Tìm hiểu Lời Chúa _ thứ tư tuần 3 mùa chay

THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY
Dnl 4,1. 5-9; Mt 5,17-19
BÀI ĐỌC: Dnl 4,1. 5-9
1 Ông Mô-sê nói với dân rằng: “Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em. 5 Hãy xem: tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định như Đức Chúa, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. 6 Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: "Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh! "7 Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người?8 Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?9 Nhưng anh (em) hãy ý tứ và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh (em) đã thấy, và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh (em); trái lại, anh (em) hãy dạy cho con cháu anh (em) biết.”
ĐÁP CA: Tv 147
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa! (c 12a)
12 Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! 13 Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc,con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.
15 Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,lời phán ra, hoả tốc chạy đi. 16 Tuyết tựa lông chiên, Chúa trải dài,sương giá như tro, Người rải rắc.
19 Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en. 20 Chúa không đối xử với dân nào như vậy,không cho họ biết những điều luật của Người.
TUNG HÔ TIN MỪNG: x. Ga 6,63c. 68c
Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống. Chúa có những Lời đem lại sự sống đời đời.
TIN MỪNG: Mt 5,17-19
17 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. 18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. 19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.”
TINH THẦN SỐNG LUẬT TRONG CHÚA GIÊSU
Ông Môsê đã nói trước mặt toàn dân về giá trị Lề Luật Chúa ban để ông trao lại cho dân tuân giữ, ai giữ Luật này, thì chiếm hữu được gia sản trong miền đất chảy sữa và mật (x. Xh 3,8), và trở nên những người khôn ngoan, thông minh, đến nỗi dân ngoại tấm tắc khen ngợi: “Chỉ có dân tộc này mới thực là dân khôn ngoan và thông minh. Bởi vì trên hoàn vũ này không có thần minh nào ở với ai, trừ có dân Israel được Thiên Chúa ở gần, để mỗi khi chúng ta kêu cầu Người được Người nhận lời. Chính vì vậy mà ông Môsê kêu gọi toàn dân phải ý tứ cẩn thận giữ mình đừng quên những điều Luật dạy, và phải dạy cho con cháu biết” (Dnl 4,1. 5-9: Bài đọc).
Nhưng Đức Giêsu còn đòi hỏi những ai theo Ngài phải có tinh thần yêu mến, tin tưởng giữ Lề Luật Ngài đã làm hoàn hảo, hơn tinh thần của dân Do Thái triệt để tuân thủ thi hành Luật Môsê, vì:
-         Đức Giêsu là Chủ Lề Luật.
-         Phải giữ Luật Đức Giêsu với tinh thần yêu mến và xác tín, Luật của Ngài ban là Luật trọn hảo.

I. ĐỨC GIÊSU LÀ CHỦ LỀ LUẬT.
Chỉ có Ngài mới có quyền thay đổi và làm cho hoàn hảo Lề Luật Chúa đã ban cho Israel. Ngài nói: “Con Người là Chúa ngày Hưu lễ” (Mt 12,8). Thực vậy, “chỉ có Thiên Chúa, Đấng lập Luật và là Thẩm Phán, Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt” (Gc 4,12a).
Bởi vậy Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê và lời các ngôn sứ; Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Đan cử:
1/ Luật Môsê dạy: không được giết người, ai vi phạm thì bị can án; còn Đức Giêsu dạy: phải loại trừ nguyên nhân giết người. Nguyên nhân đưa đến giết người là tức giận anh em, nên không được mắng ai là đồ ngốc, đồ khùng (x. Mt 5,21-22). Quả thực, chính Đức Giêsu bị giết chết bởi những kẻ tức giận với Ngài, vì Ngài đánh đuổi bọn buôn bán ra khỏi Đền Thờ (x. Ga 2,13t); Ngài trút 8 lời chúc dữ xuống giới Biệt phái và Luật sĩ (x. Mt 23)… Nhưng chỉ sau ba ngày Ngài bị giết, Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết, lúc ấy Ngài mới làm hoàn hảo Lề Luật, đem lại ơn cứu độ muôn đời cho những ai đến tham dự Hy Tế của Ngài. Vì thế khi Đức Giêsu bị treo trên thập giá là lúc Ngài dâng Lễ, Ngài tuyên bố: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30).
2/ Luật Môsê cấm ngoại tình; nhưng Đức Giêsu cấm nguyên nhân gây ra ngoại tình, như không được nhìn người nữ để thỏa lòng dục, nếu mắt nên cớ vấp phạm thì móc đi, tay làm dịp vấp ngã thì chặt đi. Nghĩa là phải quyết liệt loại trừ nguyên nhân gây ra ngoại tình (x. Mt 5,27-30). Chính vua Đavid vì không giữ gìn con mắt, ông nhìn Batsêva, vợ của tướng Uria đang tắm, lòng dục của vua nổi lên, và ông đã cưỡng ép bà ngoại tình với ông. Thâm độc hơn vua còn lập mưu giết Uria để đoạt vợ ông (x. 2Sm 11,2t).
3/ Luật Môsê dễ dàng cho phép ly hôn, đó chỉ vì lòng dân lỳ lợm mà ông Môsê miễn cưỡng cho phép (x. Mt 19,8). Nhưng Đức Giêsu cấm hẳn ly dị hoặc đa thê, Ngài nhắc lại thuở ban đầu Thiên Chúa chỉ thiết lập đơn hôn, một vợ một chồng và bất khả phân ly (x. Mt 5,31-32). Vì mục đích hôn nhân ngoài Kitô giáo chỉ nhằm giúp đỡ, bổ túc cho nhau và sinh con cái nối dòng; còn mục đích chính của Hôn nhân Kitô giáo là để diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh Chúa Kitô lữ hành: Chồng là hiện thân Chúa Kitô, vợ là hình ảnh Hội Thánh, những người được Chúa Kitô cứu độ (x. Ep 5,21t).
4/ Luật Môsê cấm bội thề, nhưng phải giữ trọn lời thề với Chúa; còn Đức Giêsu dạy: thề thốt không có nghĩa là trung tín, trung thực, mà phải sống “có” thì nói “có”, “không” thì nói không”, phát xuất tự đáy lòng trung thực của mình, nói thêm nói bớt là do ma quỷ (x. Mt 5,33-37).
Kìa ông Phêrô thề với Thầy: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây chẳng bao giờ vấp ngã”. Ông Phêrô lại còn thề: “Dầu có phải chết với Thầy, con không bao giờ chối Thầy”. Các Tông Đồ khác cũng nói như vậy. thế mà lúc Thầy bị bắt, các ông chạy trốn hết, còn ông Phêrô thì chối Thầy đến ba lần! (x. Mt 26,33-35. 56. 70-75).
5/ Luật Môsê cho phép báo thù dựa trên Luật công bằng: mắt thế mắt, răng thay răng; nhưng Đức Giêsu đòi người ta sống hoàn hảo như Cha trên trời là vượt trên công bằng: lấy lành báo ác, lấy ơn đền oán (x. Mt 5,38-42). Thế mà ông Gioan tự hào là “người Chúa yêu” khi thấy dân miền Samari không đón tiếp Thầy trò các ông, nên ông đã thưa với Thầy xin lửa trời xuống thiêu rụi hết bọn này, Đức Giêsu lên tiếng ngăn cản (x. Lc 9,51-56).
6/ Luật Môsê dạy chỉ yêu thân nhân, tức là yêu người yêu mình, hoặc yêu đồng chủng hơn người ngoại giáo; còn Đức Giêsu đòi người ta yêu một cách quảng đại, bao dung, không phân biệt lương giáo hay bạn thù. Có thế mới trở nên giống Thiên Chúa: “Ngài làm cho mặt trời mọc lên trên người công chính cũng như kẻ dữ,và làm mưa trên người ngay cũng như kẻ ác. Nếu chỉ yêu mến người yêu mình, thì chẳng hơn gì dân ngoại, chẳng hơn gì những kẻ tội lỗi. Bởi vì ai thuộc về Đức Giêsu, phải sống hoàn hảo như Cha trên trời” (Mt 5,43-48). Thế mà ông Phêrô khi thấy Thầy bị bắt, ông vung kiếm chặt đứt tai đầy tớ vị thượng tế, Đức Giêsu lên tiếng ngăn cản và Ngài chữa lành tai người ấy (x. Ga 18,10-11).
7/ Về Luật Phụng Vụ ngày thứ bảy: Người Do Thái bất mãn với Đức Giêsu, vì Ngài đã làm việc trong ngày thứ bảy, là vi phạm Luật Thánh. Đến nỗi “sau sáu năm cày cấy thì năm thứ bảy là năm Sabbat, đất đai còn cho nghỉ ngơi không ai canh tác” (x. Lv 25,2-5). Thế mà đã sáu lần (trong tổng số 33 phép lạ của bốn Tin Mừng) Đức Giêsu cố ý chữa lành nhiều bệnh nhân đến với Ngài:
-         Ngài chữa lành cho người có tay khô bại (x. Mt 12,9).
-         Ngài chữa lành cho bà bị còng lưng được đứng thẳng (x. Lc 13,10).
-         Ngài chữa lành cho người mắc bệnh phù thũng (x. Lc 14,1).
-         Ngài chữa lành cho người bất toại nằm bên bờ hồ có năm dãy hành lang (x. Ga 5,1t).
-         Ngài hóa bánh ra nhiều nuôi đoàn lũ dân ăn no nê (x. Ga 6,4).
-         Ngài chữa lành cho người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,16).
Đức Giêsu có ý làm việc vào ngày Hưu lễ, vì Luật này thuộc Luật Phụng Vụ, mà giá trị Luật Phụng Vụ Do Thái chỉ được hoàn hảo nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu mà thôi. Vì thế Hiến Chế Mạc Khải số 16, Hội Thánh dạy: “Giá trị Cựu Ước được thể hiện trong Tân Ước; giá trị Tân Ước đã tiềm ẩn trong Cựu Ước”. Do đó giá trị hy tế dâng chiên cừu phải được thể hiện trong Tân Ước là dâng “Con Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,29), mới thực là của lễ Chúa Cha ưng nhận. Thế mà khi ông Phaolô sau bài giảng đã chữa lành cho một người què từ thuở mới sinh tại Litra, có nhiều người tưởng ông Barnaba là thần Dớt, ông Phaolô là thần Hermê, và họ đã đem bò, vòng hoa đến tế lễ các ông! Ông Phaolô phải cố gắng ngăn cản, thì những người Do Thái từ Antiôkia và Ikôniô đến thuyết phục đám đông, ném đá ông Phaolô, họ tưởng ông đã chết nên lôi xác ông vứt ngoài thành (x. Cv 14,8t).
8/ Đức Giêsu còn trao cho Hội Thánh quyền sửa đổi Luật Môsê, vì Ngài hứa ban Thánh Thần cho Hội Thánh, để Thánh Thần dẫn Hội Thánh dần dần đến Chân Lý vẹn toàn (x. Ga 16,12-13), thế nên Hội Thánh có quyền sửa đổi và canh tân Luật Phụng Vụ. Đan cử:
a- Luật Môsê đòi buộc những ai muốn thuộc dòng giống Do Thái phải chịu phép cắt bì, thì chính Chúa Giêsu đã hướng dẫn ông Phêrô bỏ Luật cắt bì. Vì thế ông Phêrô nói: “Thánh Thần và chúng tôi quyết định từ nay không đặt trên dân ngoại ách Lề Luật của cha ông chúng ta nữa, chỉ cần họ tin lời rao giảng của chúng ta là ban Thánh Tẩy cho họ” (x. Cv 9,10t; 15,28).
 b- Hội Thánh cũng đã cho phép dùng ảnh tượng để tôn kính, dù trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa không cho phép người ta tạc ảnh tượng,vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao hay dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất để mà thờ (x. Xh 20,4).
Lý do Chúa cấm đúc, tạc vẽ ảnh tượng là để phân biệt Do Thái giáo với các tôn giáo khác, vì các tôn giáo khác đặt nhiều ngẫu tượng trong đền thờ, họa theo các vật trong vũ trụ (x. Kn 13), khác với đền thờ Giêrusalem chỉ đặt hai bia đá ghi Mười Điều Răn Chúa đã trao cho ông Môsê.
Tuy nhiên ngôn sứ Isaia vào Đền Thờ thấy hình hai thiên thần được tạc để chầu hầu trước Hòm Bia Thiên Chúa (x. Is 6,2); và có lần Chúa lại bảo ông Môsê đúc con rắn đồng treo lên cột cây, để ai bị rắn cắn, mà nhìn lên con rắn đồng đó, thì thoát chết! (x. Ds 21,4t). Không phải tự con rắn đồng có phép mầu cứu người ta thoát chết vì rắn cắn, nhưng đó là dấu chỉ dân phải tin vào Thiên Chúa khi nhìn lên rắn đồng, để được Chúa cứu; Thế thì chúng ta nhìn lên ảnh tượng Chúa Giêsu và các Thánh với lòng tin tưởng, trông cậy nơi Chúa, và xin các Thánh bầu cử, chắc chắn chúng ta còn được nhiều ơn hơn những người Do Thái xưa.
Thánh Gioan Tông Đồ còn nói: “Điều vẫn có từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã từng nghe, điều chúng tôi đã từng thấy tận mắt, điều chúng tôi đã được chiêm ngưỡng,và tay chúng tôi đã được chạm đến, đó là Lời sự sống” (Ga 1,1). Lời đã trở thành xương thịt để ai kết hợp với Ngài, thì lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (x. Ga 1,1-16).
Ta biết rằng có ba cách loan báo Chân Lý:
-         Bằng lời nói.
-         Bằng chữ viết.
-         Bằng hình ảnh.
Thì nghệ nhân khi tạc ảnh tượng phải làm toát ra sự thánh thiện, nhất là qua ảnh tượng đó diễn tả càng rõ, càng nhiều điểm giáo lý, thì càng đạt, mà lời nói cũng như chữ viết không diễn tả được.
Việc sắp đặt ảnh tượng để tôn kính phải giữ đúng Quy Luật Hội Thánh chỉ dạy: “Không được đặt hai hình của một vị trong một nơi tôn kính” (x. Hiến Chế Phụng Vụ số 125 và Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Roma số 278).
Cụ thể: nếu đã đặt tượng Mẹ Hằng Cứu Giúp, thì không đặt thêm tượng Mẹ Fatima, tượng Mẹ Lộ Đức …
II. PHẢI GIỮ LUẬT ĐỨC GIÊSU VỚI TINH THẦN YÊU MẾN VÀ XÁC TÍN, LUẬT CỦA NGÀI BAN LÀ LUẬT TRỌN HẢO.
Vì Đức Giêsu đến làm hoàn hảo Luật Môsê như trên, nên ta phải biết quý trọng Luật này hơn người Do Thái yêu mến và tuân giữ Luật Mô-sê. Đức Giêsu nói: “Dù một chấm một phết trong Lề Luật Môsê Ta đã làm hoàn hảo, thì không được bãi bỏ. Ai bãi bỏ, dù là chỉ một trong những điều răn nhỏ ấy và dạy người khác làm như thế, thì bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời,còn ai tuân hành và dạy người khác làm như thế, thì được gọi là người cao cả trong Nước Trời” (Mt 5,18-19: Tin Mừng).
Đan cử: Luật Hội Thánh không buộc giáo dân dự Lễ ngày thường, cũng không buộc ai sau khi đã lãnh Bí tích Khai tâm hay Hôn Phối tiếp tục đi học giáo lý. Nhưng nếu tất cả mọi người Công Giáo dự Lễ hằng ngày, chuyên cần học giáo lý, để biểu lộ lòng yêu mến và triệt để giữ Lề Luật Chúa, không phân biệt Luật trọng Luật hèn; không phân biệt tội trọng tội nhẹ, bởi tin rằng “Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống. Chúa có những Lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,63c. 68c: Tung Hô Tin Mừng), thì quả thực Hội Thánh Chúa phát triển rất nhanh, và người Công Giáo như thế đúng là ánh sáng, là muối cho đời (x. Mt 5,13-16). Vì lòng người Công Giáo hằng hướng về khát vọng, “nên hoàn hảo như Cha trên trời” (Mt 5,48). Thì chắc chắn sẽ được Chúa chăm sóc, giữ gìn, như Lời Kinh Thánh nói: “Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc, con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân” (Tv 148/147,13).
Vậy “Giêrusalem hỡi (dân Chúa chọn), nào hãy tôn vinh Chúa” (Tv 148/147,12a: Đáp ca).
Tin đài Chân Lý Á Châu loan đi khắp thế giới sáng ngày 16-08-2000:
“Văn phòng Nghiên Cứu Hiện Tượng của Hoa Kỳ về Đời Sống Hôn Nhân, kết quả được Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách về Gia Đình trích dẫn trong tài liệu có tựa đề “Bí tích Hôn Phối” xuất bản năm 1989 như sau:
-         Trong 100 gia đình không có Đạo, thì 50 % gia đình ly dị.
-         Trong 100 gia đình Công Giáo, chỉ đi dự Lễ Chúa nhật, ly dị xuống thấp chỉ còn 10%.
-         Trong 100 gia đình Công Giáo, đi dự Lễ hằng ngày, và có giờ cầu nguyện riêng, chỉ còn 1% ly dị.
Vậy gia đình hoặc bất cứ cộng đoàn nào muốn có bình an hạnh phúc, phải năng dự Lễ và có giờ cầu nguyện chung với nhau.
THUỘC LÒNG
Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những Điều Răn nhỏ nhất, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời. (Mt 5,19).
Lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH