LỜI CHÚA TUẦN 13 THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNTN 13A - THEO CHÚA
THỨ TƯ - Chúa chữa 2 người bị quỉ ám
THỨ NĂM - Chúa có quyền tha tội
THỨ SÁU - Kêu gọi người thu thuế Mát-thêu
THỨ BẢY - Ăn chay đẹp lòng Chúa
Lễ kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ -
Lễ kính thánh TÔMA, TÔNG ĐỒ – Con đường theo
Chúa
CNTN 13A - THEO CHÚA
Lời
Chúa: Mt
10, 37-42
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy,
Chúa Giêsu phán cùng các tông đồ rằng: "Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy,
thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì
không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào
đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.
"Kẻ
nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng
đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ
lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh
nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào
cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh
nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần
thưởng đâu.”
TRUYỆN KỂ
1. Xứng với
Thầy
Hai
mươi sáu năm trời, vác một cây thánh giá gỗ, dài 3,6m, ngang 1,8m, nặng 18 kg, vượt
qua 50.140 km, 227 quốc gia, 7 lục địa: đó là điều mục sư Arthur Blessit đã làm
từ Noel 1969.
Ông
là người giữ kỷ lục đi bộ quãng đường dài nhất. "Tôi đã đi qua các sa mạc,
rừng rậm, đã từng bị tấn công bởi voi, rắn, cá sấu. Tôi đã bị bắt giam 21 lần
và suýt bị hành hình."
Chỉ
còn 50 nước ông chưa đặt chân tới. Ông hy vọng sẽ hoàn tất chuyến đi này trước
năm 2000. Như vậy ông sẽ là người đầu tiên đưa thánh giá đi khắp mọi nơi trên
thế giới.
Cử chỉ
của ông làm chúng ta suy nghĩ. Vác thánh giá là chấp nhận nặng nề và bấp bênh, nặng
nề vì khúc gỗ trên vai, bấp bênh vì nguy hiểm. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ vác
thánh giá của mình mà theo Ngài.
Chẳng
có con đường nào tốt hơn con đường Ngài đã đi. Con đường khó nghèo, khiêm hạ ở
Bê-lem và Na-da-rét. Con đường rao giảng trong nhọc nhằn ở phần đất xứ Galilê. Con
đường đầy đe dọa hiểm nghèo khi lên Giêrusalem. Con đường hiến mình khi vác
thánh giá lên Núi Sọ.
Chúng
ta được mời gọi đi theo Ngài trên các con đường ấy, hay đúng hơn đi theo Ngài
trên nẻo đường của đời mình, không cô đơn thất vọng, vì biết nơi mình sắp đến.
2. Để lại
gì?
Văn
Cao là một nhạc sĩ có tài với bản Tiến Quân Ca bất hủ. Nhưng ông cũng là một
thi sĩ ít được ai biết đến. Ông có làm một bài thơ ngắn Không Đề như sau:
“Con
thuyền đi qua để lại sóng.
Đoàn tàu đi qua để lại tiếng.
Đoàn người đi qua để lại bóng.
Tôi không đi qua tôi để lại gì?”
Ông
muốn để lại chút gì cho đời của kẻ đã mang tiếng ở trong trời đất. Và ông hiểu
rằng mình không thể để lại gì, nếu không vượt qua chính mình. Cái tôi và tất cả
những gì thuộc về nó, đều là đối tượng phải vượt qua.
Vượt
qua cái tôi không làm tôi mất nó, nhưng lại được một cái tôi viên mãn. Phải
chăng đó là điều Văn Cao, một Kitô hữu ẩn danh đến lúc chết, muốn gửi gấm qua
những vần thơ này?
3. Vác
thánh giá theo Đức Giêsu
Vào
sáng một ngày mùa đông tuyết lạnh, Sadhu Sundar Singh và một người bạn đi du lịch
qua miền núi Bắc Ấn Độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào
thét bên tai họ, khiến hai người phải chống trả hết sức khó khăn.
Đang
lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, họ lại thấy một người đàn ông nằm vất vưởng bên đường
chờ chết. Sadhu muốn dừng lại để cứu giúp người bị nạn, nhưng bạn ông cho rằng,
nỗ lực ấy chỉ hoài công thôi. Vì để cứu lấy chính mình trong lúc này cũng đã vất
vả lắm rồi. Và ông bạn ấy đã bỏ đi.
Chạnh
lòng thương, Sadhu ở lại bên cạnh kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân con người sống
dở chết dở ấy. Với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và khó
nhọc đi qua vùng bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hoà quyện lấy nhau khiến
người kia hồi sinh và cả hai cùng mạnh sức.
Đi
khoảng một dặm, họ kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết lạnh cóng bên vệ đường.
Họ càng sững sờ hơn nữa khi nhận ra đó chính là anh bạn cùng đi với Sadhu sáng
nay.
Yêu mến
Thầy, vác thập giá theo Thầy và cũng biết đón tiếp người khác nhất là những người
bé mọn cùng khổ. Điều này đòi hỏi người theo Chúa phải quên mình, quên mình phục
vụ anh em với tất cả tình yêu dù chỉ cho người bé mọn một chén nước lã.
Xin
cho chúng ta biết noi gương Thầy Chí Thánh trong sự từ bỏ, khi bước vào sứ mạng
đón nhận đau khổ trong niềm tin yêu và phục vu. và đó là lúc sự sống Thiên Chúa
được mạnh lên trong chúng ta.
4. Chính
lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
Một
hôm, hòang đế Napoléon của Pháp vào một nhà hàng nọ. Đi theo hòang đế chỉ có một
vị sĩ quan tùy viên. Vì không muốn cho ai nhận ra mình là hòang đế, nên
Napoléon và viên sĩ quan cận vệ cải trang ăn mặc như thường dân.
Sau
khi đã ăn uống xong, bà chủ nhà hàng đến tính tiền. Tổng cộng số tiền phải trả
là 14 quan. Viên sĩ quan cận vệ mở chiếc cặp xách tay để lấy tiền. Bỗng mặt ông
tái mét đi vì trong cặp không có đồng tiền nào cả.
Thấy
thế, Napoléon hiểu ý nói nhỏ với viên sĩ quan: “Đừng lo, để tôi trả cho.” Nói rồi
ông móc túi lấy tiền. Nhưng sờ túi trên, túi dưới, túi trước, túi sau, ông
không thấy có đồng tiền nào cả. Napoléon nhìn viên sĩ quan nhướng mắt, nhún
vai.
Trước
tình thế đó, viên sĩ quan nói với bà chủ:
- Thật
là rủi ro cho chúng tôi, chúng tôi quên không đem tiền theo. Xin bà vui lòng
cho tôi thiếu một tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ trở lại thanh tóan với bà được
không?
Bà chủ
nhất định không chịu và dọa rằng nếu hai người không chịu trả tiền ngay, thì bà
sẽ gọi cảnh sát.
Một
anh bồi bàn theo dõi công việc từ đầu cảm thông với hai người khách nên nói với
bà chủ:
-
Quên đem tiền trong túi, đó là điều thường xẩy ra. Vì thế, xin bà đừng gọi cảnh
sát làm gì! Theo tôi thì hai ông đây là người rất thật thà, không có ý lường gạt
đâu.
Nghe
anh bồi bàn nói, bà chủ vẫn không chịu và cứ nằng nặc đòi kêu cảnh sát.
Thấy
thế, anh bồi bàn móc túi lấy ra 14 quan trao cho hai người khách và nói: “Đây
tôi cho hai ông mượn để thanh tóan với bà chủ.”
Thế
là nhờ anh bồi bàn mà Napoléon và viên sĩ quan mới có thể rời khỏi nhà hàng.
Một
lát sau, viên sĩ quan tùy viên trở lại nhà hàng. Ôâng gặp lại bà chủ và nói:
- Bà
đã tốn kém mất bao nhiêu để tạo lập nhà hàng này?
Bà chủ
trả lời: 30.000 quan.
Viên
sĩ quan mở chiếc cặp da xách tay lấy ra 30.000 đặt trên bàn và nói:
-
Vâng lệnh của chủ tôi là hòang đế Napoléon, tôi xin bà sang lại nhà hàng này
cho anh bồi bàn, người đã giúp chúng tôi đang lúc chúng tôi kẹt không có tiền.
5. Chấp nhận
thập giá để sống vui.
Có một
thiếu nữ kia trẻ đẹp và là con một gia đình quý tộc ở Ái Nhĩ Lan. Tuy sống
trong cảnh giàu sang, nhưng cô lại muốn sống đời thánh hiến cho Chúa. Khi tới tuổi
trưởng thành, cô từ chối khi các chàng trai quý tộc đến dạm hỏi, và được cha mẹ
cho phép, cô tìm đến một đan viện có lối sống nhiệm nhặt khắc khổ để xin được
dâng mình cho Chúa.
Mẹ bề
trên thấy cô vừa trẻ đẹp, lại vừa là con nhà quyền quý giàu có, nên chưa dám nhận
ngay. Bà muốn thử thách ơn gọi của cô nên đã cố ý trình bày những luật lệ khắt
khe của đan viện về nhiệm vụ cầu nguyện và lao động nhiều giờ mỗi ngày. Nghe
xong, cô gái giữ im lặng như suy nghĩ. Một lát sau, bà bề trên hỏi tiếp: “Bây
giờ con còn muốn dâng mình cho Chúa nữa thôi?”
Cô
đáp: “Thưa mẹ, con chỉ còn một thắc mắc này là: Không biết trong tu viện có nhiều
cây thánh giá không?” Mẹ bề trên trả lời: “Con đừng lo. Khắp nơi trong nhà,
không chỗ nào là không có thánh giá cả.”
Bấy
giờ cô gái tươi nét mặt và nói: “Thế thì thưa mẹ, con sẵn sàng xin vào tu viện,
vì con chắc sẽ không gặp gì khó khăn cả. Bởi vì theo con nghĩ: Nếu mọi nơi mọi
lúc con đều nhìn thấy thánh giá Chúa, đều thấy Người đang cùng chịu đau khổ với
con, thì con hy vọng có thể chịu đựng được mọi đau khổ.”
6. Tìm
thánh ý Chúa
Trong
phim “American Anthem” có cảnh một thanh niên không chấp nhận được việc mình phải
mất đi một chân trong một tai nạn. Anh ta đóng chặt cửa phòng, không cho ai
vào, sống trong tăm tối và chỉ nghe nhạc.
Ngược
lại cảnh này là cảnh do Robert Bruce thủ diễn. Khi đang đi dọc một đường phố
đông đúc, Bruce chợt nghe có ai đang ca hát vui vẻ. Anh tìm đến nơi người hát
và anh không thể tin vào mắt mình: đó là một người đàn ông cụt chân đang lết đi
trên chiếc xe lăn. Sự từ chối thập giá của một người chỉ đem lại u buồn, còn sự
chấp nhận thập giá của người kia lại đem đến niềm vui.
Thập
giá nào trong cuộc đời mà tôi cảm thấy khó chấp nhận?
Tôi cảm
tạ Chúa vì những khuyết tật của tôi. Nhờ chúng, tôi tìm gặp được chính mình, có
được công việc làm và gặp được Thiên Chúa của tôi. (Helen Keller)
7. Chọn lựa
cần biết từ bỏ
Có
nhiều loại từ bỏ:
- Tôi
soạn lại tủ áo của tôi. Nhiều áo quá. Có những chiếc đã cũ và lỗi thời, tôi có
thể bỏ bớt để đem cho người nghèo.
-
Trong sân nhà tôi có hai cây mọc cạnh nhau. Nếu cứ để như thế thì hai cây vẫn sống,
nhưng không cây nào lớn mạnh tốt được. Tôi nên bỏ bớt một cây để cây kia mọc tốt
hơn.
- Nha
sĩ khám thấy có một chiếc răng của tôi đang bị hư nặng. Ông bảo phải bỏ nó đi,
nếu không, nó sẽ lây cho những chiếc bên cạnh.
Đức
Giêsu kêu gọi người đi theo Ngài hãy từ bỏ. Bỏ những gì và bỏ cách nào?
- Có
những thứ ta có thể bỏ. Thí dụ bớt chút thức ăn, bớt chút giờ ngủ khi ta ăn
chay hãm mình.
- Có
những thứ ta nên bỏ để cuộc sống của ta nên tốt hơn. Thí dụ khi ta nhường nhịn
không trả đũa, không đòi lại của cải hoặc danh dự bị người khác làm tổn thương,
mất mát.
- Có
những thứ ta bó buộc phải bỏ như: tội lỗi, thói xấu, dịp tội.
8. Tiếp đón
Chúa hay không?
Chúa
hứa với một bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bà rất hãnh diện về điều
này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Bà
ngồi và đợi Chúa đến.
Đột
nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng
đó. Bà liền nói: "Không, hôm nay tôi không giúp anh, vì Chúa luôn ở với
anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều gì.” Bà đuổi
anh và đóng cửa lại.
Mấy
phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già
nghèo nàn. "Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ
các ông.” Rồi bà đóng sầm cửa lại.
Một
lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh
xin ăn và nghỉ qua đêm. "Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến. Tôi
không thể tiếp anh.” Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.
Hàng
giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của
Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.
Cuối
cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Bà ngủ quên và mơ thấy Chúa đến với bà và
nói: "Hôm nay Ta đã đến với con 3 lần và cả 3 lần con đều đuổi Ta.”
9. Mất và
được
Sách
xưa có kể câu truyện Tái ông thất mã: Ngày xưa có một ông lão ở gần cửa ải mất
một con ngựa. Có người đến thăm phàn nàn cho sự rủi ro. Ông đáp: "Biết đâu
chuyện mất ngựa chẳng là điều may."
Vài
ngày sau, con ngựa cũ trở về lại rủ được một con ngựa Hồ rất hay. Có người cho
đó là điều may mắn.
Ông
nói: "Chưa hẳn được ngựa là may đâu." Ông có đứa con trai, thấy ngựa
Hồ hay, liền bắt cởi thử, chẳng may bị ngã ngựa té gãy chân.
Nhiều
người cho rằng xui xẻo. Ông lại nói chưa biết chừng đây là điềm báo trước điều
phúc cho gia đình ông.
Qua
năm sau, giặc Hồ tràn sang nước ông. Theo lệnh vua, các trai tráng trong làng đều
phải sung vào cơ ngũ đi dẹp loạn, 10 người chỉ sống sót được một. Con trai ông
vì tàn tật nên được miễn dịch, nhờ đó mà thoát chết, gia đình ông được an toàn.
Nên
việc họa phúc không biết đâu mà ngờ được.
10. Ưu tiên
cho bổn phận trong gia đình:
Vào
năm 1994 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho chị
Mác-đa-la Mô-ra-nô, là một nữ tu thuộc dòng Đức Mẹ Phù Hộ. Ngay từ thuở niên
thiếu, Mác-đa-la đã phải nếm mùi đau khổ: Chỉ trong một tháng, người cha và chị
cả trụ cột nuôi gia đình lần lượt bị chết, khiến cho bà mẹ và bốn đứa con thơ dại
hết sức lo lắng cho tương lai gia đình.
Lúc
đó em Mác-đa-la mới được 8 tuổi, nhưng đã tỏ ra khôn ngoan và chín chắn. Thấy mẹ
lo buồn, em thường an ủi mẹ: “Mẹ đừng khóc nữa, chẳng bao lâu con sẽ khôn lớn
và con hứa sẽ giúp mẹ thật nhiều như bố và chị Phanxica đã giúp mẹ vậy.” Nhưng
không phải đợi tới lúc khôn lớn mà ngay từ lúc đó, vì nhu cầu và hoàn cảnh khó
khăn của gia đình, Mác-đa-la đã bỏ học để ngồi vào guồng tơ dệt chỉ mà chị
Phanxica đã làm để kiếm tiền hằng ngày nuôi gia đình.
Một
hôm, tình cờ người bác họ là cha Bandenla đến chơi và khi biết hoàn cảnh của
Mác-đa-la, cha đã hứa phụ giúp nhu cầu vật chất của gia đình và giúp học phí
sách vở cho Mác-đa-la đến trường học. Sau hơn mười năm chăm chỉ đèn sách, chị
đã tốt nghiệp và trở thành một giáo viên giỏi dạy ở trường làng để phụ giúp gia
đình. Suốt 16 năm trời, chị đã giữ lời hứa với mẹ, chuyên cần làm việc và âm thầm
dành dụm. Đến ngày sinh nhật thứ 30, Mác-đa-la đã dẫn mẹ đến xem mảnh đất với
căn nhà và khu vườn mà mẹ hằng mong ước. Chị âu yếm thưa với mẹ: “Thưa mẹ, đây
là món quà con tặng mẹ, con chỉ xin mẹ cho phép con được tận hiến cuộc đời còn
lại để theo ơn Chúa kêu gọi phụng sự Người.”
Quyết
định của Mác-đa-la đã gây đau khổ nhiều cho mẹ chị, cho cha xứ, bạn bè và các
phụ huynh học sinh của chị, vì họ mất đi một người con hiếu thảo, một người bạn
tốt, một giáo viên gương mẫu, một người giáo dân nhiệt thành việc tông đồ.
Ngày
chia ly không khỏi ngậm ngùi đau xót, nhưng chị đã tìm được sức mạnh nơi tình
yêu và lời Chúa phán: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với thầy.” Đồng
thời chị cũng được sự an ủi vì tin vào lời Chúa đã hứa: “Quả thật, Thầy bảo cho
anh em, không ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh chị em vì nước Thiên Chúa mà lại
chẳng lãnh nhận gấp trăm ở đời này và sẽ được sống đời sau.”
Thật
vậy, lời hứa ấy đã thể hiện qua suốt 30 năm sống đời tận hiến mà trong đó, hơn
25 năm hăng say với sứ mệnh tông đồ giữa giới trẻ nghèo khổ và bị bỏ rơi tại đảo
Xi-xi-li-a. Cuối cùng chị đã được Hội Thánh tôn phong lên bậc chân phước để mọi
người tôn kính và học tập noi gương.
11. Từ chối
đón chính chúa Giêsu (cho khách đỗ nhà):
Tiểu
bang Minnesota ở phía trung bắc nước Mỹ, giáp với Canada, vào mùa đông thường
có những trận bão tuyết và nhiệt độ tụt xuống -30 hay -40 độ âm Farenheit. Vào
một đêm bão tuyết, chiếc xe hơi của người phụ nữ bị chết máy trên đường tới
Rochester. Chị biết rằng sẽ bị chết cóng nếu cứ ngồi lại ở trong xe. Tuy là
vùng miền quê, nhưng trên trục lộ chính, cũng có một số nhà dọc theo đường lộ.
Chị
đã đến gõ cửa lần lượt hơn một chục căn nhà, nhưng chẳng có ai chịu ra mở cửa.
Sau cùng, có một người lái xe ngang qua thấy chị nằm gục bên vệ đường bèn xuống
xe đưa chị vào nhà thương cấp cứu. Chị đã được cứu sống, nhưng tất cả các ngón
tay, ngón chân và một bàn chân đã bị hoại tử vì chịu giá lạnh trong một thời
gian quá lâu.
Có điều
đáng nói là các căn nhà chị đến gõ cửa đêm hôm ấy, mọi người đều ở trong nhà và
đều nghe có tiếng gõ cửa. Mọi người đều là các tín hữu sống tại vùng quê hiền
hòa, nhưng không một ai chịu ra mở cửa, vì sợ có thể sẽ bị kẻ cướp vào nhà trấn
lột!
12. Giúp đỡ
người nghèo là làm cho chính Chúa:
Thánh
Martin thành Tour là một mẫu gương về đức bác ái cụ thể. Bấy giờ Martin là người
đầu tiên được Hội Thánh tôn kính như một vị thánh mà không do chịu tử vì đạo.
Ngài sinh ra tại Pháp vào lúc cuộc bách hại đạo sắp chấm dứt. Trước đó chưa có
người nào được các tín hữu tôn kính như một vị thánh giống như ngài.
Đời sống
thánh Martin đã nêu cao chân lý: yêu thương tha nhân là yêu chính Chúa Giê-su.
Trong lúc Martin đang học giáo lý dự tòng thì ngài đã ở trong quân đội. Vào một
đêm đông giá rét, khi Martin đang ngồi trên lưng ngựa đi tuần tra thì gặp một
người ăn xin nghèo khổ đang đi trên đường. Ông ta bị rét run vì quần áo ông
đang mặc chỉ là một mớ giẻ rách. Martin liền thương cảm cởi chiếc áo choàng bằng
dạ đang mặc, rút gươm cắt thành hai mảnh và đưa một mảnh cho người ăn xin nghèo
khổ kia.
Sau
đó, trong giấc ngủ, Martin đã nằm mơ thấy Chúa Giê-su trên cây thập giá đang
khoác mảnh áo mà ông mới cắt cho người ăn xin. Martin nghe Người phán: “Hỡi Martin,
tuy đang học giáo lý, mà con đã cho Ta chiếc áo này.”
13. Từ chối
Chúa
Một
ngày Chúa Nhật ở Pari bên Pháp, một cộng đoàn các sơ thường xuyên có một linh mục
già đến dâng lễ vào lúc 4 giờ chiều. Vào ngày đó vị linh mục vì đau yếu nên
không thể đến dâng lễ được, vì thế ngài nhờ một linh mục người Nigeria da đen,
là một người bạn tình cờ đến thăm ngài, đến cộng đoàn dâng lễ thay ngài. Lúc 4
giờ kém 5 vị linh mục người Nigeria đến cổng tu viện và bấm chuông.
Theo
thói quen ở Pari vào thời ấy, ngài mặc thường phục chứ không mặc áo giáo sĩ. Chị
nữ tu giữ cổng nhanh nhẹn mở cổng vì nghĩ rằng cha đến làm lễ. Nhưng khi thấy một
người Phi Châu, da đen, sơ không kịp để cho người này nói được câu nào, mà sơ vội
nói như xua đuổi ngay: “Xin lỗi tôi không có gì để giúp ông. Chúng tôi sắp dâng
lễ ngay bây giờ. Khi khác ông hãy tới.” “Cám ơn sơ”, vị linh mục Nigeria nói và
quay lưng đi.
Vài
phút sau đó chuông điện thoại reng ở nhà vị linh mục già. Đó là điện thoại các
sơ gọi. Các sơ nói rằng họ đang đợi cha đến để làm lễ nhưng chưa thấy tới, xin
cho biết lúc nào cha đến. Và họ được vị linh mục già trả lời rằng: “Ngài đã đến,
nhưng các sơ đã nói với ngài rằng hãy đi và ngày khác hãy đến.”
Giống
như vị nữ tu, tuy vẫn ý thức rằng cần phải sống yêu thương, cần phải đón nhận
tha nhân, không được kỳ thị… nhưng chúng ta cứ vẫn chưa làm được.
Chúng
ta vẫn chưa làm được vì sao?
Chúng
ta cần nhớ lại Lời Chúa dạy: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”, “và ai cho
một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi.., thì
người đó không mất phần thưởng đâu.”
14. Sống
cho tình yêu
Thánh
Madalena Moranô: ngày 05/11/1994 Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước
cho Madalena Moranô, một nữ tu dòng Đức Mẹ Phù hộ. Hồi còn nhỏ gia đình em gặp
nạn lớn là chỉ trong một tháng cả cha và chị cả đều qua đời để lại mẹ và 4 đứa
con. Khi đó Madalena mới có 8 tuổi, em an ủi mẹ: “Mẹ đừng khóc nữa, con sẽ giúp
mẹ.” Rồi em đã ngồi vào bàn dệt tơ thay cho chị. Nhưng may mắn sau có một linh
mục là anh họ của mẹ thấy hoàn cảnh như vậy đã giúp đỡ gia đình và trả học phí
cho Madalena đi học, 10 năm sau Madalena tốt nghiệp và trở thành cô giáo đi dạy
học có lương giúp mẹ và các em, hơn nữa trong suốt những năm dạy học, cô còn
dành dụm được số tiền mua một mảnh vườn có đất trồng nho và trồng rau mà mẹ chị
rất mong ước. Nhưng thật bất ngờ sau khi tặng vườn nho cho mẹ thì cô xin đi tu
khi đó 30 tuổi. Mẹ cô rất tiếc nuối nhưng vẫn phải gạt nước mắt để con đi theo
Ơn gọi của mình. Năm 1881, Sr được Nhà Dòng gởi tới đảo Sicilia lo việc giáo dục
và đã đem lại nhiều kết quả cho các thanh thiếu nữ, các phụ nữ nghèo thuộc tầng
lớp lao động. Sr mở trường học, nguyện xá, lưu xá và trường dạy nghề trên đảo
này. Sr qua đời năm 61 tuổi sau 30 năm tu trì kết thúc cuộc đời làm sáng danh
Chúa và giúp ích cho những người nghèo khổ.
Thánh
Phanxicô Assidi đã nói lên cảm nghiệm của ngài: “chính khi hiến thân là khi được
nhận lãnh.” Mỗi người kitô hữu chúng ta đón nhận lời Chúa dạy có lòng hiếu
khách không chỉ vì xã giao mà tin rằng đón tiếp các môn đệ của Chúa và cũng là
đón tiếp chính Chúa nơi các người truyền giáo và nơi những anh em nghèo khổ, những
người bị bỏ rơi như lời Chúa dạy: “Mỗi lần các con làm cho một trong những anh
em bé mọn nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta (Mt 25,40).” Amen
15. Yêu
sách của tình yêu
Tại đảo
Sycilia, dân chúng còn truyền miệng nhau câu chuyện về một họa sĩ tài danh
trong vùng sống cách đây vài trăm năm trước và là tác giả của bức họa nổi tiếng
về cuộc đời Chúa Giêsu hiện được trưng tại nhà thờ chánh tòa trong vùng.
Sau
thời gian làm việc, họa sĩ này đã vẽ xong dung mạo các tông đồ, nhưng còn hai
dung mạo không vẽ được, đó là dung mạo của Chúa Giêsu và dung mạo của Giuđa người
môn đệ phản Thầy.
Ông
phải đình lại công việc để đi tìm người mẫu cho dung mạo của Chúa Giêsu. Sau
nhiều tháng đi tìm, ông chọn được một thanh niên làm mẫu cho dung mạo của Chúa
Giêsu.
Vấn đề
khó khăn cuối cùng là đi tìm người làm mẫu cho dung mạo Giuđa. Ông đã phải đi
tìm rất nhiều năm mà không gặp, đến lúc gần cuối đời tưởng mình sẽ không thể
nào hoàn thành bức tranh được nữa, ông buồn bã đi dạo trên đường phố quanh đó,
thì bỗng gặp một người hành khất rách rưới với dung mạo đầy khổ đau mà cũng vừa
gian ác. Cho đây là mẫu người lý tưởng cho dung mạo của Giuđa, ông mời người
hành khất về nhà làm mẫu cho bức tranh còn dang dở.
Nhìn
thấy bức tranh Chúa Giêsu và các môn đệ được trình bày trong phòng, người hành
khất bỗng biến sắc và càng lúc càng trở nên bối rối hơn.
Người
họa sĩ hỏi lý do tại sao?
Người
hành khất trả lời:
-
Thưa ông, chính tôi đây là người đã ngồi làm mẫu cho ông vẽ chân dung Chúa
Giêsu trong bức tranh này cách đây vài chục năm về trước, và bây giờ cũng chính
tôi là người làm mẫu cho ông vẽ chân dung của Giuđa, người phản bội Chúa. Thật
tôi không ngờ là tôi đã trở nên tồi tệ như vậy.
Câu
chuyện trên giúp chúng ta đi sâu hơn một chút vào ý nghĩa câu nói của Chúa
Giêsu ghi lại nơi đoạn Phúc âm của Chúa nhật hôm nay: “Người nào đón tiếp chúng
con là đón tiếp Thày, và người nào đón tiếp Thày là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.”
16. Làm được
gì cho Chúa Giêsu chưa?
Một
buổi tối, vừa khi từ Marốc trở về, Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình
nghe những cuộc thám hiểm kỳ thú của anh qua những khu rừng Phi Châu.Người chăm
chú theo dõi câu chuyện hơn cả là một cô cháu gái chưa đầy mười tuổi.
Khi
anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần hỏi:
-
Thưa cậu, cháu thấy cậu làm được nhiều việc lạ quá. Vậy cậu đã làm được gì cho
Chúa Giêsu chưa?
Câu hỏi
ấy như một luồng điện giựt, khiến anh bất động. Từ bao lâu nay, chưa ai đã khiến
anh phải suy nghĩ nhiều như thế: “Anh đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?”
Charles de Foucauld lục soát tâm hồn mình để chỉ thấy một lỗ hổng không đáy.
Anh đã phí phạm tất cả thời giờ và tuổi thanh xuân cho những cuộc ăn chơi truỵ
lạc và những danh vọng phù phiếm. Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ
nghèo nàn của mình. Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Sau
đó anh từ bỏ tất cả, xin vào dòng khổ tu. Rồi ít lâu sau, anh lại xin đến
Nagiarét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu.
Một
ngày nọ, giữa lúc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nhà bên
cạnh có tiếng rên của một người Hồi giáo. Nhớ đến gương bác ái của Chúa Giêsu,
anh tự hỏi, anh có thể giam mình cầu nguyện giữa lúc có những người anh em đang
rên rỉ trong đau thương, thất vọng được chăng? Thế là anh quyết định đến sống
giữa họ, trở thành người anh em của họ, nhất là của nhưng người cô đơn, lạc
lõng, nghèo hèn hơn cả.
Những
năm cuối đời, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hoàn toàn cuộc
sống với những người cùng khổ. Và anh đã chia sẻ tới giọt máu cuối cùng của anh
khi phát súng oan nghiệt của kẻ sát nhân bắn gục anh giữa lúc anh đang cầu nguyện
vào đầu tháng 12 năm 1916. Ngày nay, các Tiểu đệ và Tiểu muội của Chúa Giêsu tiếp
tục lý tưởng sống của anh. Các anh chị ấy sống giữa người ngheo nhất trong xã hội.
Tất cả cuộc sống và sự hiện diện âm thầm của họ là một cố gắng làm một cái gì
cho Chúa Giêsu.
17. Yêu
mình cách sáng suốt và yêu mình cách ngu xuẩn
a) Minh họa 1:
Một người thích uống rượu, thích
ăn những đồ ăn nhiều chất mỡ. Nhưng bác sĩ khuyên anh ta đừng uống rượu kẻo hại
gan, đừng ăn đồ nhiều mỡ kẻo hại mạch máu. Nhưng anh ta nghĩ: gan không phải là
mình, mạch máu cũng không phải là mình, chúng làm sao thây kệ chúng, không liên
quan gì tới mình cả. Mình thương mình thì mình cứ ăn uống cho thỏa thích:
"Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau"! Chẳng
bao lâu sau, anh bị viêm gan và cao huyết áp trầm trọng, phải đau đớn rất nhiều,
và cuối cùng chết sớm.
Cái sai lầm của anh này là nghĩ
gan của mình, dạ dày của mình, phổi của mình… không phải là mình, nên không
thương chúng, bỏ mặc chúng không thèm chăm sóc, để rồi chúng bị thương tổn, bị
bệnh. Khi chúng bị bệnh thì bản thân anh cũng bị bệnh theo. Lúc đó anh mới biết
chúng cũng là mình, thương chúng chính là thương mình, chăm sóc chúng chính là
chăm sóc mình. Còn thương mình kiểu cứ ăn uống cho mình được thỏa thích bất chấp
chúng ra sao thì ra, chính là làm hại mình, là tự giết mình.
b) Minh họa 2:
Một anh có vợ và một bầy con,
nhưng anh chẳng quan tâm gì tới vợ con, anh chỉ biết lo cho bản thân anh, thậm
chí còn đánh đập vợ con không thương tiếc khi bị trái ý. Anh còn mèo chuột lăng
nhăng làm vợ con rất đau khổ. Chẳng bao lâu sau anh bị bệnh, không còn làm được
việc gì. Lúc này anh rất cần vợ con nuôi dưỡng, chăm sóc anh. Nhưng vì anh đã đối
xử quá tệ với vợ con, nên bây giờ anh bị hất hủi và đau khổ. Bây giờ anh mới nhận
ra thương vợ con là thương chính bản thân mình, và chăm sóc vợ con cũng là chăm
sóc chính bản thân mình.
18. Chấp nhận
vác Thánh Giá đời mình theo Chúa
Vào
đêm canh thức bế mạc đại hội giới trẻ thế giới 2013 tại Brazin, Anh Felipe
Passos, 23 tuổi, khuyết tật chia sẻ về cuộc đời anh như sau: Khi tham dự đại hội
giới trẻ, tại Madrid năm 2011, anh quyết tâm sẽ ở khiết tịnh cho đến khi kết
hôn và làm việc chăm chỉ để nhóm cầu nguyện của anh có thể tham dự Ngày Giới trẻ
Thế giới tại Rio de Janeiro.
Với một
ít tài sản, Felipe và bạn bè đã bắt đầu tiết kiệm tiền bằng cách làm việc vất vả.
Vào ngày 11-1-2011, hai thanh niên bước vào nhà của anh với vũ trang, để cướp số
tiền mà nhóm anh đã tích góp được với rất nhiều hy sinh. Felipe vì cố gắng giữ
lại khoản tiết kiệm của nhóm nên anh bị bắn một phát chí tử.
Anh
chết lâm sàng, nhiều lần tim ngừng đập, bác sĩ lắc đầu bó tay. Anh đã hôn mê,
phải thở qua ống thông mũi, trong khi đó cộng đoàn của anh hy sinh cầu nguyện
cho anh. Và khi anh tỉnh lại, điều đầu tiên anh làm là xin được rước Thánh Thể
và sau khi lãnh nhận, anh hồi phục nhanh chóng.
Nhưng
rồi sau đó, cuộc đời anh Felipe gắn liền với chiếc xe lăn, và anh tuyên bố:
“Đây là Thánh giá của tôi, Thánh giá mà Chúa gửi đến, để tôi có thể gần Ngài
hơn, để sống cởi mở hơn với ân sủng và tình yêu của Ngài.”
Anh
Felipe sau khi rước Thánh Thể Chúa anh đã tin vững vàng rằng Chúa là nguồn bình
an và hạnh phúc nhất và chỉ đức tin mạnh mẽ vào Chúa anh mới có thể đón lấy và
vác thập giá của mình là chiếc xe lăn để anh có thể gần Chúa hơn, để sống cởi mở
hơn với ân sủng và tình yêu của Ngài.
Nhà
thần học Arialdo Beni nói rằng: “Đức tin là vấn đề ý chí hơn là lý trí. Đức tin
là tiếng xin vâng đáp lời đề nghị và lời hứa của Chúa. Đức tin là phó thác, tín
nhiệm và trung thành dù cuộc sống có chết đi, là cố gắng toàn diện.”
Vì vậy,
nếu chúng ta tin và yêu Chúa một cách hời hợt, những thập giá ấy trở thành khổ
giá, chúng làm cho ta sờ lòng nãn chí, thật vọng dễ dàng bỏ thập giá đời ta, bỏ
Chúa, bỏ tha nhân và bỏ chính mình là tự tử. Còn nếu chúng ta tin và yêu Chúa một
cách chân tình và thật sự, những thập giá kia là thánh giá đời ta vì thập giá ấy
có Chúa vác cùng ta, có Chúa nâng đỡ ta và có Chúa giúp ta đi đến đỉnh vinh
quang để được cứu độ.
19. Bước
theo Chúa
Nhìn
vào cuộc sống, chúng ta thấy nhiều người đã lên tiếng thán phục Chúa, nhưng lại
không dám bước theo Người. Họ giống như một em bé ngồi xem xiếc. Em há hộc miệng
ngạc nhiên và khâm phục người đi thăng bằng trên sợi dây mong manh. Khi người ấy
nhìn xuống và hỏi:
- Em
có tin rằng tôi có thể vác em mà đi trên sợi dây này không?
Em
không ngần ngại trả lời:
- Chắc
chắn là ông làm được.
Thế
nhưng, khi người ấy nói với em:
- Vậy
em hãy lên đây và tôi sẽ vác em mà đi trên dây.
Nghe
vậy, em bé liền sợ hãi và từ chối lời mời gọi, mà theo em, thật là đầy nguy hiểm.
Với
chúng ta cũng thế. Nhiều người trong chúng ta luôn nói rằng mình tin Chúa,
nhưng lại không dám bước theo Người. Họ chỉ là những kẻ dám đốc, dám xúi mà lại
chẳng dám làm. Và nếu có làm, có bước theo Chúa, thì chỉ làm, chỉ bước theo
trong một mức độ nào đó mà thôi. Họ theo Người đến bên thập giá, chứ không dám
theo Người đến độ đóng đinh mình vào thập giá.
Có những
lúc trong cuộc sống, đau khổ và thử thách đã xảy ra như muốn vùi dập chúng ta,
khiến chúng ta bị cám dỗ chối bỏ Chúa, khước từ thập giá và không bước theo Người
nữa. Trong những hoàn cảnh như thế, chúng ta phải làm gì?
Đừng
quên Lời Chúa dạy: “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, kẻ ấy không xứng
đáng làm môn đệ Ta.”
20. Cái giá
của lòng tốt
Vào một
đêm mưa bão cách đây đã nhiều năm, có một cặp vợ chồng già bước vào gian tiền sảnh
của một khách sạn nhỏ ở thành phố Philadelphia của Mỹ và hỏi thuê phòng. Họ ghé
vào tránh bão và hy vọng có thể mướn được căn phòng trọ qua đêm.
Tiếp
đón họ là một chàng trai có nụ cười rất dễ mến. Chàng trai giải thích rằng
trong thành phố của họ đang có ba hội nghị lớn nên tất cả các phòng đều đã có
người thuê. Chàng trai ngập ngừng một lát rồi nói tiếp: “Nếu thời tiết tốt, tôi
sẽ gửi hai vị đến một khách sạn khác, nhưng làm sao tôi có thể để một đôi vợ chồng
đáng mến như hai vị ra ngoài trong trời mưa gió như thế này vào lúc một giờ
khuya được? Hai vị có thể ở tạm trong phòng của tôi được không? Nó không phải
là phòng sang trọng gì cho lắm, nhưng nó cũng gọn gàng và sạch sẽ. Vì tôi phải
trực vào khoảng thời gian này nên tôi có thể nghỉ ngơi ở đây cũng được. Xin ông
bà đừng ngại.”
Cặp vợ
chồng rất biết ơn và nhận lời trọ lại trong căn phòng đó của anh. Chàng nhân
viên nhìn cặp vợ chồng già và mỉm cười với họ, và họ cũng mỉm cười lại với anh.
Nhiều
năm sau đó, khi chàng trai trẻ dường như đã quên câu chuyện này, thì bất ngờ,
anh nhận được một lá thư kèm cặp vé máy bay. Lá thư là từ cặp vợ chồng già. Họ
nhắc lại đêm mưa bão hôm đó với lòng biết ơn sâu sắc cùng lời mời cậu đến thăm
New York.
Chàng
trai trẻ có đôi chút ngạc nhiên. Cả đêm đó, cậu không ngủ được và nằm suy nghĩ
ngẩn ngơ: có lẽ ngày mai họ sẽ dẫn mình đi thăm thành phố một vòng và dùng bữa ở
một nhà hàng sang trọng nào đó chăng? Nhưng nghĩ lại, cậu thấy mọi thứ có vẻ
hơi quá, vì chỉ là một sự giúp đỡ nhỏ thôi, liệu có cần phải tới mức như vậy
không?
Sáng
hôm sau, cậu đáp máy bay xuống New York. Cặp vợ chồng già có vẻ như đã đứng đợi
cậu ở đó từ lâu. Họ mỉm cười, vẫy tay chào từ xa và đón cậu lên một chiếc xe
sang trọng. Sau khi đi qua vài con phố, cặp vợ chồng già đưa cậu tới góc ngã tư
đại lộ Fifth Avenue, người chồng đưa tay chỉ tòa nhà tráng lệ mới xây ở đó – một
cung điện toàn bằng đá đỏ với những ngọn tháp cao vươn thẳng trên nền trời
xanh, rồi nói với chàng trai: “Đây là tòa khách sạn mà tôi xây cho cậu, và tôi
hy vọng cậu có thể quản lý nó.”
“Ông
không đùa đấy chứ?” – Cậu ngỡ ngàng.
“Không.
Đây là một đề nghị hoàn toàn nghiêm túc”, người chồng già trả lời bằng một giọng
chắc nịch với nụ cười thấp thoáng trên môi.
Công
trình tráng lệ kia chính là khách sạn nổi tiếng Waldorf Astoria – nơi tụ họp của
tầng lớp quý tộc lớn của New York vào thời điểm đó. Đây cũng là nơi mà các nhân
vật cao cấp trên toàn thế giới thường xuyên lui tới để nghỉ ngơi, đặc biệt là
các Tổng thống Mỹ khi họ đang còn tại chức.
Người
đàn ông già trong câu chuyện này chính là William Waldorf Astor của dòng họ
Astor, một trong những gia đình giàu có nhất ở New York vào thế kỉ đó. Còn
chàng trai tốt bụng kia chính là George Charles Boldt – vị giám đốc đầu tiên của
khách sạn này! (Nguồn: daikynguyenvn.com).
21. Thánh
nhân cũng không được đón nhận
Trong
suốt 58 năm làm linh mục (1910-1968), thánh Padre Piô đã nghe hàng ngàn người
xưng tội. Thế nhưng nhiều vị giáo sĩ lúc bấy giờ đã coi cha Padre Piô là kẻ dối
trá. Từ những năm mới bắt đầu, dân chúng tung tin đồn ngài là nhà huyền bí giả
hiệu với những vết thương tự làm khổ mình, và cả chuyện lăng nhăng về tình dục.
Năm
1931 với sự đồng ý của Vatican, bề trên đã cấm ngài không được giải tội và dâng
thánh lễ công khai. Phải mất 2 năm để điều tra và phục hồi năng quyền cho ngài
được dâng thánh lễ. Mãi đến ngày 5 tháng 3 năm 1934 ngài mới được phép giải tội,
nhưng chỉ ngồi tòa cho đàn ông mà thôi. Hai tháng sau đó, ngày 12 tháng 5, ngài
mới được phép giải tội cho cả phụ nữ nữa. Vì sự nghi ngờ này, nhiều vị trong
Giáo Hội tránh né cha Padre Piô.
Nhưng
đức hồng y Karol Wojtyla vị giáo hoàng tương lai đã không thèm để ý tới những
tin đồn. Ngài đã chỉ dựa vào cảm giác tốt lành của những người Công giáo bình
thường: “Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh
phần của tiên tri.”
Đức
Giáo Hoàng đã đón nhận một phần thưởng tốt đẹp. Năm 1962, đang khi tham dự Công
đồng Vatican II, ngài nghe tin một bè bạn đang hấp hối vì ung thư cổ họng. Ngài
viết thư xin cha Padre Piô cầu nguyện cho bà. Dr Wanda Poltawka đã được khỏi bệnh
và phục hồi sức khỏe. Và 40 năm sau, bà đã có mặt trong buổi lễ phong thánh của
cha Padre Piô.
22. Vui vì
được hy sinh
Thánh
Giáo phụ Basilio bị điệu ra tòa án Roma trước mặt Hoàng đế:
- Người
bỏ đạo, ta sẽ ban cho chức cao lộc hậu.
- Lời
dạy bảo của bệ hạ chỉ dạy dỗ được trẻ con. Kinh Thánh tôi dạy khác hẳn, nên thà
chết hơn lìa bỏ đấng Kitô.
-
Ngươi không biết Trẫm là ai sao?
- Tôi
không tuân lệnh Bệ hạ đâu.
-
Ngươi không biết ta có quyền ban chức tước cho ngươi sao?
- Chức
tước bổng lộc có thể thay đổi như chính bệ hạ.
Thấy
không thể lay chuyển lòng thánh nhân Vua đe tịch thu tài sản, tra tấn tù tội và
giết.
- Tâu
bệ hạ tôi chẳng có gia tài cho bệ hạ tịch biên. Lưu đày chăng? Tôi có quê thiên
đàng. Tra tấn ư? Tôi sẵn sàng chịu vì Chúa. Giết tôi ư? Càng sớm về trời.
-
Ngươi thật điên cuồng!
Tôi mong được điên mãi như thế này.
Hoàng
Đế và triều thần phải thua cuộc trước đức tin của Basilio.
23. Chúa là
người cha yêu thương mọi người
Sau
khi được Thiên Chúa kêu gọi, Apraham đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa và đến cắm lều
trên vùng đất Chúa hứa ban cho dòng dõi ông.
Một
hôm, ông đang đứng trước cửa lều thì một người ăn xin rách rưới đến xin ông bố
thí. Động lòng trắc ẩn, tổ phụ Apraham mời người vào và làm tiệc thiết đãi.
Trước
khi ngồi bàn tiệc, ông mời người ấy cùng dâng lời chúc tụng và cảm tạ Chúa.
Nhưng vừa nghe nói đến Chúa, anh ta liền mở miệng nói những lời lộng ngôn xúc
phạm đến Ngài.
Apraham
nổi giận, túm cổ người ăn xin và tống ra khỏi lều.
Đêm ấy,
khi Apraham quỳ gối cầu nguyện, ông nghe tiếng Chúa phán:
- Này
Apraham, ngươi có biết không, người anh xin ấy đã nhục mạ Ta suốt 50 năm rồi
đó. Vậy mà mỗi ngày Ta vẫn ban lương thực cho hắn. Còn ngươi. ngươi không thể
yêu thương và cho hắn một bữa ăn sao?
Thiên
Chúa mà Chúa Giêsu đến mặc khải cho chúng ta là một người Cha yêu thương tất cả
mọi con cái mình.
Không
những Ngài chỉ yêu thương những đứa con hiếu thảo, mà còn yêu cả những đứa con
bất hiếu, ngỗ nghịch, bởi chúng có một chỗ đặc biệt trong trái tim Ngài. Ngài
là Đấng cho mặt trời mọc lên, cho mưa rơi xuống trên người lành cũng như kẻ dữ.
Vì tất cả đều là con cái của Ngài.
24. Không xứng
với Thầy
Văn
Cao là một nhạc sĩ có tài với bản Tiến Quân Ca bất hủ. Nhưng ông cũng là một
thi sĩ ít được ai biết đến. Ông có làm một bài thơ ngắn Không Đề như sau:
“Con
thuyền đi qua để lại sóng. Đoàn tàu đi qua để lại tiếng. Đoàn người đi qua để lại
bóng. Tôi không đi qua tôi để lại gì?”
Ông
muốn để lại chút gì cho đời của kẻ đã mang tiếng ở trong trời đất. Và ông hiểu
rằng mình không thể để lại gì, nếu không vượt qua chính mình. Cái tôi và tất cả
những gì thuộc về nó, đều là đối tượng phải vượt qua. Vượt qua cái tôi không
làm tôi mất nó, nhưng lại được một cái tôi viên mãn.
Phải
chăng đó là điều Văn Cao, một Kitô hữu ẩn danh đến lúc chết, muốn gửi gấm qua
những vần thơ này?
25. Chúa
Giêsu không đem đến bình an
“Anh
em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem
bình an, nhưng để đem gươm giáo.”
Ai
không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì sẽ không xứng với Thầy. Ai giữ mạng sống
mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.”
(Mt. 10, 34. 38-39)
Đó
chính là điều vẫn xảy ra, mãi mãi những kẻ tin và những kẻ không tin Chúa Kitô
vẫn xung khắc với nhau. Mãi mãi chồng và vợ, cha và con chia rẽ nhau và gây khổ
cho nhau vì đôi bên không cùng một lập trường khi phải đối mặt với giáo huấn của
Chúa Kitô.
Chúa
Giêsu lúc nào cũng vẫn muốn gieo sự bình an, nhưng Người cũng là con người thực
tế, vì biết rằng trên trần gian Người sẽ mãi mãi là chủ đề gây trang cãi, chống
đối và chia rẽ vậy. (J.Y.G)
26. Tin tưởng
vào Chúa
Trong
cuộc hành trình, khi các tù nhân biết có giám mục Nguyễn Văn Thuận, họ đến với
tôi để kể lể các nỗi âu lo của họ. Ngài kể:
Ngày
hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào hầm tàu, tôi nhận ra chung
quanh tôi những gương mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân khác. Bầu khí
sầu thảm như đám tang. Một trong các tù nhân đã tìm cách treo cổ tự tử với một
sợi dây thép. Những người khác gọi tôi. Tôi đến nói chuyện với anh. Sau cùng
anh lắng nghe lời tôi. Cách đây hai năm trong một cuộc họp liên tôn tại
California, tôi đã gặp lại anh. Mặt mừng rỡ, anh tiến tới gặp tôi và cám ơn
tôi. Anh đã cho mọi người xem các vết sẹo còn hằn trên cổ.
Tôi
đã chia sẻ các khổ đau của họ và an ủi họ hàng giờ và suốt cả ngày. Trong ba
ngày trên tàu, tôi an ủi các tù nhân khác và tôi Suy Niệm về cuộc khổ nạn của
Chúa Giêsu. Đêm thứ hai, giữa cái lạnh của Thái Bình Dương trong tháng mười
hai, tôi bắt đầu hiểu rằng ơn gọi của tôi bắt đầu một giai đoạn mới. Trong giáo
phận, tôi đã đưa ra các sáng kiến khác nhau cho công tác rao truyền Tin Mừng
cho người bên lương. Giờ đây, tôi phải cùng Chúa Giêsu đi về nguồn gốc của việc
loan báo Tin Mừng, phải cùng Ngài ra đi chết “bên ngoài tường thành” bên ngoài
tường thánh (ĐHY Phan xicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân Hy Vọng).
27. Tranh đấu
trong tâm hồn
Denys
le Chartreux đã suy tư về sự chia rẽ, xung đột trong Giáo hội như sau:
“Những
người tin, yêu mến Thiên Chúa tìm kiếm sự bình an tâm hồn, họ sẽ cảm nghiệm bổn
phận bất tuân với những điều xấu. Họ sẽ chia rẽ với những gì làm cản trở đời sống
thiêng liêng và sự trong sáng của tình yêu Thiên Chúa....”
Đứng
trước xung đột nội tâm, chia rẽ, những cảnh tang thương mà ta phải đối diện.
Chúng ta hãy chiêm ngắm sự tranh đấu hiệp nhất trong thánh ý Cha của Đức Kitô
nơi vườn Cây Dầu để tiếp tục chiến đấu, vượt qua xung đột để lửa tình yêu, bình
an và hy vọng được đốt lên trong tâm hồn. Chúng ta ngắm nhìn khuôn mặt của Chúa
Kitô vác thập giá, Ngài đang cùng ta tranh đấu, gánh trên vai xung đột chia rẽ,
để chúng ta cùng với Ngài lãnh nhận chiến thắng Phục sinh.
28. Thánh
giá tâm hồn
Một
hôm, Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ, Ngài đưa họ đến đầu con đường rồi trao
cho mỗi người một cây thập giá và nói: “Các con hãy vác thập giá này và đi đến
cuối con đường, Thầy sẽ đợi các con ở đó." Nói xong, Chúa biến đi. Và hai
môn đệ bắt đầu vác lấy thập giá của mình.
Người
thứ nhất xem ra vác nhẹ nhàng, chân rảo bước mỗi lúc một nhanh. Nội trong ngày
hôm đó, anh đã đến cuối đường và vui mừng gặp Chúa Giêsu đang đứng chờ sẵn ở
đó.
Còn
người thứ hai mãi đến chiều hôm sau mới đi hết con đường, xem ra anh ta mệt mỏi,
không còn vác, nhưng kéo lê thập giá mỗi lúc một nặng thêm và làm anh ta gần kiệt
sức. Vừa gặp Ngài, anh ta phàn nàn ngay: “Chúa đối xử bất công quá. Chúa cho
con cây thập giá nặng, còn anh kia Chúa cho thập giá nhẹ, nên anh ấy đã đến trước
con lâu như vậy."
Gương
mặt vui tươi của Chúa bỗng trở nên nghiêm nghị. Ngài nói: “Này con, Ta không đối
xử bất công, hai cây thập giá giống và nặng như nhau. Con đừng trách thập giá nặng
nhẹ, nó trở nên nặng là vì tâm hồn con ngay từ đầu và trong suốt quãng đường Ta
đã chỉ, con luôn than phiền và càng than phiền thì nó càng trở nên nặng nề. Người
bạn đồng hành của con đến trước, vì tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy yêu
thương."
29. Có nhiều
thánh giá không?
Một
thiếu nữ đẹp, con nhà quyền quý muốn nhập vào một dòng tu rất khắc khổ. Để thử
thách ơn gọi của cô, Mẹ bề trên vẽ lên một bức tranh rất đáng sợ về những đòi hỏi
khắc khe của tu viện. Nghe xong, cô bé có vẻ lung lay im lặng. Một lúc sau Mẹ bề
trên hỏi:
- Con
không nói gì ư?
-
Thưa Mẹ, con chỉ có một câu hỏi: trong nhà Dòng này có nhiều Thánh Giá không?
- Ồ,
khắp nơi trong nhà dòng, chỗ nào cũng có Thánh Giá.
- Vậy
thì thưa Mẹ, con hy vọng sẽ không gặp khó khăn gì cả, bởi vì mọi nơi và trong mọi
giây phút, con đều có Thánh Giá bên cạnh con. Con có thể chịu đựng được tất cả.
(Góp nhặt)
30. Chết
thay cho nhiều người
Ông
Ngô Phụng sống vào thời vua Khang Hy nhà Thanh, được dân Đài Loan tôn kính như
một vị thánh. Ông được triều đình nhà Thanh bổ nhiệm làm thông sự kiêm chức
hương trưởng và trấn trưởng cai trị một bộ lạc dân sơn cước. Bộ lạc này sống
trong mê tín dị đoan, hàng năm đều giết một người để tế thần.
Một lần
nọ, Ngô Phụng cỡi ngựa vừa đi dạo để xem xét sự tình, bỗng ông nghe thấy từ
phía xa xa, bên sườn núi trước mặt, có tiếng ồn ào, huyên náo. Ông phi ngựa tới
thì thấy một cảnh hãi hùng bày ra trước mắt. Nơi gốc cây cổ thụ, một thiếu nữ bị
trói chặt, miệng kêu gào thảm thiết. Người nữ tên là Sơn Tuệ Lân bị bộ lạc bắt
để giết tế thần. Ngô Phụng lặng lẽ tiến đến bên gốc cây và đứng trước mặt thiếu
nữ như muốn chết thay cho nàng. Thấy viên quan cai đến, anh tù trưởng rất sợ
hãi. Ngô Phụng khuyên họ đừng giết người như thế. Họ thả cô Sơn Tuệ Lân và hứa
sẽ không tế thần bằng cách giết người như vậy nữa. Từ đó cô Sơn Tuệ Lân dầu có
người yêu, nhưng nguyện không lấy chồng để trả ơn, hầu hạ người cứu mình.
Một
ngày kia, viên tù trưởng đến gặp Ngô Phụng, kể lể các thiên tai đang gây thiệt
hại cho dân sơn cước của mình và xin Ngô Phụng cho phép giết một người để tế thần,
hầu tránh cho dân chúng khỏi phải chịu sự trừng phạt của thần thánh. Ngô Phụng
chấp thuận và nói với viên tù trưởng:
- Lúc
sắp rạng đông đêm 10 tháng 8, về phía Đông Nam xóm Xã Khẩu, anh em sẽ thấy một
người cỡi ngựa trắng, mặc áo đỏ đi qua. Anh em có thể giết người ấy để tế thần.
Viên tù trưởng trở về và chuẩn bị kế hoạch.
Khi người cỡi ngựa trắng, mặc áo đỏ phi tới, dân sơn cước núp chờ sẵn đã bắn chết
ngay người đó. Thi hành xong nhiệm vụ, bọn tráng niên chạy ùa tới bên xác chết,
họ đều trố mắt kinh ngạc, vì người bận áo đỏ không ai xa lạ. Đó chính là Ngô Phụng,
vị quan ân nhân của họ. Ngay lúc ấy, người con trai họ Ngô và cô em gái nuôi
Sơn Tuệ Lân phi ngựa tới. Họ khóc ngất bên xác người cha.
Trước
mặt dân sơn cước, con trai Ngô Phụng đọc tờ di chúc cho họ nghe, trong đó cho
biết, ông Ngô Phụng dâng sớ lên triều đình xin miễn tội cho bọn đã bắn chết
ông, và xin cải thiện đời sống của dân thiểu số, đồng thời cũng khuyên dân sơn
cước từ đây trở đi nên bỏ hẳn tục lệ tế thần bằng mạng người. Nghe xong tờ di
chúc, tù trưởng trong 48 thôn xóm lập tức nhóm họp và quyết định từ đây bãi bỏ
tục lệ tế thần bằng mạng người. Họ dựng bia ở các bộ lạc để ghi nhớ người đã vì
nghĩa hy sinh mạng sống.
Ngô
Phụng chết đi để cho bao người được sống.
31. Biến đổi
triệt để
Cách
đây nhiều thế kỷ, những hình phạt thường rất tàn bạo. Có một người đàn ông bị bắt
vì tội ăn trộm cừu. Chính quyền xăm lên trán anh một chữ T (trộm). Người đàn
ông này thay đổi hoàn toàn. Nhiều năm sau, khi ông ta đã cao niên, những đứa trẻ
hỏi bố mẹ chúng hai chữ trên trán ông ta có nghĩa gì. Họ trả lời: “thánh.” Cuộc
đời hoán cải của người đàn ông này chứng tỏ chúng ta cũng có thể chuyển hướng đời
mình được. Tất cả những gì chúng ta cần, đó là lời cầu xin ơn Chúa.
Điều
gì trong cuộc sống tôi cần phải biến đổi hay ít ra cần sửa đổi? Tôi có thể bắt
đầu việc này như thế nào?
Sự hối
hận cốt yếu nằm ở tấm lòng đau đớn vì tội lỗi, và đau đớn bởi tội lỗi. Một số
người hối tiếc, nhưng không bao giờ biến đổi. (Donnell Thorton)
32. Cuộc
chiến trong tâm hồn
Trong
Kinh thánh, có một tình bạn lớn lao giữa Đavít và Gionathan, con trai vua Saul.
Một ngày nọ, vua Saul ra lệnh cho Gionathan phải phản bội Đavít, nhưng anh đã
không chịu. Sự từ chối của Gionathan minh họa lời Chúa Giêsu trong bài Tin mừng
hôm nay. Khi một việc gì đó là đúng hay sai, thì ngay cả cha mẹ cũng không thể
buộc ta phản bội lương tâm mình. Quyết định theo Chúa Giêsu là đúng hay sai,
không ai có thể can thiệp hoặc ngăn cản, kể cả cha mẹ chúng ta.
Lời
Chúa mời gọi tôi tự hỏi: Bạn bè hay ngay cả gia đình tôi có ngăn cản tôi theo
Chúa không? Hoặc họ giúp đỡ tôi ra sao?
Đó là
một cuộc đấu tranh từ ngàn xưa: một bên là tiếng la hét từ đám đông, bên kia là
tiếng nói của lương tâm (Tướng Douglass MacArthur).
33. Nghịch
lý thập giá
Một học
sinh lớp 5 nói với bạn mình là người công giáo rằng: Chúa của bạn ác lắm, vì
Chúa của bạn đòi hễ ai tin Chúa thì phải bỏ những thứ mình có và phải vác thập
giá mà theo Chúa!!! Lời con trẻ đơn sơ nhưng chứa đựng một chân lý nhức nhối về
phía chúng ta. Theo tính tự nhiên, ai mà chẳng dị ứng đối với thập giá! Chúa
cũng biết thế – Ngài đã chẳng run sợ đến mướt mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu là
gì? Thế nhưng Ngài vẫn mạnh mẽ tuyên bố: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy
thì không xứng với Thầy.”
Chúa
Giê-su hoá giải nghịch lý thập giá và chứng minh tính đúng đắn của qui luật đó
qua cái chết và phục sinh của chính Ngài: “Phải qua đau khổ mới tiến được vào
vinh quang.”
Nếu bạn
biết Chúa chịu khổ nạn như thế là để đền bù thay cho bạn, vì tội của bạn thì bạn
còn nghĩ Chúa “ác” nữa không? Nếu bạn biết Ngài mời bạn cùng vác thập giá để được
hạnh phúc với Ngài, thì bạn còn nghĩ Chúa “ác” với bạn nữa không?
Bạn thấy việc bổn phận nào đang là thập giá cho bạn? Bạn hãy chu toàn việc đó cách vui lòng.
Lời Chúa
TRUYỆN
KỂ
1. truyện
CNTN 13C -
TRUYỆN KỂ
THỨ HAI - Con đường theo Chúa
Lời Chúa: Mt 8, 18-22
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông
dân chúng vây quanh Người, thì Người ra lệnh sang qua bờ bên kia. Một luật sĩ đến
thưa Người rằng: "Lạy Thầy, bất cứ Thầy đi đâu, con cũng xin theo Thầy.”
Chúa Giêsu trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có
chỗ gối đầu.”
Một môn đệ khác thưa Người rằng:
"Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.” Chúa Giêsu trả
lời: "Con hãy theo Ta, và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết.”
TRUYỆN KỂ
1. Theo Chúa
Có hai tu sĩ lên đường hành
hương: một người chủ trương cần phải có tiền bạc và phương tiện vật chất đầy đủ
mới có thể đảm bảo cho đời sống tu trì; một người thì luôn tin tưởng nơi tinh
thần từ bỏ. Hai người trao đổi, tranh luận với nhau về hai tinh thần khác nhau
mà không ai có thể thuyết phục được ai. Khi họ đến bờ sông thì trời cũng đã tối.
Người có tinh thần từ bỏ đề nghị: - Chúng ta không có tiền để qua sông? Chúng
ta hãy ngủ lại đây và dâng lời chúc tụng Chúa.
Người kia đáp lại:
- Nơi này không có làng mạc, nhà
cửa, thú dữ có thể cắn xé; bên kia sông, chúng ta có thể nghỉ lại một cách an
toàn. Tôi có mang theo tiền, chúng ta hãy thuê một người lái đò.
Sau khi đã qua sông, vị tu sĩ trả
tiền cho người lái đò và nói với người bạn của mình như sau: - Anh đã thấy được
cái lợi của việc giữ tiền trong túi chưa? Chính nhờ có chút tiền bạc, tôi đã có
thể cứu mạng anh và mạng tôi. Ðiều gì sẽ xẩy ra, nếu tôi cũng sống tinh thần từ
bỏ như anh?
Nghe thế, vị tu sĩ luôn sống
trong tinh thần từ bỏ mỉm cười và nói:
- Chính sự từ bỏ của anh đã cứu
sống chúng ta; anh đã không tiếc của để thuê người lái đò là gì? Hơn nữa, tôi
không có đồng xu dính túi, thế mà tôi vẫn sống; tôi tin rằng chính tinh thần từ
bỏ đã cho tôi có được mọi sự cần thiết.
2. Theo Chúa trong từng vết chân
Một vị thánh kia có lần được
Chúa ban cho một giấc mơ tuyệt đẹp:
Hôm ấy tôi nằm mơ thấy một con
đường, bắt đầu từ mặt đất hướng thẳng lên trời cao, rồi mất hút dần trong những
đám mây, tuy nhiên đó không phải là con đường dễ đi. Trái lại, trên con đường dốc
gồ ghề lại còn rải rác bao nhiêu chướng ngại vật khác nữa. Mới nhìn, những cánh
hoa hồng trải trên đuờng như tấm thảm hoa đẹp, nhưng nhìjn kỹ thí thấy ẩn giấu
những cái gai nhọn sắc bén. Mọi người đều bước đi chân không, và chân mỗi người
dính đầy máu. Những người nhát đảm không chịu đựng được gian khổ đều rút lui,
nhưng nhiều người quyết tâm nhất trí đi cho tới cùng, dù phải bước đi thật chậm
chạp và đau đớn.
Nhìn kỹ hơn trong đoàn người
đang tiến bước trong con đường đó, tôi nhận ra người đang dẫn đầu là Chúa
Giêsu. Ngài đi chân không. Những bước chân của Ngài đầy vẻ quyết đáp, không do
dự và cũng không một cái gai nào gây vết thương nơi chân Ngài. Chúa Giêsu tiến
bước mỗi lúc một lên cao và tới ngồi ở ngai vinh hiển của Ngài. Ngài đưa mắt
nhân từ nhìn xuống những người đang cố gắng bước đi trên con đường khó khăn
Ngài đã đi qua, và khích lệ họ can đảm tiến lên.
Tiếp sau Chúa Giêsu, tôi thấy rõ
ràng Đức Maria, thân mẫu của Chúa. Mẹ cũng tiến bước trên con đường ấy. Bước
chân của Mẹ xem ra còn thanh thoát và nhanh nhẹn hơn bước chân Chúa Giêsu. Tại
sao vậy? Thưa là bởi vì Mẹ đặt chân của mình lên chính những vết chân của Chúa
Giêsu, bước đi trước. Kế đến, Mẹ cũng tiến lên bên ngai vinh hiển của Chúa
Giêsu con dấu yêu của Mẹ, và Mẹ cũng giơ tay làm hiệu cho những người khác đang
tiến bước, để họ bước đi trên bước chân của Chúa Giêsu đã để lại, như Mẹ đã bước
đi. Những người khôn ngoan biết vâng theo lời chỉ dẫn và khích lệ của Mẹ thì tiến
bước thật nhanh, còn những người dại dột không biết vâng theo lời chỉ dẫn ấy
thì bước đi một cách chậm chạp và vô cùng khó nhọc. Miệng họ luôn lẩm bẩm than
trách nhất là khi đạp phải những gai nhọn. Nhiều người dừng lại dọc đường, và
cũng không thiếu những người thất vọng bỏ cuộc quay gót trở lại trong buồn tủi.
Lạy Chúa, xin giúp con luôn vững
bước đi trên con đường Chúa đã đi. Amen.
3. Không có chỗ tựa đầu
Alfred Plummer, một học giả
Thánh Kinh người Anh, nhận xét: “Cuộc đời Chúa Giêsu bắt đầu trong một chuồng
bò đi mượn và kết thúc trong một ngôi mộ cũng đi mượn.” Đó chính là thực trạng
trần trụi về cuộc đời của Chúa Giêsu, “Con Người không có chỗ tựa đầu,” mà bất
cứ ai muốn làm môn đệ của Ngài phải biết và dám đảm nhận.
Chúa Giêsu hẳn đã gây một ấn tượng
sâu đậm nơi vị kinh sư nào đó khiến ông này nhất quyết xin làm môn đệ Ngài:
nguyện đi theo Thầy, bất cứ Thầy đi đâu. Chẳng biết vị kinh sư ấy cuối cùng có
trở thành môn đệ của Ngài không nhưng ít nhất những lời vừa rồi cũng giúp xua
tan đi những ảo tưởng mà ông vẽ ra về một Đấng Mêsia vinh quang, để lôi ông về
với thực tại của Đấng Mêsia Tôi Tớ đau khổ của Giavê, một thực tại rất khó chấp
nhận đối với người Do Thái, và cả với chúng ta.
Những lời đó cũng là sứ điệp
Chúa gửi đến với chúng ta: cái giá phải trả để làm môn đệ của Chúa Kitô là dám
đi theo Đấng không có chỗ tựa đầu.
4. Thiếu cái đinh móng ngựa
Benjamin Franklin là chủ nhà in,
nhà phát minh và nhà văn. Trong cuốn “Poor Richard’s Almanack” ông viết: “Vì
thiếu cái đinh mà mất cái móng. Vì thiếu cái móng mà mất con ngựa, vì thiếu con
ngựa mà mất kỵ sĩ. Vì thiếu kỵ sĩ mà mất cuộc chiến. Vì thiếu cuộc chiến mà mất
nước. Và tất cả chỉ vì thiếu một cái đinh móng ngựa.”
Mất nước chỉ vì thiếu một cái
đinh, và không thể tìm thấy mười người lành cho Thiên Chúa, điều đó mời gọi tôi
tự hỏi: Cái gì đã thúc đẩy tôi làm những gì mà tôi cho là đúng, ngay cả khi chỉ
có một mình tôi hoặc tôi chỉ thuộc về thiểu số?
Kẻ hèn nhát hỏi: có an toàn
không?
Kẻ thủ đoạn hỏi: có tính chính
trị không?
Kẻ kiêu ngạo hỏi: có nổi tiếng
không?
Sẽ đến lúc người ta phải đảm nhận
một vị trí không an toàn, không chính trị, cũng chẳng nổi tiếng, nhưng họ phải
làm vì điều đó là đúng. (Martin Luther King)
5. Từ bỏ vì bác ái
Một số những công ty luật mời
nhóm sinh viên luật của trường đại học Harvard dự tiệc trong một khách sạn sang
trọng. Các sinh viên hỏi: “Các ngài có thể tổ chức bữa tiệc trong một khách sạn
khiêm tốn hơn với những món ăn đơn giản hơn không?” Khi được hỏi về lời yêu cầu
không bình thường này, đại diện cho các sinh viên trả lời: “Chúng tôi muốn rằng
số tiền đó được tiết kiệm để giúp người nghèo.”
Tôi đã chuẩn bị thế nào để đương
đầu với những thực tế mà xã hội coi thường, đặc biệt là thiếu quan tâm đối với
người nghèo?
Sẽ rất tốt nếu người nghèo nhận
được nửa số tiền người ta dùng để nghiên cứu tình trạng sống của họ (Bill
Vaughan).
6. Chọn lựa với cả cuộc sống
Thánh Phanxicô Assidi từng gọi
Chúa là Đấng đòi hỏi không nhân nhượng, không sợ mất lòng ai. Tin Mừng hôm nay
minh chứng cho nhận định ấy: với người xin về mai táng cha già rồi sẽ đi theo,
Chúa không đồng ý, lại còn nói khá nặng nề là cứ để kẻ chết chôn kẻ chết; với
người ngỏ ý sẽ theo Chúa đến tận cùng trời góc biển, Chúa không dấu diếm rằng
theo Ngài là đi vào con đường khốn khổ, hòn đá gối đầu cũng không có. Chúa huấn
luyện môn đệ Ngài như thế đó: bài học đầu tiên là phải mạnh dạn dứt bỏ những gì
cản trở mình theo Chúa. Theo Chúa không phải là gặp chăng hay chớ, muốn sao
cũng được, mà là một chọn lựa, một nếp sống, một lý tưởng, đòi phải có lập trường
dứt khoát và theo tới cùng.
Xem xét lại việc bạn theo đạo có
thật sự là đi theo Chúa hết mình không, hay gặp chăng hay chớ, nghĩa là gặp một
khó khăn hay thách đố thì buông xuôi, chán nản, quay lui...
7. Điều kiện
để làm môn đệ
Một
nhà giảng thuyết nói với diễn viên Macready: “Tại sao ông xuất hiện trước đám
đông đêm này qua đêm khác với những câu chuyện hư cấu và đám đông sẽ đến với
ông bất cứ nơi nào ông đi; đang khi tôi rao giảng những lẽ thật thiết yếu,
không thay đổi, lại không thu hút được bất kỳ đám đông nào?”. Macready trả lời,
“Điều này khá đơn giản. Tôi trình bày câu chuyện hư cấu của mình như thể nó là
sự thật; ngài trình bày sự thật của ngài như thể nó là hư cấu!” - G. Campbell
Morgan.
Tin Mừng
hôm nay cho thấy những gì có thể là “hư cấu” mà Chúa Giêsu cảnh báo những ai muốn
‘trở nên môn đệ’ của Ngài. Một kinh sư tuyên bố, “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi
theo!”; Ngài trả lời, “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không
có chỗ tựa đầu!”.
Chúa
Giêsu không chấp nhận lời đề nghị làm môn đệ của ông cũng như không bác bỏ nó!
Đúng hơn, Ngài chỉ đơn giản đưa ra một tiêu chí làm rõ những gì liên quan đến
việc ‘trở nên môn đệ’ Ngài.
THỨ BA - Theo Chúa: không sợ
Lời Chúa: Mt 8, 23-27
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền,
có các môn đệ theo Người. Và đây biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền,
thế mà Người vẫn ngủ. Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: "Lạy
Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu
lòng tin! Sao các con nhát sợ?"
Bấy giờ Người chỗi dậy, truyền lệnh
cho gió và biển. Và biển yên lặng như tờ! Cho nên những người ấy kinh ngạc mà rằng:
"Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?"
TRUYỆN KỂ
1. Người vẫn ngủ
(Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu,
S.J.)
Nếu mức nước biển dâng lên thêm
một mét do nạn toàn cầu ấm lên, nhiều vùng đất của nước Việt Nam sẽ bị chìm dưới
mặt nước.
Bão lụt, hạn hán, động đất, núi
lửa, vẫn là những thảm họa cho con người. Ngày nay người ta biết rằng phần lớn
thiên tai không do Trời, nhưng do con người phá hoại trái đất là công trình tốt
đẹp của Trời cao.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy uy
quyền của Đức Giêsu, không phải trên ma quỷ hay bệnh tật, nhưng trên thiên
nhiên. Ngài đã dùng quyền đó để bảo vệ các môn đệ khỏi bị dập vùi bởi sóng gió.
Tại sao chúng ta lại sợ thuyền
chìm hay sợ chết?
Nếu có đức tin vào Thầy thì sóng
gió đâu nhận chìm được chúng ta.
“Thiên Chúa ngủ” mãi mãi là điều
khó hiểu và khó chịu. Đừng ngại đánh thức Ngài và kêu cứu. Đừng ngại la to át
tiếng sóng, để làm cho Ngài nghe được. Nhưng cũng nên nhìn Ngài ngủ bình an, để
khỏi bị hốt hoảng.
Không hẳn là Ngài sẽ trỗi dậy
ngay và dẹp tan bão tố. Không hẳn là chúng ta sẽ được giải thoát ngay khỏi mọi
nỗi hiểm nghèo. Điều quan trọng là lòng ta được bình an, vì biết Ngài vẫn bình
an ở lại trong con thuyền đời ta.
2. Xin cứu chúng con
Ông John Newton sống nghề buôn
bán các nô lệ. Trong lần vượt đại dương, thuyền của ông gặp bão lớn gần chìm;
lúc đó, vì quá lo sợ, ông đã thốt lên: "Lạy Chúa, xin cứu con; qua được
cơn nguy hiểm này, con sẽ từ bỏ nghề buôn bán vô nhân đạo này và sẽ làm nô lệ
Chúa." Và rồi, khi thuyền ông cập bến Mỹ Châu sau đó, ông đã từ bỏ mọi sự,
trở thành nhà rao giảng Tin Mừng nổi tiếng.
Sự quan phòng của Thiên Chúa đã
cho phép cơn bão tố xảy ra trong cuộc sống con người để thức tỉnh con người trở
về với Ngài. Ðiều quan trọng không phải là không có bão tố hoặc khó khăn thử
thách, nhưng là có Chúa hiện diện dù lúc đó xem ra Ngài ngủ, không màng chi đến
nguy hiểm đang xảy ra.
3. Chúa luôn bên cạnh
Có câu chuyện về một viên đại úy
hải quân, khi về hưu ông làm thuyền trưởng trên một chiếc tàu đưa khách đến đảo
Shetland tham quan trong ngày.
Trong một chuyến đi chơi, tàu chở
toàn thanh niên. Họ cười nhạo ông đại úy già khi thấy ông này cầu nguyện trước
lúc ra khơi, bởi vì đó là một ngày trời đẹp và biển êm.
Nhưng biển không êm lâu khi một
trận cuồng phong bất ngờ thổi tới và chiếc tàu bắt đầu chồm lên chồm xuống dữ dội.
Các hành khách hoảng sợ chạy đến ông đại úy thuyền trưởng để yêu cầu ông cùng cầu
nguyện với họ. Nhưng ông đáp: “Tôi đã cầu nguyện lúc trời êm bể lặng. Khi sóng
gió nổi lên, tôi phải lo cho con tàu của tôi."
Đó là một bài học cho chúng ta.
Nếu chúng ta không thể hoặc không muốn tìm đến Thiên Chúa trong những lúc yên
tĩnh của đời mình thì chúng ta có lẽ sẽ không tìm thấy Người khi cơn rối loạn
chụp xuống. Có lẽ chúng ta hoảng sợ nhiều hơn. Nhưng nếu chúng ta đã biết tìm đến
Người và phó thác nơi Người trong những lúc bình yên thì hầu như chắc chắn chúng
ta sẽ tìm thấy Người khi sóng gió nổi lên
4. Sóng gió biển cả yên lặng
Chúa Giêsu dẹp yên biển động làm
cho các môn đệ từ chỗ kém lòng tin đến chỗ khâm phục quyền năng Thiên Chúa nơi
Người. Hình ảnh con thuyền làm cho chúng ta liên tưởng đến Giáo hội cũng có lúc
gặp phong ba bão tố, nhưng Chúa Giêsu Phục sinh luôn đồng hành và bảo vệ Giáo hội
bằng sức mạnh và quyền năng của Người. Mỗi tín hữu cũng phải ý thức sự hiện diện
của Chúa trong cuộc sống, để chúng ta an tâm và biết kêu cầu Chúa mỗi lúc gặp
gian nan, khốn khó.
Rõ ràng là qua phép lạ dẹp yên
bão tố trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn mạc khải thêm cho các môn đệ
biết về Ngài, đồng thời Ngài cũng muốn huấn luyện họ để họ thêm vững vàng về đức
tin.
Người Do thái cho rằng, biển cả
là sào huyệt của quỉ dữ, biển động là dấu quỉ dữ lộng hành. Họ cũng nghĩ rằng,
chỉ một mình Thiên Chúa và những kẻ được Thiên Chúa ban đặc quyền mới có thể chế
ngự được sức mạnh của biển cả. Như vậy, việc Chúa dẹp bão tố hôm nay chứng tỏ
Ngài là Thiên Chúa.
Tin mừng nói đang lúc bão thì
Chúa Giêsu ngủ: Chúa Giêsu ngủ không phải vì Ngài quá mệt. Thực ra Ngài chỉ
“làm bộ” ngủ thôi, để xem các môn đệ của Ngài có an tâm giữa giông tố bão táp
khi có Ngài hiện diện giữa họ không. Thế nhưng, các ông đã sợ hãi cuống cuồng chứng
tỏ các ông chưa vững tin. Bởi đó, sau phép lạ Chúa đã trách: ”Hỡi những kẻ yếu
lòng tin” (Mt 8,26).
Sự quan phòng của Thiên Chúa đã
cho phép cơn giông tố xảy ra trong cuộc sống con người, để thức tỉnh con người
trở về với Ngài. Điều quan trọng không phải là không có bão tố hoặc khó khăn thử
thách, nhưng là có Chúa hiện diện dù lúc đó xem ra Ngài ngủ, không màng chi đến
nguy hiểm đang xảy ra.
Thật thế, gian nan thử thách
Thiên Chúa cho xảy đến là để con người ý thức về sự yếu đuối, mỏng dòn của
mình, đồng thời đặt niềm trông cậy vào Chúa.
5. Ba tôi lái tàu
Trong một chuyến đi xa, ông thuyền
trưởng cho con đi theo trên một con tàu lớn chở nhiều hành khách. Bỗng một hôm,
một cơn bão lớn nổi lên khi con tàu đang lênh đênh giữa biển, hành khách thì cuống
cuồng lo sợ, thuỷ thủ thì vất vả tìm mọi cách chống đỡ, chỉ một mình em bé bình
tĩnh đứng nhìn cảnh vật như chẳng có chuyện gì xảy ra. Lấy làm lạ, một người đến
hỏi em: “Em không sợ tàu chìm sao?” Em đáp: “Chìm sao được, ba tôi lái tàu
mà." Em bé bình tĩnh không sợ vì tin tưởng ở tài lái tàu của ba em.
Câu chuyện trong bài Tin mừng
hôm nay dạy chúng ta bài học: hãy tin cậy vào Chúa và cầu nguyện. Ai cũng thích
sóng yên bể lặng, xuôi chèo mát mái. Nhưng cuộc đời nào mà chẳng có giông tố?
Tuy nhiên, chính giông tố mới giúp chúng ta nhận ra chính mình: mình còn yếu đuối
và bất lực, còn nhát đảm và kém tin. Cũng chính giông tố sẽ đưa ta đến với
Chúa, để ta hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Ngài. Cũng chính giông tố
cũng giúp chúng ta biểu lộ đức tin. Có thể nói, đức tin sẽ lớn lên ít nhiều sau
mỗi lần giông tố. Khi đã biết con người hoàn toàn yếu đuối và bất lực thì chỉ
còn biết cậy trông vào Chúa và xin Ngài đến cứu giúp, không phải chỉ cầu xin
khi gặp hoạn nạn, nhưng phải tin Chúa và cầu xin Ngài mọi nơi mọi lúc trong lúc
được bình yên.
6. Ta đã vác con trên vai
Ngày nọ, một thầy dòng mơ thấy
mình đang đi dọc theo bờ biển với Chúa. Ông nhìn xuống bãi cát, thấy có bốn dấu
chân: hai của ông và hai của Chúa.
Nhưng ông cũng nhận thấy có những
đoạn đường chỉ có hai dấu chân. Và ông nhớ lại: đó là những ngày ông buồn khổ
nhất và cực nhọc nhất. Ông bèn than thở với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã nói với
con là nếu con theo Chúa, thì Chúa sẽ ở với con luôn luôn. Nhưng giờ đây con thấy
rằng, những lúc con chao đảo nhất, thì lại chẳng thấy dấu chân Chúa đâu. Con
không hiểu tại sao Chúa lại bỏ con giữa lúc con cần Chúa nhất như thế?”
Chúa đáp: “Con ạ. Ta chẳng bao
giờ bỏ con. Con chỉ thấy hai dấu chân trên cát, vì trong những lúc khốn khó đó,
Ta đã vác con trên vai và mang con đi."
7. Tôi chỉ giết 5000 người
Một người hành hương gặp bệnh dịch
đang vào Baghdad. Anh hỏi bệnh dịch: "Mi định làm gì ở đó?"
- Tôi sẽ giết 5.000 người.
Người hành hương rùng mình và
thay đổi dự định. Tuy nhiên, ít lâu sau anh gặp một người từ trong thành phố bị
nạn dịch đó và được biết không phải 5.000 nhưng là 50.000 người chết.
Liền sau đó anh lại gặp bệnh dịch
đang đi tới một thành phố khác. Ông buộc tội: "Anh nói láo. Anh nói sẽ chỉ
giết 5000 người thôi mà."
Bệnh dịch giải thích cách vui vẻ:
"Tôi chỉ giết có 5.000 người. Số còn lại chết vì hoảng sợ."
8. Bão tố trên biển là cảnh thường xảy ra.
Bác sĩ W.M. Christie từng ở nhiều
năm tại xứ Galilê đã kể lại kinh nghiệm của ông trong những cơn bão như thế
này: Gió dường như thổi từ khắp các hướng cùng một lúc. Từ những khe núi nhỏ hẹp
trong vùng đồi núi, gió ào ào thổi xéo góc xuống mặt hồ. Ông nói: “Có lần, một
đoàn du khách đang đứng trên bờ hồ Tibêriát. Họ đang say mê nhìn ngắm mặt nước
hồ phẳng lặng như gương, thì thình lình gió ập đến. Chỉ trong 20 phút thôi là mặt
hồ đã trắng xóa những lượn sóng bạc đầu. Những lượn sóng lớn đến nỗi bắn lên cả
các tháp canh ở góc tường vây quanh thành, làm cho đoàn du khách bó buộc phải
tìm chỗ núp để tránh những lớp bụi nước làm tối mắt họ, dầu họ ở cách xa bờ hồ đến
200m." Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tiếng mà bầu trời nắng đẹp đã biến
thành cảnh cuồng phong gầm thét dữ dội.
Chúa Giêsu và các môn đệ trong
bài Tin Mừng hôm nay cũng ở vào hoàn cảnh như thế. Giữa giờ phút kinh hoàng đó
mà Chúa Giêsu vẫn ngủ. Sợ quá các môn đệ đã đánh thức Ngài dậy, và sau đó bão
trở nên hoàn toàn yên lặng.
9. Sự dữ bởi đâu?
Bão tố trên biển là cảnh thường
xảy ra. Bác sĩ W.M. Christie từng ở nhiều năm tại xứ Galilê đã kể lại kinh nghiệm
của ông trong những cơn bão như thế này: Gió dường như thổi từ khắp các hướng
cùng một lúc. Từ những khe núi nhỏ hẹp trong vùng đồi núi, gió ào ào thổi xéo
góc xuống mặt hồ. Ông nói: “Có lần, một đoàn du khách đang đứng trên bờ hồ
Tibêriát. Họ đang say mê nhìn ngắm mặt nước hồ phẳng lặng như gương, thì thình
lình gió ập đến. Chỉ trong 20 phút thôi là mặt hồ đã trắng xóa những lượn sóng
bạc đầu. Những lượn sóng lớn đến nỗi bắn lên cả các tháp canh ở góc tường vây
quanh thành, làm cho đoàn du khách bó buộc phải tìm chỗ núp để tránh những lớp
bụi nước làm tối mắt họ, dầu họ ở cách xa bờ hồ đến 200m." Chỉ trong vòng
chưa đầy nửa tiếng mà bầu trời nắng đẹp đã biến thành cảnh cuồng phong gầm thét
dữ dội.
Chúa Giêsu và các môn đệ trong
bài Tin Mừng hôm nay cũng ở vào hoàn cảnh như thế. Giữa giờ phút kinh hoàng đó
mà Chúa Giêsu vẫn ngủ. Sợ quá các môn đệ đã đánh thức Ngài dậy, và sau đó bão
trở nên hoàn toàn yên lặng.
10. Đừng quên Thiên Chúa
Năm 1863, tổng thống Abraham
Lincoln đưa ra lời tuyên bố này: “Chúng ta đã phát triển về số lượng, tài sản
và sức mạnh mà không quốc gia nào theo kịp, nhưng chúng ta đã quên mất Thiên
Chúa… Chúng ta cần khiêm tốn trước Đấng Quyền Năng đã bị xúc phạm, để thú nhận
những tội lỗi của dân tộc chúng ta. Qua lời tuyên bố này, tôi chỉ định ngày thứ
năm, 30 tháng 4 năm 1863 là ngày toàn quốc thống hối, ăn chay và cầu nguyện… Tiếng
kêu đồng thanh của cả nước sẽ thấu đến Đấng Tối Cao.”
Những hồng ân gì Thiên Chúa đã
ban cho tôi khiến cho tội lỗi càng trở nên khủng khiếp hơn?
[Chúa Giêsu nói] “Đã bao lần Ta
muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các
ngươi không chịu” (Lc 13,34).
11. Chúa phù trợ người ngay chính
John Newton là một người chuyên
nghề buôn bán nô lệ. Một đêm nọ, một cơn bão ập đến đe dọa nhận chìm chiếc tàu
chở nô lệ của ông. John kêu lên cùng Chúa: “Xin cứu chúng con, con hứa sẽ bỏ
nghề này và trở thành nô lệ của Ngài mãi mãi.” Sau khi được cứu sống, John đã bỏ
nghề buôn bán nô lệ và trở thành một thừa sai. Để kỷ niệm cuộc hoán cải này,
ông đã viết lời cho một bài hát nổi tiếng: “Ôi! thật là một ân huệ huyền diệu.
Nó mới ngọt ngào làm sao! Chính điều đó đã cứu rỗi một kẻ khốn khổ như ta. Ta
đã từng lạc đường mà nay đã tìm thấy lối. Ta đã từng mù lòa, mà nay đã trông thấy
được.”
Đã có khi nào Chúa Giêsu giúp đỡ
tôi trong cơn giông tố cuộc đời chưa? Cơn giông tố đó dẫn tôi đến gần Chúa hay
cuốn tôi ra xa Ngài? Tại sao?
Các môn đệ đã ngạc nhiên và nói:
“Người này là ai… Ngay cả gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8,27).
12. Chúa đồng hành với người thiện chí
Một học sinh bị phỏng nặng nửa
thân dưới trong một trận hoả hoạn tại ngôi trường cậu đang học. Trên giường bệnh,
nửa tỉnh nửa mê, cậu nghe nói về bệnh trạng của mình rằng cậu sẽ bị liệt suốt đời.
Bàng hoàng vì tương lai như sụp đổ, nhưng với ý chí và niềm tin, cậu kiên trì tập
luyện và cuối cùng cậu đã có thể bước đi trên đôi chân của mình. Lắm lúc chúng
ta cũng chạm trán với những khó khăn, những phút đen tối trong đời. Chúng ta
cũng sợ hãi bối rối. Nhưng ít ra chúng ta cũng như các môn đệ nhớ rằng có Chúa
đồng hành với mình và chạy đến Chúa với lời cầu xin: “Thưa Thầy, xin cứu chúng
con, chúng con chết mất!” Chúng ta sẽ thấy rằng chỉ nhờ một lời của Chúa thôi,
chúng ta sẽ được bình an.
Đôi khi Chúa để những khó khăn,
hay nghịch cảnh xảy đến trong cuộc đời chúng ta; nhưng Ngài không bỏ chúng ta,
bởi vì Ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta, bảo vệ chúng ta quyền năng của Ngài. Điều
quan trọng là chúng ta có nhận ra điều đó và tuyệt đối tin tưởng tuyệt đối vào
Ngài hay không. Chúa không cất khó khăn khỏi bạn nhưng với niềm tin vào tình
yêu của Thiên Chúa, bạn sẽ bình an và vượt qua được mọi khó khăn, thử thách.
13. Niềm vui có Chúa hiện diện
“Niềm vui và nụ cười là quà tặng
của việc sống trong sự hiện diện của Chúa, cũng như tin tưởng rằng ngày mai thì
không đáng gì phải lo âu” (Cha H. Nouwen). Sóng gió gầm thét hung hãn quanh chiếc
thuyền nhỏ, và sóng gió sợ hãi cũng nổi lên trong lòng các môn đệ yếu lòng tin.
Các ông quên rằng chen lẫn tiếng gió gầm sóng vỗ là tiếng thở đều đều của Thầy
mình; con thuyền nhỏ nhấp nhô theo sóng nước, nhưng trên chiếc thuyền ấy có Thầy
mình đang ngủ ở mũi thuyền. Chả trách gì sau đó Thầy đã quở trách các ông nhát
gan, kém lòng tin. Tin rằng có Chúa hiện diện, mọi sự sẽ thay đổi. Với sự hiện
diện của Chúa, bão tố cuộc đời vẫn diễn ra, nhưng tâm hồn luôn an bình trong niềm
vui sâu lắng.
Mời Bạn: “Việc thực hành thánh
thiện và quan trọng nhất trong đời sống thiêng liêng là ý thức về sự hiện diện
của Chúa, nghĩa là, mỗi khoảnh khắc ta đều cảm thấy vui tươi vì có Chúa ở cùng”
(Thầy Lawrence). Bạn cũng hãy bắt đầu đời sống đức tin bằng việc quan trọng nhất:
cảm nhận Chúa hiện diện trong đời bạn mỗi sáng khi thức dậy, trong các việc bổn
phận mình làm, các nỗ lực hy sinh vì Chúa, và mỗi tối trước khi đi ngủ.
THỨ TƯ - Chúa chữa 2 người bị quỉ ám
Lời
Chúa: Mt 8,28-34
Khi
ấy, Chúa Giêsu lên thuyền sang bờ bên kia, đến miền Giêrasa, thì gặp hai người
bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra, chúng hung dữ đến nỗi không ai dám qua đường ấy.
Và chúng kêu lên rằng: "Lạy Ông Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng tôi có can
chi đến ông? Ông đến đây để hành hạ chúng tôi trước hạn định sao?" Cách đó
không xa có một đàn heo lớn đang ăn. Các quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông
đuổi chúng tôi ra khỏi đây, thì xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo." Người
bảo chúng rằng: "Cứ đi." Chúng liền ra khỏi đi nhập vào đàn heo. Tức
thì cả đàn heo, từ bờ dốc thẳng, nhào xuống biển và chết chìm dưới nước. Các
người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám.
Thế
là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của
họ.
TRUYỆN KỂ
1. Ma quỷ ngày càng
đông
Theo
cha Gabrielle Amorth, vị trừ quỷ chính của giáo phận Rôma, “số người bị quỷ ám
đã gia tăng rất nhiều.”
Trong
vòng tám năm, chính cha đã trừ cho hơn hai mươi ngàn trường hợp. Con số kinh khủng
này hẳn là một nhắc nhở cho những ai nghĩ rằng quỷ vắng bóng trong thế giới của
khoa học kỹ thuật, quỷ chỉ là huyền thoại của thế giới cách đây hai ngàn năm thời
Đức Giêsu, hay quỷ ám thật ra chỉ là bệnh thần kinh vào thời y khoa chưa phát
triển.
Trong
cuộc hội kiến vào tháng 8-1986, Đức Gioan Phaolô đã nói sự hiện diện của quỷ
trong thế giới “ngày càng trở nên ghê gớm hơn khi con người và xã hội quay lưng
với Thiên Chúa.”
2. Hãy sống giá trị tin
mừng trong cuộc đời
Trong
sứ điệp ngày giới trẻ thế giới lần thứ 26 tại Madrid, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô
XVI đã viết: “Có một xu hướng duy đời (laïciste) mạnh mẽ muốn loại bỏ Thiên
Chúa ra khỏi cuộc sống con người và xã hội, toan tính kiến tạo một ‘thiên đường’
không có Thiên Chúa. Nhưng kinh nghiệm dạy rằng một thế giới không có Thiên
Chúa là ‘một hỏa ngục’ trong đó, trổi vượt những ích kỷ, chia rẽ trong các gia
đình, oán thù giữa cá nhân và các dân tộc, thiếu tình thương, niềm vui và hy vọng."
Và trong thông điệp “Spe Salvi” Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quả quyết:
“Một nền nhân bản vắng bóng Thiên Chúa sẽ là một nên nhân bản phi nhân” (Thông
điệp Spe Salvi, số 78).
Bài
Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu xua đuổi ma quỷ ra khỏi hai chàng
thanh niên ở Giêrasa. Sau đó, ma quỷ đã xin Đức Giêsu cho nhập vào đàn heo và
lao xuống biển. Thấy thế, những người chăn heo chạy chốn và báo tin cho những
người trong thành về sự kiện vừa mới diễn ra trước mắt họ, vì thế, dân trong
thành đã ra đón Ðức Giêsu, nhưng khi gặp Ngài, họ đã xin Ngài rời khỏi vùng đất
của họ.
3. Chiến thuật của ma
quỉ
Rowlan
Hill, một nhà giảng thuyết trứ danh, trong một bài giảng đã kể câu chuyện như
sau: Ngày nọ, tôi xuống phố, thấy một bầy heo chạy theo một người. Tôi thấy lạ
nên để ý xem. Lạ hơn là bầy heo theo người đó vào lò sát sinh.
Tôi
thắc mắc hỏi người đó làm cách nào mà dụ bầy heo tài tình như vậy. Ông bèn đáp:
“Ngài không thấy đó sao? Tôi mang theo rổ đậu, thỉnh thoảng vãi mấy hạt xuống
đường. Thế là bầy heo tham ăn cứ chạy theo tôi." Rồi ngài giảng tiếp: “Tôi
nghĩ ma quỉ cũng áp dụng chiến thuật đó. Nó mang theo rổ đậu, rải trên đường trần
và đám đông xô nhau chạy theo, đến tận lò sát sinh vĩnh hằng."
4. Sống là chọn lựa
Một
anh thợ mộc nọ đã có bốn con, nhà nghèo, đến nói với tôi rằng: con muốn chuyển
gia đình đến một nơi khác làm ăn, hy vọng sẽ khá hơn. Nhưng con cứ do dự hoài.
Bởi vì chỗ con định đến lại xa nhà thờ, ở giữa dân ngoại. Nếu con ra đi thì con
cái con sẽ không có chỗ học giáo lý và cả gia đình cũng sẽ khó mà đến nhà thờ
ngày Chúa nhật được.
Một
chọn lựa khó khăn, mà ai trong chúng ta cũng có thể gặp hàng ngày. Chọn tham dự
thánh lễ hay coi một cuốn phim hay. Chọn giữa sự tha thứ và hận thù. Chọn giữa
một buổi đi chơi với bạn bè hay đi học giáo lý. Trong cuộc sống, tôi thường chọn
Chúa hay chọn quyền lợi riêng tư của tôi?
Đức
Gioan Phaolô II thường khuyên những người đến với Ngài rằng: “Chúng con phải lựa
chọn." Chọn là một quyết định lớn và quan trọng của đời người. Chúng ta đã
chọn. Và chúng ta còn phải tiếp tục chọn, vì đời là một tiến trình, đời là một
cuộc đổi mới không ngừng nghỉ. Thành công hay thất bại là tùy ở những chọn lựa
mỗi ngày của ta.
Vua
Charles một lần kêu hoàng tử đến và cho hoàng tử được chọn. Trên bàn, vua đặt một
thanh kiếm và một vương miện (Triều thiên), nhà vua nói:
-
Con muốn chọn cái nào?
Ngần
ngừ một lúc, hoàng tử cầm lấy thanh kiếm.
Vua
cha hỏi:
- Tại
sao con lại chọn thanh kiếm?
Hoàng
tử cầm thanh kiếm lên chỉ vào vương miện, đáp:
-
Nhờ thanh kiếm này, con sẽ được vương miện kia.
Lạy
Chúa, Chúa là tất cả đời con. Amen.
5. Quỷ ở với người
“Quỷ
ở với người” là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, và cũng là thực
trạng của gia đình, xã hội không còn tôn ti trật tự, nhân nghĩa khi cư xử với
nhau. Ngày xưa quỷ trong bài Tin Mừng đã đẩy hai người vào sống trong ngôi mộ của
người chết. Ngày nay quỷ ở với những người sống trong nền văn hóa sự chết như
phá thai, nghiện tình dục, rượu bia, bạo lực... Ngày xưa quỷ xúi dục dân chúng
mời Chúa rời khỏi vùng đất mình vì mất đàn heo. Ngày nay quỷ hoành hành trong
tâm hồn người chuộng tiền bạc, sổ đỏ, tài khoản ngân hàng hơn tình nghĩa cha mẹ,
anh em, bạn bè, nhất là việc thờ phượng Thiên Chúa, thậm chí dần dần loại Ngài
ra khỏi đời sống.
Quỷ
đã biến hai người ở Ga-đa-ra thành mối đe dọa người đồng loại (c. 28). Hôm nay
hễ khi nào bạn là mối gây mất bình an, lo lắng, buồn phiền, thậm chí là mối đe
dọa, khủng bố người khác, có thể quỷ đang ở với bạn. Hãy để quyền năng của Đức
Giê-su loại trừ THỨ quỷ ấy ra khỏi bạn bằng ơn Chúa qua các bí tích và nghị lực
của bạn.
6. Chọn lựa của con người
Một
cô bé mặc bộ đồ không thích hợp chút nào đang đi xuống bậc tam cấp của nhà thờ.
Rõ ràng cô bé xuất thân từ một gia đình nghèo. Một người đàn ông không có thiện
cảm đối với tôn giáo đi ngang qua và hỏi: “Nếu Thiên Chúa yêu thương cô nhiều
như cô nghĩ, tại sao Ngài không bảo ai đó cho cô nhà cửa, quần áo?” Cô bé trả lời:
“Cháu nghĩ rằng Thiên Chúa đã bảo, nhưng người ta không lắng nghe hoặc cũng có
thể họ quên.”
Câu
trả lời của cô bé và lời khiển trách của Thiên Chúa đối với Israel, mời gọi tôi
tự hỏi: Tôi có trách nhiệm gì với người nghèo? Chỉ một cá nhân thì có thể làm
được gì?
Hãy
tin tưởng Thiên Chúa vì những việc vĩ đại của Ngài: chỉ với năm chiếc bánh và
hai con cá của bạn, Ngài sẽ chỉ cho bạn cách cho cả ngàn người ăn. (Horace
Bushnell).
7. Điều quan trọng hơn
Buổi
diễn tập hòa nhạc vào phút chót buộc một nhà phê bình âm nhạc phải hủy buổi hẹn
ăn tối với một số bạn bè. Nhưng rồi đứa con trai của nghệ sĩ độc tấu chết đột
ngột khiến buổi hòa nhạc phải dời lại. Nhà phê bình gọi điện thoại cho bạn bè
và nói: “Tin vui đây: con trai của nghệ sĩ độc tấu vừa chết, vì vậy buổi hòa nhạc
được dời lại.” Chợt ông nhận ra điều ông vừa nói: cái chết của cậu bé không phải
là một tin vui mà là một tin buồn. Cũng có một cái gì đó tương tự trong bài
Kinh thánh hôm nay. Chúa Giêsu chữa cho hai người bị quỷ ám được lành mạnh chỉ
với giá vài con heo. Thế mà người ta lại quan tâm đến những con heo hơn cả con
người, do đó họ đã xua đuổi Chúa Giêsu.
Có
bao giờ tôi để những lo lắng tầm thường làm cho tôi trở nên mù lòa hơn là quan
tâm đến mạng sống hay cái chết của người khác không?
Khi
bạn phản bội ai, đó cũng là lúc phản bội chính mình (Ca sĩ Isaac)
8. Đâu là điều trọng nhất?
Một
việc trừ quỷ thật ‘đắt đỏ’: để chữa lành cho hai người, mất toi cả đàn heo! Phản
ứng của dân thành cũng thật quyết liệt: xin Người rời khỏi vùng đất của họ, bởi
vì biết đâu Người chẳng chữa thêm vài người bị quỷ ám nữa, và họ lại có thể phải
mất thêm vài đàn heo khác! Bậc thang giá trị của họ thật rõ ràng: đàn heo quý
hơn sinh mạng con người. Hình như nhiều lúc chúng mình cũng cư xử y như dân
thành Gadara đó thôi! Coi trọng vật chất hơn con người, quyền lợi của mình hơn
cả sự sống của người khác. Có thể không đến nỗi “đốt nhà hàng xóm chỉ để luộc
chín một quả trứng” như phát biểu của một nhà văn, thế nhưng, chúng mình cũng
thật ích kỷ khi chấp nhận tình trạng ai chết mặc ai, miễn là quyền lợi, tài sản
tôi không suy suyển chút nào!
Hãy
điều chỉnh lại cách ứng xử của bạn: coi trọng con người hơn vật chất của cải, sự
sống con người hơn danh giá, quyền lợi…
Lâu
nay tôi đã coi trọng sự sống, sinh mạng con người hay coi trọng của cải vật chất,
danh tiếng?
Sáng
1-7-2023, cụ Mai cầm xấp vé số 42 tờ bán dạo lên xe buýt ở trạm BV Ung bướu TP
HCM. Đến trạm Hàng Xanh cụ xuống nhưng lại quên xấp vé. Phạm Nguyễn Duy Toàn,
tiếp viên xe buýt tuyến 146 (BKS 51B-22.432) đã bàn với tài xế hành xử rất đẹp
thế này:
"Xe
đang chạy trên tuyến nên không thể quay lại tìm cụ, do đó, chờ đến chuyến sau,
qua các trạm, tôi và chú tài xế đều quan sát tìm cụ nhưng không gặp. Trong khi
đó, nếu không bán hết thì sau 16 giờ sấp vé này coi như bỏ. Tuy số tiền quy ra
không lớn nhưng với cụ sẽ không nhỏ...
...
Do đó, tôi nói với chú tài xế bàn nhau bán giúp cụ xấp vé số này. Chỉ trong vài
tiếng, nhiều hành khách trên xe cũng như nhân viên xe buýt tại 2 đầu bến đã ủng
hộ hết 42 tờ, thu về 420.000 đồng. May mắn đến 16 giờ cùng ngày, khi xe qua trạm
trước Bệnh viện Ung Bướu thì gặp cụ, vậy là tôi trao lại số tiền trên"
Khi
Toàn trao tiền cho cụ, nhân viên điều hành tuyến xe đã lập biên bản xác nhận. Cụ
bà bị mất vé số tên là Nguyễn Thị Mai, 67 tuổi,ở quận Bình Thạnh, lúc nhận tiền
cụ rất vui và xúc động.
Tôi
cũng rất vui khi đầu tuần đọc những câu chuyện thật sự đẹp đẽ như vậy. Cám ơn
Toàn, tài xế và những hành khách tốt bụng trên chuyến xe buýt ở Sài Gòn!
Bài
Phúc âm có một câu kết đau lòng: "Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu.
Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ."
Chúa
chữa hai người khỏi quỷ ám là một tin vui, nhưng vì mối lợi của riêng mình, người
ta xin Người rời khỏi vùng của họ.
Còn
anh tiếp viên xe buýt và mọi hành khách của nhiều chuyến xe lại làm cho người
nghe ấm lòng, coi sự khó của một người xa lạ là sự khó của chính mình, mỗi người
một chút và tất cả mọi người có được niềm vui, cụ bà vui vì có tiền thì ít mà
vui vì tình thương thì nhiều; mọi người vui vì mất một món nhỏ mà có được niềm
vui tràn ngập tâm hồn khi nhìn thấy nụ cười của bà Mai.
Thiên
đàng nằm ở đấy.
THỨ NĂM - Chúa có quyền tha tội
Lời
Chúa: Mt 9, 1-8.
Khi
ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, vượt biển mà về thành của Người. Bấy giờ người ta
đem đến cho Người một kẻ bất toại nằm trên giường.
Thấy
họ có lòng tin, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, con hãy
vững tin, tội con được tha rồi." Bấy giờ mấy luật sĩ nghĩ thầm rằng:
"Ông này nói phạm thượng." Chúa Giêsu biết ý nghĩ của họ liền nói:
"Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng? Bảo rằng "Tội con
được tha rồi", hay nói "Hãy chỗi dậy mà đi", đàng nào dễ hơn?
Nhưng (nói thế là) để các ngươi biết rằng trên đời này Con Người có quyền tha tội."
Bấy
giờ Người nói với người bất toại: "Con hãy chỗi dậy, vác giường mà về nhà
con." Người ấy chỗi dậy và đi về nhà. Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn
vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế.
TRUYỆN KỂ
1. Chúa là điểm tựa đời
con
Trong
một căn phòng hậu phẫu, có nhiều bệnh nhân với những bệnh lý khác nhau. Các bệnh
nhân thường hay kêu la đau đớn và tỏ vẻ khó chịu với thân nhân của mình. Tuy
nhiên, những người hiện diện ở đó thật ngỡ ngàng khi nhìn thấy và chứng kiến một
bệnh nhân trạc tuổi 60, ông không kêu ca, không trách móc, nhưng có lúc lại nở
nụ cười tươi. Hỏi thăm, mới biết ông là người Công Giáo và phải mổ để cắt thận
vì sỏi quá nhiều.
Trong
lúc trò chuyện, có một người hỏi thăm ông: “Tại sao các bệnh nhân khác thì đau
đớn và kêu la, còn ông thì không?” Trong tiếng nói nhỏ nhẹ, ông nói: “Mỗi lần
cơn đau đến với tôi, tôi nhớ đến Chúa chịu đóng đinh. Ngài còn đau đớn hơn tôi
nhiều, vì thế, tôi luôn cầu xin Chúa giúp sức để vượt qua cơn đau và tôi cũng
xin Chúa cho mình được thông phần đau khổ với Ngài." Thật tuyệt vời, Đức
Giêsu là điểm tựa của ông, và cuộc thương khó, cái chết của Ngài đã làm cho ông
can đảm, vui vẻ đón nhận đau đớn vì lòng yêu mến Chúa.
2. Chúa gắn liền việc
chữa lành với lời tha tội
(Lm
Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Năm
1992 Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã khởi xướng ngày Quốc tế cầu nguyện cho
bệnh nhân hàng năm vào lễ Đức Mẹ Lộ Đức ngày 11 tháng 2. Năm 1858, Lộ Đức là một
thị trấn nhỏ tọa lạc giữa đồi núi có khoảng 5.000 cư dân, nằm ở phía nam nước
Pháp, giáp ranh nước Tây Ban Nha, Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần với Bernadette - một
trẻ em 14 tuổi từ ngày 11/02 đến ngày 16/07/1858.
Và
cũng từ biến cố hiện ra từ năm 1858 đến nay, những cuộc hành hương tuôn đến Lộ
Đức, đặc biệt là các bệnh nhân được đưa đến bằng đủ mọi phương tiện, có những
người liệt giường được anh chị em bạn hữu cõng đến, hay trên băng ca, xe lăn…
đã có trên 6.000 trường hợp được lành bệnh, Giáo hội đã công nhận và tuyên bố
68 trường hợp là phép lạ, do sự can thiệp và bầu cử đặc biệt trong yêu thương của
Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Thiên
Chúa chọn Lộ Đức để biểu lộ tình thương của Ngài qua trung gian nhờ lời cầu bầu
của Đức Mẹ. Qua đó, Ngài đã bày tỏ vinh quang cho nhân loại, khi chữa lành nhiều
bệnh tật của nhiều anh chị em được đem đến Lộ Đức.
Ấn
tượng nhất mà tôi ghi nhận giữa những đoàn hành hương là các bệnh nhân được các
anh chị em tín hữu đưa đến viếng và rước Đức Mẹ vào các buổi chiều tối… từng bước
đi của họ là bước đi của niềm tin…
3. Biết chia sẻ cho
nhau
Tôi
phải nhờ đến người khác, và cũng có bổn phận để người khác nhờ đến tôi.
Tại
một thị trấn nọ có một gia đình nghèo. Cha mẹ làm việc vất vả cả ngày ở nhà
máy, các con còn nhỏ ở nhà một mình.
Một
hôm, có một người hành khất đến xin bố thí. Một em bé ra mở cửa đăm đăm nhìn
người ăn xin rồi chạy vào nhà. Một lúc sau, em trở ra nhỏ nhẹ thưa:
-
Chú ơi, chúng cháu rất muốn tặng chú cái gì đó, thế nhưng nhà cháu cũng chẳng
có gì để ăn hôm nay, chúng cháu đang đói lắm chú ạ! Chúng cháu rất áy náy phải
từ chối chú vậy, chú đừng buồn nhé.
Người
hành khất lặng lẽ bỏ đi. Đến sập tối thì ông ta quay lại gõ cửa. Em bé lại ái
ngại từ chối như ban sáng. Người ăn xin lúc đó mới nói:
-
Các cháu dễ thương của chú, chú không xin các cháu bố thí nữa đâu, nhưng chú lại
có cái này để tặng các cháu.
Nói
đoạn, người ấy mở chiếc bị đeo bên hông ra, đưa cho mấy đứa bé một vài khúc
bánh mì nhỏ và một vài đồng bạc. Ông ta dặn dò:
-
Các cháu hãy lấy bánh chia nhau ăn đi kẻo đói lắm rồi, còn tiền thì đợi ba mẹ về,
bảo là chú biếu. Chú chỉ là một người ăn xin tàn tật, nhưng chú sẵn sàng chia sẻ
với gia đình các cháu, bởi vì các cháu dễ thương và tốt bụng quá.
4. Giúp người tức là tự
giúp mình.
Trước
cổng một nghĩa trang nọ, người ta thấy có một chiếc xe sang trọng dừng lại. Tài
xế tiến về phía người giữ cổng và nói:
-
Xin anh giúp tôi một tay cho người đàn bà này xuống xe, vì bà ta rất yếu không
đi được nữa.
Vừa
ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng nghĩa trang:
- Từ
hai năm qua, mỗi tuần tôi là người đã gửi đến cho anh 5 đô-la để mua hoa và đặt
trên mộ con trai tôi. Tôi đến đây để chào từ biệt và cám ơn anh vì đã mua hoa
giùm cho tôi.
Nói
xong những lời đó, bà tưởng sẽ nhận được những lời cám ơn từ môi miệng của một
con người mà bà nghĩ rằng, đã làm ơn cho anh ta từ hai năm qua. Thế nhưng, bà
không thể ngờ rằng, bà lại nhận được những lời chẳng làm cho bà vui lòng chút
nào:
-
Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì bà đã làm công việc ấy.
Người
đàn bà cảm thấy như bị tát vào mặt, nhưng vẫn còn đủ bình tĩnh để hỏi lại người
thanh niên tại sao anh lại lấy làm tiếc vì một cử chỉ đẹp như thế.
Người
thanh niên giải thích:
-
Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người đã chết, như con trai bà chẳng hạn,
thì làm sao mà còn thấy được một cánh hoa nào nữa.
Bị
chạm tự ái, người đàn bà liền lên giọng:
-
Anh có biết là anh đã làm tổn thương một người như tôi không?
Người
thanh niên trả lời:
-
Tôi xin lỗi bà. Khi tôi nói như thế, tôi chỉ muốn cho bà hiểu rằng, hiện có rất
nhiều người đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ
chức chuyên đi thăm những người già lão, các bệnh viện, và hiện có nhiều người
đang sống thật cô độc. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa
của chúng ta. Họ có thể nhìn và ngửi được những cánh hoa của chúng ta.
Người
đàn bà ngồi bất động trong chiếc xe sang trọng một lúc, rồi ra hiệu cho tài xế
nổ máy.
Vài
tháng sau bà trở lại nghĩa trang, nhưng lần này không cần ai giúp đỡ, bà tự động
bước xuống xe với dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn. Điều ngạc nhiên là những lời
bà vui vẻ nói với người thanh niên giữ cổng:
-
Anh nói có lý, tôi đã mang hoa đến cho những người già lão bệnh tật. Quả thật
điều đó làm cho họ hạnh phúc, nhưng người được hạnh phúc hơn chính là tôi. Các
Bác sĩ không biết được cái bí quyết làm cho tôi được khỏe mạnh và hạnh phúc,
nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống. Tôi đến đây để
cám ơn anh. Vâng! Giúp người tức là tự giúp mình.
5. Ai phạm thượng?
Người
bại liệt được khiêng đến với Đức Giê-su ngay khi Ngài xuất hiện. Hẳn họ đã chờ
đợi Ngài từ lâu, vì tin vào khả năng chữa lành của Ngài. Thế nhưng, cũng có những
kẻ chờ đợi Ngài, không phải để được chữa bệnh, mà là để kiếm cớ bắt bẻ Ngài.
Vin vào câu nói “Tội con được tha” của Đức Giê-su, họ cho rằng Ngài phạm thượng.
Nếu Đức Giê-su phạm thượng, thì chắc chắn lời của Ngài không đủ hiệu năng để chữa
lành, đang khi lời ấy đã làm cho người bại liệt đứng dậy vác giường mà đi. Vậy
mà họ vẫn cố chấp, xúc phạm đến Ngài. Họ mới đúng là những kẻ phạm thượng, vì
không tin quyền năng Thiên Chúa đang hoạt động nơi Đức Giê-su.
Chúa
Ki-tô đã thiết lập Hội Thánh, trao cho Hội Thánh quyền cầm buộc cũng như tháo cởi
dưới đất. Quyền năng này không do Hội Thánh mà là Chúa Ki-tô hành động qua Hội
Thánh. Nhưng Hội Thánh cũng bao gồm những con người, vẫn còn đó những yếu đuối
và lầm lỗi. Vì thế, nhiều người tỏ ra nghi ngờ ‘quyền năng’ của Hội Thánh trong
việc cử hành các bí tích. Liệu tôi có thuộc vào số những kẻ ‘phạm thượng’ đó
không?
6. Chúng con cần đến
Chúa
Có
ba nhóm người trong đoạn Tin Mừng hôm nay:
(1)
nhóm khiêng người bại liệt;
(2)
các kinh sư;
(3)
dân chúng.
Ba
nhóm với ba thái độ khác nhau:
(1)
giúp đỡ với niềm tin tưởng;
(2)
nghĩ xấu và kết án;
(3)
sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa.
Đức
Giêsu cũng bày tỏ ba lối hành xử đặc biệt của Ngài:
(1)
nhân hậu;
(2)
thẳng thắn;
(3)
quyền năng: tha thứ và chữa lành.
Trái
tim Ngài luôn xúc động, chạnh lòng thương trước nỗi khổ của con người. Để có thể
làm theo sự thúc bách của con tim nhân hậu ấy, Ngài thẳng thắn đối đầu với nhóm
kinh sư, khẳng định quyền tha tội và khả năng chữa lành cho người bại liệt.
Không
chỉ người bại liệt ngày xưa, con người hôm nay cũng cần đến Đức Giêsu, cần niềm
tin tưởng nơi Ngài hầu cuộc đời họ có một ý nghĩa và hướng đi, như lời Đức
Thánh Cha Bênêđitô XVI: “Chúa Giêsu là kho tàng đích thật và duy nhất mà chúng
ta có thể tặng cho con người. Ngài là nỗi khát vọng sâu thẳm nhất của bao con
người nam cũng như nữ ngày nay, ngay cả khi dường như họ lãnh đạm hay tẩy chay
Ngài. Xã hội mà chúng ta đang sống, Châu Âu và toàn thế giới, đang cần gì nhất
nếu không phải là chính Chúa Giêsu” (31.5.2010).
7. Bệnh tật trong tâm hồn
Tính
đến giữa tháng 6 / 2009, dịch cúm heo A/H1N1 đã lây lan đến hơn 100 quốc gia và
cướp đi sinh mạng của 141 người thuộc 74 nước khác nhau. Nhiều biện pháp đã được
đề ra để ngăn chặn sự lây lan của dịch cúm. Thế giới đang hoang mang lo lắng nhớ
lại đại dịch “Cúm Hồng Kông” xảy ra vào nửa sau thập niên 1960 đã cướp đi sinh
mạng khoảng một triệu người. Tổ chức WHO (Sức khoẻ Thế giới) họp khẩn để cân nhắc
liệu có nên tuyên bố dịch cúm heo này lên hàng đại dịch hay không. Tuy nhiên những
cơn đại dịch tâm linh trầm trọng hơn đã gây biết bao tác hại đó là tội lỗi thì
nhiều người ngày nay đã mất cảm thức về nó: nạn phá thai, trợ tử, hôn nhân đồng
giới… Trước khi chữa lành cho người bại liệt, Chúa Giêsu đã tha thứ tội lỗi cho
anh. Ngài mời gọi chúng ta nhận thức và để tâm chữa lành bệnh tật tâm hồn trước
hết bởi vì tội lỗi là nguyên nhân hủy hoại hạnh phúc của mỗi người, gia đình, cộng
đoàn và nhân loại.
Điều
gì khiến bạn lo lắng nhiều hơn: mỗi lần bạn phạm tội hay mỗi lần bạn có vấn đề
về sức khỏe? Bạn có nghĩ hoà giải với Chúa và anh em mỗi khi lỗi phạm là việc
khẩn cấp? Bạn có cho là cần thiết phải thiết lập môi trường đạo đức lành mạnh
cho gia đình để ngăn ngừa những cơn đại dịch tâm linh không?
Hãy
tìm cách làm cho giờ cầu nguyện trong gia đình được tiến hành thường xuyên và hữu
hiệu.
8. Đứng dậy trong khiêm
tốn
Trong
buổi nói chuyện với khách hành hương ngày 6/9/1978, Đức Gioan Phaolô I đã nói:
“Cha liều mình nói một điều dại dột, nhưng cha vẫn nói ra là Thiên Chúa quá yêu
thương nhân loại đến đỗi Ngài cho phép xảy ra những tội trọng. Tại sao? Để những
kẻ đã phạm các tội ấy vẫn ăn ở khiêm nhường, sau khi đã thống hối. Không ai muốn
tự coi mình là thánh thiện khi ý thức được mình đã phạm những tội trọng.”
Ở
đây, việc được đứng dậy vác chõng mà về hẳn phải là một biến cố lớn lao đối với
người bại liệt. Anh được tha thứ hơn cả lòng anh khao khát. Anh được chữa lành
bệnh bại liệt, được thứ tha tội lỗi, và trở nên người có khả năng ra đi loan
báo quyền năng và lòng yêu thương của Chúa Giêsu dành cho anh. Anh chia sẻ niềm
vui Thiên Chúa ban cho anh bằng chính kinh nghiệm của anh, kinh nghiệm của một
người bất toại được chữa lành, kinh nghiệm của một người tội lỗi được Chúa thứ
tha. Anh thực sự muốn khỏi bệnh và không còn liều lĩnh trong tội nữa; trái lại,
tận dụng ơn Chúa để trở nên người mới.
Bạn
còn muốn dây dưa với tội lỗi nữa không?
9. Tin là liều
Niềm
tin vào Thiên Chúa liên quan đến sự tin tưởng và liều lĩnh của chúng ta. Trước
hết, nó liên quan đến sự tin tưởng. Chẳng hạn, lý trí bảo Abraham rằng nếu ông
hiến tế Isaac, thì lời hứa Thiên Chúa cho ông con đàn cháu đống qua Isaac không
thể thực hiện được. Tuy nhiên, sự tin tưởng đã làm cho Abraham có thể tin vào
Thiên Chúa hơn là vào lý trí của mình. Thứ đến, niềm tin liên quan đến sự liều
lĩnh. Chẳng hạn, khi hai người lấy nhau, không ai chắc rằng người kia vẫn trung
thành lúc gặp cơn khủng hoảng. Nhưng niềm tin vào nhau làm cho họ dám chấp nhận
liều lĩnh một cách tự nguyện và vui vẻ. Tin vào Thiên Chúa cũng giống như vậy.
Khi
tưởng tượng mình là Abraham, tôi sẽ nghĩ sao nếu Thiên Chúa bảo tôi hiến tế
Isaac? Điều gì thúc đẩy tôi vâng phục?
Yêu
ít, tin ít (Ngạn ngữ Anh).
10. Tha tội là tin tưởng
Một
nữ sinh trung học nọ đã tưởng tượng mình chính là người bại liệt được đem đến
cho Chúa Giêsu. Cô mô tả cảm giác của mình như sau: “Đột nhiên tôi bắt đầu thấy
những điều tôi đã làm trong đời thật là tồi tệ. Tôi có cảm tưởng là Ngài biết tất
cả về tôi. Giọng nói của Ngài thật hợp với ánh mắt của Ngài. Chính giọng nói
này có thể vỗ về một đứa trẻ cũng như làm rung chuyển cả tòa nhà. Ngài bảo rằng
tội của tôi đã được tha hết. Làm sao tôi có thể tin được giọng nói đó, và cả
ánh mắt kia nữa? Tôi biết tội tôi đã được tha.”
Tôi
có tin tưởng sâu sắc rằng Chúa Giêsu muốn tha hết mọi tội tôi không? Tôi có sẵn
lòng tha thứ cho anh em như Chúa đã tha thứ cho tôi không?
Ai
tha thứ nhiều, sẽ được tha thứ nhiều hơn (William W. Balley).
THỨ SÁU - Kêu gọi người thu thuế Mát-thêu
Lời Chúa: Mt 9, 9-13
Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua,
thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông:
"Hãy theo Ta." Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người
ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng
bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền
nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những
người thu thuế và tội lỗi như thế?"
Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng:
"Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông
hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: "Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải
là hy lễ." Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người
tội lỗi."
TRUYỆN KỂ
1. Cảm nghiệm để làm chứng
Trong dịp lễ tạ ơn của một tân
linh mục, mọi người hiện diện được nghe thấy cha mới chia sẻ lúc đầu lễ rằng:
“Cộng đoàn cùng với con tạ ơn hồng ân Thiên Chúa đã ban cho con Thiên Chức linh
mục, mặc dù con bất xứng, yếu hèn và vô dụng. Nhưng vì yêu thương, nên Chúa đã
gọi và chọn con tiến lên bàn thánh để con trở thành linh mục của Chúa."
Câu nói đó của tân linh mục diễn tả một sự cảm nghiệm sâu xa tình thương mà
Chúa dành cho cha.
Hôm nay, bài Tin Mừng thuật lại
việc Đức Giêsu gọi ông Mátthêu, người thu thuế, hẳn ông cũng cảm thấy mình bất
xứng vì công việc bất chính của ông đang làm. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã gọi ông để
ông trở thành môn đệ.
2. Lòng quảng đại của vị thiền sư.
Một buổi tối nọ, thiền sư
Shechery đang ngồi thiền thì có một tên cướp xông vào nhà, hắn dí gươm vào cổ
nhà tu hành và dọa sẽ giết nếu không trao hết tiền bạc cho hắn. Vị thiền sư
không để lộ một chút sợ hãi nào, ông chỉ vào cái hộp, rồi nói với tên cướp: “Tiền
đựng trong cái hộp kia, ngươi hãy để cho ta yên”, nói xong ông tiếp tục tụng niệm.
Sau một lúc, ông nhìn lại và nói
tiếp với tên cướp: “Đừng lấy hết tiền của ta, để lại cho ta một ít, vì ngay mai
ta phải đóng thuế." Nhưng tên cướp đã không màng gì đến lời yêu cầu của vị
thiền sư. Hắn lấy hết tiền trong cái hộp và nhét đầy túi, hắn vừa ra đến cửa,
nhà sư nói vọng ra: “Ngươi không biết nói một tiếng cám ơn khi nhận quà sao”?
Không quá tiếc lời với khổ chủ, tên cướp đành nói tiếng cám ơn và bỏ đi.
Vài ngày sau, vị thiền sư được
tin là kẻ gian ác đã sa lưới pháp luật. Hắn nêu đích danh vị thiền sư là người
đã bị hắn uy hiếp. Thiền sư Shechery được mời ra tòa để làm chứng. Trước mặt mọi
người ông đã tuyên bố như sau: “Đối với riêng cá nhân tôi thì người này không
phải là tên cướp. Tôi đã cho anh ta tiền và anh ta đã mở miệng cám ơn
tôi."
Vì có quá nhiều tiền án tiền sử,
cho nên tên cướp đã bị tống giam. Sau khi mãn hạn tù, anh ta đã tìm đến với vị
thiền sư và xin làm đồ đệ của ông.
3. Đồ phế thải và người phế thải:
Abbé Pierre chuyên giúp những
người nghèo và vô gia cư để họ tự lực cánh sinh từ những vật dụng phế thải. Cha
kể lại câu chuyện sau đây:
“Có một cựu tù nhân sống lang
thang không nhà cửa nên thất vọng dùng dao cắt mạch máu của mình. Có người gọi
điện thoại cho Cha. Cha lập tức đến nơi. Cha không một lời an ủi nhưng nói với
ông ta như ra lệnh: “Anh đừng tự vẫn. Còn quá nhiều người kém may mắn cần sự
giúp đỡ của tôi. Tôi cũng đang bệnh và cần sự giúp đỡ của anh.” Nghe những lời
đó, đôi mắt lờ đờ của người đàn ông sáng lên và từ đó ông trở thành một trong
những cộng sự viên đắc lực nhất của cha.
4. Hoa trái của lòng bao dung
Sau khi thắng trận lớn, Sở Trang
Vương mở đại yến khao tướng sĩ để tưởng thưởng công lao và lòng trung thành.
Vua truyền cho các cung nữ của mình ra hầu tiệc. Đang ăn bỗng một trận gió làm
đèn đuốc tắt hết. Lợi dụng bóng tối, một quan đại phu ôm chầm lấy người đẹp
đang chuốc rượu cho mình và hôn. Người đẹp chính là nàng Hứa Cơ đang được nhà
vua sủng ái nhất. Hứa Cơ bèn giật đứt giải mũ của vị quan ấy và đem trình vua
xin ngài trừng trị đích đáng.
Thay vì phẫn nộ, vua ra lệnh cho
các quan đều bỏ giải mũ khi đèn sáng. Không ai hiểu tại sao ngoài ba người liên
quan. Sở Vương nói:
- Trong nguy biến, các quan đã
liều thân vì nước, khi vui say, các quan quên lễ phép một chút, có sao đâu? Lẽ
nào vì một chuyện nhỏ mà quên đi lòng hy sinh cao cả của người khác.
Hai năm sau, nước Sở đánh nhau với
nước Tần. Đánh luôn năm trận mà trận nào cũng có một viên quan võ liều chết
xông ra phía trước, đánh rất dũng cảm làm cho quân Tần phải lui binh. Nhờ vậy,
quân Sở đại thắng. Sở Trang Vương lấy làm lạ, bèn hỏi:
- Trẫm đãi khanh cũng như mọi
người khác, cớ sao khanh lại hết lòng giúp trẫm như vậy?
Võ quan trả lời:
- Thần rắp tâm đem tính mạng
dâng cho bệ hạ đã lâu, nhưng nay mới có dịp đáp đền nghĩa xưa. Thần đây chính
là người ngày xưa đã bị giật đứt giải mũ mà bệ hạ không nỡ hành tội.
Vâng! Tội lỗi thì ai mà chả có.
Có ai trong cõi đời này thích mang tội trong mình mãi đâu. Vấn đề là làm sao
cho người có tội tìm được cơ hội để đền được tội mình. Không phải Matthêô không
ý thức được mình là người có nhiều lỗi lầm làm cho nhiều người ghét bỏ. Rất may
là Matthêô đã gặp được Chúa.
5. Ta muốn lòng nhân
Hai lễ sinh cùng đánh rơi và làm
vỡ bình đựng rượu. Lễ sinh thứ nhất bị một bạt tai và thề không bao giờ trở lại
nhà thờ nữa. Đó là chủ tịch nước Nam Tư (cũ) J. Tito.
Lễ sinh thứ hai được đức cha chủ
tế gợi ý đi tu và trở thành tổng giám mục nổi tiếng của nước Mỹ Fulton Sheen.
Cùng phạm một lỗi lầm, nhưng
cách đối xử nhân hậu hay nghiêm khắc đã quyết định số phận cuộc đời của hai lễ
sinh. Đức Giêsu đã nhiều lần trích dẫn câu Kinh Thánh trong sách Hôsê 6,6 (x.
Mt 12,7) để khẳng định việc Thiên Chúa muốn con người có lòng nhân hậu khi ứng
xử với đồng loại, hơn cả việc dâng của lễ cho Ngài. Cũng có thể nói thêm rằng của
lễ đẹp lòng Thiên Chúa hơn cả là tâm tình nhân hậu của con người với nhau.
Có thể con tim bạn trở nên kém
nhạy cảm hơn khi chứng kiến quá nhiều đau khổ của đồng hương, đồng loại. Cũng
có thể bạn cảm thấy “lực bất tòng tâm” khi đứng trước vô vàn nỗi đau của người
lân cận, và vì vậy, không muốn góp một tay chia sẻ, đỡ nâng. Đức Giêsu mời gọi
bạn hôm nay thể hiện lòng nhân với tất cả những gì trong tầm tay của bạn: trái
tim bao dung, ánh mắt thông cảm, nụ cười an ủi, bàn tay liên đới và một cuộc sống
dấn thân.
6. Con cần đến Chúa
Cha Mark Link kể chuyện một cô
bé chơi trò “ú tim” với các bạn. Cô bé tìm một chỗ thật kín để trốn. Thế nhưng,
em chờ mãi, năm phút, rồi mười phút sau, chẳng thấy ai chạy tìm mình. Sau cùng,
em mới phát hiện ra các bạn đã bỏ chơi, dẫn nhau đi nơi khác.
Thấy em ngồi khóc, một người lớn
an ủi: “Cháu đã học được một bài học quý giá. Bài học đó giúp cháu hiểu được cảm
tưởng của Chúa khi chơi với loài người. Ngài chờ loài người đến tìm Ngài, nhưng
từ lâu con người đã nghỉ chơi, không còn tìm Ngài nữa.”
Chúa như vị lương y, tha thiết
kiếm tìm chúng ta, những kẻ tội lỗi, để chữa lành căn bệnh tội lỗi của ta, đưa
ta bước vào sự sống hạnh phúc muôn đời. Thế nhưng, thay vì đi tìm kiếm Chúa, ta
lại lẩn tránh Ngài, khi ta không chịu nhận ra mình là bệnh nhân cần thầy thuốc,
là tội nhân cần ơn Ngài cứu độ.
7. Răn bảo kẻ có tội
Tội lỗi có nhiều thứ loại, nhiều
cấp độ và cũng nhiều cách thế để đối xử với tội nhân. Với kẻ này, người ta
tránh né tiếp xúc, với người kia, họ bắt giam, cải tạo; có kẻ phải tù chung
thân hay bị lên án tử vì y là tên phản dân hại nước, nguy hiểm cho xã hội,
không đáng sống. Xem ra cách ly là biện pháp thông thường nhất.
Còn Chúa Giê-su với phương châm:
“Ta đến không phải để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi kẻ có tội,” Ngài gần
gũi tiếp xúc với tội nhân. Trong khi những người khác khinh bỉ, Ngài và các môn
đệ cùng ngồi ăn uống với những người tội lỗi và thu thuế. Hơn thế nữa, Ngài đã
kêu gọi làm môn đệ - rồi sau sẽ chọn làm tông đồ - một người thu thuế là Lê-vi,
ngay lúc ông ta đang làm nghề thu thuế trước mắt mọi người.
Mời Bạn: Cùng với Chúa Giê-su
yêu mến các tội nhân. Không kết án, xét đoán bất công. Nhớ câu “Thứ bốn răn bảo
kẻ có tội” (Kinh Thương người có mười bốn mối”).
8. Tình yêu tác sinh
Có một lần, khi sự nghiệp của ca
sĩ Willie Nelson hầu như hoàn toàn sụp đổ, thì một sự xoay chuyển chợt xuất hiện.
Willie nói về điều này trong cuộc phỏng vấn với Barbara Walters. Ông nói rằng sức
mạnh để đảo ngược mọi thứ xuất phát từ tình yêu của vợ ông. Trong cuộc phỏng vấn,
ông hát cho Barbara nghe bài hát ông viết tặng vợ vì tình yêu mà bà đã dành cho
ông. Bài hát mang tên: “Chẳng lẽ thiên thần đang bay quá gần”, trong đó có một
câu rất hay: “Tình yêu là thứ thuốc tuyệt diệu nhất mà ta có thể thấy được.”
Tình yêu có sức chữa lành đó cũng là tình yêu mà Rebecca mang đến cho Isaac sau
khi ông mất mẹ.
Tôi có được chữa lành bởi tình
yêu của một ai khác chưa? Tôi có chữa lành cho ai khác bằng tình yêu của tôi
bao giờ chưa?
Tình yêu là bóng dáng của Thiên
Chúa trong thế giới chúng ta.
9. Người khỏe không cần thầy thuốc
Nếu một người làm nghề lau cửa sổ
mà chỉ lau những chiếc cửa sạch, thì chắc hẳn anh ta là một thằng khùng. Thật
là buồn cười, nếu một dịch vụ giải trí chỉ phục vụ toàn những người giàu. Và
cũng là một trò đùa nếu một bệnh viện chỉ chữa toàn những người khỏe mạnh.
Đó là điều Chúa Giêsu muốn nói
trong Bài Tin Mừng hôm nay. Tại sao người ta ngạc nhiên khi thấy Ngài chăm sóc
những con người vô gia cư và tội lỗi? Vì vậy mà những người Biệt phái ngạc
nhiên cho thấy họ không làm điều mà những người lãnh đạo Do thái thực thụ phải
làm.
Ngày hôm nay, ai là kẻ vô gia cư
và tội lỗi mà Chúa Giêsu chăm sóc? Ở mức độ nào và như thế nào tôi đã để Ngài
thực hiện điều này qua trung gian của tôi?
Không làm gì cả là lỗi lớn nhất,
bởi vì bạn vẫn có thể làm một chút gì đó. Hãy làm những gì bạn có thể (Sydney
Smith).
10. Tagore và bệnh thành kiến
R. Tagore là một thi sĩ nổi tiếng
của Ấn độ và cả Đông phương nữa. Ông có khiếu làm thơ ngay lúc còn thơ ấu.
Một hôm, cậu bé Tagore làm một
bài thơ và đưa lên cho cha xem. Ông thân sinh lắc đầu chê:
- Thơ mày là thơ thẩn!
Tagore mới nghĩ ra một mưu: cậu
đem bài thơ của mình mới làm, chép lại thật kỹ và chua xuất xứ là trích sao
trong một cuốn thơ cổ. Cậu ta lại không quên đề tên cuốn thơ cổ ấy cẩn thận.
Lần này, ông thân sinh đọc xong,
mắt sáng rực lên, vỗ đùi khen: “Tuyệt, tuyệt." Rồi đem khoe tíu tít với đứa
con trai lớn của ông, hiện đang làm chủ nhiệm một tờ báo văn học. Ông nói:
- Ba đã đọc rất nhiều thơ cổ,
nhưng chưa thấy bài nào hay như bài này.
Ông con trai chủ nhiệm đọc xong
cũng hết mình đồng ý, xoa tay khen là hay đáo để, và muốn trích đăng lên mặt tờ
báo văn học của ông.
Bấy giờ ông anh cũng như ông
thân sinh đòi Tagore phải đưa cuốn thơ cổ kia ra đối chiếu chứng minh và cũng để
dễ bề chua xuất xứ trong khi đăng.
Đến đây câu truyện mới vỡ lở ra.
Có ai ngờ trên đây là một cuộc dàn cảnh bịa đặt của thằng bé Tagore! Ông thân
sinh giận sôi máu lên, nhưng rồi cũng phải nhìn con với cặp mắt thán phục và hối
hận cho thái độ mâu thuẫn của mình xưa nay. (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971,
tr. 333-335)
11. Những tài năng bị coi thường.
Nhiều người có tài năng cao vời
bị coi thường trước khi được chấp nhận. Chúng ta có thể đưa ra mấy trường hợp để
làm chứng:
- Giám mục Fulton Sheen, một nhà
thuyết giáo vĩ đại, đã từng bị giáo sư môn biện luận trường đại học chê: “Anh
đúng là diễn giả tồi nhất mà tôi từng gặp."
- Ernest Hemmingway, một tiểu
thuyết gia cự phách, đã từng bị các thầy giáo chê: “Hãy quên việc viết lách đi!
Anh không đủ tài để làm việc đó đâu."
- Richard Hooker, tác giả quyển
sách nhan đề “Mash”, đã từng thấy quyển sách của ông bị đến 6 nhà xuất bản từ
chối in để rồi cuối cùng quyển ấy đã trở thành một trong những quyển sách bán
chạy nhất.
Thành kiến đã làm cho dân làng
Nazareth phán đoán sai về Đức Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng Cứu thế.
Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm cho chúng ta mù quáng, không
nhận định và phê phán một cách khách quan đúng đắn được. Thành kiến làm cho
chúng ta không thể đối thoại , cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay
cái tốt nơi người khác. McKenzie nói: “Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng
kính, còn người ghen tị thì nhìn bằng kính hiển vi."
12. Chú chồn Pepe LePew.
Cách đây nhiều năm, các rạp chiếu
bóng thường chiếu phim hoạt hoạ. Có một bộ phim được nhiều người ưa thích tên
là Looney Tunes. Một vai được nhiều người hâm mộ trong phim là chú chồn lãng mạn
tên là Pepe LePew. Pepe luôn luôn yêu mến mọi người nhưng vì chú có mùi hôi, nên
mọi người đều từ chối tình thương của chú. Nhưng Pepe không nản lòng. Chú vẫn
tiếp tục yêu thương dù có bị từ chối nhiều lần. Pepe không bao giờ từ chối yêu
thương bất cứ một ai. Đó chính là lý do tại sao rất nhiều người coi phim này
càng quí mến Pepe. (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr 264).
Chúng ta thấy Đức Giêsu đã làm
gương cho chúng ta về tình yêu thương. Ngài không khước từ ai bao giờ. Ngài vẫn
tiếp tục yêu thương dù biết bao lần Ngài đã bị từ chối.
THỨ BẢY - Ăn chay đẹp lòng Chúa
Lời
Chúa: Mt 9, 14-17
Khi
ấy, Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô, các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi:
"Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của
Ngài lại không?"
Chúa
Giêsu nói với họ rằng: "Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi
tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ
chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và
chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng
vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da
mới, và cả hai được nguyên vẹn."
TRUYỆN KỂ
1. Ăn chay với tinh thần
Chúa Giêsu
(Lm
Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Người
Do Thái ăn chay bằng cách nhịn ăn từ sáng đến chiều. Tập tục ăn chay bằng cách
nhịn ăn từ rạng đông cho đến khi mặt trời lặn, ngày nay anh chị em Hồi giáo vẫn
tuân giữ trong suốt tháng Ramadan (tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập).
Trong
khi ấy, anh chị em Phật giáo lại ăn chay vào mồng một và ngày rằm (âm lịch), bằng
cách vẫn ăn no, nhưng kiêng không ăn thịt của bất cứ động vật nào, chỉ ăn thực
vật.
Ngày
xưa, người Công giáo cũng ăn chay giống như người Do Thái là nhịn ăn từ sáng
cho đến chiều. Ngày nay người Công giáo ăn chay một năm hai lần vào ngày thứ Tư
Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, và chỉ cần ăn ít đi vào buổi sáng và buổi chiều,
đồng thời kiêng thịt vào hai ngày đó.
Thánh
Tôma tiến sĩ đã giải thích ý nghĩa việc ăn chay:
Thứ
nhất: Để kiềm chế sự thèm muốn của xác thịt. Nhờ chay tịnh, sẽ giữ được sự
trong sạch. Trong Cựu ước cũng đề cập đến: “Sự thèm muốn bị kiềm chế lại bởi
kiêng rượu, thịt."
Thứ
hai: Nhờ vào sự chay tịnh để tâm hồn chúng ta gia tăng một cách tự do, hướng đến
sự chiêm niệm về những điều thiện hảo của thiên đàng. Tiên tri Đaniel cũng được
Thiên Chúa mạc khải sau khi ăn chay ba tuần lễ.
Thứ
ba: Ăn chay để đền bù cho những tội lỗi của mình: “Hãy đến với ta bằng cách
thay đổi hoàn toàn tâm hồn ngươi, trong chay tịnh và trong khóc lóc."
2. Ý nghĩa việc ăn chay
Có
một đan sĩ nọ, trong một phút yếu lòng, đã phạm một tội rất nặng. Thầy cảm thấy
hối hận sâu xa và quyết định bỏ ba năm để đền tội. Ngày kia, thầy đến hỏi Đức
Viện phụ:
-
Thưa cha, ba năm trời có đủ để khóc than và đền bù tội lỗi của con không?
-
Ba năm nhiều quá! Viện phụ đáp.
- Vậy
thưa cha, chỉ cần một năm thôi cũng đủ hay sao?
-
Cha nghĩ một năm cũng quá nhiều!
- Vậy
con nghĩ 40 ngày ăn chay đánh tội nhiệm nhặt là đủ rồi, hay cha vẫn thấy còn
quá nhiều?
Bấy
giờ Viện phụ mới kết luận: “Cha tin chắc rằng khi một người thành tâm thống hối
tội lỗi của mình đã phạm và quyết chí từ nay không tái phạm tội ấy nữa, thì chỉ
cần một ngày đau buồn đền tội và một ngày hôm sau, khi bình minh trở lại, người
ấy phải vui mừng đón nhận cuộc sống mới!”
Sự
trưởng thành thực sự mà con người có thể đạt được qua sự chay tịnh không chỉ là
thắng vượt được những dục vọng và đam mê thấp hèn của bản thân, mà chính là biết
xa lánh tội lỗi và đưa con người đến gần Chúa và tha nhân hơn.
3. Ăn chay để làm gì?
Người
Ai Cập ăn chay để được trẻ trung hơn.
Người
Hi Lạp ăn chay để tinh thần được nhanh nhẹn hơn.
Người
thổ dân Nam Mỹ ăn chay để bày tỏ lòng can đảm.
Người
vẽ tượng thánh ăn chay để vẽ cho đẹp hơn.
Người
Do Thái ăn chay để ăn năn tội, để thương tiếc kẻ chết, để xin Chúa đặc biệt trợ
giúp, để chuẩn bị đón Chúa đến.
Người
Kitô hữu không ăn chay vì những lý do trên, bởi Chúa đã đến rồi, nhưng ăn chay
để đón chờ Chúa lại đến, để Danh Chúa hiển sáng, Nước Chúa trị đến và ý Chúa được
thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Như
thế, ăn chay đối với người kitô hữu cũng có nghĩa là dấn thân cho một thế giới
mới, xây dựng một trật tự và một nếp sống mới trong những tương quan mới với
Chúa và anh em.
Xin
cho con biết chết đi cho tội lỗi, để sống lại với Chúa và cho Chúa (Hosanna).
4. Hạnh phúc cho thể
xác và tâm hồn
Sau
mấy ngày hội thảo đầy căng thẳng, hai nhà truyền giáo Theodore Cuyler và
Charles Spurgeon đi ra ngoài xả hơi. Họ chạy nhảy giữa cánh đồng như thể các học
sinh được nghỉ học, vui chơi thoả chí. Cuyler kể một câu chuyện vui làm
Spurgeon bật cười sảng khoái. Rồi thình lình ngài nói:
-
Này bạn Theodore, chúng ta hãy quì gối cám ơn Chúa đã ban cho chúng ta tiếng cười
vui vẻ vừa rồi.
Và
rồi cả hai nhà truyền giáo vĩ đại đó thản nhiên quì trên bãi cỏ xanh tươi cám
ơn Chúa trước quà tặng là tiếng cười đó.
Đâu
có gì mâu thuẫn giữa cầu nguyện và cười vui? Vì một đàng là biểu hiện của sức
khoẻ tâm linh, một đàng là của sức khoẻ thể xác. (Góp nhặt).
5. Chọn lựa là thay đổi
Từ
1/1995 Việt Nam bắt đầu nộp đơn gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đến
khi được chính thức kết nạp vào cuối năm 2006, đã diễn rất nhiều cuộc đàm phán
gắt gao. Một thị trường lớn, một cuộc canh tranh lớn đòi hỏi các quốc gia thành
viên phải thay đổi luật lệ và cung cách cho phù hợp, không có chọn lựa nào
khác. Lời Chúa đề cập đến một cuộc gia nhập khác, gia nhập vào Ngài, gắn kết
như cành gắn liền vào thân cây. Sự gia nhập này đòi hỏi mọi tín hữu triệt để
thay đổi đời sống như bầu da cũ phải bị thay bỏ nhường chỗ cho bầu da mới, cuộc
canh tân của Chúa Giê-su. Thay vì giữ luật vụ hình thức hay theo thói quen, nay
Ki-tô hữu được mời gọi sống theo Thần Khí, với Lề Luật được ghi trong trái tim,
biết làm những việc phải làm do đòi hỏi của tình yêu đối với Đức Ki-tô. Một
tinh thần mới, lối sống mới theo Thần Khí mới có thể giúp Ki-tô hữu sống đúng
tư cách Dân mới của Thiên Chúa.
Một
số Ki-tô hữu có lối sống xa lạ với Tin Mừng khiến nhiều người không nhận biết
Chúa. Lối sống của bạn có gây trở ngại cho ai tìm hiểu Chúa không? Lối sống ấy
có diễn tả tình yêu của bạn với Chúa không?
6. Rượu mới thì bầu da
phải mới
“Rượu
mới bầu da mới” đã thành một qui luật tồn tại. Qua mọi thời, Giáo Hội vẫn luôn
đi tìm những hình thức mới chuyển tải sứ điệp Phúc Âm để người đương thời có thể
tiếp nhận được. Cũng trong ý hướng đó mà vào ngày 25/01/1959, khi được bầu làm
Giáo Hoàng mới chỉ có ba tháng, đức chân phước Gioan XXIII đã triệu tập công
nghị giáo phận Rôma, rồi công đồng chung của Giáo Hội toàn cầu và canh tân giáo
luật. Ngài muốn cập nhật (aggiornamento) đời sống Giáo Hội cho thích hợp với một
thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Đây cũng chính là ý hướng chủ đạo của công
đồng chung Vatican II mà chúng ta sắp cử hành kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc.
Cuộc
sống chung quanh ta đang diễn ra với những thay đổi sâu rộng và nhanh chóng:
làm ăn, mua sắm học hành, vui chơi, xây cất… Cần tìm ra những cách sống đạo,
làm việc tông đồ, sinh hoạt đoàn thể phù hợp với hoàn cảnh mới, bằng không có
nguy cơ xơ cứng, xói mòn, lạc hậu, không hiệu quả.
7. Sống thử
VnExpress
20-4-2007 có bài phóng sự “‘Sống Thử’, Phim Sex Tấn Công Học Đường,” cho thấy
cuộc sống hiện nay của giới trẻ và sinh viên có nhiều điều đáng lo ngại: tình
yêu thực dụng, nam nữ sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân một cách bừa
bãi vô trách nhiệm, bất cần tương lai… Bài báo công bố một kết quả điều tra khiến
các phụ huynh và các nhà giáo dục phải ‘lạnh gáy’: 70% sinh viên không phản đối
việc quan hệ tình dục trước hôn nhân! Chắc chắn đây một phần là do ảnh hưởng
các trào lưu phóng túng từ bên ngoài trong thời buổi hội nhập vào thế giới;
song một phần cũng do nhiều bạn trẻ thiếu nền tảng đạo đức từ trong gia đình, để
rồi thay vì hội nhập một cách có suy xét vào khung cảnh mới thì họ lại hoà tan
cách hoàn toàn buông xuôi, như những con thiêu thân lao mình vào lửa. Giới trẻ
và sinh viên Kitô hữu phải làm gì đây để “rượu mới” là các giá trị Tin Mừng được
thấm nhập vào môi trường sống và học tập của mình?
Mời
Bạn: Chắc chắn trước hết chính chúng ta phải trở thành những ‘bầu da mới” chứa
đầy chất Tin Mừng, bằng cách sống có đạo đức, có lý tưởng, có trách nhiệm đối với
gia đình, xã hội và Giáo Hội.
8. Luật được đặt ra để
sống hạnh phúc
Nếu
tôi không chịu hít thở, không khí cũng chẳng trừng phạt tôi bằng cách làm cho
tôi nghẹt thở. Chính tôi tự làm điều đó khi không chịu hít thở. Nếu tôi đấm nắm
tay vào tường gạch, bức tường chẳng trừng phạt tôi bằng cách làm cho tay tôi
đau đớn và chảy máu. Chính tôi tự làm điều đó khi vi phạm trật tự thiên nhiên
đã được ấn định. Trong một nghĩa nào đó, điều này cho tôi thấy tội lỗi và hình
phạt gắn bó với nhau như hai mặt của một đồng tiền. Chỉ chọn một mặt tức là đã
chọn cả mặt kia.
Tôi
có nhớ đã bao giờ tôi gây đau khổ cho chính mình và cho người khác bằng cách
không làm những điều đúng đắn chưa?
Chúng
ta không thể phá vỡ luật pháp của Chúa, nhưng có thể hủy hoại chính mình khi chống
lại luật pháp đó (A. Maude Royden).
9. Giữ luật theo thói
quen
Một
phụ nữ cắt bỏ một lát thịt khỏi miếng dăm bông trước khi đem nướng. Chồng bà ta
liền hỏi: “Tại sao em làm như thế?” Bà trả lời: “Em cũng không biết nữa, mẹ em
vẫn thường làm như vậy.” Lần sau, khi gặp mẹ, bà ta liền hỏi, và người mẹ cũng
trả lời: “Mẹ làm như thế, bởi vì miếng dăm bông của hàng thịt luôn dài hơn một
phân so với đồ nướng của mẹ.”
Vào
thời Chúa Giêsu, người ta ăn chay để chuẩn bị cho việc Đấng Mêsia đến. Nhưng
bây giờ Đấng Mêsia đã đến. Tiếp tục ăn chay cũng vô nghĩa như cắt bỏ một phần
miếng dăm bông khi đồ để nướng đã sẵn sàng.
Tôi
có duy trì những thực hành đạo đức một cách vô ý thức không?
Thực
hành mà không suy nghĩ là mù quáng. Suy nghĩ mà không thực hành là rỗng tuếch.
(Kwame Nkrumah)
Lễ kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ -
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành
Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai?” Các
ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo
là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó." Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần
các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con
Thiên Chúa hằng sống."
Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon
con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho
con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là
Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng
được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất,
trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở."
TRUYỆN KỂ
1. Hai đá tảng và trụ cột của Giáo hội--Lm. Nguyễn
Vinh Sơn SCJ
Trong mọi công trình xây dựng, các
chuyên gia đều chú trọng đến nền móng và trụ cột nâng đỡ toàn bộ kiến trúc của
công trình.
Trong ngôi nhà Giáo hội cũng vậy,
chúng ta là những viên gạch để xây dựng lên và đã được Thiên Chúa kiến thiết với
nền móng vững chắc từ “đá tảng niềm tin Phêrô và cột trụ bền vững nhiệt thành
Phaolô." Hai vị được nhìn nhận như là nền móng và trụ cột của công trình
Giáo hội Chúa giữa trần gian. Trong kinh tiền tụng lễ hai thánh Phêrô và
Phaolô, Giáo hội đã long trọng tuyên bố: ”Thánh Phêrô là người đầu tiên tuyên
xưng đức tin, thánh Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin, thánh Phêrô thiết lập
Hội Thánh tiên khởi cho người Israel, thánh Phaolô là thầy giảng dạy muôn
dân."
Thánh Phêrô lúc đầu có tên là Simon,
làm nghề đánh cá và đã có gia đình. Ngài được Chúa Giêsu gọi đi theo Người
trong một lần đánh cá ở trên biển. Ngài đã đại diện các môn đệ tuyên xưng Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Mt 16, 16) được Chúa đặt đứng đầu nhóm Mười Hai.
Ngài là một trong bốn môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu (x. Mt 4, 18-22) được tham
dự hầu hết những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa... Trong
những lúc khó khăn nguy khốn, vì yếu lòng tin ngài đã chối Chúa ba lần nhưng đã
quay trở lại và làm cho đức tin của Giáo hội phát triển mạnh tại Giêrusalem,
sau khi Chúa về trời. Ngài tử đạo khoảng năm 64-67.
Thánh Phaolô, trước đây là một biệt phái,
sau khi bị Chúa làm cho ngã ngựa và làm mù lòa trên đường Đamas khi đang bách hại
đạo Chúa. Ngài đã được Chúa chọn làm tông đồ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.
Ngài thành lập nhiều cộng đoàn cũng như viết thư thăm hỏi, giải quyết những vấn
đề của cộng đoàn mà ngài không thể tới được. Ngài tử đạo năm 67 tại Rôma.
Noi gương hai thánh tông đồ, chúng
ta gắn kết cuộc đời mình với Đức Kitô để kín múc nơi Người nguồn sức mạnh tình
yêu, hầu chia sẻ cho mọi người và sống chứng nhân Tin Mừng.
2. Hình ảnh Chúa Kitô
Ngày kia, hoàng đế của một vương quốc
lớn đã mời gọi các nghệ sĩ từ nhiều nước đến dự cuộc thi “mô tả chân dung hoàng
đế." Các nghệ sĩ Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các thứ đá hoa kim cương
quí nhất. Các nghệ sĩ Ai cập thì mang đến đủ thứ đồ nghề và một khối cẩm thạch
hảo hạng. Sau cùng người ta rất nhạc nhiên khi thấy phái đoàn Hy Lạp chỉ mang vỏn
vẹn một gói thuốc đánh bóng.
Mỗi phái đoàn dự thi trong một căn
phòng đặc biệt của cung điện. Khi thời gian đã hết, hoàng đế cho trưng bày các
tác phẩm tranh giải. Ông hết sức khen các bức chân dung của chính mình do các
nghệ sĩ Ấn Độ và Ai cập tạc nên. Sau cùng đến phòng trưng bày của người Hy Lạp,
hoàng đế chỉ thấy duy nhất một bức tường đã được đánh bóng đến độ khi hoàng đế
nhìn vào ông thấy khuôn mặt của mình hiện ra từng nét. Và phái đoàn Hy Lạp đã
đoạt giải nhất trong cuộc thi đó.
Sứ mệnh căn bản của mỗi Kitô hữu là
hoạ lại dung nhan của Đức Kitô nơi cuộc sống và tâm hồn của mình. Để đạt được
điều đó, chúng ta phải đục đẽo, phải loại bỏ tất cả những gì là gồ ghề, thô
nháp, những thói hư tật xấu và phải cầu xin để có một đức tin vững mạnh.
Lạy Chúa, xin cho con biết kiên nhẫn
đục đẽo tâm hồn và cuộc sống con để dung nhan Ngài giãi sáng qua mọi hành vi của
đời sống con.
3. Tác phẩm của tình yêu
Nhà điêu khắc Dannecker người Đức,
đã để nhiều công khó trong công tác tạc một bức tượng của Chúa Giêsu bằng cẩm
thạch. Trong hai năm đầu, bức tượng đã xong, nhà điêu khắc mời một em bé vào
phòng vẽ của mình và hỏi em bé rằng:
- Ai đó?
Em bé tức khắc trả lời:
- Một vĩ nhân.
Nhà điêu khắc buồn và nghĩ rằng,
công khó của mình trong hai năm kể như đã hỏng. Ông tiếp tục tạc lại trong sáu
năm nữa và mời một em bé khác vào phòng vẽ và hỏi:
- Em biết bức tượng này là ai không?
Sau khi nhìn bức tượng một lúc, yên
lặng và nước mắt tràn ra đôi mi, em khẽ nói:
- Hỡi những con trẻ đau khổ hãy đến
cùng ta!
Nhà điêu khắc thoả mãn, thành công về
tác phẩm của mình. Nhà điêu khắc Dannecker sau đó đã tuyên bố:
- Tôi đã thấy Chúa Cứu Thế Giêsu và
hình ảnh của Ngài đã thể hiện trong khi tôi tạc bức tượng Ngài bằng cẩm thạch
này.
Sau đó ít lâu, hoàng đế Napoléon
Bonaparte yêu cầu nhà điêu khắc tạc cho hoàng đế bức tượng nữ thần Vệ Nữ để
trưng bày trong viện bảo tàng Louvre, Paris. Hoàng đế hứa sẽ trả cho ông một
món tiền rất lớn, nhưng Dannecker từ chối. Ông nói rằng: “Một người đã thấy Đấng
Kitô và đã tạc vẽ mặt của Ngài rồi, thì không thể dùng nghệ thuật của mình vào
những việc ở đời này được nữa, bởi vì làm như thế là tục hoá nghệ thuật của
mình mất rồi."
4. “Ngục thất nơi giam hai thánh Phêrô và Phaolô: Từ
tăm tối trở thành ánh sáng."
Sau một năm trời khai quật, Nhà ngục
Mamertine, nơi Thánh Phêrô và Phaolô phải giam giữ trước khi bị hành hình, đã
được tân trang và mở cửa lại.
Địa điểm nhà ngục nằm cạnh Quần thể
Cổ Roma (Ancient Roman Forum), tạc sâu vào vách đá của đồi Capitol (Capitoline
Hill) và nhìn xuống ngôi nhà dùng làm Nghị viện thời đó. Người ta vẫn tin là
nhà ngục này – còn có tên gọi là Carcer Tullianum – được hoàng đế Roma Servius
Tullius xây vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, gồm có hai phòng giam chồng lên
nhau. Phòng giam dưới là một khoảng chật hẹp ẩm thấp, chỉ xuống được qua một lỗ
hổng trên sàn phòng giam trên, được sử dụng suốt thời kỳ Cộng hoà và Đế quốc
Roma để làm tù ngục giam giữ và hành quyết.
Chính tại phòng giam này viên tướng
chỉ huy quân đội người Gaule là Vercingetorix bị xiết cổ chết sau trận chiến thắng
của Julius Caesar, và cũng tại nơi đây, trong tù ngục âm u, Jugurtha, vua người
Numidians đã bị để cho chết đói. Vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, Sallust
một văn sĩ Roma đã mô tả nhà ngục này “sâu 12 feet, chung quang là tường và
trên là mái vòm bằng đá. Khung cảnh thật ghê tởm và đáng sợ vì bị bỏ bê, tối
tăm và hôi thối.”
Một thế kỷ sau lời mô tả như trên của
Sallust, Thánh Phêrô và Phaolô đã phải đến cư ngụ trong phòng giam dưới cực kỳ
ghê tởm này, trong những ngày cuối đời trước khi tử vì đạo, bị cầm tù theo lệnh
của hoàng đế Nero. Sự hiện diện của hai vị tông đồ đã chuyển biến địa điểm thất
vọng này thành nơi chỗ hy vọng, khi các ngài rao giảng đức tin cho lính canh ngục
là Processus và Martinianus. Hai người lính Roma xin được rửa tội, nhưng không
có nước trong phòng giam để cử hành bí tích này, vì thế Thánh Phêrô dùng gậy đập
trên nền phòng và nước phun ra từ tảng đá. Địa điểm nơi dòng nước của phép lạ
này chảy ra nay còn được ghi nhớ nơi phòng giam dưới.
Những người giam giữ Phêrô giúp ông
vượt ra khỏi nhà ngục tồi tệ này, nhưng sau khi gặp được Chúa Kitô trên con đường
Appian, Thánh Phêrô quay trở lại và tự ý nhận lấy cái chết là bị đóng đinh vào thập
giá tại đấu trường của Nero trên đồi Vatican.
Tuần qua, văn phòng của vị giám sát
khảo cổ tại Roma loan báo rằng công việc khai quật đã khám phá ra những phần
còn lại của các bích họa cho biết việc chuyển đổi nơi này thành một không gian
tôn kính của người Kitô giáo đã xảy ra ngay tận đầu thế kỷ thứ 7, cùng thời
gian với việc Curia (Nghị viện) được biến đổi thành một thánh đường cũng như
nhiều cấu trúc khác trong khu vực Quần thể. Cuộc khai quật dõi tìm được dấu vết
nhiều giai đoạn khác nhau của khu vực này, từ lúc còn là khu mỏ đá cổ cho đến
khi trở thành nhà ngục cho đến lúc “biến đổi rất nhanh”thành một trung tâm tôn
kính Thánh Phêrô.
Ngày nay, ngục giam này nằm dưới
ngôi Thánh đường San Giuseppe dei Falegnami xây vào thế kỷ 17, nhưng địa điểm
là do Tòa giám quản giáo phận Roma sở hữu và sẽ được Opera Romana Pellegrinaggi
mở cửa cho công chúng vào thăm viếng có thể là từ đầu tháng 7 này. Ở đó khách
hành hương có cơ hội tỏ lòng tôn kính hai thánh Phêrô và Phaolô. Hai thánh nhân
đã từng nhìn ra ngoài Quần thể nơi có nhiều đền đài thờ phượng những con người
phàm đã biến thành thần nhân, và các ngài đã có dũng cảm tuyên xưng Tin Mừng của
Thần Chúa đã sinh hạ làm người phàm. (x.VietCatholic News, 03-7-2010).
5. Phêrô và Phaolô, tượng đài hiệp nhất.
Giáo hội mừng kính hai thánh Tông đồ,
hai cột trụ Giáo hội cùng chung một ngày. Hai con ngưòi khác nhau từ cá tính đến
thân thế nhưng cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô, cùng chung một niềm tin vào
Chúa Kitô, chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó và cuối đời cùng chịu tử đạo vì
Chúa Kitô tại Roma. Cùng chia sẽ một niềm tin, cùng thi hành một sứ mạng, Chúa
Kitô đã đã đưa hai Ngài đến một cùng đích, một vinh quang đội triều thiên khải
hoàn. Hai con người khác biệt ấy laị có những điểm tương đồng lạ lùng.Chúa Kitô
đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người. Thánh
Phêrô, trước đây hèn nhát, sợ hãi, chối Chúa, về sau yêu Chúa nồng nàn thiết
tha. Thánh Phaolô, trước kia ghét Chúa thậm tệ, sau này yêu Chúa trên hết mọi sự.
Trước kia hai vị rất khác biệt, bây giờ cả hai nên một trong tình yêu Chúa.
Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa
Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất
trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một
đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi
theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong
đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng
trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo
hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng
đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình được xây dựng
với nhiều nổ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. “Khác
nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó
là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội (x. Làm nụ hoa
trắng. ĐGM Vũ Duy Thống).
6. Là người tội lỗi được Chúa nhìn đến.
Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô,
hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ trở
nên nền tảng hiệp nhất. Hai ngài trở thành chói sáng như hai vì sao trong vòm
trời Giáo Hội, đáng được các tín hữu chiêm ngắm noi theo. Hai ngài đã biết
khiêm tốn, nhận mình là thấp hèn tội lỗi rồi mở tâm hồn ra đón nhận tình thương
của Thiên Chúa.
Khi trả lời câu phỏng vấn: “Jorge
Bergoglio là ai?”, Đức Thánh cha Phanxicô đáp: “Tôi là người tội lỗi được Chúa
nhìn đến." Và ngài tuyên bố: “Chính tôi là người tội lỗi đây, có gì lạ
đâu! Cái lạ là ở chỗ được Chúa nhìn đến, được Chúa xót thương. Và từ đó người
ta tìm xem Chúa xót thương ở chỗ nào."
Xin hai Thánh Tông Đồ giúp chúng con
luôn biết tín thác vào tình thương của Chúa. luôn biết tiến bước theo các ngài
trên con đường theo Chúa. Amen.
7. Đứng dậy
nhờ ơn Chúa--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Trong buổi trò chuyện, diễn thuyết tối
22/05 tại White Palace (Tp. HCM), Nick Vujicic đã cho mọi người thấy rằng, người
bị khuyết tật nghĩa là họ khiếm khuyết điều gì đó, nhưng người mang nỗi tự ti mới
là người bị khuyết tật thực sự.
Nick đã nói: “Dù ai đó không phải ngồi
trên xe lăn nhưng bạn vẫn phải trải qua những thời điểm khó khăn trong cuộc sống.
Nếu lúc đó bạn thiếu tự tin, bạn sợ thất bại, sợ nhìn về tương lai thì chính điều
đó sẽ níu kéo bạn, khiến bạn không thể tiến lên."
Nick còn nói thêm: “Khi tôi 10 tuổi,
tôi gần như muốn buông xuôi, tôi muốn đầu hàng và nghĩ không bao giờ có công việc,
có thể cưới vợ, lập gia đình. Nhưng bây giờ tôi không chỉ lấy vợ, lập gia đình
mà còn có đứa con trai.
Quả thực, con người luôn có những
khuyết tật. Có người bị khuyết tật điều này, người điều kia. Không ai hoàn hảo
về thể xác hay về tâm hồn. Tuy nhiên, có người biết bổ túc cho khuyết tật của
mình bằng nghị lực, bằng phấn đấu, bằng niềm tin vươn lên. Nhưng cũng có người
buông xuôi, than trách cho số phận và để mặc cho dòng đời đưa đẩy.
Nick không phải là một thiên tài.
Nick là một nhân vật điển hình cho bao người biết phấn đấu vươn lên để bổ túc
cho khuyết tật của mình. Anh không có chân tay nhưng anh vẫn lạc quan phấn đấu
vươn lên, nhất là biết dùng môi miệng mình để diễn thuyết, để rao giảng về
Thiên Chúa.
8. "ST" nghĩa là sự thánh thiện
Người ta kể rằng: tại một vùng miền
quê nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói khổ, nghèo nàn đã trở thành kẻ
"bần cùng sinh đạo tặc." Họ rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong
vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc
lên trán tội nhân hai mẫu tự "ST", có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt
từ chữ stealer).
Không chịu nổi sự nhục nhã này, người
anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống để mong chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng,
anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai
chữ "ST" đáng nguyền rủa này.
Còn người em, anh tự nói với bản
thân mình: "Tôi cần phải lấy lại lòng tin của những người xung quanh và của
chính tôi." Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh
đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu.
Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Anh lao động bằng
đôi tay của mình. Anh dành một phần hoa lợi để giúp đỡ người nghèo. Anh sống
chan hoà tình yêu thương với mọi cư dân trong vùng. Tuy nhiên, cho dẫu thời
gian có qua đi, hai mẫu tự "ST" vẫn còn in dấu trên vầng trán anh.
Nhưng chẳng mấy ai để ý đến ý nghĩa hai chữ ST trên vầng trán của anh.
Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một
cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ một hồi rồi trả lời:
"Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc
sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là người thánh thiện
(saint)."
Hôm nay lễ kính thánh Phêrô và
Phaolô, các ngài trở thành thánh nhân cao cả là nhờ biết khép lại quá khứ để chỉ
lo tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong hiện tại và suốt cuộc đời.
9. Ngài Là Cha Tôi--‘Lẽ Sống’--R. Veritas
Truyện cổ Roma thường ghi lại các cuộc
chiến thắng khải hoàn của các vị Hoàng đế. Sau một lần thắng trận, các vị hoàng
đế thường hướng dẫn các đoàn quân tiến qua các ngã phố cho dân chúng tung hô.
Lần kia, các đường phố đều đông nghẹt.
Người ta phải dựng một khán đài đặc biệt để hoàng gia có thể theo dõi cuộc diễu
hành. Khi hoàng đế và quân đội tiến đến gần khán đài nơi hoàng hậu và các công
chúa, hoàng tử đang chờ đợi, người ta kinh ngạc vô cùng vì vị hoàng tử nhỏ nhất
đã rời khỏi khán đài và chạy vụt đến chiến xa của hoàng đế.
Những người vệ binh có trách nhiệm
giữ an ninh hai bên đường đã chận hoàng tử lại. Họ giải thích cho cậu biết rằng:
xa giá đang tiến lại gần chính là xa giá của hoàng đế. Không ai được phép đến gần...
Vị hoàng tử nhỏ điềm nhiên trả lời: "Ngài là hoàng đế của các ông, còn đối
với tôi thì ngài là cha tôi."
"Ngài là cha tôi": đó phải
là danh xưng mà chúng ta có quyền sử dụng để gọi Thiên Chúa. Ðó cũng là danh
xưng nói lên mối liên hệ mật thiết mà Thiên Chúa luôn muốn thắt chặt với từng
người trong chúng ta.
"Ngài là cha tôi": danh
xưng ấy cũng cho phép chúng ta khẳng định về giá trị của con người chúng ta. Dù
chúng ta có bất tài, yếu hèn, tội lỗi đến đâu, chúng ta vẫn có thể gọi Chúa là
Cha.
10. Con có yêu mến Thầy không?
Nơi bệnh viện mà nữ tu Antoinette
đang phục vụ có một ông lính già cực kỳ khó tính. Gặp ai ông cũng nhăn nhó, nạt
nộ. Có chuyện gì trái ý, ông la lối rùm beng lên.
Ngày kia, đang mải mê phục vụ, nữ tu
Antoinette nghe tiếng "lính già khó tính" hét lớn: Đem cho tôi một quả
trứng luộc." Antoinette vui vẻ đem quả trứng đến cho ông.
- Trứng chưa chín đủ mà cũng đem tới
à? Lính già khó tính nhăn nhó. Antoinette tươi cười đem trứng đi luộc lại.
- Trứng gì mà luộc chín quá vậy? Vô
ý vô tứ quá!
Antoinette chẳng biết làm sao. Chị
bèn đi lấy một cái bếp lò đến kê bên giường và trao cho ông lính già khó tính một
cái trứng để luộc cho vừa ý ông. Ông lính già thấy thế nổi máu nóng lên, đạp đổ
bếp lò, quẳng quả trứng xuống nền gạch, miệng quát lớn: "Cô không biết tôi
là bệnh nhân sao? Bệnh nhân mà đi luộc trứng à?"
Nữ tu Antoinette chẳng nói nửa lời,
thinh lặng cúi xuống thu nhặt, quét dọn ... Lát sau, chi đem đến cho ông lính
già khó tính một cái trứng khác: "Ông cố gắng dùng thử cái trứng này, tôi
luộc vừa chín thôi?" Bất giác, ông lính già rùng mình cảm động, nói lí nhí
trong miệng: "Tôi ăn quả trứng này cũng là ăn lòng tốt của cô nữa."
Tình yêu có sức biến đổi lạ lùng hơn
bất cứ một biến đổi ngoạn mục nào, nhất là nó có khả năng biến đổi cả lòng người
nữa.Ước gì chúng ta biết noi gương theo Thầy Chí Thánh Giêsu luôn nhìn thấy những
điều tốt đẹp nơi con người và luôn hy vọng vào những người đang lầm lạc trong
cuộc đời này để dùng tình yêu mà cảm hoá họ.
Xin cho chúng ta luôn biết nhẫn nại
và quảng đại với những sai lỗi của con người và luôn coi họ hành động sai lầm
vì họ không biết và ngây ngô mà thôi. Chắc chắn rằng khi chúng ta biết hành động
yêu thương như Chúa, như nữ tu Antoinette, chúng ta sẽ trở thành những tông đồ
"trụ cột" như hai thánh Phêrô và Phaolô mà chúng ta mùng kính hôm
nay.
11. Ách êm ái và gánh nhẹ nhàng
Ngày kia, chị thánh Têrêxa đố các chị
em trong dòng:
- Các chị có biết ngày lễ vui mừng của
em là ngày nào không?
Vừa hỏi xong, chị thánh đã mau mắn
trả lời ngay:
- Đó là ngày Chúa thử thách em nhiều
nhất. Đó là ngày Chúa để cho em chịu nhiều đau khổ nhất.
Một hôm kia, bà bề trên hỏi chị:
- Sáng nay, sao em vui thế?
Chị thành thật thưa lại:
- Dạ, con vừa làm được hai việc hy
sinh.
Chị thánh Têrêxa thú nhận là chị đã
tập được một thói quen rất anh hùng, đó là luôn mỉm cười. Chị nói:
- Tôi đã tập được thói quen mỉm cười
trong mọi lúc, trong mọi nơi, trong mọi trường hợp, trong mọi hoàn cảnh.
Tình yêu chân thật được đo lường bằng
sự quên mình vì người khác. Chúa Giêsu đã dạy: “Không có tình thương nào cao cả
hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)
Được thúc đẩy bởi tình yêu, sau khi
bị đánh đòn vì Chúa Giêsu, “các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan
bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su.” (Cv 5,41); riêng
thánh Phaolô: “Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị
đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa
biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao
nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm
vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm
do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức
đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.” (2Cr
11,24-27)
Tình yêu là lý do của việc sẵn lòng
chịu đau khổ của ngài: “Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của
tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không
cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?”
(2Cr 11,28-29)
Niềm vui và bình an là hoa trái của
một tình yêu chân thật. Sức mạnh của tình yêu là ở đó; hạnh phúc do tình yêu
mang lại là ở đó; thiên đường cũng ở đó!
12. Các con bảo Thầy là ai
Trước khi trở lại đạo, Genesius, vị
thánh quan thầy của giới tài tử sân khấu, là một kịch sĩ nổi tiếng có nhiều ác
cảm với đạo. Một phần ghét đạo, một phần lại sống trong thời của vị hoàng đế bắt
đạo Diocletianus, nên anh định viết một vở hài kịch chế diễu các nghi lễ Kitô
giáo. Để viết kịch, anh phải giả làm dự tòng đến một giáo đoàn ở Rôma để xin học
đạo, định bụng là sau khi biết đủ những gì cần biết, anh sẽ viết một vở kịch chế
diễu phép rửa tội.
Nhưng khi nói với các diễn viên về
phép rửa trong lúc tập kịch, tự nhiên Genesius lại thấy mình muốn tin và ước ao
chịu phép rửa. Lòng ao ước đó cứ lớn dần lên trong anh, cho đến hôm lần đầu diễn
vở kịch cho hoàng đế và quần thần xem, thì Thánh Thần tác động lên anh, anh
không đóng kịch nữa mà kêu lên từ đáy lòng: “Hỡi các bạn hề của tôi, tôi ao ước
được trở nên một Kitô hữu.”
Các bạn diễn hỏi tại sao thì anh
nói: “Suốt đời tôi chỉ là phù du, nay tôi đã tìm thấy Thiên Chúa.” Mọi người, kể
cả hoàng đế rũ ra mà cười, nghĩ rằng Genesius nhập vai rất hay. Hai kịch sĩ bước
vào, một đóng vai linh mục, một phù thủy. Khi họ hỏi anh muốn gì, anh lập lại ước
muốn được rửa tội. Hai kịch sĩ đó rửa tội cho anh đúng như anh chỉ cho họ.
Rồi Genesius nói với hoàng đế, binh
lính và dân chúng: “Tôi viết và đóng kịch để chế diễu (…) nhưng nay tôi đã tin
và khi tôi nói những lời này, tôi thấy thiên thần của Chúa ở quanh tôi. Các
thiên thần cho tôi biết nước rửa tội đã rửa tôi sạch hết mọi tội lỗi cũng như các
sự dữ tôi đã làm. (…)
“Hỡi hoàng đế, hãy tin vào những mầu
nhiệm này! Tôi sẽ dạy cho ngài và ngài sẽ biết Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật.”
Lời Genesius làm đám đông nhốn nháo
cả lên, hoàng đế cho trói anh lại mà đánh đòn và xẻo thịt anh. Dù phải đau đớn,
anh vẫn tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa. Khi hoàng đế ra lệnh chém đầu, anh kêu
to: “Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và chúng ta sẽ có sự sống nhờ danh Ngài.”
Chúa hỏi các tông đồ: “Các con bảo
Thầy là ai?” vì nhận biết Chúa là điều cốt yếu trong niềm tin Kitô, để được sự
sống đời đời.
13. Vì Chúa và hội Thánh
Có người hỏi Đức ông Polgallo:
- Là người thân cận của Đức Giáo
Hoàng Phaolô VI, vậy điều gì nơi Đức Thánh Cha đánh động Đức ông nhất?
- Dĩ nhiên ngài là vị Giáo Hoàng rất
thông minh và thánh thiện. Nhưng với cá nhân tôi, điều ngài làm tôi cảm kích
hơn cả là lòng yêu mến Hội Thánh. Trong các chuyến tông du, ngài hòa mình vào
đám đông và để mọi người lôi kéo như quên mọi hiểm nguy có thể xảy đến. Những
lúc thân mật chúng tôi thưa với ngài: “Thưa Đức Thánh Cha, chúng con thấy Đức
Thánh Cha đã vất vả với công việc lại còn tự đặt mình vào nhiều hoàn cảnh có thể
nguy hiểm đến tính mạng. Xin Đức Thánh Cha đừng để đám đông lôi kéo như thế vì
rất nguy hiểm.”
Mỗi lần nghe chúng tôi góp ý như vậy,
ngài chỉ cười và dịu dàng nói:
- Tất cả vì Hội Thánh! Tất cả vì Hội
Thánh!
Thánh Phêrô và Phaolô là mẫu gương
“vì Chúa và vì Hội Thánh” cho các Kitô hữu thuộc mọi thời đại. Kinh tiền tụng
thánh lễ hôm nay Giáo Hội đã ca tụng: “Các ngài đã dùng đường lối khác biệt để
quy tụ một gia đình duy nhất cho Đức Kitô, nên các ngài đáng được thế giới ngưỡng
mộ và được lãnh nhận cùng một triều thiên vinh quang.”
Lễ kính thánh
TÔMA, TÔNG ĐỒ – Con đường theo Chúa
Lời Chúa: Ga 20, 24-29
Bấy giờ trong Mười Hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là
Điđymô, không ở cùng với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã
nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa." Nhưng ông đã nói với các
ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc
ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi
không tin."
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà, và
có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng
giữa mà phán: “Bình an cho các con." Đoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón
tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy;
chớ cứng lòng, nhưng hãy tin." Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên
Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã thấy Thầy nên con đã
tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin."
TRUYỆN KỂ
1. Tình yêu hỗ trợ cho niềm tin.
Một cuộc đối thoại giữa hai người yêu nhau:
- Em có bằng lòng lấy anh không?
- Bằng lòng.
- Chúng ta chỉ mới quen nhau mấy tháng. Em chỉ nghe
anh nói thôi chứ chưa có dịp “kiểm tra” lý lịch và quá khứ của anh. Sao em tin
anh thế?
- Vì em yêu anh!
Tình yêu hỗ trợ cho niềm tin.
2. Đức tin lớn lao
Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình
tâm trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hi
vọng học được bí quyết để sống bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi:
- Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao?
- Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn
lao, mà chỉ là người có đức tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.
3. Chúa ở đó nhưng không ai thấy
Trong một vụ tai nạn xe hơi, thầy của tôi bị thương
trầm trọng tưởng chừng như không qua khỏi. Ấy vậy mà sau hai tháng điều trị, Thầy
đã chóng bình phục và trở về với cuộc sống thường ngày. Khi tôi vào thăm, Thầy
đã đón tôi với nét mặt tươi vui và thái độ hân hoan lạ thường. Tôi thắc mắc
không hiểu sao với vết thương như thế mà Thầy có thể chịu đựng nổi trước những
lưỡi dao len lỏi vào từng tớ thịt, cắt xén, thêm bớt… Thầy vui vẻ trả lời: “Cứ
mỗi lần như thế, Thầy lại nhớ đến hình ảnh Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thánh
giá, và nỗi đau của Thầy như tan biến hết." Tôi đã làm cho Thầy chưng hửng
khi hỏi lại: “Thầy có thấy Chúa đâu mà lại tin như vậy?"
Tâm trạng và thái độ của tôi lúc ấy cũng giống như
tâm trạng của Tôma trong Phúc Âm. Đã có lúc tôi tự hỏi: Chúa ở đâu? Sao tôi chẳng
thấy? Và tôi không còn thiết nghĩ đến Chúa nữa. Tôi đi lễ chẳng qua vì tôi “lỡ”
chịu phép Rửa Tội. Đến nhà thờ mà tâm hồn cứ để tận đâu đâu.
Lời Chúa nói với Tôma đã làm tôi bừng tỉnh, mắt như
mở ra. Và tôi thấy Chúa đang mỉm cười với chính mình.
Chúa Giêsu ơi, đức tin của con như hạt sương mai đậu
trên nhành cây, để nguyên thì còn mà đụng vào thì sẽ mất. Xin thêm niềm tin cho
con, để con dù không thấy Chúa nhưng vẫn tin Ngài đang hiện diện bên con trong
cuộc đời.
4. Hành trình truyền giáo của thánh Tôma
Từ ngày ấy, thánh Tôma luôn luôn sống đoàn tụ với
các tông đồ chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống. Và khi đã được đầy ơn Thánh
Linh rồi, Ngài cùng với các môn đệ chia tay nhau đi rao giảng Phúc âm. Thánh
nhân giảng đạo tại những nơi nào chúng ta không biết. Theo sử gia Eusèbe thì
hình như Ngài giảng đạo tại xứ Parthie. Nhưng theo một truyên thuyết khá kỳ cựu
thì thánh nhân đem tin lành đến cho những xứ của mấy nhà bác học, trứơc kia đã
đến thờ lạy Chúa Giêsu tại hang Bêlem. Ngoài ra, nhiều văn kiện khác lại cho rằng:
Thánh Tôma giảng Phúc âm cho dân Ấn Độ, đã gặp thấy ở đó nhiều người Kitô giáo
xưng mình là đồ đệ của thánh Tôma. Hơn thế, các tín hữu Ấn Độ có truyền tụng lại
rất nhiều phép lạ mà họ cho rằng: Chúa đã làm vì lời cầu nguyện của thánh Tôma.
Dưới đây là một trong nhiều tích truyện.
Lần kia, vua Sagame và các tăng ni Bàlamôn tìm mọi
cách ngăn cản, không cho thánh tông đồ cất ngôi nhà thờ như đã định, họ viện lý
rằng khu đất ấy dành riêng để xây tư dinh cho nhà vua.
Thế rồi một hôm bể động, nhiều đợt sóng to đổ vào bờ
đem theo một cây gỗ quý rất lớn. Nhà vua muốn đem cậy gỗ ấy về làm vật liệu xây
cung điện. Nhưng vì cây gỗ quá nặng đến nỗi hàng trăm con voi kéo không nổi.
Trong lúc các quan triều lúng túng chưa biết tìm kế nào đưa trọn cây gỗ về triều
cho vua, thì thánh Tôma được Chúa soi sáng, Ngài đến thẳng đền vua và mạnh dạn
tâu: “Nếu đức vua bằng lòng cho tôi xây ngôi nhà thờ dâng kính Thiên Chúa, tôi
sẽ giúp vua, một mình kéo cây gỗ về thành không cần đến một người lính hay một
con voi nào."
Nhà vua ngỡ ngàng, cho rằng thánh nhân nói khoác.
Nhưng sau, theo lời bàn của giới chư tăng, nhà vua đồng ý và định ngày kéo gỗ.
Đến ngày đã định, vua và các quan triều đến chứng kiến công việc. Dân chúng
cũng kéo đến xem chật ních. Thánh tông đồ, bình tĩnh bước ra chào vua rồi quỳ
xuống cầu nguyện. Đoạn Ngài đứng dậy buộc giây vào đầu cây gỗ, giơ tay làm dấu
thánh giá và kéo đi một cách nhẹ nhàng, trước con mắt kinh hoàng của mọi người.
Dầu vậy, đến nay lịch sử vẫn chưa xác quyết thánh
Tôma có giảng đạo tại những xứ sở nào. Và cũng chưa rõ thánh nhân chết ở đâu và
bằng cách nào. Nhiều người cho rằng: thánh nhân qua đời tại Eusèbe hay một
thành nào gần đó. Nhưng ý kiến khác lại cho rằng: thánh tông đồ chịu tử đạo tại
Ấn độ.
5. Tôma không thích nửa vời
Hồi đó, dưới hỏa ngục, các tướng quỷ tranh luận với
nhau về đề tài: “Đâu là phương pháp hữu hiệu nhất để chống lại chương trình cứu
độ của Thiên Chúa?” Trên khán đài nồng nặc mùi diêm sinh và bên dưới là các tướng
lãnh tranh luận sôi nổi với nhau.
Tên thứ nhất đứng lên tuyên bố:
Đối với tôi, lòng ham mê ăn uống là thù địch số một
của Chúa. Thử hỏi vì lý do gì mà Ađam và Evà sa ngã phạm tội ở vườn địa đàng?
Thưa cũng chỉ vì thèm ăn một trái táo. Rồi đến Esau mất quyền trưởng nam cũng
chỉ vì một bát cháo đậu xanh.
Một tràng pháo tay vang dội.
Kế đó tên quỷ thứ hai cứng rắn phản đối tên thứ nhất.
Hắn cho rằng lòng tham của cải mới chính là thù địch số một của Chúa. Giuđa là
một thí dụ.
Tên quỷ thứ ba tiến lên. Theo hắn thì lòng kiêu ngạo
chính là chủ của mọi tính hư nết xấu.Sự sa ngã của các thiên thần là thí dụ.
Tên quỷ thứ tư bước lên khán đài ngang nhiên tuyên bố:
Không, thù địch số một của Chúa chính là lòng ham mê
nhục dục và mọi thú vui giác quan.
Nghe những lời đó quỷ vương phân vân không biết phải
trao chiến thắng về cho ai, bởi vì ai cũng có lý cả. Sau cùng, từ chỗ quan
khách đang ngồi chăm chú theo dõi, tên quỷ thứ năm dõng dạc chậm rãi tiến ra. Với
giọng vừa mỉa mai vừa cứng rắn, hắn lên tiếng đả kích tất cả các lý luận trên và
phủ nhận mọi bằng chứng đã được đưa ra. Sau đó hắn nói dằn từng tiếng:
Kẻ thù số một của Chúa không hẳn là lòng ham mê,
tham lam cũng không phải là tính kiêu ngạo, tất cả những thói xấu đó đứng riêng
rẽ một mình chẳng khác nào con dao cùn, nhưng nếu tổng hợp tất cả những thói xấu
đó lại thành một hợp chất khác tuy không tên tuổi, không ai để ý tới, nhưng
chúng sẽ là một khí cụ lợi hại và hiệu nghiệm nhất. Đó là lòng lạnh nhạt, không
nóng cũng không lạnh. Những kẻ lạnh nhạt không hẳn là những người thù địch chống
lại Chúa một cách trắng trợn, nhưng chúng cũng không phải là những người thân
thiện gì với Chúa, đó mới chính là kẻ thù tai hại hơn cả.
Đây chúng ta hãy nghe lại những lời mạnh mẽ Chúa nói
trong sách Khải Huyền với dân Laodiciae: “Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng
nóng mà cũng chẳng lạnh. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi nhưng vì ngươi
hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng ta (Kh 3,
15-16)
Ngày hôm nay chẳng thiếu những người giữ đạo cho có,
chỉ hình thức, lạnh chẳng ra lạnh, nóng cũng chẳng ra nóng. Những người như thế
đang là mối nguy cho Chúa hôm nay.
6. Vị tiên tri cô độc
Người Ấn Ðộ có kể lại câu chuyện ngụ ngôn sau đây:
“Vì tội lỗi của loài người, Thượng đế doạ sẽ trừng
trị họ bằng một trận động đất. Ðất sẽ nứt nẻ và nước sẽ rút hết vào trong lòng
đất... Một thứ nước độc sẽ tràn ngập mặt đất. Ai uống vào sẽ trở nên bất bình
thường.
Một vị tiên tri nọ đã không xem thường lời đe doạ của
Thượng đế. Ông chuẩn bị đương đầu với biến cố bằng cách từng ngày đem nước lên
một ngọn núi cao. Số nước dự trữ đủ cho ông sống đến ngày tàn của cuộc đời...
Ðộng đất đã xảy đến, bao nhiêu sông nước trên mặt đất
đều bốc hơi, một thứ nước khác được thay thế vào.
Một tháng sau, vị tiên tri trở lại đất bằng để xem
những gì đang xảy ra cho loài người. Ðúng như lời đe doạ của Thượng đế, mọi người
sống trên mặt đất đều hoá ra điên dại. Nhưng kỳ lạ thay, loài người không ý thức
được tình trạng điên dại của mình. Trái lại, ai cũng muốn ra đường để chế diễu
vị tiên tri vì họ cho rằng ông mới là người điên dại...
Buồn tình, vị tiên tri trở lại chốn núi cao của
mình. Ông sung sướng vì nước dự trữ vẫn còn và ông vẫn là người duy nhất còn có
một tâm trí lành mạnh, bình thường...
Nhưng ngày qua ngày, ông cảm thấy không chịu nổi sự
cô đơn của mình. Ông khao khát được sống một cách bình thường với những người đồng
loại. Thế là một lần nữa, ông trở lại đồng bằng. Và một lần nữa, ông lại bị dân
chúng ruồng rẫy, vì họ cho rằng ông không còn giống họ nữa.
Không còn chịu được sự hắt hủi của những người đồng
loại, vị tiên tri đã đổ hết số nước dự trữ của mình và ông uống lấy nước mới của
người đồng loại để cũng trở nên điên dại như họ...”
Con đường dẫn đến chân lý không phải là con đường rộng
thênh thang. Người đi tìm chân lý thường là người cô độc...
7. Những tương truyền về hoạt động tông đồ của Thánh Thomas
Cuốn Didache, tức cuốn Giáo lý của các Thánh Tông Đồ
- một trong những tác phẩm Kitô giáo cố nhất ngoài 27 cuốn sách của Tân Ước –
xuất hiện vào khoảng năm 100 sau Chúa Kitô, chứa đựng những bằng chứng cổ nhất
bằng văn bản về hoạt động truyền giáo của Thánh Thomas tại Ấn-độ. Theo cuốn
sách này, Ngài đã thành lập Giáo hội tại Ấn-độ và tại những khu vực lân cận.
Khoảng một trăm năm sau, những tài liệu được gọi là
những văn kiện về Thánh Thomas mới xuất hiện. Những tác phẩm này đã tường thuật
lại một cách khá giống nhau về những công việc của Thánh Thomas, nhưng được
thêu dệt thêm bởi rất nhiều những tình tiết giầu tính tưởng tượng, và có vẻ như
bị ảnh hưởng nhiều bởi ngộ đạo thuyết.
Giáo phụ Ô-ri-gen cho biết rằng, trước tiên Thánh
Thomas đã đến loan báo Tin Mừng tại Irak và Iran. Sau đó Ngài mới đến miền Nam Ấn-độ
để hoạt động Tông Đồ, và vì những hoạt động truyền giáo của mình, nên Ngài đã bị
giết tại Mailapur – một khu vực thuộc miền Nam Ấn-độ - vào năm 70 của thế kỷ thứ
nhất. Người ta vẫn còn giữ được nhiều văn bản nói về những hoạt động của Thánh
Thomas tại Ấn-độ, nhưng những văn bản đó xuất hiện sau thời Ô-ri-gen. Trong đó
có những bản văn của Thánh Hieronymô (347-420), và của những người sống cùng thời
với Ngài là Thánh Gaudentiô thành Brescia và Thánh Paulinô thành Nola
(354-431).
Thánh Grêgôriô thành Tours (538-594) đã không chỉ
cho chúng ta biết rằng, Thánh Thomas Tông Đồ đã hoạt động và chết tại Ấn-độ,
nhưng còn cho biết thêm là, Ngài đã được mai táng tại đó trong một thời gian
dài, và sau đó, các Thánh Tích của Ngài đã được chuyển tới Edessa, nhưng nơi có
ngôi mộ nguyên thủy của Ngài vẫn còn được tiếp tục tôn kính tại Ấn-độ. Thánh
Isidor thành Sevilla (560-636) cũng nói tương tự như thế về Thánh Thomas, và
cũng nói về cách thức lãnh nhận ơn Tử Đạo của Ngài tại Ấn-độ.
Một truyền thống khác phát sinh tại Nam Ấn-độ, và có
nguồn gốc từ thời các Thánh Tông Đồ, và luôn tồn tại từ đó tới nay, đã cho biết
về những hoạt động truyền giáo của Thánh Thomas tại đó, và cho biết rằng, Ngài
đã thành lập 7 giáo đoàn đầu tiên tại vùng duyên hải Malabar, cũng như cho biết
về cuộc Tử Đạo của Ngài tại Mailapur nằm đối diện với vùng duyên hải
Coromandel. Ngay cả truyền thống có tính địa phương của Ấn-độ về Thánh Thomas
cũng xác nhận về việc các Thánh Tích của Ngài đã được chuyển một phần lớn về
Edessa, mà tại đây, trong các cuộc khai quật sau sau này, người ta đã phát hiện
ra một ít Thánh tích vẫn còn sót lại của Ngài.
Ibas Edessa đã cho xây dựng một ngôi Thánh Đường tại
quê hương của ông để tôn kính các Thánh Tích của Thánh Thomas. Còn hộp sọ được
cho là của Thánh Thomas thì hiện tại đang được bảo quản trong Nhà Thờ Chính Tòa
Sioni tại Tiflis, Giorgia, và được tôn kính tại đó bởi Giáo hội Tông Truyền
Chính thống Giorgia như là Thánh Tích. Trong cuộc Thập Tự Chinh vào năm 1258,
phần lớn Thánh Tích của Thánh Thomas đều được chuyển từ Edessa về Ortona, Ý, và
những Thánh Tích đó vẫn đang được bảo quản tại đó cho tới tận ngày nay, trong một
hòm đựng Thánh Tích đặt trong Nhà Nguyện nằm bên dưới Vương Cung Thánh Đường
Ortona. Ngôi mộ nguyên thủy của Thánh Thoams tại Ấn-độ hiện đang là một điểm
hành hương có sức lôi cuốn rất mạnh. Ngoài Vương Cung Thánh Đường kính Thánh
Thomas được xây dựng ngay trên ngôi mộ trước đây của Ngài tại Mylapore, thuộc
thành phố Chennai, thì tại khu vực phía Nam Ấn-độ cũng còn vô số những điểm
hành hương khác, mà những điểm hành hương này đều có liên quan đến Thánh Thomas
cũng như liên quan tới những hoạt động truyền giáo của Ngài tại đó. Sau đây là một
số địa điểm nổi tiếng nhất:
1. Thánh Đường kính Thánh Thomas trên núi Chennai:
đây là nơi mà theo tương truyền, Ngài đã Tử Đạo tại đó;
2. Thánh Đường kính Thánh Thomas nằm trên một ngọn
núi nhỏ khác tại Chennai: đây là nơi mà theo tương truyền, Thánh Thomas đã đến ẩn
náu tại đó trước khi chịu Tử Đạo;
3. Núi và Thánh đường Malayattoor tại Kerala: đây là
nơi được cho là Thánh Thomas đã đến sống ẩn dật tại đó trong một thời gian dài
để cầu nguyện và suy niệm;
4. Thánh Đường Codungallur: theo tương truyền, nơi
đây đã từng là một thành phố cảng nổi tiếng, và vào năm 52, Thánh Thomas đã cập
bến tại đây, và là một trong bảy cộng đoàn nguyên thủy do Thánh Thomas thành lập.
Một cánh tay của Thánh Nhân đang được tôn kính tại đây. Cánh tay này đã được
chuyển đến từ Ortona, nước Ý, như là một món quà của Đức Piô XII nhân dịp mừng
kỷ niệm 1900 năm Ngày thánh Thomas đặt chân tới Ấn-độ.
5. Thánh Đường Palayur: đây là một trong bảy cộng
đoàn nguyên thủy tại vùng duyên hải Malabar, và nguyên là một đền thờ của người
Ấn giáo. Sau khi hầu hết các Giáo sĩ Bà-la-môn gia nhập Giáo hội Công giáo,
Thánh Thomas đã biến ngôi đền này thành một ngôi Thánh Đường.
Theo một số truyền thống khác, mà những truyền thống
này có lẽ có nguồn gốc từ ngộ đạo thuyết và từ phái Manichê, Thánh Thomas được
coi là người anh em song sinh của Chúa Giêsu.
Thánh Thomas còn bị gán là tác giả của một cuốn Tin
Mừng và của nhiều tác phẩm khác. Nhưng tất cả các tác phẩm này đều bị liệt vào
số các sách Ngụy Thư.
8. Việc tôn kính Thánh Thomas
Tại Châu Âu, ngoài việc được tôn kính với tư cách là
Thánh Tông Đồ Tử Đạo, Thánh Thomas còn được tôn kính với tư cách là vị Bổn Mạng
của những người làm nghề thợ nề và thợ mộc. Bên cạnh đó, Ngài còn được tôn kính
là Bổn mạng của các Thần học gia.
Trước đây Giáo hội mừng kính Thánh Thomas vào ngày
21 tháng 12, nhưng từ năm 1969, với cuộc cải tổ Phụng Vụ, Giáo hội đã mừng kính
Ngài vào ngày mồng 03 tháng 07 với bậc Lễ Kính, tức Lễ Bậc II. Ngày mồng 03
tháng 07 được coi là ngày di chuyển các Thánh Tích của Thánh nhân từ nơi Ngài
được phúc Tử Đạo, tức từ Kalamina về Edessa hồi thế kỷ thứ III.
Giáo hội Chính Thống giáo mừng kính Thánh Thomas vào
ngày mồng 06 tháng 10.
Còn các Giáo hội Tin Lành thì vẫn tiếp tục mừng kính
Thánh Thomas vào ngày 21 tháng 12.
Và Giáo hội Anh giáo cũng mừng kính Thánh Thomas vào
ngày 21 tháng 12.
9. Thấy bằng trái tim
Con Chồn trong truyện Hoàng Tử Bé của nhà văn St.
Exupéry nói rằng với đôi mắt trần, người ta chỉ nhìn thấy những điều bình thường;
còn trong những gì hệ trọng, người ta phải nhìn bằng đôi mắt của con tim.
Gio-an chỉ thấy ngôi mộ trống, băng vải liệm và khăn
che đầu xếp riêng gọn ghẽ, nhưng bằng đôi mắt của trái tim ông đã tin Thầy mình
phục sinh. Đức Giê-su phục sinh quảng đại đáp ứng đòi hỏi của Tô-ma; đồng thời
Ngài cũng nhắc nhở ông và chúng ta rằng từ nay không thấy Chúa bằng đôi mắt thường,
nhưng bằng đôi mắt đức tin và bằng tình yêu mến. Nói cách khác, với người Ki-tô
hữu, vì tin nên thấy Chúa, thấy Ngài do yêu Ngài. Vì tin nên ta thấy Chúa
Giê-su hiện diện trong Thánh Thể, nơi người anh em.
“Tin Chúa,
không phải là hướng mắt về Ngài để chiêm ngưỡng, nhưng đồng thời cũng là nhìn
trần gian với ánh mắt của Đức Ki-tô” (M. Quoist). Người đời nhìn đời sống trong
nền kinh tế thị trường theo nhãn quan hưởng thụ, chiếm hữu; người Ki-tô hữu
nhìn với ánh mắt Đức Ki-tô: chia sẻ, thông hiệp.
Câu
chuyện bắt đầu vào năm 1975, sau khi cử hành hôn lễ ông Giuseppe Dolfini và bà
Silvia Terranera từ Milano chuyển đến Rôma sinh sống. Ông Giuseppe kể lại: “Đêm
đó, khi chuẩn bị đi ngủ chúng tôi nghe tiếng cãi nhau của một cặp vợ chồng
trong một canh hộ gần bên. Chẳng có ai can thiệp và tất nhiên cả chúng tôi cũng
chẳng muốn liên can đến họ. Nhưng rồi đêm đó chúng tôi không yên giấc. Ngày hôm
sau chúng tôi quyết định đến gia đình đó để tìm hiểu.
Chúng
tôi gõ cửa và một người đàn ông ra mở cửa. Sau những lời thăm hỏi ông cho chúng
tôi biết sau cuộc cãi vã tối qua vợ ông đã đi xa, bỏ lại ông cùng với hai đứa
con, một đứa 2 tuổi và đứa còn lại 5 tuổi. Ông rất thất vọng vì ông không biết
phải làm gì cho chúng. Ông cho biết buổi sáng ông thức dạy sớm để chuẩn bị cho
công việc. Ngay lập tức tôi trả lời ông một cách tự nhiên rằng tôi có thể đến
nhà ông vào buổi sáng để chuẩn bị mọi thứ cho hai đứa con như cho chúng ăn sáng
và đưa chúng tới trường và chiều đến đưa chúng về nhà. Như thế công việc này của
chúng tôi diễn ra khoảng 1 năm rưỡi cùng với sự sẵn sàng trợ giúp của những gia
đình khác.
Ngôi
nhà Bêtania được khai sinh 20 năm sau đó khi ông Giuseppe về hưu và bà Silvia
sinh được 4 người con. Qua việc này ông xác tín rằng Thiên Chúa kêu gọi con người
cộng tác với Ngài trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại bằng nhiều cách thức khác
nhau. Thiên Chúa cũng chỉ cho thấy con đường để đáp trả tiếng Chúa, đôi khi
không được rõ ràng.
Đối
với ông rõ ràng không có gì xảy đến tình cờ. Gia đình của hai ông bà được xây dựng
dựa trên một một nền tảng đức tin của đời sống hàng ngày và hoạt động bác ái,
loan báo Tin Mừng. Bởi thế, không ngạc nhiên từ tình yêu hôn nhân, sau nhiều
sáng kiến trong lãnh vực mục vụ gia đình, trong việc hổ trợ các hoàn cảnh khó
khăn ở Milano và Rôma, một kinh nghiệm đã được mở ra cho tha nhân.
Mở
lòng, mở cửa trước hết cho trẻ em, giao phó chúng cho các gia đình chăm sóc và
tiếp theo là kinh nghiệm mời các gia đình tham gia, kêu gọi sự trợ giúp của
tình nguyện viên. Tại Nhà Bêtania nhiều người đã tìm được một cộng đoàn, nơi
đây họ sống trải nghiệm sự đón tiếp và tình liên đới. Chính Giáo hội Italia đã
mời hai ông bà chia sẻ kinh nghiệm về Ngôi nhà Betania tại Hội nghị năm 1995 và
chính ông Mattarella, Tổng thống Italia đã trao cho hai ông bà một vinh dự cao
quý của Cộng hòa. Nhưng đối với hai ông bà một vinh dự cao quý hơn đó là trong
Ngôi nhà này họ được phép có một không gian nhỏ dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể,
một “đặc ân” không phải ai cũng được. Chính nơi đây hai ông bà tìm được sức mạng
và niềm tin vững bước
Ngày
30 / 4 năm 2019 ông Giuseppe Dolfini đã ra đi khi vừa mới tổ chức sinh nhật lần
thứ 90. Trước đó mặc dù phải chịu đựng những cơn đau thể xác nhưng ông vẫn cố gắng
mừng sinh nhật cùng với những người bạn trong Nhà Bêtania.
"Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:42)
Lời Chúa Tuần 13 Thường
Niên
Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch
