá trên trán, trên miệng và trên ngực: làm dấu thánh giá trên trán có ý xin cho chúng ta hiểu được Lời Chúa; làm dấu thánh giá trên miệng để xin cho chúng ta biết nói Lời Chúa cho kẻ khác; làm dấu thánh giá trên ngực có ý xin Chúa cho chúng ta biết mến mộ Lời Chúa.

Lắng nghe Lời Chúa bằng lỗ tai của trái tim là ghi tạc Lời Chúa vào trái tim, và cố gắng áp dụng lời đó vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống chúng ta như Charlic Pitts. Ông là chủ công ty xây dựng ở Toronto, Canađa. Ông càng làm ăn phát đạt thì cá nhân và gia đình ông càng bê bối sa đọa. Ông phải cầu cứu tới việc đọc Kinh Thánh. Tình cờ ông đọc thấy: “Kẻ nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân thì nào có ích lợi gì” (Lc.9,25). Ông ghi khắc lời đó vào trái tim và suy nghĩ xem phải áp dụng lời đó vào hoàn cảnh của ông thế nào.

Và nghe Lời Chúa bằng lỗ tai tâm hồn là xin Chúa hướng dẫn phải làm gì theo Lời Chúa, như Charlie Pitts làm sau đây. Sau khi cầu nguyện, ông bàn luận với vợ con rồi bán công ty, lấy tiền mua một khách sạn, lợi tức của việc kinh doanh này ông dùng để giúp công cuộc truyền giáo.

13. Tôi không biết

Nhiều tu sĩ cao niên đến gặp thầy Antôn. Ở giữa là thầy Giuse. Muốn thử họ, thầy Antôn đưa ra cho họ một lời Thánh Kinh, và bắt đầu từ tu sĩ trẻ nhất, thầy hỏi ý nghĩa của lời ấy. Mỗi tu sĩ đều nói theo khả năng của mình. Nhưng với tu sĩ nào thì thầy Antôn cũng nói: "Anh chưa tìm ra ý nghĩa.:

Tu sĩ cuối cùng nói với thầy Giuse:

- "Còn thầy, thầy giải thích lời đó ra sao?"

Thầy Giuse đáp:

- "Tôi không biết.:

Lúc ấy thầy Antôn nói:

- "Đúng, thầy Giuse đã tìm được giải đáp, vì Thầy nói: tôi không biết.:

Trước lời giải đáp của những vị tu sĩ cao niên đã nhiều năm sống đời tu hành trong hoang địa, ngày đêm không ngừng suy niệm Lời Chúa, thầy Antôn vẫn nhất mực nói: "Anh chưa tìm ra ý nghĩa.: Nhưng với thầy Giuse, người có uy tín nhất, người đã trả lời "tôi không biết", thầy Antôn lại bảo: "chính thầy Giuse đã tìm được giải đáp.:

Trước mầu nhiệm của Thiên Chúa, trí khôn con người làm sao có thể hiểu nổi và ngôn ngữ của con người làm sao có thể diễn tả được? Bởi vậy, cách giải thích Lời Chúa trung thực nhất là thú nhận rằng mình không giải thích nổi. Chỉ Thiên Chúa mới hiểu biết Lời Ngài và nói Lời Ngài cách thích đáng và xứng hợp.

14. Xóa nợ cho nhau

Trước lúc lìa đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh tổng đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở ra xem, trừ quan tổng đốc.

Cái ống tre ấy truyền đến người cháu bảy đời của Trạng, mới rước lên dinh quan tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống thấy một cuộn giấy, ông rút ra xem thấy có hai câu chữ nho: ‘Ngã cứu nhi thượng lương chi ách. Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần’. Nghĩa là: ‘Ta cứu ngươi khỏi xà nhà đổ. Ngươi cứu cháu bảy đời của ta còn nghèo’.

Đang lúc bận việc, quan tổng đốc thấy hai câu nói xấc xược ấy, ông liền nổi giận. Sẵn cầm chiếc quạt trên tay, ông đứng phắt dậy, chạy lại định đánh người cháu bảy đời của Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà ngay trên đỉnh đầu đổ xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ông mới vừa bước ra, nên không sao cả.

Quan tổng đốc lúc đó mới giật mình hiểu rõ Trạng đã cứu mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử. Quan ân cần xin lỗi người cháu ông, mời về tư thất đãi cơm rượu, rồi cho một số tiền khá lớn, để cứu giúp cho gia đình cháu của Trạng đang lâm hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.

15. Luật phải hướng thiện

Người ta kể: "Có ông nhà giàu Do Thái kia có tên là Rabba, nhiều ruộng vườn, gia nhân đầy tớ và thợ làm công. Một hôm có người thợ làm việc cho ông lỡ làm bể một thùng rượu, ông giận dữ mắng, chửi thậm tệ và buộc bồi thường. Bọn thợ đến than phiền với một tiến sĩ luật, vị này khuyên ông Rabba tha cho đám thợ nghèo. Ông Rabba hỏi vị luật sĩ: "Đây có phải là luật Chúa không?" Vị tiến sĩ trả lời: "Phải, nếu ông hiểu biết tinh thần luật.:

Nghe thấy, Rabba tha không đòi đám thợ bồi thường nữa. Có lần khác, đám thợ can đảm than thở thẳng với ông chủ của họ: "Thưa ông, chúng tôi quá nghèo túng, mặc dầu được ông thương cho việc làm và chúng tôi cũng đã làm hết sức như ông thấy, nhưng chúng tôi cũng đói khổ và thiếu thốn mọi sự.: Vị tiến sĩ biết chuyện, nói với ông Rabba: "Ông hãy cho họ lãnh lương tháng trước đi, nhưng đừng ghi sổ và sau đó sẽ quên chuyện này.:

Ông Rabba hỏi: "Đây có phải là luật Chúa không?" Vị tiến sĩ luật trả lời: "Phải, nếu ông hiểu tinh thần luật, vì thật ra luật Chúa đòi buộc công bằng, nhưng có chủ đích làm cho con người trở nên tốt lành hơn.:

16. Sứ mạng của con người

Sau khi nghe giảng về Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Chúa đầy lòng yêu thương, một thính giả không đồng tình với vị giảng thuyết. Đầu óc ông quay cuồng bởi những câu hỏi như:

Làm sao người ta có thể tin Thiên Chúa là Đấng nhân lành khi Ngài nhắm mắt làm ngơ trước cảnh biết bao nhiêu người nghèo khổ, tuyệt vọng, mất phương hướng phải sống trong sầu đau mà không ban cho họ một tin mừng, một tia hy vọng?

Làm sao người ta tin được Thiên Chúa là Cha nhân ái khi có biết bao người phải chịu cảnh giam cầm trong ngục tù vật chất, trong sự trói buộc của các đam mê mà Ngài không ra tay giải thoát?

Thật khó tin có Thiên Chúa là Đấng tốt lành khi Ngài để cho những người mù, nhất là mù tối trong tâm hồn, không được nhìn thấy ánh sáng chân lý.

Và bao nhiêu người bị áp bức, bị gông cùm sao Chúa không giải thoát họ?

Đêm hôm ấy, trằn trọc không ngủ được vì những câu hỏi ấy lởn vởn trong đầu, ông chợt nhận ra câu đáp của Thiên Chúa từ trong vắng lặng của đêm trường:

- Ta đã ra tay rồi đó, sao con còn trách Ta?

- Ngài ra tay lúc nào đâu? Ngài đã làm gì để cứu vớt những người tuyệt vọng, những người bị giam cầm, những người mù tối, những người bị áp bức?

- Ta đã dựng nên con và đặt con hiện diện giữa lòng đời để con thay Ta mà hành động. Thế sao còn trách Ta?

Có một điều quan trọng nhưng thường bị lãng quên, đó là chúng ta là những cánh tay, là những bàn tay của Thiên Chúa và Ngài hành động, Ngài thực hiện mọi việc qua chúng ta, hình ảnh của Thiên Chúa.

17. Thần Khí Chúa ngự trên tôi

Cách nay không lâu, trên tờ báo Catholic Register người ta học thấy có câu chuyện “Trở Về” rất đáng suy tư. Số là anh Jim O’Donnell, một công dân Hoa kỳ 36 tuổi đang làm việc tại Luân Đôn, Anh quốc, cho một nhóm các ngân hàng của Hồng Kông và Shangai. Jim O’Donnell đã gây sửng sốt cho giới doanh thương Hồng Kông, Luân Đôn và cả New York khi tuyên bố rằng anh sẽ về nước, nghỉ việc, mặc dầu khi ấy các ngân hàng vừa tăng lương cho anh với số tiền là 1.650.000 đôla một năm.

Nhiều người thắc mắc tại sao anh Jim không tiếp tục công việc để hưởng số lương bổng mà không ít kẻ nằm mơ cũng chưa thấy được số lẻ của nó. Bạn có biết lý do anh trở về nước không?

Rất lạ! Anh về nước là để cho kịp niên học tại một chủng viện vào mùa Thu 98. Anh muốn đi học để trở thành linh mục. Đúng là anh trở về với tâm hồn của Đức Kitô, với Thần khí của Thiên Chúa, với tinh thần hy sinh những gì thuộc về xác thịt, quyền lợi, sở thích riêng tư, để thực hiện một ước vọng mới là mang Tin mừng, niềm vui và sự sống chân lý cho muôn người.

18. Kitô hữu

Có một câu truyện cổ tích kể về một tên cướp khét tiếng tại vùng Viễn Đông bị trọng thương và được chở đến một nhà thương của các nhà truyền giáo. Sau một vài tuần tịnh dưỡng và được săn sóc đầy đủ, tên cướp đã được phục hồi hoàn toàn. Tên cướp rất biết ơn các nhà truyền giáo và tự hứa là sẽ không bao giờ ăn cướp của bất cứ Kitô hữu nào. Lời hứa của tên cướp đã được đồn ra và hễ ai gặp tên cướp ấy đều thú rằng, "Tôi là Kitô hữu." Như thế, tên cướp đã gặp vấn đề và hắn thắc mắc làm sao biết được ai là Kitô hữu và ai không phải là Kitô hữu. Hắn đã trở lại nhà thương và hỏi các nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo đã nói với hắn rằng nếu ai là Kitô hữu thì tất nhiên phải biết Kinh Lạy Cha và 10 Giới Răn. Từ hôm đó, ai tự xưng với hắn là Kitô hữu thì đều phải đọc Kinh Lạy Cha và Thập Giới.

Nếu mọi người đang hiện diện nơi đây được hỏi để chứng minh đức tin của mình bằng Kinh Lạy Cha và Thập Giới, tôi không biết có bao nhiêu người sẽ thi đậu.

19. Lời ban sự sống

Một ông vua tuổi đã cao mà chưa đọc hết được một cuốn sách nào. Ông đã mất quá nhiều thời gian cho chinh chiến, cả đời ông chỉ thấy có gươm giáo, chỉ biết có máu và lửa. Đến cuối đời ông mới giật mình tỉnh ngộ, tiếc nuối, và muốn có được một cái nhìn bao quát lịch sử loài người để từ đó mà có được một cái nhìn về cuộc sống con người.

Nhưng sách về lịch sử loài người quá nhiều, không thể đọc hết, nên nhà vua ra lệnh cho sử quan đọc và thu ngắn lại. Với sự giúp đỡ của 50 người trong ban tu thư, viên sử quan đã bắt tay vào làm việc ngày đêm miệt mài và đã tóm lược tất cả lịch sử loài người trong 10 cuốn sách đồ sộ dâng lên dức vua.

Nhà vua thấy 10 cuốn sách đồ sộ là quá dài so với thời gian vắn vỏi còn lại của đời mình nên ban tu thư phải cố gắng thêm 5 năm nữa dể tóm lược tất cả trong chỉ một cuốn sách dâng lên. Nhưng lúc đó vua đã già yếu, nằm liệt trên giường bệnh chờ chết.

Biết mình không thể đọc được dù chỉ một trang, nhà vua ra lệnh cho sử quan tóm tắt tất cả lịch sử loài người chỉ trong một câu. Suy nghĩ một hồi lâu, nhớ lại tất cả những gì mình đã biết về lịch sử nhân loại, viên sử quan tâu vua: "Tâu Đức Vua, thần xin tóm lại như sau: ‘Lịch sử con người từ khai thiên lập địa đến nay là sinh ra, đau khổ, và chết.”

Với một người không có đức tin thì tất cả cuộc sống con người chỉ là một cái chết liên tục từ khi sinh ra. Nhưng với người có đức tin thì Thiên Chúa không dựng nên con người để chết, mà để sống mãi với sự sống của chính Ngài, là nghe, hiểu và yêu mến Thiên Chúa: "Ai yêu mến Ta thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó” (Ga 14,23).

20. Thánh Thần Chúa ngự trên tôi

Một Linh mục thao thao giảng trong tuần Tĩnh tâm, thu hút được rất nhiều người đến nghe, linh mục cảm thấy mình tuyệt quá, nhất là năm nay giảng thành công chưa từng thấy.

Trong suốt tuần Tĩnh tâm, có một cụ già luôn đến sớm và ngồi hàng ghế đầu tiên, tỏ vẻ chăm chú nghe cha giảng. Sau tuần tĩnh tâm, cha hỏi ông cụ:

- Cụ nghe thế nào? Tuyệt không?

- Thưa cha, con nghe câu sau thì quên câu trước, con lại là người thất học, với tuổi già này, làm sao con hiểu được những lời cao siêu cha giảng! Con đến nhà thờ sớm để có chỗ trên ngồi, tránh làm chia trí mọi người và cầu nguyện cho cha thôi.

Lúc ấy Linh mục mới nhận ra rằng: kết quả việc mình làm hôm nay còn tùy nhiều người cầu nguyện cho, để ơn Chúa đổ xuống thêm. Đúng như lời thánh Phao-lô nói:

“Tôi trồng, anh tưới, Thiên Chúa mới làm cho mọc lên!” (1 Cr 3,6).

21. Bài giảng biết đi

Năm 1952, dân chúng tụ tập ở ga xe lửa Chicago đón mừng bác sĩ Albert Schweitser, một nhà truyền giáo nổi tiếng ở Phi Châu, vừa được trao giải Nobel hoà bình. Đang được đám đông reo mừng, chợt thấy một người đàn bà có tuổi khó nhọc khuân xách hành lý, ông bèn đến giúp đỡ. Thấy vậy, một nhà báo đã nói: “Hôm nay tôi đã thấy một bài giảng biết đi.” Thực ra, trước đó đã có “một bài giảng biết đi” và là nguồn cảm hứng cho mọi “bài giảng biết đi” khác, đó là chính Đức Giêsu Kitô. Ngài là Lời của Thiên Chúa hoá thành nhục thể, là Lời yêu thương của Thiên Chúa ngỏ với con người.

Toàn bộ cuộc sống của Ngài, lời nói và việc làm, đều là Tin Mừng của Thiên Chúa. Nói cách khác, nhận ra Ngài là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho và sẽ được thúc đẩy tiếp tục loan báo như Ngài.

Chúng ta đã có nhiều nỗ lực loan báo Tin Mừng, nhưng hiệu quả không mấy khả quan. Có thể chúng ta là nguyên nhân thất bại đó bạn, bởi những việc chúng ta làm không phù hợp với Lời Chúa chúng ta loan báo.

22. Sứ điệp của Chúa Giêsu

Các vị tổng thống Mỹ đưa ra lời phát biểu đầu tiên ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức. Bài phát biểu thường cho thấy một cái nhìn sâu sắc về những gì người ta chờ mong nơi chúng. Tin mừng hôm nay cũng giống như một bài phát biểu. Chúa Giêsu được Chúa Cha chọn vào sứ vụ của Đấng Mêsia. Ngài bắt đầu sứ vụ bằng cách đứng giữa đám đông và nói cho ta điều ta chờ đợi nơi Ngài trong sứ mệnh cứu thế.

Điều gì làm tôi ngạc nhiên, ít là về những gì Chúa Giêsu đã nói trong sứ điệp khai mạc của Ngài? Tại sao?

Tôi biết rõ con người, và tôi nói với các bạn rằng Chúa Giêsu Kitô không phải là một con người. (Napoleon Bonaparte)

THỨ HAI - TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN

Lời Chúa: Mc 3, 22-30

Khi ấy, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: "Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám", và nói thêm rằng: "Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ."

Khi đã gọi họ lại, Chúa Giêsu phán bằng dụ ngôn rằng: "Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong. Chẳng ai có thể vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi sau mới cướp phá nhà y.

Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời." Ðó là vì họ nói "Người bị thần ô uế ám."

TRUYỆN KỂ

1. Không nghi ngờ và thất vọng.

Người ta kể: một hôm có một chàng thanh niên đến gặp cha Placido Vicardi, dòng Biển Đức, ở Italia, để xin xưng tội. Chàng thanh niên này quì xuống và thưa với cha Vicardi:

- Thưa cha, con là kẻ tội lỗi khốn nạn nhất, vì con đã phạm đủ mọi thứ tội.

Cha Vicarđi đáp:

- Đúng, con đã phạm đủ mọi thứ tội, nhưng con không phải là kẻ có tội khốn nạn nhất, vì có một tội nặng nhất mà con đã không phạm tội ấy.

Chàng thanh niên ngẩng đầu lên nhìn cha Vicardi ngạc nhiên hỏi:

- Thưa cha, làm sao cha biết? Tội đó là tội nào vậy?

Cha Vicardi trả lời:

- Tội nặng nhất mà con đã không phạm, đó là con đã không nghi ngờ và thất vọng về lòng từ bi của Chúa. Sở dĩ cha biết như thế, vì nếu không, thì con đã không đến đây để xin lãnh nhận Bí tích Giải tội. Vậy, nhân danh Đấng giầu lòng từ bi và yêu thương mà con vẫn hằng tin tưởng cậy trông, cha tha thứ hết mọi tội lỗi cho con. Con hãy về, và cố gắng đền đáp lòng yêu thương tha thứ của Chúa nhá.

2. Ma quỷ, tội của ma quỷ, và thánh Gieronimo

Thánh Hiêrônimô sinh năm 340 tại Stridon miền Dalmatie, nước Nam tư. Ngài là một đấng thông minh đạo đức, đã được Đức Thánh Cha Damasus (366-380) trao cho sứ mạng dịch toàn bộ Thánh Kinh sang La ngữ. Bản dịch này vẫn còn dùng trong Phụng vụ Giáo Hội: đó là bản dịch phổ thông (Vulgata).

Ngài đã sang thánh địa, vào trong hang Bêlem để ẩn thân, cầu nguyện và phiên dịch Kinh Thánh. Thế mà theo lời ngài thuật lại, có những lúc ma quỷ xác thịt cám dỗ ngài hết sức nặng nề! Chúng làm ngài nhớ lại những quang cảnh xa hoa trụy lạc, những bạn bè xấu nết dâm đãng ngày trước ở thủ đô Rôma. Để chống trả với cám dỗ của ma quỉ, ngài đã ăn chay kiêng khem hãm mình và cầm đá đấm vào ngực.

Với ơn Chúa và ý chí mình, ngài đã chiến thắng. Đức Boniface VII suy tôn ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh. Ngài mất năm 420.

3. Chúa Giêsu còn mạnh hơn.

Đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa hai em nhỏ:

- Nếu Satan đến cám dỗ, bạn làm sao chống trả?

- Mình biết Satan đến để cám dỗ, nhưng khi nó gõ cửa lòng mình, mình bảo: Có phải Chúa Giêsu gõ cửa đấy không ạ? Khi Satan nghe tên Giêsu là nó biến ngay!

Như vậy, chúng ta thấy một người mạnh nhất cũng không thể một mình chống lại Satan (Góp nhặt).

Muốn chống nổi Satan chúng ta phải cậy dựa vào Chúa.

4. Chúa thấy

Một thiếu nữ trắc nết nọ đến cám dỗ một thánh nhân phạm tội với mình. Ngài bảo:

- Được lắm, ta hãy kiếm một nơi nào kín đáo đi.

Cô gái dẫn Ngài vào một căn phòng và đóng cửa lại. Ngài bảo:

- Đây tôi sợ chưa được kín đáo.

Cô lại đưa Ngài đến một căn phòng khác có một lối vô cong queo lại thêm hai lớp cửa thật là vững chắc. Ngài nói:

- Tôi vẫn còn ngại, chỗ vững chắc như chỗ này cũng chưa kín đủ, với lại nhỡ có ai đột nhập thì làm sao thoát thân!

Cô ta lại đưa Ngài lên tầng lầu cao nhất, lại có hệ thống báo động và nhiều lối thông thương, chuồn đi rất dễ. Cô bảo:

- Như thế này thì thật là cẩn mật... Muốn thấy đã là điều không thể, huống nữa lại đi vào.

Lúc ấy thánh nhân mới dốc bầu tâm sự ra:

- Cô ơi, không có chỗ nào kín cả!

Cô gái ngạc nhiên trố mắt nhìn Ngài. Ngài nói tiếp:

- Làm sao ta che mắt Thiên Chúa nổi.

Rồi Ngài khuyên răn, dạy dỗ cô gái, về sau cô trở thành người đạo đức, có lòng sám hối sâu xa...

5. Thích ứng để truyền giáo

Đọc lại lịch sử truyền giáo của các nhà thừa sai trên Miền Thượng (Tây Nguyên – Việt Nam) trong cuốn: “Dân Làng Hồ”, tác giả cho thấy rất rõ yếu tố sống còn, thành công hay thất bại, phụ thuộc rất nhiều vào việc thích ứng hay không thích ứng của các thừa sai!

Khi nói đến truyền giáo, yếu tố thích ứng là điều rất quan trọng, vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố này khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng và truyền cho họ đừng mang theo bao bị, giày dép, túi tiền... Người ta cho ăn thức ăn gì thì hãy ăn. Điều này ngược lại với quan niệm của người Pharisêu, vì mỗi khi họ đi đâu xa, thường thì họ luôn chuẩn bị cho mình những thứ căn bản như tiền, bao bị và thức ăn để đảm bảo sự thanh sạch, vì nếu không có những thứ đó, họ e sợ bị nhiễm uế nơi dân ngoại...

Người môn đệ của Đức Giêsu phải khác! Khác để hiệp nhất, hiệp thông, hòa đồng; khác để sống tình huynh đệ, bác ái; khác để thích ứng và hội nhập; khác để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa; khác để sống phó thác trong sự an bài của Thiên Chúa.

6. Tha thứ là việc làm của Thánh Thần

Sự nghiệp ca hát của Marvin Gaye, người đoạt giải Grammy, đã đột nhiên kết thúc vào năm 1980 khi chính cha của anh bắn chết anh. Tuổi thơ của Marvin gặp nhiều đau khổ do chính sự hung ác của người cha gây ra và để lại nơi anh một vết thương không bao giờ lành. Để nói về tình trạng bi đát này, người bạn và là người chép tiểu sử của anh viết: “Marvin thật sự tin tưởng nhiều vào Chúa Giêsu, nhưng anh không bao giờ áp dụng bài học tha thứ của Chúa Giêsu đối với người cha của anh. Kết quả là nó đã hủy diệt cả hai.”

Sự thất bại của Marvin trong việc theo gương Chúa Giêsu để tha thứ mời gọi tôi nhớ lại có ai đã làm thương tổn cho tôi không và xin Chúa giúp tôi tha thứ tất cả cho họ.

Những kẻ có tâm hồn nhỏ mọn không thể biết được hào quang của sự tha thứ (Frederick Robertson).

7. Thánh Thần là sức mạnh của tâm hồn

J.S. Abbott, người viết tiểu thuyết của Napoleon Bonaparte, đã ghi nhận câu nói của vị lãnh tụ Pháp này: “Tôi có những người sùng mộ đến độ sẵn sàng chết vì tôi. Ánh mắt giọng nói của tôi, một lời nói của tôi có thể nhóm lên trong lòng họ một ngọn lửa thiêng. Thực ra, tôi có sở hữu một bí quyết có sức nâng bổng tâm hồn người ta lên.” Vua Đavít cũng là một nhà lãnh đạo có khả năng thu hút quần chúng. Khả năng tự nhiên này càng được phát triển hơn nhờ ân sủng: “Thiên Chúa các cơ binh ở với ông.”

Ai là những người tôi lãnh đạo và tạo ảnh hưởng? Làm thế nào tôi có thể trở nên một mẫu gương cho họ?

Quan tâm được coi là điều cần thiết hơn. Tin tưởng được coi là điều khôn ngoan hơn. Phục vụ được coi là điều thực tế hơn.

8. Thánh Thần bị coi thường là cái chết tâm hồn

Một cậu bé Châu Phi và một số người lớn Châu Âu sống sót trong một vụ rơi máy bay ở một khu rừng già. Cậu bé nói cậu biết rõ đường ra khỏi khu rừng, nhưng người lớn không nghe cậu. Họ đi theo đường của họ và đã chết, trong khi cậu bé Châu Phi sống sót. Câu truyện này cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về tội chống lại Chúa Thánh Thần. Đó cũng là chối bỏ sự hiện diện của Thần Khí trong Chúa Giêsu. Đó là gán cho ma quỷ những gì thuộc về Chúa Thánh Thần.

Bằng cách nào tôi có thể mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời tôi?

Nếu Chúa Giêsu bị kết án nơi tòa án hôm nay, chắc hẳn sẽ có hai bác sĩ khám nghiệm để xem Ngài có bị ảo tưởng không, và rồi sẽ được đưa vào nhà thương điên (Bernard Shaw).

9. Chỉ tình yêu mới hiểu

Ngày xưa, theo thông lệ ở một nước nọ, sau mỗi trận chiến, người ta đem tù binh đi xử tử. Chiều hôm ấy, người ta dẫn những người lính khốn khổ đó ra pháp trường. Khi người ta bắt họ diễu qua trước mặt đức vua, một người trong bọn họ cất giọng the thé: “Kẻ sắp chết có thể nói hết những ấm ức trong lòng!”

Rồi anh ta tuôn ra những lời nguyền rủa. Đức vua không hiểu ngôn ngữ của anh ta nên quay về các triều thần, hỏi: “Có ai biết người ấy nói gì không?”

Một ông quan ngồi gần tâu: “Muôn tâu bệ hạ, người ấy nói: Chúa thương yêu những ai biết nén giận và tha thứ cho kẻ thù”

Đức vua rất cảm động khi nghe những lời ấy. Ngài ra lệnh đình chỉ việc hành hình. Nhờ vậy mà đoàn tù binh thoát chết.

Viên quan cận thần đó lẽ nào không có phần bị xúc phạm trong lời chửi rủa của tên tù binh. Nhưng may thay, điều duy nhất mà trái tim ông hiểu được là nỗi đau khổ của người khác, cũng như sự độc ác và ngu dại của chiến tranh:

“Lấy đao chém nước, nước càng chảy mạnh, nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm. Lấy oán báo oán, oán thù chồng chất, lấy ân báo oán, thù oán tiêu tan.”

"Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê." (Tv 51,19)

THỨ BA - MẸ CHÚA VÀ ANH EM CHÚA GIÊSU

Lời Chúa: Mc 3,31-35

Khi ấy, mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào mời Chúa ra.

Bấy giờ có đám đông ngồi chung quanh Người và họ trình với Người rằng: "Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy."

Người trả lời rằng: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?"

Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói: "Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta."

TRUYỆN KỂ

1. Gia đình Thiên Chúa

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Cuộc đón rước Hòm Bia thật long trọng. Đa-vít ca hát nhảy múa hết mình. Và dâng lễ vật trọng hậu lên Thiên Chúa: “Khi những người khiêng Hòm Bia của Đức Chúa đi được sáu bước, thì vua sát tế một con bò và một con bê béo. Vua Đa-vít quấn ê-phốt vải gai, nhảy múa hết sức mình trước nhan Đức Chúa." Việc dâng lễ vật tuy trọng hậu, nhưng chỉ rời rạc. Không qui tụ được toàn dân. “Rồi toàn dân ai nấy về nhà mình” (năm chẵn).

2. Môn đệ Khổng Tử

Khổng Tử có một người cháu tên là Khổng Miệt và một người học trò tên là Bật Tử Tiện, cả hai ra làm quan cùng một thời. Một hôm Khổng Tử hỏi người cháu:

- Từ khi ra làm quan đến giờ, ngươi đã được điều gì và mất điều gì?

Khổng Miệt trả lời:

- Từ khi làm quan, tôi chưa được điều gì, mà đã mất ba điều: không có giờ học tập vì thế trình độ vẫn thấp, lương bổng không đủ giúp người thân, công việc bề bộn nên không có giờ thăm viếng bạn bè.

Nghe thế, Khổng Tử rất buồn lòng.

Một ngày nọ, Khổng Tử cũng hỏi Bật Tử Tiện cùng một câu như đã hỏi Khổng Miệt, Bật Tử Tiện đáp:

- Từ khi ra làm quan, tôi chưa mất điều gì, mà đã được ba điều: Những điều đã học nay đem ra thực hành, vì thế việc học được rõ ràng thêm; lương bổng tuy ít nhưng cũng có thể giúp người thân phần nào, do đó mà thân thiện hơn; công việc tuy nhiều, những cũng bớt chút thời giờ thăm bạn bè khiến tình bạn càng thân thiết.

Câu trả lời của Bật Tử Tiện được Khổng Tử khen là chí lý và thực là câu trả lời của người quân tử.

3. Con lừa của Chúa

Thánh Gioan Vianney, lúc còn là một chủng sinh, học hành rất chậm chạp, tưởng chừng như ngài không có đủ khả năng để tiến tới chức Lm. Ngày kia, thừa lệnh giám mục giáo phận, một vị giáo sư thần học, đã đến khảo sát Vianney, tội nghiệp Vianney đã không thưa được câu nào. Không giữ được bình tĩnh, vị giáo sư đã đập bàn quát lớn: “Vianney, anh dốt như lừa. Với một con lừa như anh, Giáo hội sẽ làm được gì?”

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng có một cái hàm của một con lừa, để đánh bại được ba ngàn quân Philitinh, vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được gì sao?”

4. Thực hành Lời Chúa.

Trong Chúa nhật đầu tiên tại một giáo xứ, vị linh mục vừa nhận chức đã giảng một bài giảng rất văn hoa, xúc tích, sâu sắc, hùng hồn. Tất cả các tín hữu có mặt hôm ấy cảm thấy rất sốt sắng và phấn khởi. Có lẽ có nhiều người đã dâng lời cảm tạ Thiên Chúa, vì Ngài đã ban cho họ một vị linh mục có tài ăn nói: “Phun châu nhả ngọc."

Tiếng đồn về cha xứ mới lan mau như lửa cháy, vì thế vào Chúa nhật kế tiếp, nhà thờ bỗng trở nên đông đảo hơn các Chúa nhật khác. Mọi người nóng lòng chở đợi cho đến lúc cha giảng. Nhưng cha xứ lại giảng một bài gần giống như bài giảng Chúa nhật tuần trước đó. Rồi trong Thánh lễ Chúa nhật thứ 3, thứ 4, kế tiếp đó cũng vẫn một bài giảng đó.

Hội đồng giáo xứ liền cử người đến hỏi cha xứ xem tại sao mà ngài lại cứ giảng đi giảng lại một bài giảng hoài như vậy? Cha xứ bèn trả lời:

- Tại sao anh chị em vẫn cứ sống như cách đây 6 tuần trước. Khi nào anh chị em đem áp dụng những gì tôi đã trình bầy tôi sẽ giảng bài giảng mới.

5. Người thân của Chúa

Nàng là một thiếu nữ trẻ đẹp, đã đính hôn với một chàng trai, và đang chờ đợi ngày làm lễ thành hôn. Thế rồi một hôm, bỗng nàng cảm thấy đau ở tay. Nàng đến gặp một Bác sĩ. Sau khi đã khám nghiệm, bác sĩ cho biết, nàng mắc bệnh phong cùi. Thế là tương lai hoàn toàn sụp đổ ngay ở dưới chân. Sao mà số phận của nàng nghiệt ngã đến thế. Rồi cùng với bao nhiêu người cùi khác, nàng phải vào sống trong trại cùi. Những trại này thường được thiết lập ở một nơi xa xôi hẻo lánh, tách biệt khỏi gia đình và xã hội.

Hôm ấy người ta chở nàng đến trại cùi. Vừa đến nơi, thấy những người đàn bà rách rưới bẩn thỉu, nàng bật khóc và tinh thần xuống tột độ. Sự tuyệt vọng đã hiện rõ trên khuôn mặt xinh xắn của nàng. Những người đưa nàng đến đây đều có cùng một ý nghĩ là, có thể nàng sẽ tự tử.

Nhưng may thay, mấy ngày hôm sau, một vị thừa sai đang phục vụ trong trại cùi đã đến xin nàng giúp ngài săn sóc cho những người cùi khác.

Một tia hy vọng đã lóe lên trong đầu nàng. Từ đó, nàng bắt tay vào việc bằng cách mở lớp dạy chữ cho các em cùi và những người lớn chưa biết chữ. Nàng cũng hướng dẫn những phụ nữ có con cách chăm sóc và nuôi nấng con cho chu đáo.

Nhưng điều nàng làm hay nhất là những buổi sinh hoạt mà nàng đứng ra hướng dẫn, đã thay đổi hẳn bộ mặt của trại cùi một cách rõ nét. Nhờ cây đàn Accordion được các vị thừa sai sắm cho, nàng đã tạo nên được một bầu không khí vui nhộn và ấm cúng cho cả trại cùi.

Ít lâu sau, có người hỏi cảm tưởng của nàng về cuộc sống nàng đang sống thì người thiếu nữ Ấn Độ đó trả lời rằng:

- Khi vừa mới đến đây, tôi bắt đầu hồ nghi Thiên Chúa. Tôi không biết có Thiên Chúa hay không nữa. Vì nếu có Thiên Chúa là tình thương, thì làm sao mà Ngài lại để cho con người khổ sở như thế này. Nhưng bây giờ thì tôi biết đó là ý Chúa. Và rõ ràng đối với tôi là Ngài muốn cho tôi ở đây, để làm vơi đi những nỗi sầu khổ của bao nhiêu người đang sống ở chốn này. Vì thế, tôi không còn buồn nản như lúc mới tới đây nữa, mà tôi hân hoan thực thi ý của Chúa. Bao lâu tôi còn sống tôi sẽ cảm tạ Chúa vì Ngài đã dắt đưa tôi tới đây.”

Vâng! Người thiếu nữ trên đây đã trở thành mẹ và anh chị em của Chúa rồi.

THỨ TƯ - DỤ NGÔN GIEO HẠT GIỐNG

Lời Chúa: Mc 4,1-20

Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy ở bờ biển và có đám đông dân chúng tụ lại gần Người, nên Người xuống ngồi trong một chiếc thuyền trên mặt biển, tất cả đám đông thì ở trên đất theo dọc bờ biển.

Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều, và khi giảng, Người nói với họ rằng: "Các ngươi hãy nghe! Nầy người gieo hạt đi gieo hạt giống. Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết. Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất. Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị chết khô. Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết mà không sinh hoa trái được. Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm." Và Người phán rằng: "Ai có tai nghe thì hãy nghe."

Khi Người còn lại một mình, thì mười hai ông là những kẻ luôn ở với Người, hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn, Người liền bảo các ông: "Các con được ơn biết mầu nhiệm về nước Thiên Chúa, còn những người khác ở ngoài thì mọi sự được giảng dạy bằng dụ ngôn, vì chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, kẻo chúng trở lại mà được tha tội." Người nói với các ông: "Các con không hiểu dụ ngôn đó sao? Vậy thì hiểu sao được tất cả những dụ ngôn khác?

Người gieo hạt là gieo lời Chúa. Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ. Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền. Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được. Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm."

TRUYỆN KỂ

1. Mội thánh có một câu Lời Chúa

Chỉ cần một hạt giống lời Chúa rơi vào tâm hồn bạn, như rơi vào thửa đất màu mỡ, đời bạn có thể thay đổi hoàn toàn.

Têrêsa Hài Đồng đã để lòng mình đón lấy lời này: “Ai không nên như trẻ thơ thì chẳng được vào Nước Trời.” Chị đã nên thánh nhờ suốt đời sống phó thác như trẻ thơ.

Têrêsa Calcutta đã để lòng mình đón lấy lời này: “Những gì ngươi làm cho một anh em nhỏ nhất, là làm cho chính Ta.” Mẹ Têrêsa đã không bao giờ quên mình đang tiếp xúc với Giêsu mỗi khi Mẹ gặp người nghèo khổ, bệnh tật.

2. Hạt giống Lời Chúa

Phan Linh là một nhân vật nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khoa học kỹ thuật và văn chương. Một hôm ông nhận được một món quà của một người bạn từ Ấn Ðộ, đó là một cái chổi rơm. Nhận thấy có những hạt lúa dính ở cọng rơm, ông nhặt lấy và đem đi gieo, sau đó ông cũng phân phát cho bà con cùng gieo, thu hoạch rất khả quan và dần dần lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nhập giống lúa mới và khai sinh kỹ nghệ làm chổi phục vụ cho cả nước.

3. Đón nhận hay khước từ

Thánh Âu Tinh nói: “Thiên Chúa sinh ra bạn, Ngài không cần hỏi ý kiến bạn, nhưng khi muốn cứu chuộc bạn, Người phải hỏi ý kiến bạn."

Thật vậy, Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do, đây là gia sản quý giá mà Thiên Chúa không ngần ngại ban tặng cho một loài thụ tạo. Vì thế, con người hoàn toàn có trách nhiệm khi sử dụng tự do của mình trong cuộc sống.

4. Hạt giống Lời Chúa rơi vào đất nào?

Một nhà thừa sai Công giáo gặp một cậu bé người Ả Rập trên đường từ trường về nhà. Nhà truyền giáo vui vẻ hỏi: - Sao, hôm nay con học thêm được gì về sách Coran?

Mắt cậu sáng lên và mau mắn đọc thuộc lòng những câu trích từ sách Coran là sách thánh của các tín đồ Hồi giáo. Nhà truyền giáo nói thêm:

- Bây giờ, con thử viết những lời đó trên đất để cha có thể hiểu dễ dàng hơn và học mau thuộc hơn không?

Cậu bé đáp:

- Thưa cha, không được! Lời Thánh phải được viết trong trí và ghi trong lòng chứ không thể viết trên đất được.

Theo tư tưởng của cậu bé đó thì Kinh Thánh phải được ghi khắc trong tâm hồn, nghĩa là Lời Chúa phải thấm nhập vào lòng trí người Kitô hữu để họ phải sống bằng Lời Chúa.

Sống đạo là để cho Lời Chúa thấm nhập tâm hồn.

Sống đạo là để cho Lời Chúa hướng dẫn cuộc sống.

Sống đạo là để cho Lời Chúa tuôn trào ra cửa miệng và thấm nhuần môi trường sống.

5. Lời Chúa biến đổi tâm hồn.

Một bác nông phu quê mùa chất phác nọ đã trở lại Kitô giáo. Được Lời Chúa soi sáng và hướng dẫn, Đức tin cũng như lòng mến Chúa chân thành của bác ngày càng trở nên mạnh mẽ, mạnh đến độ gặp ai, ở chỗ nào bác cũng sốt sắng nói về Chúa cho người ta nghe.

Một hôm, có một người vô thần đến gặp bác, với ý định đặt một số câu hỏi để dằn mặt bác để bác khỏi đi rao giảng về Đức Kitô.

Người vô thần hỏi:

- Ông có biết Đức Kitô mà ông vẫn hăng say quảng cáo, sinh ra ngày nào không?

Bác nông phu trả lời:

- Ngày 25 tháng 12.

Người vô thần nhún vai, trợn mắt, lắc đầu ra chiều khinh bỉ, rồi hỏi tiếp:

- Thế ông có biết Đức Kitô của ông chết năm bao nhiêu tuổi không?

Bị hỏi bất ngờ, bác nông phu còn đang ấp úng để tìm câu trả lời, thì người vô thần kia đã cướp lời: - Ông thấy không, ông có biết gì về Đức Kitô của ông đâu. Vậy mà cứ đi quảng cáo về ông ta rùm beng.

Sau lời chê bai của người vô thần, bác nông phu bình tĩnh giải thích:

- Tôi không biết nhiều về Đức Kitô. Nhưng có một điều tôi biết chắc là, hai năm trước đây, tôi là một người chè chén say sưa, tôi rất hay nóng giận, đập phá nhà cửa, đánh đập vợ con. Hai năm trước đây, không bao giờ tôi thấy vợ tôi nở một nụ cười, con cái tôi không còn xa tránh tôi nữa. Bầu khí trong gia đình tôi đã trở nên nhẹ nhõm, vui tươi. Còn riêng tôi, tôi đã bỏ được những tính xấu trước đây. Tất cả những điều ấy, tôi tin là Đức Kitô đã làm cho tôi và gia đình tôi được thay đổi. Tôi nghĩ, tôi biết như thế về Đức Kitô, cũng đã là quá nhiều rồi.

6. Giác ngộ

Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagayad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi "Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không?" Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời "Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã..."

Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua "Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được..." Giác ngộ đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý"

7. Ai tìm sẽ gặp

Đại tướng Lew Wallace, một đảng viên cao cấp của đảng cộng sản vô thần. Lần kia ông nói với người bạn của ông rằng: “Bọn Công giáo thật ngu đần, chúng tôn thờ một tử tội bị treo trên thập giá là ông Giêsu! Chúng lại mê đọc sách của bọn vô học thức là Nhóm 12 môn đệ của ông Giê-su (x Cv 4,13). Sách này toàn là chuyện mê tín, trái khoa học! Tôi sẽ để ra 5 năm đọc sách ấy, và tôi quyết mở mắt cho bọn Công Giáo khỏi bị mù quáng, để chúng được sáng suốt như tôi!”

Thế nhưng, sau 5 năm nghiên cứu Thánh Kinh, kết quả ngược lại, thay vì ông mở mắt cho người Công Giáo, thì chính ông lại được Chúa mở mắt cho, ông nhìn thấy lúc Chúa bị đâm, nước và máu từ cạnh sườn Ngài dốc ra hết, lúc ấy một trận mưa rào trút nước, chuyển tải máu Đức Giêsu từ đồi Sọ chảy xuống thung lũng có những người cùi đang tắm mưa, ai đằm mình trong nước đó đều được lành mạnh.Chuyện này đã được đóng thành phim có tựa đề “Benhur”rất nổi tiếng! Ông Lew Wallace trở thành chứng nhân cho Đức Giêsu: chỉ có Ngài mới thực là Đấng Cứu Độ!

8. Tình yêu biết tha thứ

Trong cuốn “Tha thứ và quên đi”, Lewis Smedes kể về một tù nhân lao động trong bệnh viện tại chiến trường của Đức Quốc Xã. Ngày kia, một y tá hộ tống anh đến giường một người lính Đức đang hấp hối. Người này xin được tha thứ vì đã góp phần trong việc sát tế người Do thái: “Tôi biết điều tôi xin là quá nhiều. Nhưng nếu không được tha thứ, tôi không thể nào chết thanh thản được”

Tù nhân suy nghĩ một lúc rồi bỏ đi, không tha thứ cho người lính Đức. Tù nhân này sống sót sau cuộc chiến, nhưng không thể quên được sự kiện này. Nó quấy rầy anh suốt quãng đời còn lại.

Nếu một ai đó khó tha thứ cho người khác tôi sẽ khuyên họ cho điều gì? Tại sao?

Khi chúng ta không chịu tha thứ, chúng ta phá sập chiếc cầu dẫn chúng ta tới Thiên đàng, bởi vì mỗi người đều cần được tha thứ (George Herbert).

9. Dụ ngôn của tâm hồn

Một nữ sinh trung học nói với thầy giáo: “Khi nghe nói dụ ngôn về Người gieo giống, em có cảm tưởng chính Chúa Giêsu nói với chính em. Trước đây, vị hướng dẫn của em và em đã trao đổi và em quyết tâm rất nhiều điều. Nhưng hôm qua, em đã vấp ngã. Em đã không giữ được một trong những quyết tâm đó. Em đã để những lo lắng về trường lớp và cuộc sống làm chúng bị lung lạc”

Ở mức độ nào, tôi để hạt giống rơi vào bụi gai như nữ sinh này? Tôi có thường để những lo lắng của cuộc sống bóp nghẹt Lời Chúa trong lòng tôi không?

Bạn càng trung thành lắng nghe tiếng nội tâm, bạn càng có khả năng nghe rõ những âm thanh bên ngoài (George Dana Boardman).

10. Luôn luôn gieo

Vào thập niên 1930, một du khách thám hiểm dãy Alpes, anh đến một dải đất trọc, rộng mênh mông. Bỗng anh sững sờ, vì giữa vùng đất cằn cỗi ấy, một cụ già đang lom khom với một ống sắt dài; ông dùng ống sắt đâm xuống làm thành những chiếc lỗ. Đoạn bốc ra từ chiếc túi những hạt nhỏ, ông gieo vào mỗi lỗ một hạt. Ông nói, “Tôi đã trồng hơn 100 ngàn hạt sồi. Có lẽ chỉ một phần mười sẽ mọc lên." 20 năm sau, du khách kia về lại vùng đất hoang. Không thể tin được, một rừng sồi xinh đẹp trải dài hàng chục dặm!

 “Người gieo giống đi ra gieo giống." Để có thể ‘luôn luôn gieo’, trước hết, tâm hồn chúng ta phải luôn thao thức và cần được chăm sóc. “Việc chăm sóc tâm hồn tựa hồ việc xới đất: nhổ cái ác, trồng cái thiện; bứng tróc niềm kiêu hãnh từ gốc rễ, vun quén sự khiêm nhường; vứt bỏ mọi tham lam và giữ lấy lòng thương xót; khinh thường sự ô uế và yêu thích sự trong trắng!” - Thánh Caesarius Arles. Một yếu tố cần thiết khác là biết chờ đợi, “Gieo là một cử chỉ tin tưởng và hy vọng; nhưng sau đó, bạn và tôi phải bước vào thời gian chờ đợi. Vì rằng, việc mọc lên là công việc của Chúa!” - Bênêđictô XVI.

 “Lạy Chúa, xin cứ dùng con như khí cụ bình an của Lời. Ngày nào con ngưng thở, ngày ấy con ngừng gieo!”, Amen.

THỨ NĂM – ĐÈN ĐẶT TRÊN ĐẾ CAO

Lời Chúa: Mc 4, 21-25

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe.”

Và Người bảo họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất.”

TRUYỆN KỂ

1. Ðong đấu nào

Thi hào Tagore có kể câu truyện ngụ ngôn như sau: Có một người hành khất nọ ngồi bên vệ đường. Hôm ấy, đức vua ngự giá đi ngang qua. Người hành khất cố lê lết đến cổng làng, ngồi đó và nhủ thầm: "Ðây là dịp may hiếm có, tôi sẽ xin đức vua bố thí cho tôi.”

Từ xa, khi thấy xe đức vua, người hành khất đã vẫy tay chào. Nhưng không ai ngờ, khi xe dừng lại, vua chẳng cho gì mà còn giơ tay xin người hành khất bố thí. Người hành khất liền đưa tay vào cái bị, lấy ra một nắm thóc và đặt vào bàn tay vua một hạt thóc. Ðức vua cám ơn, rồi tặng lại một món quà nhỏ bỏ vào cái bị ấy.

Khi về đến nhà, người hành khất mở bị ra, thì thấy giữa những hạt thóc một hạt kim cương sáng ngời. Lúc đó, người hành khất mới hối tiếc: "Phải chi ta cho đức vua cả bị thóc này, thì ta đã được cả một bị kim cương.”

2. Cây nến trong tay Thiên Chúa

Buổi chiều, người nọ lấy cây nến nhỏ từ trong hộp ra và leo lên tầng tháp cao. Cây nến hỏi:

- Chúng ta đi đâu?

- Đi lên cao hơn để chỉ đường cho tàu bè vào cảng.

- Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm sao tàu bè thấy được?

- Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng thôi, còn mọi việc ta lo.

Tới đỉnh tháp, người nọ đặt cây nến vào trong một cái đèn có ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó, ánh sáng lan tỏa và mọi tàu bè đều thấy.

Chúng ta cũng là cây nến trong tay Thiên Chúa. Chỉ cần ta cháy sáng, còn kết quả là ở Thiên Chúa.

3. Các con là chứng nhân của Thầy

Vì thế, năm 1937, ông Gandhi, một lãnh tụ vĩ đại của Ấn độ, đã nói với các nhà truyền giáo câu này để chúng ta suy nghĩ: ”Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ đến sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu, chứ không phải là chú giải nó.”

Là ánh sáng, chúng ta phải chiếu soi cho thế gian bằng đời sống gương sáng và đem tinh thần Chúa Kitô thấm nhiễm vào môi trường sống của mình. Chúa bảo chúng ta: ”Các con là chứng nhân của Thầy”, nhưng nhiều khi chúng ta vô tình hay hữu ý đã trở thành phản chứng, làm méo mó khuôn mặt của Đức Kitô, khiến người ta không muốn theo Chúa.

4. Ngọn hải đăng.

Vào một đêm mưa bão, ngọn hải đăng bị mất điện tắt ngấm. Người phụ trách hải đăng vội vã đốt một cây nến nhỏ và cầm cây nến theo đường cầu thang leo lên sân thượng để đốt đèn lên. Bấy giờ cây nến mới lên tiếng hỏi người phụ trách rằng:

- Ông đem tôi đi đâu vậy?

Ông trả lời:

- Ta mang nhà ngươi lên sân thượng để chiếu sáng giúp tầu bè từ ngoài khơi biết đường trở về và cập bến an toàn.

Cây nến lại nói:

- Nhưng tôi chỉ là cây nên nhỏ bé thế này thì tầu bè ở tận ngoài khơi làm sao nhìn thấy ánh sáng của tôi được?

Người phụ trách trả lời:

- Bây giờ ta chỉ cần nhà ngươi đừng bị gió thổi tắt là được. Còn các chuyện khác thì đã có ta lo liệu.

Khi cả hai leo lên đến nơi, thì người phụ trách đã dùng cây nến châm lửa và trong giây lát ánh sáng từ cây đèn lồng rực lên chiếu tỏa ra chung quanh. Chiếc đèn lồng này đã được thiết kế để khi cần có thể xử dụng thay bóng đèn điện. Ánh sáng của nó có sức chiếu ra tận ngoài khơi, hầu giúp tầu bè dễ dàng định hướng để quay về cập bến an toàn.

5. Tai và lưỡi được vào thiên đàng

Một nông dân nghèo Nhật bản vào thiên đàng và điều đầu tiên ông nhìn thấy là một kệ dài với những vật rất kỳ lạ. Ông hỏi:

- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?

- Không, đó là những cái tai. Chúng là của những người khi sống ở đời nghe được những điều tốt, nhưng họ không làm. Nên khi chết, tai họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không.

Một lát sau, ông lại thấy một kệ khác với những vật kỳ quái. Ông hỏi:

- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?

- Không, đó là những cái lưỡi. Chúng là của những người sống ở đời bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ không làm hoặc không sống điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không (Góp nhặt)

6. Nến được đặt trên giá

Lời Chúa quả có sức chiếu sáng rất mạnh. Chỉ tiếc rằng, Lời Chúa rót vào tai một số người giống như dầu châm vào những cây đèn không chịu cháy sáng cho nên cũng vô ích. Bà Chiara Lubich nói: “Chúng ta phải sống thế nào để cho dù các sách Tin Mừng trên khắp thế giới có bị đốt hết đi thì người ta cũng vẫn có thể nhìn vào cuộc sống chúng ta mà chép lại Tin Mừng đúng từng câu, từng chữ.”

Chiara rất thích thể thao, nhưng rồi một hôm khi dang chơi tennis, cô thấy đau ở vai. Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ cho cô biết cô đã bị ung thư và phải nằm viện. Trong thời gian điều trị, cô đã cố quên cái đau đớn trong thân xác để giúp đỡ mọi người. Khi cô thấy tóc mình rụng quá nhiều vì xạ trị cô đã nói: - Con xin dâng tất cả cho Chúa Giêsu.

Trước khi lìa đời, Chiara dặn dò mọi người:

- Xin đừng khóc cho tôi, tôi đang đến với Chúa Giêsu. Trong lễ an táng của tôi, tôi muốn mọi người đều ca hát ngợi khen Chúa.

Đức Cha Jean Koret, vị Giám Mục Tiệp Khắc đã từng phải sống lén lút dưới chế độ Cộng Sản của Tiệp Khắc trước kia, tâm sự rằng: Ngài đã gặp gỡ được nhiều người tốt, lúc Ngài phải đi làm việc như một công nhân, hơn là lúc Ngài ở trong toà Giám Mục.

Tiết lộ trên đây của Đức Cha Jean Koret, đã phản ánh trung thực điều Chúa Giêsu đã phán: ”Có ai đốt đèn rồi đem để ở trong thùng hay dưới gầm giường không? Nào chẳng phải là đặt trên giá đèn sao?” (Mc 4,21).

7. Điều mong ước thánh thiện

Anh Nguyễn Văn Được khoe với bạn Phạm Minh Cho:

- Tớ mới được anh Tốt tặng cho một chiếc xe hơi trị giá 100. 000 USD.

- Ồ, tôi ước. . ước…

- Bạn ước được chiếc xe như tôi chứ gì?

- Ồ không, tôi ước được giống anh Tốt của bạn.

Chỉ một câu nói của anh Cho đã lộ ra tấm lòng anh giống Chúa, bởi vì Chúa là Đấng Cho (x Ga 3, 16; 1Ga 4, 16). Anh bạn này đúng là cây đèn cháy sáng, đáng được được đặt lên đế cao soi sáng mọi người.

8. Chúa mới tỏa sáng

Chuyện kể rằng có một ngôi chùa kia quanh năm suốt tháng vắng vẻ “như chùa Bà Đanh.” Vị sư trụ trì liền thỉnh một tượng Phật to về đặt trong chùa. Thế nhưng tình thế vẫn không thay đổi. Vị sư liền tìm đến một thiền sư ẩn tu trong núi sâu vấn kế. Vị thiền sư trả lời: “Vì thầy chỉ thỉnh tượng Phật chứ không thỉnh Phật.”

Các ki-tô hữu có khi cũng rơi vào tình huống tương tự khi nghe Chúa Giê-su nói “Các con là ánh sáng thế gian” rồi tưởng rằng mình đã nắm gọn chân lý trong tay và tự đặt mình “trên đế cao” mà quên rằng mình mới chỉ là cái đèn chưa có ánh sáng. Phải toả sáng bằng ánh sáng Chúa Kitô thì sự hiện diện của ngọn đèn trên đế cao mới có ý nghĩa.

Dù là đèn dầu hay đèn điện… cũng phải tiếp xúc với nguồn năng lượng mới có thể toả sáng. Ngọn đèn kitô hữu toả sáng bằng ánh sáng Chúa Ki-tô bằng cách sống những giá trị Tin Mừng một cách dạn dĩ, không mặc cảm, không sợ sệt. Cũng như năng lượng phải được đốt cháy, người ki-tô hữu phải dám chấp nhận hy sinh, thập giá, theo gương Thầy Giê-su thì mới toả sáng được.

9. Đong đấu nào

“Không ai là một hòn đảo,” chân lý đó là bất di bất dịch: ngay cả Daniel Defoe khi viết truyện “Robinson một mình trên hoang đảo” cũng đã tạo ra cho Robinson một nhân vật để bầu bạn là chàng thổ dân mà ông đặt tên là “Thứ Sáu.”

Sống là sống cùng, sống với. Thiên Chúa đã không tạo dựng những con người cô độc, Ngài cũng không cứu rỗi con người cách riêng rẽ; trái lại, Ngài tập họp họ thành một dân tộc để nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện.

Chân lý đó của cuộc sống kéo theo qui luật cho và nhận: cái gì đã được ban không thì cũng phải cho không. Từ sự sống, tình yêu, đến đức tin, và sự sống đời đời,… những điều đó, chúng ta có đều đã lãnh nhận cách dư đầy từ Thiên Chúa; vậy chúng ta cũng phải chia sẻ cho nhau cách quảng đại như vậy. Ngài cũng sẽ tiếp tục hành xử cách ấy đối với chúng ta: “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy.”

10. Nợ tình yêu thương

Ted Kenedy mất đi một chân vì căn bệnh ung thư ở tuổi 12. Năm 20 tuổi, anh dành nhiều thì giờ để nói chuyện với những người khác cũng trong tình trạng giống như của anh. Về khả năng hồi phục của mình, anh nói: “Người ta cho rằng tôi quá tin tưởng. Nhiều người trong gia đình tôi đã thù lao cho những bác sĩ giỏi nhất để tôi chữa trị cách tốt nhất. Vì thế điều tôi quan tâm khi thực hiện những buổi nói chuyện đó là muốn trả món nợ tôi đang mắc với gia đình tôi. Đối với tôi, những buổi nói chuyện ấy còn quá ít để làm cho người khác thấy rằng việc tôi khỏi bệnh hẳn là điều không thể có được nếu bản thân tôi đã không có một cố gắng nào.”

Tôi có thể đáp đền ơn Chúa và gia đình tôi về những đặc ân tôi đã nhận được từ Chúa và gia đình như thế nào?

Không bao giờ chúng ta thấy mình được hạnh phúc nếu chúng ta không nhận ra ở một mức độ nào đó rằng những đặc ân Thiên Chúa ban là điều tốt hơn cả.

11. Cảm nhận tình yêu Chúa

Một người cha của năm đứa con ở nhà một mình. Vợ và các con ông đến nhà bà ngoại vài ngày. Nghe xong bản tin cuối ngày, ông tắt tivi. Ông ngồi yên lặng và chợt nhìn lên tấm ảnh gia đình. Chăm chú nhìn vào tấm ảnh, ông bỗng xúc động vì nhận ra Chúa đã chúc phúc cho gia đình ông như thế nào, đến độ những giọt nước mắt vui sướng chảy ra lăn dài trên má.

Tôi thử nhớ lại xem đã có bao giờ tôi cảm nghiệm được Thiên Chúa chúc phúc cho tôi nhiều đến thế chưa? Điều gì đưa đến cái nhìn sâu xa này? Kết quả ra sao?

Hãy học nơi vua Đavít để biết tạ ơn mọi sự. Những dòng trong cuốn Thánh vịnh được gieo bằng hạt giống của lời tạ ơn (Jeremy Taytor).

12. Đức tin và tình yêu cần việc làm

Một tu sĩ nọ cả đời ngồi thiền trong một hang đá. Môn đệ của ông đem đến cho ông một ít lúa mì để ăn và một ít nước để uống. Vì không vận dụng mắt và chân, vị tu sĩ mất đi khả năng nhìn và đi.

Khả năng của linh hồn cũng giống như khả năng của thể xác: càng sử dụng, nó càng trở nên phong phú; trái lại, càng ít sử dụng, nó càng trở nên yếu đuối. Một khi ta hoàn toàn ngừng sử dụng nó thì chẳng bao lâu ta sẽ mất đi cái nguồn ít ỏi mà ta có.

Tôi đã rơi vào tình trạng nguy hiểm mà việc đánh mất sức mạnh tinh thần tới mức nào, chẳng hạn như khả năng tin tưởng và yêu thương, khi tôi ít sử dụng chúng?

Đức tin Kitô không được sống chỉ là đức tin yếu kém. Và đức tin ấy vẫn chưa được thử nghiệm (Gilbert K. Chesterton).

THỨ SÁU - NƯỚC THIÊN CHÚA PHÁT TRIỂN

Lời Chúa: Mc 4, 26-34

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

Người còn phán: "Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được".

Người dùng nhiều dụ ngôn như thế mà rao giảng lời Chúa cho họ, tuỳ sức họ có thể hiểu được, và Người chỉ nói với họ bằng dụ ngôn, nhưng khi ở riêng với các môn đệ, Người giải thích tất cả cho các ông.

TRUYỆN KỂ

1. Phải kiên trì

Nhà tâm lý học Weldon cho rằng, hạt giống kỳ lạ nhất thế giới là hạt giống của một giống tre bên Trung Quốc. Hạt giống nằm yên dưới lòng đất đến 5 năm, rồi mới nhú chồi non lên mặt đất. Suốt thời gian 5 năm này, người trồng phải vất vả chăm sóc tre, nào là tưới nước, nào là bón phân, mà họ không hề nhìn thấy hệ thống rễ phức tạp đang sinh sôi lan tràn trong lòng đất.

Cuối cùng, một sự sống đã vươn lên đầy kinh ngạc: Chỉ trong 6 tuần sau khi nhú lên khỏi mặt đất, cây tre đã mọc cao lên gần 3 mét... Một sức sống mãnh liệt đã vươn lên mạnh mẽ nhờ hệ thống rễ được nuôi dưỡng 5 năm trong lòng đất, chính những hệ thống rễ này tiếp sức cho mầm non để nó có thể tăng trưởng một cách mau chóng thần kỳ…

Hạt giống của cây tre lạ kỳ này lớn mạnh đầy sức sống gợi cho chúng ta hình ảnh của hạt giống nước Trời: Hạt gieo vào lòng đất được nuôi dưỡng bởi đất, nảy mầm và lớn lên với thời gian. Hạt giống nước Trời sẽ trưởng thành như là hạt cải - “hạt bé nhất” nhưng khi nảy mầm và lớn lên lại thành cây lớn nhất trong các loại rau. Nước Trời được khởi đầu rất nhỏ bé là Chúa Giêsu cùng nhóm nhỏ môn đệ. Sau 20 thế kỷ, Kitô giáo đã lan tràn khắp nơi, đến với mọi dân tộc…

“Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên.

Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả,

nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1Cr 3,6-7).

2. Giải đáp ba thắc mắc.

Một hôm, cha Petitjean đến giảng đạo tại Nagasaki cho một số đông người Nhật. Nghĩ rằng họ đều là người bên lương nên sau bài giảng, ngài tươi cười hỏi:

- Anh em có thắc mắc gì không?

Một người đưa tay đặt câu hỏi:

- Chúng tôi muốn được hỏi ông ba điều, yêu cầu ông trả lời có hay không? Câu hỏi thứ nhất, các ông có tin Đức Mẹ Đồng trinh không?

- Có.

- Câu hỏi thứ hai: các ông có vâng lời và thông hiệp với Đức Thánh Cha không?

- Có.

- Câu hỏi thứ ba: Là Linh mục, các ông có giữ mình đồng trinh và sống độc thân không?

- Có.

- Vậy thì mấy trăm người chúng tôi đây với ông là đồng đạo. Chúng tôi là người Công giáo cả đây.

Cha Petitjean bàng hoàng như từ cung trăng rơi xuống. Cha con âu yếm ôm cổ nhau. Nhà truyền giáo hỏi:

- Bấy lâu nay, có ai giảng dạy cho các anh không?

- Thưa cha, không có ai suốt hai thế kỷ rồi! Đó là nhờ ông bà tổ tiên chúng con truyền lại, rồi chúng con âm thầm cầu nguyện, dạy giáo lý cho con em, đoàn kết đùm bọc nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông bà chúng con trước khi chết có nhắn nhủ: Sau này có ai đến giảng đạo hãy cảnh giác, phải lấy ba tiêu chuẩn ấy mà nhận xem họ có phải là các cha đích thực, là người của Hội thánh sai đến.

Giáo hội Nhật Bản đã tái sinh.

3. Có gieo, có gặt

Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái kể chuyện: Một ngày kia, một tông đồ giáo dân dẫn tôi đến gia đình của một người lương làm nghề kéo xe lôi. Đến đấy tôi nhận được một món quà rất bất ngờ và rất to lớn: cả nhà gồm vợ chồng và 7 đứa con xin theo đạo.

Khi được tôi hỏi lý do thì người chồng cho biết: Mười mấy năm trước, khi còn nhỏ, anh học trường các sư huynh Lasan và đã có lòng mộ mến Đạo Chúa. Lòng mộ mến ấy vẫn âm ỉ trong lòng anh. Tuần trước, khi anh gặp người tông đồ giáo dân này, tàn lửa âm ỉ đó bỗng bùng lên thành một ngọn lửa thôi thúc anh phải xin theo Chúa.

Nếu các sư huynh Lasan của trường kia và những tông đồ giáo dân nọ đã không chịu khó gieo giống vì nghĩ rằng có gieo cũng vô ích thì hôm nay tôi đã không gặt được thành quả này. “Người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa.”

4. Sự sống là một mầu nhiệm

Chúa Giêsu cho biết Lời của Chúa có sức phát triển ngay từ bên trong, tuy âm thầm nhưng liên lỉ và rất mạnh mẽ.

Một giáo sư thực vật học kia tay cầm một hạt giống nhỏ màu nâu và nói với cả lớp rằng:

- Tôi biết rõ hợp chất của hạt giống này. Nó gồm hydro, carbon và nitro. Tôi biết đúng tỉ lệ và có thể tạo ra một hạt giống khác trông y như hạt giống này.

Một học sinh đứng lên hỏi: - Thưa thầy, nếu đem hạt giống thầy chế tạo đó mà gieo xuống đất, nó có thể mọc lên không ạ?

Giáo sư trả lời:

- Với hạt giống của tôi, điều đó không thể được. Nhưng nếu tôi đem hạt giống mà Thiên Chúa đã làm ra, nó sẽ mọc lên thành cây, vì nó chứa đựng nguyên tắc nhiệm mầu mà chúng ta gọi là nguyên tắc sinh tồn.

Hạt giống chứa đựng sự sống. Con người, dù có tài giỏi tới đâu đi nữa cũng chỉ có thể tạo ra những hạt giống tương tự hoặc tạo ra những người máy robot, nhưng không thể nào tạo ra sự sống được.

5. Tôi trồng, Apollo tưới, nhưng chính Thiên Chúa cho mọc lên

Một ông lão người Pháp nọ, sau khi vợ qua đời đã mang đứa con trai duy nhất của ông đến một vùng đất khô cằn nhất của miền Trung nước Pháp để lập nghiệp. Thật ra, người đàn ông này chỉ muốn quên đi cái quá khứ quá khó khăn vất vả của mình. Miền đất khô cằn nơi ông đặt chân đến còn vỏn vẹn chỉ có 5 ngôi làng nhỏ, Dân cư thì thưa thớt. Họ sống trong những căn nhà xiêu vẹo đổ nát. Đa số đã bỏ đi đến những thành phố lớn để tìm công ăn việc làm.

Ông lão trên 60 tuổi đưa mắt nhìn khung cảnh chung quanh và đi đến kết luận như sau: ”Nếu không có cây cối thì chỉ trong vòng một thời gian ngắn nữa, cả vùng này sẽ trở thành sa mạc hoang vu”. Sau khi đã dọn chỗ cho đàn cừu và một số gia súc khác, ông lão tự đi bộ dọc theo các lối đi và cúi xuống nhặt từng hạt dẻ. Ông lựa những hạt tốt để làm giống. Ông ngâm vào nước. Khi mặt trời vừa lên, ông dùng ruột thanh sắt nhọn moi những lỗ nhỏ và cứ mỗi lỗ ông đặt một hạt dẻ vào đó.

Ngày qua ngày, liên tiếp trong ba năm trời như thế, ông lão đã trồng được tất cả 100.000 cây dẻ con. Ông hy vọng rằng, dù chúng có chết đi thì ít ra cũng phải có 10 ngàn cây còn sống sót. Ông cũng hy vọng rằng, Chúa sẽ cho ông được sống thêm vài năm để làm cho xong công tác trồng cây này. Ông qua đời năm 1947, hưởng thọ 89 tuổi.

Từ những hạt dẻ ông đã cặm cụi moi từng lỗ nhỏ để đặt vào bây giờ nước Pháp có một trong những khu rừng đẹp nhất thế giới. Trong ba khóm rừng, mỗi khóm dài 1 cây số, rộng 3 cây số, những cây dẻ xinh tươi to lớn đã có mặt để chứa được nước mưa, làm cho cây cối xung quanh được xinh tươi và biến khu đồi khô cằn ngày xưa thành những dòng suối róc rách, chim chóc đã trở lại. Sự sống cũng bắt đầu chớm nở... Dân chúng từ từ trở lại với ngôi làng cũ để xây nhà và làm lại cuộc đời.

Lúc đầu hạt giống Nước Trời quả thật là khiêm tốn, nhỏ bé. Thế nhưng, ngày hôm nay thì nào có ai dám hồ nghi về những khu rừng Giáo Hội đang hiện diện trên hành tinh mà chúng ta gọi là thế giới kỳ diệu này.

6. Chúa bán hạt giống

Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ. Chị thấy mình bước vào một siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quày hàng đặc biệt, người ta chen chân không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu đứng bán ở quày hàng này.

Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: “Chúa mà cũng bán hàng sao? Chúa bán cái gì ở đây vậy?”

Chúa trả lời: “Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim con.”

Chị nói liền một hồi: “Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi. Suy nghĩ một lúc, chị lại thêm: không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng, cho con và cho những người thân yêu của con nữa.”

Chúa mỉm cười và nói: “Hỡi con yêu dấu, ở đây, Ta không bán hoa trái mà chỉ bán hạt giống thôi.” (Anthony de Mello).

7. Giáo hội Hàn Quốc trẻ trung

Tôi có đi du lịch hành hương đất nước Hàn Quốc. Theo linh mục Piero Gheddo, thuộc Hội Truyền Giáo Nước Ngoài Milano: “Trong suốt 50 năm qua có lẽ đã không có quốc gia nào trên thế giới có được sự phát triển liên tục trên mọi bình diện chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo như Hàn Quốc. Sự phát triển mạnh mẽ này cũng xảy ra đối với Kitô giáo nữa. Thật thế, từ năm 1960 đến năm 2010, dân số Hàn Quốc từ 23 triệu đã tăng lên 48 triệu người. Lợi tức bình quân tính trên đầu người gia tăng từ 1.300 USD lên 19.500 USD hằng năm. Số Kitô hữu từ 2% tăng lên 30%, trong đó có khoảng 11% là tín hữu Công giáo, tức khoảng 5,4 triệu. Số linh mục từ 250 lên đến 5.000.” (Nhật báo Avenire (Tương lai), cơ quan ngôn luận chính thức của Hội đồng Giám mục Italia số ra ngày 8-4-2012).

Với hơn 5.000 linh mục hiện nay, tính bình quân, mỗi vị coi sóc 1.100 tín hữu. Hồi năm 2008, số tín hữu Công giáo đã vượt 10% tổng số dân Hàn Quốc và gia tăng 3% mỗi năm.

Theo thống kê của Giáo Hội năm 2009, số người lãnh nhận bí tích Rửa tội đã là 159.000, và đã có 149 phó tế được thụ phong linh mục, tức gia tăng 21 vị so với năm 2008. Trong năm 2009 có 69% người Hàn Quốc thuộc lứa tuổi 23 tới 40. Điều này cho thấy người dân Hàn Quốc rất trẻ trung và tràn đầy sức sống.

Đức Hồng y Nicholas Cheong Jin Suk, Tổng Giám mục thủ đô Seoul, cho biết trong 10 năm qua, số tín hữu Công giáo Hàn Quốc đã gia tăng từ 3 lên đến hơn 5 triệu, khiến cho Giáo Hội Hàn Quốc là Giáo Hội tiến triển mạnh nhất châu Á. Tại Hàn Quốc, quyền tự do tôn giáo được hoàn toàn tôn trọng.

Hiện nay Giáo Hội Hàn Quốc đang sống chương trình gọi là "Rao giảng Tin Mừng hai mươi hai mươi", có nghĩa là mọi tín hữu trong Giáo Hội phải dấn thân truyền giáo làm sao để vào năm 2020, số tín hữu Công giáo đạt tỷ lệ 20% tổng số dân Hàn Quốc, nghĩa là gia tăng gấp đôi số tín hữu hiện nay lên 10 triệu.

8. Tất cả vì Hội Thánh

Trong một bữa cơm thân mật có người hỏi đức ông Felgallô: “Đức ông là người thân cận Đức Thánh Cha, vậy có gì nơi Đức Thánh Cha làm đức ông cảm động hơn hết?”

Đức ông Felgallô đã trả lời ngay: “Dĩ nhiên Đức Thánh Cha Phaolô VI là một vị giáo hoàng thông minh và thánh thiện, nhưng riêng tôi, điều làm tôi cảm kích hơn cả, là ngài muốn hy sinh vì yêu Giáo Hội. Mỗi khi hòa mình với đám đông ở Bombay, ở Manilla chẳng hạn, hầu như ngài quên tất cả. Ngài để cho mọi người lôi kéo. Chúng tôi, những kẻ có nhiệm vụ, bảo vệ ngài, phải lắm phen cực nhọc… nên những lúc thân mật cha con, chúng tôi vẫn thưa với ngài: thưa đức thánh cha, chúng con thấy đức thánh cha vất vả quá, với muôn nghìn lo âu: thức khuya, dậy sớm, lắm phen nguy hiểm đến tính mệnh. Đức thánh cha đã để cho lũ đông lạ mặt lôi kéo, chúng con ngăn cản bảo vệ không nổi. Xin đức thánh cha gìn giữ sức khỏe cho. Nhưng mỗi lần thưa ngài như thế, ngài đều đáp lại với chúng tôi như một điệp khúc nhỏ nhẹ, dịu dàng: Tất cả vì Hội Thánh, vì Hội Thánh. Nhiều khi chúng tôi mệt lả, ngao ngán, nhưng nhớ đến câu nói của ngài, chúng tôi phải vươn lên với ngài, không thể bỏ ngài, và càng cảm phục kính mến ngài hơn nữa.”

9. Hội Thánh có Chúa ở cùng

Một hôm vì quá tức giận, Napoléon đã nói thẳng với hồng y Consalvi, quốc vụ khanh tòa thánh: “Ông không biết sao? Tôi có thể tiêu diệt cả Giáo Hội!”

Hồng y Consalvi hóm hỉnh trả lời: “Thưa ngài, chính chúng tôi đây là những kẻ sống trong Giáo Hội, chúng tôi thấy rõ, dù biết bao gương xấu, tội lõi, chia rẽ, khuyết điểm, của chính Giáo Hội, cũng như bao cuộc bách hại cũng không phá nổi Giáo Hội, qua 19 thế kỷ, thì làm sao mà ngài phá Giáo Hội được?”

Về cuối đời, chính Napoléon đã tuyên bố: “Các dân nước qua đi, các ngai vàng đổ sụp, Hội Thánh vẫn tồn tại.”

Chúa Giêsu đã phán: “Cha sẽ ở với chúng con, mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 20,20)

10. Tình yêu là sức mạnh của Giáo Hội

Sau những tháng năm làm đầy tớ cho một gia đình quý tộc, Sophie Berdanska phải thất nghiệp đói rách, lang thang... Ngày kia gia đình Merston, một gia đình Do Thái thuê nàng về chăm sóc cho mấy đứa trẻ trong nhà họ. Ngay hôm đầu tiên, khi biết được Sophie là người Công giáo, ông chủ đặt điều kiện là "nàng không được giảng đạo" cho con cái của ông. Sophie nhận lời. Và chiều hôm ấy, lúc còn lại một mình trong phòng, nàng lấy một mảnh giấy nhỏ, viết một giòng chữ, xếp lại và bỏ vào huy chương cha nàng để lại rồi mang vào cổ. Lũ trẻ trong nhà nhiều lần đòi Sophie cho coi chiếc huy chương ấy, nhưng Sophie nhất định không cho: Bí mật của đời cô mà!

Dưới sự chăm sóc chỉ bảo của Sophie, lũ trẻ trong gia đình Merston càng ngày càng nên nhu mì, ngoan ngoãn. Cuộc sống đang trôi qua lặng lẽ thì một hôm, họa tai dồn dập xảy tới: Bé Naim đau nặng cả nhà cuống quít đưa bé đi bệnh viện. Sophie tình nguyện túc trực ngày đêm ở đó. Rồi thêm hai đứa nữa cũng ngã bệnh. Gánh đã nặng lại càng nặng thêm trên đôi vai Sophie. Tuy nhiên, nàng vẫn tận tình phục vụ cách vui vẻ, cho đến khi ba đứa nhỏ trở lại bình thường. Nhưng rồi một hôm, kết quả của những ngày lao nhọc thức khuya, dậy sớm: Sophie ngã bệnh và từ trần.

Hai năm trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Sophie Berdanska. Người ta thấy cả gia đình Merston dậy sớm và cùng nhau đến một nhà thờ Công giáo dự Thánh lễ... Phải chăng là phép lạ?

Không! Sau khi Sophie đã mất được ít lâu, lúc tình cờ mở chiếc huy chương của nàng mà tụi trẻ đã vất lăn lóc từ lâu trong một xó, ông Merston rút ra được một mảnh giấy trên có ghi dòng chữ: "Khi người ta cấm tôi nói về đạo của tôi, tôi quyết sống đạo tôi trước mặt họ như một chứng tích hùng hồn". Ông hết sức bàng hoàng cảm phục. Rồi gia đình của ông cũng thế. Và sau đó, tất cả mọi người đến nhà thờ xin nhận lãnh Bí tích Rửa tội.

Hôm nay, họ đang trên đường đến nhà thờ dự lễ giỗ lần thứ hai của Sophie Berdanska, vị tông đồ trẻ đã mang Tin Mừng đến cho họ bằng một cuộc sống âm thầm, nhưng chan chứa tình yêu, bác ái. (Những người lữ hành trên đường hy vọng)

11. Hạt cải nhỏ bé

Hội Thánh Chúa Kitô được ví như hạt cải nhỏ bé (x Mc 4,13: Tin Mừng), nhưng khi mọc lên thành cây lớn làm cho muôn dân đến nương nhờ. Cụ thể nhìn vào lịch sử Hội Thánh hơn 20 thế kỷ nay:

- Nhờ sáng kiến của Đức Giáo hoàng Grégorio XIII (1505-1583) mà thế giới có chung một niên lịch, khởi đi từ ngày Con Chúa giáng trần.

- Nếu không có thày Dòng Guion (955 – 1050) lấy nốt nhạc từ bài kinh tiếng La Tinh, thì làm sao ngành âm nhạc của thế giới được phát triển như hôm nay.

- Ngay tại Việt Nam, nếu đạo Công Giáo không có mặt, thì làm sao dân tộc ta có được chữ viết như ngày nay.

Gần chúng ta nhất:

- Mẹ Têrêsa Calcutta là người phụ nữ nhỏ bé, lại được nhiều cường quốc trên thế giới xin mẹ làm Công dân Danh dự, để mẹ là người mẫu cho loài người biết thương yêu nhau. Nhưng nếu mẹ Têrêsa không được bón tưới bằng chính Lời và Máu Thịt Chúa Giêsu, thì chắc chắn cũng chẳng ai biết đến mẹ.

12. Chỉ cần tin

Kinh nghiệm quí báu của Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được ngài kể lại:

“Trong 9 năm biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại ở trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp vì nóng bức và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ, với 8 năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẫn uất nổi lên trong tôi.

Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi: “Tại sao con day dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa. Tất cả những gì ngươi đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo… đều là việc rất tốt và đúng là công việc của Thiên Chúa chứ không phải là Thiên Chúa! Nếu Chúa muốn con rời bỏ tất cả những việc đó, hãy bỏ ngay, và hãy tín thác nơi Ngài! Thiên Chúa sẽ giao việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con đã chọn Chúa, chứ không phải những công việc của Chúa!” Ánh sáng ấy đã mang lại cho tôi niềm an bình và giúp tôi vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý. Từ đó, một sự an lành tràn ngập tâm hồn tôi và lưu lại trong tôi suốt 13 năm tù đày” (Chứng nhân hy vọng – bài suy niệm thứ 5).

Đừng bao giờ chán nản và tuyệt vọng, hãy kiên nhẫn, bởi chẳng có việc gì vừa bắt đầu thực hiện mà lại đạt kế quả hoàn chỉnh ngay. Nhiệm vụ của mỗi người kitô hữu chúng ta, như thánh Phaolô nói trong bài đọc 2: “Chúng ta chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Thiên Chúa” (x. 2 Cor 5, 9).

13. Tương lai bắt đầu từ hôm nay

Rosa Parks là một nữ thợ máy da đen. Một ngày nọ vào năm 1955 ở Alabama, cô đã bị bắt, bị còng tay và bị tống giam vì không chịu nhường chỗ cho người da trắng trên xe buýt. Sự kiện này đã trở thành một hạt giống mà từ đó dấy lên phong trào Dân Quyền. Mười năm sau, tại đại hội vì tự do, Rosa được ban tặng danh hiệu: “Người phụ nữ đầu tiên của Phong trào Dân Quyền.”

Tại sao tôi tin hay không tin rằng một ai đó có thể gây ảnh hưởng trong thế giới ngày nay?

Ngày mai sẽ đến từ đâu? Tương lai bắt đầu thế nào? Từ một ngày làm việc trong mùa đông băng giá và trong trái tim một phụ nữ da màu. (Eva Merriam)

14. Chúa chọn những gì yếu đuối

Amado Nervo đã sáng tác bài thơ dựa trên dụ ngôn của Chúa Giêsu. Một đoạn thơ như sau:

“Con chỉ là một tia lửa,

Xin biến con thành ngọn lửa.

Con chỉ là một sợi tơ,

Xin biến con thành cây đàn.

Con chỉ là một mô đất,

Xin cho con thành ngọn núi.

Con chỉ là một giọt nước,

Xin biến con thành nguồn suối”

Tôi có thật sự xác tín rằng nếu Chúa Giêsu có thể làm cho một hạt cải bé nhỏ thành một cây cao ngất, thì Ngài cũng có thể làm cho tài năng bé nhỏ của tôi trở nên vĩ đại cho Nước Chúa không?

Thiên Chúa chọn những gì thế gian cho là yếu đuối, để làm cho những kẻ hùng mạnh phải xấu hổ (1Cr 1,27).

THỨ BẢY - CHÚA GIÊSU QUYỀN NĂNG

Lời Chúa: Mc 4, 35-41

Ngày ấy, khi chiều đến, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ.: Các ông giải tán đám đông; vì Người đang ở dưới thuyền, nên các ông chở Người đi. Cũng có nhiều thuyền khác theo Người.

Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?"

Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng đi.: Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ. Rồi Người nói với các ông: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?" Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"

TRUYỆN KỂ

1. Có Chúa, sẽ bình an

Trong một trại tù nọ, người ta nhận thấy có một vị giám mục khoảng ngoài 60 tuổi. Họ thấy ngài rất bình an và vui tươi, mặc dù bản án dành cho ngài là bất công, và hình khổ mà ngài phải chịu quả là đớn đau.

Khi được hỏi: “Thưa đức cha, tại sao đức cha bình an đến như vậy? Người ta bỏ vạ, vu khống đức cha mà đức cha vẫn vui tươi??”

Đức cha trả lời rằng: “Thưa, tôi làm gì và ở đâu đều có Chúa. có Chúa là niềm vui và bình an. Hạnh phúc của đời người là khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa và được sống với Ngài. Tôi được sống với Ngài và trong Ngài, lẽ nào tôi không vui!:

2. Chúa nâng đỡ đức tin ông Gióp

Gióp là một người công chính, ngay thẳng, thế nhưng ông đã gặp biết bao thử thách trong đời… Gióp đã có lúc mất hy vọng:

“Tôi thừa hưởng, những tháng ngày tuyệt vọng. Ngả lưng nằm, tôi thầm nhủ: Khi nào trời sáng đây? Vừa thức giấc, tôi đã lại hỏi: Khi nào trời lại tối? Và ngày qua ngày: Một ngày đời tôi, thấm thoắt hơn thoi đưa, và tàn lụi không hy vọng” (G 7,4.6).

“Từ cơn dông tố” của cuộc đời Gióp và giữa những phát biểu nhân sinh quan để giải thích sự đau khổ theo lý thuyết suông, dựa trên tư tưởng của con người, Thiên Chúa đã nói với Gióp: Trong những đau khổ, những sự việc khó hiểu và bí ẩn của một cuộc đời, hãy luôn xác tín vào Thiên Chúa, Ngài là chủ vũ trụ vạn vật, Ngài hiển trị trên tất cả, Ngài sẽ dẹp tan mọi sóng gió của cuộc đời như Lời Ngài ra lệnh với nỗi khổ của Gióp: “Vỗ sóng ba đào cũng phải dừng tại đây” (G 38,11).

3. Vua trời đất

Một ngày kia, viên lái đò chở hoàng đế César qua sông, thấy sóng cả đã ngả tay chèo, được hoàng đế phán ra một câu bất hủ: “Anh không biết là anh đang chở hoàng đế César sao”?

Một vị hoàng đế bất lực trước cơn cuồng phong dữ dội, thế mà dám nói những lời như thế! Thì huống hồ ở đây, không phải là vị vua trần thế mà là vua cả trên trời Ngài làm sao cho sóng gió bão táp phải lặng yên sao! Thánh vịnh đã nói:

Đổi phong ba thành gió thoảng nhẹ nhàng
Sóng đang gầm, bỗng im tiếng.

Họ vui mừng vì trời yên bể lặng
Và Chúa dẫn đưa về bến mong chờ. (Tv 107,29-30)

4 Cha tôi cầm lái con tầu.

Một thi sĩ người Anh, ông Byron, có viết một câu chuyện như sau:

Hôm ấy, một con tầu đang rẽ sóng lướt đi trên mặt biển mênh mông. Bỗng chốc, bầu trời kéo mây đen đặc. Rồi giông tố âm ầm nổi lên, sấm chớp kinh hoàng. Mưa càng lớn, gió càng mạnh. Các hành khách kêu la hỗn loạn. Duy có một em bé cứ ngồi chơi trên boong tầu như không có gì xẩy ra cả.

Lạ lùng, một thủy thủ dương to đôi mắt hỏi em:

- Em không sợ chết sao?

Cậu bé thản nhiên trả lời:

- Sao lại sợ? Chính ba em cầm lái con tầu này mà!

5. Đức Kitô là nguồn sự sống

Thi sĩ Lord Tennyson và một người bạn đang đi dạo trong vườn hoa và cùng nhau trao đổi về những chủ đề thời thượng của quần chúng. Là một Kitô hữu, người bạn muốn biết thái độ của thi sĩ dối với Đức Kitô như thế nào. Sau mấy giây thinh lặng người bạn hỏi: "Anh có khi nào nghĩ về Đức Kitô không?"

Tennyson đưa tay ngắt một bông hoa rực rỡ tỏa hương bên đường và nói: "Như mặt trời dối với đóa hoa thế nào, thì Đức Kitô dối với tôi cũng vậy."

6. Thập giá thuyên chữa đau khổ

Có một người đàn bà đạo đức nọ trong cơn bệnh thập tử nhất sinh, chỉ có hy vọng duy nhất để cứu sống là phải chịu một cuộc giải phẫu. Người đàn bà chấp nhận cuộc giải phẫu với hy vọng còn tiếp tục sống để lo cho người con trai của bà.

Khi người ta bắt đầu giải phẫu, bà yêu cầu cho con bà được chứng kiến những giờ phút đau đớn của bà. Thời đó chưa có thuốc tê cho nên bệnh nhân thường phải trải qua những đau đớn khủng khiếp.

Mặc dù đau đớn, nhưng người đàn bà xem ra vẫn can đảm chịu đựng được. Thế nhưng vào tới những giây phút cuối, khi lưỡi dao mổ của các bác sĩ chạm đến gần trái tim thì người đàn bà rùng minh và miệng kêu lên: "Lạy Chúa!"

Chứng kiến cảnh đau đớn của người mẹ, đứa copn trai không cầm được cảm xúc đã thốt lên những lời xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngay lúc đó người đàn bà nghiêm chỉnh bảo con: "Hỡi con, im đi, con làm mẹ đau đớn hơn lưỡi dao mổ của các bác sĩ nhiều. Con đã làm xỉ nhục Đấng ban sức mạnh và an ủi cho mẹ"

Nói xong, bà mở bàn tay ra cho mọi người xem một tượng chịu nạn nhỏ mà bà nắm chặt trong tay suốt từ lúc bắt đầu cuộc giải phẫu đến giờ. Đó là thuốc tê đã làm dịu những cơn đau của bà.

Sau mấy tháng quần quại đau đớn trên giường bệnh, người đàn bà đã an nghỉ trong Chúa. Trước khi lìa đời, bà đã trao ảnh chuộc tội đó lại cho người con trai và dặn cậu: "Con hãy giữ lấy ảnh này vì đó sẽ là niềm an ủi cho con.:

7. Con thuyền Giáo Hội

Từ khi được Chúa thành lập đến nay, con thuyền Giáo Hội đã phải trải qua không biết bao nhiêu là những cơn sóng gió, bão táp phũ phàng nhưng Giáo Hội vẫn luôn được Chúa che chở giữ gìn. Xin được trích ra đây một ít sự kiện:

* Saladin là một vua Hồi Giáo. Có lần ông vua này đã gởi cho Đức Giáo Hoàng một lá thư trong đó vỏn vẹn có một dòng.

- Ta sẽ lấy Đền thờ Phêrô làm Đền thờ Mohamét!

Và Đức Giáo Hoàng cũng trả lời chỉ vỏn vẹn có một câu: “Thuyền Thánh Phêrô có thể có lúc lắc nhưng nhất định không chìm” (Fluctuat nec mergitur).

Câu nói thời danh này đã đi vào lịch sử.

* Suốt cuộc đời, Luther đã dùng mọi phương thế để lăng nhục và đánh đổ Hội Thánh, nhưng rồi những mong ước của ông ta không thành tựu. Trên giường bệnh, ông còn xin cục phấn và gắng gượng viết lên vách câu này: “Lúc sinh thời, ta là thứ dịch tễ cho mi thì khi chết, ta sẽ chôn vùi mi theo.: Thế nhưng, Luther đã chẳng mang theo được gì ngoài sự thất vọng của ông.

* Nối chí Luther có ông Voltaire ở thế kỷ XVIII. Thông minh, nhưng nham hiểm, ông đã viết bao nhiêu sách và đã diễn thuyết bao nhiêu bài để cổ động, hô hào tiêu diệt Hội Thánh Công giáo. Ông công khai tuyên bố rằng, chỉ 20 năm nữa thôi, Hội Thánh Công giáo sẽ đi đời. Thế nhưng, thật là trớ trêu: Đúng 20 năm sau lời tuyên bố đó, thì ông chết, còn Giáo Hội của Chúa vẫn kiên vững!

* Năm 1903, Jaurès (1859-1914), nhà hùng biện người Pháp thấy Hội Thánh phải đương đầu với nhiều khó khăn, cùng lúc có nhiều nước có đạo đã bỏ rơi, ông vui mừng reo lên: “Sóng đưa thuyền Phêrô vào bờ, bây giờ nước rút, thuyền mắc cạn, nằm trơ trên bãi cát.: Nhưng sự thực nước rút rồi thì nước lại lên, và thuyền Phêrô lại tiếp tục ra khơi!

* Cũng ở nước Pháp, trước Jaurès, có Napoléon, một nhân vật đã từng làm chấn động trời Âu, đã bắt và đem Đức Giáo Hoàng Piô VII (1742 -1823) về giam giữ tại lâu đài Fontainebleau bên Pháp. Lúc đó những kẻ nghịch với Giáo Hội đã vui sướng reo lên:

- Đây là Đức Giáo Hoàng cuối cùng.

Nhưng rồi Napoléon thất bại, bị cầm tù tại đảo St. Hèlene, và Đức Giáo Hoàng lại trở về Rôma. Chính Đức Giáo Hoàng Piô VII đã đứng lên và đón rước gia đình tan rã của Napoléon gồm một mẹ già, 04 anh chị em là Lucien, Jérôme, Louis và Pauline, kể cả ông cậu là Hồng y Fesch, sau khi ông bị đi đày.

Tóm lại, trước đây cũng như mãi mãi về sau, dù Giáo Hội có thể bị nhiều thử thách, nhưng Hội Thánh nhất định sẽ mãi mãi tồn tại. Henrich Heine (1797-1856) thi hào người Đức, đã ý thức rất rõ về điều đó cho nên ông viết: “Đã lâu rồi, tôi không còn công kích Hội Thánh Công giáo nữa. Tôi đã đọ sức trí khôn ngoan của loài người và nhận thấy rằng: Các đợt tấn công vào tảng đá khổng lồ và kiên cố đó không thể làm cho tảng đá sứt mẻ hoặc nhúc nhích được.:

8. Giáo hội trong tay Chúa

Một cán bộ Cộng sản nói với các Linh mục trong dịp Tĩnh Tâm như thế này: “Theo tôi, các Linh mục Ấn Độ chậm tiến ít là 200 năm. Các ông mù tịt về tất cả các hệ thống tân thời để quảng bá tư tưởng. Các ông dùng tiền để xây cơ sở, còn chúng tôi dùng tiền để in sách và làm báo chí. Các ông mở trường và dạy con nít biết đọc biết viết, rồi các ông không cho chúng nó cái gì để đọc. Chúng tôi cho tất cả, từ những chữ viết trên tường tới báo chí, từ những sách lớn tới sách nhỏ thích hợp cho mỗi lứa tuổi và hoàn cảnh. Các ông có rất nhiều báo chí đạo đức, nhưng có rất ít báo chí tư tưởng…

 Các ông lập các nhà in để kiếm tiền, chúng tôi lập nhà in để tuyên truyền, các ông phân phát sữa bột cho dân nghèo, chúng tôi phân phát tư tưởng. Các ông bận tâm lo lắng nuôi cái bụng của dân, chúng tôi nuôi tâm trí. Các ông nói là tư tưởng hướng dẫn thế giới, nhưng các ông không quảng bá tư tưởng. Trong cuộc đọ sức tư tưởng, các ông đã thua trên khắp thế giới và cả trên đất Ấn Độ… trên bình diện tư tưởng các ông đã bại trận, vì chúng tôi tạo được dư luận, còn các ông thì bất lực. Các ông phải tiêu hơn ít nữa 100 lần cho báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình để giúp những ai muốn học và những ai có khả năng tạo dư luận. Lời khuyên của tôi đáng giá ngàn vàng. Và vì đã cho các ông lời khuyên này, tôi đáng bị loại khỏi đảng!”

9. Giáo hội được xây trên lòng tin

Sau ngày đắc cử, Đức giáo hoàng Phanxicô không đến ở trong dinh thự các giáo hoàng nhưng lưu lại tại căn phòng trong Nhà Trọ Thánh Marta để ở gần các cộng sự viên của mình. Ngài quan tâm tới những người “nghèo nhất, yếu đuối nhất, ít quan trọng nhất.: Ngài luôn kêu gọi các tu sĩ đến với những người sống bên lề xã hội. Người ta nhận ra Đức Phanxicô, sau ba tháng trên ngôi vị giáo hoàng, muốn xây dựng một “Giáo hội nghèo, cho người nghèo” đúng như lý tưởng sống của vị thánh mà ngài đã chọn làm danh hiệu giáo hoàng của mình. Đó cũng là mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo. Quả thật thay vì nhắc các ông trang bị đầy đủ các phương tiện vật chất, Chúa Giêsu muốn các ông lên đường với gói hành trang gọn nhẹ: không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Ngài muốn các ông sống nghèo như chính Ngài đã sinh ra, sống, rao giảng và chết trong khó nghèo.

Chúng ta đang muốn xây dựng Giáo hội nào: giàu cho người giàu? hay nghèo cho người nghèo? Những người nghèo và cô thế cô thân có được cộng đoàn quan tâm giúp đỡ không? Tiền giáo xứ giúp cho người nghèo là bao nhiêu so với tiền xây dựng, tiền tổ chức các cuộc lễ lạy, đình đám?

10. Chiên giữa sói

Trần Hằng, quyền thần thời Xuân thu, giết vua Giản Công nước Tề, lập vua Bình Công. Lúc giết vua xong, Trần Hằng sai sáu dũng sĩ đến bắt Tử Uyên Thê phải theo mình.

Tử Uyên Thê nói: “Nhà ngươi muốn cho ta vào đảng, ý hẳn cho ta là “trí” chăng, nhưng bầy tôi giết vua mà không cản được, ta chẳng phải là trí; cho ta là “nhân” chăng, nếu thấy lợi mà phản nước, ta chẳng phải là nhân; cho ta là “dũng” chăng, nhưng đem binh đến ăn hiếp ta, ta sợ mà theo ngươi, ta cũng chẳng phải là dũng.

“Vì bằng ta không có ba điều ấy, ta về phe với ngươi thì có bổ ích gì cho ngươi. Ví bằng ta có ba điều ấy, thì đời nào ta theo ngươi ma ngươi dỗ.”

Trần Hằng bèn tha Tử Uyên Thê. (Cổ học tinh hoa)

Qua câu trả lời đơn giản, Tử Uyên Thê đã phô bày ba chữ nhân, trí, và dũng của ông: Không sợ Trần Hằng mà từ chối, đó là dũng; không vì tham lợi mà phản vua, đó là nhân; và khéo léo dùng ngay ba chữ nhân, trí, dũng, để từ chối hợp tác và tố cáo điều sai lỗi của Trần Hằng.

Khi sai các môn đệ đi trước chuẩn bị cho Người, Chúa Giêsu báo trước: “Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng.” (Lc 10,3)

11. Giữa lòng thuyền

 “The Storm on the Sea of ​​Galilee”, “Bão Trên Biển Galilê”, là một kiệt tác sơn dầu vẽ về “biển” duy nhất gần 400 tuổi của Rembrandt! Tiếc thay, từ 1990, nó bị đánh cắp; đến nay, vẫn biệt vô âm tín. Danh hoạ mô tả khoảnh khắc nhóm Mười Hai cầu cứu Chúa Giêsu khi thuyền của họ sắp chìm. Một số cật lực chống chọi; số khác co rúm vì sợ hãi hoặc lùi về mạn thuyền; và thật thú vị, Rembrandt, môn đệ 13, xuất hiện giữa bức tranh. Tác giả như muốn nói, “Từ giữa lòng thuyền, Ngài nhận ra tôi!”; và bạn, “Bạn sẽ ở đâu trong bão?"

 “Bạn sẽ ở đâu trong bão?" Lời Chúa hôm nay gợi lên những cơn bão cuộc đời. Nó có thể là cơn bão đang hất tung con thuyền Giáo Hội, đang vùi dập con tàu thế giới, hoặc đang muốn nhấn chìm con thuyền nan đời bạn. Trong cơn hỗn mang, bạn ở đâu? Ngài thấy bạn? Bạn có lắng đọng đủ để nghe Ngài trách yêu, “Các con vẫn chưa có lòng tin sao?"

12. Hãy nhìn lên

Một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, bỗng cơn cuồng phong bất ngờ ập đến. Sợ những cánh buồm bị xé nát, và gió mạnh kéo con tàu đi không kiểm soát được, vị thuyền trưởng ra lệnh cho một thủy thủ trẻ trèo lên cột những cánh buồm lại.

Anh ta chưa bao giờ trèo lên cột buồm vào lúc thời tiết khắc nghiệt như thế, nên khi leo được một đoạn, gió thổi như muốn hất văng anh xuống biển, nhìn xuống lại thấy những ngọn sóng cao ngất, sự sợ hãi làm tay chân anh tê cứng nên hoảng hốt la lên:

- Cứu, cứu, tôi chết mất!

Vị thuyền trưởng la to như muốn át cả sóng gió:

- Hãy nhìn lên đỉnh cột buồn; nếu anh cứ nhìn xuống như thế anh sẽ chết.

LỄ KÍNH - TÔNG ĐỒ PHAOLÔ TRỞ LẠI

Lời Chúa: Mc 16, 15-18

Khi ấy, Chúa Giêsu (hiện ra với mười một môn đệ và) nói: ”Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật.

Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những dấu lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân được lành mạnh."

TRUYỆN KỂ

1. Con phải làm gì?

Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách hại các Kitô hữu. Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường anh đang đi.

Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ bỏ đạo Do Thái chính thống, để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà họ tin là đã phục sinh. Trong tư cách là một người Pharisêu nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3), Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị những kẻ phản đạo, bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).

Chính lúc đang say sưa đến gần thành Đamát thì anh bị quật ngã. Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở sang một trang mới. Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến bước, thì ánh sáng chói lòa từ trời làm anh ngã quỵ (c. 7).

Khi Saun nghĩ mình là người sáng mắt, thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11). Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ lầm đường lạc lối, thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi (c. 11).

Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với người mà anh chỉ nghe tiếng nói. Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự giới thiệu: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ” (c. 8).

Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính Đức Giêsu. Đức Giêsu và các Kitô hữu là một. Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng thể nào quên.

“Lạy Chúa, con phải làm gì?” (c. 10).

Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh không hề tin là Chúa. Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là Chúa, anh lập tức phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.

2. Cây nến trong tay Chúa

Buổi chiều, người nọ lấy cây nến nhỏ từ trong hộp ra và leo lên tầng tháp cao. Cây nến hỏi:

- Chúng ta đi đâu?

- Đi lên cao hơn để chỉ đường cho tàu bè vào cảng.

- Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm sao tàu bè thấy được?

- Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng thôi, còn mọi việc ta lo.

Tới đỉnh tháp, người nọ đặt cây nến vào trong một cái đèn có ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó, ánh sáng lan tỏa và mọi tầu bè đều thấy.

Chúng ta cũng là cây nến trong tay Thiên Chúa. Chỉ cần ta cháy sáng, còn kết quả là ở Thiên Chúa.

3. Cần sống Lời Chúa

Một nông dân nghèo Nhật bản vào thiên đàng và điều đầu tiên ông nhìn thấy là một kệ dài với những vật rất kỳ lạ. Ông hỏi:

- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?

- Không, đó là những cái tai. Chúng là của những người khi sống ở đời nghe được những điều tốt, nhưng họ không làm. Nên khi chết, tai họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không.

Một lát sau, ông lại thấy một kệ khác với những vật kỳ quái. Ông hỏi:

- Cái gì thế? Có phải để nấu xúp?

- Không, đó là những cái lưỡi. Chúng là của những người sống ở đời bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ không làm hoặc không sống điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không

4. Phaolo – con người của sự hiệp nhất

Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của Thánh Phaolô.

Theo Sách Công Vụ các sứ đồ, quyển sử ký ghi lại trong giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Saolê, tên gọi Do Thái của Phaolô, là một thanh niên phong thái và đầy nhiệt huyết đối với Ðạo. Vừa thụ huấn xong với một thầy Rabbi nổi tiếng trong nước, Saolê xung phong đi săn lùng những người môn đệ của Ðức Kitô mà anh cho là một bè phái đi ngược lại với Ðạo giáo.

Một hôm, đang trên đường đi Damascô để lùng bắt các môn đệ của Chúa Giêsu, anh đã bị một luồng Sáng đánh quật té xuống khỏi ngựa và từ trong ánh sáng ấy, anh đã nhận ra tiếng nói của Chúa Giêsu: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt hại."

Từ đó, sự hăng say bách hại các Kitô hữu đã biến thành lòng nhiệt thành phụng sự Giáo Hội của Ðức Kitô. Thiên Chúa đã sử dụng Phaolô làm khí cụ Truyền Giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, tức là các dân tộc ở ngoại Do Thái Giáo.

Cuộc trở lại của Thánh Phaolô đã đánh dấu một khúc quan trọng nhất trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi. Tin Mừng không chỉ giới hạn trong ranh giới của Do Thái cũng như lề luật Maisen, Tin Mừng còn là một nối dài của Do Thái Giáo, nhưng chính là một Tôn Giáo mới cho mọi dân tộc, mọi văn hóa.

Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của thánh Phaolô như cao điểm của tuần lễ cầu cho hiệp nhất. Nơi thánh Phaolô, con người đã dám vượt ra khỏi ranh giới của dân tộc, của Ðạo Giáo của mình, để tuyên bố: Hãy trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, La Mã với người La Mã, nô lệ với người nô lệ. Giáo Hội nhận ra kiểu mẫu đích thực của hiệp nhất. Sự hiệp nhất chỉ có thể thực hiện được, nếu mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu có đủ can đảm ra khỏi chính mình. Phải chăng đó không là đòi hỏi đầu tiên của sự trở lại?

5. Thập giá

Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên sự rao truyền không mệt mỏi và ngài sống sứ điệp thập giá.

Thập giá Thánh Phaolô phải vác lấy theo gương Đức Giêsu, chính là những khổ đau ngài trải qua trong cuộc đời, đặc biệt trên bước đường truyền giáo (2Cr 11,24-33) và cuối cùng bị cầm tù và bị giết chết.

Tuy nhiên ngài vui mừng vác lấy thập giá với ý thức: “Những gian nan thử thách Đức Giêsu còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24).

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con can trường vác lấy thập giá đến đỉnh đồi Canvê với Chúa, để cùng được phục sinh vinh quang với Chúa.

6. Tận hiến

Đức tin cứu độ là món quà tặng cho ai tận hiến cho Đức Kitô một cách tuyệt đối, tự nguyện và cá biệt.

Mọi tín hữu đều được gọi sống đức ái hoàn hảo, nhưng những ai tự nguyện sống đời tận hiến, thì buộc tuân giữ đức vâng phục, nghèo khó và khiết tịnh trong đời sống độc thân vì Nước Trời (Sách Giáo Lý số 915).

Nhờ đời sống tận hiến để thánh hóa trần gian, các thành viên tu hội đời tham dự vào nhiệm vụ phúc âm hóa của Hội Thánh, “ngay giữa đời và từ môi trường đời”, nơi đó họ hiện diện và tác động như “men trong bột” (Sách Giáo Lý số 929).

* Lạy Chúa Giêsu, xin giúp các tâm hồn tận hiến luôn được bền đổ đến cùng.

7. Cuốn theo thần khí

 “Thập giá, cột thu lôi của ân sủng, làm tắt cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng của tình yêu Ngài! Trên đường Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi của ân sủng quật ngã, và người này đã ‘cuốn theo Thần Khí’ của Đấng Phục Sinh!"

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ một con người đã bị “cột thu lôi của ân sủng quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau biến cố chết và sống lại của Chúa Giêsu vào những năm đầu Kitô giáo. Bởi lẽ, ân sủng của Ngài đã biến đổi Phaolô, một con người đã để mình ‘cuốn theo Thần Khí’.

Phaolô cho biết, trước khi được Chúa tỏ mình, ông “đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”; tuy nhiên, theo cách rất phá hoại! Phaolô đàn áp những người tin “Đạo mới”; và rồi, cuộc hiện ra của Ngài trên đường Đamas với câu hỏi, “Saun, Saun, sao ngươi bắt bớ ta?”, kèm theo câu trả lời lạnh lùng, “Ta là Giêsu Nazareth mà ngươi đang bắt bớ” đã khiến Phaolô dừng bước - bài đọc một. Từ đó, Đấng Phục Sinh đã biến “Saun”, có nghĩa là ‘tìm kiếm, đòi hỏi và khát vọng’, thành một “Phaolô”, có nghĩa là ‘hèn mọn, nhỏ bé và khiêm tốn’. Phaolô đã chỗi dậy, tiến về phía trước, ‘cuốn theo Thần Khí’, phục vụ Chúa theo một cách rất khác. Thay vì bắt bớ những người tin, Phaolô loan báo tình yêu của Ngài như lệnh truyền, “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!”

LỄ KÍNH HAI THÁNH TIMÔTHÊ VÀ TITÔ - DIỄN VĂN TRUYỀN GIÁO

Lời Chúa: Lc 10, 1-9

Khi ấy, Chúa chọn thêm bảy mươi hai người nữa và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới. Người bảo các ông rằng: ”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của người.

Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng. Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: ”Bình an cho nhà này." Nếu ở đấy có con cái sự bình an, thì sự bình an của các con sẽ đến trên người ấy. Bằng không, sự bình an lại trở về với các con. Các con ở lại trong nhà đó, ăn uống những thứ họ có, vì thợ đáng được trả công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ.

Khi vào thành nào mà người ta tiếp các con, các con hãy ăn những thức người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh nhân trong thành và nói với họ rằng: ”Nước Thiên Chúa đã đến gần các ngươi."

TRUYỆN KỂ

1. Có gieo mới có gặt

Linh mục Carôlô Hồ Bạc Xái kể chuyện: Một ngày kia, một tông đồ giáo dân dẫn tôi đến gia đình của một người làm nghề kéo xe lôi. Đến đấy tôi nhận được một món quà hết sức bất ngờ và rất to lớn: Cả nhà gồm vợ chồng và 7 đứa con xin theo đạo. Khi được hỏi lý do thì người chồng cho biết: Mười mấy năm trước khi còn nhỏ, anh học trường các sư huynh Lasan và dã có lòng mộ mến Đạo Chúa. Lòng mộ mến ấy vẫn âm ỉ trong lòng anh. Tuần trước khi anh gặp người tông đồ giáo dân này, tàn lửa âm ỉ đó bỗng bùng lên thành một ngọn lửa thôi thúc anh phải xin theo Chúa.

Nếu các sư huynh Lasan trước kia và những tông đồ giáo dân nọ không chịu khó gieo giống vì nghĩ rằng có gieo cũng vô ích thì hôm nay tôi không gặt được thành quả này. "Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết"

2. Cần người hợp tác

Có hai người giáo dân đứng ngoài chợ nói chuyện với nhau: - Anh nghĩ xem, chúng ta có cần tiếp tay với cha xứ để lo việc họ đạo không ? Người thứ nhất hỏi.

- Tôi cũng thường nghĩ đến điều đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.

Một người thứ ba từ nãy đến giờ đứng bên cạnh đã nghe được câu chuyện giữa hai người, anh chen vào: - Đúng thế, chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao không ?

- Tại sao ? Tại sao ? Xin cho chúng tôi biết với.

- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó là những người biết nói “VÂNG."

3. Trao tặng là hai chữ đầu tiên để truyền giáo

Một lần, có một người đàn bà giàu có người Hindou đến thăm Mẹ Têrêsa. Bà ta nói với Mẹ:

- Thưa Mẹ, con ước ao được chia sẻ với Mẹ và cộng tác với mẹ trong các hoạt động từ thiện.

- Tốt lắm! -Mẹ đáp lại một cách vui vẻ

Rồi bà ta thú thực với Mẹ là bà ta có một điểm yếu rất khó bỏ, đó là tính khoe khoang, ưa làm dáng. Bà thích mặc những chiếc áo Xa-ri, những bộ đồ Ấn Độ lộng lẫy và đắt tiền. Hôm ấy, bà mặc một bộ áo Xa-ri giá trị 65 dollars, trong khi chiếc áo Xa-ri của Mẹ Têrêsa đang mặc chỉ trị giá 65 xu, chưa đầy một dollar, Như được ơn trên soi sáng Mẹ Têrêsa bỗng nảy ra được tư tưởng hay. Mẹ đề nghị với bà ấy bắt đầu cộng tác với Mẹ về những bộ áo xa-ri đó. Mẹ khiêm tốn đền nghị:

- Từ nay trở đi, thay vì mua sắm những bộ áo xa-ri giá 65 hoặc 100 dollars, thì bà chỉ nên mua những bộ rẻ tiền hơn, chừng 45 hoặc 50 dollars thôi. Số tiền còn lại, bà hãy mua những bộ áo xari khác dành cho người nghèo.

Bà ấy vui vẻ hưởng ứng lời đề nghị của Mẹ, rồi dần dần bà cũng biết dùng những bộ áo xari rẻ tiền hơn. Sau này chính bà cũng đã thú nhận với Mẹ Têrêsa rằng:

- Thưa Mẹ, từ ngày con bắt đầu từ bỏ những vẻ hào nhoáng bên ngoài vô ích bên ngoài đó, tâm hồn con cảm thấy được tự do hơn, nhẹ nhàng hơn. Con đã học biết và hiểu rõ hơn thế nào là cho đi thế nào là chia sẻ. Và trong cách chia sẻ như thế, con phải thú nhận rằng chính con đã được lãnh nhận nhiều hơn thứ con cho đi và chia sẻ với anh chị em nghèo khổ!

4. Ngày khai sinh nước Úc

Ngày 26 tháng 01 là ngày quốc khánh của người Australia. Ngày 26/01/1788, lá cờ của nước Anh lần đầu tiên được cắm trên lãnh thổ của Australia, đánh dấu đợt định cư đầu tiên của 730 người. 730 cựu tù nhân này đã được coi như là thủy tổ của đa số người dân Australia này nay.

Ðối với chính phủ Anh thời bấy giờ, việc lưu đày các tù nhân qua một vùng đất xa lạ là một biện pháp giúp giải quyết vấn đề ứ đọng tại các nhà tù trong nước. Nhưng đối với 730 người lần đầu tiên của Australia này, thì đây là cơ hội để làm lại cuộc đời. Dù muốn dù không, người dân Australia chính hiệu ngày nay không thể phủ nhận được sự kiện là quốc gia của họ đã được khai sinh do những con người mà xã hội muốn xua đuổi cho rảnh tay.

Ngày nay, Australia được xếp vào hạng những nước tiên tiến về mọi mặt. Nhưng có lẽ họ không thể quên được công ơn xây dựng của cha ông họ, dù tông tích của họ có là một quá khứ xấu xa đến đâu.

Câu chuyện lập quốc của nước Australia có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào hai chữ Quan Phòng trong Kitô giáo của chúng ta. Lời của thánh Phaolô là một xác quyết về sự quan phòng ấy: nơi nào có tội lỗi càng nhiều, nơi đó Thiên Chúa càng ban ơn dồi dào.

5. Tiêu chuẩn người môn đệ của Chúa

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã cảm nghiệm sâu xa thân phận của người môn đệ Đức Ki-tô được sai đi đơn côi “như chiên đi vào giữa bầy sói”, không thể bám víu vào bất cứ một sự hỗ trợ thông thường nào người ta có thể có: không mang theo “túi tiền, bao bị, giày dép…” Thế nhưng lời nói đầu tiên và luôn luôn ở trên môi miệng người môn đệ bao giờ cũng là lời nói đem lại bình an.

Chính vì thế, khi suy niệm về sứ mạng tông đồ, Ngài đã tự hỏi: “Bị nhục mạ, bắt bớ, đuổi từ thành này sang thành khác là dấu Chúa thương con, Chúa chọn con làm tông đồ thật. Tôi tớ không hơn chủ, môn đệ không hơn Thầy. Họ đối xử với Thầy thế nào thì họ cũng sẽ đối xử với các con như vậy’’ (Đường Hy Vọng).

Không phải chỉ các linh mục tu sĩ mà mọi tín hữu, qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, đều là môn đệ và được sai đi với sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống đơn sơ, khó nghèo và yêu thương, tha thứ. Bạn thử nhìn lại mình xem đã thể hiện được đến mức nào hình ảnh người môn đệ “không túi tiền, bao bị, giày dép” mà miệng luôn tươi cười nói lời chúc bình an?

6. Lời khuyên vàng ngọc

Một cán bộ Cộng sản nói với các Linh mục trong dịp Tĩnh Tâm như thế này: “Theo tôi, các Linh mục Ấn Độ chậm tiến ít là 200 năm. Các ông mù tịt về tất cả các hệ thống tân thời để quảng bá tư tưởng. Các ông dùng tiền để xây cơ sở, còn chúng tôi dùng tiền để in sách và làm báo chí. Các ông mở trường và dạy con nít biết đọc biết viết, rồi các ông không cho chúng nó cái gì để đọc. Chúng tôi cho tất cả, từ những chữ viết trên tường tới báo chí, từ những sách lớn tới sách nhỏ thích hợp cho mỗi lứa tuổi và hoàn cảnh. Các ông có rất nhiều báo chí đạo đức, nhưng có rất ít báo chí tư tưởng…

Các ông lập các nhà in để kiếm tiền, chúng tôi lập nhà in để tuyên truyền, các ông phân phát sữa bột cho dân nghèo, chúng tôi phân phát tư tưởng. Các ông bận tâm lo lắng nuôi cái bụng của dân, chúng tôi nuôi tâm trí. Các ông nói là tư tưởng hướng dẫn thế giới, nhưng các ông không quảng bá tư tưởng. Trong cuộc đọ sức tư tưởng, các ông đã thua trên khắp thế giới và cả trên đất Ấn Độ… trên bình diện tư tưởng các ông đã bại trận, vì chúng tôi tạo được dư luận, còn các ông thì bất lực. Các ông phải tiêu hơn ít nữa 100 lần cho báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình để giúp những ai muốn học và những ai có khả năng tạo dư luận. Lời khuyên của tôi đáng giá ngàn vàng. Và vì đã cho các ông lời khuyên này, tôi đáng bị loại khỏi đảng!”

7. Sứ vụ "nghèo"

Sau ngày đắc cử, Đức giáo hoàng Phanxicô không đến ở trong dinh thự các giáo hoàng nhưng lưu lại tại căn phòng trong Nhà Trọ Thánh Marta để ở gần các cộng sự viên của mình. Ngài quan tâm tới những người “nghèo nhất, yếu đuối nhất, ít quan trọng nhất."

Ngài luôn kêu gọi các tu sĩ đến với những người sống bên lề xã hội. Người ta nhận ra Đức Phanxicô, sau ba tháng trên ngôi vị giáo hoàng, muốn xây dựng một “Giáo hội nghèo, cho người nghèo” đúng như lý tưởng sống của vị thánh mà ngài đã chọn làm danh hiệu giáo hoàng của mình. Đó cũng là mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo. Quả thật thay vì nhắc các ông trang bị đầy đủ các phương tiện vật chất, Chúa Giêsu muốn các ông lên đường với gói hành trang gọn nhẹ: không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Ngài muốn các ông sống nghèo như chính Ngài đã sinh ra, sống, rao giảng và chết trong khó nghèo.

Chúng ta đang muốn xây dựng Giáo hội nào: giàu cho người giàu? hay nghèo cho người nghèo? Những người nghèo và cô thế cô thân có được cộng đoàn quan tâm giúp đỡ không? Tiền giáo xứ giúp cho người nghèo là bao nhiêu so với tiền xây dựng, tiền tổ chức các cuộc lễ lạy, đình đám?

8. Chú tâm loan báo Tin Mừng

Thánh Giêrônimô (340-420) khi còn là thanh niên mải miết học tập tiếng Latinh (La văn là cổ ngữ phổ thông thời đó) Ngài còn sống sa đọa, ham mê thú vui xác thịt. 19 tuổi ngài mới lãnh bí tích thánh tẩy. Nhưng rồi nghĩ tới cuộc đời chóng qua, nghĩ tới phần rỗi là quan trọng, ngài trở lại với Chúa, từ bỏ tất cả, tới sống trong sa mạc Chalcis như một ẩn sĩ.

Nơi đây ngài sống khổ cực và thiếu thốn, vì bệnh tật mà nhất là các cơn cám dỗ trở lại cuộc đời sa đọa trước. Ngài nói: “Trong đầu óc tôi thường thấy mình giữa đám gái nhảy”, và ngài còn nói thêm: “Một người chết yểu trong xác thịt như vậy mà ngọn lửa thèm muốn còn cháy lên dữ dội…”

Để kiềm chế óc tưởng tượng, ngài phải luôn luôn cầu nguyện, ăn chay, đánh tội, và nhất là ngài chú tâm học tiếng Do Thái để rồi cố gắng và vất vả dịch toàn bộ Thánh Kinh ra tiếng Latinh. Bản dịch phổ thông (bản Thánh Kinh bằng tiếng Latinh) đã được thánh Giêrônimô phiên dịch hay nhuận đính (trừ các sách: Khôn Ngoan, Huấn Ca, Baruch và hai cuốn Macabêô).

Thánh Giêrônimô qua đời an bình và thánh thiện tại Bêlem ngày 30 tháng 9 năm 420.

9. Bình an đến từ trái tim

Cô Helen Keller là một người không thấy và nghe được mà đã trở thành một nhà diễn thuyết lỗi lạc trước công chúng. Một ngày nọ, sau bài diễn thuyết, có người hỏi cô: “Nếu được ban một điều ước, cô sẽ ước gì?” Người đặt câu hỏi nghĩ rằng Helen có thể sẽ nói: “Tôi ước được thấy và nghe." Nhưng Helen đã trả lời: “Tôi ước mong một nền hòa bình trên khắp thế giới."

Lạy Chúa, đó mới thực là điều đáng ước mơ. Nếu không có hòa bình chúng con mở mắt ra chỉ thấy kẻ thù, mở tai ra chỉ nghe toàn những lời xúc phạm, chửi bới. Thấy mà chi, nghe mà chi?

Còn khi tình yêu thấm đẫm đến mọi ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn thì mỗi người chúng con được trở nên những tạo vật mới, sống trong một thế giới mới, nhìn và nghe bằng trái tim, thấy mọi người là anh em!

Tốt đẹp biết bao, hạnh phúc biết bao! Đó mới đúng là điều Chúa mong muốn khi dạy chúng con “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Sự bình an đó đã được bắt đầu bằng tình yêu thí mạng của Chúa trên thập giá xưa, vì chúng con.

10. Dấu tích của tình yêu

Bốn mươi năm sau khi rời bỏ trại giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo Levi vẫn còn mang hình xăm với con số của ông khi ở đó. Khi người ta hỏi ông tại sao không xóa nó đi, ông đáp: “Tại sao tôi phải làm thế? Không có nhiều trong chúng ta được đưa vào thế giới để làm nhân chứng.”

Alexander Solzhenitsyn nói rằng ông vẫn còn bốn mảnh vải dùng để vá mạng con số mà người ta phát cho ông khi còn trong nhà tù. Ông không phải là người duy nhất đem chúng ra khỏi trại giam. Không xấu hổ về những điều đó, ông nói: “Trong một số gia đình, chúng được phô bày ra như những thành tích.”

Thánh Phaolô cũng không xấu hổ vì những dấu tích mà ông mang trên mình ông vì Đức Giêsu Kitô. Ông nói với những tín hữu Galát: “Những dấu tích trên người tôi là những dấu tích của Đức Kitô.”

11. Sống chứng nhân

Có một linh mục người Mỹ thuộc dòng Tên, giảng dạy tại một trường đại học Công giáo nổi tiếng tại Phi Luật Tân. Ngày kia, tình cờ vị linh mục này đi vào một khu xóm lao động nghèo nàn và gặp một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau một hồi trao đổi, linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ như sau:

- Anh ở đây làm gì vậy?

Tu sĩ người Bỉ trả lời:

- Tôi đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu xóm lao động này.

Nghe thế vị giáo sư người Mỹ có lẽ như tiếc rẻ cho sự hy sinh lãng phí ấy, nên mới nói về mình như sau: Tôi sang đây là để dạy học và thuyết trình, tôi đi đây đi đó, tôi đào tạo những con người hữu ích cho xã hội.

Qua cuộc đối thoại này, có lẽ chúng ta thấy được những khía cạnh khác nhau của việc truyền giáo trong Hội Thánh. Vị linh mục người Mỹ trên đây là điển hình cho một đội ngũ đông đảo các nhà truyền giáo của Hội Thánh trên khắp thế giới, từ thành thị đến nông thôn, từ học đường đến công sở. Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động rao giảng thì cũng có những nhà truyền giáo âm thầm, sống như những chứng nhân.

12. Xây dựng bình an

Lm. Mark Link

Chủ đề: "Sứ vụ của chúng ta là đem bình an của Đức Kitô đến cho thế gian"

Trong năm 1980, một tờ báo phát hành trên toàn quốc có đăng một câu chuyện khác thường. Một người kia ra xe của ông đang đậu trước một trung tâm thương mại lớn. Ngay trên ghế ngồi, có một mẩu giấy viết:

"Thưa ông/bà;

Tôi đã định ăn cắp chiếc xe này cho đến khi tôi chợt nhìn thấy hàng chữ 'Peace-Be-to-You' (Bình An-Cho-Bạn) dán trên kính xe. Nó làm tôi do dự và suy nghĩ. Tôi nghĩ nếu tôi ăn cắp chiếc xe này, ông bà chắc chắn sẽ không có bình an, và ngược lại, tôi cũng không cảm thấy bình an, vì đây là 'chuyến ăn hàng' đầu tiên của tôi. Do đó, 'bình an cho bạn' và cho tôi. Nhớ lái xe cẩn thận và lần sau đừng quên khóa cửa.”

Ký tên: "Người Muốn Ăn Cắp Xe.”

Câu chuyện khác thường đó làm sáng tỏ mệnh lệnh khác thường của Chúa Giêsu mà Người đã ban cho các môn đệ trong bài phúc âm hôm nay:

"Vào bất cứ nhà nào, trước hết các con hãy nói, 'Bình an cho nhà này. ' Nếu một người yêu chuộng bình an sống ở đó, lời chúc bình an của các con sẽ ở với họ; nếu không, hãy lấy lại lời chúc bình an.”

13. Chúa Giêsu ẩn mình nơi các tôn giáo

Các giám mục Malaysia, Singapore và Brunei đã liệt kê những gì có thể học được nơi họ.

Học cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người Hồi giáo.

Học và chiêm niệm nơi người Ấn giáo.

Học từ bỏ của cải và trọng sự sống nơi người Phật tử.

Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi đạo Khổng.

Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người theo đạo Lão.

Càng học, ta càng dễ giới thiệu Ðức Giêsu, và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.

14. Tiểu sử hai thánh Timôthêô và Titô

+ Thánh Timôthêô.

Thánh Timôthêô và Titô là hai môn đệ thân tín và nổi tiếng của thánh Phaolô, nên Hội thánh cho mừng lễ các ngài chung một ngày, ngay sau ngày kính thánh Phaolô trở lại.

Timôthêô sinh ở Lycaonia thuộc vùng Tiểu Á. Thân mẫu ngài là người Do Thái và thân phụ ngài là người dân ngoại. Khi Phaolô đến Lycaonia rao giảng, thì một số người trong gia đình của Timothêô là bà ngoại, thân mẫu cũng như chính Timôthêô đã được trở nên những Kitô hữu. Nhiều năm sau, Phaolô trở lại đây một lần nữa. Lúc này Timôthêô đã khôn lớn. Phaolô tự nhiên như có linh cảm Timôthêô là người được Chúa gửi đến cho mình. Phaolô đã ngỏ ý muốn gọi Timôthêô làm tông đồ truyền giáo cho Chúa. Timôthêô đã hân hoan đáp lại lời mời gọi của Phaolô. Thế là Timôthêô rời bỏ cha mẹ và nhà cửa và lên đường. Ngài cùng chia sẻ đau khổ với Phaolô, vui mừng mang Lời Chúa đến cho mọi người. Timôthêô là tông đồ yêu quý đặc biệt của Phaolô; và Phaolô xem ngài như đứa con nhỏ của mình. Ngài đã cùng Phaolô đi khắp nơi cho tới khi ngài được cử làm Giám mục tiên khởi giáo đoàn Êphêsô, một giáo đoàn rất nổi tiếng thời đó.

Timôthêô đã hết lòng lo cho đoàn chiên, luôn được thánh Phaolô nâng đỡ khuyên bảo. Trong suốt thời gian làm Giám mục tại đây, ngài đã nhận được hai bức thư của thánh Phaolô. Trong lá thư thứ I, Phaolô đã đưa ra những chỉ dẫn giúp cho Timôthêo tổ chức và điều khiển các cộng đoàn, đồng thời cũng khuyên phải luôn trung thành với giáo lý lành mạnh cũng như can đảm bảo toàn giáo lý đã được giao phó

Với lá thư thứ hai, thánh Phaolô đã bộc lộ hết cõi lòng của Ngài như một người cha để lại những di chúc tinh thần cho người con yêu quí. Những lời cuối cùng của người cha để lại cho người con là những lời dặn dò tâm huyết ”Cha tha thiết khuyên con: hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2Tm 4,15)

Sau khi Phaolô qua đời, Timôthêô được phước sống với thánh Gioan tông đồ, là môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu.

Thánh nhân đã được phúc tử đạo năm 97.

+ Thánh Titô.

Thánh Titô là con một gia đình ngoại giáo, được thánh Phaolô dạy đạo, rửa tội, gọi là ”người con chân thành”, đồng thời cũng trao cho nhiều trách vụ quan trọng. Theo truyền thuyết, thánh tông đồ đã đặt ngài làm Giám mục giáo đoàn Kêta. Phaolô đã luôn khuyên ngài phải sống xứng đáng với danh nghĩa là người đứng đầu cộng đoàn, đồng thời phải đối xử thế nào cho thích hợp với mỗi hạng người. Đây là tâm tình của Phaolô: “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Thiên Chúa và tông đồ của Đức Giêsu Kitô. Tôi gửi lời thăm anh Titô, người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung. Xin Thiên Chúa là Cha và xin Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta, ban cho anh ân sủng và bình an. Tôi đã để anh ở lại Kêta, chính là để anh hoàn thành công cuộc tổ chức và đặt kỳ mục trong mỗi thành, như tôi đã truyền cho anh. Hãy dạy những gì hợp với giáo lý lành mạnh. Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng đáng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Anh hãy nhắc nhở cho mọi người rằng ai nấy phải phục tùng và tuân lệnh các nhà chức trách, các người cầm quyền, phải sẵn sàng làm mọi việc tốt, và đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người. (Titô 1,15; 3,18).

Titô làm Giám mục vùng quần đảo Crêta, nơi ngài định cư cho tới khi qua đời khoảng năm 105.

15. Xin vâng là hợp tác

Có hai người giáo dân đứng ngoài chợ nói chuyện với nhau: - Anh nghĩ xem, chúng ta có cần tiếp tay với cha xứ để lo việc họ đạo không ? Người thứ nhất hỏi.

- Tôi cũng thường nghĩ đến điều đó. Nhưng khi tôi thấy chung quanh cha chỉ có một nhóm nhỏ những người thân tín thì tôi không muốn gia nhập nhóm nhỏ ấy nữa.

Một người thứ ba từ nãy đến giờ đứng bên cạnh đã nghe được câu chuyện giữa hai người, anh chen vào: - Đúng thế, chung quanh cha xứ chỉ có một nhóm nhỏ thôi. Nhưng các anh có biết tại sao không ?

- Tại sao ? Tại sao ? Xin cho chúng tôi biết với.

- Hồi cha mới đến xứ đạo, cha đã kêu mời mọi người cộng tác. Nhưng sau đó chỉ có một ít người đáp lời thôi. Đó là những người biết nói “VÂNG.”

16. Chia sẻ là bài giảng

Một lần, có một người đàn bà giàu có người Hindou đến thăm Mẹ Têrêsa. Bà ta nói với Mẹ:

- Thưa Mẹ, con ước ao được chia sẻ với Mẹ và cộng tác với mẹ trong các hoạt động từ thiện.

- Tốt lắm! -Mẹ đáp lại một cách vui vẻ

Rồi bà ta thú thực với Mẹ là bà ta có một điểm yếu rất khó bỏ, đó là tính khoe khoang, ưa làm dáng. Bà thích mặc những chiếc áo Xa-ri, những bộ đồ Ấn Độ lộng lẫy và đắt tiền. Hôm ấy, bà mặc một bộ áo Xa-ri giá trị 65 dollars, trong khi chiếc áo Xa-ri của Mẹ Têrêsa đang mặc chỉ trị giá 65 xu, chưa đầy một dollar, Như được ơn trên soi sáng Mẹ Têrêsa bỗng nảy ra được tư tưởng hay. Mẹ đề nghị với bà ấy bắt đầu cộng tác với Mẹ về những bộ áo xa-ri đó. Mẹ khiêm tốn đền nghị:

- Từ nay trở đi, thay vì mua sắm những bộ áo xa-ri giá 65 hoặc 100 dollars, thì bà chỉ nên mua những bộ rẻ tiền hơn, chừng 45 hoặc 50 dollars thôi. Số tiền còn lại, bà hãy mua những bộ áo xari khác dành cho người nghèo.

Bà ấy vui vẻ hưởng ứng lời đề nghị của Mẹ, rồi dần dần bà cũng biết dùng những bộ áo xari rẻ tiền hơn. Sau này chính bà cũng đã thú nhận với Mẹ Têrêsa rằng:

- Thưa Mẹ, từ ngày con bắt đầu từ bỏ những vẻ hào nhoáng bên ngoài vô ích bên ngoài đó, tâm hồn con cảm thấy được tự do hơn, nhẹ nhàng hơn. Con đã học biết và hiểu rõ hơn thế nào là cho đi thế nào là chia sẻ. Và trong cách chia sẻ như thế, con phải thú nhận rằng chính con đã được lãnh nhận nhiều hơn thứ con cho đi và chia sẻ với anh chị em nghèo khổ!

17. Quốc Khánh của Australia

Ngày 26 tháng 01 là ngày quốc khánh của người Australia.

Ngày 26/01/1788, lá cờ của nước Anh lần đầu tiên được cắm trên lãnh thổ của Australia, đánh dấu đợt định cư đầu tiên của 730 người. 730 cựu tù nhân này đã được coi như là thủy tổ của đa số người dân Australia này nay.

Ðối với chính phủ Anh thời bấy giờ, việc lưu đày các tù nhân qua một vùng đất xa lạ là một biện pháp giúp giải quyết vấn đề ứ đọng tại các nhà tù trong nước. Nhưng đối với 730 người lần đầu tiên của Australia này, thì đây là cơ hội để làm lại cuộc đời. Dù muốn dù không, người dân Australia chính hiệu ngày nay không thể phủ nhận được sự kiện là quốc gia của họ đẫ được lhai sinh do những con người mà xã hội muốn xua đuổi cho rảnh tay.

Hôm nay Giáo Hội kính nhớ hai Thánh Timôtê và Titô, hai người con tinh thần và cộng sự viên gần gũi của thánh Phaolô mà chúng ta tưởng niệm biến cố trở lại ngày hôm qua.

LỄ GIAO THỪA - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN

Lời Chúa: Mt 5, 1-10

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mátthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.

Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp.

Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.

Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.

Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.

Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.”

TRUYỆN KỂ

1. Sử dụng thời gian

Chính Thiên Chúa mới là chủ của thời gian nhưng Thiên Chúa lại ban thời gian đó cho con người để con người sử dụng. Con người sử dụng thời gian để làm gì thì Sách Giảng Viên đã có những gợi ý rất hay:

Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: có thời để chào đời, có thời để lìa thế; có thời để trồng cây, có thời để nhổ cây; có thời để giết chết, có thời để chữa lành; có thời để phá đổ, có thời để xây dựng; có thời để khóc lóc, có thời để vui cười; có thời để than van, có thời để múa nhảy; có thời để quăng đá, có thời để lượm đá; có thời để ôm hôn, có thời để tránh hôn; có thời để kiếm tìm, có thời để đánh mất; có thời để giữ lại, có thời để vất đi; có thời để xé rách, có thời để vá khâu; có thời để làm Thiên, có thời để lên tiếng; có thời để yêu thương, có thời để thù ghét; có thời để gây chiến, có thời để làm hoà.

Vì mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Điều gì đang có, xưa kia đã có, điều gì sẽ có, xưa đã có rồi.

Người công chính cũng như kẻ gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử. Vì mọi sự, mọi việc, đều có thời, có lúc. (GV 3,1-8;14-15)

Vâng quả đúng như vậy: mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời và thời giờ đi thật mau. Dù ta muốn hay không muốn, bằng lòng hay không bằng lòng, vui hay buồn, sướng hay khổ, thời giờ vẫn cứ đi, luôn luôn đi về phía trước.

2. Tốc độ của thời gian

Trong một bài thơ cổ, người ta đọc thấy những dòng chữ này:

Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười tôi khóc thì lúc đó thời gian bò tới

Khi tôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn thì thời gian đi bộ

Khi tôi trưởng thành, tôi là người chững chạc thì thời gian chạy

Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già thì thời gian bay

Chẳng bao lâu nữa là tôi chết Thì thời gian đi mất

Ôi lạy Chúa, khi cái chết đến thì ngoài Chúa ra, không còn gì là quan trọng nữa.

Như vậy vấn đề còn lại là tôi phải sử dụng thời giờ Chúa ban cho tôi như thế nào?

3. Biết sử dụng thời gian

Vào một ngày cuối năm khi những giờ phút cuối cùng của năm cũ đang dần dần lui vào quá khứ, và giờ phút giao thừa đang dần dần đi tới với tất cả những huyền bí của thời gian.

Trong một túp lều tranh nhỏ bé, một bác nhà quê đang ngồi lim dim, lẻ loi một mình trong cô quạnh. Trí khôn bác đang dồn dập những ý tưởng mơ hồ viển vông về ngày Tết đang tới.

Tết tới, những gia đình bác quá nghèo thành thử chẳng thấy được hương vị gì của của ngày tết.

Đang khi tâm hồn của bác còn phảng phất trong trong cõi mông lung vô hạn, thì bỗng tự trên ngọn tháp nhà thờ đồng hồ buông xuống 12 tiếng chuông vàng, thanh trong hoan hỉ. Giây phút linh thiêng của đêm giao thừa vừa mới bắt đầu, thì đột nhiên bác ta thấy một chàng thanh niên lạ mặt xô cửa bước vào, đi thẳng tới, nặng nề đặt xuống trước mặt bác một gói gì nằng nặng. Sau đó người thanh niên nhìn chằm chằm vào đôi mắt còn đang ngỡ ngàng của bác và nói:

- Đây là một túi vàng. Túi vàng này ngươi hãy dùng cho khôn ngoan, rồi ngươi sẽ gặp được hạnh phúc.

Nói xong người thanh niên lạ mặt ấy nhún chân một cái rồi bay thẳng lên nóc nhà và biến đi trong đêm tối vào cõi thanh không.

Trước cảnh tượng vừa lạ lùng vừa đột ngột đó bác nhà quê cảm thấy rất sửng sốt và hoang mang. Bác đưa tay lên dụi mạnh vào mắt xem mình còn thức hay đã ngủ,

- Tôi mơ chăng?

Không! Bác không mơ. Hay có thể nói một giấc mơ đã trở thành sự thật.

Tâm hồn bác dần dần chấn tỉnh lại và thấy đây không phải là một giấc mơ mà là một sự thật, một sự thật hoàn toàn hiển nhiên.

Sau một vài phút suy nghĩ, bác liền nghiêm chỉnh tự nói với chính mình:

"Với số vàng này, một phần tôi sẽ dùng để trả nợ. Còn dư bao nhiêu, tôi phải tiêu xài cho thật khôn ngoan."

Kính thưa anh chị em

Câu chuyện trên đây là câu chuyện của tôi, của anh chị em, của mỗi người chúng ta. Một năm mới nữa lại sắp tới. Đây là thời gian Chúa ban chúng ta. Chúng quí hơn túi bạc túi vàng. Thánh Bernađinô nói: "Thời giờ quí bằng Thiên Chúa"

Thời giờ quí hơn vàng hơn bạc. Vàng bạc mất đi chúng ta có thể có lại. Vàng bạc mất đi chúng ta có thể tìm thấy. Nhưng một giây một phút qua đi là qua đi mãi mãi. Cho dù có là thần là thánh đi nữa chúng ta cũng không thể nào tìm lại được một giây, một phút đã qua đi.

Thời giờ quí giá hơn vàng bạc. Vậy tôi phải bắt chước bác nhà quê kia. Một mặt tôi dùng thời giờ Chúa ban cho tôi trong năm mới này để trả nợ những gì tôi mắc nợ Chúa. Trong suốt một năm qua, Người đã ban cho tôi muôn vàn ơn cao qui: Ơn Bình an, ơn trung thành, ơn được sống trong ơn thánh. Chúa chăn nuôi tôi như mục tử chăn dắt đoàn chiên. Thế nhưng trong suốt năm qua, rất nhiều lần tôi đáp lại bằng những thất tín nặng nề. Trước thềm năm mới, tôi xin dâng lên Chúa Xuân những lời cáo lỗi chân thành.

Mặt khác, tôi sẽ dùng năm mới này cho khôn ngoan, lợi dụng từng giây từng phút mà góp công chuộc tội.

Nếu trong năm mới này hình ảnh Chúa Xuân trong hồn tôi được thêm tốt đẹp, thì năm mới này sẽ là một năm hồng ân và cuộc đời tôi sẽ ngập tràn hạnh phúc.

4. Chọn điều tốt nhất

Phúc âm đã kể lại câu chuyện về ông phú nông như sau: Năm đó, mưa thuận gió hòa, mùa màng trúng lớn. Ông ta thu tích không biết cơ man nào lúa thóc. Cho nên ông ta đã quyết định phá kho lẫm cũ nhỏ bé, để xây kho lẫm mới to lớn hơn nhiều. Rồi đưa mắt nhìn về tương lai giữa lúc ông cảm thấy được bảo đảm thì lời Chúa vang lên:

– Hỡi kẻ điên khùng và dại dột, nếu như đêm hôm nay người ta đến đòi linh hồn ngươi, thì ngươi sẽ ăn nói làm sao bây giờ, và những của cải ngươi chắt chiu thu tích sẽ để lại cho ai?

Thánh nữ Têrêxa Avilla đã nói:

– Tất cả sẽ qua đi, chỉ mình Chúa mới tồn tại muôn đời.

Với Chúa, chúng ta sẽ có được mọi sự. Một mình Chúa mà thôi, thì cũng đã đủ. Giữa những lao công vất vả, giữa những giọt mồ hôi và nước mắt, giữa những quyến dũ trần gian, thì đôi mắt chúng ta vẫn hướng nhìn về Chúa. Chỉ có một sự cần đó là sống cho Chúa để cứu rỗi linh hồn mình.

Thực vậy, Chúa đã phán:

– Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi.

5. Hạnh phúc ở trong lòng chúng ta

Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập hợp lại với nhau để lên kế hoạch làm hại con người. Một con yêu tinh lên tiếng: “Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người. Nhưng mà cái đó là cái gì?”

Một con yêu tinh khác lên tiếng: “Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được.”

Một con yêu tinh cho ý kiến: “Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới.”

Con yêu tinh khác phản đối: “Con người rất khỏe mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì khó khăn.”

“Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh phúc ném xuống đáy biển sâu.”

“Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người sẽ biết.”

Một con yêu tinh trẻ có ý kiến: “Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác.”

Con yêu tinh già phản đối: “Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi.”

Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: “Tôi biết phải giấu hạnh phúc ở đâu rồi. Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy!!!”

Tất cả các con yêu tinh đều đồng ý. Và kể từ đó, rất nhiều người mãi miết kiếm tìm hạnh phúc ở những nơi nào khác mà không biết rằng nó đang nằm ngay trong lòng mình.

6. Cho thì có phúc hơn là nhận (Cv 20,35):

Trong một buổi hội thảo về hạnh phúc gồm 50 người tham dự. Diễn giả khởi đầu bằng một hoạt động tập thể. Ông đưa cho mỗi người một quả bóng và yêu cầu họ viết tên của mình lên trái bóng bằng chiếc bút lông. Sau đó, số bóng được thu hết lại trong giỏ rồi được đưa sang một phòng khác.

Rồi 50 người này lại được tập trung sang phòng chứa bóng và được yêu cầu hãy tìm quả bóng có ghi tên mình trong thời hạn 5 phút. Mọi người đều lao vào giỏ xô đẩy nhau để tìm kiếm quả bóng tên mình và căn phòng trở nên hỗn loạn, khi hết 5 phút mà ít có người tìm được quả bóng tên mình.

Sau đó, vị diễn giả lại yêu cầu mỗi người tự nhặt lên một quả bóng bất kỳ rồi tìm chuyển cho người có tên ghi trên bóng. Chỉ trong vòng 5 phút, ai nấy đều đã có được quả bóng tên mình.

Lúc này, vị diễn giả mới dẫn vào đề tài về hạnh phúc: Trong cuộc sống, mỗi người đều hối hả đi tìm hạnh phúc của mình, nhưng thực ra lại không biết chúng nằm ở đâu.

Hạnh phúc của chúng ta nằm xen lẫn với hạnh phúc của người khác. Hãy tìm cách làm cho người xung quanh có được hạnh phúc của họ, rồi chúng ta cũng sẽ được người khác mang lại hạnh phúc cho ta. Cũng như câu chuyện trên cho thấy: khi náo loạn đi tìm bóng thì sẽ không tìm thấy. Còn khi mỗi người cầm bóng trao cho kẻ khác thì chính họ cũng sẽ được người khác trao quả bóng hạnh phúc cho mình. Hãy cứ cho đi rồi sẽ được nhận lại: “Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).

7. Tha thứ để có được niềm vui

Ngày 03/10/2019, một thanh niên da đen 18 tuổi đã làm rúng động nước Mỹ, và có thể còn xa hơn nữa, với thông điệp tha thứ của anh.

Trong phiên tòa xét xử cô Amber Guyger, 31 tuổi, cảnh sát viên người da trắng.

Vì mải nói chuyện điện thoại cho nên cô đã đi nhầm vào phòng của anh Botham Jean, và ngạc nhiên khi thấy anh Botham đang ngồi ăn kem trong phòng khách, cô liền rút súng ra. Cô tưởng anh tấn công mình nên cô đã bắn hai phát súng trúng vào tim anh. Botham Jean, 26 tuổi, người da đen, đã chết trong căn phòng của mình một cách bất ngờ, ngỡ ngàng không hiểu tại sao mình phải chết!

Trong bối cảnh căng thẳng vì vấn đề màu da và vì tình trạng bạo hành của cảnh sát, phiên tòa xử cô Amber Guyger đã diễn ra hết sức căng thẳng.

Kết thúc 4 ngày xét xử, bồi thẩm đoàn đã nhất trí kết tội cô là ‘sát nhân’. Và kết án 10 năm tù.

Người em trai của Botham tên là Brandt Jean, 18 tuổi, khi được cho phép nói lên lời cuối với tội nhân, đã sử dụng thời gian đó tại tòa án để đưa ra một thông điệp tha thứ:

“Tôi không muốn nói hai lần hoặc hàng trăm lần cô đã lấy đi những gì, và bao nhiêu từ chúng tôi.

Tôi nghĩ rằng cô biết điều đó.

Nhưng tôi chỉ hy vọng rằng cô đến với Chúa với tất cả mọi tội lỗi và tất cả những gì tôi nghĩ là xấu xa mà cô đã từng làm trong quá khứ.

Ai trong chúng ta cũng có thể đã làm một cái gì đó chúng ta không nên làm.

Nếu cô thực sự hối hận. Tôi biết tôi có thể nói về phần tôi là tôi tha thứ cho cô.

Và tôi biết nếu cô đến với Chúa và xin Ngài tha thứ thì Ngài sẽ tha thứ cho cô. Thực tâm tôi không muốn cô phải ngồi tù. Tôi không muốn bất cứ điều gì xấu cho cô.

Ngập ngừng một lúc, anh quay sang phía chánh án hỏi:

Tôi không biết tôi có thể dành cho cô ấy một cái ôm không.

Xin vui lòng cho phép tôi.

Bà chánh án Tammy Kemp rất bối rối trước đề nghị này. Sau một lúc suy nghĩ bà nói “Được.”

Chứng kiến cảnh này bà chánh án Tammy Kemp đã rơi lệ.

Đây “Thật là một tấm gương đáng kinh ngạc về tình yêu và sự tha thứ Kitô giáo, chàng trai 18 tuổi đã thay anh tha thứ cho người sát hại anh và khuyến khích cô ấy hiến dâng cuộc sống của mình cho Chúa Kitô để bù đắp tội lỗi mình.

Hôm nay đêm giao thừa, nhắc lại sự kiện này như muốn mời gọi tất cả chúng ta “điều gì tha thứ được thì hãy tha thừ”, “điều gì có thể quên đi được thì hãy quên đi”, nhất là hãy quên đi oán giận, hận thù ganh ghét để cho tâm hồn thanh thản bước vào một mùa xuân mới của đất trời. Và nếu chúng ta là người đã nhận được sự tha thứ của anh em thì hãy hiến dâng cuộc sống mình phụng sự cho Chúa để bù đắp lại tỗi lỗi của mình.

8. Đừng quá lo cho ngày mai

Một thương gia giàu có nọ đi dạo trên bờ biển, tình cờ ông thấy có những ngư phủ nằm ngủ một cách ngon lành trên thuyền, mặc cho sóng nước chòng chành. Tò mò ông đến hỏi một ngư phủ:

- Sao anh không đi đánh cá?

Chàng ngư phủ trả lời:

- Tôi đã đánh bắt số cá đủ cho ngày hôm nay rồi.

Thấy câu trả lời chưa được thoả mãn, thương gia hỏi tiếp:

- Sao anh không tiếp tục đi đánh, để bắt thêm nhiều cá hơn?

Thay vì trả lời, chàng ngư phủ hỏi lại: - Nhưng thưa ông để làm gì?

Với đầu óc kinh doanh sẵn có, thương gia kia như muốn vạch đường hướng làm ăn cho anh chàng ngư phủ, nên đã trả lời:

- Càng đánh bắt được nhiều cá, anh càng kiếm được nhiều tiền. Có nhiều tiền anh có thể mua được chiếc thuyền lớn hơn, để có thể ra xa hơn, bắt được nhiều cá hơn. Rồi từ một thuyền, anh sẽ có thể có hai, ba, bốn chiếc... và như thế anh sẽ là một người giàu có.

Chàng ngư phủ xem chừng như không thiết tha với kế hoạch làm giàu của thương gia kia nên hỏi tiếp: - Giàu có rồi làm gì nữa?

Thấy như người đối thoại với mình quá chất phác, nên thương gia trả lời:

- Rồi anh sẽ được vui hưởng cuộc sống.

Lúc ấy, chàng ngư phủ mỉm cười nói:

- Thế tôi nằm đây để ngắm nhìn trời biển như thế này không phải là vui sướng cuộc đời hay sao?

9. Chúc cho giầu có.

Có người cho rằng: năm mới tốt đẹp là ở chỗ làm ăn phát tài phát lộc, tiền chảy vào túi như nước như non. Người ta chúc nhau: “Nhất bản vạn lợi” hay “Một vốn bốn lời”:

Nó lại chúc nhau cái sự giầu

Trăm ngàn vạn mớ để vào đâu?

Người ta chúc nhau giầu có, nhưng thử hỏi giầu có đến đâu là đã thỏa mãn? Chắc chẳng bao giờ ngươi ta thỏa mãn với cái lòng tham vô đáy, nên chẳng bao giờ người ta đạt được sự giầu có như lòng mong ước? Người ta vẫn khát khao sự giầu có mà không được.

Nhiều người đã tôn vinh tiền của lên hàng thần thánh: thần MAMMON (thần Tiền Của). Vị thần này rất quyền năng, trở thành ông chủ khắc nghiệt tuyệt đối chi phối con người họ, bắt họ làm nô lệ cho mình, và có ai thấy mình được hạnh phúc khi phải sống kiếp nô lệ không?

Ngày 06/06/1976 ông Paul Getty, một người giầu có, đã qua đời. thọ 83 tuổi. Ông để lại khoảng 4 tỉ Mỹ kim. Sau 5 lần ly dị, trong một cuộc phỏng vấn, ông đã tuyên bố: “Tôi đã mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi sợ mình không thành công. Tôi sợ không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân ấy.”

Một lần khác, ông đã phải thú nhận với một phóng viên là ông đã không đạt được hạnh phúc gia đình.

Một lần khác nữa, ông Paul Getty xác nhận: tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Hơn nữa, ông còn tin rằng tiền bạc có bà con với nỗi bất hạnh.

10. Chúc cho sống lâu.

Có người cho rằng năm mới tốt đẹp là ở tại chỗ sống thật lâu thật bền cho đến lúc đầu phủ tuyết, da đồi mồi. Thi sĩ nói:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:

Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.

Nhưng sống lâu có hạnh phúc không? Tại sao người ta thường nói: “đa thọ, đa nhục” hoặc thành ngữ có câu: “Trẻ khôn qua, già lú lại.” Đã “lú lại” sẽ bị con trẻ chê bai! Đã “lú lại” tất không thể trốn đâu được cái nhục. Không thiếu gì các ông già bà cả bị bỏ rơi, đang sống tủi sống nhục trong tuổi già. Ít có người già nào nói: mình được hạnh phúc trong tuổi già.

Ngắm nhìn ngày tháng dần trôi, người già mới thấm thía câu ca dao:

Còn duyên như tượng tô vàng

Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa.

Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa… một mình.

Trước cảnh tượng phũ phàng ấy, người ta tự nhiên cảm thấy ù tai chóng mặt. Để cứu vãn tình thế, tranh thủ thời gian, họ đâm ra ăn chơi phóng đãng:

Ai ơi, chơi lấy kẻo già,

Măng mọc có lứa, người ta có thì.

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Cái già xống xộc nó thì theo sau.

11. Chúc cho vinh sang

Có người cho rằng một năm tốt đẹp là được mọi người ca tụng, tiếng tăm được vang khắp bốn bể, được thiên hạ nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa:

Nó lại chúc nhau cái sự sang

Đứa thì buôn tước, đứa buôn quan.

Danh tiếng vang lừng bốn bể có làm cho người ta được hạnh phúc không? Đây là một chứng từ mà người ta đã biết: ông Anatole France là một người giầu có, được mọi người hoan nghênh, được nếm đủ các thứ khoái lạc trên đời, đã phải thú nhận rằng: “Nếu anh có thể đọc được trong tâm hồn tôi, anh sẽ rùng mình. Trong trời đất không có vật nào vô phúc bằng tôi: người ta tưởng tôi sống hạnh phúc. Thật ra, không bao giờ được sung sướng cả, dầu trong một giờ, dẫu trong một ngày.”

Còn một chứng từ khác của một người còn sang hơn quan nữa, tiếng tăm lừng lẫy khắp muôn phương, được thiên hạ học từ lời ăn tiếng nói, được theo dõi, từ chân tơ kẽ tóc như cô đào minh tinh màn bạc Brigitte Bardot mà cũng không thấy được hạnh phúc.

–?

– Mộng tôi bây giờ không phải là thủ vai tài tử quan trọng. Mộng tôi bây giờ là làm thế nào có đủ can đảm rút lui khỏi màn bạc.

– Thế thì tất cả những công danh của cô xưa rầy là mây, là khói hay sao?

– Phải! Brigitte Bardot đáp lại những câu hỏi bồi hồi của một ký giả báo Văn Đàn. Phải! Tất cả là mây khói, là hư vô.

12. Ba người bạn

Ba người bạn: Người kia có 3 người bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ. Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không được ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng án mà còn được thưởng nữa.

Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng.

13. Chúc cho hiện tại

Quá khứ đã khép lại....quá khứ đã chết rồi thưa Anh chị em. Tương lai thì chưa tới. Bác sĩ Osler nói: “Cách hay nhất và độc nhất để sửa soạn cho ngày mai là đem tất cả thông minh hăng hái của ta tập trung vào công việc hôm nay”

Robert Louis Stevenson cũng nói: “Bất cứ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn đầy tình thương chan chứa trong lòng từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó là ý nghĩa của cuộc đời”

Edwards Evan bảo: “Đời sống nằm ở trong hiện tại, trong mỗi ngày chúng ta sống, trong mỗi giờ chúng ta sống, trong mỗi phút chúng ta sống”

Kalidasa một kịch sĩ nổi tiếng của Ấn độ có viết một bài thơ nổi tiếng sau đây: “Hãy chăm chú vào ngày hôm nay, vì nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống.

Nó tuy ngắn ngủi, nhưng chứa tất cả chân lý về cuộc đời của ta:

Sự sung sướng khi tiến phát

Sự vẻ vang của hành động

Sự rực rỡ của thành công

Vì hôm qua chỉ là một giấc mộng

Và ngày mai chỉ là một ảo tưởng

Nhưng hôm nay nếu biết sống đầy đủ, ta sẽ thấy hôm qua là một giấc mộng êm đềm và ngày mai là hình ảnh của hy vọng.

Vậy ta hãy chăm chú vào ngay hôm nay

Và những lời này của Chúa Giêsu: “Anh em đừng lo cho ngày mai. Nước Trời đang ở giữa anh em. Thiên đàng ở trong lòng anh em”

Xin chúc Anh chị em được như thế...

Và nếu chúng ta sống được như thế, chúng ta sẽ có sức khỏe, sẽ dễ làm ra tiền bạc, sẽ có đời sống vui tươi, và cuối cùng dù không đi tìm, hạnh phúc cũng sẽ đến với chúng ta. Amen.

14. Tin tưởng phó thác

Hoài Nam Tử có thuật lại một câu truyện như sau: có một ông lão ở gần cửa ải có một con ngựa tự nhiên bỏ sang nước Hồ. Láng giềng biết tin đó đến hỏi thăm.

Ông lão nói:

– Mất ngựa thế mà biết đâu lại là cái phúc.

Cách mấy tháng con ngựa của ông tự nhiên quay trở về, lại về với một con ngựa khác. Láng giềng nghe tin đến mừng. Ông lão nói:

– Được ngựa thế biết đâu lại là một mối họa.

Từ khi có con ngựa hay, đứa con ông lão ngày ngày mải mê tập dượt. Một hôm chẳng may bị té ngã và què mất một chân.

Láng giềng nghe tin lại đến chia buồn.

Ông lão nói:

– Con tôi què thế nhưng biết đâu lại là một cái phúc.

Một năm sau bỗng có giặc Hồ xâm lăng, nhà vua hạ lệnh tổng động binh. Con ông lão vì què chân cho nên được miễn nhập ngũ. Trận chiến ác liệt chưa từng thấy. Tướng sĩ lâm trận mười phần tử trận mất chín. Nhờ được ở nhà mà con ông lão thoát được hiểm nguy chết chóc và nhờ đó mà hai cha con vẫn còn được sống bên nhau.

Vậy trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người… Còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm cho”

Đây là câu nói thật quan trọng và cũng là điều kiên tất yếu mà khoa Thần học gọi là điều kiện “sine qua non” có nghĩa là điều kiện không thể không có để cho một điều gì đó được thành sự hay được xẩy ra.

Theo bản văn Thánh Kinh hôm nay thì việc “trước hết phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” là điều kiện để Chúa thực hiện lời hứa “Còn các điều khác sẽ được ban thêm cho”

Khi tin vào Thiên Chúa con người cũng còn phải biết phó thác tất cả cho Người. Phải tin vào giá trị của mình cũng như phải tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Chim chóc hoa cỏ mà còn được Chúa để ý chăm nom thì huống chi là con người. Bởi thế nói theo kiểu của Thánh Phaolô thì “ngay cả khi ta phục vụ Thiên Chúa mà ta vẫn bị đói rách hay bị chết chóc thì ta vẫn không phải là kẻ bị quyền năng Thiên Chúa tử bỏ (Rom 8,28; Mt 10,28-31) mà đó còn là một cái phúc.(Mt 5,3-12) Chỉ có Thiên Chúa mới hiểu hết được những sự tốt lành mà Ngài làm cho các con cái của Người.

15. Chúa yêu thương con cái mình

Một biến cố rất đặc biệt xẩy ra trong Công đoàn các chị nữ tu Bác ái của Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Kể câu truyện này để anh chị em thấy việc Thiên Chúa làm lạ lùng như thế nào. Mỗi ngày tại Calcutta hội dòng phải chăm sóc cho khoảng chừng 7000 người một số người bằng cả giáo xứ Bùi Phát của chúng ta – rồi còn phải lo cung cấp thực phẩm cho họ nữa. Vào một ngày thứ sáu nọ, chị nữ tu coi sóc nhà bếp đến thưa với mẹ:

– Thưa mẹ, trong nhà không còn gì ăn cho hôm nay và ngày mai nữa.Tốt hơn hết là chúng ta nên bo cho họ biết điều đó.

Nghe điều đó, mẹ không biết phải trả lời cho chị phụ trách nhà bếp như thế nào. Cả 7000 ngàn người ăn chứ đâu phải ít.

Thế nhưng vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó không hiểu vì lý do gì mà chính quyền Ấn độ tuyên bố đóng cửa tất cả các trường công lập. Thế là số bánh mì làm sẵn cung cấp cho các học sinh không có chỗ sử dụng và chúng được chở thẳng tới cho mẹ Têrêxa. Và tất cả 7000 người từ nhỏ tới lớn có đủ bánh mì ăn trong hai ngày và hơn nữa còn được ăn no nê hơn cả những lần khác.

Chẳng ai hiểu được lý do. Nhưng mẹ Têrêxa thì thấy thật rõ. Mẹ nói: “Đó chính là dấu chỉ của Tình thương Thiên Chúa. Người là người Cha giầu lòng yêu thương đối với con cái mình”

16. Lòng phó thác của thánh Phanxicô

Thánh Phanxicô Assisi khi trình bản nội qui lên Đức Thánh Cha để xin Ngài chuẩn y. Sau khi Đức Thánh Cha đọc xong, ngài hỏi Phanxicô Assisi:

– Các tu sĩ của con sẽ sống bằng cái gì?

– Tâu Đức Thánh Cha, Thiên Chúa là một người Cha đầy uy quyền, nhưng Người cũng là một người Mẹ nhân từ.” (?!)

MỒNG MỘT TẾT - PHÓ THÁC CHO CHÚA CỦA MÙA XUÂN

Lời Chúa: Mt 6, 25-34

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn, hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin. Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì hoặc sẽ lấy gì mà mặc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy." Đó là lời Chúa.

TRUYỆN KỂ

1. Chúng ta nên chúc nhau những gì?

Nếu chúc cho ông bà anh chị em được sống lâu, giầu có, được vinh sang… thì thấy không ổn vì tất cả những cái đó chưa làm nên hạnh phúc vì nó vẫn là mây khói. Xin được lấy lại câu chúc của thi sĩ Trần Tế Xương một lần nữa:

Bắt chước ai ta chúc mấy lời:

Chúc cho khắp hết ai trong đời

Vua quan sĩ thứ người muôn nước

Sao được cho ra cái giống người.

Câu chúc của thi sĩ “Sao được cho ra cái giống người” xem ra có vẻ hài hước và mang tính cách châm biếm. Nhưng cái nhìn của ông về con người cũng giống như cái nhìn của nhà hiền triết Diogène ngày xưa. Đang giữa trưa ông cầm đèn ra giữa thành phố Athènes để đi tìm cài gì đó. Người ta hỏi tìm gì. Ông trả lời: đi tìm người! Thiếu gì người ở giữa thành phố mà phải đi tìm? Nhưng ông cho rằng những đám người này chưa phải là người đúng nghĩa, ông đi tìm một con người chính danh, con người xứng đáng “linh ư vạn vật” kia!

Năm mới chúng ta chúc nhau hãy trở nên con người đúng nghĩa, phải “linh ư vạn vật ” mới được.

Đối với người Việt nam Công giáo chúng ta, thời gian được ban cho chúng ta trong Năm mới này là để chúng ta “làm người” và “làm con Chúa.” Chúng ta không tự nhiên là người hay là con Chúa được, có là hay không còn tùy thuộc ở chỗ chúng ta có “làm” và có “làm” được hay không. Hạt giống không tự nhiên có thể nở thành cây và sinh hoa kết quả: nó cần phải được gieo cấy trong ruộng trong vườn, và cần phải có thời gian để phát triển. Con người chúng ta cũng vậy, chúng ta là những cái “nhân” được gieo cấy trong ruộng đồng là thế gian này và thời gian được ban cho chúng ta làm nên đời mình bằng cách cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa: ân sủng này cũng ví như ánh sáng và sương mưa cần thiết cho sự sinh trưởng của cây.

2. Ngày hôm nay

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây dành cho báo chí, công chúa Masako Owada đã cho biết ý kiến của mình như sau về hạnh phúc và Tình yêu. Bà nói: Đối với người Châu Âu thì hạnh phúc được gói trọn trong ba chữ: Tuổi trẻ, sắc đẹp và quyền lực. Còn đối với người Á châu thì là Tình yêu, sức khỏe và gia đình.”

Sức khỏe là một trong những yếu tố rất quan trọng làm nên hạnh phúc cho chúng ta, nhưng sức khỏe cũng không thể do lời chúc mà có. Nó còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác như dinh dưỡng, vệ sinh, sự điều độ trong cuộc sống.. vân vân...

Và bây giờ tôi xin chúc: Xin Chúa cho Anh chị em được sống trọn vẹn và đầy đủ những phút giây hiện tại của cuộc sống trên trần gian này.

Quá khứ đã khép lại....quá khứ đã chết rồi thưa Anh chị em. Tương lai thì chưa tới. Bác sĩ Osler nói: “Cách hay nhất và độc nhất để sửa soạn cho ngày mai là đem tất cả thông minh hăng hái của ta tập trung vào công việc hôm nay”

Robert Louis Stevenson cũng nói: “Bất cứ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn đầy tình thương chan chứa trong lòng từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó là ý nghĩa của cuộc đời”

Edwards Evan bảo: “Đời sống nằm ở trong hiện tại, trong mỗi ngày chúng ta sống, trong mỗi giờ chúng ta sống, trong mỗi phút chúng ta sống”

Kalidasa một kịch sĩ nổi tiếng của Ấn độ có viết một bài thơ nổi tiếng sau đây: “Hãy chăm chú vào ngày hôm nay, vì nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống.

3. Trước hết là tìm kiếm Nước Thiên Chúa

Hoài Nam Tử có thuật lại một câu truyện như sau: có một ông lão ở gần cửa ải có một con ngựa tự nhiên bỏ sang nước Hồ. Láng giềng biết tin đó đến hỏi thăm.

Ông lão nói:

– Mất ngựa thế mà biết đâu lại là cái phúc.

Cách mấy tháng con ngựa của ông tự nhiên quay trở về, lại về với một con ngựa khác. Láng giềng nghe tin đến mừng. Ông lão nói:

– Được ngựa thế biết đâu lại là một mối họa.

Từ khi có con ngựa hay, đứa con ông lão ngày ngày mải mê tập dượt. Một hôm chẳng may bị té ngã và què mất một chân.

Láng giềng nghe tin lại đến chia buồn.

Ông lão nói:

– Con tôi què thế nhưng biết đâu lại là một cái phúc.

Một năm sau bỗng có giặc Hồ xâm lăng, nhà vua hạ lệnh tổng động binh. Con ông lão vì què chân cho nên được miễn nhập ngũ. Trận chiến ác liệt chưa từng thấy. Tướng sĩ lâm trận mười phần tử trận mất chín. Nhờ được ở nhà mà con ông lão thoát được hiểm nguy chết chóc và nhờ đó mà hai cha con vẫn còn được sống bên nhau.

Vậy trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người… Còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm cho”

Đây là câu nói thật quan trọng và cũng là điều kiên tất yếu mà khoa Thần học gọi là điều kiện “sine qua non” có nghĩa là điều kiện không thể không có để cho một điều gì đó được thành sự hay được xẩy ra.

Theo bản văn Thánh Kinh hôm nay thì việc “trước hết phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” là điều kiện để Chúa thực hiện lời hứa “Còn các điều khác sẽ được ban thêm cho”

Việc tìm kiếm nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu nói ở đây không phải là sự tìm kiếm giống như tìm kiếm một đồ vật nhưng là thái độ gồm cả ý chí, nỗ lực và hành động hướng về Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa chi phối và điều khiển mọi suy nghĩ và hành động của mình sao cho những hành động đó thể hiện được thánh ý của Người. Làm được như vậy là con người đã làm được điều mà bài Tin Mừng hôm nay gọi là tìm kiếm nước Thiên Chúa.

4. Niềm vui và nỗi buồn

Không gì cần thiết cho chúng ta bằng niềm vui. Phải, niềm vui cũng cần thiết như cơm để ăn, áo để mặc và khí trời để thở. Niềm vui được biểu lộ nơi ánh mắt, nơi nụ cười, phản ảnh cho một tâm hồn trong sạch và một trái tim nhiệt thành. Vì thế mà người ta đã bảo:

– Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn vậy.

Thế nhưng đâu là chiếc chìa khóa đem lại niềm vui cho chúng ta?

Sau khi Chúa Giêsu sống lại, vấn đề quan trọng đối với các tông đồ chính là niềm vui, bấy giờ tâm hồn các ông ngập tràn hạnh phúc, bởi vì Chúa Giêsu vẫn còn đó, bên cạnh các ông. Nhưng rồi các ông sẽ phải buồn phiền vì Chúa Giêsu sẽ từ giã các ông mà về cùng Chúa Cha. Điều cần thiết cho các tông đồ cũng là điều cần thiết cho chúng ta, những người tín hữu, đó là niềm vui được kết hiệp với Chúa.

Thực vậy, bao lâu xa cách Chúa, tâm hồn chúng ta sẽ phải khắc khoải u sầu. Tại sao lại như thế?

Trước hết vì Chúa Giêsu là Đấng đem lại cho chúng ta niềm vui đích thực. Có một gia đình giàu sang, chuẩn bị cho cô gái út của mình trong ngày rước lễ lần đầu. Bà mẹ đã may cho cô bé những bộ quần áo lộng lẫy. Cô bé yên lặng suy nghĩ, rồi với cặp mắt long lanh, cô bé nói:

– Xin mẹ cứ mặc cho con những bộ quần áo bình thường như những nhỏ bạn nghèo khổ của con. Niềm vui của con chính là được gặp gỡ và kết hiệp với Chúa trong ngày trọng đại ấy.

Phải, một khi ngự vào tâm hồn chúng ta, Chúa sẽ đem đến niềm vui và sự bình an. Vì thế, chỉ có một nỗi buồn day dứt, đó là chúng ta bị xa cách Chúa bởi tội lỗi mà thôi.

Vua thánh Louis hồi còn nhỏ, thường ngồi dưới chân mẹ là hoàng hậu Blanche de Castille, ngước mắt nhìn mẹ và chăm chú lắng nghe những lời mẹ dạy. Ngày kia, người mẹ đặt một tay lên vai con rồi nghẹn ngào nói:

– Hẳn con biết rằng mẹ yêu con nhiều lắm, nhưng thà rằng mẹ thấy con chết dưới chân mẹ còn hơn là thấy con phạm một tội trọng mất lòng Chúa.

Cậu bé yên lặng và suy nghĩ, rồi trên khuôn mặt cậu bé biểu lộ một điều dốc quyết thật can cảm:

– Thà chết chẳng thà phạm tội.

5. Tôi là người hạnh phúc nhất

Một ông vua giàu có nọ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận được tiền do sự cưỡng bách.

Ngày nọ, ông vua giàu có đã quyết định làm một việc táo bạo: đó là cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm được những đồng tiền bố thí… Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông cho tất cả những tiền ăn xin được vào một chiếc hộp nhỏ. Tuy không là bao so với cả kho tàng của ông, nhưng có lẽ nó vẫn có giá trị hơn… Ông tự nghĩ: bây giờ ta nới thực sự là người giàu có nhất trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ không do một sự cưỡng bách nào.

Khi đã gom góp được một số tiền khá lớn sau những năm tháng ăn xin trước cửa các giáo đường, ông đã xin từ chức khỏi ngai vàng và đi đến một phương xa, nơi không ai có thể nhận ra ông. Ông mua một mảnh đất, và tự tay cất được một ngôi nhà tranh đơn sơ. Không mấy chốc, do sự hòa nhã, vui tươi của ông, mọi người trong lối xóm đều mến thương ông, nhất là các em bé. Ông kể chuyện cho chúng nghe, ông đem chúng đi câu cá, ông dạy chúng ca hát.

Trong đám trẻ nhỏ, có một cậu bé gia đình còn nghèo hơn cả ông nữa. Cậu bé chỉ có vỏn vẹn một con chim họa mi. Nghe tin ông đau nặng, cậu bé đã vội vàng mang con chim đến tặng ông, với hy vọng rằng con chim sẽ hót cho ông được khuây khỏa.

Đón nhận món quà, con người đã từng là vua của một nước mới thốt lên: “Từ trước đến nay, tất cả những gì tôi có, tôi đều lãnh nhận do lòng thương xót của người khác. Người ta cho tôi, nhưng không phải là cho tôi mà là cho một người hành khất. Giờ đây, với món quà tặng là con chim này, người ta tặng cho tôi với tất cả tấm lòng yêu thương… Chắc chắn, tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian.”

Một thời gian sau đó, trong vùng, có một người táđiền nghèo bị người chủ đe dọa lấy nhà và trục xuất ra khỏi mảnh vườn đang canh tác. Nghĩ đến cảnh hai vợ chồng và 7 đứa con dại bị đuổi ra khỏi nhà, ông vua không thể nào ăn ngủ được… Cuối cùng, ông quyết định tặng chính mảnh vườn và ngôi nhà của mình cho gia đình người tá điền nghèo… Và một lần nữa, không một đồng xu dính túi, ông lên đường trẩy đi một nơi khác.

Bùi ngùi vì phải chia tay với những người quen biết trong vùng, nhưng ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì có phúc hơn là nhận lãnh… Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: “Tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian này.”

6. Nếu không có mùa xuân?

“Ngày kia, có vài người đến thưa với Thượng Đế rằng: Tết năm nào cũng có bấy nhiêu việc. Chán quá! Chỉ có bọn con nít vô tư ham Tết chứ người lớn như chúng con chẳng ham gì Tết vì còn vất vả, tốn kém hơn ngày thường. Xin Ngài xem xét cho”! Suy đi nghĩ lại, Thượng Đế quyết định gọi Mùa Xuân trở về Thiên Quốc.

Thế là ba trăm sáu mươi lăm ngày này trôi qua, lại đến ba trăm sáu mươi lăm ngày khác tiếp nối nhau liên tục. Trẻ con cứ vùi đầu vào sách vở. Người lớn thì miệt mài chạy theo công việc làm ăn. Nhà cửa chẳng bao giờ được trang hoàng bởi những nhánh mai vàng rực rỡ và những chậu hoa kiểng xinh xắn, dễ thương. Các ông bà cụ mỏi mòn bên song cửa ngày này qua tháng nọ mà bóng dáng con cháu vẫn biền biệt. Bạn bè không có dịp họp mặt nhau bên ly rượu, mâm cơm để gặp gỡ, chia sẻ tâm tình … Và rồi dần dần, hoa cỏ nhợt nhạt vì thiếu làn gió xuân ấm áp và những đôi tay chăm sóc. Con người cũng dần dần xa cách nhau vì thiếu sự quan tâm và tình thương nồng nàn.

Chịu hết nổi, một ngày nọ, con người lại đến van xin Thượng Đế: “Xin Ngài đem Mùa Xuân trở về với chúng tôi. Không có Mùa Xuân, có ngày chúng tôi phát điên lên mất.”

Khi Mùa Xuân trở lại, sức sống và niềm vui lại chan hòa trên cảnh vật và con người …”

Có lẽ Mùa Xuân là một quà tặng tuyệt vời mà Thượng Đế gửi đến cho vũ trụ và con người. Quà tặng đó là thời gian, là những vẻ đẹp được kết tinh từ cả một chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc, và sâu xa hơn, đó là một “món ăn” bổ ích cả thể xác lẫn tinh thần cho con người.

7. Chúa quan phòng

Có hai người bộ hành đi lên đường đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý, và mang theo một chú gà cồ làm bạn. Ban đêm đến họ đốt đuốc để soi đường.

Một trong hai người là một tín hữu rất đạo đức, luôn miệng nói: “Chúa là Ðấng tốt lành quan phòng mọi sự.” Người kia thì rất cứng lòng tin. Ông rất bực mình mỗi khi nghe người bạn đồng hành hơi một tí là cầu nguyện “phó thác cho Chúa lòng lành.”Trước khi mặt trời lặn, họ đến một ngôi làng nhỏ. Họ tìm một nơi để qua đêm. Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng không có ai đón tiếp họ. Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng để qua đêm. Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn không có lòng tin mới thốt lên: “Nào, Chúa tốt lành của anh ở đâu rồi?” Người kia bình tĩnh đáp lại: “Ðây là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này.”

Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc cây lớn nằm sát bìa rừng. Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt lên ngọn đuốc thì một tiếng động mạnh từ xa vang lại. Thì ra, chỉ trong chớp nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi. Vừa thương tiếc cho chú lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên cây để tránh tai họa.Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng mới thốt lên: “Nào, Chúa quan phòng của anh còn tốt nữa không?” Người tín hữu ngoan đạo dõng dạc tuyên bố: “Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Tạ ơn Chúa là Ðấng tốt lành.”

Một vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu la thất thanh. Hai người bộ hành mới trèo cao hơn. Họ nhận ra con gà cồ đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng. Họa vô đơn chí! Chỉ vài phút sau đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh tối tăm ghê rợn. Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thinh lặng trước lời xiên xỏ của người bạn không tin Chúa của mình.

Sáng hôm sau, hai người mon men trở lại làng để mua thức ăn. Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã đột nhập vào làng cướp của giết người. Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng, người có lòng tin mới giải thích cho người bạn như sau: “Anh đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp. Nếu cơn gió lớn không làm tắt ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta. Bạn thấy chưa, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng quan phòng tuyệt hảo.”

8. Mùa xuân phó thác

Ngày xưa, tại ngôi làng thuộc một vùng núi, người dân có tục lệ rất hay. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, mọi người già trẻ lớn bé đều tham dự cuộc thi đua tìm bông hoa đầu tiên của mùa xuân. Ai tìm thấy và hái được bông hoa ấy, sẽ được xem là người may mắn nhất trong năm.

Một năm nọ, tuyết đông vừa tan, mặt trời vừa ló dạng, mọi người trong làng kéo nhau lên núi tham gia cuộc thi. Buổi sáng trôi qua mà không có ai tìm được bông hoa nào. Giữa lúc mọi người đang chán nản định bỏ cuộc, thì trên triền núi cao, có tiếng reo hò mừng rỡ:

– Tôi đã tìm thấy rồi!

Đó là tiếng reo hò của một cậu bé trong làng. Mọi người chạy đến chia sẻ niềm vui với cậu bé. Nhưng không may cho cậu, bông hoa nằm kẹt trong một khe đá dưới vực sâu. Muốn được xem là người may mắn nhất trong năm, chính cậu phải là người đích thân hái bông hoa ấy.

Năm người đàn ông lực lưỡng nhất trong làng đem một sợi dây thừng đến giúp cậu bé leo xuống vực. Nhưng cậu bé không dám leo xuống. Người ta đem đến một sợi dây thừng khác, chắc chắn hơn và huy động tất cả trai tráng trong làng giữ dây thừng cho cậu. Nhưng cậu cũng không chịu leo xuống. Mọi người hết lời khích lệ, cổ vũ nhưng vô vọng. Cuối cùng, cậu bé nói một cách quả quyết:

Tôi sẽ leo xuống vực, với điều kiện để cho bố tôi nắm dây thừng.

Có lẽ mọi người chúng ta đều mong ước hái được những bông hoa đầu xuân và trở thành những người may mắn như vậy. Tuy nhiên, cũng giống như bàn tay hái hoa hồng, phải chấp nhận bị gai nhọn đâm, thì để có được những bông hoa rực rỡ trong cuộc sống, người ta cũng phải trả một giá đắt. Cậu bé trong câu chuyện chỉ dám leo xuống vực sâu vì có bàn tay người cha bảo vệ.

Hôm nay, chúng ta bước vào ngưỡng cửa của năm mới với tâm hồn đầy âu lo khi nhìn vào năm mới với nhiều bất trắc và thử thách. Nhưng chúng ta cũng vững tâm vì luôn có bàn tay Chúa bảo vệ và dẫn đưa. Lời Chúa trong bài Tin Mừng theo thánh Matthêu khiến chúng ta an lòng: “Các con đừng lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo.”

9. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa.

Năm 1923, một nhóm người giàu có nổi tiếng của nước Mỹ đã gặp gỡ nhau trong một khách sạn miền Viễn Tây. Họ trao đổi với nhau những kinh nghiệm làm giàu. Nhưng 25 năm sau, những gì đã xảy đến cho họ?

Charles Schwab, giám đốc công ty thép lớn nhất ở Mỹ, đã chết vì bị phá sản.

Samuel Insull, giám đốc công ty sản xuất đồ gia dụng, đã bỏ nước ra đi và chết không một đồng xu dính túi.

Howard Hopson, giám đốc hãng Gas, đã trở thành điên loạn. Arthur Cutten, nhà xuất nhập cảng lúa mì, cũng chết ở nước ngoài trong cảnh nghèo túng.

Richard Whitney, giám đốc hối đoái New York, đã lên cơn điên phải vào bệnh viện.

Albert Fall, nhân vật cao cấp trong chính phủ, phải vào tù vì tham nhũng.

Bức tranh trên đây khiến chúng ta phải suy nghĩ và tự hỏi: sự giàu sang thật sự có phải là niềm hạnh phúc không? Tiền bạc của cải tự nó không phải là điều xấu. Ai trong chúng ta cũng cần có tiền bạc của cải để sống xứng với phẩm giá của mình.

Tuy nhiên, tiền bạc của cải luôn là con dao hai lưỡi: nếu được xử dụng như phương tiện, sẽ giúp chúng ta nên thánh, nếu được coi như thần tượng, sẽ sai khiến và đè bẹp chúng ta.

Hôm nay, ngày đầu năm mới, Chúa mời gọi chúng ta hướng tầm nhìn lên cao, vượt lên những lo lắng thế tục, những dục vọng trần gian, để thấy Chúa chính là cùng đích mà chúng ta kiếm tìm: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.”

10. Chìa khóa hạnh phúc

Có một người sống trên tầng 80 của một chung cư cao ngất. Ngày kia, về nhà sau giờ làm việc, người đó choáng váng nhận ra thang máy của chung cư bị hư. Anh ta buộc phải leo bộ lên căn hộ của mình.

Anh ta leo đến tầng 20 rất nhanh nhẹn. Thậm chí còn xách hộ đồ cho người khác. Khi đến tầng 40, anh ta bắt đầu mệt mỏi, trả lại túi đồ cho người bạn và quyết định để lại cả túi xách của mình, dự định sẽ quay lại lấy vào ngày hôm sau. Khi lên đến tầng 60, anh ta dừng lại nghỉ chân nhiều hơn, kéo lê từng bước lên thang lầu.

Cuối cùng, người đó cũng lên đến căn hộ của mình. Nhưng lên đến nơi, anh ta mới phát hiện ra mình để quên chìa khóa phòng trong túi xách để lại ở tầng 40. Thế là anh ta đành phải ngủ ngoài hành lang cho đến khi thang máy được sửa xong.

Câu chuyện này cũng là câu chuyện của chúng ta. Tòa nhà 80 tầng là cuộc đời của mỗi người. Mỗi tầng lầu là một tuổi mà chúng ta đã trải qua.

Khi bước vào tuổi 20, chúng ta hăng hái và đầy quảng đại bước đi trên cuộc hành trình đức tin. Đến tuổi 40, chúng ta bắt đầu tính toán hơn thiệt, chỉ nghĩ đến mình và thu quén cho mình. Đến tuổi 60, chúng ta bắt đầu mệt mỏi, lê bước trên đường sống đạo. Điều quan trọng nhất, khi bước lên tầng 80 của đời người, đứng trước cánh cửa cuối cùng, có thể chúng ta đã đánh mất chiếc chìa khóa mở ra phần rỗi cho đời mình.

Hôm nay, bắt đầu năm mới, chúng ta bước lên một tầng lầu mới của tòa nhà cuộc đời. Chúng ta hãy đặt bàn tay mình vào bàn tay Chúa. Chúa sẽ nâng đỡ dìu dắt chúng ta bước lên một cách vững vàng.

Đừng mang theo hành trang cồng kềnh của tiền bạc danh vọng chóng qua, nhưng hãy mang theo trái tim đầy tình yêu chia sẻ.

Đừng đánh mất chiếc chìa khóa của niềm tin, chiếc chìa khóa mở ra cho chúng ta cánh cửa hạnh phúc đời đời.

11. Được phần thưởng

Anh Ben Johnson quốc tịch Canađa đã đoạt giải nhất với huy chương vàng trong Thế Vận Hội, được tổ chức tại Seoul, thủ đô xứ Hàn vào năm 1988, vì anh là người chạy nhanh nhất thế giới trong cuộc chạy đua nước rút 100m, chỉ mất có hơn 9 giây. Anh đã được Thủ tướng Canada gọi điện chúc mừng ngay trên sân thi đấu, mọi người dân Canada vui mừng, hãnh diện trước chiến thắng này!

Nhưng chỉ ba ngày sau đó, ban Giám khảo trường thi đã phát giác trong người anh Ben Johnson có chất kích thích, mà anh đã chích vào trước giờ xuất phát, tức là anh lỗi Luật thi! Thế là ban Tổ chức đã tước huy chương vàng của anh. Ôi từ đỉnh cao danh vọng anh đã nhào xuống vực thẳm tủi nhục! Các phái đoàn Canađa ở Seoul không ai còn dám mặc áo có in hình cờ đất nước mình nữa, cả ngọn cờ Canada tức khắc cũng được chính các cổ động viên hạ xuống! Mọi người, kể cả dân Canada đều bàn tán, phê phán hành động này và chối bỏ vận động viên Ben Johnson không phải là dân bản xứ,vì anh có quốc tịch Canada gốc người Mỹ!

Ở đời này có nhiều người dùng thủ đoạn để chiếm đoạt danh dự, vinh quang cho bản thân mình, nhưng chắc chắn đến ngày tận thế, sự thật ấy sẽ được phơi bày và, lúc đó mọi người mới thốt lên: “À ra thế!”

Vậy ngay bây giờ hãy thực hành lời thánh Phaolô dạy: “Anh em hãy chạy thế nào để chiếm được phần thưởng! Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư, trái lại chúng ta nhắm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi chạy mà không phải chạy hờ; cũng vậy tôi đấu quyền mà không phải đấm không khí, trái lại, tôi nhắm con ngươi đồng tử mà thụi vào chính bản thân và bắt nó qụy lụy phục tùng, kẻo lỡ đã làm thầy dạy cho kẻ khác, mà chính tôi lại bị thải loại!” (1Cr 9,24-27: bản dịch NTT). Có như thế mới là người thi đấu đúng Luật (x 2 Tm 2,5).

12. Vượt lên trên số phần

Một người thanh niên tên là Tony Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II (nay là thánh G.P.II) đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè năm 1987.

Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên cụt 2 tay, đang hát với tiếng đàn Guitar bằng đôi chân của mình. Ðiều gì đã làm cho khung cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người?

Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng. Tony đã chào đời không có hai cánh tay. Nhưng Anh đã vận dụng những ngón chân của mình để học đàn guitar. Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.

Anh đã biết biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục.

Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: “Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt diệu như thế?”

Anh đã trả lời như sau: “Tôi đã cầu nguyện: Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa. Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi.”

- Không ai trong chúng ta chọn lựa được sinh ra hay không sinh ra.

- Không ai trong chúng ta chọn lựa làm đàn ông hay đàn bà.

- Không ai trong chúng ta chọn lựa được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo hèn…

Dưới mắt người đời, mỗi người chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh. Người ta vẫn nói: có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người kém may mắn.

Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả.

13. Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên

Ông Booker T. Washington được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh của một người nô lệ da đen, và khi ông lên chín tuổi thì gia đình ông được trả lại sự tự do. Từ đó, ông đã cố gắng hết mình để đi học và được tốt nghiệp đại học. Sau này ông trở thành một người giáo dục nổi tiếng và là người tư vấn cho tổng thống Mỹ.

Chuyện kể rằng một buổi sáng nọ, khi ông còn là chủ tịch của trường Đại Học Tuskegee Institute ở tiểu bang Alabama, ông đang đi dạo thì có một bà Mỹ da trắng hỏi ông có muốn chặt củi để kiếm thêm ít tiền không. Ông Booker nhận lời và khiêm nhường xắn tay áo làm việc đã được mướn. Khi củi đã được chặt và sắp ngăn nắp ở cạnh lò sưởi, thì đứa cháu gái chạy ra và nhận ra người chặt củi là ai. Sáng hôm sau người bà da trắng đó đã đến gặp ông tại trường và xin lỗi, nhưng ông chỉ trả lời là “Tôi thích được có cơ hội làm việc lao động.” Hành động đó đã đánh động bà và bà đã kêu gọi những người thân bảo trợ cho ngôi trường đó và họ đã ủng hộ rất nhiều.

14. Rủi thành may

John Newton là một người chuyên nghề buôn bán nô lệ. Một đêm nọ, một cơn bão ập đến đe dọa nhận chìm chiếc tàu chở nô lệ của ông. John kêu lên cùng Chúa: “Xin cứu chúng con, con hứa sẽ bỏ nghề này và trở thành nô lệ của Ngài mãi mãi.” Sau khi được cứu sống, John đã bỏ nghề buôn bán nô lệ và trở thành một thừa sai. Để kỷ niệm cuộc hoán cải này, ông đã viết lời cho một bài hát nổi tiếng: “Ôi! thật là một ân huệ huyền diệu. Nó mới ngọt ngào làm sao! Chính điều đó đã cứu rỗi một kẻ khốn khổ như ta. Ta đã từng lạc đường mà nay đã tìm thấy lối. Ta đã từng mù lòa, mà nay đã trông thấy được.”

Đã có khi nào Chúa Giêsu giúp đỡ tôi trong cơn giông tố cuộc đời chưa? Cơn giông tố đó dẫn tôi đến gần Chúa hay cuốn tôi ra xa Ngài? Tại sao?

Các môn đệ đã ngạc nhiên và nói: “Người này là ai… Ngay cả gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8,27).

15. Biết lo liệu

Một số thổ dân vớt được một thủy thủ bị đắm tàu, đưa anh về làng, đặt lên ngôi và cư xử với anh như một ông vua. Sau đó, người thủy thủ biết được số phận của mình. Ông sẽ làm vua trong vòng một năm, rồi được đưa đến hòn đảo chết và được để lại đó như một vật tế lễ cho thần thánh. Người thủy thủ nhanh chóng lập ra kế hoạch. Với tư cách là vua, anh ra lệnh cho thợ mộc đóng một chiếc tàu, truyền cho các nông dân đến trồng cây trên đảo và các thợ nề xây nhà trên đó.

Câu truyện này có thể được xem như một dụ ngôn rất hay về cuộc đời người kitô hữu. Cũng như người thủy thủ bị đắm tàu, chúng ta biết được tương lai của mình và phải khôn ngoan chuẩn bị cho tương lai đó.

Tôi đã chuẩn bị cách khôn ngoan và cẩn thận ra sao cho tương lai của tôi?

Cuộc đời là một hành trình hướng về nhà Cha (Merman Melville).

16. Cầu nguyện để có Chúa ở cùng

Ba nhà giảng thuyết đang thảo luận về cách tốt nhất phải áp dụng khi cầu nguyện. Người thứ nhất nói: “Tôi đã thử tất cả, và thấy rằng quỳ cầu nguyện vẫn là cách tốt nhất.” Người thứ hai nói: “Có thể điều đó đúng, nhưng hầu hết các nhà thần bí Đông Phương đều đề nghị ngồi xếp bằng trên sàn là cách tốt nhất.” Người thứ ba nói: “Cách tốt nhất khi cầu nguyện đối với tôi là ngước mắt lên trời.” Một người thợ điện làm việc gần đấy nghe được câu truyện liền nói: “Tư thế cầu nguyện tốt nhất đối với tôi là treo một chân trên cột điện thoại trong cơn sấm sét.”

Tôi có kinh nghiệm tư thế cầu nguyện tốt nhất không? Tôi có bao giờ cầu nguyện lớn tiếng trước hoặc sau khi suy niệm không? Tôi có bao giờ ngước mắt lên trời hoặc quỳ gối giây lát trước khi cầu nguyện không?

Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,

Quỳ trước Tôn Nhan Chúa là Đấng dựng nên ta (Tv 94,6).

17. Chiếc bình nứt

Có một người gánh nước bằng hai chiếc bình lớn treo hai đầu một cái đòn gánh. Một trong hai bình ấy bị một vết nứt. Cái bình còn nguyên kia thì tuyệt hảo và luôn luôn đem về nhà một bình đầy nước. Chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn nửa bình nước sau khi đi hết đoạn đường dài từ con suối về đến nhà.

Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về nhà có một bình rưỡi nước. Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất hãnh diện về thành tích của mình, hoàn tất cách tuyệt hảo nhiệm vụ nó được tạo ra để thi hành.

Tội nghiệp chiếc bình nứt! Nó rất xấu hổ về khuyết điểm của mình, và khổ sở vì chỉ hoàn tất được có một nửa công việc nó được giao phó.

Sau 2 năm chịu đựng cái mà nó cho là một thất bại chua cay, một ngày nọ chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước bên bờ suối: “Con thật lấy làm xấu hổ, vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác.”

Người gánh nước trả lời: “Con đã chẳng để ý thấy chỉ có hoa mọc trên đường đi bên phía của con à? Ta đã biết khuyết điểm của con, nên ta đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con, và mỗi ngày trên đường mình đi về con đều đã tưới nước cho chúng nó...

... Hai năm nay ta vẫn luôn hái được mấy đóa hoa đẹp đó để chưng trên bàn. Nếu mà con không phải là con y như thế này, thì trong nhà đâu có được trang hoàng đẹp đẽ như vậy."

MỒNG HAI TẾT - THỜ CHA KÍNH MẸ

Lời Chúa: Lc 1, 67-75

Khi ấy, Dacaria, cha của Gioan, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng: "Chúc tụng Thiên Chúa của Israel, vì Chúa đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người. Chúa đã gầy dựng cho chúng ta một uy quyền cứu độ trong nhà Ðavít là tôi tớ Chúa, như Người đã phán qua miệng các thánh nhân từ ngàn xưa, là tiên tri của Chúa; để giải phóng chúng ta khỏi quân thù, và khỏi tay những người ghen ghét chúng ta; để tỏ lòng từ bi với tổ tiên chúng ta, và nhớ lại lời thánh ước của Người: lời minh ước mà Người tuyên thệ, với Abraham tổ phụ chúng ta, rằng: Người cho chúng ta không còn sợ hãi, sau khi thoát khỏi tay quân thù, được phục vụ trước tôn nhan Người, trong thánh thiện và công chính trọn đời chúng ta.”

Hoặc:

Lời Chúa: Mt 15, 1-6

Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa? “

Người trả lời: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa.”

Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa.

TRUYỆN KỂ

1. Đạo hiếu là đạo làm người

Qua tổ tiên, Thiên Chúa tạo dựng nên con người chúng ta. Qua ông bà cha mẹ, Thiên Chúa cho chúng ta nên người thành toàn. Tri ân tổ tiên là tri ân chính Thiên Chúa, Nguồn Cội của mọi nguồn cội.

Sách Nhị Thập Tứ Hiếu kể lại 24 gương hiếu thảo đối với mẹ cha. Lão Lai tuy đã già vẫn nhảy múa như con nít để giúp vui cho cha mẹ. Lục Tích là đứa bé ăn cắp quýt ở bữa tiệc để đem về, vì biết mẹ thích. Ngô Mãnh, tám tuổi, cởi trần cho muỗi đốt mình để khỏi đốt cha mẹ. Diễm Tử có cha mẹ già, thèm sữa hươu, nên ông khoác bộ da hươu, giả làm hươu con vào rừng, để đến gần hươu mẹ vắt sữa nên suýt nữa bị các thợ săn nhắm bắn.

Nếu không hiếu thảo đến mức cao như các gương trên đây thì ít là hôm nay ta biết ngước lên trời cầu nguyện cho cha mẹ:

“Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con”

2. Hãy bày tỏ lòng hiếu ngay hôm nay

Một góa phụ vất vả làm lụng trong nhà máy để nuôi bốn đứa con, giờ nằm hấp hối trên giường.

Đứng xung quanh bà bây giờ là con cái lớn khôn. Anh trai cả khóc và nói với bà: “Mẹ ạ, mẹ thật tốt và hết lòng yêu thương chúng con. Chúng con muốn cám ơn mẹ. Chúng con thật hãnh diện về mẹ.”

Bà nhướng đôi mắt và hỏi: “Tại sao các con đợi cho đến bây giờ mới nói điều đó? Trước đây các con chẳng bao giờ nói như vậy.”

Rồi bà nhắm mắt từ biệt.

3. Đôi đũa thứ năm

Bác Năm Hớn có một vợ và hai con. Chẳng may vợ mất sớm. Một hôm bác mời cha Piô Ngô Phúc Hậu đến dùng cơm với bác. Trong mâm chỉ có bốn người mà sao lại thắp những 5 đôi đũa bát.

Cha Hậu ngạc nhiên hỏi: “Bát đũa này dành cho ai?”

Bác trả lời: “Dành cho vợ bác.” Tuy vợ bác đã khuất, nhưng bác vẫn mời vợ về cùng dùng cơm.

Giáo hội Việt Nam luôn đồng hành với dân tộc, không những phải giữ lấy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn nâng cao lên, cho nó một ý nghĩa cao quý. Vì thế, Giáo hội Việt Nam muốn dùng ngày mùng hai Tết để chúng ta kính nhớ ông bà tổ tiên, vì

Người ta có tố có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn (Ca dao)

Không có ông bà tổ tiên thì không có ta, tất cả những cái ta có là do ông bà cha mẹ để lại. Không ai được quên công ơn lớn lao đó.

4. Con kiện mẹ.

Tại bang New Jersey bên Hoa kỳ, một bà mẹ 78 tuổi bị đứa con trai kiện vì bà không trả tiền công cho chàng đã sửa chiếc xe vận tải của bà.

Bà đã đệ đơn tố ngược lại con mình, với đề nghị là chàng phải bị đánh đòn vì lúc chàng còn nhỏ, bà đã không áp dụng câu: “Thương con cho roi cho vọt.”

Trả lời đơn người con trai kiện mình, bà đã viết: “Nguyên cáo mắc nợ bị cáo 40 năm phục dịch của một người mẹ, một người giữ em, một người giúp việc nhà, một nhà tâm lý để cố vấn khuyên bảo… Tất cả những dịch vụ trên nguyên cáo đã không trả tiền công cho bị cáo.”

Bà mẹ viết tiếp: “Như một người mẹ, nếu luật pháp cho phép, tôi sẽ công khai đánh con tôi, những roi vọt cần thiết cho nó mà tôi đã không dành cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho phép mẹ đánh con, thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa trị con tôi.”

5. Quà tặng của cha

Có một chằng trai sắp thi tốt nghiệp đại học. Trước đó anh đã nói với cha về ước nguyện có chiếc xe thể thao xinh đẹp và mong rằng nó sẽ là quà tặng của cha nhân ngày tốt nghệp.

Người cha nghe xong im lặng, không có ý kiến gì.

Sau ngày chàng trai tốt nghiệp, người cha đã gọi anh vào phòng, nói rằng ông rất yêu thương và hãnh diện có được đứa con như anh. Sau đó ông trao cho anh một hộp quà được gói cẩn thận. Ngạc nhiên, chàng trai mở hộp quà và nhìn thấy đó là một quyển sách thể loại “rèn nhân cách” được đóng gáy và bọc bìa da rất đẹp. Chàng trai nhíu mày, “với tất cả tài sản mà cha mình đã có… và món quà tặng cho con tốt nghiệp đại học chỉ là một quyển sách tầm thường này hay sao?”

Chán nản và buồn phiền với ý nghĩ đó, chàng trai không nói lời nào với cha mình, rời khỏi phòng, để lại quyển sách trên bàn. Sau đó anh bỏ nhà ra đi…

Trong một thời gian dài, chàng trai không liên hệ với cha mình. Cho đến một ngày anh nhận được tin cha mình đã qua đời và để lại toàn bộ tài sản cho anh ta.

Khi anh về đến căn nhà cũ xưa, sự buồn phiền và hối hận tràn ngập trong lòng chàng trai khi anh nhớ đến sự cư xử lạnh nhạt mà anh đã có với cha trước đây. Anh tìm đọc những giấy tờ quan trọng của cha mình và nhìn thấy cuốn sách “rèn nhân cách” vẫn còn nguyên vẹn trên bàn như ngày anh từ bỏ nó. Chàng trai mở cuốn sách ra, lật từng trang và thấy một bao thư được ép chặt trong đó. Anh đã nhẹ nhàng mở bao thư ra, và bỗng dưng nước mắt anh tuôn trào khi nhận ra đó chính là một chìa khóa xe hơi và tờ hóa đơn của chính chiếc xe mà anh ta yêu thích ngày trước. Tờ hóa đơn ghi đúng ngày anh ta tốt nghiệp với dòng chữ đã thanh toán đầy đủ…

Trong cuộc sống của chúng ta không ai mà không mắc những sai lầm. Có những sai lầm thì sau đó được sửa chữa và trở nên bình thường. Nhưng có những sai lầm sau khi khắc phục rồi nó vẫn còn để lại “một vết sẹo” mà khó có thể phai mờ được.

Có thể nói, “vết sẹo” mà chúng ta đã gây ra đối với đấng sinh thành là đáng trách nhất. Vết sẹo đó sẽ mãi mãi ở bên chúng ta khiến chúng ta luôn bị nhức nhối lương tâm mỗi khi nhớ đến nó. Như trong câu chuyện trên, chàng trai sau khi thức tỉnh đã vô cùng ân hận, nhưng người cha đã không còn nữa để anh ta làm một cái gì đó, dù chỉ là một lời xin lỗi...

Qua những ý tưởng trình bầy trên đây chúng ta thấy, về mặt tự nhiên, việc hiếu thảo là bổn phận tự nhiên và là dấu chỉ của một người trưởng thành. Đồng thời, khi sống hiếu thảo cũng là lúc chúng ta chu toàn giới luật Thiên Chúa và nhờ đó được Ngài chúc phúc.

6. Nắng chiều.

Đây là vở kịch được trình diễn tại nhà hát thành phố Hồ chí Minh trong liên hoan sân khấu quần chúng năm 1994.

Nội dung: đứa con trai đạt được danh vọng cao trong xã hội, về đưa mẹ từ nhà quê lên ở chung cho có mẹ và con. Nhưng tính tình người già không phù hợp với vợ chồng trẻ, anh đã đưa mẹ vào viện dưỡng lão và luôn chu cấp đầy đủ.

Người mẹ luôn chỉ nhận được những gói quà và món tiền chu cấp, chứ không gặp được mặt con...

Vậy mà anh vẫn vô tình, vẫn thản nhiên mỉm cười nhìn cuộc đời trôi đi một cách an bình. Anh không hề biết, đi bên sự thờ ơ của anh, là nỗi cồn cào, xót đau, chờ đợi của mẹ.

Nỗi đau khổ làm trĩu nặng thêm trái tim héo úa của mẹ. Sức lực không còn nên mẹ không đợi được anh... chút NẮNG CHIỀU ít ỏi còn lại đã tắt. (Tuổi trẻ Chủ nhật, số 4 / 94 (535), tr 18)

Ai xem vở kịch này chắc cũng cảm động đến rỏ nước mắt và thấy rõ sự thờ ơ và vô tình của con cái trước sự cô đơn của cha mẹ. Thực sự cha mẹ không chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu vật chất mà còn cần tình nghĩa, cần sự săn sóc của con cái. Chỉ có tình mẫu tử mới làm cho cha mẹ được ấm lòng. Khi về già, cha mẹ sợ nhất là cảnh cô đơn.

7. Công việc của người mẹ.

Người ta nghiên cứu một gia đình có hai con, trung bình một năm phải rửa:

18.000 dao, nĩa và thìa ăn.

13.000 đĩa

6.000 tách

3.000 nồi.

Nếu một phụ nữ đặt thức ăn lên bàn, ăn xong lại dọn đi rửa, rồi lại đặt vào chạn, thì trong một năm người đó phải mang tổng cộng 5 tấn, và mỗi năm phải đi lại trên quãng đường 2000 km để mua hàng.

8. Con không hơn cha.

Một mục sư nói với đứa con 15 tuổi của ông:

- Từ 15-20 tuổi: cha cho con có quyền tin tưởng là con hơn cha.

- Từ 20-25 tuổi: con thông minh bằng cha.

- Nhưng từ 25-30 tuổi: thì cha bắt buộc con phải nhìn nhận là cha thông minh hơn con một một cách tuyệt đối.

Người ta cũng nói: người 70 phải học với người 71.

Giáo dục cần thiết và qúi giá biết bao!

Algarotti nói: “Một nền giáo dục tốt là gia tài giầu sang người cha có thể trối lại cho con mình.”

9. Tờ hóa đơn.

Có một bà mẹ nọ, vì muốn khuyến khích đứa con nhỏ của mình chăm lo việc nhà, nhất là những công việc nhỏ nhặt, nên hầu như lúc nào bà cũng thưởng cho nó một món tiền nhiều ít tùy theo công việc nặng nhẹ.

Lần kia, suốt cả một tuần, bà mẹ đau liệt giường. Thế là em nhỏ phải giúp mẹ trong nhiều công việc, nhưng không thấy mẹ tính thù lao. Cuối tuần, em nhỏ viết một cái hóa đơn ghi những công tác chưa được nhận tiền thưởng gồm: xách nước 2 đồng, nấu cơm 3 đồng, giặt quần áo 5 đồng… Tất cả các thứ tính chung trong một tuần lễ là 80 đồng. Xong, em rón rén bước vào phòng, dúi tờ hóa đơn vào tay bà mẹ.

Ba phút sau, bà mẹ đưa cho em bé 80 đồng kèm theo một tờ hóa đơn khác, trong đó ghi: công sinh, công nuôi dưỡng, công dạy dỗ, công học hành, công thầy thuốc mỗi khi đau bệnh… x 10 năm: chưa có mục nào được thanh toán cả.!

Cầm tờ hóa đơn trong tay, em nhỏ chợt hiểu, vội chạy vào xin lỗi mẹ.

10. Ý kiến của tù trưởng.

Trong quyển tiểu thuyết nhan đề “Cội rễ”, tác giả E. Heili viết như sau:

Ở một bô lạc bên Phi châu, người thanh niên khi đến tuổi trưởng thành sẽ được gọi là “chiến sĩ.” Tuy nhiên, muốn được mang danh hiệu này, anh phải trải qua một cuộc sát hạch, thường là thả vào rừng sâu một thời gian.

Năm ấy, có ba thanh niên đến tuổi trưởng thành và rất muốn được gọi là “chiến sĩ.” Ba chàng đã đến trình diện vị tù trưởng. Vị tù trưởng chúc mừng và hỏi người thứ nhất: “Trong một tháng qua, anh đã làm được những gì”? Người thanh niên thưa: “Tôi đã giết được một con hổ dữ.”

Tù trưởng khen “tốt” rồi bảo anh đứng sang một bên và hỏi người thứ hai: “Trong tháng qua, anh đã làm được những gì? Anh có giết được con hổ dữ nào không”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, hổ dữ thì tôi không giết được, nhưng tôi cũng đã chém được một con trăn to.”

Tù trưởng khen “tốt”, bảo anh đứng sang một bên và hỏi người thứ ba: “Một tháng qua, anh đã làm được những gì? Anh có chém được một con hổ dữ hay một con trăn nào không”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, hổ hay trăn thì tôi không chém được.” Tù trưởng hỏi tiếp: “Thế anh làm được gì”? Anh đáp: “Thưa tôi kiếm được một tảng mật ong to.” Tù trưởng hỏi: “Ngươi kiếm mật ong để làm gì”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, tôi có mẹ già, mà nhà tôi lại nghèo, nên tôi kiếm mật ong để cho mẹ tôi bồi dưỡng.”

Nghe xong, vị tù trưởng rút con dao ra trao cho anh và nói: “Ta phong anh làm chiến sĩ, bởi là người thì phải biết sống hiếu thảo với cha mẹ.”

11. Còn thương bụi chuối sau hè

Nếu như trong văn học Việt nam cây tre được ví von như người cha thì hình tượng cây chuối cũng được khắc họa như người mẹ. Người ta thường ca ngợi cây tre nhưng ít ai nói về cây chuối và ít ai biết được trong hình ảnh đó là những những ý tưởng phong phú. Hình ảnh ấy đã đi vào văn thơ mộc mạc, dân dã bao nhiêu thì cũng gần gũi thân thương trong những bài hát, bài thơ bấy nhiêu.

Người ta vịnh cây chuối như sau:

Không rực rỡ như hồng, lan, cúc, huệ

Không dịu dàng như Tulip, Lily

Hương chẳng thơm, sắc cũng chẳng tươi gì

Mà nghiêng ngã khi cây vừa trổ nụ

Chứa đựng trong lòng một dòng nhựa chát

Để một đời xanh ngát những đứa con

Hiến dâng xong xác cũng chẳng còn

Nhường lại chỗ cho đàn con khôn lớn.

12. Cuộc đời cây chuối

Có một em bé hỏi bố rằng:

- Bố ơi, trong cuộc đời của một cây chuối nó sinh ra được bao nhiêu buồng?

Bố tôi trả lời:

- Chỉ một buồng duy nhất.

Cậu nhỏ ngạc nhiên về câu trả lời của bố. Nó cứ đinh ninh trong cuộc đời của mình một cây chuối ít nhất cũng cho vài buồng quả.

Bố nói thêm:

- Khi buồng chuối chín cũng là lúc cây chuối mẹ chết đi.

Thực vậy, nếu có dịp quan sát một cây chuối mang một buồng quả chín ta sẽ thấy: Lá của cây chuối mẹ héo rũ và xác xơ, và thân của nó oằn xuống như sắp gẫy vì nó phải mang trên mình một buồng chuối nặng trĩu quả. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, khi buồng cuối chín hoàn toàn, cây chuối mẹ sẽ gục hẳn xuống.

Trong quá trình nuôi buồng chuối, cây chuối mẹ đã hy sinh những phần tinh túy nhật của mình – chất dinh dưỡng trong gốc, thân và lá – để dồn cho những quả chuối được chín, để dâng cho đời những trái chuối ngon ngọt.

Hóa ra lâu nay hằng ngày tôi vẫn ăn chuối và thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một bụi chuối mà không hề hay biết cây chuối tượng trưng cho một hình ảnh đẹp về sự hy sinh cao cả đến thế.

Cây tốt lại sinh trái tốt. Cây chuối từ đời này đến đời kia cứ tiếp tục dâng hiến, hy sinh để cho một mầm sống mới phát triển. Phẩm chất của cây chuối không chỉ là thơm ngon, là chất bổ dinh dưỡng mà còn là một bài học quí báu của tình yêu hy sinh đến quên cả tính mạng mình. Đó là mẫu gương của sự hy sinh, của tình yêu bất diệt.

13. Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó

Dân gian có một câu truyện đã được truyền lại từ đời này qua đời kia như thế này. Có một đôi vợ chồng kia làm ăn khá giả nhưng lại cư xử rất keo kiệt với những người trong gia đình. Trong nhà có một ông bố già. Vì già - đã trên 80 tuổi - cho nên mắt đã mờ, sức đã yếu tay chân không còn được khoẻ mạnh như hồi còn trẻ. Chính vì vậy mà mỗi khi ăn uống ông thường đánh rơi ly chén xuống đất làm bể rất nhiều ly chén. Người con dâu thấy như vậy nên cứ cằn nhằn hoài với chồng. Người cha tuy mắt đã mờ nhưng tai còn rất thính. Ông rất buồn nhưng không thế làm cách nào khác hơn. Ngồi ăn mà không cầm được nước mắt. Rồi một hôm khi chị ta xúi chồng đẽo cho cha một cái chén bằng gỗ để tiện cho việc ăn uống.

Câu truyện tưởng như thế là suôn sẻ nhưng thật không ngờ là một ngày kia khi hai vợ chồng có việc phải đi xa trở về. Khi vào trong nhà thì nghe thấy có tiếng gì như những tiếng đục đẽo vọng ra từ ở một góc nhà. Hai vợ chồng lại gần thì thấy đứa con trai cưng của mình đang cầm một cái chén bằng gỗ đã được đẽo gần xong. Bà mẹ tò mò hỏi thì đứa con ngây thơ trả lời:

- Con làm cái chén này để mai sau ba má có chén mà dùng giống như chén ba má đẽo cho ông nội đang dùng vậy đó.

Kính thưa anh chị em. Không biết anh chị em có còn nhớ không chứ riêng tôi, tôi rất nhớ câu ngạn ngữ đã có từ bao thế hệ như thế này: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó - Vâng sóng trước đổ đâu thì sóng sau sẽ đổ ở đó” anh chị em.

Đó là điều thứ nhất.

14. Hàn Bá Du

Đời nhà Hán bên Trung hoa có một người nổi tiếng là có lòng hiếu thảo với cha với mẹ. Đó là Bá Du. Hồi còn nhỏ mỗi khi làm điều gì sai quấy mà bị mẹ đánh thì Bá Du luôn tươi cười vui vẻ nhận lỗi, không bao giờ dám cãi. Nhưng một ngày nọ sau khi bị mẹ sửa phạt bằng roi thì Bá Du oà lên khóc. Thấy thế bà mẹ thắc mắc hỏi:

- Bao nhiêu lần mẹ đánh con để dạy con mà con không khóc thế thì tại sao lần này con lại khóc?

Bá Du lễ phép trả lời:

- Thưa mẹ, những lần trước mẹ đánh con đau lắm thế nhưng con không khóc vì con thấy sức của mẹ còn mạnh. Lần này mẹ đánh con, tuy không đau bằng những lần trước nhưng con lại khóc vì con thấy sức mẹ không còn khoẻ như xưa…mẹ đã già yếu. Con khóc vì thương mẹ chứ không phải vì giận hờn.

15. Tu nhà

Dương Phủ sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.

Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền triết.

Đi được nửa đường, ông gặp một Vị lão tăng. Vị lão tăng khuyên Dương Phủ: “Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được Phật.”

Dương Phủ hỏi vặn lại: “Phật ở đâu?” Vị lão tăng giải thích: “Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy.”

Dương Phủ nghe lời quay về. Đi dọc đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Đức Phật mà vị lão tăng đã mô tả. Từ đấy, Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.

Thứ nhất thì tu tại gia

Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.

Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.

16. Sự tích cây vú sữa

Ngày xưa, ở vùng Lái Thiêu (thuộc tỉnh Sông Bé) có hai mẹ con sống đơn chiếc bên nhau. Thương con trai mồ côi bố, người mẹ hết sức cưng chiều con. Vì quá nuông chiều, cậu bé trở nên nghịch phá và ham chơi.

Một ngày kia, vì phá phách, bị mẹ quở mắng, cậu bé bỏ nhà ra đi. Cậu đi lang thang hết ngày này sang ngày khác, ai cho cái gì thì ăn cái ấy.

Một hôm, cậu quyết tâm trở về với mẹ. Sau bao ngày lặn lội, cậu cũng về tới nhà. Cảnh vật còn nguyên, nhưng mẹ cậu thì không còn nữa. Cậu bé đâu có biết rằng mẹ cậu vì mong mãi con không về đã sinh bệnh rồi chết, hóa thành một cây xanh.

Cậu bé gọi hoài, gọi mãi không thấy mẹ. Cậu chỉ biết ôm lấy cây xanh mà khóc. Bỗng cây xanh run rẩy và rơi xuống một trái to, da căng mịn và xanh óng ánh.

Vừa đói, vừa mệt, cậu bé đưa quả lên rồi cắn một miếng, dòng sữa trắng trong quả trào ra, như dòng sữa mẹ thật thơm ngon.

Vỏ cây xù xì như bàn tay lam lũ của mẹ, lá cây một mặt xanh bóng, một mặt đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Mẹ không còn nữa, nhưng mẹ vẫn đứng đó để nuôi con bằng dòng sữa mẹ ngọt ngào.

Từ đó, người ta gọi cây xanh ấy là cây vú sữa, để tưởng nhớ đến tình mẹ thiêng liêng và cao cả.

17. Sự tích trái dưa hấu

Vào đời Hùng Vương, ở một vùng quê cách xa kinh đô Phong Châu, có một cậu bé mồ côi thường theo người lớn đi săn thú và đánh cá. Năm tám tuổi, cậu được lên kinh đô gặp vua Hùng. Thấy cậu thông minh, nhà vua nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai An Tiêm.

Vua Hùng cưới vợ cho An Tiêm và cho cả hai vợ chồng đi phá rừng, làm rẫy trồng trọt. Chỉ ít lâu sau, An Tiêm đã dựng được nhà cửa và gặt được nhiều thóc lúa chứa đầy kho. Thấy thế, bọn người ghen tị tâu nịnh với vua vì cho rằng An Tiêm coi thường ơn vua. Vua Hùng giận lắm, không cần tìm hiểu thực hư ra sao, và đày hai vợ chồng ra hoang đảo.

Cây ngay không sợ chết đứng, vì “người công chính được Chúa độ trì” (Tv 37:17). Ở hoang đảo, có con chim trắng bay tới làm rơi hạt đen xuống bãi cát trắng. An Tiêm đem trồng thử hạt này. Chúng mọc thành những dây bò lan trên mặt cát. Cây có nhiều trái màu xanh thẫm to bằng đầu người. An Tiêm hái một trái đem về cho cả nhà ăn thấy ruột đỏ mà ngọt, lại có nhiều nước. Loại trái “xanh vỏ, đỏ lòng” đó chính là trái dưa hấu.

Bài học về chữ hiếu: Dù bị Phụ vương đày ra hoang đảo, nhưng An Tiêm vẫn giữ trọn đạo hiếu với cha, không hề trách hờn ai. Về sau, vua Hùng hối hận và phục chức cho An Tiêm.

Và chắc hẳn nhiều người (tuổi trung niên trở lên) còn nhớ sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”, tác phẩm văn học của tác giả Quách Cư Nghiệp, kể lại gương hiếu thảo của 24 người con đời nhà Nguyên (Trung Hoa). Chính tác giả cũng là người con chí hiếu.

18. Xin gì dịp đầu năm ?

Trong những ngày đầu năm, chắc hẳn mỗi người chúng ta đều có chung một ước muốn, đó là xin Chúa ban ơn cho mình trong năm mới. Phần Chúa thì chắc hẳn cũng sẵn sàng ban ơn cho chúng ta. Vậy hôm nay chúng ta nên xin gì ?

Một người kia cứ xin Chúa ban ơn hoài. Chúa nghe mãi đến nỗi phải mệt. Vậy để giải quyết anh này, Chúa nói: "Bây giờ Ta quyết định ban cho con bất kỳ 3 điều nào mà con xin. Sau đó thì thôi Ta không ban ơn gì nữa cả.” Anh rất vui sướng và xin ngay: "Xin cho vợ con chết đề con cưới một người vợ khác tốt hơn.” Chúa nhậm lời, vợ anh chết. Nhưng khi bà con và bạn bè đến lo chôn cất vợ anh, họ nhắc lại những phẩm chất tốt của chị, khi đó anh mới tiếc và biết rằng mình đã quá hấp tấp khi xài lời xin thứ nhất. Anh đành phải xài thêm lời xin thứ hai: Xin cho vợ con sống lại. Chúa cũng nhậm lời. Thế là anh chỉ còn có một lời xin thôi. Đây là cơ hội cuối cùng nên anh suy nghĩ rất kỹ phải xin gì ?

Một người bạn góp ý hãy xin cho được bất tử. Nhưng người khác nói bất tử có ích lợi gì nếu không có sức khoẻ tốt. Vậy hãy xin sức khoẻ.

Nhưng một người khác nói sức khoẻ thì làm gì được nếu không có tiền. Vậy hãy xin tiền.

Người thứ ba phản đối: tiền bạc có nhiều cũng vô ích nếu không có bạn. Hãy xin có thật nhiều bạn. Ý kiến này cũng có người khác phản đối nữa.

Tóm lại, muốn xin cái gì thì thoạt đầu thấy cái đó là tốt nhưng suy nghĩ lại thì thấy nó cũng chưa phải là tốt nhất. Anh chàng bối rối quá, chạy tới nói với Chúa "Xin Chúa dạy con biết phải làm gì bây giờ ?” Chỉ vì bối rối quá nên anh mới nói với Chúa vậy thôi chứ anh nào ngờ đây là lời xin thứ ba và cũng là lời xin cuối cùng. Từ nay anh không còn được quyền xin gì nữa cả. Anh tiếc quá sức, gãi đầu gãi cổ và tự trách mình. Nhưng khi đó xảy ra một điều bất ngờ, bất ngờ hơn cả sự bất ngờ của anh khi thốt lên lời xin thứ ba. Sự bất ngờ này là Chúa mỉm cười hài lòng. Chúa nói: Con thật là khôn ngoan khi xin như vậy. Từ nay Ta sẽ chỉ cho con biết phải làm gì. Con chỉ việc nghe theo lời Ta chỉ dạy, và đời con sẽ được hạnh phúc, hạnh phúc muôn đời, hạnh phúc mãi mãi.

Câu chuyện trên đủ trả lời cho câu hỏi chúng ta đặt ra hồi nảy: Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta nên xin gì với Chúa.

Xin cho được nhiều tiền chăng ? Nhưng phải chăng có nhiều tiền là hạnh phúc ? Chúng ta đã thấy nhiều gia đình rất giàu nhưng vợ chồng con cái đối xử với nhau rất tệ.

Xin cho được sống lâu chăng ? Nhưng phải chăng sống lâu là hạnh phúc ? Có nhiều người sống lâu quá đến nỗi con cháu phát chán.

Chúng ta đang rơi vào tình trạng bối rối của anh chàng kia rồi. Vậy hãy hỏi Chúa xem ta nên xin gì.

Trong Tin Mừng, Chúa bảo: "Tiên vàn hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính. Rồi mọi thứ khác Cha trên trời sẽ lo cho chúng con.” Trong ngữ vựng của Tin Mừng, "tìm sự công chính" có nghĩa là tìm thánh ý Chúa. Như thế, câu trả lời này giống y câu Chúa đã trả lời cho anh chàng kia: xin cho mình được biết ý Chúa và làm theo ý Chúa, đó là lời xin khôn ngoan nhất, tốt đẹp nhất, quý giá nhất, vì xin điều này là sẽ được tất cả mọi điều khác.

MỒNG BA TẾT – HƯỞNG NIỀM VUI CỦA CHỦ

Lời Chúa: Mt 25, 14-30

Bấy giờ, Đức Giêsu kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Người kia sắp đi xa, gọi tôi tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông đưa cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi.

Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.

Sau một thời gian lâu dài, ông chủ của các đầy tớ ấy đến và yêu cầu họ thanh toán sổ sách. Người đã lãnh năm nén tiến lại gần, đưa năm nén khác, và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”

Người đã lãnh hai nén cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi đã gây lời được hai nén khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”

Rồi người đã lãnh một nén cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông vẫn còn nguyên đây này!” Ông chủ đáp: “Anh thật là tôi tớ xấu xa và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi cho các chủ ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy nén bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười nén. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”

hoăc: Lời Chúa: Ga 5,16-20

Khi ấy, các người Do thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã chữa bệnh trong ngày sabbat. Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy.”

Bởi thế, các người Do thái càng tìm cách giết Người, vì không những Người đã phạm luật nghỉ ngày sabbat, lại còn gọi Thiên Chúa là Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Thật, Ta bảo thật cho các ngươi biết: Chúa Con không thể tự mình làm gì, nếu không thấy Chúa Cha làm.

Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu thương Chúa Con, và bày tỏ cho Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục.”

TRUYỆN KỂ

1. Gương lao động của loài kiến

Những ngày ở bậc tiểu học, thập niên 50, mỗi học sinh đều phải thuộc lòng câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về “Con ve và con kiến.” Chuyện kể là con ve chỉ thích ca hát suốt các ngày hè tươi đẹp, còn đàn kiến thì cần cù lo chuyên chở dự trữ lương thực và xây tổ đề phòng cho những ngày đông giá lạnh. Con ve thực sự tỉnh ngộ và cay đắng khi phải đến tổ kiến để xin ăn và chỗ ở…

Chuyện này là một mô hình luân lý của tính khôn ngoan, ham làm việc và biết lo xa của đàn kiến so với những thói hư tật xấu của loài ve ham chơi.

Hoặc nếu có dịp đọc thơ ngụ ngôn của Esope, một thi sĩ cổ Hy Lạp, chúng ta cũng thấy có một bài thơ ngụ ngôn tương tự:

Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đang bận việc sấy khô ngô đã bị uót sau một trận mưa dài. Lúc đó, một con ve từ đâu bay tới xin kiến cho ít hạt ngô vì nó nói:

- Tôi sắp chết đói mất.

Lũ kiên ngưng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. Chúng nói:

- Chúng tôi có thể hỏi: anh đã làm gì suốt cả mùa hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông?

Ve trả lời:

- Tôi quá bận rộn với việc ca hát nên không có thời giờ nữa.

Lũ kiến trả lời:

- Nếu anh dùng mùa hè để hát thì không gì tốt hơn là hãy dùng mùa đông để nhảy múa.

Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.

2. Ba người thợ xây thánh đường

Một nhà văn Pháp có kể chuyện ba anh đẽo đá, đại khái như sau:

Hôm nọ, có người khách đến viếng ngôi thánh đường vừa khởi công. Ba người thợ đang làm đá. Người khách hỏi một người:

- Anh làm gì đó?

Người thứ nhất trả lời với giọng uể oải:

- Tôi đang dũa đá, thật khốn cho cái đôi tay chai đít phỗng của tôi.

Người thứ hai lễ độ hơn, trả lời:

- Tôi đang kiếm tiền nuôi vợ con tôi.

Còn người thứ ba hiên ngang trả lời:

- Còn tôi, tôi đang xây ngôi thánh đường…

Và người ấy rang rang cất tiếng hát.

Công đồng Vatican 2 cũng xác quyết: làm việc là góp phần vào việc sáng tạo và hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử:

“Thực vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, tất cả những người nam cũng như nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu đều có lý do để tin rằng nhờ lao công của mình họ tiếp nối công trình của Tạo hóa, phụng sự anh em, đóng góp công lao mình vào việc hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử” (Gaudium et spes).

Chúng ta hãy phó thác mọi công việc cho Chúa trong năm mới này. Hãy nỗ lực làm việc không ngừng. Nhưng muốn cho mọi công việc lao động của ta có ý nghĩa hơn, ta hãy làm với tinh thần vui tươi, với ý thức rằng ta làm việc để cho Chúa hài lòng, để danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa trị đến nơi ta đang làm việc.

3. Con trâu

Có một câu chuyện huyền thoại về con trâu như sau: Thuở xưa, Ngọc Hoàng sai một vị thần xuống trần gian mang theo một bao hạt giống và một bao cỏ để gieo xuống rần gian. Trước khi xuống trần, Ngọc Hoàng đã tỉ mỉ căn dặn, đến trần gian phải gieo rắc bao hạt giống lúa trước để dân cư có dư giả mà ăn, còn bao cỏ thì gieo sau để nuôi thú vật. Nhưng khi vị thần này đến trần gian, thấy phong cảnh khác lạ, nên mải mê xem mà quên lời dặn của Ngọc Hoàng, để rồi gieo bao cỏ trước và bao hạt giống lúa sau. Từ đó, cỏ không cần trồng cũng mọc tràn lan khắp mọi nơi, các thú vật ăn không bao giờ hết vì quá dư thừa và không làm sao diệt cỏ hết được. Còn lúa thì phải gieo trồng rất cực khổ và khó khăn mới có ăn, bởi vì bị cỏ mọc lấn áp làm lúa phát triển chậm hơn cỏ.

Bởi lỗi ấy của vị thần, làm cho ngươi trần gian trồng lúa rất khó nhọc mới có ăn và cỏ thì mọc tự nhiên quá nhiều, cho nên Ngọc Hoàng mới đẩy vị thần này xuống trần gian hóa thành con trâu để giúp người trần gian cầy bừa trồng lúa và ăn cỏ, chừng nào hết cỏ sẽ được tha thứ cùng phục hồi địa vị cũ, nhưng ăn hoài vẫn không bao giờ hết cỏ được, nên Trâu chưa thoát kiếp trở về thiên đường…

“Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho.” Vì ở trần gian, cỏ thì nhiều, lúa lại ít. Cây ăn được thì ít, cây không ăn được thì nhiều. Xem ra con người vất vả hơn con vật. Vì người phải làm việc vất vả mới có mà ăn, còn con vật thì không cần làm mà Trời vẫn cho ăn: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” (Tục ngữ).

4. Nhờ ơn Chúa

Một vị linh mục nọ qua đời, và được đưa đến trước mặt thánh Phêrô để làm một thẩm tra. Thánh Phêrô hỏi:

- Ở dưới thế cha làm được điều gì?

Vị linh mục nhanh nhẹn và tự hào trả lời:

- Thưa thánh Phêrô, con xây được một ngôi thánh đường lớn.

Thanh nhân lấy bút ghi trên giấy: Một điểm.

- Cha còn làm được gì nữa?

- Dạ, con còn xây một trường học cho một ngàn học sinh.

Thánh Phêrô ghi tiếp: một điểm.

- Và gì nữa?

Vị linh mục bắt đầu suy nghĩ, rồi trả lời:

-Dạ, con công tác nhiều vào các công việc xã hội, từ thiện.

Thánh Phêrô ghi thêm: một điểm.

- Còn gì nữa? Thánh Phêrô hỏi tiếp.

Lần này vị linh mục lo lắng hỏi thánh Phêrô:

- Dạ thưa thánh cả Phêrô, được bao nhiêu điểm thì vào thiên đàng?

Thánh Phêrô vui vẻ trả lời: một ngàn điểm.

Nghe nói thế, vị linh mục bỗng chột dạ, nghĩ thầm: “Chết mình rồi, làm sao có được chừng ấy điểm đây?” Nếu có moi óc kể tất cả các sự việc mình làm ở dưới thế e cũng không đủ…”

Và vị linh mục bắt đầu lo sợ, rồi thất vọng, không còn tự tin.

Trong lúc đó, thánh Phêrô nhắc lại:

- Cha còn làm được điều gì nữa, cứ kể hết đi!

Với giọng nói nhuốm màu sắc khiêm tốn và lo sợ, vị linh mục nói:

-Thưa thánh cả, Nhờ Ơn Chúa con cũng làm được đôi ba việc nhỏ.

Nghe vậy, thánh Phêrô lấy bút ghi ngay: một ngàn điểm.

Ngài nói:

-Thế là cha được một ngàn lẻ ba điểm rồi đấy. Cha đã dư được ba điểm. Mời cha vào!

5. Sẵn sàng bắt tay vào việc

Một ông chủ kia giao cho bảy người thợ cưa, mỗi người phải cưa một khúc cây.

Người thứ nhất nói: khúc cây của tôi còn tươi quá, nguyện lưỡi cưa sẽ mắc trong đó. Tôi chờ cho đến khi khúc cây đó khô rồi tôi mới cưa, thế là anh ta nghỉ.

Người thứ hai: lưỡi cưa của tôi cùn quá, tôi chờ ông chủ đổi cho tôi lưỡi cưa khác bén hơn rồi tôi mới cưa. Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ ba: khúc cây này cong bên này cong bên kia. Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi khúc cây khác thẳng hơn. anh cũng đi nghĩ.

Người thứ bốn: khúc cây của tôi quá cứng, cứng gấp hai lần khúc cây thường. Tôi chờ có khúc khác mềm hơn. Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ năm: hôm nay trời nóng quá, đợi ngày nào mát trời hãy cưa. Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ sáu: hôm nay tôi nhức đầu, đợi tới khi nào khỏi tôi mới cưa. Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ bảy cũng nhận một khúc cây còn tươi, nó cũng cong bên này cong bên kia, thịt nó cũng rất cứng, lưỡi cưa của anh cũng cùn, trời hôm đó cũng nóng và anh đó cũng nhức đầu. Nhưng anh đi mài lưỡi cưa và bắt tay vào việc. Nhờ lưỡi cưa đã được mài, khúc cây đã được cưa xong, do trời nóng và do làm việc, anh ta đổ mồ hôi ra và hết nhức đầu. Anh sung sướng vì hoàn thành công các được giao.

Hôm sau anh xin ông chủ cho anh một khúc cây khác để cưa. (A.R Wells)

6. Vượt qua nghịch cảnh

Một người nông dân nọ có một con lừa già. Một hôm con lừa bị rơi xuống giếng và đau đớn kêu la thống thiết. Sau khi cẩn thận đánh giá tình hình, dù rất thương cảm cho con lừa, nhưng người nông dân cũng phải quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn. Anh gọi thêm mấy người hàng xóm để cùng lấp đất chôn con lừa với ông.

Lúc đầu con lừa bị kích động vì những gì người ta đang làm đối với nó. Nhưng khi từng xuổng từng xuổng đất tiếp theo nhau rơi trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên:

Cứ mỗi lần xuổng đất rơi xuống đè lên vai, mình sẽ lắc cho đất rơi xuống và bước lên trên.

Và nó đã làm như vậy, từng chút từng chút một.

Hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên – con lừa lặp đi lặp lại để tự cổ vũ mình.

Mặc cho sự đau đớn phải chịu sau mỗi xuổng đất. Mặc cho sự bi đát cùng cực của tình huống đang gánh chịu, con lừa liên tục chiến đấu chống lại sự hoang mang, hoảng sợ, và tiếp tục theo đúng phương châm “hất nó xuống và bước lên trên.”

Không mất nhiều thời gian, cuối cùng con lừa già, dù bị bầm dập và kiệt sức, đã hoan hỉ và đắc thắng bước ra khỏi cái giếng. Những gì tưởng như sẽ đè bẹp và chôn sống nó, trên thực tế đã cứu sống nó… đều là nhờ cái cách mà con lừa đối diện với nghịch cảnh của mình.

7. Cửa sổ hoặc tấm gương

Một người do thái giàu có nhưng rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một lời hướng dẫn cho cuộc sống của mình. Vị giáo trưởng đưa anh đến bên cửa sổ và nói: “Ông hãy nhìn qua cửa sổ và tôi biết ông thấy gì.” Không một chút do dự, người giàu có trả lời: “Tôi thấy nhiều người đi qua đi lại.” Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có quay mặt vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu hỏi tương tự: “Nào, bây giờ ông thấy gì trong tấm gương ?” - “Dĩ nhiên tôi chỉ thấy tôi.”

Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút ra một bài học: “Này nhé, tấm gương được làm bằng kính, phía sau phủ một lớp bạc mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đàng sau tấm kính thì nhìn vào đó ông sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình ông thôi. Trái lại khi nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ, ông đã thấy được những người khác.

8. Có nhiều nén bạc mà không biết

Có một chàng thanh niên lúc nào cũng ngồi than thân trách phận không may của mình, nên không thể nào giàu có được. Ngày nọ, một ông lão đi qua thấy vẻ mặt ủ ê của anh ta bèn hỏi:

– Chàng trai kia, sao trông cậu buồn bã thế, cậu có điều gì không vui sao?

– Cháu không hiểu tại sao cháu làm việc vất vả mà vẫn nghèo. Chàng trai buồn bã nói.

– Cháu mà nghèo ư, cháu đang giàu có đấy chứ?

– Chưa thấy ai nói với cháu như vậy cả, vì thực sự cháu rất nghèo.

– Này nhé: Giả như ta chặt ngón tay cái của cháu, và trả 3 lượng vàng thì cháu có chịu không?

– Không ạ.

– Giả như ta chặt một bàn tay của cháu và trả 30 lượng vàng, cháu có chịu không?

– Không bao giờ.

– Vậy nếu ta lấy đi đôi mắt của cháu và trả cháu 300 lượng vàng, thì cháu thấy thế nào?

– Cũng không được.

– Vậy nếu ta trả cháu 3000 lượng vàng để hai ông cháu chúng ta hoán đổi số phận, để cháu trở thành một lão già như ta có được không?

– Đương nhiên là không.

– Cháu muốn giàu. Vậy nếu ta trao cho cháu 30,000 lượng vàng để lấy đi mạng sống của cháu, thì cháu thấy thế nào?

– Cháu cảm ơn ông! Cháu đã hiểu cháu đang là một người giàu có mà cháu không biết.

Những nén bạc không đồng đều, kẻ nhiều người ít. Nhiều hay ít, số lượng không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi người làm việc với những nén bạc đó. Chúa chú ý tới cố gắng của mỗi người. Bởi thế, người đã lãnh năm nén và người đã lãnh hai nén mà xử dụng tốt đều được thưởng như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ” (x. Mt 25, 21.23). Bạc Chúa trao cho chúng ta phải ra sức làm việc để sinh lời. Việc sinh lời không hệ tại số lượng nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ, người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.

9. Tài giỏi và trung thành với một nén bạc

Một nữ tu tuổi trung niên đã bước vào khu ổ chuột của một thành phố lớn ở Ấn Độ. Lúc đó, bà ta chỉ có hai đồng đôla trong ví. Bà không có thu nhập và cũng không có chỗ để trú thân.

Tất cả cái bà có là niềm tin tưởng rằng Chúa đang mời gọi bà thực hiện một điều gì đó cho người nghèo ở khu vực này. Bà cảm nhận một cách chắc chắn rằng, nếu thực sự là lời mời gọi của Chúa, Chúa sẽ cung cấp tất cả những gì cần thiết. 

Bà ta chính là mẹ Têrêxa thành Calcutta. Ngày nay, Mẹ được biết đến và được kính trọng trên khắp thế giới. Mẹ đã dựng xây 80 trường học, 70 bệnh xá giúp người cùi, 30 nhà dành cho những người hấp hối và 40,000 cộng sự viên trên toàn thế giới. Mẹ khởi sự với mấy đồng lẻ chỉ tương đương với vài chiếc bánh và mấy con cá nhỏ, nhưng mẹ đã sẵn sàng dâng hiến cho Chúa và rồi đã có cả ngàn ngàn người tiếp tục được nuôi dưỡng và chăm sóc. Thực thế, mẹ đã làm sinh lợi nhiều điều tốt lành cho Chúa và tha nhân.

Chúng ta nhớ rằng sự quảng đại của Thiên Chúa vĩ đại gấp ngàn lần sự rộng rãi của chúng ta.

Mẹ Têrêxa Calcutta với dáng thon gầy nhỏ bé, nhưng đã có một trái tim vĩ đại.

Nhiều vị được Chúa trao số vốn nhỏ bé lại làm vinh hiển Chúa trước các đại gia và những bậc vị vọng:

- Thánh Maria Madalena, một người bị kết án là phụ nữ tội lỗi khét tiếng vì bị bảy quỷ thống trị, thế nhưng khi bà được Đức Giêsu trừ bảy quỷ, từ bấy giờ bà hiến dâng tất cả tài sản cho việc truyền giáo và trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho thế giới (x Lc 8,1-3; Ga 20,18).

- Thánh Gioan Maria Vianey có trí khôn tầm thường, không đủ điểm trong các môn Thần học ở Đại Chủng Viện, nên đã bị cha Giám đốc sa thải! Nhưng nhờ cha Sở bảo lãnh,Gioan Vianey được trở lại Chủng Viện, và ngài đã trở nên một vị Linh mục thánh thiện, nhiệt tình, gương mẫu, xứng đáng là Bổn mạng các cha Sở!

- Thánh nữ Catharina, vì gia cảnh nghèo nên thất học, thế mà nhờ bà biết cầu nguyện cho Hội Thánh đang gặp sóng gió, bà đã thành công làm cho ba Giáo hoàng đang tranh ngôi vị vào những năm 1378-1417, một ở Roma, một ở Bỉ, một ở Pháp, phải từ chức để bầu lại Thủ Lãnh Hội Thánh, thủ đô đặt ở Roma. Vì công đức ấy mà Hội Thánh tôn vinh bà làm Thánh Tiến sĩ.

Bởi thế, thánh Phaolô nói: “Khi anh em được Thiên Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan; những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr 1,26-29)

                       

Lời Chúa Tuần 3 Thường Niên

Thường niên V GS C PS Ngoại lịch

 EDIT