LỜI CHÚA LỄ THÁNH THỂ
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
LỄ THÁNH THỂ NĂM A – BÁNH HẰNG SỐNG
LỄ THÁNH THỂ NĂM B – BÁNH HẰNG SỐNG
LỄ THÁNH THỂ NĂM C – BÁNH HẰNG SỐNG
LỄ THÁNH THỂ
NĂM A – BÁNH HẰNG SỐNG
Lời Chúa: Ga 6, 51-59
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán
cùng dân Do-thái rằng: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh
này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian
được sống."
Vậy người Do-thái tranh
luận với nhau rằng: "Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn
được?"
Bấy giờ Chúa Giêsu nói
với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con
Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn
thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại
ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.
Ai ăn thịt Ta và uống máu
Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai
Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây
là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã
chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời."
TRUYỆN KỂ
1. Kẻ ăn Tôi sẽ sống nhờ Tôi
"Lúc đó tôi biết thế
nào tôi cũng chết nhưng tôi muốn con tôi được sống." Đó là lời của bà
Susanna sau khi được cứu trong trận động đất ở Ácmêni vào tháng 12-1987.
Trong số hàng ngàn người
bị vùi lấp dưới đống gạch, có hai mẹ con bà Susanna may mắn còn sống sót. Cô
con gái bốn tuổi đòi uống nước. Tìm đâu ra nước khi hai mẹ con không có lối ra?
Tình mẫu tử đã gợi lên
cho bà một ý nghĩ táo bạo, đó là rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút.
Đứa bé đã đỡ khát nhờ máu người mẹ. Nó đã sống cho đến khi cả hai mẹ con được
cứu.
Đức Giêsu đã chết để
chúng ta được sống. Ngài chấp nhận chịu đổ máu qua cái chết thập giá, và Ngài
muốn máu Ngài trở nên thức uống cho chúng ta.
2. Lương thực hằng ngày
Khi Mẹ Têrêxa Calcutta
sang Liên Xô xin lập một chi nhánh của Dòng bà, bà đã kiên trì xin cho bằng
được có một Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh lễ cho các nữ tu. Bà giải thích lý
do: sở dĩ các nữ tu có đủ tinh thần và nghị lực để mỗi ngày đem đến cho những
người nghèo khổ sự an ủi, phục vụ và yêu thương, đó là nhờ Mình Thánh Chúa mà
họ rước mỗi ngày. “Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống."
3. Thánh Thể, nguồn sống thiêng liêng.
Trong lời mở đầu của
thông điệp về Bí tích Thánh Thể “ECCLESIA DE EUCHARISTIA”, Đức Thánh Cha
Gioan-Phalô II đã xác tín “Giáo hội múc nguồn sự sống từ Bí tích Thánh Thể. Sự
thật này không đơn thuần diễn tả một kinh nghiệm thường nhật của đức tin, nhưng
tóm kết cốt lõi của mầu nhiệm Giáo hội. Trong niềm hân hoan, Giáo hội kinh
nghiệm, dưới nhiều hình thức, sự thực hiện liên lỉ lời hứa “Thầy sẽ ở cùng anh
em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20). Kể từ ngày Lễ Ngũ Tuần, Giáo hội bắt
đầu cuộc hành trình đi về Quê Trời, bí tích thần thiêng tiếp tục ấn dấu trên
ngày sống, bằng cách tuôn đổ trên họ niềm hy vọng tin tưởng."
Công đồng Vatican II
tuyên bố cách xác đáng rằng “Mọi Bí tích đều liên hệ và hướng về Thánh Thể. Vì
phép Thánh Thể chứa mọi kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, nghĩa là chính mình
Chúa Kitô Phục sinh. Phép Thánh Thể là nguồn suối, là chóp đỉnh việc rao giảng
Tin mừng” (P.O, số 5).
Thánh Thể đóng một vai
trò rất quan trọng trong đời sống Giáo hội và giáo dân, nên Giáo hội lập ra lễ
kính Thánh Thể để thúc giục giáo dân gia tăng lòng tôn sùng phép Thánh Thể. Lễ
kính này đã manh nha ở thành phố Liège bên Bỉ với những ơn lạ của chị dòng
Juliana về phép Thánh Thể từ năm 1208 cho mãi đến năm 1263 với phép lạ máu Chúa
chảy loang thấm ướt khăn thánh ở làng Polsena bên Đức. Ngày 8.9.1264, Đức Thánh
Cha Urbanô ban sắc lệnh Transiturus lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa Kitô trên
khắp hoàn cầu.
4. Biến đổi trong Chúa.
Một người ngoại giáo hỏi
người bạn Công giáo:
- Người Công giáo các bạn
ăn Chúa Kitô phải không?
- Vâng, người Công giáo
trả lời.
Người kia hỏi tiếp:
- Vậy sao các bạn không
trở nên như Chúa?
Một lát sau, khi đi ngang
qua trại heo, người Công giáo hỏi:
- Bạn có khi nào ăn thịt
heo không?
- Rất nhiều lần. Mà hỏi
làm gì vậy?
- Sao bạn chưa biến đổi
thành heo?
Đó là câu trả lời cứng
cỏi nhưng kiến hiệu cho câu hỏi cứng cỏi. Trong thực tế, chúng ta được biến đổi
trong Chúa cách thiêng liêng nhờ sự rước lễ.
5. Hiện diện thực sự.
Một linh mục và một mục
sư Tin lành ở cùng một tỉnh thường nói chuyện với nhau nhiều về đạo. Thời gian
trôi qua, mục sư bắt đầu tin những chân lý của đạo Công giáo dần dần. Ông tin
hết mọi chân lý, trừ có một – chân lý Chúa ngự thật trong phép Thánh Thể. Chân
lý duy nhất này ông không thể nào tin được. Ông vẫn nói: “Nếu tôi có thể tin
được rằng tôi rước lấy Chúa thực sự khi chịu lễ, thì chắc là tôi sẽ hạnh phúc
nhất trên đời; nhưng xem chừng tôi không thể tin được."
Ít lâu sau, vị mục sư đau
nặng, Linh mục đến thăm ông, nhưng ông mê man bất tỉnh. Qùi gối bên giường,
linh mục cầu xin Chúa ban cho mục sư tỉnh lại và lời cầu nguyện của ngài đã
được Chúa nghe. Vị mục sư hấp hối đó mỉm cười và xin được phép ngồi lên, tựa
lưng vào gối. Ông có thể tiếp tục nói, nhưng mắt ông nhìn chòng chọc vào cái gì
ở chân giường. Ông chỉ tay, nhưng vị linh mục không trông thấy gì cả. Rồi người
hấp hối cứ nhìn chòng chọc và bỗng nhiên mặt ông tươi lên như hoa. Ông vừa thở
hổn hển vừa phều phào: “Hiện diện thực sự – Nếu tôi được biết kịp thời thì chắc
tôi đã giảng cho toàn thế giới chân lý này."
6. Nuôi dưỡng và biến đổi
Đức Cha Helder Camera,
Tổng Giám Mục Braxil, đã chia sẻ kinh nghiệm sống mầu nhiệm Thánh Thể như sau:
“Mỗi sáng, tôi được nuôi dưỡng bằng Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể, rồi suốt
ngày, tôi gặp gỡ Đức Kitô nơi anh chị em tôi. Cũng một Chúa Giêsu ở trên bàn
thờ và ngoài đường phố." Bất cứ ai được Thánh Thể cảm hóa đều nhận ra Ngài
nơi anh chị em mình, vì Ngài đang hiện diện ẩn dấu nơi họ, nhất là nơi những
người nghèo khổ và bất hạnh. Chỉ khi cảm nhận thâm sâu về Mình Máu Chúa Giêsu
đang thấm nhập vào máu thịt ta, mới làm ta choáng ngợp và thay đổi dần dần,
thay đổi tận căn, để như Đức Kitô, ta lại tiếp tục trở thành tấm bánh cho người
khác.
Tuổi trẻ chúng ta luôn
khao khát tình yêu, muốn yêu và được yêu đến vô cùng. Chỉ có tình yêu Thiên
Chúa qua Đức Kitô mới lấp đầy khát vọng vô biên của chúng ta. Hãy mở toang trái
tim mình cho tình yêu Chúa trào tuôn. Tình yêu là con đường ngắn nhất để cho
Mình Chúa biến hóa cuộc đời ta thành chính Chúa, vì Bí tích Thánh Thể là Bí
tích tình yêu, để cho tâm hồn ta được thỏa lòng khát mong.
Ước chi chúng ta thật sự
hăm hở và vui mừng mỗi khi được rước Chúa, được cận kề bên Chúa, để được sống
trong Chúa và Chúa sống trong ta. Dần dần ta mới cảm thấy Chúa lấp đầy trái tim
khao khát của mình, mới cảm nhận Ngài là sự sống viên mãn và niềm vui miên
trường cho chúng ta từ chính cuộc sống hôm nay, để ta dám sống vì tha nhân.
7. Sự sống đích thực—Lm. JB. Lê Ngọc Dũng
Trong lịch sử Giáo Hội,
Bí Tích Thánh Thể đôi khi được chứng thực bằng những phép lạ. Trong những phép
lạ đó, cũng có những trường hợp là Bí Tích Thánh Thể nuôi dưỡng cả phần thân
xác con người. Louis Lateau, một nguời Bỉ được in năm dấu thánh vào năm 1868.
Từ nhỏ, cô đã bị đau yếu, ít ăn uống, nhất là sau khi được in năm dấu thánh, cô
chỉ còn được ăn chút ít, mỗi ngày một mẫu bánh nhỏ. Và kể từ năm 1871 trở đi,
cô không ăn uống được gì, chỉ còn rước lễ hàng ngày, trong suốt bảy năm.
Những trường hợp khác
tương tự cũng đã xảy ra trong thời gian gần đây. Trong số những người đó, có
Têrêsa Niu-man và Matta Robin đã không ăn uống trong nhiều chục năm. Họ chỉ
rước lễ mỗi ngày. Như thế, Thánh thể vốn là của ăn thiêng liêng đôi khi trở nên
một ơn lạ nuôi sống cả phần thân xác.
Tuy nhiên khi Chúa Giêsu
nói đến bánh hằng sống, Ngài không có ý nhắc đến cuộc sống thể lý mà Ngài có ý
nói đến sự sống thiêng liêng, sự sống đơì đời trong tình yêu và hạnh phúc với
Thiên Chúa.
Thực ra, cái mà chúng ta
gọi là sự sống, trong lãnh vực tự nhiên ở đời này, chẳng đáng gọi là sự sống.
Trong Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu muốn sửa sai quan niệm của chúng ta về
sự sống và sự chết. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa ban cho ông bà tổ Ađam
và Evà cả hai sự sống ấy. Chẳng những đời sống thể lý mà còn đời sống siêu
nhiên nữa. Đó là sự sống thân ái kết hiệp với Thiên Chúa.
8. Chiếc nhẫn kỷ vật của tình yêu.
Có một đôi vợ chồng trẻ
kia mới lấy nhau được hơn một năm. Trong thời gian đó họ đã sống thật hòa hợp
hạnh phúc. Mỗi buổi sáng trước khi rời nhà đi làm, và buổi chiều khi vừa trở về
ngôi nhà thân thương, anh chồng không bao giờ quên trao cho vợ một cử chỉ âu
yếm và một lời nói yêu thương. Nhờ đó tình yêu giữa hai vợ chồng ngày một nồng
thắm. Nhưng rồi hạnh phúc của họ đã bị đe dọa khi một hôm người chồng trên
đường từ sở làm về nhà bị trúng mưa. Anh đã bị cảm lạnh phải nằm liệt giường và
được vợ anh tận tình chăm sóc. Do bệnh không thuyên giảm, nên anh đã được vợ
mang đi bệnh viện và được chẩn đoán mắc bệnh sưng phổi. Sau đó anh tiếp tục
được bác sĩ xét nghiệm và xác định anh bị mắc ung thư màng phổi ác tính thời kỳ
thứ ba vô phương cứu chữa. Khi biết mình sắp chết, anh chồng đã cầm lấy tay vợ
thều thào nói: “Em yêu quí! Có lẽ sắp tới giờ Chúa gọi anh về. Anh đã chuẩn bị
và sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Anh chỉ tiếc một điều là không còn được tiếp tục
sống bên em. Trước khi đi xa, anh không có gì trối lại cho em ngoài chiếc nhẫn
mà cách đây hơn một năm hai vợ chồng mình đã trao cho nhau khi kết ước trước
bàn thờ Chúa. Bây giờ anh xin tặng chiếc nhẫn kỷ vật này cho em, để em tin là
anh luôn ở bên em và hằng cầu xin cho em an lành hạnh phúc." Nói xong, anh
tháo chiếc nhẫn đang đeo và âu yếm xỏ vào tay vợ, giống như trước đây anh đã
trao nhẫn trong lễ hôn phối của hai người. Sau khi chết, anh được an táng tại
nghĩa trang gần nhà. Từ ngày đó, hằng ngày người ta đều thấy một phụ nữ còn rất
trẻ, đầu chít khăn tang, tay cầm bó bông đi viếng nghĩa trang. Chị đứng hằng
giờ trước ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh của chồng để cầu nguyện cho anh. Tay chị có
đeo hai chiếc nhẫn: Một chiếc của ngày thành hôn và một chiếc nhẫn thứ hai là
kỷ vật thân thương của người chồng quá cố đã để lại khi sắp từ giã cuộc đời.
Hơn hai ngàn năm trước
đây, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể, để trao cho Hội Thánh
dấu hiệu của một tình yêu vô cùng lớn lao là Mình Máu Thánh của Người dưới hình
bánh rượu, để nên của ăn của uống cho các tín hữu, hầu ban cho họ được sự sống
đời đời.
9. Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta
Có lẽ chúng ta còn nhớ
tới vụ động đất tại Nhật Bản vào tháng 3 năm 2011 với một câu chuyện thật cảm
động về tình mẹ. Chuyện kể rằng: Sau khi động đất qua đi, lực lượng cứu hộ bắt
đầu các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Và khi họ tiếp cận đống đổ nát từ ngôi nhà
của một phụ nữ trẻ, họ thấy thi thể của cô qua các vết nứt. Nhưng tư thế của cô
có gì đó rất lạ, tựa như một người đang quỳ gối cầu nguyện; cơ thể nghiêng về
phía trước, và hai tay cô đang đỡ lấy một vật gì đó. Ngôi nhà sập lên lưng và
đầu cô.
Đội trưởng đội cứu hộ đã
gặp rất nhiều khó khăn khi anh luồn tay mình qua một khe hẹp trên tường để với
tới thi thể nạn nhân. Anh hy vọng rằng, người phụ nữ này có thể vẫn còn sống.
Thế nhưng cơ thể lạnh và cứng đờ cho thấy cô đã chết.
Cả đội rời đi và tiếp tục
cuộc tìm kiếm ở tòa nhà đổ sập bên cạnh. Không hiểu sao, viên đội trưởng cảm
thấy như bị một lực hút kéo trở lại ngôi nhà của người phụ nữ. Một lần nữa, anh
quỳ xuống và luồn tay qua khe hẹp để tìm kiếm ở khoảng không nhỏ bên dưới xác
chết. Bỗng nhiên, anh hét lên với vẻ đầy ngạc nhiên: "Một đứa bé! Có một
đứa bé!"
Cả đội đã cùng nhau làm
việc; họ cẩn thận dỡ bỏ những cái cọc trong đống đổ nát xung quanh người phụ
nữ. Có một cậu bé 3 tháng tuổi được bọc trong một chiếc chăn hoa bên dưới thi
thể của người mẹ. Rõ ràng, người phụ nữ đã hy sinh để cứu con mình. Khi ngôi
nhà sập, cô đã lấy thân mình làm tấm chắn bảo vệ con trai. Cậu bé vẫn đang ngủ
một cách yên bình khi đội cứu hộ nhấc em lên.
Bác sĩ đã nhanh chóng
kiểm tra sức khỏe của cậu bé. Sau khi mở tấm chăn, ông nhìn thấy một điện thoại
di động bên trong. Có một tin nhắn trên màn hình, viết: "Nếu con có thể
sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con."
Một tin nhắn thật cảm
động. Cảm động vì nó nói lên một tình yêu hy sinh cao đẹp mà người mẹ dành cho
con. Qua bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu cũng để lại cho chúng ta một tin nhắn:
“Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta."
10. Nên một với Chúa Giêsu
Muốn cho cành nho rừng
tiếp nhận được sự sống của cây nho vườn, thì nó phải được tháp nối nên một với
cây nho vườn.
Muốn cho một bàn tay bị
cắt lìa thân được tiếp nhận sự sống từ thân thể thì bàn tay đó phải được ghép
nối vào thân thể, trở nên một với thân thể.
Vậy muốn cho loài người
tiếp nhận được Sự Sống của Chúa Giê-su thì phải làm cho họ nên một với Chúa
Giê-su.
Khi rước Mình Máu Chúa
Giê-su, chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su, như bàn tay nối liền
cơ thể. Nhờ đó, Sự Sống đời đời của Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su sẽ được thông
ban cho ta, tựa như sự sống của thân mình chuyển thông cho bàn tay. Nhờ đó,
chúng ta được mang lấy Sự Sống đời đời của Thiên Chúa nơi thân mình chúng ta,
như lời Chúa Giê-su xác nhận: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn
đời” (Ga 6,54)
Như thế, khi hiệp dâng
Thánh lễ sốt sắng và trọn vẹn, chúng ta được hưởng cùng một lúc ba hồng ân vô
giá:
- Được xóa bỏ tội lỗi;
- Được kết hợp nên một
với Chúa Giê-su
- Và được tiếp nhận Sự
Sống đời đời do Chúa thông ban.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa phải trả giá rất
đắt, trả giá bằng cả cuộc đời và sinh mạng của Chúa để đem lại cho chúng con
những ân huệ quá đỗi tuyệt vời này. Lẽ nào chúng con lại ngoảnh mặt quay lưng
hay tỏ ra thờ ơ hững hờ với những hồng ân cao vời như thế?
Xin cho chúng con sớm
nhận ra hồng ân vô giá nầy để ngày ngày siêng năng tham dự Thánh lễ để tận
hưởng những ân huệ lớn lao.
11. Từ thế giới này đến thế giới vĩnh cửu!
Một trong những cuốn sách
nổi tiếng và bán chạy nhất là cuốn "On Death và Dying" (Hấp Hối và
Chết). Tác giả cuốn sách này diễn tả sự chết qua 5 giai đoạn sau đây: 1) Giai
đoạn từ chối và không chấp nhận cái chết (denial), 2) Giai đoạn tức giận
(anger): "Tại sao tôi lại chết?" 3) Giai đoạn mặc cả (bargaining) để
tìm một lúc khác thuận lợi hơn, 4) Giai đoạn chán nản ngã lòng (depress), 5)
Giai đoạn cuối cùng là chấp nhận (acceptance).
Tất cả mọi người chúng ta
cho dù ở giai đoạn cuối của những cơn bệnh nạn hiểm nghèo hay ở bất cứ lúc nào,
tùy theo mỗi người, thì ai cũng phải đối diện với sự chết. Từ lúc chúng ta lọt
lòng mẹ là chúng ta bắt đầu cuộc hành trình tiến đến sự chết.
Trong bài Phúc Âm hôm
nay, Chúa Giêsu nói với chúng ta thêm một giai đoạn thứ 6 mà tác giả ở trên đã
không nhắc tới. Giai đoạn này là câu hỏi mà nhiều người phải đương đầu đó là
"Chúng ta sẽ đi đâu sau khi chết?"
Đã có rất nhiều thuyết về
sự sống đời sau mà con người đã vẽ lên bằng trí tưởng tượng trong phạm vi của
loài người. Mỗi một dân tộc đều có những nét đặc điểm của họ. Đối với người Hy
Lạp ngày xưa, họ cho rằng cuộc sống đời sau như là một nơi cực lạc chan chứa
niềm hạnh phúc và không có bất cứ một thay đổi gì về vấn đề thời tiết. Đối với
người Ái Nhĩ Lan, sự sống đời sau giống như một hòn đảo của những người được
chúc phúc (Island of the Blest). Trên hòn đảo này đầy những cây ngon vật lạ,
mọi người đều vui mừng không ngớt, không có đêm hay ngày gì cả, và cũng không
có tiếng khóc hay than van.
Tân Ước thì không cho
chúng ta hình ảnh về thế giới đời sau theo tính cách của loài người. Tân Ước
cũng không nói cho chúng ta biết kỹ lưỡng về những thiết kế của Nước Trời. Tân
Ước cho chúng ta một vài hình ảnh như: Thành thánh Giêrusalem mới, kho tàng
châu báu, căn nhà với nhiều chỗ ở, quốc gia mà Chúa Kitô làm Vua.
Trong bài Phúc Âm hôm
nay, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta một bài học rất quan trọng đó là linh hồn bất
tử và sự sống đời sau. Ngài trao ban sự sống đời đời cho những ai tin vào Ngài:
"Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn
đời. Và bánh Ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống"
(Ga 6:51).
12. Chúa là nguồn sống
Sau đây là tâm trạng của
hai hoàn cảnh khác nhau, một của vị linh mục và một của giáo dân, để giúp chúng
ta thấy sự khao khát và sự biến đổi từ Nhiệm tích Thánh Thể:
- Có một thương gia Công
giáo người Đức đã đến đảo Green Land, miền Bắc cực vào thời đạo Công giáo còn
bị cấm hoạt động ở đây. Vì công việc làm ăn, ông phải ở lại đảo suốt mùa Giáng
Sinh. Được biết ông là người Công giáo, một gia đình ở đó, đã mời ông đến nhà
để cầu nguyện cùng với họ trong đêm Giáng Sinh. Trong đêm tối lạnh buốt, họ
quây quần quanh một chiếc bàn nhỏ và cùng nhau cầu nguyện.
Sau lời chào chúc, họ
đọc, nghe Kinh Thánh và một vài lời nguyện, ông lão kéo ngăn bàn và lấy ra một
hộp nhỏ. Trong hộp, có một khăn Thánh đã vàng úa theo thời gian. Vừa nâng chiếc
khăn Thánh lên, ông lão vừa run run, vừa bày tỏ: “Cách đây 50 năm, Thánh Lễ
Giáng Sinh cuối cùng trên mảnh đất này đã được dâng trên chiếc khăn Thánh mà
tôi đang cầm. Lúc đó, tôi là một chú giúp lễ và chiếc khăn này là vật duy nhất
còn lại khi ngôi Thánh Đường bị thiêu rụi. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu đã ngự
trên chiếc khăn này." Sau khi nghe những lời ấy, tất cả mọi người quì gối
và cầu nguyện trong tiếng nghẹn ngào: “Lạy Chúa, xin cho chúng con được tự do.
Xin gởi các Linh mục đến để chúng con được phúc có lễ Chúa Giáng Sinh, để chúng
con được dự phần vào Mình Máu Chúa." Mọi người lúc đó, chẳng một ai cầm
được nước mắt. Đôi mắt của người thương gia Đức đã rơi lệ chẳng biết từ lúc
nào. Lòng ông cảm động, bùi ngùi với tràn đầy ước muốn, tha thiết được rước Thánh
Thể. Một sự khao khát mà trước đây ông chưa hề có, cho dù ông vẫn đến Nhà Thờ
dự lễ mỗi ngày.
- Và đây là trang nhật ký
của một Linh mục: “… Đức Giêsu và Hội Thánh bấy giờ xuất hiện với tôi như một
cái gì thật khô cứng, sự khô cứng của những khái niệm Thần học, những bổn phận
“phải” làm hơn là một tình yêu thiết tha tung cánh… Rồi chẳng biết từ đâu,
triết đông và Phật giáo len lỏi vào tâm hồn tôi, phất phơ nhẹ nhàng nhưng nó
lại có sức giật tung những gì mòn mỏi trong lòng tôi. Tôi nằng nặc đòi nhà dòng
cho tôi được ra ở một mình trên núi, sống với nắng, với gió mưa, với đói khát,
và với cả sợ hãi nữa. Nhưng mỗi lần tôi để tâm suy, trí niệm thì vấn đề Đức
Giêsu lại vang lên, đeo bám mãi. Sau một năm, tôi hết phép. Với thân tàn ma
dại, tôi thua cuộc, lại mò về nhà dòng hoàn toàn tay trắng! Nhưng Chúa Giê- su
cứ đeo bám tôi mãi. Một năm trời nổi loạn, thất bại đã trôi qua và kể như trắng
tay, tôi được bề trên gọi làm… Linh mục. Hoang mang và sợ hãi, tâm hồn rối bời,
tan nát, tôi vào ngồi bất động trong Nhà Nguyện trầm lặng nhưng lòng như bị đay
nghiến, như một mất mát đòi tôi đền bù.
Trước khi làm Linh mục
vài hôm, một đêm tôi thử tiến lên đứng sát Nhà Chầu. Có cái gì đó hơn là một
cảm giác, hơn là một sự rung động, phủ chụp lấy toàn bộ cuộc đời và con người
tôi. Ngay từ giây phút đó, tôi hiểu rằng, cho dù có là hòn đá, hòn sỏi, dù tôi
có là con người bê bết lấm bùn, thân tàn ma dại, dù đã làm hỏng cuộc đời, thì
Đức Giêsu vẫn gọi và chọn tôi. Việc đó làm cho tâm hồn tôi bừng sáng lên huy
hoàng. Và tôi gọi Ngài là Chúa, Cứu Chúa cuộc đời của tôi…"
13. Thánh Thể Là Trung Tâm Đời Sống Kitô Hữu--Lm. Giuse Nguyễn
Hữu An
Đức cố Hồng y FX Nguyễn
Văn Thuận đã từng nói: Tôi mơ ước, Tòa Thánh cùng với tất cả các cơ quan của
mình, như một bánh thánh lớn, một chiếc bánh duy nhất được dâng hiến trong hy
tế thiêng liêng, giữa lòng Giáo Hội như một nhà Tiệc Ly rộng lớn... Mỗi lần
dâng Thánh lễ là mỗi lần tôi được dịp giang tay đóng đanh chính mình vào Thập
giá với Chúa Giêsu, cùng cạn chén đắng với Ngài... Dù thiếu tất cả, dù mất tất
cả, nhưng còn Thánh Thể là còn tất cả vì con có Chúa Thiên Đàng dưới đất...
(Trích Bài Thuyết Trình tại Đại Hội Thánh Thể thế giới, Mexico 2004).
Phúc Âm kể lại: Đang khi
ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói:
“Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và
nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống” (Mt 26, 26-29; Lc, 22,
14-20). Chúa đã lập bí tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: “Các con hãy
làm việc này mà nhớ đến Thầy."
Tiệc Thánh Thể được chính
Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum,
được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử hành đầu tiên tại làng
quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau thật tuyệt đẹp trong
ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Thánh Thể là sự sống của
Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc
trường cửu của người tín hữu. Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với
con người, và giữa con người với nhau. Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh
mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.
Lịch sử cứu độ là lịch sử
hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này
là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá
biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của
Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập
Giá. Thập Giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.
14. Thánh Thể và đời sống Kitô hữu
ĐHY FX Nguyễn Văn Thuận
viết: ”Con muốn hỏi: ‘Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?’. Hãy tham dự Thánh lễ, vì
không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa
Giêsu trên Thánh giá” (Đường Hy Vọng #349); “Muốn tin, phải nuôi mình bằng
Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘Mầu nhiệm Đức tin’ và ban sức mạnh đức tin cho
con." (Đường Hy Vọng #373); ”Biết giá trị Thánh lễ, dù xa dù khó con cũng
cố gắng tham dự. Càng hy sinh con càng thấy mến Chúa hơn” (Đường Hy Vọng #346);
”Dù cô đơn nơi đèo heo hút gió, dù tăm tối trong ngục tù, con hãy hướng về các
bàn thờ trên thế giới, nơi Chúa Giêsu đang tế lễ; con dâng lễ và rước lễ thiêng
liêng. An ủi và can đảm sẽ tràn ngập lòng con” (Đường Hy Vọng #364).
Louis, vị hoàng đế nước
Pháp, một vì hoàng đế tốt lành, một người rất siêng năng làm việc. Vua đam mê
hoạt động. Vậy mà vua vẫn tìm thời giờ để dự hai ba Thánh lễ mỗi ngày. Mấy
người cận thần của vua nói: “Hoàng thượng đã đóng thuế quá nhiều cho những
Thánh lễ." Ngài trả lời: “Nếu ta dành thời giờ săn đuổi những thú vui,
tham dự những bữa tiệc linh đình với bạn bè, coi hát mỗi ngày, có thể các người
than phiền rằng ta đã dành thời giờ quá nhiều cho những thú vui đó. Nhưng các
bạn tốt của ta ơi. Các ngươi quên rằng ta dự Thánh lễ mỗi ngày không phải chỉ
để cầu nguyện cho bản thân ta mà còn cầu cho cả đất nước của ta, vì ngoài những
Thánh lễ ra ta không còn cách nào khác tốt hơn là chuyện đó."
Thánh Louis đã ám chỉ,
hàng ngàn người Công giáo: “Họ có thể dự Thánh lễ mỗi ngày nhưng họ không làm.
Nếu họ hy sinh chút ít thời giờ đi lễ, họ có thể lãnh nhận được vô vàn ân sủng
ngoài sự tưởng tuợng của họ. Thật không hiểu được, không thể giải thích tại sao
bao người Công giáo không chịu dự lễ mỗi ngày để lãnh nhận bao ân huệ từ trời
cao, vì dự một Thánh lễ giá trị cả ngàn ngày cho họ. Họ không hiểu được bao ơn
huệ tuyệt vời và những ích lợi mà họ lãnh nhận được qua Thánh lễ."
Tham dự Thánh lễ tích
cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong
ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học
được nhiều điều từ bí tích Tình Yêu.
15. Thiên đàng ở đây
Nước Trời, Thiên Đàng, Ơn
Cứu Rỗi đang ở đây, không ở đâu xa, đang ở trong lòng ta: chính Thánh Thể Chúa
Giêsu, như Chúa Giêsu đã xác quyết: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở
trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta
sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta" (Ga 6, 56
– 57).
Hơn nữa, dù Thánh Lễ diến
ra ở Âu, Á, Mỹ hay Phi, ở thành thị hay thôn quê, ở Nhà Thờ Chính Tòa hay trong
nơi lao tù, trong trại cải tạo, thì tấm bánh ấy, chén rượu ấy, cũng là chỉ một
Mình Thánh Máu Thánh Chúa Giêsu, và tất cả chúng ta, những người rước lấy, đều
sống chung một nguồn sống duy nhất là Chúa Giêsu Thánh Thể. Như vậy, mọi người
đang sống trong thiên đàng của Thiên Chúa ngay hôm nay. Vì thế, việc thể hiện
tình hiệp nhất, yêu thương, việc bác ái giúp nhau phần hồn phần xác để đi trọn
cuộc lữ hành này, là bổn phận thiết yếu của mỗi chi thể trong cùng một Thánh
Thể Chúa Kitô.
Thánh Phaolô dạy:
"Anh em thân mến, chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa chẳng
phải là thông hiệp với máu Chúa Kitô sao? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải
là thông phần vào Mình Chúa đó sao? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều
người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng
một tấm bánh." (1Cr 10, 16 – 17)
Thế là, hình ảnh sống
động của Nước Trời, của Thiên Đàng, của Ơn Cứu Rỗi, còn cụ thể qua việc bác ái.
Hai cụ bà hành khất ở xó chợ. Một bà còn lết được, một bà bất toại một chỗ. Bà
còn lết được chia cho bà kia những gì mà mình kiếm được mỗi ngày. Hai bạn tù
chia nhau một mẫu bánh. Hai người cùng khổ chia nhau mấy con cá lăn tiêu... Đó
là hình ảnh Nước Thiên Đàng của Thiên Chúa đang sống động trong chúng ta.
Thiên Đàng không ở đâu
xa, không là tương lai, nhưng là hiện tại, là ngay lúc nầy, ở ngay trong lòng
ta: Chúa Giêsu Thánh Thể và việc bác ái yêu người mà Thánh Thể Chúa mong muốn,
thôi thúc, hướng dẫn.
16. Thánh Thể và đức ái
Ở một Giáo xứ gần chỗ
tôi, có cụ già đạo đức đặc biệt. Tuổi cụ hơn gấp đôi tuổi cha sở. Gần đây, cụ
thường nhắm mắt lại khi cha sở đọc Lời Truyền Phép. Ai hỏi cụ tại sao nhắm mắt,
cụ trả lời là thói quen. Nhưng thực ra, không phải như thế. Mới đây, cụ đã vào
xin gặp riêng cha sở.
"Xin cha đóng cửa
lại. Con muốn thưa chuyện riêng với cha... Thưa cha, mỗi khi cha đọc Lời Truyền
Phép, con nhắm mắt lại để không nhìn thấy cha, để chiêm ngưỡng chỉ một Chúa
Giêsu quá sức khiêm nhường. Vì dù cha là con người có bất toàn thế nào đi nữa,
có thể có nhiều tai tiếng không tốt, hoặc kể là cha có tội lỗi đi nữa, thì Chúa
Giêsu cũng vâng lời cha mà ngự xuống trong hình Bánh Rượu, để nên Mình Thánh
Máu Thánh dưỡng nuôi linh hồn chúng con...
Cha biết đó, giáo dân xứ
mình đang không vâng lời cha, bỏ xứ nhà sang dự lễ xứ bạn, không tham dự thánh
lễ với cha, không xưng tội với cha, còn chống lại cha nữa. Trong khi đó, Chúa
Giêsu không bỏ cha, còn thương cha, thương con, thương yêu mọi người mà chịu
vâng lời cha ngự xuống trong hình bánh rượu nữa. Mong cha nghĩ lại điều này, để
giáo dân cũng vâng lời cha như trước."
Tôi nghĩ cụ già ấy đang
làm một việc bác ái do chính Thánh Thể Chúa thôi thúc, Khi đã hiệp nhất trong
cùng một tấm bánh, trong cùng một thân thể, thì thương tích của chi thể nầy
cũng là nỗi đau của chi thể kia. Không thể có sự dững dưng vô tình trước những
thương tích xác hồn của anh em cùng chung tấm bánh, chung ly rượu, đặc biệt hơn
khi những anh em đó lại là những hiện thân của Chúa Kitô.
17. Bí tích tình yêu
Một câu chuyện lạ lùng và
cảm động về một loài vật vốn đã rất quen thuộc với chúng ta. Chuyện kể rằng,
khi sửa nhà, một anh thanh niên người Nhật đã nhìn thấy một con thằn lằn bị kẹt
bên trong khe hở giữa hai bức tường bằng gỗ. Một sự tình cờ nào đó đã khiến chân
chú thằn lằn tội nghiệp bị một cây đinh ghim vào tường. Nhưng lạ lùng hơn nữa
là căn nhà đã được xây dựng hơn mười năm, điều đó đồng nghĩa với việc chú thằn
lằn đã sống trong tình trạng này suốt thời gian qua.
Quá ngạc nhiên với những
gì đang diễn ra trước mắt, chàng trai bèn ngưng làm việc và tò mò theo dõi xem
chú thằn lằn đã sống ra sao trong tình trạng bị "cầm tù" như vậy.
Không lâu sau đó, anh
nhìn thấy một con thằn lằn khác xuất hiện, miệng ngậm đồ ăn đến bên con thằn
lằn bị ghim vào tường.
Một cảnh tượng thật cảm
động. Con thằn lằn bị ghim đinh vào tường đã được một con thằn lằn khác nuôi ăn
trong suốt mười năm qua. Không ngờ một loài vật không có linh hồn, không biết
suy nghĩ, mà lại có một tình cảm sâu nặng đến như thế.
Thử tưởng tượng cặp thằn
lằn ấy đã sống thế nào suốt chừng ấy năm.
Chắc hẳn con thằn lằn bị
ghim vào tường dù phải chịu đau đớn nhưng vẫn không ngừng hy vọng. Với con còn
lại, nó đã làm việc không biết mệt mỏi và không hề bỏ rơi bạn mình trong suốt
mười năm.
Con thằn lằn là như vậy,
còn con kiến thì sao?
Trong một lần cháy rừng,
khi cánh rừng bốc cháy, anh chị em có biết đàn kiến thoát thân như thế nào
không? Chúng nhanh chóng tập hợp lại, ôm nhau thành một cuộn đen tròn rồi lăn
như một trái banh, thoát khỏi biển lửa. Mỗi lần đọc đến đây chắc hẳn mỗi người
chúng ta đều xúc động. Dường như chúng ta nhìn thấy ngọn lửa đang rừng rực
cháy, một bầy kiến đen đang lăn tròn; dường như chúng ta nghe thấy tiếng lắc
rắc trong đám lửa, đấy chính là tiếng của những con kiến bị lửa thiêu, những
con kiến ở vòng ngoài cùng đã dùng thân mình để mở đường máu. Nếu không nhanh
trí quấn lại thành cuộn tròn, nếu không có sự hy sinh của những con kiến vòng
ngoài thì dòng họ nhà kiến đã bị thiêu cháy hết. Một loài kiến nhỏ bé sao chúng
dám hy sinh cho nhau đến mức ấy.
Câu chuyện con kiến và
con thằn lằn như muốn nhắc nhở chúng ta về lời tâm huyết của Chúa Giêsu: Các
con hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con.
18. Thiết lập lễ Thánh Thể
Vào năm 1263, tại nhà thờ
thánh Catherine, thành Bolsène nước Ý, có một linh mục trong khi dâng lễ, sau
khi đọc lời truyền phép đã nghi ngờ về bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa.
Xảy ra là Máu Thánh chảy ướt khăn thánh và khăn bàn thờ. Đức Giáo Hoàng nghe
tin và đã rước khăn thánh về để tạm tại nhà thờ Orviette. Sau đó, xây nhà thờ
để thờ kính Máu Chúa nơi Khăn Thánh này. Ngày 8 tháng 9, 1264, Đức Giáo Hoàng
Urbanô IV (1262-1268) đã ban hành tự sắc Transiturus, lập lễ kính Mình Máu
Thánh Chúa Kitô và cử hành sau tuần 8 ngày của lễ Chúa Thánh Thần. Thánh Tôma
Aquinô đã sáng tác bài Pange Lingua và Adoro Te để tôn kính Mình Máu Thánh
Chúa.
Thiên Chúa tạo dựng vũ
trụ muôn loài và quan phòng mọi sự một cách lạ lùng. Mọi thụ tạo trong hoàn vũ
đều thay đổi mỗi giây phút. Các loài có sự sống từ thực vật, động vật đến sinh
vật đều theo một tiến trình phát triển, có sinh và có tử. Trong mọi loài Chúa
đã dựng nên, được phát triển và nẩy nở theo thời gian năm tháng tùy theo mỗi
loại. Nơi mọi loài có sự sống, đều phải hấp thụ dưỡng chất qua môi trường chung
quanh để sinh tồn. Có nghĩa mọi loài hiện hữu cần có ăn uống, hấp thụ, tiêu
hóa, đào thải, phát triển, già nua và tiêu diệt. Ăn uống là nhu cầu cần thiết
để sống và sinh tồn. Ngày xưa dân Do-thái lữ hành trong sa mạc trên đường về
miền Đất Hứa, Thiên Chúa đã nuôi dân bằng Manna, thịt chim cút và nước nguồn.
Chúa đã nuôi dân suốt thời gian: Trong hoang địa, Người đã nuôi các ngươi bằng
Manna mà cha ông các ngươi chưa từng biết tới (Đnl 8, 16a). Manna lương thực
nuôi dưỡng hằng ngày là hình ảnh của bánh trường sinh.
19. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời
Tại Tây Ban Nha có một
câu chuyện về cậu bé tên là Marcellino. Mới sinh ra cậu bị người ta quăng trước
cửa tu viện, và đã được các tu sĩ đem về nuôi.
Vốn tính hay nghịch ngợm,
nên thày đầu bếp không cho cậu leo lên gác. Nhưng vì tò mò, một ngày kia
Marcellino lén leo lên, cậu ngạc nhiên thấy một người khổng lồ bị treo trên
thập giá. Nghĩ rằng người ấy chắc là đói lắm, nên đêm hôm ấy Marcellino vào bếp
ăn cắp bánh mang lên cho ông. Người khổng lồ đưa tay nhận bánh và mỉm cười với
cậu.
Từ đó, ngày nào cậu cũng
đem bánh cho người ấy. Ngày kia, ông âu yếm ôm lấy cậu bé và hỏi:
- Con thích nhất điều gì
trên trần gian này?
Cậu mau mắn thưa:
- Con muốn được gặp mẹ
con.
Người ấy liền nói với cậu
bé:
- Con sẽ được gặp mẹ con
ngay tức khắc nếu con chấp nhận phải chết đi.
Hôm sau các thầy tìm thấy
cậu nằm chết như đang ngủ say trong vòng tay thương mến của Chúa Giêsu.
Vì yêu thương mẹ, muốn
được ở bên mẹ, mà Marcellino đã bằng lòng chịu chết. Vì yêu thương con người,
Đức Giêsu cũng đã sẵn lòng chịu chết để cho con người được sống. Hơn nữa, Người
còn có sáng kiến là hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, để được ở mãi với con
người, để làm của ăn của uống, như lương thực nuôi dưỡng con người trên cuộc
hành trình về quê trời. Người đã hứa: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn
đời."
20. Mình Máu Thánh Đức Kitô.
Palestine là một vùng đất
hiện vẫn còn rất đông người theo đạo Hồi. Ngày nọ có một vị thầy, lãnh đạo một
cộng đoàn Hồi giáo, mời một linh mục Công giáo đến để công khai tranh luận về
bí tích Thánh Thể trước sự hiện diện của các tín hữu đôi bên. Vị thầy hỏi:
- Làm sao một miếng bánh
nhỏ lại có thể trở thành Đức Kitô được?
Vị linh mục trả lời:
- Được chứ sao lại không?
Tôi xin minh chứng cho thầy biết bằng một thí dụ đơn sơ. Nếu thầy ăn cơm, thầy
có thể biến cơm thành máu thịt của thầy, có thật thế không nào? Chớ thì tại sao
Chúa lại không biến tấm bánh nhỏ trở thành máu thịt Chúa được.
Bậc thầy đó lại hỏi tiếp:
- Làm sao Đức Kitô to lớn
như thế lại có thể ở trong miếng bánh nhỏ xíu?
Vị linh mục trả lời:
- Thầy hay nhìn trời,
nhìn núi và các thôn làng. Bầu trời thì mênh mông. Ngọn núi thì cao lớn hùng
vĩ, còn thôn làng thì rộng rãi bao la, thế mà con mắt nhỏ xíu của thầy có thể
chứa được tất cả. Nếu con mắt của Thầy làm được chuyện đó thì tại sao Thiên Chúa
lại không thể làm cho miếng bánh nhỏ xíu chứa đựng được Đức Kitô.
Bậc thầy không chịu thua
lại hỏi thêm:
- Làm sao có thể cử hành
nhiều thánh lễ cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới, mà mỗi thánh lễ lại có
Mình và Máu của Đức Kitô được?
Vị linh mục đáp:
- Đối với Thiên Chúa
không có gì là không thể làm được.
Rồi để chứng minh cho câu
trả lời này, vị linh mục lấy một tấm gương ném xuống đất khiến nó bể tan thành
rất nhiều mảnh nhỏ. Tiếp đến, vị linh mục giơ tay chỉ cho bậc thầy đang ngạc
nhiên và nói:
- Trước đây trong tấm
gương này, thầy trông thấy gương mặt mình có phải không nào. Và bây giờ thầy
cũng trông thấy gương mặt mình trong từng mảnh nhỏ. Thế thì tại sao Thiên Chúa
lại không thể hiện diện tại nhiều nơi trong cùng một lúc được.
Cuộc tranh luận trên giúp
chúng ta hiểu được phần nào mầu nhiệm Mình Máu Thánh Đức Kitô mà Giáo Hội cử
hành mỗi ngày trong bí tích Thánh Thể. Vậy chúng ta phải có thái độ nào khi đi
tham dự Thánh lễ?
Thánh lễ không phải là
nơi trình diễn thời trang hay văn nghệ. Vì thế xén đầu bớt đuôi không tham dự
đầy đủ, biến Thánh lễ thành buổi trình diễn chỉ có ca đoàn độc tấu từ đầu đến
cuối, còn cộng đoàn thì yên lặng, là tỏ ra không hiểu gì về ý nghĩa phụng vụ và
tinh thần cộng đoàn của Thánh lễ.
21. Bánh của tình yêu
Trong suốt những năm từ
1984 đến 1986, Ethiopie đã phải chịu đựng một nạn đói khủng khiếp. Đức Hồng y
Hume ở Westminster kể lại một sự kiện đã xảy ra, khi ngài thăm viếng Ethiopie
giữa thời kỳ nạn đói. Một trong những nơi mà ngài thăm viếng là một trại định
cư nằm trên các sườn đồi, tại đó, dân chúng đang chờ đợi thực phẩm không chắc
sẽ được gửi tới. Đức Hồng Y đã được chở đến đó bằng trực thăng. Ngay khi ngài
vừa mới bước ra khỏi trực thăng, thì có một bé trai, khoảng độ 10 tuổi, chạy
đến và nắm bàn tay của ngài. Cháu bé không mặc quần áo gì cả, chỉ đóng một cái
khố nhỏ mà thôi. Suốt thời gian mà Đức Hồng Y có mặt ở đó, cháu bé này không hề
buông tay mình ra khỏi bàn tay của ngài. Trong khi Đức Hồng y và bé trai này đi
bên nhau, cháu bé có hai cử chỉ: cháu dùng một bàn tay chỉ vào miệng của mình,
còn bàn tay kia vẫn nắm chặt bàn tay Đức Hồng Y, và ép sát bàn tay ngài lên má
của mình. Sau này, Đức Hồng Y đã nói: “Đây là một đứa trẻ mồ côi, đã bị mất hết
cha mẹ vì nạn đói. Tuy nhiên, bằng hai cử chỉ đơn giản đó, cháu bé đã chứng tỏ
hai nhu cầu đói khát căn bản của con người. Bằng cử chỉ đầu tiên, cháu bé đã
cho tôi thấy cơn đói ăn của mình, và bằng cử chỉ kia, cháu đã nói lên nhu cầu
được yêu thương. Không bao giờ tôi quên được sự kiện đó, và cho đến hôm nay,
tôi vẫn thắc mắc không biết cháu bé đó còn sống không. Tôi còn nhớ là khi bước
lên trực thăng, cháu cứ đứng nhìn tôi bằng một cái nhìn đầy trách móc."
Bài đọc hôm nay nói: “Con
người không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn bằng mọi lời từ miệng Thiên Chúa
phán ra."
22. Các phép lạ Thánh Thể
Vào năm 1263, một linh
mục từ Prague, thủ đô Tiệp Khắc, đi hành hương tới Rôma cầu xin Thiên Chúa gia
tăng đức tin cho ngài vì đang có những nghi ngờ về ơn kêu gọi. Trên đường tới
Rôma, ngài ngừng lại ở một thị xã cách Rôma 70 dặm về phía bắc. Tại đây, trong
thánh lễ, khi truyền phép ngài nâng cao bánh lễ lên, tấm bánh đã trở nên thịt
và bắt đầu chảy máu. Những giọt máu đã chảy xuống trên tấm khăn thánh nhỏ màu
trắng trên bàn thờ. Năm sau, 1264 Đức Giáo Hoàng Urban IV đã thành lập lễ Mình
Máu Thánh Chúa Giêsu, và ngài đã yêu cầu thánh Thomas Aquinas sáng tác một bài
ca cho ngày lễ. Thánh Thomas đã viết ra hai bài nổi tiếng là “Tantum Ergo” và
“O Salutaris” mà chúng ta vẫn thường hát khi chầu Thánh Thể. Tấm khăn thánh
mang những vết máu vẫn còn được lưu giữ tại vương cung thánh đường Orvieto,
phía bắc thành phố Roma.
Mặc dù phép lạ thánh thể
này đã dẫn tới việc thiết lập ngày lễ Mình và Máu Chúa Giêsu, nhưng phép lạ
Thánh Thể nổi tiếng ở Lanciano, cũng tại Ý, đã xảy ra nhiều thế kỷ trước vào
năm 700. Câu chuyện xảy ra tại nhà thờ thánh Legonzanô khi một linh mục dòng
thánh Basiliô đang dâng thánh lễ bỗng trở nên nghi ngờ sự hiện diện thực sự của
Mình Máu Thánh Chúa trong hình bánh rượu. Lúc truyền phép, sự lạ liền xảy ra
ngay trong tay vị linh mục. Bánh trở nên thịt sống và rượu trở nên máu tươi rồi
đông đặc lại thành 5 cục to nhỏ. Tuy đã trải qua 1300 năm rồi, ngày nay vẫn còn
thấy rõ miếng bánh đã biến thành thịt này có màu hơi nâu, nhìn dưới ánh sáng
thấy màu hồng được đặt trong một mặt nhật quý giá. Và năm cục máu màu vàng nghệ
được đặt trong một chén thánh bằng kính trưng bày ở nhà thờ Lancianô để giáo
dân tự do kính viếng.
Trong 12 thế kỷ qua, giáo
quyền đã cho làm nhiều cuộc giám nghiệm vào những năm 1574, 1637, 1770, 1886.
Mới đây vào năm 1971 và 1981 một phòng thí nghiệm của bệnh viện đã thử nghiệm
lại bằng những thiết bị khoa học tối tân. Công việc được trao cho ông Odoardo
Linoli, giáo sư môn giải phẫu nhân hình, kiêm giáo sư mô học bệnh lý, hóa học
và hiển vi học, với sự cộng tác của giáo sư Ruggero Bertelli thuộc đại học
đường Siena. Kết quả được công bố vào ngày 04.03.1971 trước các vị trong giáo
quyền, chính quyền, các giới khoa học, văn học và báo chí:
- Thịt và máu này là thịt
và máu thật, của một người có máu AB đã sống.
- Thịt được lấy ra từ mô
cơ tim (myocardium), một phần thịt của trái tim, một cách khéo léo tuyệt vời
như do một nhà phẫu thuật tài giỏi. Điều này có nghĩa là từ trái tim của Chúa
Giêsu, Thánh Tâm. Đây chính là biểu tượng của tình yêu.
- Thịt và máu không có vết
tích của một chất nào được dùng để ướp xác cả.
- Trong máu có các chất
clorua, phốt pho, magnesium, potassium, sodium và calcium.
Các di tích này được lưu
trữ bao nhiêu thế kỷ một cách tự nhiên, lại chịu ảnh hưởng của những xúc tác
vật lý, không khí, sinh vật mà vẫn giữ nguyên tình trạng như thế là một hiện
tượng kỳ lạ, khoa học không sao giải thích được. Hơn thế nữa, điều lạ lùng là
nếu đem cân một cục máu, trọng lượng vẫn bằng tổng số của cả năm cục. Đem cân
riêng lẻ từng cục hay cân chung lại với nhau tổng số vẫn không thay đổi.
Đây là hai phép lạ Thánh
Thể trong tổng số khoảng 22 các phép lạ khác xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.
Những phép lạ này trả lời cho những nghi ngờ về sự hiện diện thực của Chúa
Giêsu qua hình bánh và rượu. Lòng đạo đức và sự trung thành của chúng ta sẽ tùy
thuộc vào sự ràng buộc bởi mệnh lệnh của Chúa Giêsu đã ban trước ngày chịu nạn:
“Anh em hãy làm việc này để tưởng nhớ Thầy."
23. Thánh thể tưởng niệm sự hy sinh của Chúa Giêsu:
Một câu chuyện có thật
gợi lên sự hy sinh cao cả của Chúa Kitô được những tù binh người Anh bị lính
Nhật giam giữ trên bờ sông Kwai kể lại như sau: Một người lính Anh Quốc của
trung đoàn Argyll bị lính Nhật bắt giam phải đi làm lao động khổ sai xây dựng đường
rầy xe lửa. Như thường lệ, sau mỗi ngày lao động, tất cả những dụng cụ làm việc
phải được kiểm kê. Ngay khi một nhóm tù binh vừa trao nộp dụng cụ xong, sắp sửa
trở về trại, thì người lính Nhật canh giữ la lên rằng có một cái xẻng bị mất.
Anh lính quả quyết rằng một người nào đó đã ăn cắp và bán cho người Thái. Cả
nhóm tù binh phải tập họp lại. Anh lính Nhật bước tới bước lui trước mặt từng
người tù, anh phô trương, nộ nạt, sỉ vả họ vì hành động xấu xa và vô ơn đối với
hoàng đế. Đến lúc phát cáu, hắn nổi giận, và la hét. Hắn yêu cầu thủ phạm phải
bước ra khỏi hàng ngũ chấp nhận hình phạt. Nhưng chẳng có ai động đậy. Tên lính
Nhật lại càng nổi cơn điên lên cao độ hơn nữa. Hắn hét lên: “Tất cả phải chết!
Chết hết! Chết hết!"
Để chứng tỏ điều hắn nói
là thật, hắn lên cò súng, kê báng súng lên vai và chĩa nòng súng vào từng người
một, sẵn sàng bắn từ đầu cho đến cuối. Vào lúc đó Argyll bước tới, đứng yên và
nói: Tôi đã làm điều đó." Tên lính Nhật tuôn ra tất cả sự thù hận, hắn đấm
đá túi bụi vào Argyll. Tuy nhiên anh vẫn đứng lặng thinh với khuôn mặt đầy máu
me đang chảy xuống. Sự yên lặng của anh đã khiêu khích sự phẫn nộ của tên lính
Nhật lên tột độ. Hắn nắm lấy cây súng trường, đưa lên cao khỏi đầu, và với một
tiếng tru lên như chó, hắn bắn vào đầu Argyll. Argyll tung người lên, rơi xuống
đất, rồi nằm yên bất động. Mặc dù rõ ràng rằng người tù đã chết, nhưng tên lính
Nhật vẫn tiếp tục đánh anh cho đến khi hắn kiệt sức mới thôi! Những người tù
khổ sai đã lãnh xác người bạn mình, vác những dụng cụ lao động trên vai, bước
về trại. Khi những dụng cụ lao động được đếm lại một lần nữa ở đồn lính canh,
đã không có cái xẻng nào bị mất cả. Tất cả dụng cụ lao động đều đầy đủ! Thánh
Thể là sự tưởng niệm cuộc tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô. Theo ý nghĩa của
Thánh Kinh “tưởng niệm” không chỉ có nghĩa là nhớ lại những biến cố của quá
khứ, nhưng còn có nghĩa công bố những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện cho
loài người. Trong Tân Ước từ “tưởng niệm” còn có nghĩa là sự tái diễn có tính
cách bí tích, làm cho trở thành hiện tại sự hy sinh của Chúa Kitô như Công đồng
Vatican II đã nói: “Tất cả mỗi khi hy lễ thập giá mà Chúa Kitô, lễ Vượt Qua của
chúng ta, được hiến tế trên bàn thờ, thì công cuộc ơn cứu chuộc của chúng ta
được thực hiện."
24. Chuyện tình cao cả
Trong quyển "Sống
Một Nghệ Thuật" có một chuyện tình được xếp vào hàng chuyện tình đẹp nhất
Trung Quốc 2006: Một ông cụ 70 tuổi đã tự tay đẽo 6.000 bậc thang để giúp người
vợ 80 tuổi của mình trèo lên núi, hay nói đúng hơn đó là cái hang mà họ đã sống
50 năm qua. 50 năm trước, chàng trai Liu Guojiang đem lòng yêu Xiu Chaoqing,
một goá phụ đã có con. Quá mệt mỏi bởi những lời đàm tiếu, chống đối, ngăn trở
của gia đình, bạn bè, họ đã bỏ nhà lên hang động này sống ẩn dật để được trọn
vẹn yêu nhau. "Anh có chắc là không hối tiếc không?" Đó là câu hỏi
Xiu thường hỏi chồng. "Chừng nào chúng mình còn làm việc cần cù, cuộc sống
chắc chắn sẽ tốt lên." Đó là câu trả lời của Liu.
Vâng, sức mạnh của tình
yêu là thế đó. Không có điều gì có thể quật ngã được sức mạnh ấy. Tình yêu nơi
nhân loại chính là hình bóng của tình yêu nơi Thiên Chúa. Và nơi Thiên Chúa,
tình yêu cũng được cụ thể hoá bằng hành động. "Thiên Chúa đã yêu thương
thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian... để nhờ Người Con nầy mà
thế gian được cứu" (Ga 3,16-17). Tột đỉnh của tình yêu ấy là cái chết đau
thương của Đức Giêsu trên thập giá, "Ngài đã tự hiến mình để trở nên của
ăn của uống cho toàn dân."
25. Thịt Ta thật là của ăn
Thời cách mạng Pháp 1789,
đạo Công giáo bị làm khó dễ và bị cấm không được truyền đạo. Một cha xứ nhà quê
lén đem Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt, theo sau có cậu giúp lễ tên là Benjamin.
Bọn lính cách mạng phát hiện đuổi theo rất gấp. Cha xứ dúi vào tay cậu bé cái
hộp đựng Mình Thánh Chúa và bỏ chạy. Lính bắt cha lại và giết cha. Cậu bé giúp lễ
vừa chạy vừa mở hộp Mình Thánh Chúa ra và bỏ vào miệng nuốt đi. Lính bắt cậu và
tra hỏi. Cậu nói: "Mình Thánh Chúa đang ở trong người tôi." Lính tức
giận giết luôn cậu bé, rồi chôn xác cha xứ và cậu bé chung nhau dưới gốc cây
sồi to...Sau đó cuộc cách mạng thất bại và qua đi. Một hôm một cơn lốc mạnh đã
làm trốc gốc cây sồi, để lộ hai xác: cha xứ và cậu bé giúp lễ. Người ta phát
hiện Mình Thánh Chúa vẫn còn trong người cậu bé và xác của cậu vẫn còn tươi dù
đã nằm dưới đất khá lâu...
26. Chúa Giêsu bồng ẵm tôi
Một trong những truyện
hay nhất của cuộc đời Chúa Giêsu là truyện Chúa bồng ẵm một em bé. Các tông đồ
tranh cãi xem ai là người cao cả nhất. Chúa Giêsu bảo các ông: “Ai muốn ở bậc
nhất thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người." Rồi Chúa dắt một
em bé lại và để em đứng giữa các ông. Chúa bồng ẫm em và nói: “Ai đón nhận một
trẻ nhỏ như em bé này vì danh Ta là đón nhận Ta, và ai đón tiếp Ta, thì không
phải đón tiếp Ta, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Ta” (Mc 9,36).
Theo truyền tụng thì em
bé này sau trở nên thánh Ignatuiô thành Antiochia, Ngài đã hiến dâng mạng sống
vì Chúa Kitô năm 107. Khi còn là thiếu niên, Ignatio thường dẫn bạn bè tới nơi
mà Chúa Giêsu đã bồng ẵm cậu và bảo bạn bè: “Các bạn coi đó. Đây là chỗ Chúa
Giêsu đã bồng ẵm tôi."
Nếu bạn muốn, bạn có thể
coi đó là câu chuyện tưởng tượng của thời trung cổ, nhưng chúng ta biết chắc
chắn rằng Chúa Giêsu đã bồng ẵm một em bé. Sự kiện đó hôm nay làm nổi bật tư
tưởng của tôi, nghĩa là trong sự Hiệp lễ, chúng ta không chỉ ôm ẵm Chúa Giêsu,
nhưng chính Ngài cũng ôm ẵm chúng ta.
LỄ THÁNH THỂ
NĂM B – BÁNH HẰNG SỐNG
Lời Chúa
TRUYỆN KỂ
1. truyện
LỄ THÁNH THỂ
NĂM C – BÁNH HẰNG SỐNG
Lời Chúa: Lc 9, 11b-17
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói
với dân chúng về nước Thiên Chúa và chữa lành những kẻ cần được cứu chữa. Vậy
khi đã xế chiều, nhóm mười hai đến thưa Người rằng: "Xin Thầy giải tán dân
chúng, để họ đi vào trong các làng mạc và trại quanh đây mà trú ngụ và kiếm
thức ăn, vì chúng ta đang ở nơi hoang địa.”
Nhưng Người nói với các
ông: "Các con hãy cho họ ăn đi.” Các ông trả lời: "Chúng con chỉ có
năm chiếc bánh và hai con cá, trừ phi chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám
đông này.” Số đàn ông độ năm ngàn.
Người nói với các môn đệ
rằng: "Hãy cho họ ngồi xuống từng nhóm độ năm mươi người.” Các ông đã làm
như thế, và bảo tất cả ngồi xuống.
Chúa Giêsu cầm lấy năm
chiếc bánh và hai con cá, nhìn lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và phân phát
cho các môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Tất cả đều ăn no nê, và người
ta thu lượm được mười hai thúng miếng vụn còn dư lại.
TRUYỆN KỂ
1. Thánh lễ trong nhà thờ và thánh lễ ngoài cuộc đời
Đức Hồng Y Hellder Camara
về ban phép Thêm sức cho trẻ em trong một xứ đạo. Khi đến nơi, Ngài thấy cả xứ
đạo đang quỳ gối lăn lộn trên đất, đấm ngực khóc lóc than van như trong cơn đại
hoạ. Đêm trước, trong khi mọi người mê mải chuẩn bị đón Đức Hồng Y, kẻ trộm đã
lẻn vào nhà thờ ăn trộm những bình đựng Mình Thánh. Kẻ trộm đổ Mình Thánh Chúa
ra vườn, lấy đi những bình mà họ tưởng làm bằng vàng. Thật là một sự phạm thánh
ghê gớm.
Thế nhưng trong bài giảng
hôm ấy, Đức Hồng Y đã làm cho mọi người kinh ngạc khi Ngài nói: Tại sao hôm nay
anh chị em mới than khóc. Hằng ngày biết bao lần Chúa Giêsu bị nhục mạ, bị hành
hạ, bị chà đạp, bị giết chết trong những anh chị em nghèo khổ, vô gia cư, trong
các trẻ em không cha mẹ, không gia đình, sao chẳng thấy ai than khóc? Anh chị
em không biết sao, những anh chị em ấy chính là Chúa Giêsu, là Thân Mình Chúa
Giêsu, là Thánh Thể Chúa.
Nói như thế, Đức Hồng Y
không có ý coi thường phép Mình Thánh Chúa. Nhưng Ngài có ý nhắc cho ta một
khía cạnh thường hay bị lãng quên trong khi cử hành bí tích. Đó phải là cử hành
bí tích không chỉ trong nhà thờ mà còn phải cử hành cả ngoài cuộc đời nữa.
2. Ta thương dân bị đói
Tháng 11/ 1979. Đài BBC
tiết lộ Mỹ tổn phí sáu mươi tỷ đô và hai vạn quân trong chiến tranh Việt Nam từ
1965-1969. Một phá tán kinh khủng sau thế chiến thứ II. Báo chí tính tiền đổ
vào bom đạn ở miền Nam, chưa kể miền Bắc, có thể mua vàng chất đầy một đoàn xe
tải đậu sát nhau dài từ Vũng Tàu tới Sài Gòn. Còn trong thế chiến thứ II, người
ta tính số tiền phung phí đánh nhau, nếu lấy chia cho mỗi người trên thế giới,
sẽ được một nhà lầu và một xe hơi. Ngày nay, theo phát giác của một sử gia Thụy
Điển, mỗi phút trên thế giới chi phí quốc phòng là một triệu đô.
Ông Mác Namara, Chủ tịch
Ngân hàng Thế giới mười một năm, đã cảnh giác: Mỗi năm thế giới chi phí vô ích
vào vũ khí ba mươi tỷ đô với năm trăm nghìn bác học và kỹ sư ! Trong khi hơn
bốn tỷ người phải thiếu thốn khổ cực và chết đói.
Tiếng than của chính Đức
Kitô đến nay vẫn còn kêu lên: “Ta thương đám dân này vì đã bị đói lả.” Đói lả
phần xác, ta có thể đổ lỗi cho xã hội bất công, còn đói lả phần hồn, không đổ
lỗi cho ai, mà phải đấm ngực mình ăn năn để lo lãnh nhận của ăn đời đời.
3. Phép lạ ở nhà thờ thánh Christiana.
Vào năm 1263, có một linh
mục người Đức đang cử hành thánh lễ tại nhà thờ kính thánh Christiana, thì lúc
bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh
đã biến thành Thân xác Đức Giêsu tử nạn. Trên thân mình Chúa, máu đang rịn ra
qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. Máu chảy ra làm ướt tấm khăn
thánh và mấy lớp khăn phủ bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn kia lại.
Nhưng gấp tới đâu thì máu lại thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua 25 lần vải
khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục không thể tiếp tục dâng
hết Thánh lễ được.
Sau đó, vị linh mục đến
xin yết kiến Đức Giáo hoàng Urbanô và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo
hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một vị Giám mục đến điều tra thực hư.
Sau khi xác định là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa về Rôma và
đặt tại một nhà thờ dâng kính phép Thánh Thể, và mời giáo dân đến chầu Mình
Thánh liên tục. Sau đó, vào ngày mồng 8 tháng 9 năm 1264, Đức Giáo hoàng Urbanô
đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa Giêsu và truyền mừng
lễ trong toàn thể Hội thánh.
4. Ta đã dựng nên ngươi.
Tại góc đường của một
thành phố lớn, có một người đàn bà quần áo rách tả tơi đứng xa ăn xin với đứa
con trai nhỏ gầy ốm xanh xao của bà. Trong số những người đi qua đường phố, có
một người đàn ông triệu phú bước qua, nhìn họ không nói tiếng nào, cũng chẳng
giúp đỡ gì. Nhưng khi trở về biệt thự sang trọng của mình rồi, nhìn vào bàn ăn
với đủ mọi thứ cao lương mỹ vị, ông liên tưởng đến thằng bé còm kĩnh và người
mẹ khốn khổ của nó.
Càng nghĩ về họ ông càng
tức giận Thiên Chúa. Rồi ông nắm tay lại đưa quả đấm lên trời la to với Thiên
Chúa: “Làm sao Ngài lại có thể để cho sự khốn khổ như thế này xẩy ra cho được?
Tại sao Ngài lại không làm gì để giúp đỡ những con người bất hạnh đó”? Và từ
một nơi nào đó, rất sâu tự bên trong tâm hồn của ông, có tiếng Thiên Chúa trả
lời: “Ta đã làm. Ta đã dựng nên ngươi”
5. Hy sinh để được rước Chúa
Linh mục Walter Ciszek bị
quân Nga bắt trong thế chiến thứ hai. Ngài bị kết tội là "Gián điệp
Vatican" và phải qua 23 năm trong tù và trong các trại lao động Sibêrica.
Cuối cùng, khi ra khỏi tù, Ngài viết lại một quyển sách về những kinh nghiệm
của mình và đặt tựa cho nó là: "He Liadeth me" (Ngài dẫn dắt tôi)
Một số câu chuyện cảm
động trong cuốn sách nói về những hy sinh mà các tù nhân phải chịu để được nhận
lãnh Mình Thánh Chúa Kitô ở trong tù. Đặc biệt có một câu chuyện đáng ghi nhớ.
Trước khi chia sẻ câu chuyện này với anh chị em, tôi xin trình bày bối cảnh của
câu chuyện:
Vào những ngày xảy ra thế
chiến thứ hai, tức là trước Công Đồng Vatican II, giáo luật buộc kiêng ăn uống
suốt 24 giờ đồng hồ trước khi rước lễ. Xin lưu ý điều này khi đọc đoạn văn sau
trích từ quyển sách của Linh mục Ciszek:
"Tôi thấy các tù
nhân phải bỏ bớt giấc ngủ cần thiết và thức dậy trước chuông rung để tham dự
thánh lễ bí mật. Chúng tôi sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nếu bị khám phá đang
hành lễ và luôn luôn lúc nào cũng có những tên chỉ điểm… Tất cả điều trên khiến
cho những thánh lễ có đông tù nhân trở nên rất khó khăn, vì thế khi có thể
chúng tôi thường truyền phép thêm bánh lễ để phân phối cho các tù nhân khác.
Đôi khi chúng tôi thường chỉ trông thấy họ khi chúng tôi trở về trại vào ban
tối trước bữa ăn. Tuy vậy, những người này thường phải thực sự nhịn đói cả ngày
và phải lao động cật lực mà không dám ăn một miếng kể từ bữa ăn tối chiều hôm
trứơc chỉ với mục đích là để có thể rước Thánh Thể, điều này cho thấy Bí Tích
Thánh Thể có ý nghĩa với họ biết là dường nào !" (Trích từ He Leadeth me
của Walter Ciszek và Daniel Fatherly, bản 1973 của Walter J. Ciszek S. J).
6. Bí tích tình yêu
Trái bom nguyên tử đầu
tiên đã nổ tại Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945. Năm giờ rưỡi sáng hôm sau, một
thánh lễ được cử hành ở ngoại ô thành phố giữa những nạn nhân nằm la liệt.
Linh mục giám đốc tập
viện Dòng Tên mở cửa nguyện đường đón nhận họ và tìm cách săn sóc họ. Về sau,
khi đã trở nên Bề Trên Cả Dòng Tên, cha giám đốc tập viện Pedro Arrupe kể lại
cảnh tượng sáng hôm đó như sau: "Nguyện đường tập viện chúng tôi phân nửa
đã bị tàn phá, khi ấy tràn ngập những người bị thương do bom nguyên tử. Họ nằm
la liệt bên nhau trên nền nhà, co quắp lại, bị đau khủng khiếp. Tôi khởi sự
dâng thánh lễ, ráng tập trung trong một thế giới chẳng hiểu biết gì về những
điều đang thực hiện trên bàn thờ. Họ là người ngoại đạo chưa hề dự một thánh
lễ. Tôi không thể nào quên được cử chỉ tôi làm khi hướng về họ và nói: Chúa ở
cùng anh chị em, giữa cảnh họ đang chịu đau đớn. Tôi hầu như bị tê liệt với hai
tay giang ra mà tôi nghĩ tới thảm kịch con người dùng tiến bộ khoa học và kỹ
thuật để tiêu diệt loài người. Đáp lại là những cặp mắt của những nạn nhân đang
chờ nguồn an ủi nào đó từ bàn thờ giữa cảnh họ đang hấp hối và tuyệt vọng (...)
Sáu tháng sau, tất cả các
nạn nhân được chữa trị đều trở về nhà, chỉ trừ hai người đã chết. Nhiều người
trong số họ đã chịu Phép Rửa và ai thì cũng được biết thế nào là đức Ái Kitô
giáo (...)
Bí Tích Thánh Thể - Dấu
chỉ hữu hình của Tình Yêu siêu việt
7. Bí tích Thánh Thể và nghiên cứu khoa học
Vào thế kỷ thứ 8 tại
Lancianô nước Ý, một linh mục dòng thánh Basiliô đang khi cử hành thánh lễ, sau
khi truyền phép xong, bỗng đâm ra nghi ngờ sự hiện diện của Chúa dưới hình bánh
ruợu thì lập tức Phép lạ đã xẩy ra ngay trong tay vị linh mục đó: Bánh trở nên
thịt sống và rượu trở nên máu tươi.
Được giáo quyền cho phép,
ngày 18/11/1970 các cha dòng Phanxicô, những người có trách nhiệm bảo lưu đã
trao thánh tích cho một nhóm chuyên viên khoa học để họ làm công việc nghiên
cứu tế nhị và khó khăn này.
Nhóm này do Giáo sư
Odoardo Linoli với sự cộng tác của Giáo sư Ruggero Bartelli thuộc đại học nổi
tiếng Siena điều khiển.
Sau đây là kết luận của
công trình nghiên cứu được nhiều tạp chí khoa học trên thế giới đăng tải:
1. Thịt này là thịt thật. Máu này đúng là máu thật.
2. Thịt và máu là thịt và máu của con người
3. Thịt và máu đều thuộc cùng nhóm A-B
4. Đồ hình của Máu này giống với đồ hình của máu người được
trích lấy từ một cơ thể con người trong một ngày.
5. Thịt được làm thành từ mô cơ tim.
6. Thịt máu hoàn toàn giống với thịt máu của một người sống thực
sự.
7. Không hề tìm thấy dấu vết việc tẩm ướp mô tế bào bởi bất cứ
một hóa chất nào được dùng trong kỹ thuật bảo trì bằng tẩm ướp.
8. Miếng thịt này được lấy ra từ phần thịt của trái tim một cách
khéo léo tuyệt mỹ như do một nhà phẫu thuật tài ba thực hiện.
9. Hàm lượng các protéin chứa trong máu được phân phối đều đặn
theo tỷ lệ y hệt như trong đồ hình protéin huyết thanh của máu tươi bình
thường.
10. Trong máu có các chất chlorua, photspho, manhêdi, potassium,
sodium và calcium.
11. Việc các di vật thánh này được lưu giữ một cách tự nhiên từ
bao thế kỷ, bất chấp ảnh hưởng của những xúc tác vật lý, không khí. sinh vật...
là một hiện tượng không sao giải thích được theo phương diện khoa học.
Như vậy chúng ta có thể
nói sau khi được mời gọi để thẩm định, Khoa học đã nói lên tiếng nói khách quan
của mình về phép lạ Chúa đã làm tại Lancianô.
8. Nhận ra Chúa khi Chúa bẻ bánh
Trong cuộc khủng hoàng
con tin xẩy ra ở Pêru cách đây mấy năm. Một cuộc khủng hoảng dai dẳng, nghẹt
thở kéo dài nhiều tuần lễ, người ta đã hết lời ca tụng một người. Người đó
chính là cha Juan Julio Wicht. Ngài được thả nhưng ngài đã tình nguyện ở lại.
Việc Ngài ở lại đã làm nức lòng thủ lãnh của quân khủng bố. Ngày 18/4/1965 nhân
ngày sinh nhật của Ngài, Nestor Cerpa Carlotini thũ lãnh quân khủng bố có gửi
đến Ngài một điện văn như sau: "Mặc dù giữa chúng ta có những khác biệt
nhưng chúng tôi muốn gửi đến cha những lời chúc tốt đẹp nhất nhân ngày sinh nhật
của cha cũng như lòng kính trọng của chúng tôi với quyết định ở lại của cha.”
Sau này khi được hỏi về
những ngày bị giam giữ, Cha Juan Julio Wicht đã nói: "Các du kích đã không
làm gì xúc phạm đến chúng tôi trong lời nói cũng như trong việc làm"
Chính sự hiện diện của
Cha đã làm cho mọi người đối xử tốt với nhau hơn.
Chúa Giêsu cũng thế: Cha
Teilhard de Chardin nói tiếp: "Bây giờ tôi có thể nói như hai môn đệ
Emmau: Tôi nhận ra Ngài lúc Ngài bẻ bánh. Chính lúc bẻ bánh chúng tôi mới nhận
ra chúng ta là anh chị em trong Đức Kitô. Có những người mà trước đó gặp ngoài
đường, chúng ta dửng dưng như người xa lạ, nhưng trên bàn tiệc thánh, chúng ta
thấy gần gũi với nhau. Tôi gặp Chúa Kitô nơi họ, cũng như họ gặp Chúa Kitô nơi
tôi. Bởi chúng tôi cùng tin Phúc Âm, cũng lãnh nhận một của ăn là Mình và Máu
Thánh Chúa Kitô.”
9. Bài học từ dòng sông
Trong một giờ học, thầy
giáo mở một tấm bản đồ ra và hỏi các học viên: "Các bạn hãy nhìn xem,
những dòng sông trên bản đồ này có đặc điểm gì?"
Các học viên trả lời:
"Tất cả đều không chảy thẳng theo một đường mà chảy quanh co, gấp
khúc."
"Tại sao lại như
vậy? Hay nói cách khác, tại sao những dòng sông đó không chảy theo đường thẳng
mà lại chảy đường vòng như thế?" – thầy giáo tiếp tục hỏi.
Sau đó thầy mới nhẹ nhàng
đúc kết: Dòng sông luôn chảy quannh co để ôm ấp đất, thẩm thấu vào mọi ngõ ngách
nó đi qua, để không nơi nào dòng sông đi qua mà không để lại màu xanh sự sống.
Dẫu rằng, dòng sông cũng
có lúc cạn, nhưng chẳng vì thế mà dòng sông lo âu, rồi toan tính giữ nước cho
mình. Từ quá khứ, xuôi nguồn vào tương lai, nước làm thành dòng sông chứ không
phải dòng sông làm nên nước. Từ ý nghĩ đó, dòng sông vào đời tự do theo ơn gọi
của nó.
Cuộc đời con người cũng
thế, nếu ngày nào chúng ta băn khoăn bắt dòng sông cuộc đời ngưng trôi chảy dấn
thân cho đời, ngày đó cuộc đời thành ao tù.Con người sống là để yêu thương và
yêu thương không ngừng. Ngày nào con người không còn biết yêu thương tức là
cuộc đời con người đó đã chấm dứt với anh em, với xã hội vì họ thực sự đã chết
trong lòng người thân của mình.
Hôm nay lễ Mình Máu Thánh
Chúa là dịp để chúng ta khơi nguồn sức sống từ dòng chảy tình yêu của Chúa.
Chúa yêu ta mà chẳng cần lý do, vì Ngài là tình yêu. Chúa yêu ta đến nỗi hiến
trao chính Thánh Thể Ngài làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Khi ta rước
Mình Thánh Chúa là ta được nuôi dưỡng bởi chính sức sống thần linh của Chúa, để
từ nay Chúa sống trong ta và ta được nên một với Ngài trong huyền nhiệm tình
yêu.
10. Tình yêu mạnh hơn sự chết
Một bài báo đã đăng tin
ngay trên trang nhất về vụ cháy rừng vừa mới xảy ra. Một câu chuyện đã gây
nhiều xúc động cho người đọc: sau khi ngọn lửa đã được dập tắt, những người
kiểm lâm rất vất vả và khi đã đi vào rừng để ước lượng mức độ thiệt hại của vụ
cháy rừng.
Một người kiểm lâm trẻ
tuổi nhất bất chợt phát hiện một con chim đã chết vẫn đứng im lìm như bức tượng
gỗ trên một cành cây cao đang cháy dở trước mặt anh. Một chút sợ hãi chen lẫn
chút tò mò, anh lấy một cành cây nhỏ, chọc vào xác con chim đã chết. Lúc anh
đang chọc nhẹ vào con chim đã chết cháy như vậy, bất thình lình, anh hốt hoảng
khi thấy một chú chim con nhỏ bé từ dưới cánh con chim chết cháy bay vụt ra…
những người đi trong đoàn kiểm lâm ai nấy đều sửng sốt.
Người kiểm lâm cao tuổi
nhất trong nhóm, có mái tóc bạc phơ nói rằng, suốt mấy chục năm làm mghề gác
rừng, ông chưa từng thấy có chuyện lạ như vậy. Hóa ra, trong lúc ngọn lửa ma
quái thiêu đốt cánh rừng, vì yêu con, chim mẹ đã dang rộng đôi cánh để che chở
cho con mình. Lúc đám cháy chưa lan tới, chim mẹ đã có thể bay đi thật nhanh để
tìm một nơi an toàn cho riêng mình, nhưng chim mẹ đã không bay đi, vì biết con
mình còn rất yếu ớt, bé bỏng, không thể bay kịp theo mình. Chim mẹ không muốn
bỏ mặc con mình ở lại với mối nguy hiểm đang chờ đợi nó.
Khi ngọn lửa hung hãn đã
bùng lên dữ dội và khi sức nóng của ngọn lửa sắp thiêu cháy mình, chim mẹ vẫn
không hề nao núng, dao động. Chim mẹ sẵn sàng đón nhận cái chết để lấy đôi cánh
chở che cho con mình được sống. Có lẽ chim mẹ biết chắc một điều rằng, với tình
yêu và đôi cánh chở che của mình, con mình sẽ sống. Ôi! Tình yêu có một sức
mạnh lớn lao và kỳ diệu, nên một vĩ nhân nào đó đã nói: “tình yêu mạnh hơn sự
chết.”
11. Từ bàn tiệc của Chúa đến bàn ăn của anh em
Trên thế giới ngày nay
đang xảy ra hai sự kiện rất thời sự, nhưng cũng rất bi thảm và chua cay: đó là
cảnh một số người dư tiền thừa của, ăn uống lu bù… Và bên cạnh đó, một thảm
cảnh trái ngược khác: đó là hàng triệu người thiếu ăn, hay không có gì để ăn…
Ngay hôm nay đây, có những vùng rộng lớn trên thế giới-như Phi Châu- đang thiếu
ăn đến độ không sống nổi, bên cạnh những người khác đang phung phí tiền của một
cách phi nhân… Ăn uống tràn trụa, ăn chọ bội thực, ăn quá mà chết, và người ta
đã chết vì ăn quá nhiều cũng như biết bao nhiêu người khác đã chết vì không có
gì ăn!.
Trong hai thực trạng bi
thảm đó, có chung hậu quả nầy là: cái chết. No quá mà chết. Đói quá mà chết.
Tại sao lai chết? Vì hai nhu cầu không được đáp ứng: nhu cầu thứ nhất, người ta
muốn biết sống để làm gì? Tại sao lại sống? Vì thấy đời sống phi lý, nên người
ta ăn để mà chết, ăn cho nó nổ tung cái bụng ra cũng được! Nhu cầu thứ hai,
người ta muốn có cái gì ăn để sống. Sống bằng cái gì? Câu hỏi nầy lệ thuộc hoàn
toàn vào câu hỏi thứ nhất: sống để làm gì?
Qua Bí tích Thánh Thể,
Chúa Giêsu trả lời: người ta sống với nhau và chia sẻ với nhau. Thánh Thể Chúa
ban cho chúng ta để thúc đẩy chúng ta chia sẻ tình yêu với anh em của mình. Nếu
chúng ta thực hiện được điều nầy là giải quyết được nạn đói trên thế giới.
12. Hãy Ra Khơi
Hôm nay, tôi bỗng chợt
nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi lặp lại mãi
trong thời gian tôi 57 tuổi. Cứ mỗi lần mẹ tôi làm bánh hay cha tôi tát các
mương đìa quanh nhà bắt cá thì tôi thèm thuồng ngồi bên nồi bánh vừa chín hoặc
tiếc nuối những rổ tôm cá. Thèm thuồng vì rổ bánh chín mà mình muốn ăn nhưng mẹ
tôi lại cứ lấy đi phân chia, bảo tôi đem cho người này người nọ, hoặc hối tiếc
những con tôm, con cá mà mẹ tôi bắt đem cho các gia đình hàng xóm, những người
cần đến. Mỗi lần bảo tôi mang đi cho người khác thì tôi không muốn cho đi, bấy
giờ mẹ tôi lại bảo: “Con ạ, mình giữ lại ăn thì hết mà cho người ta ăn thì còn
mãi.” Tôi không bao giờ quên lời nói đơn sơ này đi kèm với chính hành động chia
bánh, chia cá cho những người xung quanh.
Hôm nay đọc lại đoạn Tin
Mừng của lễ Mình Máu Thánh Chúa, kinh nghiệm gia đình tôi đã trải qua và nhất
là lời giải thích của mẹ tôi: “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn.” Một lần
nữa lại xuất hiện và giúp tôi phần nào hiểu thêm kinh nghiệm mà các tông đồ đã
trải qua ngày xưa trong biến cố được kể lại trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa
đọc qua. Vào thời điểm của biến cố, chắc chắn các tông đồ đã được nhìn thấy
nhiều việc làm của Chúa Giêsu để thực hiện tình thương đối với con người.
Những lời nhắn nhủ dạy
bảo của Chúa đã đánh động các ngài là sẽ không được sống ích kỷ, không được mơ
ước vinh quang, danh vọng, địa vị cho bản thân khi theo Chúa. Thế nhưng, khi
phải đối diện với một nhu cầu cụ thể của muôn người đang theo Chúa mà bị đói
thì các ngài có phản ứng tránh né, thoái thác, không muốn hy sinh làm một cái
gì đó để giúp vào. Các ngài đã nhắc khéo Chúa cho đoàn người ra về để họ tự lo
giải quyết lấy vấn đề ăn uống.
Chúa Giêsu đã làm ngược
lại, Ngài ra lệnh: “Các con phải cho họ ăn.” Làm đồ đệ của Chúa, nhất là trong
địa vị các tông đồ thì càng không thể chối từ trước lời mời gọi của tình bác ái
liên đới. Và không để các tông đồ sống trong một thái độ tiêu cực lâu hơn nữa.
Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông cộng tác vào công việc cho đi của Ngài.
13. Hãy noi gương Thánh Thể
Nói tới Thánh Thể, chúng
ta thường nghĩ tới việc phải làm sao để nhận được từ Thánh Thể những ơn cần
thiết cho mình. Nhưng thiết tưởng chúng ta không nên bỏ qua một bài học tuyệt
vời và rất quan trọng của Thánh Thể là sự quên mình và tính vị tha.
Không có gì tỏ ra quên
mình và vị tha cho bằng trở nên của ăn cho người khác, hay sẵn sàng để cho
người khác “ăn” mình. Thật vậy, đồ ăn hiện hữu vì người ăn nó, chứ không hiện
hữu một chút xíu nào vì bản thân mình cả. Tất cả mọi sự, để trở thành đồ ăn thì
đều phải chết đi mới có thể nuôi sống người ăn mình. Bản chất của đồ ăn chính
là chết đi để nhờ đó người khác được sống, bị tiêu diệt để nhờ đó người khác
tồn tại.
Thông thường, chúng ta có
khuynh hướng bắt người khác phải vì mình, biến họ thành phương tiện hay công cụ
phục vụ cho mình. Biến mình thành đồ ăn thì hoàn toàn đi ngược lại khuynh hướng
thông thường ấy: sẵn sàng hiện hữu vì người khác, sẵn sàng chấp nhận làm phương
tiện hay công cụ vì hạnh phúc đời này hay đời sau của những người mình yêu
thương. Danh ngôn Pháp có câu: “Aimer, c’est permettre d’abuser” (yêu là cho
phép người mình yêu lợi dụng mình).
Cả cuộc đời Đức Giêsu là
một thứ đồ ăn: Ngài hiện hữu không phải vì bản thân Ngài, mà hoàn toàn vì Thiên
Chúa và vì con người. Ngài đã chết để con người được sống, đã tự hủy để con
người được tồn tại, đã đau khổ để con người hạnh phúc, đã tự hạ để con người
được nâng lên, đã chấp nhận bị đối xử như người tội lỗi để làm cho con người
trở nên thánh thiện, v.v… Ngài hiện hữu, Ngài làm mọi sự đều vì người khác, chẳng
vì mình một chút nào. Và Ngài đã biểu hiện tính chất “là của ăn”một cách cụ thể
và tuyệt vời khi lập bí tích Thánh Thể.
Chúng ta ăn Ngài, nhưng
chúng ta đừng quên bắt chước Ngài trong tính chất ấy. Ngài đã yêu cầu chúng ta:
“Anh em hãy làm như Thầy vừa làm, để tưởng nhớ đến Thầy.” Tưởng nhớ ở đây không
gì tốt hơn và ý nghĩa hơn là bắt chước Ngài trong tính chất ấy: Hãy trở nên đồ
ăn cho những người chung quanh mình, nhất là những người sống gần mình nhất.
14. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
Đức Hồng Y F.X. Nguyễn
văn Thuận có viết trong cuốn Năm chiếc bánh và hai con cá: "Thánh Thể là
kinh nguyện đẹp nhất, là đỉnh cao cuộc đời Chúa Giêsu"; tham dự Thánh lễ
là tham dự vào Bữa ăn của Chúa. Chúng ta thấy tấm hình Đức Hồng Y trong trại
giam dâng lễ: Ngài quì gối trên nền nhà tù, dang hai tay, trong lòng bàn tay có
ba giọt rượu và một giọt nước, với bánh lễ được xé nhỏ ở ngoài gởi vào bỏ trong
cái lọ chống ẩm, ngài dâng thánh lễ: đọc thuộc lòng Kinh nguyện Thánh Thể ...
Nhờ vậy mà Thánh Thể Chúa thêm sức cho ngài vượt qua được những khó khăn thời
gian ngục tù.
Chúng ta ghi nhớ lời Chúa
Giêsu dạy: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Chính do lời này
của Chúa Giêsu mà các linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể: Giây phút nào trên
thế giới cũng có linh mục dâng Thánh lễ để nói lên Chúa Giêsu là tấm bánh bẻ ra
cho thế giới mới.
15. Phép lạ Thánh Thể: Thánh Antôn và con la:
Có một ông lạc giáo
Albigeois thách thức thánh Antôn như sau: "nhà tôi có con la cái. Tôi sẽ
nhốt vào chuồng cho nó nhịn đói ba ngày. Ngày thứ ba tôi sẽ dẫn nó đến đây
trước mặt mọi người, đem cho nó một thùng kiều mạch. Còn ông, ông hãy đem cái
mà ông gọi là Mình thánh Chúa Kitô. Nếu con vật bị đói mà không thèm ăn nhưng
lại chạy đến quì lạy Mình Thánh Chúa thì tôi sẽ tin.”
Thánh Antôn chấp nhận
cuộc thách thức này. Đúng ngày hẹn dân thành Toulouse có mặt rất đông tại quảng
trường. Ông lạc giáo dắt con lừa tới mang theo thức ăn nó ưa thích còn thánh
Antôn kiệu Mình Thánh Chúa từ trong nhà thờ ra, Ngài dơ cao Mình Thánh và
truyền cho con lừa: "Nhân danh Thiên Chúa, ta truyền cho ngươi hãy mau lẹ
quì gối thờ lạy Chúa.” Cùng lúc ấy người ta đem thùng kiều mạch thơm ngon đến
trước mặt con lừa. Lạ lùng thay con lừa không đoái hoài tới thức ăn mà nó theo
lệnh thánh Antôn: gập hai cẳng trước rồi quì xuống cung kính thờ lạy Mình Thánh
Chúa.
Trước cảnh tượng đó, các
tín hữu công giáo vui mừng khôn xiết. Còn nhóm lạc giáo Albigeois thì tỏ ra
kính sợ. Ông lạc giáo đưa ra cuộc thách thức đã giữ lời hứa xin trở lại với đức
tin Công giáo.
Chúng ta tin Chúa Giêsu
ngự thật trong bí tích Thánh Thể, mỗi lần tham dự thánh lễ, chúng ta liệu sao
để có thể Rước lễ được, đồng thời chúng ta cũng dự giờ chầu Thánh thể và khi
giáo xứ hay giáo hạt tổ chức Rước kiệu Mình Thánh Chúa, chúng ta hãy sốt sắng
tham gia để tỏ lòng tôn kính Chúa Giêsu Thánh Thể và để lãnh nhận được rất
nhiều hồng ân Chúa ban cho ta qua Bí tích cực trọng này. Amen.
16. Bữa ăn chung
Tối thứ bảy, 2-6-2012,
350 ngàn người thuộc các gia đình năm châu đã tham dự lễ hội chứng từ do Đức
Thánh Cha Benedicto chủ tọa bắt đầu từ lúc 8 giờ rưỡi tại Công viên Bresso ở
mạn bắc Milano, Italia.
Trong lễ hội này, dưới
bầu trời dịu mát, đã có phần trình bày chứng từ, xen lẫn 5 câu hỏi được nêu lên
với các câu trả lời ứng khẩu của Đức Thánh Cha và các bài ca điệu vũ được trình
diễn.
Mở đầu, bé gái Cát Tiên 7
tuổi, trong chiếc áo dài màu đỏ, đầu đội khăn đóng, cầm bó hoa đến cắm trước
ảnh Thánh Gia, và em tiến đến trước Đức Thánh Cha để chào ngài và nói (bằng
tiếng Anh):
”Con chào Đức Giáo Hoàng,
con là Cát Tiên, con đến từ Việt Nam. Năm nay con 7 tuổi và con muốn giới thiệu
với Đức Giáo Hoàng gia đình con: đó là ba con tên là Đang, và mẹ con tên là
Thảo, và đó là em con tên là Bình. Con rất muốn biết về gia đình Đức Giáo Hoàng
và hồi đức thánh cha còn bé như con..
”Cám ơn con rất yêu quí,
và cha mẹ con.. Cha chân thành cám ơn. Con hỏi cha kỷ niệm về gia đình cha như
thế nào: có nhiều lắm. Cha chỉ muốn nói ít điều. Đối với gia đình cha, điều rất
quan trọng là Chúa nhật, và Chúa nhật thì bắt đầu ngay từ chiều thứ bẩy. Ba của
cha vẫn đọc cho con cái các bài đọc của ngày lễ Chúa nhật, rút từ cuốn sách rất
phổ biến bấy giờ ở Đức, trong đó cũng có những giải thích về các bài đọc. Và
thế là Chúa nhật bắt đầu: gia đình cha đã bước vào phụng vụ trong một bầu không
khí vui mừng. Ngày hôm sau, cả gia đình cha đi lễ.
“Và trong gia đình thì dĩ
nhiên điều quan trọng là dùng bữa chung với nhau. Trong gia đình cha vẫn thường
ca hát nhiều: anh của cha là một nhạc sĩ giỏi, sáng tác nhạc ngay từ nhỏ cho cả
gia đình, và cả nhà cha đều hát.
“Và dĩ nhiên là gia đình
cha cũng đi chung với nhau, đi bộ; nhà cha gần một khu rừng và vì thế đi bộ
trong rừng là điều rất tốt: có những cuộc phiêu lưu và các trò chơi nữa, cùng
những thứ khác.
“Thú thực là khi cha tìm
cách tưởng tượng xem thiên đàng như thế nào, cha luôn hình dung ra thời cha còn
trẻ, thời niên thiếu của cha. Trong khung cảnh tín thác, vui mừng và yêu thương
như thế, gia đình cha thật là hạnh phúc và cha nghĩ rằng thiên đàng cũng giống
như trong thời niên thiếu của cha. Theo nghĩa đó, cha hy vọng được ‘đi về nhà’,
đi sang phần bên kia của thế giới.”
17. Tôi muốn con tôi sống
"Tôi muốn con tôi
sống" đó là lời của bà Suzanna Petrosyan đã thốt ra và được báo chí nhắc
lại. Thực ra, có bà mẹ nào lại không muốn con của mình được sống đâu? Thế nhưng
trường hợp của bà Petrosyan và đứa con gái 4 tuổi của bà không giống như những
trường hợp của nhiều bà mẹ khác, vì hai mẹ con bà này là nạn nhân của cơn động
đất khủng khiếp tại Armeni, thuộc liên bang Xô Viết hồi tháng 12 năm 1987.
Sau khi động đất, cũng
giống như hàng ngàn người khác, cả hai mẹ con bà Petrosyan đều bị lấp vùi dưới
hàng trăm ngàn tấn gạch, đá và xi măng, nhưng họ may mắn nằm lọt vào trong một
khoảng trống nhỏ chỉ vừa đủ chỗ cựa quậy mà thôi. Tất cả lương thực họ có chỉ
là một hũ mứt và chẳng mấy chốc hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó, cô gái 4 tuổi mới
kêu: "Mẹ ơi, con khát quá. Mẹ cho con uống nước.”
Nhưng lấy nước đâu bây
giờ? Tiếng kêu khát của con cứ tiếp tục làm cho bà mẹ vừa đau lòng vừa lúng
túng. Nhưng tình mẫu tử thiêng liêng đã gợi cho bà một ý nghĩ táo bạo: đó là
lấy những giọt máu cuối cùng của bà cho con uống để cầm cự với tử thần. Lúc đó,
người mẹ đáng thương mới lấy tay sờ sẫm và vớ được một miếng kính bể. Bà lấy
miếng kính cắt đầu ngón tay trỏ và đút ngón tay vào miệng con bảo con mút. Em
bé mút ngón tay của mẹ một lúc rồi nói: "Mẹ cắt một ngón tay nữa cho con
mút thêm.” Bà liền cắt một ngón tay nữa nhưng vì trời lạnh quá nên bà không
thấy đau đớn gì nữa...
Sau khi được cứu sống,
người đàn bà thuật lại rằng: "Lúc đó, tôi biết thế nào tôi cũng chết,
nhưng tôi muốn con tôi được sống.” (Vietnamese Missionaries in Asia, Tôi Muốn
Con Tôi Sống)
18. Tình yêu phi thường
Tháng 3/2011 sau cơn động
đất và sóng thần kinh hoàng tại Fukushima, Miền Trung Nhật Bản, đội cứu hộ đi
đào bới tìm kiếm dưới những đống đổ nát may đâu còn có thể tìm thấy để cứu sống
ai. Sau khi tìm rất kỹ lưỡng, toàn đội đã quyết định ra đi, thế nhưng, như có
một linh tính hay ánh sáng gì đó lóe lên báo cho biết, người đội trưởng quyết
định toàn đội phải quay trở lại để tiếp tục đào bới; sau một hồi lâu họ tìm
thấy dưới đống đổ nát một người mẹ đã chết trong tư thế ngồi cúi đầu ôm cái gì
đó.
Lạ lùng thay khi đưa xác
người mẹ ra được khỏi đống đổ nát, họ bàng hoàng thấy có đứa con thơ mấy tháng
tuổi của chị vẫn đang còn sống nằm chặt trong lòng và vòng tay của chị. Thật kỳ
lạ làm sao, ánh sáng le lói mà người đội trưởng cảm nhận được đó chính là ánh
sáng từ chính chiếc điện thoại của chị với tin nhắn như sau: “Nếu con được sống
sót, thì con hãy nhớ rằng, Mẹ rất thương con.”
Cũng có một câu chuyện
khác rất cảm động, nói lên tình mẫu tử sau cơn động đất mà tôi còn nhớ đó là:
Có một người mẹ dưới đống đổ nát, chị đã dùng vật nhọn để đâm những đầu ngón
tay của mình lấy máu cho đứa con thơ khỏi cơn khát, nhờ đó, hai ngày sau khi
đội cứu hộ tới, đứa con của chị vẫn còn sống nhưng người mẹ đã hy sinh. Thưa
ACE, con người chúng ta khi yêu thương hay muốn cứu sống ai, chúng ta cũng có
thể làm những việc phi thường như vậy.
Hôm nay chúng ta mừng Lễ
Mình Máu Thánh Chúa, các bài đọc Lời Chúa hôm nay soi sáng và hướng dẫn chúng
ta đến với những câu chuyện trao ban tình yêu thương và cung cách cứu sống
tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho con người yếu đuối tội lỗi chúng ta. Thiên
Chúa vì yêu thương đã hiến ban chính Người Con Một của Ngài là Chúa Giêsu cho
chúng ta, để Chúa trở nên nguồn thần lương dưỡng nuôi con người.
19. Lịch sử Lễ kính Mình Máu Thánh Chúa:
Vào năm 1263, có một linh
mục người Đức đang cử hành thánh lễ tại nhà thờ thánh Chris-ti-a-na, tới lúc bẻ
bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy tấm bánh mới truyền phép
đã biến thành Thân Mình Chúa Giê-su chịu tử nạn. Trên thân xác Chúa, máu đang
rịn ra qua các vết thương bị đóng đinh ở hai bàn tay bàn chân và vết lưỡi đòng
đâm thâu ở cạnh sườn Người. Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn
phủ trên bàn thờ.
Vị linh mục vội gấp các
tấm khăn kia lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu lại thấm ra tới đó. Cuối cùng máu
thấm qua 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi, vị linh mục không thể
tiếp tục dâng hết Thánh lễ được. Sau đó, vị linh mục này đã đến xin vào yết
kiến Đức Giáo hoàng Ur-ba-nô và tường trình sự kiện lạ lùng ấy.
Đức Giáo hoàng liền sai
một phái đoàn, đứng đầu là một vị Giám mục đến điều tra thực hư. Sau khi xác
định sự việc đó thực là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa về
Rôma và đặt tại một nhà thờ dâng kính phép Thánh Thể, và mời giáo dân đến chầu
Mình Thánh Chúa liên tục. Sau đó, vào ngày mồng 8 tháng 9 năm 1264, Đức Giáo
hoàng Ur-ba-nô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Giê-su
và truyền mừng lễ này trong toàn thể Hội thánh.
20. Mình Thánh ở trong lòng tôi
Thời kỳ cách mạng
Pháp, có một cha xứ miền Bờ-ta-nhờ (Bretagne) đưa Mình Thánh Chúa
đến cho một gia đình. Theo giúp Cha là một cậu bé tên là Ben-gia-manh
(Benjamin). Bấy giờ cha xứ bị bọn lính phát hiện và đuổi theo rất
gấp. Ngài vội dúi vào tay cậu bé chiếc hộp nhỏ có đựng Mình Thánh
Chúa trước khi chạy trốn. Sau đó cha đã bị bắt và bị giết chết.
Bấy giờ cậu bé
Ben-gia-manh vừa chạy vừa mở hộp lấy Mình Thánh Chúa bỏ vào miệng
mà nuốt đi. Sau đó cậu bé cũng bị bắt và bị tra hỏi về nơi đã cất
giấu Mình Thánh Chúa. Cậu hiên ngang chỉ tay vào người mình và nói
rằng: “Mình Thánh Chúa đang ở trong người tôi đây này! Các ông hãy mổ
ra mà lấy.” Bọn lính điên tiết đã đâm chết cậu bé rồi chôn vùi xác
chết của hai cha con dưới một gốc cây sồi ở đầu làng. Một thời gian
sau thì cuộc cách mạng đã lụi tàn và cuối cùng bị thất bại.
Một hôm một cơn bão
lốc xóay rất mạnh đã đốn ngã đổ cây sồi cổ thụ kia, để lộ ra hai
xác chết của cha xứ và cậu bé giúp lễ. Người ta đã phát hiện ra
Mình Thánh Chúa vẫn đang còn ngự trong người cậu khi thấy thân xác
cậu vẫn luôn ngời sáng ánh hào quang.
21. Phép lạ Mình Thánh Chúa do Thánh Antôn thực hiện
Một phép lạ khác xảy ra
với thánh An-tôn Pa-đô-va. Có một người Do thái, tên là Bôn-vi-lô, không tin và
thường nhạo báng Phép Thánh Thể. Thánh An-tôn nói thế nào ông ta vẫn cứ thế.
Một hôm, ngài nói với ông
ta giống như thách thức: “Nếu con lừa ông cưỡi mà quì xuống và thờ lạy Chúa ngự
trong hình bánh thì ông có tin không?” Ông ta nghĩ đó chỉ là một câu nói chơi
và đã nhận lời thách thức. Hai ngày liền, ông ta không cho lừa ăn, rồi dẫn tới
chợ để có đông người chứng kiến.
Giữa một bên là lúa mạch
và bên kia thánh An-tôn kiệu Mình Thánh Chúa đến gần. Con lừa quên đói, không
ngó ngàng gì đến lúa mạch, quay sang thánh An-tôn quì gối xuống cúi đầu thờ lạy
Chúa cho đến khi thánh An-tôn kiệu Mình Thánh đi qua. Mọi người đều quì xuống
thờ lạy Chúa Thánh Thể và hoan hô thánh An-tôn.
22. Đức Giêsu hiện thân nơi người nghèo đang chờ được phục vụ
Đức Hồng Y Ca-ma-ra về
ban phép Thêm sức cho trẻ em trong một xứ đạo. Khi đến nơi, Ngài thấy cả xứ đạo
đang quỳ gối đấm ngực than khóc như vừa gặp đại hoạ. Thì ra đêm trước, trong
khi mọi người mê mải chuẩn bị đón Đức Hồng Y, thì kẻ trộm đã lẻn vào nhà thờ ăn
trộm các bình đựng Mình Thánh. Chúng đổ Mình Thánh ra ngoài vườn, lấy đi những
bình mạ vàng mà chúng tưởng được làm bằng vàng thật. Đây thật là tội phạm thánh
nặng nề.
Thế nhưng trong bài giảng
lễ hôm ấy, Đức Hồng Y Ca-ma-ra đã làm cho mọi người kinh ngạc khi Ngài nói: Tại
sao hôm nay anh chị em mới than khóc. Hằng ngày biết bao lần Chúa Giê-su vẫn bị
nhục mạ, hành hạ, chà đạp, bị giết chết nơi những người nghèo khổ, vô gia cư,
trẻ mồ côi … Sao chẳng thấy ai than khóc? Anh chị em không biết sao, những
người nghèo ấy chính là hiện thân của Chúa Giê-su, là Thân Mình Chúa giữa đời
thường cần được chúng ta chăm sóc.
Nói như thế, Đức Hồng Y
không có ý coi thường phép Mình Thánh Chúa. Nhưng Ngài có ý nhắc cho các tín
hữu về khía cạnh thường bị quên lãng. Đó là chúng ta cần phải hiệp thông với
nhau khi dự thánh lễ tại nhà thờ mà còn phải hiệp thông với nhau trong cuộc
sống xã hội nữa.
23. Hiệu quả của việc rước lễ
Đức Hồng Y Newman là một
chức sắc cao cấp và nổi tiếng của Giáo Hội Anh Giáo, mỗi năm được hưởng một
khoản trợ cấp của nhà nước là 100.000 quan thời đó. Ngài đã nghiên cứu lâu năm
đạo Công Giáo và cuối cùng Ngài xin trở lại Đạo Công Giáo. Vài ngày trước khi
ngài trở lại, một người bạn thân khuyên rằng: “Ngài hãy nghĩ lại việc ngài làm!
Nếu ngài trở thành người Công Giáo, ngài sẽ mất 100.000 quan mỗi năm đó!”
Newman bất bình nói lớn tiếng: “Một trăm ngàn quan là gì so với chỉ một lần
rước lễ!”
Vì sao Đức Hồng Y Newman
lại quyết định một cách táo bạo và khẳng định một cách chắc chắn như vậy? Thưa,
vì Ngài đã hiểu được hiệu quả của việc rước lễ. Thật vậy, giáo lý về bí tích
Thánh Thể dạy rằng: Rước lễ thì được những ơn ích này: Một là được kết hợp mật
thiết với Chúa Kitô và Hội thánh; Hai là được tẩy xóa các tội nhẹ; Ba là được
lớn lên trong ân sủng; Bốn là được bảo đảm sự sống muôn đời.
Chính vì hiệu quả của
việc rước lễ như vậy nên Giáo Hội đã khôn ngoan ấn định rước lễ mỗi năm ít là
một lần, buộc nặng, ai không thi hành là mắc tội trọng. Giáo Hội còn kêu gọi
con cái mình năng rước lễ, và rước lễ mỗi ngày. Bởi vì, ngoài những ơn ích
trên, năng rước lễ sẽ có thêm sức mạnh và sự can đảm để giữ đạo, sống đạo và
truyền đạo.
Trong thời kỳ đầu của Hội
Thánh, dân ngoại bỡ ngỡ khi thấy người kitô hữu anh dũng chấp nhận cái chết vì
Chúa. Đâu là lý do của sự lạ lùng đó?
Chính Thánh Siprianô trả
lời rằng: “Chính nhờ Mình Thánh Chúa Giêsu gìn giữ mà người có đạo mới ra pháp
trường một cách anh dũng như vậy.”
24. Hoa trái của lòng mến Chúa Thánh Thể
Vào đầu thế kỷ 20, tại
Luân đôn, có gia đình ông bà Vaughan đông con và rất nghèo khó. Chồng suốt ngày
ở trong xí nghiệp còn vợ thì ở nhà làm nghề phụ, thêm vào với việc nội trợ. Đầu
tắt mặt tối nhưng trưa nào bà cũng dành một giờ chầu Chúa ở nhà thờ. Có người
thắc mắc tại sao bà vẫn xếp giờ đến chầu Chúa, mặc dù công việc lo cho 13 người
con thật không ít bề bộn. Bà Vaughan tươi cười trả lời:
“Một bầy con đông đúc, ăn
bữa nay chạy bữa mai, tôi lo lắm. Hơn thế, lúc đi học, chúng có thể theo bạn bè
rủ rê đây đó, gặp nhiều nguy hiểm, tôi lại càng thao thức hơn. Vì thế, dù bận
việc tới đâu, mỗi ngày tôi cũng bỏ ra một giờ để chầu Chúa, sốt sắng xin Ngài
ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi các cháu hằng ngày dùng đủ, và dạy dỗ chúng nên
người đạo đức.”
Chúa đã nhận lời và ân
thưởng cho lòng tin cùng sự hy sinh của bà Vaugran: trong 13 người con, một
người làm Hồng Y Tổng Giám mục giáo phận Luân Đôn, một người khác làm Tổng Giám
mục, hai người làm linh mục hai nam tu sĩ, hai nữ tu sĩ; còn 5 người ở thế gian
lập gia đình lưu truyền nòi giống, sống cuộc đời đạo đức thánh thiện. (Những
người lữ hành trên đường hy vọng).
Thật là đúng với lời Chúa
dạy “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều
hoa trái” (Ga 15,5).
25. Đáp lại tình yêu Chúa
Một ngày kia, đang đến
trường thì Saviô gặp một linh mục kiệu Mình Thánh cho kẻ liệt. Nghe tiếng
chuông, Saviô quì gối mà không để ý gì đến đường xá dơ bẩn. Hai vết bùn in rõ
trên đầu gối quần cậu. Một người bạn lúc nãy đã cẩn thận quì xuống một nơi khô
ráo sạch sẽ mới nói với cậu: “Thiên Chúa đâu có đòi chúng ta phải hy sinh quá
như vậy.”
Saviô trả lời: “… Tôi còn
quăng mình vào lửa nếu Chúa Giêsu muốn, để cảm tạ Ngài vì đã cháy lửa yêu chúng
ta trong phép Mình Thánh.”
Thánh Thể được gọi là
“của ăn đàng” cho kẻ liệt, nhưng không chỉ là của ăn đàng cho kẻ liệt mà Thánh
Thể thực sự là của ăn đàng dành cho hết những ai đang trên đường lữ hành, đang
trong “nơi hoang địa.”
“Lạy Chúa ẩn dật, Chúa
tạo thành thiên địa! Chúa xử với chúng con lạ lùng quá! Chúa đối với người Chúa
chọn cách hiền hậu và nhân từ quá! Vì Chúa ban chính mình làm của nuôi họ trong
bí tích Thánh Thể” (Imit IV, I, 39).
26. Bí tích tình yêu
Một phụ nữ người Anh được
Thánh Giáo hoàng Pi-ô X tiếp kiến riêng. Khi đến gặp ĐTC, bà ta dắt theo đứa
con trai mới bốn tuổi để xin ngài chúc lành. Trong khi bà nói chuyện thì đứa bé
đứng xa xa, một lát sau nó đến bên ĐTC, đặt hai tay trên đầu gối ngài và ngước
mắt lên nhìn ngài. ĐTC hỏi người mẹ:
- Cậu bé được mấy tuổi rồi?
- Thưa ĐTC, cháu được bốn
tuổi rồi, con mong là hai hay ba năm nữa nó sẽ được rước lễ lần đầu.
ĐTC nhìn thẳng vào cặp
mắt trong xanh của cậu bé và hỏi:
- Khi rước lễ là con rước
ai thế?
- Dạ, con rước Chúa Giêsu
ạ, cậu bé trả lời.
- Chúa Giêsu là ai vậy
con?, ĐTC hỏi thêm.
- Chúa Giêsu là Thiên
Chúa, cậu bé trả lời thật mau mắn.
ĐTC liền bảo bà mẹ:
- Ngày mai hãy đem cháu
lại đây, chính Cha sẽ cho nó rước Lễ.
Đức Giáo hoàng Piô X được
gọi là “vị Giáo hoàng của bí tích Thánh Thể.” Ngài đã có công rất lớn trong
việc chống lại bè rối Jansénisme, một bè rối nhấn mạnh quá đáng lòng tôn thờ
phải có đối với bí tích Thánh Thể, quá kính sợ mà quên mất rằng Thánh Thể là dấu
chứng của tình yêu Thiên Chúa.
Lời Chúa Lễ Thánh Thể
Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch
