LỜI
CHÚA TUẦN 4 MÙA THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNTN 4B – CHÚA CÓ UY QUYỀN
TRỪ QUỶ
THỨ HAI – ĐÓN NHẬN VÀ TỪ CHỐI
TÌNH THƯƠNG
CHÚA GIÊSU TẠI QUÊ HƯƠNG
NADARÉT
CHÚA GIÊSU SAI ĐI MƯỜI HAI TÔNG
ĐỒ
THỨ SÁU – GIOAN TẨY GIẢ BỊ
TRẢM QUYẾT
THỨ BẢY - DUNG MẠO YÊU
THƯƠNG CỦA CHÚA GIÊSU
CNTN 4A – MỐI PHÚC THẬT
Lời Chúa: Mt 5, 1-12a
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và
lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là
của họ.
Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp.
Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.
Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.
Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót
thương.
Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem
Thiên Chúa.
Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên
Chúa.
Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là
của họ.
Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi
ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân
hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời.”
TRUYỆN KỂ
1. Aristote với galilê
Khoảng 400 trăm năm trước chúng ta, Galilê lập luận rằng lý thuyết
về lực hấp dẫn của Aristote là không chính xác. Theo Aristote nếu bạn thả một vật
nặng 10 pound và một vật nặng 1 pound khác từ cùng một độ cao, thì vật nặng 10
pound sẽ rơi nhanh gấp 10 lần vật kia. Nhà bác học Galilê đặt vấn đề cho cơ
quan cổ đại vĩ đại nhất về khoa học và triết học, ông tuyên bố rằng cả hai vật
thể sẽ rơi với cùng tốc độ. Nhưng mọi người nghĩ rằng Galilê vô lý. Vì vậy,
Galilê đã trèo lên tháp nghiêng Pisa và thả hai vật, một vật nặng hơn vật kia
xuống dưới. Trước sự ngạc nhiên của đám đông, vật nặng hơn không rơi nhanh hơn
vật nhẹ hơn.
* Các mối phúc được Chúa Giêsu công bố trong Tin Mừng hôm nay có
vẻ không đúng với chúng ta vì chúng ta đánh đồng hạnh phúc với quyền lực, ảnh
hưởng, sự giàu có, sức khỏe và sắc đẹp. Quả thực, nếu bất kỳ ai khác ngoài Chúa
Giêsu đề xuất điều đó, chúng ta có thể coi chúng là quá cực đoan. Nhưng Chúa
Giêsu bảo đảm ý nghĩa với những gì Người nói và thực hành những gì Người dạy.
2. Luật về sức khỏe
Cách đây vài năm, một hội đồng bác sĩ được chính phủ chỉ định họp
lại với nhau và soạn thảo tám luật về sức khỏe cộng đồng có thể in thành sách
nhỏ và phân phát cho công chúng. Sau mười hai ngày họp mệt mỏi, các bác sĩ đã
không thể đi đến thống nhất. Có vẻ như các lĩnh vực quan tâm của họ quá đa dạng.
Trong nhóm có một bác sĩ chuyên khoa ung thư, một bác sĩ tim mạch, một bác sĩ
phổi và một bác sĩ tâm thần, và mỗi người tiếp cận vấn đề từ quan điểm chuyên
môn của mình. Chuyên gia về lồng ngực lo lắng về bụi than từ các mỏ và xơ vải
do các nhà máy dệt tạo ra, trong khi bác sĩ tâm thần lo ngại về tác động của
căng thẳng đô thị. — Cuối cùng, Tiến sĩ Harold Sladen của một bệnh viện nổi tiếng
ở Detroit đã đưa ra một ý tưởng thích hợp. Ông nói: “Chúng ta hãy đăng lại Tám
Mối Phúc Thật của Chúa Giêsu và chỉ cần thay từ ‘Phúc’ bằng từ ‘Khỏe mạnh’.”
3. Sống các mối phúc
Vào thế kỷ trước, một linh mục người Bỉ tên là cha Đamien đến sống
trên một hòn đảo xa xôi thuộc địa giữa những người mắc bệnh phong. Cha Đamien cố
gắng sống theo các giá trị của các Mối Phúc. Ngài có tấm lòng trong sạch, hay
thương xót, và khao khát sống thánh thiện. Ngài bị chỉ trích công khai vì đã
làm những gì ngài tin là đúng. Những người viết tiểu sử về ngài cũng nói rằng
ngài thường cảm thấy cô đơn, chán nản và đau khổ. Bề trên trực tiếp của ngài đã
coi ngài là kẻ gây rối. (Gavan Daws, Holy Man (Honolulu: University of Hawaii
Press, 1985)
* Giáo hội Công giáo đã phải chờ đợi nhiều năm, và chỉ phong
ngài là một vị thánh vào năm 2010. Nhưng những người biết cha Đamien đều gọi
ngài là “hạnh phúc” hoặc “được chúc phúc.”
4. Ai thật sự hạnh phúc
Samuel Johnson từng viết một câu chuyện có tựa đề “Rasselas”,
trong đó nhân vật chính, một hoàng tử ở Abyssinia, sống trên một đỉnh núi trong
yên bình và xa hoa nhưng không hài lòng với cuộc sống khép kín của mình, và cuối
cùng ông mạo hiểm bước ra thế giới để tìm kiếm những người đã hoàn toàn hạnh
phúc. Trước sự ngạc nhiên của mình, ông phát hiện ra rằng không có người nào
như vậy tồn tại trên thế giới này. Ông vỡ mộng trở về lại ngôi nhà của mình ở
Abyssinia.
* Có ai trên đời này thực sự hạnh phúc không?
5. Tìm hạnh phúc
Cha Louis Everly, một nhà thần học, linh mục và nhà văn nổi tiếng
người Bỉ nói rằng rất nhiều người không bao giờ tìm thấy hạnh phúc vì họ không
biết tìm nó ở đâu. Quá nhiều người mắc sai lầm khi tìm kiếm thêm một thứ vật chất
nào đó: được tăng lương, được thăng chức, một vấn đề được giải quyết, thắng vượt
một khó khăn tài chánh. Họ thường nói: “Giá như tôi có được điều đó, tôi sẽ hạnh
phúc.” Quá muộn, họ biết rằng hạnh phúc không đến từ bên ngoài mà từ bên trong.
Howard Hughes là một trong những người đàn ông giàu có nhất từng sống nhưng ông
không thể mua được sự hài lòng hay bình an.
* Đó là điều hiển nhiên đầu tiên khi chúng ta suy niệm về các Mối
Phúc. Hạnh phúc không đồng nghĩa với việc theo đuổi lạc thú.
6. Bí quyết của hạnh phúc
Tiến sĩ Barbara L. Frederickson đã dành 15 năm nghiên cứu về hạnh
phúc và bà đã đi đến kết luận rằng hạnh phúc đến từ việc tìm thấy ý nghĩa tích
cực trong những điều xảy đến với chúng ta. Bạn bị xì lốp trên đường đi làm, đó
là một kinh nghiệm tồi tệ. Bạn có một cuộc trò chuyện thú vị với người thợ đến
sửa căn hộ của bạn, đó là một kinh nghiệm tốt. Bài thuyết trình của bạn tại nơi
làm việc không khiến đồng nghiệp thán phục như bạn mong đợi. Kinh nghiệm tồi tệ.
Bạn học được những bài học quý giá từ thất bại của mình để có thể sử dụng trong
bài thuyết trình tiếp theo. Kinh nghiệm tốt.
* Những người tìm thấy ý nghĩa tích cực, ngay cả trong những trải
nghiệm tồi tệ, sẽ hạnh phúc và kiên cường hơn những người chỉ tập trung vào những
trải nghiệm tồi tệ của họ. (Cha Frank Lyman)
7. Thành phố niềm vui
City of Joy là tiêu đề của một cuốn tiểu thuyết (và một bộ phim
dựa trên nó), được viết bởi một bác sĩ châu Âu đã đến sống ở khu ổ chuột
Calcutta, Anand Nagar (Thành phố Joy). Mô tả những đứa trẻ khu ổ chuột trần truồng
hoặc nửa khỏa thân chơi trong mưa và bùn, ông nói rằng những đứa trẻ giàu có sống
trong các lâu đài thành phố không bao giờ có thể hạnh phúc như những đứa trẻ
nghèo này.
* Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của. (Joe
Vempeny).
8. Giàu có thực sự
Trong thời kỳ Đại suy thoái ở Mỹ, một cơ quan chính phủ làm công
tác đi qua các vùng núi hẻo lánh, tìm kiếm những người nông dân nghèo, những
người sẽ nhận được trợ cấp một số tiền để mua hạt giống hoặc sửa chữa nhà cửa.
Một nhóm nhân viên tình cờ gặp một bà lão sống trong một căn lều. Căn lều thật
tồi tàn, nó không có sàn. Một cửa sổ đã bị bể và được phủ bằng giấy hắc ín. Bà
lão chỉ có những nhu yếu phẩm cơ bản, và chỉ đủ sống qua ngày trên một mảnh đất
khốn khổ. Người đại diện nói với bà: “Nếu chính phủ đưa cho bà 200 đôla, bà sẽ
làm gì với số tiền đó?” Câu trả lời ngay lập tức của bà là: “Tôi sẽ cho người
nghèo.”
* Thật là sai lầm khi nhiều người nghĩ tiền bạc là sự giàu có.
Dù thiếu thốn nhưng người phụ nữ tốt bụng này không tự nhận mình nghèo. Hàng
triệu người thực sự giàu có trong khi họ có rất ít tiền. Mặt khác, một người có
thể có rất nhiều tiền nhưng họ lại thực sự nghèo. (Indian Thoughts Archives)
(Joe Vempeny).
9. Lầm tưởng về hạnh phúc
Tiến sĩ Harold Treffert là giám đốc của Viện Sức khỏe Tâm thần
Winnebago ở Wisconsin. Trong một bài báo có tựa đề “Truyện cổ tích nước Mỹ”,
ông thảo luận về năm ý tưởng nguy hiểm mà chúng ta có về ý nghĩa của hạnh phúc.
Thứ nhất, hạnh phúc là đồ vật. Bạn càng tích lũy và có nhiều thì bạn sẽ càng hạnh
phúc. Thứ hai, hạnh phúc là những gì bạn làm. Bạn càng sản xuất và kiếm được
nhiều tiền, bạn sẽ càng hạnh phúc. Thứ ba, hạnh phúc là được giống như những
người nổi tiếng khác. Bạn càng ăn mặc thời trang và sống phù hợp với thời đại,
bạn sẽ càng hạnh phúc. Thứ tư, hạnh phúc là sức khỏe tinh thần. Bạn càng có ít
vấn đề và càng vô tư, bạn sẽ càng hạnh phúc. Thứ năm, hạnh phúc là giao tiếp với
các thiết bị điện tử. Bạn càng có thể giao tiếp với Tivi, vệ tinh hoặc máy
tính, bạn sẽ càng hạnh phúc. Theo Tiến sĩ Treffert, năm lầm tưởng về hạnh phúc
này là nguyên nhân của nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần ngày nay.
* Nếu hạnh phúc không thể tìm thấy qua năm huyền thoại “Truyện cổ
tích nước Mỹ” này thì chúng ta tìm nó ở đâu? Chúa Giêsu cho chúng ta câu trả lời
khi phác thảo các mối phúc trong bài đọc Tin mừng hôm nay theo. (Albert
Cylwicki trong Lời Ngài vang vọng)
10. Hạnh phúc tương đối
Có một nông dân sống một cuộc sống hạnh phúc khi dành phần lớn
thời gian để chăm sóc trang trại của mình với sự trợ giúp của con ngựa. Một hôm
ông bị mất ngựa. Những người hàng xóm đến chia buồn với ông. Họ nói: “Xui xẻo
làm sao!” Ông trả lời: “Ai mà biết được? Chúa mới biết!” Một tuần sau con ngựa
này trở lại với một con ngựa khác. Hàng xóm đến chia vui với ông. Họ nói: “Thật
là một may mắn! Ông đã trả lời: “Ai mà biết được? Chúa mới biết!” Một hôm, khi
đang cưỡi ngựa, con trai ông bị ngã ngựa và gãy chân. Một lần nữa những người
hàng xóm đến bày tỏ sự cảm thông của họ. Họ nói: “Xui xẻo quá!” Ông trả lời:
“Ai mà biết được? Chúa mới biết!” Một tuần sau đó, một cuộc chiến đã nổ ra ở đất
nước của họ. Nhà vua ra lệnh cho tất cả nam giới trên 18 tuổi tham gia quân đội.
Họ tha cho con trai ông vì anh bị gãy chân. Một lần nữa những người hàng xóm đổ
xô đến nhà anh. Họ nói: “Thật là một phúc lành!” Người nông dân lại đáp: “Ai mà
biết được? Chúa mới biết!”
11. Hôn nhân hạnh phúc
Trong cuốn sách On This Day của mình, Carl D. Windsor có kể một
giai thoại sau: Ngay cả những cặp vợ chồng chung thủy nhất cũng sẽ thỉnh thoảng
trải qua một cơn “sóng gió.” Một người bà, nhân kỷ niệm ngày cưới vàng của
mình, đã kể bí quyết về cuộc hôn nhân lâu dài và hạnh phúc của mình. Bà nói:
“Vào ngày cưới, tôi quyết định liệt kê ra 10 lỗi lầm của chồng mà tôi sẽ bỏ qua
vì cuộc hôn nhân của chúng tôi.” Một vị khách hỏi người phụ nữ về một số lỗi mà
bà đã chọn để bỏ qua. Người bà trả lời: “Nói thật với cháu, cháu yêu, bà chưa
bao giờ lên danh sách chúng. Nhưng bất cứ khi nào chồng bà làm điều gì đó khiến
bà phát điên lên, bà lại tự nhủ: ‘Thật may mắn vì đó chỉ là một trong mười lỗi!’”
* Hôm nay, những lời trong các Mối Phúc Thật mời gọi chúng ta
nhìn lại sự phụ thuộc của chúng ta vào Thiên Chúa, để thừa nhận Ngài là Đấng Thẩm
Quyền Tối Cao trong cuộc sống của chúng ta, và để nhận ra nơi Ngài Nguồn gốc của
bản sắc và hạnh phúc của chúng ta.
12. Chết là phúc lành
Cha A...dạy lớp giáo lý ngày Chúa nhật cho trẻ em. Ngài hỏi cả lớp:
“Nếu cha bán nhà và xe của mình, bán một thửa đất lớn và đưa tất cả tiền của
mình cho nhà thờ, điều đó có đưa cha lên Thiên đàng không?” “KHÔNG!” các em đều
trả lời.
Cha hỏi tiếp: “Nếu cha làm tốt mọi nhiệm vụ linh mục và thực
hành các Mối Phúc trong cuộc sống của mình, điều đó có đưa cha lên Thiên đàng
không?” Một lần nữa, câu trả lời là “KHÔNG!”;
“Vậy thì, nếu cha đối xử tốt với động vật, cho tất cả trẻ em kẹo,
yêu thương và phục vụ giáo xứ của mình, điều đó có đưa cha lên Thiên đàng
không?” Một lần nữa, câu trả lời là “KHÔNG!” Ngài lại tiếp tục: “Ồ, vậy thì làm
sao cha có thể lên Thiên Đàng được?”
Cậu bé N...năm tuổi hét lên: “Trước tiên cha phải chết.”
13. Nẻo về hạnh phúc
Thi đàn Trung Quốc từ cổ chí kim nổi lên một tên tuổi lớn, đó là
nhà thơ Lý Bạch, thời Thịnh Đường (701 - 762). Ông tự xem mình như tiên ông bị
lưu đày xuống thế. Ông ưa sống kiếp lãng du, say mê vẻ đẹp đất trời, vẻ đẹp
sông núi, trăng sao...
Theo truyền tụng nhân gian, vào một đêm trăng tỏ, Lý Bạch buông
thuyền xuôi theo giòng sông Thái Trạch lấp lánh ánh trăng đêm. Ông đàn hát ngâm
vịnh và uống rượu thưởng thức trăng.
Càng về khuya, men rượu nồng bốc lên càng làm ngây ngất lòng thi
sĩ. Sông nước, cảnh vật lúc ấy càng huyền ảo nên thơ. Thi nhân cảm thấy mình
như đang lạc vào bồng lai tiên cảnh. Mảnh trăng diệu huyền in hình dưới làn nước
lung linh như đang gọi mời ông tao ngộ.
Trong hơi men chếnh choáng, ông nhoài mình qua mạn thuyền, cúi
thật sâu xuống nước để ôm lấy vầng trăng mà ông say đắm lâu nay.
Than ôi! Ông đã bỏ hình bắt bóng và giòng sông oan nghiệt đã kết
liễu đời ông.
Trên cao, vầng trăng thật như đang mỉm cười chế giễu ông.
Câu chuyện của nhà thơ họ Lý cũng là câu chuyện thời sự của thế
kỷ chúng ta. Nhân loại hôm nay đang kêu gào hạnh phúc, đang khao khát kiếm tìm
hạnh phúc. Nhưng họ đâu biết rằng Thiên Chúa là Cội Nguồn của hạnh phúc.
Một vầng trăng thật in thành hàng tỷ bóng trăng trên các ao hồ
khe suối.
14. Từ bỏ chính mình là bí quyết của sự sống và hạnh phúc
Người ta bảo rằng ở bên Palestina có hai biển hồ là Biển Chết và
biển hồ Galilêa, cả hai biển hồ này đều đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Thế
nhưng, nơi Biển Chết thì không có một sự sống nào có thể tồn tại. Vì Biển chết
đón nhận nhưng không trao ban, nó giữ lại cho riêng mình, nên nguồn nước trở
thành mặn chát và độc hại. Ngược lại, tại biển hồ Galilêa cũng đón nhận nguồn
nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước
trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muôn thú và con
người.
Đời người cũng tựa như biển hồ, nếu chỉ biết giữ riêng cho mình
tất cả mọi sự nhận được từ Thiên Chúa. Sự sống trong họ rồi cũng chết dần chết
mòn như nước trong lòng Biển chết. Thật hạnh phúc cho ai biết trao ban. Cuộc sống
sẽ mãi lan toả và dồi dào sức sống như biển hồ Galilêa. Vì ai có thì được cho
thêm, và vì chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Amen.
15. Mối phúc thứ nhất.
Người đàn ông chán đời đứng nhìn xuống giòng nước từ một chiếc cầu
cao. Ông ta đốt một điếu thuốc cuối cùng trước khi kết liễu cuộc đời bất hạnh
không còn lối thoát nào nữa. Ông ta đã làm đủ mọi cách để lấp đầy nỗi chán chường.
Ông đã đi đây đi đó, đã tìm lạc thú trong những cuộc vui chơi, đã chạy đến với
mọi thứ hơi men và khói thuốc. Nhưng nỗi chán chường càng thêm chất ngất.
Ông ta thử thời vận lần cuối bằng một cuộc hôn nhân. Nhưng không
có người đàn bà nào ở với ông được vài tháng. Ông ta đòi hỏi quá nhiều, mà lại
chẳng biết nghĩ đến ai cả. Ông ta nhận ra rằng ông đã chán chường và chẳng ai
được hạnh phúc bên cạnh ông. Chỉ có giòng sông may ra mới đem lại cho ông sự
thanh thoát.
Ông ta chưa kịp hút xong điếu thuốc thì thấy có người hành khất
đi qua cầu. Con người rách rưới đó đứng nhìn ông và đưa tay xin giúp đỡ. Người
đàn ông chán đời không ngần ngại rút cả ví tiền trao cho người hành khất và bảo:
- Thôi, ông cầm lấy cả đi. Tôi đâu cần tiền làm chi nữa.
Người hành khất cầm lấy chiếc ví, nhìn thẳng vào mắt kẻ chán đời
và nói với giọng vừa ôn tồn vừa nghiêm nghị:
- Thưa ông, tôi không cần một số tiền lớn như thế này. Tuy là một
người đi xin ăn, nhưng tôi không phải là kẻ hèn nhát. Tôi cũng không muốn nhận
tiền của một kẻ hèn nhát. Ông hãy giữ ví tiền mà đem qua thế giới bên kia với
ông.
Nói xong, người hành khất ném cái ví xuống giòng nước rồi lặng lẽ
bỏ đi, để mặc kẻ chán đời với nỗi đắng cay chua xót đang gặm nhấm cõi lòng.
Đã hút xong điếu thuốc, nhưng kẻ chán đời vẫn chưa muốn kết liễu
đời mình. Ông ta nhìn theo người hành khất đang từ từ mất dạng. Tự nhiên, ông
ta không muốn chết nữa, mà chỉ muốn nhặt ví tiền trao tặng lại cho người hành
khất. Chưa một lần trong đời, ông ta biết trao tặng cho ai bất cứ điều gì. Giờ
phút này, ông ta muốn mở rộng tâm hồn, giang rộng đôi tay để trao tặng và muốn
tiếp tục sống.
16. Nỗi khao khát
Bill Gates, nhà tỷ phú trẻ tuổi người Mỹ, chuyên kinh doanh về
máy điện toán, nhiều năm liên tiếp đạt danh hiệu "người giàu nhất thế giới.”
Theo tạp chí Forbes bình chọn mỗi năm, tài sản cá nhân của Gates hiện đã lên đến
36,4 tỉ USD (1997) và đang sinh sôi nảy nở rất nhanh. Mỗi ngày, ông chủ công ty
Microsoft này thu nhập 42,5 triệu USD.
Nhiều người ao ước được giàu có và danh tiếng như ông vua phần mềm
máy tính này, thậm chí chỉ xin được bằng cái số lẻ của ông thì đã vô cùng hạnh
phúc. Bởi vì "Có tiền mua tiên cũng được!" Hay như thời nay người ta
thường nói:
"Đồng tiền là Tiên
là Phật
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng che thân,
Là cán cân công lý,
Đồng tiền là hết ý.”
Nhưng Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại tuyên bố: "Hạnh phúc
thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5,3). Hơn nữa, Người còn cho là hạnh
phúc những ai hiền lành, sầu khổ, bị bách hại...
Giáo Hội gọi đó là Hiến Chương Nước Trời, nghĩa là chỉ những ai
sống và thực thi những điều ấy mới được làm công dân của Nước Trời.
17. Đường hẹp
Khi Mẹ Têrêsa thành Calcutta còn sống, người ta kể lại rằng, một
lần Mẹ đang rửa những vết ghẻ lở của người bị bệnh cùi thì có một thương gia
giàu có đến thăm nhà, thấy Mẹ đang làm việc ấy, ông phát biểu ý kiến như sau:
- Nếu có ai cho tôi một triệu bạc để làm công việc như Mẹ đang
làm thì tôi cũng không dám làm.
Mẹ Têrêsa vui vẻ trả lời:
- Tôi cũng vậy, nếu có ai cho tôi một triệu bạc tôi cũng không
thể làm điều ông làm.
Tiền của vật chất không phải là yếu tố chính và chúng ta cũng
không thể nào đo lường giá trị tinh thần của hành động con người bằng tiền của
vật chất, nhưng đây là điều mà thường tình mỗi người chúng ta cũng dễ bị cám dỗ
suy nghĩ và hành động như vậy, đó là hành động theo sự khôn ngoan của xác thịt,
theo như bài đọc hai của thánh Phaolô Tông đồ nhắc lại cho chúng ta.
18. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó
Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại Bê-na-rét bằng
câu: "Vạn sự sự vô thường, vạn sự khổ", nghĩa là mọi sự đổi thay
không ngừng, nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh, lão, bệnh, tử: Con người sinh ra để rồi
già yếu, bệnh tật, và cuối phải chết. Rõ thật cuộc đời chỉ là bể khổ!
Năm trăm năm sau, Đức Kitô xuất hiện bên đất Pa-lét-tin, dõng dạc
tuyên bố trong bài giảng đầu tiên: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì
Nước Trời là của họ!" (Mt 5,3)
Một người mang tiếng là bi quan yếm thế, người kia lại bị coi
như không tưởng, lạc quan quá cỡ. Một bên coi đời là bể khổ, còn một bên lại
nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn.
Đức Phật chỉ nói lên cái lý do, cái nguyên nhân làm cho người ta
khổ, nhưng Người không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó chỉ là bể khổ. Đức Kitô
cũng không bảo rằng muốn hạnh phúc thì phải là kẻ khố rách áo ôm. Do đó, Matthêu
đã có lý khi thêm ba chữ "có tâm hồn" vào trong câu nói của Chúa, để
xác định cho rõ cái nghèo hèn nào mới thực sự đem lại hạnh phúc cho con người.
19. Tài sản của Giáo Hội
Vào năm 258, hoàng đế Valerian ban lệnh bắt tất cả các giám mục,
linh mục và thầy sáu vào tù. Đức Giáo Hoàng Sixtus II là người bị bắt đầu tiên.
Ngài liền tin tưởng trao lại tài sản của Giáo Hội cho thầy sáu Laurensô với những
lời hướng dẫn phải phân phát cho các bà góa và trẻ mồ côi. Thầy sáu Laurensô đã
làm đúng như lời dặn của Đức Giáo Hoàng Sixtus II.
Khi Đức Giáo Hoàng Sixtus II bị đem đi hành quyết, Laurensô đã
đi theo ngài khóc lóc thảm thiết: "Thưa Đức Thánh Cha, ngài vội vàng đi
đâu vậy? Và con phải làm gì đây? Tại sao ngài lại đi đến nơi hiến tế mà không
có thầy sáu, người phụ giúp bàn thờ của ngài? Con đã thi hành lệnh truyền của
ngài về tài sản của Giáo Hội.” Đức Giáo Hoàng đáp: "Con yêu dấu, ta sẽ
không bỏ rơi con đâu. Con sẽ theo ta trong ba ngày nữa.”
Ngay sau đó, Laurensô đã bị bắt. Ông quận trưởng đã yêu cầu
Laurensô phải trao nộp tài sản của Giáo Hội. "Giáo Hội thực sự rất giàu
có", Laurensô trả lời "Tôi sẽ chỉ cho ông thấy những tài sản đó,
nhưng hãy cho tôi một thời gian ngắn để gom góp lại. Thời gian đã được ban, và
Laurensô đã đi đến với các bà góa, trẻ mồ côi, những người què quặt, và già yếu
mà Giáo Hội đã giúp đỡ. Ngài đã qui tụ họ lại xếp thành hàng dài đứng trước cửa
nhà thờ, rồi mời ông quận trưởng đến và nói: "Thưa ông, đây là những tài sản
của Giáo Hội!" Viên quận trưởng nổi giận và hứa sẽ ban cho Laurensô một
cái chết đặc biệt: từ từ và đau đớn.
Sau đó Laurensô đã bị xích vào vỉ sắt nướng thịt, nằm trên ngọn
lửa cháy riu riu. Tuy chịu cực hình, nhưng lòng khát khao của ngài hướng về
Thiên Chúa quá lớn lao đến độ ngài không còn cảm thấy đau đớn. Nằm trên vỉ sắt
một lúc, ngài nói với ông quận trưởng: "Xin ông hãy lật sang mặt bên kia,
bên này đã chín đủ rồi.” Quân lính đã làm y như vậy. Sau đó ngài lại nói:
"Bây giờ cả hai bên đã chín, tất cả đã sẵn sàng, hãy đem ra phục vụ!"
Rồi ngài cầu nguyện cho tòa thánh Rôma, để nhờ đó, thế giới có thể đón nhận được
đức tin. Đang khi ngước mắt hướng lên trời, ngài đã tắt hơi thở cuối cùng trong
niềm vui hân hoan được trở về với Thiên Chúa hằng sống.
20. Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó
Một cặp vợ chồng trẻ đi tham quan thác Niagara bên Mỹ. Họ đứng
trên bờ nhìn ngắm. Dòng nước chảy cuồn cuộn về xuôi với tốc độ khoảng 50 dặm một
giờ tạo nên những ngọn sóng bạc đầu đổ xuống một ngọn thác ầm ầm cách chỗ họ đứng
khoảng 100m. Phải hết sức cẩn thận, vì nếu có ai lỡ chân rớt xuống dòng nước
thì sẽ bị cuốn phăng ngay xuống ngọn thác. Quang cảnh thật hùng vĩ, thật quyến
rũ nhưng cũng thật đáng sợ!
Mà kìa… ngay dưới chân họ, một cặp vịt trời vẫn tung tăng bơi lội,
kiếm ăn trên dòng nước. Chúng thản nhiên lặn hụp săn mồi bên ngọn thác hùng mạnh
như vũ bão, và chốc chốc lại vỗ cánh bay đến chỗ khác.
Niềm tin vào tình yêu Chúa là đôi cánh có thể giúp tôi giữ được
tâm hồn bình an giữa mọi xoay vần, như lời của bài hát ‘Trông cậy Chúa’: “Xin
trao muôn đổi thay vào tay Thiên Chúa an bài. Ngài đưa con bước hôm nay, còn
thương con mãi tương lai.”
Ở đâu có niềm tin, ở đó có Nước Trời: “Phúc thay ai có tâm hồn
nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”
21. Ngươi là ai?
Có một phụ nữ, nằm bệnh, đã rơi vào một cơn hôn mê rất sâu.
Trong lúc hôn mê, chị thấy như mình được đưa lên trời và đứng trước toà phán
xét.
- Ngươi là ai? Một giọng nói hỏi chị.
- Dạ, con là vợ của một thị trưởng, chị trả lời.
- Ta không hỏi ngươi là vợ của ai… Ngươi là ai?
- Dạ, con là một giáo viên.
- Ta không hỏi nghề nghiệp của ngươi là gì… Ngươi là ai?
- Dạ, con là một Kitô hữu.
- Ta không hỏi ngươi thuộc tôn giáo nào… Ngươi là ai?
- Dạ, con đi nhà thờ hằng ngày và luôn giúp đỡ người nghèo túng.
- Ta không hỏi ngươi đã làm gì… Ta chỉ hỏi ngươi là ai?
Không qua được những câu hỏi đó, chị được trả về trần gian. Sau
khi khỏi bệnh, chị quyết tâm khám phá mình là ai, và mỗi ngày một thay đổi.
22. Tất cả chỉ là phù vân
600 năm trước Đức Kitô, tại Rôma, một đền thờ được dựng lên để
tôn thờ nữ thần Janus. Đó là một vị thần của các cánh cổng và cánh cửa. Cũng
như cánh cửa, vị thần đó có hai khuôn mặt: một nhìn về quá khứ, một hướng đến
tương lai.
Tên của thần cánh cửa được dùng để đặt cho tháng đầu tiên trong
lịch La mã (Januarius, chuyển dịch sang tiếng Anh là January) để nói lên tính hai
mặt của thời gian cũng như của cuộc đời, tương sinh và tương khắc, giữa đóng và
mở, giữa tương lai và quá khứ.
Cuộc đời có hai mặt, người ta liên tục bị đặt trước những chọn lựa
mà đích nhắm là hạnh phúc đích thực.
Người ta tìm hạnh phúc ở tương lai, nhưng không thấy tương lai
nói gì, nên họ lại nhìn vào quá khứ để đoán biết về tương lai. Quá khứ nói gì
cho người ta về chính họ và về qui luật của thời gian, của cuộc đời?
“Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao
vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã
tràng xe cát; dưới bầu trời, có lợi lộc gì đâu! Rồi tôi đưa mắt nhìn và để tâm
suy về cái khôn, cái điên và cái dại. Người nối ngôi vua sẽ làm gì?
“Ông chỉ làm “Điều mà thiên hạ đã làm trước. Tôi đã thấy cái
khôn lợi hơn cái dại, ánh sáng lợi hơn bóng tối.” (Gv 2,11-13)
23. Có trở nên giống Chúa Kitô hay không?
Trong ngôi thánh đường nổi tiếng nọ ở nước Ý, người ta thuê một
họa sĩ trứ danh vẽ một bức tranh chân dung thánh Phanxicô Assisi thật lớn. Khi
họa sĩ bắt đầu vẽ, thì một tu sĩ Phanxicô đến góp ý: “Xin họa sĩ lưu ý, thánh
Phanxicô không có râu đâu, xin vẽ cho đúng sự thật.” Vị họa sĩ hứa sẽ vẽ đúng
như vậy.
Hôm sau, một tu sĩ Phanxicô khác thuộc ngành Capuxinô lại đến gợi
ý: “Thánh Phanxicô của chúng tôi có râu đầy đủ, nhớ vẽ cho đúng.” Thế là cuộc
tranh cãi xem thánh Phanxicô có râu hay không có râu đã nổ ra giữa hai phe. Vị
họa sĩ rất bối rối không biết vẽ thế nào. Cuối cùng họa sĩ đã nghĩ ra một cách
để làm vừa lòng mọi người.
Ngày khánh thành bức tranh đã đến! Hai phe tu sĩ đều tham dự. Bức
màn che bức tranh từ từ hạ xuống… Trên khung bức tranh, thánh Phanxicô từ từ xuất
hiện: ngài nằm dài, trên mình đắp chiếc mền trông có vẻ đang ốm liệt. Oái oăm
thay, chiếc mền ấy lại kéo lên tận sống mũi, khiến không ai biết vị thánh nghèo
có râu hay không có râu. Cả hai phe tu sĩ dòng Phanxicô đều hài lòng!
Câu chuyện hài hước và dí dỏm trên đây cho chúng ta thấy vẽ chân
dung của một vị thánh trên khung vải đã là một điều khó, họa lại cuộc đời của
các ngài trong cuộc sống của chúng ta hôm nay lại càng khó hơn.
24. Các con là ánh sáng thế gian
Một buổi tối tại vận động trường Los Angeles, Mỹ, một diễn giả nổi
tiếng, ông John Keller, được mời diễn thuyết trước khoảng 100,000 người.
Đang diễn thuyết bỗng ông dừng lại và dõng dạc nói:
- Bây giờ xin các vị đừng sợ! Tôi sắp cho tắt tất cả đèn sáng
trong sân vận động nầy.
Đèn tắt. Cả sân vận động chìm sâu trong bóng tối âm u. Ong John
Keller nói tiếp:
- Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của
que diêm đang cháy thì hãy hô lên cho tôi biết.
Ánh lửa nhỏ bé từ que diêm loé lên trong màn đêm được mọi người
nhìn thấy và nhiều tiếng hô vang: 'tôi đã thấy'.
Sau khi đèn được bật sáng trở lại, ông John Keller giải thích:
- Ánh sáng của một hành động nhân ái dù bé nhỏ như một que diêm
cũng sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy.
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng
nói vang lên:
- Tất cả những ai ở đây có mang theo diêm quẹt, xin hãy đốt cháy
lên!
Bỗng chốc, hàng ngàn đốm sáng loé lên trong bóng đêm và cả vận động
trường được thắp sáng.
Ông John Keller kết luận:
- Nếu tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau thì có thể chiến thắng
bóng tối, chiến tranh, khủng bố, cái ác và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của
tình thương, bằng sự tha thứ và lòng tốt của chúng ta...
25. Bài học sinh tồn
Có một người đã hỏi một chuyên gia leo núi như sau:
- Nếu chúng ta ở lưng chừng núi đột nhiên gặp mưa lớn thì phải
làm sao?
- Anh phải cố leo lên đỉnh núi!
- Tại sao không chạy xuống dưới? Gió mưa ở đỉnh núi chẳng phải lớn
hơn sao?
- Đi lên đỉnh núi, cố nhiên mưa gió có thể lớn hơn, nhưng không
đủ uy hiếp mạng sống của người. Còn chạy xuống dưới núi, xem ra khá an toàn,
nhưng có thể gặp tuyết trượt bộc phát chôn sống.
Anh nói thêm:
-... Đối với mưa gió, chạy trốn nó, thì anh sẽ bị lũ cuốn trôi;
đương đầu với nó, thì anh lại có cơ may sống sót!
26. Hiền lành chiến thắng
Ngày nọ, thánh Vinh-sơn bước vào một tiệm cơm, ngả mũ xin thực
khách bố thí cho những trẻ mồ côi mà ngài đang chăm sóc. Cũng trong tiệm ấy, có
một anh thợ giày ngạo mạn và đang có hơi men hất hàm hỏi ngài: "Tiền cho
trẻ em nghèo hả? Có đây!"
Thế rồi anh ta hớp một ngụm bia, phun thẳng vào mặt thánh
Vinh-sơn trước những cặp mắt bàng hoàng kinh ngạc của các thực khách. Mọi người
im lặng chờ đợi sự đáp trả cân xứng từ phía Vinh-sơn, một con người vạm vỡ vừa
bị xúc phạm quá đáng trước mặt đám đông.
Vinh-sơn từ từ cho tay vào túi, không phải để tìm hung khí trừng
trị anh thợ giày nhỏ thó kia, nhưng là để rút ra một chiếc khăn tay và từ tốn
lau khuôn mặt dơ bẩn của mình. Sau đó, cho khăn vào túi, ngài ôn tồn nói với
anh thợ giày: "Cám ơn anh. Phần anh cho tôi, tôi đã nhận. Thế còn phần của
các trẻ mồ côi đâu?"
Mọi người trong quán hết sức ngạc nhiên vì thái độ điềm tĩnh và
hiền lành tột bực của ngài. Cả anh thợ giày hỗn láo kia cũng cảm thấy rúng động
trước tấm lòng bao dung hào hiệp và bản lãnh rất cao của ngài. Anh ta quỳ xuống
tạ lỗi và sau đó, quay về quyên góp bà con bạn bè một số tiền khá lớn đem đặt
dưới chân thánh Vinh-sơn để giúp cho những kẻ nghèo.
27. Nên thánh trong đời thường
Ngày kia, thánh Antôn tu rừng đã đến gặp bác thợ giày, vì nghe đồn
bác là một người đạo đức lạ thường. Được hỏi về bí quyết nên thánh, bác thợ
giày liền đáp:
– Tôi chỉ biết đóng giày mà thôi.
Ngạc nhiên, thánh nhân bèn hỏi lại:
– Nếu chỉ có thế, làm sao mà thánh thiện cho được. Như tôi đây,
tôi thường nghĩ đến Chúa trong từng giây phút. Bác có bí quyết nào khác nữa
không?
Bác thợ giày liền giải thích:
– Tôi làm việc tám giờ, cầu nguyện tám giờ và nghỉ ngơi tám giờ.
Thánh nhân vẫn chưa cho đó là một cuộc sống lý tưởng vì ngài cầu
nguyện ở mọi nơi và trong mọi lúc. Thánh nhân hỏi tiếp:
– Còn về đức khó nghèo thì sao?
Bác thợ giày trả lời:
– Tài sản và lợi tức của tôi, một phần ba thì dâng cho Giáo Hội,
một phần ba thì bố thí cho người nghèo, còn một phần ba thì giữ lại cho tôi.
Thánh nhân cũng chưa cho đó là một bí quyết trọn hảo, bởi vì
chính ngài đã phân phát tất cả những gì mình có cho Giáo Hội và cho người
nghèo. Vặn hỏi mãi, cuối cùng bác thợ giày mới chịu bật mí:
– Mặc dù tôi bố thí một phần ba cho người nghèo, nhưng đêm ngày
tôi không thể ngủ yên khi nhìn thấy cảnh nghèo túng chung quanh tôi, đến nỗi
tôi đã phải thân thưa cùng Chúa: Lạy Chúa, thà rằng Chúa để cho con phải xuống
hỏa ngục, còn hơn là nhìn thấy những kẻ khốn khổ này phải sống triền miên trong
cảnh nghèo đói.
Nghe nói thế, thánh nhân liền bỏ ra về vì ngài chợt hiểu rằng:
Ngài chưa đủ thánh thiện như bác thợ giày, đến độ dám hy sinh tất cả vì người
nghèo.
28. Thánh thiện
Linh mục Anthony de Melo có kể câu chuyện như sau: Có một linh
sư Ấn giáo nọ nổi tiếng là bậc thánh thiện, ông đã mở được nhiều trung tâm cầu
nguyện và qui tụ được nhiều đệ tử.
Ngày kia, có một người tìm thầy học đạo tình cờ đến trước cửa
trung tâm. Con người khao khát chân lý từ bao năm nay cảm thấy như được giác ngộ
khi gặp gỡ vị linh sư. Vị linh sư nói với anh:
- Trước khi nhận ngươi làm đệ tử, ta thấy cần phải thử thách
ngươi về sự vâng lời. Đằng trước trung tâm có một dòng sông dày đặc cá sấu, ta
muốn ngươi phải lội qua dòng sông ấy.
Không một chút do dự, người thanh niên để nguyên quần áo quăng
mình xuống dòng sông. Vừa lội qua dòng sông anh vừa hô lớn: “Tung hô quyền năng
kỳ diệu của thầy tôi.”
Nhờ có sự hỗ trợ của nhiều người và của chính vị linh sư, người
thanh niên đã bơi qua dòng sông và trở về an toàn. Sự kiện này càng làm cho vị
linh sư thấy mình là người thánh thiện. Lập tức, ông cho tập trung các đệ tử
trong nhà lại và trịnh trọng bước xuống dòng sông, vừa công khai bơi lội vừa hô
lớn: “Tung hô quyền năng của ta, tung hô quyền năng của ta.” Thế nhưng, ông vừa
dứt lời thì đàn cá sấu ào tới cắn xé ông ra từng mảnh.
Thánh thiện chính là quên mình, quên mình đến độ không ý thức về
sự thánh thiện của mình.
29. Ơn gọi nên thánh
Vào một buổi tối người mẹ đã nói với những đứa con của mình như
sau:
– Mẹ sẽ rất vui mừng nếu như một trong các con trở nên một vị
thánh.
Lập tức đứa bé nhất đã giơ tay lên và nói:
– Con sẽ là một vị thánh.
Đứa bé giữ lời hứa, lớn lên làm tới chức Giáo hoàng với danh hiệu
Celestinô V, và đã trở nên một vị thánh.
Trở nên một vị thánh không phải là một việc có thể được thực hiện
trong một sớm một chiều, nhưng là kết quả của những cố gắng không ngừng, ngày
này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, trong suốt cả
cuộc đời, để được luôn trung thành cùng Chúa.
Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh. Hãy uốn nắn những
sai lỗi. Hãy cố gắng trở nên trọn lành như lời Chúa đã truyền dạy.
30. Đầu tư cho hạnh phúc mai sau
Thánh Đamascênô kể lại một mẩu chuyện như sau: ngày xưa ở một
vùng kia, người ta có một tập tục kỳ lạ, đó là mỗi vị vua chỉ được trị vì mười
năm. Trong thời gian đó, ông ta nắm giữ mọi quyền lực, đều hành mọi công việc,
mặc sức sử dụng tiền bạc…Nhưng sau thời gian ấy, người ta sẽ tước đoạt phủ việt
cũng như triều thiên và đày ải ông ta tới một hoang đảo xa xôi, để ông phải chết
dần chết mòn trong cô đơn và tuyệt vọng.
Năm ấy có một vị vua lên ngôi, nhưng ông ta khôn ngoan hơn những
người đi trước. Trong thời gian trị vì, ông ta chỉ có một ý nghĩ: phải chuẩn bị
cho tương lai, kiến thiết hòn đảo xa xôi nơi ông ta sẽ bị lưu đày. Ông truyền
cho người ta xây cất cung điện, biến rừng hoang thành những vườn cây ăn trái và
những cánh đồng lúa xanh tươi. Rồi ông cho chở tất cả vàng bạc châu báu của
vương quốc tới hòn đảo ấy.
Chúng ta thầm khen:
– Ông vua này quả là thận trọng và khôn ngoan.
Hãy bắt chước ông vua ấy, dùng cuộc sống ngắn ngủi hiện tại mà đầu
tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Hãy gửi trước về trời những kho tàng, là những
hành động bác ái yêu thương của chúng ta.
31. Mến Chúa phải yêu người
Một trong các công việc thiêng liêng nhất mà một người Hồi giáo
có thể làm là thực hiện việc đi đến Méc-ca, nơi sinh của Môhamét. Đó là một
trong năm điều căn bản nhất của đạo Hồi.
Ngày xưa có ông vua mèo thực hiện một cuộc hành hương đến
Méc-ca. Khi ông vua mèo trở về, ông vua chuột thấy mình có bổn phận phải đến
chúc mừng vua mèo. Nhưng khi những con chuột khác nghe được điều ấy, chúng lo sợ
cho sự an toàn của nhà vua. “Mèo là kẻ thù của chúng ta, nhà vua không thể tin
hắn được.” Chúng nói.
“Ồ, giờ đây ông ấy đã đi hành hương Méc-ca, ta hy vọng nhìn thấy
một sự thay đổi lớn lao nơi ông ta. Ta nghe nói ông ta đã cầu nguyện năm lần mỗi
ngày”, vua chuột đáp lại.
Thế là vua chuột ra đi. Khi đến vương quốc của mèo, vua chuột nhìn
thấy đối thủ của mình từ xa và những gì vua chuột nhìn thấy thật ấn tượng. Vẫn
còn mặc bộ y phục hành hương, vua mèo đang đắm chìm trong kinh nguyện. Tuy
nhiên khi vua chuột vừa mới đến gần hơn, vua mèo đã nhảy đến để vồ chụp con mồi.
May mắn là vua chuột đã nhanh chân trốn thoát xuống một cái lỗ. Sau đó nó gặp lại
những con chuột khác.
“Nhà vua du hành thế nào”? Đám bề tôi chuột nóng lòng hỏi. “Có
thật là kể từ lúc ông ta đi hành hương Méc-ca về, ông ta là một con mèo đã thay
đổi?”
“Tôi e rằng anh em đã nói đúng”, vua chuột đáp. “Mặc dầu hắn cầu
nguyện như một người đi hành hương, hắn vẫn cứ vồ chúng ta như bất cứ con mèo
nào.”
Tách rời hai giới răn cao trọng thì dễ dàng biết bao và nghĩ rằng
chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương người lân cận.
Hai giới răn ấy có quan hệ qua lại với nhau một cách thiết yếu.
Lòng yêu thương chân thành người lân cận trào ra từ lòng yêu mến Thiên Chúa; mặt
khác, không thể có lòng yêu mến Thiên Chúa chân thành nếu lòng yêu mến này
không được thể hiện bằng lòng yêu thương người lân cận.
32. Tám bậc bác ái
Maimonides là một vị thầy Do thái nổi tiếng sống ở Tây Ban Nha
vào thế kỷ thứ mười hai. Ông nhấn mạnh tám cấp độ, hay tám bước trong cái gọi
là cầu thang của bác ái.
1. Cấp độ thứ nhất và thấp nhất là bố thí, nhưng với sự miễn cưỡng
và hối tiếc. Đó là sự bố thí của bàn tay mà không phải là sự bố thí của tấm
lòng.
2. Cấp độ thứ hai là sẵn lòng bố thí, nhưng không tương xứng với
cảnh khốn cùng của nạn nhân.
3. Cấp độ thứ ba là sẵn lòng bố thí và tương xứng với nhu cầu,
nhưng không đến mức mà chúng ta được yêu cầu.
4. Cấp độ thứ tư là sẵn lòng bố thí, cả khi không được yêu cầu,
nhưng đặt nó vào tay của người nghèo, bằng cách ấy gợi ra trong lòng người ấy một
cảm xúc đau đớn và hổ thẹn.
5. Cấp độ thứ năm là bố thí cách nào cho người nghèo khổ nhận của
bố thí mà không biết đến người cho và người cho cũng không biết họ.
6. Cấp độ thứ sáu là biết người nhận của bố thí của chúng ta
trong lúc không để cho họ biết chúng ta.
7. Cấp độ thứ bảy là cho của bố thí cách nào để người cho không
biết người nhận, hoặc người nhận không biết người cho.
8. Cấp độ thứ tám và là cách đáng khen nhất. Đó là thực hiện trước
việc bác ái bằng cách ngăn ngừa sự nghèo khổ. Điều này được thực hiện bằng cách
cho một món quà hoặc cho vay một món tiền để người nghèo có khả năng tự lập, hoặc
bằng cách dạy cho họ buôn bán hoặc dẫn dắt họ vào con đường kinh doanh, để họ
có thể kiếm sống một cách lương thiện, và không bị bắt buộc phải dùng giải pháp
đáng buồn là ngửa tay xin bố thí.
“Một trong những điều tốt nhất có thể xảy ra cho một người là
làm điều tốt mà không ai biết và chỉ bị phát hiện bởi sự tình cờ.” (Mark Twain)
33. Đội hình của Thầy Giêsu
Trong lịch sử bóng đá, người ta đã áp dụng nhiều đội hình chiến
thuật khác nhau, trước khi đạt đến đội hình quen thuộc của bóng đá hiện đại. Huấn
luyện viên Giêsu thì khác, từ 2000 năm nay, Ngài chỉ sử dụng một đội hình cho mọi
trận đấu của cầu thủ Nước Trời. Đội hình ấy là 3-3-1-1.
Ba mối phúc đầu tiên giúp ta có cái nhìn lạc quan về tâm hồn
nghèo khó, hiền lành, sầu khổ; chúng trở thành sức mạnh tinh thần cho ta khi
đương đầu với những nghịch cảnh. Ba mối phúc tiếp theo có giá trị nền tảng mời
gọi ta hướng đến: Thiên Chúa (khát khao sự công chính), tha nhân (xót thương
người) và bản thân (tâm hồn trong sạch).
Mối phúc thứ bảy, người môn đệ mang sứ mạng hoà giải để biến thế
giới thành một đại gia đình của Thiên Chúa. Cuối cùng, qua mối phúc thứ tám,
người môn đệ sẽ đạt đến tuyệt đỉnh của đời sống khi được đồng hoá với Thầy
mình.
Mừng Lễ Các Thánh Nam Nữ, bạn được mời gọi bước đi trên “con đường
nội tâm: có khả năng lắng nghe và nhận thấy, dù chỉ là dấu chỉ nhỏ nhất do
Thiên Chúa gởi vào trần gian và những gì có thể phá tan những trói buộc của các
thói quen” (Đức Bênêđitô XVI, Đức Giêsu thành Nadarét).
Tôi đang đứng ở vị trí nào trong đội hình: 3-3-1-1 của Thầy
Giêsu trên sân cỏ trần gian, để tiến đến khung thành Nước Trời?
34. Đời con là một kiếp phù du
Thời Chiến Quốc có người đem dâng vua nước Sở vị thuốc bất tử.
Người ấy bưng vị thuốc vào, có viên quan canh cửa hỏi rằng: “Vị
thuốc này có ăn được không?” Người đáp: “Ăn được.” Tức thì viên quan giật lấy vị
thuốc mà ăn.
Chuyện nói đến tai vua. Vua phán bắt viên quan đem giết.
Viên quan kêu lên rằng: “Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người
ấy nói rằng: ‘Ăn được’ nên thần mới dám ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi ở người
dâng thuốc. Vả chăng người đem dâng nói là ‘bất tử’, nghĩa là ăn vào thì không
chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã phải sắp chết, vậy thuốc tử chớ sao gọi là bất
tử được? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội mà tỏ rằng thiên hạ
dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.”
Vua nghe nói có lý, bèn tha viên quan ấy không giết nữa.
Chẳng khôi hài chút nào chuyện sự sống của con người, nhưng lại
hết sức khôi hài cái cách người ta đuổi tìm sự sống!
Vâng, đừng trốn chạy cái chết. “Xin nhớ rằng: đời con là một kiếp
phù du, loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi! Sống làm người, ai
không phải chết? Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?” (Tv 89,48-49)
35. Con muốn má chết
Trong Thủ Bản Tự Thuật, thánh Têrêxa kể lại rằng: “Suốt đời,
Chúa nhân lành đã cưng chìu con: những kỳ niệm đầu tiên của đời con ghi đầy những
nụ cười, những mơn trớn êm đềm nhất!… Nhưng nếu Chúa đặt bên con nhiều tình
thương thì Ngài cũng cho con một trái tim để yêu và cảm xúc dạt dào, cho nên
con yêu Ba Má biết bao và con tìm đủ mọi cách để tỏ lòng yêu Ba Má, vì hễ trong
lòng con có gì thì con phải bộc lộ ra ngoài. Có điều là cách con tỏ tâm tình
đôi khi kỳ cục lắm, như lời Má chứng minh trong đoạn thư sau đây: “Con bé này
tinh nghịch có một, nó đến vuốt ve Má và chúc Má chóng chết: Má à! Con muốn Má
chết lắm! …
“Mắng nó thì nó bảo: “Má chết để về thiên đàng. Thế Má chả bảo
con là phải chết mới được vào thiên đàng là gì.
“Lúc nào nó yêu Ba quá, nó cũng chúc Ba chết như thế! …”
Đối với Têrêxa, chẳng còn cái chết, mà chỉ còn một cánh cửa mở
ra cho hạnh phúc hoàn hảo, trọn vẹn. Ước chi đức tin trong tôi cũng lớn lên để
tôi luôn vui mừng đi tìm sự sống thật trong mọi tình huống, kể cả trong những
đau khổ của ngày hôm nay, “vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ
cùng được hưởng vinh quang với Người.” (Rm 8,17)
36. Hạnh phúc ảo
Chúng ta thường tưởng lầm rằng cứ có tiền bạc, có địa vị, có
tình yêu là có hạnh phúc. Nhưng không phải như vậy. Không thiếu những người
giàu tiền bạc, có địa vị cao, nhưng luôn bất hạnh.
Marilyn Monroe, nữ minh tinh thần thoại của thế giới phim ảnh là
người có sắc đẹp mê hồn, được mọi người tôn thờ, và chắc chắn không thiếu tiền
bạc. Thế mà nàng phải sống cuộc đời cô đơn buồn thảm. Sau cùng phải tự kết liễu
đời mình trong buồn tủi, lo âu. Giờ nhắm mắt không có một người yêu bên cạnh.
Ngày nay xuất hiện nhiều “Tây ba lô”, những người nước ngoài ăn
mặc thô sơ, vai đeo ba lô, đi gặp gì cũng ăn, ngủ bờ ngủ bụi. Tại sao họ không
chọn ăn mặc chải chuốt, ngủ nghỉ trên chăn êm nệm ấm trong những khách sạn sang
trọng? Thưa vì họ thích đơn sơ, thích khổ cực, thích phấn đấu, thích sống với
thiên nhiên. Đó là hạnh phúc của họ.
Tiền bạc, tiện nghi, danh vọng, địa vị, tình yêu chắc chắn làm
cho đời sống dễ chịu hơn. Nhưng vẫn chưa phải là hạnh phúc đích thực.
37. Quỷ cũng khao khát hạnh phúc
Một hôm khi cầu nguyện, một Linh mục xin Chúa cho tra vấn một
tên quỷ:
- Nhân danh Chúa, ta hỏi mi: đâu là nơi hạnh phúc nhất?
- Dĩ nhiên là thiên đàng. Ôi, được nhìn thấy Chúa là tất cả niềm
hoan lạc. Nếu có lấy mọi vẻ đẹp của muôn vàn châu báu thế gian và mọi tinh tú
trong vũ trụ, rồi đem so sánh với vẻ đẹp của Chúa, thì tất cả cũng chỉ là một
con số không.
- Ngươi đã được hưởng tất cả những thứ đó, tại sao ngươi đánh mất
hạnh phúc thiên đàng?
- Chỉ vì chúng tôi kiêu ngạo phản loạn. Khổ nỗi là bây giờ đã
quá muộn để hối hận. Lúc này dù phải chịu tất cả mọi cực hình hỏa ngục gom lại
cho riêng tôi, tôi cũng sẵn sàng đón nhận, miễn là sau đó tôi được hưởng thiên
đàng trong giây lát. Nhưng đã quá muộn rồi !
Thì ra ngay cả quỷ dữ cũng khao khát hạnh phúc.
38. Cậy vào sức riêng mà tìm hạnh phúc
Người Ấn Độ có câu chuyện ngụ ngôn như sau: một hôm cái bánh ướt
và chiếc lá khô rủ nhau hành hương đi thánh địa Benares. Biết rằng gió và mưa
là những kẻ thù có thể làm hại mình, chúng đã cẩn thận vạch ra một chương trình
hành động để tự vệ: khi gặp gió thổi đến thì cái bánh ướt sẽ che cho chiếc lá
khô khỏi bị bay; còn khi gặp mưa thì chiếc lá kho sẽ che cho cái bánh ướt khỏi
bị nhão. Kế hoạch tiến hành thành công. Nhưng một hôm trời vừa gió lại vừa mưa.
Không đứa nào che cho đứa nào được nữa. Chiếc lá bị gió thổi đi mất, còn cái
bánh bị mưa làm tan rã.
“Có tinh thần nghèo” tức là nhận thức rằng mình không thể cậy dựa
vào sức riêng của mình. Nhiều khi, ngay cả những người thân thiết nhất của mình
cũng chẳng làm sao giúp mình được. Tất cả chúng ta đều cần đến Chúa.
39. Con đường dẫn tới hạnh phúc
Đọc trong “Hạnh các giáo phụ”, người ta thấy có một người nông
dân hạnh phúc hơn ban bè hàng xóm. Được hỏi lý do tại sao người nông dân trả lời:
“Các ông, các bà đừng có ngạc nhiên chính vì tôi luôn được thời tiết theo lòng
tôi ước muốn.”
- Không thể được!
- Không bao giờ tôi muốn thời tiết khác thời tiết Thiên Chúa gởi
cho. Vì thế nên Thiên Chúa luôn ban cho tôi mùa màng như lòng tôi ước nguyện.
Tới đây tôi nhớ lại một ý của thánh Augustinô. Đại khái Ngài
nói: Nếu chẳng may một tai họa khủng khiếp xảy tới phá huỷ mọi sự trên trái đất
này, chỉ còn sót lại cuốn Kinh Thánh, thì tôi vẫn còn đường đi tìm hạnh phúc. Nếu
chẳng may cuốn Kinh Thánh đó bị cháy tất cả, chỉ còn sót lại một trang, thì tôi
vẫn còn đường đi tìm hạnh phúc. Nếu chẳng may các dòng chữ trong đó cũng bị mờ
đi, chỉ còn một dòng “Thiên Chúa là tình yêu thương xót”, thì tôi vẫn sung sướng
tìm được con đường dẫn tới hạnh phúc.
Lạy Chúa,
xin cho con luôn vui tươi,
dù có phải lo âu và thống khổ,
xin cho con đừng bao giờ khép lại
với chính mình,
nhưng biết nghĩ đến những người
quanh con;
Ước chi con sẽ chết trong khiêm
hạ và tín thác,
như một lời xin vâng cuối cùng.
Và con về nhà Chúa,
để dự tiệc yêu thương muôn đời.
Amen.
40. Chỉ mong Ngài lấy đi
Con người thường quay lưng trước những đòi hỏi của Tin Mừng, như
người thanh niên giàu có đã sụ mặt bỏ đi khi nghe Chúa Giê-su mời gọi: “Con hãy
về bán hết mọi của cải, bố thí cho kẻ nghèo, rồi đến theo Ta”…, nên lời nguyện
sau đây của đại thi hào Tagore vẫn còn cần thiết cho mỗi người chúng ta:
Chỉ mong Ngài lấy đi
Mong chẳng còn gì thuộc về con
Mong chẳng còn gì là của con
Để con được trắng tay
Con chỉ còn Ngài để giữ lấy
Con được chọn Chúa mãi là của
con
Chỉ mong Ngài xoá đi
Mong chẳng còn gì để chiếm hữu
Mong chẳng còn gì ràng buộc con
Để con được ngước lên
Con tìm được Ngài là chân lý
Con được cùng Chúa đồng hành
luôn
Chỉ mong Ngài cất đi
Mong chẳng còn gì để nắm giữ
Mong chẳng còn gì mà tự tôn
Để con chỉ biết yêu
Yêu một mình Ngài trọn đời con
Con nhìn nhận Chúa chính Nguồn
Tình Yêu.
41. Nghịch lý của Kitô giáo
Tonner, một nhân vật nổi tiếng hiện nay của Mỹ, là một tỉ phú
giàu có, một trong các sáng lập viên của hệ thống truyền hình CNN. Gần đây
trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí The New York, Tonner cho biết không phải
lúc nào cũng thành công.
Ông đã từng bị thất bại và đi đến thất vọng đến nỗi đã nghĩ tới
việc tự tử. Một người là một trong những nhân vật quyền thế nhất nước Mỹ, nhất
là sau khi đã tặng hàng tỉ Mỹ kim cho Liên Hiệp Quốc, giờ đây phải thú nhận
mình đang là nạn nhân của một cuộc chiến về mọi mặt, từ việc kinh doanh đến cuộc
sống gia đình và ngay cả niềm tin tôn giáo.
Thất bại trong đời sống hôn nhân là điều tệ hại nhất đối với
Tonner. Ông và nữ tài tử Folda đã ly hôn sau tám năm chung sống. Lý do chính
khiến cho hai người chia tay là vì Folda đã theo đạo để trở thành một tín hữu
Ki-tô. Tonner tỏ ra không mấy thiện cảm với đức tin tôn giáo. Ông cho rằng
Ki-tô giáo là một tôn giáo chỉ dành cho những kẻ thua cuộc thất bại. Ông đã gọi
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một tên ngu ngốc. Với tất cả những gì đang
chiếm hữu, Tonner thật có lý khi coi các tín hữu Kitô là những kẻ thất bại
nghèo đói.
Nhưng điều nghịch lý nhất của Ki-tô giáo mà Tonner không sao hiểu
được là người tín hữu Ki-tô chọn đi con đường: “thua để thắng”, “mất để được”
như Đức Giêsu đã chọn và Tông đồ Si-mon Phê-rô đã phản kháng. Đó là con đuờng
“Qua đau khổ của sự chết để vào trong vinh quang phục sinh” (x. Mt 16,21-23),
Nghịch lý này về sau đã được thánh Phanxicô Át-si diễn tả trong
lời cầu của kinh Hòa Bình.
42. Sống siêu thoát như Phanxicô Átsi
Phanxicô thành Át-si (Francis of Assisi) là con một nhà quý tộc
giàu có danh giá ở thành Át-si. Một hôm đi nhà thờ dự lễ và tình cờ nghe một vị
linh mục giảng về Tám mối Phúc Thật, Phanxicô rất tâm đắc với câu nói của Chúa
Giêsu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,2).
Từ hôm ấy, anh luôn suy nghĩ xem mình phải sống thế nào để trở
thành một người nghèo thực sự theo lời dạy của Chúa? Rồi một ngày nọ, anh đi đến
quyết định sống cuộc đời siêu thoát, từ bỏ mọi sự để hoàn toàn phó thác cuộc đời
cho Chúa quan phòng. Anh đã bán gia sản của cha mình và đem phân phát cho những
người nghèo khổ bệnh tật. Hành động của Phanxicô đã đến tai người cha khiến ông
này nổi cơn thịnh nộ. Ông đã đến tịch thu tất cả những gì còn sót lại của Phanxicô
và tuyên bố từ không nhận Phanxicô làm con nữa.
Ngày hôm ấy Phanxicô đã bỏ lại tất cả quần áo, giầy dép sang trọng
đang mặc để ra kihỏi nhà với hai bàn tay trắng. Anh đã viết nhật ký như sau:
“Bây giờ tuy không còn có cha ở trần gian, nhưng tôi vẫn luôn có Cha Trên Trời
hằng thương yêu tôi.” Từ ngày đó anh được hoàn toàn tự do đi theo lý tưởng đã
chọn lựa là “từ bỏ tất cả mọi sự, trở nên nghèo khó vì Nước Trời.” Ban ngày,
trong bộ quần áo vải thô, chân không giày dép, Phanxicô đã đi bộ ngang qua các
đường phố làng mạc để khất thực. Tối đến, anh thức khuya đọc Thánh Kinh, cầu
nguyện và dùng giây da để hành xác.
Anh đã được Chúa in năm dấu thánh trên hai bàn tay, hai bàn chân
và cạnh sườn để nên giống Chúa Giêsu bị đóng đinh chân tay và chịu lưỡi đòng
đâm thâu trên cây thập giá. Anh đã thực hành đúng theo Lời Chúa dạy: “Phúc thay
ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Lối tu luyện khổ hạnh
của Phanxicô đã được Hội Thánh đánh giá cao và dòng “Anh em hèn mọn” do Phanxicô
sáng lập đã trở thành một dòng tu lớn bậc nhất trong Hội Thánh.
Sau khi qua đời, anh đã được Hội Thánh phong lên bậc hiển thánh
là thánh Phanxicô Át-si hay Phanxicô Năm Dấu, kính nhớ vào ngày 04 tháng 10 hằng
năm.
43. Nẻo về hạnh phúc
Thi đàn Trung Quốc từ cổ chí kim nổi lên một tên tuổi lớn, đó là
nhà thơ Lý Bạch, thời Thịnh Đường (701 - 762). Ông tự xem mình như tiên ông bị
lưu đày xuống thế. Ông ưa sống kiếp lãng du, say mê vẻ đẹp đất trời, vẻ đẹp
sông núi, trăng sao...
Theo truyền tụng nhân gian, vào một đêm trăng tỏ, Lý Bạch buông
thuyền xuôi theo giòng sông Thái Trạch lấp lánh ánh trăng đêm. Ông đàn hát ngâm
vịnh và uống rượu thưởng thức trăng.
Càng về khuya, men rượu nồng bốc lên càng làm ngây ngất lòng thi
sĩ. Sông nước, cảnh vật lúc ấy càng huyền ảo nên thơ. Thi nhân cảm thấy mình
như đang lạc vào bồng lai tiên cảnh. Mảnh trăng diệu huyền in hình dưới làn nước
lung linh như đang gọi mời ông tao ngộ.
Trong hơi men chếnh choáng, ông nhoài mình qua mạn thuyền, cúi
thật sâu xuống nước để ôm lấy vầng trăng mà ông say đắm lâu nay.
Than ôi! Ông đã bỏ hình bắt bóng và giòng sông oan nghiệt đã kết
liễu đời ông.
Trên cao, vầng trăng thật như đang mỉm cười chế giễu ông.
Câu chuyện của nhà thơ họ Lý cũng là câu chuyện thời sự của thế
kỷ chúng ta. Nhân loại hôm nay đang kêu gào hạnh phúc, đang khao khát kiếm tìm
hạnh phúc. Nhưng họ đâu biết rằng Thiên Chúa là Cội Nguồn của hạnh phúc.
44. Có tình yêu trao tặng mới có hạnh phúc
Người đàn ông chán đời đứng nhìn xuống giòng nước từ một chiếc cầu
cao. Ông ta đốt một điếu thuốc cuối cùng trước khi kết liễu cuộc đời bất hạnh
không còn lối thoát nào nữa. Ông ta đã làm đủ mọi cách để lấp đầy nỗi chán chường.
Ông đã đi đây đi đó, đã tìm lạc thú trong những cuộc vui chơi, đã chạy đến với
mọi thứ hơi men và khói thuốc. Nhưng nỗi chán chường càng thêm chất ngất.
Ông ta thử thời vận lần cuối bằng một cuộc hôn nhân. Nhưng không
có người đàn bà nào ở với ông được vài tháng. Ông ta đòi hỏi quá nhiều, mà lại
chẳng biết nghĩ đến ai cả. Ông ta nhận ra rằng ông đã chán chường và chẳng ai
được hạnh phúc bên cạnh ông. Chỉ có giòng sông may ra mới đem lại cho ông sự
thanh thoát.
Ông ta chưa kịp hút xong điếu thuốc thì thấy có người hành khất
đi qua cầu. Con người rách rưới đó đứng nhìn ông và đưa tay xin giúp đỡ. Người
đàn ông chán đời không ngần ngại rút cả ví tiền trao cho người hành khất và bảo:
- Thôi, ông cầm lấy cả đi. Tôi đâu cần tiền làm chi nữa.
Người hành khất cầm lấy chiếc ví, nhìn thẳng vào mắt kẻ chán đời
và nói với giọng vừa ôn tồn vừa nghiêm nghị:
- Thưa ông, tôi không cần một số tiền lớn như thế này. Tuy là một
người đi xin ăn, nhưng tôi không phải là kẻ hèn nhát. Tôi cũng không muốn nhận
tiền của một kẻ hèn nhát. Ông hãy giữ ví tiền mà đem qua thế giới bên kia với
ông.
Nói xong, người hành khất ném cái ví xuống giòng nước rồi lặng lẽ
bỏ đi, để mặc kẻ chán đời với nỗi đắng cay chua xót đang gặm nhấm cõi lòng.
Đã hút xong điếu thuốc, nhưng kẻ chán đời vẫn chưa muốn kết liễu
đời mình. Ông ta nhìn theo người hành khất đang từ từ mất dạng. Tự nhiên, ông
ta không muốn chết nữa, mà chỉ muốn nhặt ví tiền trao tặng lại cho người hành
khất. Chưa một lần trong đời, ông ta biết trao tặng cho ai bất cứ điều gì. Giờ
phút này, ông ta muốn mở rộng tâm hồn, giang rộng đôi tay để trao tặng và muốn
tiếp tục sống.
45. Hãy tìm Chúa
Một hôm, vào ngày lễ thánh Têrêxa, một nhà Dòng kín mở cửa cho
bà con thân thích vào thăm. Các tín hữu xóm làng cũng lợi dụng cơ hội để vào
xem nếp sống của các nữ tu chuyên hãm mình cầu nguyện. Một người hiếu kỳ không
thể hiểu được lý do của cuộc đời tu trì khắc khổ. Ông nghĩ bụng rằng: Hẳn đây
là những người nghèo khổ không có đủ cơm ăn áo mặc. Chỉ có hạng người xấu số mới
có can đảm hiến thân sống khó khăn như vậy. Rồi ông lân la nói truyện với một
chị nữ tu đang tuổi xuân thì.
Chỉ vào một tòa nhà đồ sộ nằm phía bên kia nhà dòng, ông nói:
Này chị, giá chị có được một tòa nhà giầu sang như vậy, với những lạc thú người
ta đang vui hưởng trong nhà ấy, chị có thể hy sinh để chôn mình vào bốn bức tường
nhà kín này được không? Chị nữ tu kia giơ tay vuốt chiếc lúp trên đầu, nhìn ra
và trả lời với một nụ cười đơn sơ chân thành: Thưa ông, đó chính là nhà của
tôi.
Của cải trần gian không là cùng đích của cuộc sống nhưng chỉ là
phương tiện. Sự giầu có của cải chưa chắc đã mang lại sự hạnh phúc và niềm vui
an lạc cho cuộc đời. Có một điều gì đó cao quí hơn gấp bội những danh vọng, tiền
bạc và thú vui trần đời. Tiên tri Sôphônia đã mở cửa dẫn chúng ta vào con đường
hạnh phúc: Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả những người hiền lành trong nước, là những
kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi
muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Thiên Chúa (Soph 2,3).
46. Sứ giả hoà bình
'Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên
Chúa" (Mt.. 4,9).
Lúc thánh Phanxicô Assisi ở Agodio thì có một con chó sói to lớn
hung dữ xuất hiện, quấy nhiễu và gieo rắc tai hoạ cho dân làng. Mỗi lần đi ra
nhà, ai cũng phải trang bị khí giới để sẵn sàng giao chiến với nó. Có người sợ
nó không dám ra khỏi nhà. Thánh Phanxicô thấy vậy, tìm cách gặp nó. Vừa thấy
thánh nhân, nó nhe răng chuẩn bị tấn công ngài, nhưng thánh nhân làm dấu thánh
giá trên nó và gọi nó đến và trò chuyện thân mật với nó:
- Nầy sói, con đừng làm hại ai nữa.
Như một phép lạ, con chó sói hung dữ trở lại ngoan ngoãn quấn
quít bên thánh nhân. Ngài nói tiếp:
- Con đã giết hại không những súc vật mà cả con người là hình ảnh
của chúa. Con có lỗi với Chúa đó, và mọi người đều ta thán oán ghét con. Thôi từ
nay con sống ngoan ngoãn, làm hoà lại với mọi người, không làm hại bất cứ người
nào vật nào nữa.
Con vật cúi đầu như cam hứa. Thánh nhân đặt tay trên nó và khen
nó. Và giai thoại kể rằng con chó sói đó sống 2 năm nữa. Ngày ngày nó ra vào
nhà mọi người như nhà nó. Nó chẳng làm gì hại ai mà cũng không ai làm hại nó,
và cho nó ăn uống đầy đủ.
47. Chia sẻ là hạnh phúc
Bangladesh là một trong những nước nghèo nhất thế giới, có một
người đàn ông đi bộ về nhà sau một ngày làm lụng vất vả vì quá mệt mỏi. Ông dừng
lại dưới bóng cây bên đường và thiếp ngủ. Khuôn mặt tiều tuỵ đến nỗi người ta
tưởng ông là người hành khất. Và không ai bảo ai, kẻ qua người lại đều dừng
chân, bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu nhỏ. Chẳng mấy chốc chiếc mũ cũ kỹ của
ông đã khá nhiều tiền.
Khi thức giấc, ông hết sức ngạc nhiên trước sự quãng đại của
khách qua đường. Ông đếm từng xu nhỏ, số tiền còn lớn hơn một ngày công của
ông. Ông mỉm cười về "người hành khất bất đắc dĩ" của mình.
Trên đường về, ông thấy nhiều người hành khất đui mù tàn tật,
ông lặng lẽ đến với họ, chia đều cho họ số tiền mà ông đã thu được. Ông trở về
lòng tràn ngập niềm hân hoan vui sướng.
48. Đường hẹp
Khi Mẹ Têrêsa thành Calcutta còn sống, người ta kể lại rằng, một
lần Mẹ đang rửa những vết ghẻ lở của người bị bệnh cùi thì có một thương gia
giàu có đến thăm nhà, thấy Mẹ đang làm việc ấy, ông phát biểu ý kiến như sau: -
Nếu có ai cho tôi một triệu bạc để làm công việc như Mẹ đang làm thì tôi cũng
không dám làm.
Mẹ Têrêsa vui vẻ trả lời:
- Tôi cũng vậy, nếu có ai cho tôi một triệu bạc tôi cũng không
thể làm điều ông làm.
Tiền của vật chất không phải là yếu tố chính và chúng ta cũng
không thể nào đo lường giá trị tinh thần của hành động con người bằng tiền của
vật chất, nhưng đây là điều mà thường tình mỗi người chúng ta cũng dễ bị cám dỗ
suy nghĩ và hành động như vậy, đó là hành động theo sự khôn ngoan của xác thịt,
theo như bài đọc hai của thánh Phaolô Tông đồ nhắc lại cho chúng ta.
49. Chúa tôn người khiêm hạ
Đang lúc thi hành việc mục vụ, Đức Tổng Giám Mục Roncalli nhận
được một bức thư nặng lời chê bai chỉ trích ngài về mọi mặt, do tay một Linh Mục
bất mãn viết. Đọc xong bức thư, Đức Cha Roncalli không nói một lời, bình tĩnh,
thản nhiên và vẫn yêu thương Linh Mục ấy.
Thời gian trôi qua, ngài được thăng chức Sứ Thần Tòa Thánh tại
Paris, rồi Hồng Y Giáo Chủ tại Venezia và sau cùng đắc cử Giáo Hoàng với danh
hiệu Gioan XXIII năm 1958.
Năm ấy, vị Linh Mục viết bức thư bất mãn kia hãy còn sống. Một
hôm gặp dịp Giáo Dân vùng đó tổ chức cuộc hành hương Roma để triều yết Đức Tân
Giáo Hoàng, cũng là vị nguyên Tổng Giám Mục yêu kính của họ, Linh Mục ấy cũng
ghi tên theo phái đoàn. Đến Roma, ngài lại xin đặc ân được tiếp kiến riêng Đức
Thánh Cha. Lời thỉnh cầu được Đức Thánh Cha chấp thuận. Sau đây là câu truyện
do chính Linh Mục ấy thuật lại:
"Trong lúc ở phòng đợi đến phiên được triều yết Đức Thánh
Cha, đầu óc tôi cứ nghĩ đến bức thư bất mãn năm xưa mà lòng tôi vô cùng hối hận.
Tôi thầm nghĩ đã mấy chục năm qua, chắc Đức Thánh Cha cũng đã quên rồi. Nhưng rủi
mà ngài còn nhớ thì sao? Mà thôi, đã lỡ xin gặp riêng, bây giờ rút lại cũng
không được nữa. Lòng tôi cảm thấy xao xuyến hồi hộp. Hy vọng ngài nhân hậu sẽ bỏ
qua và tha thứ cho tôi.
Đang lúc miên man suy nghĩ thì cánh cửa mở, Đức Ông phụ trách dẫn
tôi vào. Vừa thấy tôi, Đức Thánh Cha niềm nở đưa tay bắt và mời tôi ngồi. Ngài
ân cần thăm hỏi công việc mục vụ của tôi, của Giáo Phận và bùi ngùi nhắc đến những
bạn cũ năm xưa. Ngài thương nhớ tất cả, không trừ ai, như thể xứ sở tôi là
chính quê hương của Ngài vậy.
Lúc ấy tôi đang khấp khởi, vì tưởng Đức Thánh Cha đã quên hẳn bức
thư hỗn láo năm nào. Câu truyện vẫn tiếp tục trong bầu khí vui vẻ thân tình; bỗng
tôi thấy ngài đưa tay với lấy cuốn Thánh Kinh và từ từ mở ra. Ngài để trước mặt
tôi bức thư khốn nạn. Hồn phách lạc xiêu, tôi xấu hổ và sợ hãi quá đỗi, ước chi
được độn thổ cho khuất. Có ngờ đâu mấy chục năm qua mà bức thư vẫn còn nguyên.
Tôi đang lúng túng với muôn ngàn âu lo, thì Đức Thánh Cha đã cầm lấy tay tôi và
dịu dàng bảo: "Con đừng sợ, Cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn
con, Cha cũng là con người, cũng có những yếu đuối, Cha ngăn bức thư con viết
vào cuốn Kinh Thánh, để hằng ngày đọc vào đó mà hồi tâm kiểm điểm, hầu có thể dứt
khoát với những khuyết điểm còn tồn tại hoặc xa tránh những lầm lỗi có thể xảy
đến trong tương lai. Mỗi lần như thế Cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con.”
Nghe xong, linh hồn tôi chu du phương xa lúc ấy mới trở về. Tôi
lấy lại bình tĩnh, nhận quà ngài trao tặng. Ngài còn chúc lành cho tôi, ôm hôn
từ giã tôi. Tôi ra về, lòng không bao giờ quên được chân dung vị Giáo Hoàng
nhân hậu khiêm nhu đến thế.”
50. Hạnh phúc đích thực
Trước cổng một nghĩa trang kia, một hôm người ta thấy có một chiếc
xe hơi sang trọng dừng lại. Người tài xế bước ra khỏi xe tiến lại người giữ cổng
và nói: "Xin anh giúp một tay cho người đàn bà xuống xe vì bà ta rất yếu.
Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng: "Từ
hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi đến cho anh mười đô-la để mua hoa và
đặt trên mộ con trai tôi. Nhưng nay bác sĩ cho tôi biết tôi không còn sống được
bao lâu nữa, nên tôi đến để cám ơn anh.”
Nhưng người đàn bà không thể ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang
đã trả lời: "Thưa bà, tôi lấy làm tiếc bà đã làm công việc ấy.” Người đàn
bà ngạc nhiên hỏi: "Anh nói như vậy nghĩa là thế nào? Tại sao lại lấy làm
tiếc về một cử chỉ đẹp như thế?” Người giữ cổng giải thích:”Thưa bà, tôi lấy
làm tiếc vì những người chết như con trai của bà chẳng hạn, chẳng bao giờ còn
được thấy một cánh hoa nào nữa.”
Bị chạm tự ái, người đàn bà nói: "Anh có biết anh nói như
thế là anh đã làm tổn thương đến một người như tôi không?” Người giữ cổng bình
tĩnh trả lời: "Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng: có rất
nhiều người khác đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một
tổ chức chuyên đi thăm những người già yếu tại các nhà dưỡng lão, các bệnh nhân
tại các bệnh viện, và nhiều người đang sống cô độc. Chính họ mới là những người
đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy mầu sắc tươi đẹp
và ngửi được hương thơm của những cánh hoa ấy.”
Nghe thế, người đàn bà không nói gì nữa, đứng im lặng một lúc rồi
chào người gác cổng lên xe ra về. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa
trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ bà tự động xuống xe với một dáng vẻ
vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, chính bà là người lái
xe.
Với một nụ cười rạng rỡ bà nói với người giữ cổng: "Anh nói
có lý, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về lời khuyên của anh từ lần gặp anh cách đây
sáu tháng, từ đó, thay vì gửi tiền nhờ anh mua hoa, tôi đã dùng số tiền ấy mua
quà và đem đến tặng cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm
cho họ được hạnh phúc, nhưng người được hạnh phúc hơn chính là tôi. Các bác sĩ
không biết được cái bí quyết làm cho tôi được khoẻ mạnh và hạnh phúc. Nhưng tôi
đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống.”
CNTN 4B – CHÚA CÓ UY QUYỀN TRỪ QUỶ
Lời Chúa: Mc 1, 21-28
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
(Đến thành Capharnaum) ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy
trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy
người ta như Đấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.
Đang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên
thét lên rằng: "Hỡi ông Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông?
Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai, là Đấng Thánh của Thiên
Chúa." Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: "Hãy im đi và ra khỏi người
này!" Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi
người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Cái gì vậy? Đấy là một giáo
lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh
Người." Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng
lân cận xứ Galilêa. Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Người trừ quỷ.
Anh chị em có tin ma quỷ không? Anh chị em có thực sự tin không?
Anh chị em không biết phải trả lời ra sao nữa. Tôi cũng vậy. Tuy nhiên, ma quỷ
đang là vấn đề thời sự.
Vào năm 1970, cuốn phim “Người trừ quỉ” (Exorcist) được trình
chiếu thì lập tức đã phá kỷ lục số vé bán ra. Chuyện phim kể lại một câu chuyện
có thật về một thiếu niên 14 tuổi ở vùng Mt. Raimer, thuộc bang Maryland của
Hoa Kỳ vào năm 1949. Về sau, tờ “Tuần Tin Tức” (Newsweek) đã tường thuật câu
chuyện này như sau: “Theo người cha kể lại thì cậu thiếu niên này thích ở một
mình trên gác xép và chơi cầu cơ. Qua trò cầu cơ, cậu ta thường nói chuyện lâu
giờ với một người có tên là “Ông Đại Úy."
Lúc đầu người cha cho rằng cầu cơ chỉ là một trò giải trí vô hại.
Nhưng về sau, khi thấy con trai có những biểu hiện bất thường, thì cha mẹ cậu
bé bắt đầu lo lắng. Nhất là một hôm ông bố nhìn thấy ghế bàn và chiếc giường cậu
con đang nằm tự nhiên bị di chuyển trên sàn nhà giống như có bàn tay vô hình
nào đó kéo đi. Rồi ban đêm cậu bé bị mất ngủ và hay nói lầu bầu điều gì đó với
cái giọng khàn đặc của một gã đàn ông trung niên.
Sau đó buộc lòng ông bố phải đưa con đến bệnh viện của trường
Georgetown, một trường đại học danh tiếng. Tại đây bác sĩ điều trị phát hiện ra
cậu bé biết nói thành thạo tiếng La-tinh, một thứ cổ ngữ rất khó học mà cậu ta
chưa từng biết đến trước đó.
Cuối cùng sau một thời gian nằm điều trị vô hiệu, cha mẹ cậu
đành đem con về nhà và nhờ hai vị linh mục dòng Tên có lòng đạo đức thánh thiện
đến nhà cử hành nghi lễ trừ quỉ.
Cuộc chiến đấu giành linh hồn của cậu bé đã xảy ra rất căng thẳng
và quyết liệt, kéo dài suốt 2 tuần lễ. Cuối cùng ma quỉ cũng chịu khuất phục và
xuất ra khỏi nạn nhân. Nhưng đồng thời vị linh mục chủ lễ cũng đã gục xuống chết
tại chỗ do chứng nhồi máu cơ tim.
Hiện nay cậu bé trên vẫn còn sống tại thủ đô Washington. Một
trong hai linh mục từng tham gia vào việc trừ quỉ đã thề là không bàn luận gì
thêm về công việc nguy hiểm này. Tuy nhiên ông cũng cho biết là chính nhờ tham
gia vào việc trừ quỉ mà bản thân ông đã thêm đức tin để luôn trông cậy vào quyền
năng và tình thương của Chúa.
2. Cần mạnh tay với ma quỷ
Một nông dân giàu có nhất trong huyện và rất keo kiệt. Ông đã hối
cải, khi ông ý thức rằng. Ông chỉ là một người quản lý đất đai và một người giữ
tiền. Không lâu sau đó, một người lối xóm nghèo bị chấy hết cửa nhà, đến gõ cửa
xin đồ ăn. Nông dân giàu có này định cho người ngheo một đùi heo trong bếp.
Trên đường xuống bếp. Ma quỷ nói thầm bên tai ông: “Cho hắn cái đùi heo nhỏ nhất."
Người giàu có này chiến đấu với tính keo kiệt cố hữu của ông. Cuối
cùng lòng quảng đại đã thắng. Ông lấy cái đùi heo lớn nhất. Ma quỷ cười nhạo
ông: “Mày khùng quá." Nhưng người nông dân bịt miệng y: “Nếu mày không đứng
im, tao cho hết mọi đùi heo tao có."
Ma quỉ có mặt nơi mỗi người chúng ta nhưng chúng khéo giấu mặt.
Cảm tạ Chúa vì chúng ta không hoàn toàn sống dưới sự kiểm soát của chúng. Tuy
nhiên có điều chắc chắn là cái tinh thần của ma quỉ thì ở trong hầu hết mọi người.
Bác nông dân đã đánh bại con quỉ keo kiệt, nhưng nó vẫn còn cám dỗ bác và bác lại
đánh bại nó.
3. Ma quỷ nham hiểm
Một hoàng tử kia rất đạo đức, ngày nào ông cũng thức dậy lúc 5
giờ sáng để đọc kinh thờ phượng Chúa. Xảy ra là có một hôm ông ngủ quên, thấy vậy,
tướng quỷ Satan đến đánh thức ông.
Khi biết kẻ đánh thức mình là Satan, hoàng tử tỏ dấu thắc mắc,
ma quỷ nói với ông: “Tôi là ai, điều đó không quan trọng, việc tôi đánh thức
ngài là một điều tốt, ngài thấy không, ai làm việc lành cũng là người tốt cả."
Hoàng tử đáp: “Không bao giờ ma quỷ lại làm điều lành, vậy nhân danh Thiên
Chúa, mi phải nói rõ vì lý do nào mi đánh thức ta?
Bấy giờ ma quỷ buộc lòng phải nói thật: “Nếu ngài ngủ quên không
đọc kinh sáng khi thức dậy ngài sẽ hối hận, khiêm tốn và sửa chữa để sống đạo tốt
hơn, còn ngày nào cũng ra vẻ sốt sắng, ngài sẽ tự mãn, sẽ kiêu ngạo, cho là
mình đạo đức đủ rồi."
Nói xong nó biến mất, ma quỷ thật tinh khôn và hiểm độc.
Ngày nay, ma quỷ thường khống chế con người bằng cách pha trộn
lòng tin thực sự với những tin kiêng dị đoan dối trá: tin vào những ngôi sao,
hành tinh vận chuyển, tin vào thẻ bài, cầu cơ, bói toán. Tại sao lại tin vào những
cái vô tri không đối tượng như thế?
Càng văn minh người ta càng bị cám dỗ tin dị đoan, càng bị ma quỷ
khống chế trong lãnh vực này. Trên những tờ báo lớn của nhiều nước văn minh
chúng ta thấy dầy đặc những lá số tử vi, người ta dựa vào tử vi, phương hướng
hành trình của tinh tú để đoán định tương lai đời mình, có những người tin
kiêng ngay cả từng bước đi cho đến cuộc đời.
4. Đi tìm "minh chủ"
Trong lịch sử nước Trung Hoa, có những thời kỳ hỗn loạn vô chính
phủ. Những tay hảo hán nổi lên xưng hùng xưng bá, mỗi người cát cứ một vùng. Có
những bậc anh hùng hào kiệt bỏ công chịu khó tìm hiểu và cân nhắc để nhận định
ai là minh chủ để dốc sức phò tá.
Có một người khổng lồ sống tại vùng đất Canaan chán cuộc sống
đơn điệu buồn tẻ, chàng muốn phiêu lưu và quyết tìm cho được một người nào mạnh
nhất để phục vụ.
Thoạt đầu chàng nghĩ chẳng ai mạnh bằng tướng cướp, nên xin đi
theo hộ vệ cho tướng cướp. Nhưng mỗi lẫn sắp đi cướp, viên tướng cướp này phải
nhờ đến thầy phù thủy làm phép xuất quân, thế là chàng rời bỏ tướng cướp mà đi
theo thầy phù thủy.
Một hôm, thầy phù thủy đang đi bỗng gặp một cây Thánh giá thì sợ
hãi dừng lại không dám đi tiếp. Thế là chàng khổng lồ bỏ rơi thầy phù thủy đến
đứng bên cạnh Thánh giá, để chờ chủ nhân đó đến mà xin đi theo. Chàng cứ đứng
đó chờ mãi mà chẳng thấy chủ nhân cây Thánh giá.
Tình cờ anh nghe có tiếng gọi thật nhẹ nhàng. Anh quay lại bắt gặp
một cậu bé với đôi má phúng phính và mái tóc óng ánh. Cậu bé nhờ anh chàng này
đưa cậu qua khúc sống gần đó. Nhận lời, nhắc cậu bé lên vai, người khổng lồ lội
xuống dòng sông đang chảy siết. Nhưng kỳ lạ nước mỗi lúc một dâng cao và chảy mạnh.
Cậu bé mỗi lúc một đè nặng trên vai, chống chọi với sông nước để cuối cùng đem
cậu bé lên bờ bên kia. Người khổng lồ mới thốt lên:
- Này cậu bé, cậu nặng đến độ tôi tưởng chừng mang cả vũ trụ
trên vai.
Cậu bé mỉm cười đáp:
- Ngươi mang Đấng còn hơn cả vũ trụ nữa. Bởi vì chính tôi đã tạo
nên trời và đất.
Cậu bé còn cho biết thêm mình chính là chủ nhân của cây Thánh
giá.
Thế là chàng khổng lồ kia xin phò tá vị Chúa Tể trời đất. Chúa dạy
rằng: muốn phụng sự Ta, ngươi cứ đứng ở khúc sông này, mỗi lần có ai muốn sang
sông thì ngươi hãy cõng người ấy sang.
Chàng khổng lồ tuân theo. Từ đó trở đi, người ta gọi tên chàng
là Christophe, nghĩa là người mang Chúa Kitô trên vai.
Chúng ta đã chọn Đức Kitô
là thủ lãnh của đời ta, chúng ta hãy tin theo và phục vụ Ngài. Nếu chúng ta muốn
phụng sự Đức Kitô, chúng ta hãy theo gương thánh Christophe, bởi vì trên đời
này không còn ai xứng đáng hơn ngoài Đức Kitô để cho ta đi theo phụng sự.
5. Sức mạnh siêu phàm
Hoàng đế César Augustô của đế quốc La Mã là người đã biến La Mã
gạch ngói thành một La Mã nguy nga tráng lệ, với những tòa nhà cẩm thạch.
Nhưng trong triều đại của César Augustô, một biến cố đã thay đổi
cục diện của thế giới và lịch sử nhân loại, mà ông không hề biết tới.
Ông làm sao có thể biết trẻ Giêsu chào đời trong một tỉnh lẻ xa
xôi, sẽ biến La Mã cẩm thạch của ông thành những vương cung thánh đường vĩ đại
nhất.
Ông đâu có ngờ các thần minh của ông sẽ phải lui bước để nhường
chỗ cho một Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện và chân thật.
Ông cũng không ngờ trẻ Giêsu ấy lại có một sức mạnh siêu phàm đảo
lộn mọi giá trị hiện có, và thiết lập một bậc thang giá trị hoàn toàn mới mẻ.
6. "Hãy để tôi yên"
Khi vừa gặp Đức Giêsu, người bị quỷ ám liền la lớn "Ông
Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi
?" Nói như thế cũng có nghĩa là nói "Hãy để cho tôi yên. Tôi tội lỗi
đấy, xấu xa đấy, nhưng mặc kệ tôi, đừng quấy rầy tôi."
Đây không chỉ một lần, mà nhiều lần những người bị quỷ ám trong
Tin Mừng đều la lên như vậy. Họ biết là họ đang ở trong tình trạng xấu đó,
nhưng họ không muốn thay đổi tình trạng, vì thay đổi thì đau đớn.
Ngày nay cũng có rất nhiều người đang ở trong tình trạng xấu
nhưng không muốn thay đổi. Các nhà tâm lý cho biết rằng nhiều người không muốn
được chữa trị, vì chữa trị thì phải thay đổi, mà thay đổi thì đau đớn.
Một bà mẹ kia vừa sinh con ra thì khám phá con mình bị mù. Bà gọi
tất cả những người nhà đến căn dặn đừng ai cho đứa bé biết nó bị mù, cũng đừng
ai bao giờ nói đến ánh sáng hay màu sắc gì cả trước mặt nó. Đứa trẻ cứ thế lớn
lên, vẫn tưởng nó cũng bình thường như mọi người khác. Thế nhưng một hôm, một đứa
trẻ hàng xóm leo hàng rào vào và gặp đứa bé mù. Do không được căn dặn trước, nó
đã nói tất cả những gì mà người mẹ không muốn nó nói. Thế là mọi sự sụp đổ tan
tành.
Câu chuyện trên phần nào minh họa cho thái độ của chúng ta.
Chúng ta không muốn nhìn nhận những khuyết tật của mình, và cũng không muốn ai
chữa trị cho mình, vì nhìn nhận thì đau khổ và chữa trị thì nhọc nhằn.
Nhưng không thể tự lừa dối mình bằng cách trốn tránh sự thật như
thế mãi. Hãy can đảm đối diện với sự thật và cầu xin Chúa cứu chữa. Chắc hẳn
Ngài sẽ cứu được chúng ta, bởi vì Người là Đấng rất uy quyền (Viết theo Flor Mc
Carthy)
7. Dị đoan
Theo nghĩa chữ, "đoan" là đầu mối, "dị" là kỳ
lạ. Tin "dị đoan" là tin vào những việc mà liên hệ giữa chúng với
nhau kỳ lạ, không hợp lý; hay nói cách khác, không có liên hệ nhân quả với nhau
rõ ràng. Thí dụ chữa bệnh không bằng y khoa mà bằng bùa ngãi, thần chú; tìm hiểu
sự việc không bằng trí óc, phán đoán mà bằng bói toán v.v.
Trước năm 1975, có một cuộc trấn ếm của một ông thầy pháp, người
ta kể lại: đôi vợ chồng chủ nhà vừa mới mua căn này và chưa ở được bao lâu. Họ
nói: ma quỉ ban đêm hay phá quá! Dù là công giáo, nhưng hơi kém đức tin, nên họ
đã rước thầy pháp về.
Ông thầy bảo: nhà này ma lắm; đó có mấy đứa con nít đu ở đầu cột
đó! Ông liền lên đèn, bắt ấn, dùng dao chặt ngang vào thân cột, thấy máu chảy
xuống ròng ròng, chảy tới đất là mất. Ông lấy mấy cây nhang nhỏ, đốt lên, bắt ấn,
múa may, rồi cấm vào thân cây cột nhà bằng căm xe, còn bóng bẩy. Người đi coi
thấy cây nhang được cắm vào cây cột cách nhẹ nhàng, sâu đến cả nửa cây nhang. Họ
thấy mấy chuyện lạ này, nên xem ra họ tin lắm...
Ngược lại chúng ta phải tin vào Chúa Giêsu mà thôi, Người dùng
quyền năng tự chính mình để chữa bệnh, để xua trừ ma quỉ. Người không cần nhờ
ai cả. Đó chính là đề tài mà chúng ta sẽ suy niệm trong ngày Chúa Nhật hôm nay.
Đạo công giáo bài bác những chuyện dị đoan vì dị đoan vừa ngược
với lý trí vừa nghịch với đức tin. Là tín hữu của Chúa, một mặt chúng ta phải
biết sử dụng những khả năng Chúa ban để giải quyết những việc khó khăn xảy đến
trong đời mình, và mắt khác hãy biết phó thác cuộc đời cho Chúa dẫn dắt. Đừng
vì yếu đức tin mà chạy theo những việc mê tín dị đoan khi gặp phải chuyện khó
khăn.
8. Theo anh là thủ lãnh.
Một nhà thám hiểm xứ Soudan đã tháo xiềng xích cho một tên nô lệ
12 tuổi. Rồi săn sóc dạy dỗ như con, thằng nhỏ đem lòng mến phục vị đại ân
nhân.
Giờ thực hiện cuộc mạo hiểm đầy gian nguy đã đến. Nhà thám hiểm
không muốn cưỡng bách em bé theo mình. Ông nói:
- Này em, anh sắp lên đường đến miền xa lạ. Cuộc hành trình rất
mực cam go: Đường đi xa xôi, hành lý nặng nề, nước uống đồ ăn thiếu thốn, những
mũi tên tẩm thuốc độc vù vù bên tai, rừng nhiều thú dữ... Em ở lại hay theo anh
? Nếu em theo anh, chúng ta cùng nhau cực nhọc, khi thiếu nước thiếu ăn, anh
cũng chịu khát, nhịn đói như em, việc em vẫn nhẹ hơn việc anh. Bây giờ tùy em định
đoạt.
Em bé nhìn sâu vào mắt nhà thám hiểm, lúc này đã thành người
anh, người bạn và nói:
- Theo anh là thủ lãnh của em.
Thế là em nhỏ theo anh lên đường. Những quãng đường dài cực nhọc,
những ngày nắng không nước, em bé lần lượt nếm cả, chân nứt nẻ máu me, nhưng
không coi sao, vì lòng vẫn hăng hái khi thấy người thủ lãnh sốt rét bị thương
mà vẫn đi hàng đầu. Sức chịu đựng của con người có giới hạn, mà nguy hiểm vất vả
lại cứ tăng, nhiều bạn đồng hành bỏ cuộc. Nhà thám hiểm vừa thương hại, vừa để
thử lòng, hỏi em bé:
- Em có bỏ không ?
Lời thưa đầy hăng hái rằng:
- Em đã chẳng hứa với anh sao ?
Sáu tháng trời qua đi, cuộc thám hiểm thành công rực rỡ. Đàng
sau người thủ lãnh tươi như hoa nở, em nhỏ đứng hiên ngang đón nhận những lời
hoan hô vang dội.
9. Lời Chúa có sức mạnh biến đổi
Tokichi Ishii, một tên giết người không gớm tay. Y đã đạt kỷ lục
về việc giết nhiều người nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng
nổi. Y sát hại đàn ông, đàn bà phụ nữ, trẻ em với bàn tay khát máu. Y đã thủ
tiêu bất cứ người nào tình cờ y gặp và muốn giết. Nhưng rồi cuối cùng y đã bị bắt
và bị kết án tử hình.
Lúc ở trong nhà tù chờ ngày bị hành quyết, có hai phụ nữ công
tác tông đồ đã đến khuyên nhủ y. Nhưng tất cả những lời thăm hỏi, trò chuyện của
họ đều không làm cho y mảy may xúc đổng. Trái lại y còn nhìn chằm chặp vào họ với
một cặp mắt dữ tợn như muốn nuốt sống họ.
Cuối cùng, vì không còn đủ kiên nhẫn nữa, hai phụ ấy nữ ra về.
Nhưng trước khi ra khỏi nơi gặp gỡ, họ để lại cho y một cuốn sách Tân Ước với
hy vọng mỏng manh rằng y sẽ đọc và rồi Lời Chúa sẽ hoạt động… Và đúng như họ
mong ước: Niềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishii đã đọc. Lời Chúa thu
hút Ishii khiến anh tiếp tục đọc hết đoạn tường thuật về cuộc tử nạn của Chúa
Giêsu… Khi đọc đến câu: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc
chúng làm”! (Lc 23, 34), anh ta dừng lại và suy nghĩ. Anh tâm sự: “Đọc đến câu
này, trái tim tôi bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi
đó là tình yêu của ông Giêsu, hay là lòng thương xót của Ngài không thì tôi
không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan
biến và tôi đã tin vào Chúa."
Khi các nhân viên nhà giam dẫn anh ta đi để hành quyết, họ rất
ngạc nhiên thấy tử tội Ishii hòa nhã, lễ độ, chứ không như một tên giết người
hung bạo như trước nữa. Ishii, đã được lời Chúa hoán cải (Trích Lẽ Sống, Radio
Veritas).
10. Tin vào tình thương của Chúa
Có một tội nhân kia suốt đời được thiên thần hướng dẫn đi theo
con đường hẹp nghĩa là đi theo đường lối Chúa đã dạy bảo, nhưng tất cả đều vô
ích. Con người này cứ đắm chìm trong đường tội lỗi. Gần đến ngày ông ta phải về
tính sổ trước mặt Chúa, thiên thần bản mệnh của ông chỉ còn biết khóc thầm,
thương cho ông. Hơn nữa ma quỉ còn lợi dụng cơ hội này để thúc đẩy con người
này tiến thẳng xuống hỏa ngục. Ma quỉ đã đến bên ông và gieo vào tâm hồn ông niềm
thất vọng, chán nản. Ma quỷ nói với ông:
- Thôi, ông cứ tiến thẳng tới án phạt của ông đi vì đời sống của
ông chỉ toàn là những điều gian ác.
Trong chốc lát, ông như tỉnh ngộ. Ông bước đi nhưng mắt vẫn ngước
nhìn về ngai vàng nơi Thiên Chúa ngự trị và tấm lòng vẫn còn hy vọng được Thiên
Chúa tha thứ vì lòng nhân từ khoan thứ vô biên của Ngài. Thấy vậy, ma quỉ nói với
ông:
- Hỡi người tội lỗi cứng lòng, hãy bước đi chứ đừng hy vọng gì nữa.
Tội nhân vẫn cứ tiếp tục bước. Lòng vẫn cầu nguywện trong sự e
thẹn:
- Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng công chính. Tội của con thật đáng
với án phạt nhưng vì tình thương bao la của Chúa, xin tha tội cho con. Tuy dù
con bất xứng trăm bề, nhưng Chúa biết rằng niềm hy vọng trong tâm hồn con chẳng
bao giờ tắt, vì con luôn tin tưởng vào lòng khoan dung của Ngài. Lạy Chúa, nỡ
nào Chúa lại lên án phạt con. Nỡ nào Chúa lại tuyên phạt con đời đời hay sao?
Thiên Chúa đã cảm động trước lời cầu xin khiêm tốn của ông ta.
Ngài truyền cho các thiên thần:
- Hãy dẫn người đàn ông khiêm tốn ấy đến trước mặt ta. Lửa yêu
thương của Ta sẽ thiêu hủy hết tội lỗi của nó. Mặc dù nó phạm tội nhiều nhưng
không bao giờ nó hết nghi ngờ lòng nhân từ vô biên của Ta, vì thế Ta muốn nó được
sống trong nước vinh quang của Ta, sống bên cạnh ta để nó sẽ ca ngợi lòng nhân
từ của Ta mãi mãi. Amen.
11. Đồng hồ cần sửa cho đúng
Có một câu chuyện kể về những người Do Thái sống ở Ba Lan trong
một ngôi làng rất xa xôi hẻo lánh đã nhiều năm không có một người thợ sửa đồng
hồ nào ghé qua. Sau một thời gian, những chiếc đồng hồ trong làng đều bị hỏng,
mỗi cái chạy mỗi giờ khác nhau. Đa số những người dân làng đã buông xuôi, không
thèm lên giây thiều những chiếc đồng hồ vô dụng nữa. Sau cùng, có một người thợ
sửa đồng hồ tình cờ đã đi ngang qua ghé vào thăm làng. Dân chúng bèn mang những
chiếc đồng hồ đến cho ông sửa dùm. Nhưng những chiếc đồng hồ của họ đã bị sét rỉ,
bị ăn mòn vì lâu năm không dùng đến, không thể sửa lại được nữa, trừ ra một chiếc
đồng hồ mà người chủ của nó đã kiên trì lên giây thiều mỗi ngày. Mặc dù ông biết
rằng nó không chạy đúng giờ, ông vẫn hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ có một người
thợ sửa đồng hồ ghé qua làng.
Người tín hữu trung thành cũng giống như người chủ chiếc đồng hồ
này. Qua lời cầu nguyện, việc thờ phượng, đọc Thánh Kinh và suy gẫm Lời Chúa,
chúng ta có thể giữ vững tinh thần.
12. Uy quyền của tình yêu
Vào năm 1979, trước khi nhận giải thưởng Nobel hòa bình, mẹ
Têrêxa Calcutta đã được ông Tổng Thư ký Liên hiệp quốc giới thiệu với các đại
biểu các nước trên thế giới rằng: “Đây là con người quyền lực nhất trần gian.”
Mẹ là người quyền lực nhất – vì Mẹ có sức mạnh loại bỏ được mọi rào cản vững chắc
của ý thức hệ, – vì Mẹ vượt qua được mọi ngăn cách của các tôn giáo, – vì Mẹ
phá đổ được bức tường kiên cố của các chủng tộc. Mẹ đã đặt chân đến và được hoạt
động tại những quốc gia đầy gian khó như Trung Quốc, Liên Xô, Cu Ba. Mẹ là người
quyền lực nhất vì đã cảm hóa được những nhà lãnh đạo tại những nơi vốn bị coi
là vùng đất cấm. Mẹ thực hiện được những điều ấy với vũ khí duy nhất là phục vụ
bằng tình yêu cao độ.
Muốn phục vụ cách triệt để cần phải có tâm hồn đầy sức mạnh của
tình yêu. Tình yêu sẽ loại trừ mọi nghi kỵ chống đối, vượt qua mọi rào cản khó
khăn và sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh thiệt thòi. Phục vụ cách chân thành với
tình yêu sẽ tạo nên sức mạnh phi thường, giúp chiến thắng mọi nghịch cảnh, và
có thể đi thẳng đến trái tim con người.
13. Phép lạ là dấu chỉ
Từ quen thuộc để chỉ “phép lạ” trong tiếng Hy Lạp là semion có
nghĩa là “dấu chỉ” (các tác giả tiếng Anh viết bằng tiếng Hy Lạp). Từ này cho
thấy phép lạ của Chúa Giêsu giống như một ngọn đèn đỏ lóa sáng. Điều quan trọng
không phải là ánh sáng lóa lên, mà là ý nghĩa của nó. Nói khác đi, Chúa Giêsu
muốn nói điều gì đó qua một phép lạ. Chẳng hạn, khi Chúa Giêsu trừ quỷ, Ngài có
ý nói rằng nước của Satan sắp phải nhường chổ cho Nước Thiên Chúa.
Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã khởi sự giống như hạt giống được
gieo trồng. Chúa Giêsu đã gieo hạt. Bổn phận của chúng ta là phải vun trồng nếu
muốn cho hạt giống trổ sinh hoa trái. Tôi đã làm gì để có thể giúp vun trồng hạt
giống ấy?
Mỗi người đều có sứ mạng riêng để hoàn thành, đó là sứ mạng của
tình yêu (Mẹ Têrêsa).
14. Biết Chúa
Trong một cuộc thi tuyển tài nghệ diễn xuất. Một anh thanh niên
học về ngành kịch ảnh sân khấu đã bước ra và dõng dạc đọc thuộc lòng thánh vịnh
23, "Chúa là Đấng chăn dắt tôi. Tôi chẳng thiếu thốn chi..." Anh đã đọc
với cung giọng trầm bổng dẽ dàng và rõ ràng với tài nghệ của một kịch sỹ để diễn
tả ý nghĩa của thánh vịnh đó. Anh đã đọc thật hay và được khán thính giả yêu cầu
đọc đi đọc lại ba lần với những tràng pháo tay tán thưởng vang dội.
Người thứ hai là một ông cụ già lưng hơi gù gù. Khi ông bước lên
sân khấu thì mọi người im lặng. Giọng ông nhỏ nhẹ và phải chú ý mới có thể nghe
được. Ông chậm rãi xướng lên thánh vịnh 23, "Chúa là Đấng chăn dắt tôi.
Tôi chẳng thiếu thốn chi..." Ông đọc với một tâm tình có sức cảm kích khác
biệt. Khi ông đọc xong, thì cả cử tọa trong phòng im lặng. Mọi người đều cúi đầu
và như âm thầm cầu nguyện. Vài phút sau, người thanh niên thứ nhất bước lên sân
khấu nhận định, "Thưa quý vị. Như quý vị cảm nhận. Rõ ràng là tôi biết và
thuộc thánh vịnh 23, nhưng còn ông cụ đây mới thực sự là người biết Đấng Chăn
Chiên." (Jack Mc Ardle, 150 Stories for Preachers and Teachers # 5).
15. Chúa nói với uy quyền
Trong thư viện của quốc hội Hoa Kỳ, có người đã thống kê các loại
sách và công bố kết quả như sau: có 1735 cuốn viết về Napoleon; 1755 cuốn viết
về Washington; 3172 cuốn viết về Lincoln; 3172 cuốn viết về W. Shakespeare và
5152 cuốn viết về Đức Giêsu Kitô.
5152 cuốn sách với nhiều bản in đây, chắc chưa phải là đủ hết số
sách viết về Chúa Giêsu trên thế giới, nhưng cũng đủ cho ta thấy Chúa là một
nhân vật gây nhiều ngạc nhiên cho mọi người có suy nghĩ. Qua đoạn Tin Mừng hôm
nay, ta thấy ngay, khi Chúa vừa ra mắt dân chúng, người ta đã xôn xao bàn tán về
Chúa như một điềm lạ.
Chúa Giêsu bắt đầu giảng trong hội đường và lời Ngài làm cho người
ta kinh ngạc. Một nhà vô tín đã hỏi một cụ già: “Tại sao cụ tin thờ ông Giêsu,
một tử tội chết trần truồng trên Thập giá?" Cụ già từ tốn đáp: “Thưa ông,
rất đơn giản, vì tôi thấy trong lịch sử không có ai như ông Giêsu, không ai bằng
ông Giêsu, cũng không ai hơn ông Giêsu." Thực vậy, những người trực tiếp
nghe Chúa Giêsu giảng, đều ngạc nhiên và cảm thấy lời Ngài khác hẳn những kiểu
ăn nói của các luật sư, văn sĩ. Vì lời Ngài là “giáo lý mới!lời Ngài ra lệnh
cho ma quỷ và chúng phải tuân theo” (Mc 1,27).
16. Ma quỷ
Ma quỉ vốn là một tạo vật của Thiên Chúa. Đôi khi nó được phép
quấy nhiễu con người và làm cho con người sợ hãi mà bỏ việc phụng sự Chúa…
Cha thánh Vianney là một thí dụ. Quỉ thường quấy nhiễu ngài ban
đêm, có lúc nó bắt chước tiếng đóng đinh xuống nền nhà, có lúc nó hát bằng một
giọng the thé. Ngài nói:
- Tôi đã nghe nó bảo rành mạch: Hỡi Vianney, mày làm cái gì đó,
hãy cút đi.
Dần dần tôi cũng quen với sự quấy phá của nó. Nói chung, nó chẳng
làm gì được ngài.
Thật ra chúng ta không nên sợ những con quỉ có sừng hay có đuôi
đe dọa. Chúng ta nên sợ Satan đội lốt thiên thần ánh sáng, lắm mánh khóe và lắm
trò bịp bợp. Nó biến chúng ta thành tay sai cho nó ngay chính lúc chúng ta tưởng
rằng mình đang phụng sự Thiên Chúa.
Vậy phải cảnh giác trước những quyến rũ ngọt ngào, những hứa hẹn
hấp dẫn của nó.
Con đường dẫn tới Nước Trời phải là con đường nhỏ hẹp khó đi. Thế
nhưng có nhiều người tín hữu hôm nay không tin vào sự hiện diện của ma quỉ.
Nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta thấy biết bao nhiêu hình thức
nô lệ, biết bao nhiêu xiềng xích của ác thần đang trói buộc con người, mà nhiều
lúc con người không nhận ra. Nô lệ cho quyền lực, nô lệ cho tình dục, nô lệ cho
ma túy, nô lệ cho cờ bạc, nô lệ cho rượu chè, nô lệ cho mọi thứ chủ nghĩa cực
đoan, nô lệ cho mọi thứ cuồng tín tôn giáo.
Khi nhìn vào bản thân, chúng ta thấy mình cũng ít nhiều sống dưới
sự thống trị của ma quỉ, mặc dầu mỗi năm vào đêm Phục sinh, chúng ta vẫn lặp lại
lời tuyên xưng từ bỏ ma quỉ và những gì thuộc về nó. Ma quỉ vẫn còn cám dỗ
chúng ta mỗi ngày qua giác quan, qua trí tưởng tượng, qua lòng tham lam, qua những
tương quan lệch lạc…hãy chạy đến với Chúa và kêu cầu:
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi
sự dữ.
17. Chúa chữa lành
Một linh mục linh hướng khóa Cursillo, ba ngày học hội Kitô
giáo, kể lại tâm sự của một khóa sinh trẻ, học thức cao với văn bằng Tiến sĩ.
Câu chuyện đời của chàng quả thật rất đặc biệt. Suốt đời chàng nỗ lực theo đuổi
rất thành công những việc học hành, nghề nghiệp, thể thao và nghệ thuật. Nhưng
chàng vẫn cảm thấy trống rỗng. Cho dù theo đuổi bất cứ công việc gì thì cũng chỉ
là những nỗ lực cố gắng lấp đầy cái lỗ trống to lớn trong tâm hồn mình mà thôi.
Những thành công không làm chàng cảm thấy thoải mái hơn. Đến với khóa học chàng
cảm thấy như đang đi tìm một điều gì đó sâu kín trong tâm hồn mà chàng đang
khao khát.
Rồi vị linh mục đã chia sẻ chính cuộc đời của mình cho chàng
nghe, những đổ vỡ và thất bại. Hoàn cảnh thì khác nhau, nhưng cùng một tâm trạng.
Mấu chốt của vấn đề là làm thế nào để học được cách chấp nhận Chúa Giêsu như một
niềm hy vọng duy nhất cho cuộc đời, một niềm vui duy nhất trong cuộc sống. Lúc
đầu ngài cũng cảm thấy rằng việc theo chân Chúa Giêsu là việc khùng điên. Nhưng
rồi sau đó ngài cảm thấy tâm hồn được bình an. Đây cũng chính là điều chàng
đang muốn có, sự bình an. Khi kết thúc khóa học chàng đã công khai công bố Chúa
Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ của mình với một lòng xác tín mạnh mẽ và cảm động.
Chàng đã chia sẻ công khai với mọi khóa sinh khác rằng: "Chỉ có Chúa Giêsu
mới có quyền ban cho tôi một ý nghĩa của cuộc sống và chữa lành các thương tích
đổ vỡ trong tâm hồn tôi."
18. Thánh Vianney bị ma quỷ quấy phá
Những quấy nhiễu của Satan còn kéo dài nhiều năm. Lúc trước chỉ
có một mình cha sở Ars phải chịu đựng điều đó. Về sau, ma quỷ cũng quấy phá cả
những người sống chung quanh ngài. Các cô giáo và các em nhỏ mồ côi ở trường
Chúa Quan Phòng, một cơ sở sáng giá do cha sở thiết lập, cũng nghe thấy những
tiếng động kì lạ trong một vài đêm. Ma quỷ còn chọc ghẹo cả cộng đoàn này.
Về sau, trước toà án phong thánh, Marie Filliat cung khai rằng:
"Một hôm, sau khi rửa nồi, tôi đổ nước vào nồi để nấu súp.
Tôi thấy trong nước có những miếng thịt nhỏ. Hôm đó lại là ngày ăn chay kiêng
thịt. Tôi đổ bỏ hết nồi đó, rồi rửa nồi và đổ nước vào lần nữa. Khi nồi súp đã
nấu xong sẵn sàng để dọn ra, thì tôi lại thấy trong đó có lẫn những miếng thịt
nhỏ. Khi biết chuyện, cha sở bảo: 'Ma quỷ nó làm ra như thế đấy, cứ việc dọn
lên mà ăn'."
Như mọi người thấy, cha sở Ars không hề bối rối. Lương tri của ngài
vẫn không bị lay chuyển, và sự trông cậy của ngài vào Thiên Chúa đã khiến cho
Satan không làm gì được ngài. Một hôm, người ta hỏi xem ngài có sợ không, ngài
chỉ trả lời: "Cái gì rồi cũng quen! Quỷ và tôi, chúng tôi coi nhau như đồng
chí."
Điều đó rõ ràng không có nghĩa là ngài cùng phe với ma quỷ. Ngày
4.12.1841, ngài tâm sự với các cô giáo trường Chúa Quan Phòng: "Các con
nghe đây: tối hôm qua, quỷ nó tới phòng cha đang khi cha đọc sách nguyện. Nó thổi
hơi rất mạnh, và dường như mửa ra một cái gì đó giống như hạt lúa mì hay hạt gạo
trên nền nhà. Cha nói với nó: 'Tao sẽ lại đằng kia (nhà trẻ mồ côi) kể lại việc
mày làm để người ta khinh rẻ mày'. Thế là nó im lặng ngay tức khắc."
Hôm khác, khi cha Vianney đang dỗ giấc ngủ vì ngài rất cần nghỉ
ngơi, thì ma quỷ la lên để làm hao mòn sức khoẻ ngài chừng nào có thể:
"Vianney! Vianney! Ta sẽ bắt mi! Hãy xem, ta sẽ bắt mi!"
Ngài trả lời: "Tao đâu có sợ mày!"
Hiện nay, tại nhà xứ họ Ars, người ta thấy có một cái giường mà
trước đây là giường của cha Vianney. Cái giường đó bị cháy khi nó được đặt ở
nhà thờ, nhưng không biết nó bị cháy cách nào. Hồi đó, khi người ta tới báo cho
ngài biết là nhà ngài bị cháy, thì ngài không trao chìa khoá cho họ để họ xông
vào nhà dập tắt đám cháy. Mà ngài nói, mặt tỉnh bơ không lộ vẻ hoảng hốt:
"Lại cái con Quỷ Cào Sắt khốn kiếp! Nó không bắt được chim, nên đã đốt cái
lồng chim rồi."
Ma quỷ sỉ nhục, mắng nhiếc cha Vianney một cách rất thường
xuyên, nó đe doạ ngài, nói với ngài những câu thô lỗ. Nó dùng những lời thô tục
để chửi ngài: "Vianney! Vianney! Đồ ăn khoai thiu! A, mi chưa chết à! Ta sẽ
bắt mi!" Tại nhà xứ, nó bắt chước tiếng gấu gầm gừ, tiếng chó tru tréo,
lay động như điên những tấm màn ở giường ngài,...
Theo lời khai của Cathérine Lassagne và sư huynh Athanase, thì
có những lần ma quỷ bắt chước tiếng búa đóng đinh xuống sàn, hay tiếng búa đóng
vành sắt vào thùng tônô, nó đánh trống trên bàn, trên ống khói, trên bình nước,
hoặc nó hát bằng một giọng nheo nhéo và sai lạc, khiến cho cha Vianney nói:
"Con Quỷ Cào Sắt có một giọng nói tệ ơi là tệ!"
Thực ra, tất cả những cái đó chỉ là những trò kì cục, ấu trĩ hơn
là nguy hiểm. Cũng may là ma quỷ không được phép làm tất cả mọi chuyện. Cha
Vianney có một nghĩa vụ phải chu toàn mà Thiên Chúa trao cho. Nếu ma quỷ muốn
gây trở ngại khó khăn cho nghĩa vụ đó bằng cách làm ngài bị mất ngủ, bằng cách
tấn công cha đủ mọi mặt, thì phản ứng của ngài là lại càng làm nghĩa vụ đó một
cách tốt đẹp và hữu hiệu hơn. Tóm lại, những quấy nhiễu chỉ làm bất lợi ngược lại
cho kẻ gây ra chúng. Chúng ta sẽ thấy tương tự như vậy trong một số trường hợp
bị quỷ nhập.
Hiện nay, có những "nạn nhân của quỷ" chấp nhận chịu mọi
thử thách của ma quỷ để liên kết với những đau khổ của thập giá cứu chuộc của
Chúa, là thứ khí giới chắc chắn sẽ chiến thắng Satan, và làm cho nó thất bại
vĩnh viễn. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó sau này!
Chúng tôi chắc chắn rằng cha sở Ars là người như thế. Ngài chấp
nhận chịu đựng tất cả mọi sỉ nhục của ma quỷ để cứu rỗi các linh hồn. Qua các
kinh nghiệm hằng ngày của ngài, ngài đã rất sớm nhận ra rằng cuộc chiến đấu của
ngài với ma quỷ có liên quan chặt chẽ với việc người tội lỗi ăn năn trở lại, rằng
Thiên Chúa dẫn đến với ngài những người tội lỗi ở khắp mọi miền nước Pháp, kể cả
ở ngoại quốc nữa.
Bây giờ chúng ta sẽ nói đến những biểu hiện của Satan gây ấn tượng
mạnh mẽ nhất trong đời sống của "vị linh mục Công giáo gương mẫu" này
như thế nào.
CNTN 4C -
TRUYỆN KỂ
1.
LỄ NẾN - DÂNG CON TRẺ
Lời Chúa: Lc 2, 22-40
Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo
luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho
Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được
gọi là người thánh thuộc về Chúa." Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có
nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu con.
Và đây ở Giêrusalem, có một người
tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi
an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng:
Ông sẽ không chết, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục,
ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người
những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên
Chúa rằng:
"Lạy Chúa, giờ đây, Chúa để
cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã phán: vì chính mắt con đã
nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là Ánh sáng
chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa."
Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những
điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người
rằng: "Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp
đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần
bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!"
Lúc ấy, cũng có bà tiên tri
Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã
sống với chồng được bảy năm, rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà
không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy,
bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người
đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều
theo Luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn
lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.
TRUYỆN KỂ
1. Tiến Dâng Cho Chúa
Sống là chấp nhận thuộc về. Mở mắt chào đời là thuộc về một gia
đình, một đất nước. Càng sống con người càng thấy mình thuộc về nhiều hơn. Thuộc
về một nhóm, một giáo xứ, một nơi làm việc...
Khi đôi bạn trẻ yêu nhau, họ muốn trái tim của họ thuộc về nhau.
Thuộc về nhau là nền tảng của sự chung thủy.
Đối với Do thái giáo, bé trai đầu lòng mới sinh ra thì thuộc về
Chúa, được thánh hiến dành riêng cho Chúa. Cha mẹ cậu phải bỏ ra một món tiền
tượng trưng để chuộc cậu về cho mình (x. Ds 18,15-16; Xh 13,13)
Bài Tin Mừng hôm nay không nói đến chuyện chuộc con, nhưng lại
nói đến việc bà Maria và ông Giuse tiến dâng con trai đầu lòng cho Chúa. Từ khi
vào đời làm người, Ngài đã nói: "Này tôi xin đến để thực thi ý Chúa."
(Dt 10, 9)
2. Lịch sử lễ Nến
Giáo hội Phương Đông hiểu thánh
lễ này như lễ gặp gỡ của Chúa: Đấng Mê-si bước vào Đền Thờ và gặp dân Thiên
Chúa của Cựu Ước qua ông Si-mê-on và bà tiên tri An-na; Giáo Hội Tây Phương lại
coi đây là thánh lễ mừng kính Đức Maria: thanh tẩy theo luật Do Thái (Lv 12).
Khi du nhập vào phụng vụ Rô-ma,
Đức Thánh Cha Sét-gi-ô I (678-701) lại thêm vào nghi thức rước nến, vì thế từ
thế kỷ VIII, thánh lễ được gọi là Lễ Nến. Trong cuộc rước nến này, Đức Thánh
Cha và cả đoàn đồng tế mặc phẩm phục tím, ám chỉ sự chưa thanh tẩy của Đức
Maria khi lên Giêrusalem; khi đoàn đồng tế đến Đại thánh đường Đức Bà Cả, liền
thay phẩm phục trắng, chỉ sự tinh tuyền đã được thanh tẩy của Đức Maria.
Từ cuộc canh tân Phụng Vụ năm
1960, ngay cả trong phụng vụ Rô-ma, thánh lễ này cũng qui hướng về Chúa, hơn là
Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ.
Trong tông huấn “Marialis
Cultus”, bàn về lòng tôn sùng kính mến Mẹ, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã gọi Mẹ là
“Trinh nữ hiến dâng." Từ năm 1997, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt ngày
lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ làm ngày của Đời Sống Thánh Hiến. Chúa Giêsu
được dâng hiến cho Chúa Cha nên trọn vẹn thuộc về Cha. Suốt đời, Ngài sống cho
Cha, thi hành thánh ý Cha, vâng lời Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết
thập giá. “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha“, đây là một hiến
dâng trọn vẹn nhất. Những người sống đời thánh hiến muốn noi gương Chúa Giêsu,
dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa.Theo lời khuyên của Phúc âm, các Tu sĩ tự
nguyện sống đời trong sạch, nghèo khó và vâng lời.
Thánh lễ này chấm dứt chu kỳ Giáng Sinh.
3. Nhà không có mái che
Một thanh niên Scốt-len tìm được một chân làm vườn trong một gia
đình giàu có. Nhưng chỉ hai tuần sau, anh xin thôi việc. Một người bạn hỏi:
- Có phải công việc quá cực nhọc không?
- Không, công việc rất nhàn.
- Có phải lương quá ít không?
- Không, lương khá lắm.
- Hay anh không thích đồ ăn ở đó?
- Cũng không phải. Đồ ăn rất ngon.
- Vậy tại sao anh thôi việc?
- Vì nhà đó không có mái che.
Đối với người Scốtlen, thành ngữ “nhà không có mái che” nghĩa là
gia đình không biết cầu nguyện.
4. Chính Chúa đã bước vào đòi sống gia đình
Bước chân vào trại dưỡng lão, hình ảnh đập vào mắt tôi trước
tiên là những cụ già lưng còng, ốm yếu hay liệt giường. Không khí ở đây thật
khó chịu. Tôi phải lấy hết can đảm mới có thể đến gần thăm hỏi các cụ. Đến giờ
ăn, chúng tôi chia nhau đút cơm cho các cụ. Một bà cụ nắm lấy tay tôi và nói:
“Nhờ các cô mà chúng tôi mới được ăn no. Nhiều lúc muốn ăn cũng không được. Cám
ơn các cô nhiều. Lần sau các cô nhớ đến nhé." Nghe cụ nói, tôi cảm thấy hối
hận vì những ý nghĩ và thái độ thoạt đầu khi mới đến.
Nếu như ngày xưa Đức Giêsu đã được Mẹ Maria và thánh Giuse đưa
lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa theo luật Môsê, đồng thời bày tỏ
vinh quang của Ngài cho muôn dân, thì ngày nay tôi cũng đã được cha mẹ đưa đến
nhà thờ để tiến dâng cho Thiên Chúa, và nhờ bí tích Thanh Tẩy trở nên một kitô
hữu. Là một kitô hữu, tôi sẽ làm gì để bày tỏ vinh quang Chúa nếu không phải là
cảm thông và chia sẻ với những người nghèo khổ chung quanh, đặc biệt là những
người già nua, bệnh hoạn, tật nguyền.
Xin cho con biết bày tỏ vinh quang Chúa bằng nỗ lực vun trồng sự
sống, đón nhận và chia xẻ với những người nghèo khổ bất hạnh quanh con.
5. Lời cầu xin tốt đẹp
Lạy Chúa, con cầu xin ơn mạnh mẽ
để thành đạt, thì Chúa làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời, khiêm hạ.
Con cầu xin có sức khỏe để thực
hiện những công trình lớn lao, thì Chúa lại bắt con bị tàn tật và chỉ làm được
những việc tốt nho nhỏ.
Con cầu xin được giàu sang để sống
một cuộc đời sung sướng, thì Chúa lại bắt con nghèo nàn để học biết thế nào là
khôn ngoan.
Con cầu xin có được uy quyền để
mọi người phải kính nể, thì Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết cần đến
Chúa.
Con cầu xin cho có được tất cả để
tận hưởng cuộc đời, thì Chúa lại cho con cả một cuộc đời để được hưởng mọi sự.
Con xin gì cũng chẳng được theo
ý con muốn, nhưng những điều con đáng phải mơ ước mà con không hề biết thốt lên
lời cầu xin, thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.
Lạy Chúa, hoá ra con lại là người
có phúc hơn hết trên đời này, bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn.
6. Cây bút chì
Người thợ làm bút chì nâng niu sản phẩm của mình trước khi cho
nó vào hộp. Ông nói với bút chì: “Có 5 điều mày cần phải nhớ trước khi tao để
mày bước vào thế giới hỗn độn ngoài kia. Lúc nào mày cũng phải nhớ và không bao
giờ được quên những điều ấy, khi đó, mày mới trở nên một cây bút chì đẹp nhất,
hiểu không?
Thứ nhất, mày luôn có thể tạo ra những thứ rất vĩ đại, nhưng chỉ
khi nào mày nằm trong tay một ai đó.
Thứ hai, mày phải liên tục chịu đựng những sự gọt giũa rất đau đớn,
nhưng hãy nhớ, tất cả đau đớn ấy chẳng qua để làm cho mày đẹp hơn mà thôi.
Tiếp theo, mày phải nhớ lúc nào mày cũng có thể sửa chữa những lỗi
mà mày ghi ra.
Và một điều nữa, hãy biết phần quan trọng nhất trên cơ thể của
mày chính là phần ruột, phần bên trong chứ không phải là lớp vỏ ngoài.
Cuối cùng,, mày, bút chì, phải để lại vết chì của mày trên bất cứ
bề mặt nào mà mày được sử dụng để viết, và phải liên tục viết, bất kể chuyện
khó khăn gì, được không?
Cây bút chì hiểu rõ những lời người thợ nói và nó tự hứa sẽ nhớ
tất cả những điều ấy, và rồi, nó vào nằm trong hộp để bước ra thế giới với những
mục đích riêng mà nó đã định.
Mẹ Maria đã trở nên một cây bút chì tuyệt vời để Chúa sử dụng
trong cuộc việc cứu chuộc loài người. Mẹ không từ chối Chúa một sự gì. Tiếng Fiat
luôn chiếm hữu tâm trí Mẹ để mọi việc được diễn tiến theo thánh ý Chúa, cho dù
thân xác Ngài phải bị hao mòn.
Noi gương Đức Mẹ, bạn hãy thử đặt chính bạn vào vị trí cây bút
chì. Lúc nào bạn cũng phải nhớ và không bao giờ được quên những điều này, khi đó,
bạn sẽ trở thành một con người vĩ đại cho mà xem.
7. Chúa dùng người hèn mọn
Có người hỏi Thánh Phanxicô thành Assisi (1182-1226) tại sao và
bằng cách nào ngài làm được nhiều sự trọng đại, Ngài vui vẻ trả lời:
- Cũng dễ thôi, Chúa từ trời cao nhìn xuống và nói: “Ta kiếm đâu
được một người yếu đuối nhất, bé mọn nhất, vô nghĩa nhất ở trần gian này!”
Ngài nhìn thấy tôi, Ngài nói:
- Đây là người Ta tìm được và Ta muốn hành động qua người này.
Người ấy sẽ thấy rằng Ta dùng nó chỉ vì nó là con người hèn mọn nhất, khiêm hạ
nhất.
Lạy Mẹ Maria đầy lòng khiêm nhu, xin uốn lòng mỗi người chúng
con nên giống Mẹ. Amen.
8. Con riêng của Đức Mẹ
Anrê Corsinô, ngay từ khi mới sinh đã được cha mẹ giáo dục cách
đặc biệt. Mẹ Anrê đã dâng con mình cho Đức Mẹ Maria cách riêng và hướng dẫn con
trên đường đạo đức. Nhưng vừa khôn lớn, Anrê đã ảnh hưởng những trẻ em vô giáo
dục mà trở nên chơi bời hư đốn. Cha mẹ cậu hết sức đau buồn, ngày đêm tha thiết
cầu nguyện cho con mình được cải thiện đời sống.
Một hôm bà vừa khóc vừa bảo con:
"Anrê con ơi, con chính là con chó sói mà mẹ đã mơ thấy
ngày xưa. Trước khi sinh con, mẹ nằm mơ thấy một con chó sói chạy vào nhà thờ Đức
Mẹ ở Carmes, khi trở ra, nó đã trở nên hiền lành như con chiên. Cha mẹ đã hiến
dâng con cho Đức Mẹ, nhưng cách sống của con rõ ràng đúng như giấc mộng mẹ đã
thấy, ít là phần đầu. Mẹ sẽ sung sướng chừng nào, nếu trước khi nhắm mắt, mẹ được
thấy phần thứ hai của giấc mơ."
Những lời nói tha thiết đó làn Anrê cảm động. Biết mình đã thành
con riêng của Đức Mẹ, Anrê lo cải thiện đời sống, tránh xa dịp tội, thời gian
sau, cậu từ bỏ trần đời, dâng mình trong tu viện tại Carmes, sau cùng cậu trở
thành thánh Giám mục Anrê Corsino.
Hôm nay Giáo Hội mừng kính lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền
thánh. Chúng ta cùng theo Mẹ Maria và thánh Giuse lên đền thờ để được thanh tẩy
và dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và luôn sống theo ánh sáng của Chúa
Kitô.
9. Thắp lên một ngọn nến
Thế giới hôm nay có những kẻ thù địch với Kitô giáo. Họ hăng say
tuyên truyền cho tội ác và tìm mọi cách để thu hút, lôi cuốn đám đông đi theo
đường hướng của họ.
Trước sự kiện này, một số các tín hữu nhiệt thành đã thiết lập
phong trào thánh Christôphôrô. Những người gia nhập phong trào này không cần phải
ghi tên hay đóng góp chi cả, miễn là cố gắng làm thế nào chứng minh cho kẻ khác
biết được rằng: tất cả chúng ta đều được Chúa yêu thương và chăm sóc. Chính vì
thế mà phải sống một cuộc sống chan hòa tình người, tôn trọng những quyền lợi của
nhau, cũng như sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Điều mà phong trào này tâm niệm đó
là:
- Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn là ngồi đó mà rủa xả bóng
đêm.
Đọc lại Phúc âm, chúng ta ghi nhận điều này: Đức Kitô là ánh
sáng muôn dân.
Thực vậy, hôm nay trước cửa đền thờ, ông già Simêon đã nói tiên
tri về Hài nhi Giêsu như sau:
- Lạy Chúa, xin để tôi tớ này được ra đi bình an, vì mắt tôi đã
nhìn thấy ơn cứu độ, Chúa dọn ra trước mặt nhân trần, làm ánh sáng rạng soi dân
ngoại, còn Israen dân Chúa được vinh quang.
Rồi trong cuộc sống công khai, chính Đức Kitô cũng đã từng công
bố:
- Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không còn ngồi trong
đêm tối.
Hay như thánh Gioan đã xác quyết:
- Nơi Ngài có sự sống. Và sự sống là ánh sáng cho muôn dân. Anh
sáng đã chiếu soi trong u tối.
Một khi Đức Kitô đã là ánh sáng, thì Mẹ Maria chính là chiếc
đèn, bởi vì Mẹ mang trong mình ánh sáng và từ đó tỏa lan khắp nơi. Hôm nay nơi
đền thờ Giêrusalem, Mẹ bồng ẵm trong vòng tay của mình Hài nhi Giêsu, ánh sáng
muôn dân. Không phải Mẹ chỉ bồng ẵm Chúa trên đôi tay của mình, mà hơn thế nữa,
tâm hồn Mẹ hoàn toàn được ánh sáng Chúa chiếu soi và biến đổi. Mẹ chính là tấm
gương trung thực nhất phản ảnh mọi nhân đức của Chúa.
10. Sức mạnh của ngọn nến nhỏ
Trong một buổi thuyết trình, vị linh mục được mời nói chuyện, đã
bắt đầu bằng cách tắt hết các bóng điện, khiến cho tăm tối phủ kín khắp phòng.
Rồi ngài đánh một que diêm và thắp lên một ngọn nến. Ánh sáng của ngọn nến tuy
yếu ớt, nhưng cũng đủ để họ nhìn thấy được khuôn mặt của người bên cạnh. Và nếu
người nào cũng thắp lên một ngọn nến như thế, thì hẳn căn phòng sẽ rực rỡ, sẽ
chan hòa ánh sáng.
Đừng nói rằng: - Mình chẳng làm gì được.
Trái lại, thay vì ngồi phê bình và chỉ trích, thở dài và bi
quan, chúng ta hãy góp phần nhỏ bé của chúng ta vào công cuộc đẩy lui ảnh hưởng
của đêm tối, của tội ác.
Nếu hoạt động của đêm tối là âm mưu, là thù oán, là tham vọng bất
chính, thì hoạt động của ánh sáng phải là nhân hậu, phải là tha thứ, phải là
khiêm cung.
Nếu một con én không làm nổi mùa xuân thì ít nữa nó cũng góp phần
báo tin mùa xuân đang đến.
Chúng ta cũng vậy, thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn là ngồi đó
mà rủa xả bóng đêm.
11. Mẫu gương của bậc cha mẹ
Tổng Thống George Washington một trong những nhà anh hùng của nền
độc lập Hoa Kỳ, thường được đề cao như một người con hiếu thảo đối với mẹ. Sau
những trận chiến cam go nơi sa trường, sau những cuộc họp căng thẳng với các
chính khách, sau những công việc bề bộn của một nguyên thủ quốc gia, ông vẫn
dành cả tiếng đồng hồ để về nhà thăm người mẹ hiền và trò chuyện với bà nhiều
giờ liền. Một hôm thấy con đã vất vả công việc quốc gia, lại còn mất nhiều thời
giờ thăm viếng, an ủi mình, bà mẹ mới hỏi ông:
"Tại sao con lại chịu khó và mất thời giờ như vậy để ngồi
bên cạnh mẹ?"
Vị Tổng thống vĩ đại của nước Mỹ đã trả lời, "Thưa mẹ, ngồi
bên cạnh để lắng nghe mẹ nói, không phải là một việc mất giờ. Bởi vì, sự thanh
thản và lòng nhân hậu của mẹ đã giúp con vui sống"
THỨ HAI – ĐÓN NHẬN VÀ TỪ CHỐI TÌNH THƯƠNG
Lời Chúa: Mc 5, 1-20
Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ sang bờ biển bên kia, đến địa hạt
Giêrasa. Chúa Giêsu vừa ở thuyền lên, thì một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả
ra gặp Người. Người đó vẫn ở trong các mồ mả mà không ai có thể trói nổi, dù
dùng cả đến dây xích, vì nhiều lần người ta đã trói anh ta, gông cùm xiềng xích
lại, nhưng anh ta đã bẻ gãy xiềng xích, phá gông cùm, và không ai có thể trị nổi
anh ta. Suốt ngày đêm anh ta ở trong mồ mả và trong núi, kêu la và lấy đá rạch
mình mẩy. Thấy Chúa Giêsu ở đàng xa, anh ta chạy đến sụp lạy Người và kêu lớn
tiếng rằng: "Hỡi ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, ông với tôi có liên hệ
gì đâu? Vì danh Thiên Chúa, tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi." Nhưng Chúa
Giêsu bảo nó rằng: "Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này." Và Người hỏi
nó: "Tên ngươi là gì?" Nó thưa: "Tên tôi là cơ binh, vì chúng
tôi đông lắm." Và nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy.
Gần đó, có một đàn heo đông đảo đang ăn trên núi, những thần ô uế
liền xin Chúa Giêsu rằng: "Hãy cho chúng tôi đến nhập vào đàn heo."
Và Chúa Giêsu liền cho phép. Các thần ô uế liền xuất ra và nhập vào đàn heo, rồi
cả đàn chừng hai ngàn con lao mình xuống biển và chết đuối. Những kẻ chăn heo
chạy trốn và loan tin đó trong thành phố và các trại. Người ta liền đến xem việc
gì vừa xảy ra. Họ tới bên Chúa Giêsu, nhìn thấy kẻ trước kia bị quỷ ám ngồi đó,
mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng. Những người đã được chứng
kiến thuật lại cho họ nghe mọi sự đã xảy ra như thế nào đối với người bị quỷ ám
và đàn heo. Họ liền xin Chúa Giêsu rời khỏi ranh giới họ. Khi Người xuống thuyền,
kẻ trước kia bị quỷ ám xin theo Người. Nhưng người không cho mà rằng: "Con
hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã
làm cho con và đã thương con." Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng
trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta, và mọi người
đều thán phục.
TRUYỆN KỂ
1. Mắt đức tin bị khoét
Bị cám dỗ, Samson vào bẫy của Philitin khi bị cạo trọc đầu, ông
mất sức, không còn được sức mạnh như trước đó, nên bị quân Philitin bắt trói,
khoét mắt, xiềng lại, bỏ tù và bắt xay cối xay (x. Tph 16,19-21).
Ma quỷ cũng vậy, chúng cám dỗ chúng ta theo chúng, rồi chúng
khoét mắt đức tin của chúng ta. Và khi chúng ta không còn ánh sáng đức tin chiếu
soi nữa, ma quỷ dẫn chúng ta dễ dàng đi trên con đường tội lỗi để sa xuống hỏa
ngục với chúng.
2. Ai lớn hơn.
Một bé trai hỏi bố:
- Quỷ lớn hơn con không?
- Lớn hơn.
- Quỷ lớn hơn bố không?
- Lớn hơn.
- Quỷ lớn hơn Chúa Giêsu không?
- Không con ạ. Chúa Giêsu lớn hơn quỷ.
Chú bé thinh lặng, rồi mỉm cười:
- Vậy con không sợ quỷ.
3. Muốn làm lớn
Trong Thánh Kinh, heo là hình ảnh của ô uế và của thế lực gian
tà. Làng Ghêrasa này đầy heo nhưng lại tiếc rẻ khi đàn heo ấy chết đuối. Họ lại
còn xin Chúa Giêsu rời khỏi làng họ. Khi ta bám vào của cải vật chất thì ma quỷ
cũng theo đó mà bám víu ta.
Có lần Napoleon cầm tấm bản đồ thế giới, chỉ vào nước Anh, tức tối
nhận xét "Nếu không có cái chấm đỏ này thì Ta đã là bá chủ thế giới.
Ma quỉ cũng chỉ vào thánh giá Đức Kitô nói "Nếu không có chấm
đỏ này thì ta đã bá chủ thế giới."
4. Ma quỷ đối nghịch với thập giá
Có một người đàn ông ở Scotland. Người này bị ngã gãy lưng vào
năm 15 tuổi. Suốt 40 nằm trên giường bịnh, nỗi đau của ông không thề nào tả xiết.
Nhưng ơn Chúa đã giúp ông luôn bình tâm chấp nhận. Có lần ông được hỏi:
- Có bao giờ ma quỉ cám dỗ ông không, chẳng hạn nó bảo ông Thiên
Chúa là quan án nghiêm khắc để ông nghi ngờ tình Ngài.
Ông đáp: “Có chứ, nhiều lần lắm. Khi thấy người khác giàu có,
Satan bảo: nếu Chúa tốt lành, hẳn Ngài đã cho anh khỏe mạnh giàu sang, chứ đâu
anh phải khốn khổ như vậy.
- Thế ông làm gì khi Satan cám dỗ?
- À, tôi dẫn Satan đến núi Calvê, chỉ cho nó thấy Đức Giêsu với
các dấu đinh và nói: “Ngài không yêu tôi đó sao? Thế là nó cút, để tôi
yên."
Tin Mừng được loan báo cũng có
nghĩa là quyền lực của Satan bị đẩy lui.
5. Thua để được
Nhạc sĩ hòa tấu Itahak Perlman nói đến hai sự kiện xảy ra khi
ông chưa đầy 4 tuổi, đã định hướng tương lai của ông: Ông bị bại liệt và được
nghe vở kịch Jascha Heifetz. Căn bệnh bại liệt tước đi đôi chân của ông, nhưng
âm nhạc của Heifetz chắp cánh cho ông. Nó cho ông ước mơ và thúc đẩy ông theo
đuổi những gì lớn lao. Perlman là một phản ánh hiện đại mờ nhạt về những vị anh
hùng trong Kinh thánh. Những vị này cũng đã đau khổ nhiều, nhưng các vị đã có một
ước mơ thúc đẩy các vị theo đuổi những gì lớn lao.
Đâu là ước mơ thúc đẩy tôi tiến bước, ngay cả những lúc gặp thử
thách đau thương?
Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang
mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta (Rm 8,18).
6. Một sự nhịn là chín sự lành
Trên một chuyến tàu lửa có một người cha và đứa con trai của
ông. Khi nhân viên kiểm soát đến soát vé, ông ta nói với người cha một cách giận
dữ và nhục mạ. Nhưng người cha đã không nổi giận. Ông giữ bình tĩnh và yên lặng.
Sau chuyện này, đứa con trai hỏi: “Bố ơi, tại sao bố không chửi lại ông ấy?"
Người cha trả lời: “Tại sao à? Con người đáng thương đó có chuyện rắc rối và phải
chịu đựng bản thân mỗi ngày, còn bố chỉ phải chịu đựng ông ta một phút
thôi."
Tôi có thường phản ứng cách giận dữ khi có ai đó xử tệ với tôi
không? Cái gì đã làm cho tôi phản ứng theo cách đó?
Nếu chỉ có một điều nhỏ nhặt cũng làm bạn nổi giận, thì chính điều
đó cũng nói lên bạn là người thế nào? (Sydney J.Harris).
7. Loan báo Tin Mừng trong cuộc đời cụ thể
Chàng thanh niên Rudell Norris nhận ra rằng qua bí tích rửa tội,
mọi tín hữu được mời gọi đi loan báo Tin mừng. Trở ngại của anh là quá nhút
nhát: Làm sao có thể rao giảng Tin mừng được? Giaỉ pháp của Rudell thật khôn
khéo: Anh ta dành một phần tiền trợ cấp của mình để mua sách báo về đạo và đặt
chúng ở hành lang bệnh viện và ở những nơi thích hợp. Một ngày kia, anh nghe
người ta nói: “Tôi bắt đầu tiếp xúc với Giaó hội qua một cuốn giáo lý mà tôi thấy
được nơi hành lang bệnh viện.
Tôi sẽ làm gì cụ thể để góp phần loan báo Lời Chúa?
Khi Chúa dạy tôi hát bài ca của Ngài, làm sao tôi có thể ngừng cất
tiếng ngợi ca?
8. Làm chứng cho lòng thương xót
“Kẻ trước kia bị quỷ ám” được Chúa sai đi về với thân quyến để
rao truyền những việc Chúa làm cho anh. Anh không che dấu sự kiện trước đây
mình bị quỷ ám. Bị thống trị bởi cả một đạo binh quỷ có sức xô trọn một đàn heo
trên hai ngàn con xuống Biển Hồ Galilê chỉ trong nháy mắt, tình cảnh của anh thật
khốn cực: anh sống mà như chết, đi lang thang trong đám mồ mả; anh bị quỷ đày
đoạ đến độ mất cả tính người: suốt ngày anh “tru tréo và lấy đá đập vào
mình."
Trước tình cảnh đáng thương của anh, Chúa đã chạnh lòng thương
ra tay cứu giúp và việc Chúa làm cho anh thật lạ lùng: quỷ bị trục xuất khỏi
con người anh, anh được phục hồi trọn vẹn phẩm giá con người. Hơn nữa anh được
Chúa đặt làm tông đồ (=được sai đi) để loan báo việc Chúa làm: Anh trở thành chứng
nhân cho lòng thương xót của Chúa.
Chúa không sai anh ta đi đâu xa mà đơn giản sai anh trở về với
thân quyến để làm chứng cho lòng thương xót của Chúa. Cũng thế, Chúa không “cất”
chúng ta khỏi thế gian; Ngài muốn ta loan truyền quyền năng và lòng thương xót
của Ngài ngay tại nơi mình đang sống. Chỉ những ai cảm nghiệm sâu sắc ơn giải
thoát, chữa lành của Chúa đối với bản thân, mới có thể “làm chứng” sống động
cho Chúa và góp sức thu hẹp ảnh hưởng của sự dữ và tội lỗi.
9. Mời Chúa bước vào đời mình
Sau năm 1975, đã có một số tín hữu lặng lẽ đem ảnh tượng Chúa và
Đức Mẹ đến nhà thờ trả lại. Họ xin thôi đi đạo vì sợ quấy rầy. Cũng như người
dân Ghêrasa trong bài Tin Mừng, họ đã nài xin Chúa rời khỏi vùng đất, gia đình,
cuộc đời của họ. Ít ra họ đã can đảm và thẳng thắn cho thấy sự chọn lựa của
mình. Cho đến muôn đời, Đức Kitô vẫn đứng ngoài cửa, gõ cửa và chấp nhận chờ đợi
sự đáp ứng mang tính may-rủi, tùy hứng của con người. Đang khi ấy, tự cho mình
là người Kitô hữu 100%, ta lại không dành cho Ngài đúng 100% mặt bằng cuộc sống
của mình. Xem ra Đức Kitô chỉ thật sự là Chúa trong giờ phụng vụ ở nhà thờ hay
giờ kinh nguyện ở gia đình. Ngoài ra, ta lặng lẽ khoanh vùng hạn chế, xin Chúa
đừng vào, để cuộc sống ta không bị xáo trộn, và ta có thể yên thân với lối sống
mòn của mình.
Có lẽ bạn đã nhanh chóng nhận ra một số khu vực hạn chế với Đức
Giêsu trong cuộc đời mình. Bạn đừng sợ mời Ngài vào căn nhà cuộc đời, cũng đừng
sợ Ngài sẽ làm rối tung cuộc sống an nhàn, hưởng thụ thoải mái của mình. Quả thật,
với Ngài, bạn phải đổi mới lối nghĩ nếp sống, nhưng tâm hồn bạn sẽ được an bình
hạnh phúc thật sự.
Bạn thường nài xin Chúa đừng vào những khu vực hạn chế nào trong
cuộc sống hằng ngày của mình?
Tôi sẽ nỗ lực mời Chúa làm chủ tể cuộc sống mình, không chỉ
trong giờ thờ phượng, nhưng trong mọi khoảnh khắc cuộc đời mình.
10. Mạnh vô song
“Một bạo chúa gọi một anh
thợ rèn đến, ra lệnh cho y làm một sợi xích. Hoàn thành, y mang đến; ông ra lệnh
làm nó gấp đôi. Anh lại mang đến; ông ra lệnh làm gấp đôi một lần nữa. Lần thứ
ba, bạo chúa truyền trói tay chân người ấy bằng chính sợi xích anh làm, tống
anh vào ngục. Đó là những gì đang Satan làm! Nó bắt nạn nhân rèn xiềng xích cho
mình, trói tay chân họ và ném vào ngục. Mọi tội nhân đang chịu như vậy! Nhưng tạ
ơn Chúa! Bạn hãy nói với họ về ‘một Ai đó’ có thể giải cứu. Đức Giêsu Kitô, Đấng
‘mạnh vô song’, Đấng tháo cởi mọi gông cùm, nếu họ kíp chạy đến với Ngài!” -
Spurgeon.
Lời Chúa hôm nay nói đến ‘một Ai đó’ ‘mạnh vô song’ mà Spurgeon
vừa tiết lộ; đồng thời, phản ánh thực trạng vô vọng của một tội nhân bị xích xiềng:
Một vị vua trốn chạy con mình; một người quỷ ám chạy trốn đồng loại. May thay,
cả hai gặp Đấng ‘mạnh vô song!’.
THỨ BA - TIN NƠI CHÚA GIÊSU
Lời Chúa: Mc 5, 21-43
Khi ấy, Chúa Giêsu đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám
đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một
ông trưởng hội đường tên là Giairô đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van
xin rằng: “Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi
và được sống." Chúa Giêsu ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi
theo chen lấn Người tứ phía.
Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà
đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm,
trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám
đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: “Miễn sao tôi chạm tới
áo Người thì tôi sẽ được lành." Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy
trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã
xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: “Ai đã chạm đến áo
Ta?" Các môn đệ thưa Người rằng: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ
phía, vậy mà Thầy còn hỏi: “Ai chạm đến Ta?" Nhưng Người cứ nhìn quanh để
tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy
ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người
bảo bà: “Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh."
Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường
rằng: “Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?" Nhưng Chúa Giêsu
đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: “Ông đừng
sợ, hãy cứ tin." Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và
Gioan, em Giacôbê.
Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giêsu thấy người
ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: “Sao ồn ào và khóc lóc thế?
Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó." Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người
đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người
vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: “Talitha, Koumi!",
nghĩa là: “Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!" Tức thì em bé đứng dậy
và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người
cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn.
TRUYỆN KỂ
1. Đụng đến áo
Giữa đám đông chen lấn chung quanh Ðức Giêsu, có những người đụng
vào áo Ngài.
Nhưng chỉ có một cái đụng cố ý, đụng lén như sợ bị bắt quả tang.
Ðó là cái đụng của một người phụ nữ, mười hai năm mắc bệnh băng huyết, mười hai
năm tìm thầy chạy thuốc mà không khỏi, mười hai năm bị coi là ô nhơ: không được
đụng đến người khác, không được tham dự nghi lễ ở Ðền thờ.
Người phụ nữ đụng vào áo Ðức Giêsu bằng tay và bằng lòng tin, một
lòng tin đơn sơ mà mạnh mẽ. “Dầu tôi chỉ đụng vào áo Ngài, tôi sẽ được khỏi.”
Cái đụng của lòng tin đã cứu bà khỏi bệnh.
Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta đã nhiều lần đụng vào Chúa. Ðụng
đến Lời Ngài, đụng đến Mình Máu Thánh Ngài. Ðụng bằng tay, bằng miệng, bằng
rung động của trái tim.
2. Nhận ra phép lạ mỗi ngày
Ngày 17/9/1961, máy bay chở ông Ðavít Hamacon, Tổng thư ký Liên
hiệp quốc, đã ngộ nạn trên không phận nước Congo, Phi Châu. Ông Hamacon không
chỉ là người hoạt động cho hòa bình và là một nhà chính trị lỗi lạc, ông còn là
một nhà tu đức có chiều sâu. Sau khi ông qua đời, tại căn phòng của ông ở Nữu Ước,
người ta đã tìm được tập tài liệu đánh máy, ghi lại những suy tư và cầu nguyện
hằng ngày của ông. Trong tập tài liệu này người ta đọc thấy những dòng như sau:
“Thiên Chúa sẽ không chết, ngày mà chúng ta không còn tin ở thần linh nào nữa.
Nhưng chính chúng ta sẽ chết, ngày nào cuộc sống của chúng ta không còn thấm nhập
bởi ánh sáng của phép lạ không ngừng xảy ra, phép lạ mà lý trí chúng ta không
biết từ đâu tới."
Cái chết mà ông Ðavít Hamacon nói trên đây chính là cái chết của
tinh thần con người. Khi tinh thần con người không còn vượt qua khỏi chính mình
để đi vào chiêm niệm, nghĩa là đi vào thế giới ở bên ngoài khả năng nắm bắt của
lý trí, thì đó là lúc nó trở nên cằn cỗi và chết dần chết mòn.
3. Lòng tin thấy được qua việc làm
Một tác giả người Mỹ đã ghi lại một câu chuyện về niềm tin như
sau: Tại một vùng bên Hoa Kỳ, những tháng ngày nắng hạn kéo dài đã làm cho những
cánh đồng nứt nẻ vàng úa. Ngày nào người dân trong vùng cũng ngước mắt nhìn lên
trên trời với niềm mong đợi sẽ có một tín hiệu tốt, nhưng đất vẫn khô cằn, mưa
vẫn không chịu rơi.
Một ngày Chúa nhật nọ, tất cả các vị mục sư tại các nhà thờ
trong vùng kêu gọi mọi người đến tham dự một buổi cầu nguyện chung tại quảng
trường thành phố để xin trời đổ mưa. Mọi người được yêu cầu đừng mang theo bất
cứ điều gì ngoài niềm tin của mình.
Vào giữa trưa một ngày thứ Bảy, tất cả mọi cư dân trong vùng tập
trung tại quảng trường. Tất cả mọi người đều tin tưởng ở sức mạnh của lời cầu
nguyện. Họ đến đó tràn trề hy vọng. Các vị mục sư rất cảm động khi nhìn thấy
đám đông đã hưởng ứng lời kêu gọi của họ. Từng đám đông đứng sát bên nhau, nắm
tay nhau liên kết với nhau trong cùng một niềm tin và hy vọng. Những bài thánh
ca được cất lên một cách sốt sắng. Mọi người đều tin tưởng và chờ đợi phép lạ.
Khi buổi cầu nguyện vừa kết thúc, như có một lệnh thần diệu nào đó, những giọt
mưa nhỏ đã bắt đầu rơi, những tiếng reo hò cũng bắt đầu vang lên. Mọi người đều
phấn khởi trước phép lạ tỏ tường. Cầm trong tay bất cứ đồ vật gì, người ta cũng
giơ lên để biểu lộ niềm hân hoan. Nhưng từ xa nhìn về đám đông người ta chỉ thấy
có một biểu tượng đáng chú ý, đó là hình ảnh một cậu bé trai chín tuổi cầm dù
gương lên cao. Em là người duy nhất mang theo dù để chuẩn bị đón mưa
4. Phép lạ còn đòi phải có lòng khiêm nhường.
Ông trưởng hội đường Giairô hôm nay đã diễn tả lòng tin tưởng với
khiêm nhường thẩm sâu. Ông là một người có địa vị và thế giá trong dân. Điều
này nói lên việc ông làm có ý thức và có thế giá.
Thái độ khiêm nhường của ông trước mặt Chúa Giêsu diễn tả niềm
tin sâu sắc của ông, ông đã quỳ mọp xuống dưới chân Chúa và khẩn khoản van xin:
“Con bé nhà tôi gần chết rồi, xin Ngài đến đặt tay trên cháu, để nó được cứu chữa
và được sống."
Như vậy ông này phải tin Đức Giêsu là ai, có quyền phép thế nào
mới có cử chỉ và thái độ khiêm nhường và kêu xin như thế. Qua thái độ tin tưởng
và lời cầu xin ấy, ông đã được toại nguyện.
5. Biết lưu tâm đến người khác.
Vào tháng hai của một khóa học tại trường đào tạo nghiệp vụ y
tá, giảng viên chúng tôi làm một bài kiểm tra về kiến thức phổ thông.
Tôi vốn là một sinh viên chăm chỉ nên dễ dàng trả lời mọi câu hỏi
trong bài kiểm tra, trừ câu hỏi cuối: “Chị tạp vụ ở trường tên là gì”? Tôi nghĩ
đó chỉ là câu hỏi cho vui. Tôi đã trông thấy chị vài lần. Chị có dáng người
cao, mái tóc nâu sậm và khoảng 50 tuổi, nhưng làm thế nào mà tôi có thể biết
tên chị được kia chứ? Tôi nộp bài và bỏ trống không trả lời câu hỏi đó.
Trước khi tan học, một sinh viên đứng lên hỏi giảng viên về cách
tính điểm câu hỏi cuối trong bài kiểm tra vừa làm. Giáo sư bộ môn trả lời:
- Tất nhiên là có tính điểm. Trong mọi ngành nghề, các anh chị
luôn phải gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều người. Tất cả những con người đó đều có
ý nghĩa. Họ đáng được các anh chị quan tâm chú ý đến, cho dù tất cả những gì ta
có thể làm cho họ chỉ là một lời chào hỏi và một nụ cười.
Tôi đã không quên bài học đó trong suốt cuộc đời mình. Tôi cũng
đã biết được tên của chị tạp vụ trong trường. Chị tên là Mai Hương.
Vâng, chúng ta hãy học tập cho mình một thói quen biết cảm thông
và chia sẻ. Một trái tim biết cảm thông và chia sẻ là trái tim của con người.
6. Cầu nguyện chân thành đến đâu?
Một bà cụ năng đến nhà thờ cầu nguyện. Một cậu bé lấy làm ngạc
nhiên liền theo dõi. Cậu nấp sau bàn thờ nghe bà cầu nguyện lớn tiếng "Lạy
Chúa, con đã già và sống đủ. Bất cứ lúc nào Ngài gọi, con sẵn sàng."
Bà cầu nguyện suốt ba ngày vẫn những lời ấy. Ngày thứ tư, sau
khi bà cầu nguyện, cậu bé giả giọng nói vọng ra từ sau bàn thờ "Ta đã nghe
lời cầu xin của con, Ta sẽ đến đón con lúc chín giờ sáng mai."
Bà về nhà, không sao ngủ được vì lo lắng về điều đã nghe. Bà
không chấp nhận nổi những gì bà đã cầu nguyện.
Ta chỉ tin suông vào sự sống thật mai sau. Thực chất là ta vẫn
còn coi trọng sự sống đời này hơn.
7. Tin cho đến cùng
Một ông lão ở Marocco đến gặp một nhà truyền giáo để tìm con đường
cứu độ, vì ông biết mình chẳng sống bao lâu nữa. Để giúp ông, nhà truyền giáo
dùng một cuốn sách, trong đó trang 1 màu đen tượng trưng cho tội lỗi, trang 2
màu đỏ tượng trưng máu Chúa Kitô, trang 3 màu trắng chỉ lương tâm trong sạch,
trang 4 màu vàng chỉ vinh quang Nước Trời.
Sau khi nhập đạo ít lâu, người đó lâm cơn hấp hối. Bà vợ là người
theo đạo Hồi khuyên ông kêu cầu đức Mahomet, nhưng ông không chịu, bảo Chúa của
ông là Đức Kitô. Bà vợ nói "Vậy ông hãy lấy cuốn sách nhà truyền giáo cho,
mở trang 3, hi vọng Chúa sẽ cho ông sạch tội mà vào thiên đàng." Ông đáp
"Không, hãy mở trang 2 cho tôi." Và ông chết trong lúc tựa đầu vào
trang sách tượng trưng máu Chúa Kitô.
8. Cái nhìn của đức tin
Một vị giám mục nổi tiếng hiền hoà, dễ mến. Khi được hỏi bí quyết,
ngài đáp bí quyết đó là:
Thứ nhất, tôi nhìn lên trời để nhớ rằng đời tôi phải tới đó.
Thứ hai, tôi nhìn xuống đất để thấy phần mộ tôi sau này thật nhỏ
hẹp.
Thứ ba, tôi nhìn chung quanh để thấy bao người nghèo khổ mà đáng
kính trọng hơn tôi.
Thứ bốn, tôi học để biết hạnh phúc thật nằm ở đâu, mọi nỗ lực của
tôi sẽ chấm dứt thế nào và những than thở của tôi thật vô cớ biết bao!
9. Chỉ cần có đức tin
Trong lần đến Việt Nam vào ngày
23/5/2013, trên sân vận động Mỹ Đình Hà Nội, anh đã lớn tiếng tuyên xưng niềm
tin đó trước hàng ngàn khán giả. Anh đã sống niềm tin của mình cách thiết thực
nhất, đó là sự tin tưởng, tha thứ và yêu thương. Khi Chúa Giê-su chữa lành người
phụ nữ bị băng huyết đã mười hai năm và cho con gái ông trưởng hội đường đã chết
được sống lại, chính Ngài đã xác quyết điều này: “…đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”
Trong cuộc sống hằng ngày, những
thử thách của bệnh tật và đau khổ luôn làm chúng ta lo lắng và mất niềm tin vào
Chúa. Chúng ta cũng thường bị cám dỗ đi tìm lời giải đáp ở những việc mê tín dị
đoan. Chính Chúa đang mời gọi bạn hãy sống phó thác và đặt trọn niềm tin vào
Ngài.
10. Đức tin cần sự hợp tác
Câu chuyện xảy ra vào mùa hè ở vùng đất nọ. Trong một trận lụt dữ
dội, có một bà già bị kẹt trong căn nhà của mình. Đang khi đứng tựa cửa sổ nhà
bếp nhìn ra, bà thấy có một chiếc thuyền xuất hiện. Người lái thuyền bảo bà:
này bà hãy leo lên thuyền để thoát nạn. Bà lão đáp lại: không, tôi tin vào
Chúa, Ngài sẽ cứu tôi. Người lái thuyền lắc đầu bỏ đi.
Ngày hôm sau cơn lụt dâng cao đến tầng thứ hai của căn nhà, thì
một chiếc thuyền khác lại xuất hiện. Người lái liền thuyền bảo bà: hãy lên thuyền
để thoát nạn. Lần này người lái thuyền cũng nghe cùng một câu trả lời như trước.
Ngày kế tiếp, con nước dâng lên tận nóc nhà. Đang khi ngồi trên
nóc bà thấy có một chiếc trực thăng hiện ra, viên phi công dùng loa gọi vọng xuống:
tôi sẽ thả một chiếc thang dây cho bà, hãy leo lên, bà sẽ thoát nạn. Lần này bà
già cũng nói: không cám ơn, tôi tín thác vào Chúa và Ngài sẽ cứu tôi. Viên phi
công lắc đầu bỏ đi. Và thế là bà lão đã bị chết chìm khi cơn nước lũ phủ ngập
căn nhà.
Khi được đưa về trời, bà nói với Thánh Phêrô: trước khi vào đây,
tôi xin được phàn nàn một điều: tôi đã tin chắc Chúa sẽ cứu tôi thoát khỏi trận
lụt, thế mà Ngài lại để tôi phải chết chìm. Thánh Phêrô bối rối nhìn bà rồi lên
tiếng: tôi không hiểu Chúa Giêsu có thể làm thêm được điều gì giúp bà nữa, vì
Chúa đã gửi tới cho bà hai chiếc thuyền và một chiếc trực thăng rồi còn gì.
“Dựng nên con Chúa không cần có con. Nhưng để cứu chuộc con,
Chúa lại cần có con." (th. Augustinô)
11. Ơn cứu độ cần một cái chạm tay
Nguyện đường Sixtina trong nội thành Vatican đã được Đức Giáo
Hoàng Sixto IV cho xây cất vào cuối thế kỷ 15. Không những đây là nơi các vị hồng
y tụ họp để bầu giáo hoàng, nơi tổ chức những buổi họp quan trọng, nguyện đường
Sixtina còn là một bảo tàng viện có những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, nhất là
những bức bích họa của Michelangelo, nhà danh họa và điêu khắc lừng danh.
Một trong những bích họa nổi tiếng trên trần nguyện đường
Sixtina là bức “Thiên Chúa Tạo Dựng.” Bức họa vẽ tả Thiên Chúa như một ông cụ
già uy nghi đang giơ bàn tay hướng về Adam tượng trưng cho con người. Adam
trong hình ảnh người đàn ông trần trụi, cũng đang giơ bàn tay hướng về Thiên
Chúa.
Hình ảnh hai bàn tay, một của Thiên Chúa, một của con người đang
cố vươn tới nhau để chạm vào nhau là một hình ảnh thật đẹp đẽ và đầy ý nghĩa.
Đang lúc con người không thể vươn lên tới Thiên Chúa, thì Người đã cúi xuống để
chạm đến thân phận hư vô và thấp hèn của con người, để nâng con người đứng dậy
trong sự hiện hữu của mình.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng theo thánh Marcô, chúng ta cũng bắt
gặp những “cái chạm tay” đầy ý nghĩa giữa con người với Thiên Chúa và giữa
Thiên Chúa với con người.
12. Những cái chạm tay
Vào tháng 12 năm 1986, khi Đức Tổng Giám Mục Canterbury, Robert
Runcie đến thăm Dòng Thừa Sai Bác Ái ở Calcutta, ngài đã quỳ gối xuống để hôn
chân Mẹ Têrêxa. Đức Tổng Giám Mục không phải là kẻ độc nhất diễn tả tâm tình
đó. Khi Mẹ Têrêxa đi đến đâu, đám đông thường vây quanh Mẹ để hy vọng được chạm
đến Mẹ hoặc sờ chân Mẹ mà thôi.
Sở dĩ Mẹ Têrêsa được vinh dự đó, vì Mẹ đã để ra cả cuộc đời mình
để chạm đến những thân phận đau khổ và bệnh tật, những người cùi hủi và nghèo
khó nhất. Qua những con người bất hạnh đó, Mẹ đã đụng chạm đến chính Chúa
Giêsu.
Hôm nay, hiện diện nơi những người anh em khốn khổ, Chúa cũng
đang chờ đợi chúng ta đến để được chúng ta chạm đến. Và ở nơi bàn tiệc lời Chúa
cũng như bàn tiệc Thánh Thể hằng ngày, Chúa cũng mời gọi ta đến để chạm đến
Ngài. Chỉ cần được đụng chạm tới Ngài, cuộc đời ta sẽ hoàn toàn đổi mới.
Chúng ta cần có lòng tin để chạm đến Chúa. Và chúng ta cũng cần
có sự nhạy cảm để nhận ra những “cái đụng nhẹ” của Ngài trong cuộc sống, khi
Ngài muốn nhắc nhở chúng ta điều gì.
13. Con dạy cho mẹ biết yêu
John Killinger kể một câu truyện thương tâm. Gia đình sinh được
một con trai, nhưng con trẻ bị bệnh tâm thần. Lúc đầu ba mẹ bị kích động mạnh
nhưng họ rất yêu thương con. Họ xây một phòng bằng kính để bất cứ lúc nào họ
cũng có thể nhìn thấy con.
Trong vòng 17 năm, người mẹ luôn bên cạnh con và đặt tay cạnh
trái tim con. Nếu con có vấn đề gì, bà có thể thức dậy và giúp con thở. Suốt 17
năm trời, bà sống như thế. Vào một ngày vắng mẹ, cậu lên cơn đau và đã ra đi
trong an bình. Ôm xác con, bà mẹ cám ơn Chúa đã ban cho họ một người con. Người
mẹ nói rằng: Cháu đã dậy cho chúng tôi thế nào là yêu.
Tình yêu Chúa dành cho nhân loại cũng thế. Chúa không chối từ bất
cứ người nào chạy đến xin Chúa chữa lành. Với trái tim đầy lòng thương xót,
Chúa đã ở lại với chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể để chúng ta tìm nơi ẩn náu và
là nguồn linh thiêng chữa lành tất cả bệnh hoạn xác hồn.
14. Hai phép lạ xảy ra nhờ có lòng tin.
Đức Giêsu xác nhận lòng tin vững vàng của người phụ nữ:
"Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con" (c.34).
Ngài nâng đỡ lòng tin đang chao đao của Gia-ia: "Ông đừng sợ,
chỉ cần tin thôi" (c.36).
Cần có lòng tin khi đụng chạm Chúa Giêsu. Cần nhạy cảm để nhận
ra cái đụng nhẹ của Ngài.
Khi đụng vào Thân Mình Ngài nơi bí tích Thánh Thể, ta được mời gọi
đụng đến nỗi khổ của anh em, là những chi thể của Nhiệm Thể Ngài.
Khi đụng đến Lời Chúa nơi những trang Tin Mừng, ta được mời gọi
chạm đến Lời Chúa nơi mọi biến cố.
Chỉ cần để Chúa đụng đến bạn một lần thôi, đời bạn sẽ hoàn toàn
đổi mới.
15. Lòng tin đã cứu con
Mary Stevenson đã có một câu chuyện nên thơ về tình yêu Chúa:
“Một đêm, tôi mơ thấy mình đang đi bộ trên bãi
biển với Chúa. Các tình huống cuộc đời tôi lóe lên trên bầu trời. Trong mỗi
tình huống, tôi để ý nhìn các dấu chân trên cát.
Có lúc có hai dấu chân. Có lúc
chỉ có một dấu chân.
Điều làm tôi buồn lòng là những
lúc tồi tệ trong đời, những khi tôi gặp đau khổ, tôi phải buồn phiền hoặc thất
bại, lại chỉ thấy có một dấu chân.
Vì vậy, tôi đã thưa với Chúa,
"Lạy Chúa, Chúa đã hứa với con, là nếu con theo Chúa, Chúa sẽ luôn đồng
hành với con. Nhưng con thấy là trong những lúc gian nan nhất lại chỉ có một dấu
chân trên cát. Tại sao khi con cần Chúa nhất, Chúa lại không ở bên con?"
Chúa trả lời: "Khi con chỉ
thấy có một dấu chân là khi Ta bồng con lên."
16. Cộng tác với ơn Chúa
Chuyện kể rằng một bà già bị đau răng, bà đã làm Tuần chín ngày
để kính thánh Antôn, vì người ta nói: Thánh Antôn "chuyên trách" về bệnh
này.
Hết tuần chín ngày bà vẫn còn đau. Lúc đó một vị linh mục đến
thăm. Bà liền hỏi:
- Xin Cha nói cho con biết: có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh
đau răng không?
Vị linh mục nói:
- Bà hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của nha sĩ. Hãy đến đó và nói
là tôi giới thiệu, họ sẽ làm không công cho bà.
Bà già la lên:
- Trời đất ơi, một ông linh mục vô thần.
Thánh Antôn tự nhủ:
- Kể ra cũng đau lòng, để nhận lời cầu nguyện của bà, chính ta
đã gởi cho bà vị linh mục này. Thế mà!
17. Phục vụ sự sống
Một cậu bé nghèo bán hàng rong để kiếm tiền ăn học. Một hôm cậu
dậy sớm, bụng đói meo, mới nhớ ra là mình chỉ còn một hào nên chẳng biết ăn
sáng làm sao. Cậu bèn gõ cửa nhà kế bên định xin một bữa ăn.
Một phụ nữ trẻ đẹp ra mở cửa, cậu bỗng trở nên ngượng ngùng
không dám xin ăn, mà chỉ xin một chút gì để uống. Người phụ nữ đoán biết cậu
đang đói lắm nên mang ra cho cậu một ly sữa lớn.
Cậu chầm chậm vừa nhấp từng ngụm sữa vừa hỏi: “Thế cháu phải trả
cô bao nhiêu ạ?” Người phụ nữ trả lời: “Cháu không phải trả gì cả. Mẹ cô dạy
không bao giờ nhận tiền trả công cho lòng tốt!”
Cậu bé cảm kích đáp: “Thưa cô, cháu hết lòng biết ơn cô.”
Cậu đang ngã lòng, muốn đầu hàng trước số phận nghèo đói. Tấm
lòng tốt của người phụ nữ làm cho cậu lại thấy có sức thúc đẩy mình vươn lên
trong đường học vấn, và sau trở nên bác sĩ tiến sĩ Howard Kelli.
Một hôm có một ca bệnh ngặt nghèo và lạ lùng được chuyển đến các
bác sĩ chuyên khoa thành phố nghiên cứu. Tiến sĩ Kelli được mời đến tham vấn.
Khi đến phòng bệnh, ông… nhận ra vị ân nhân năm xưa của mình. Trở lại phòng hội
chẩn, ông quyết định dốc hết tâm lực để cứu sống bệnh nhân.
Khi việc điều trị đã có kết quả tốt, tiến sĩ Kelli đề nghị phòng
y vụ cho ông xem tờ hoá đơn viện phí của bà, và viết thêm vài chữ bên lề, rồi
nhân viên bệnh viện trao tờ hóa đơn cho người bệnh.
Nhìn tờ hoá đơn, người phụ nữ buồn bã thấy rằng bà chẳng còn gì
để trả được mọi chi phí. Nhưng bên lề tờ hoá đơn, bà thấy hàng chữ ngắn ngủi:
“Trị giá hoá đơn = một ly sữa”, ký tên: Howard Kelli.
Là Đấng hằng sống, “Thiên Chúa không làm ra cái chết”, và “sáng
tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt” (Kn 1,13;2,23). Thế nên phục vụ
sự sống là nét vẽ sau hết mà mỗi người được Chúa giao cho để hoàn tất công
trình sáng tạo quí giá Chúa thực hiện nơi chính mình, khi dựng nên họ theo hình
ảnh Ngài.
18. Tâm hồn đang sống
Cha Mello kể lại câu chuyện về một người đàn ông tại Bangladesh,
một trong vài nước nghèo nhất thế giới: Sau một ngày làm việc cực nhọc tại xưởng
thợ, ông đi bộ về nhà. Vì quá mệt mỏi, ông dừng lại ngồi nghỉ dưới bóng cây ven
đường và ngủ thiếp đi. Khuôn mặt tiều tuỵ của ông khiến người qua đường ngỡ ông
là một hành khất kiệt sức và ngất xỉu. Người ta chạnh lòng thương, ai đi qua
cũng bỏ vào chiếc mũ của ông vài xu.
Khi thức giấc, ông hết sức ngạc nhiên vì thấy chiếc mũ cũ kỹ của
mình đầy những đồng xu. Số tiền còn nhiều hơn một ngày công thợ. Ông mỉm cười với
ý nghĩ mình là một người hành khất bất đắc dĩ.
Trên đường về nhà, ông nhìn thấy nhiều người ăn mày đui mù tàn tật,
ông lặng lẽ chia đều cho họ số tiền vừa mới nhận được. Và hơn ai hết, người
công nhân nghèo ấy hiểu được: được nhận lãnh và được chia sẻ là một niềm hạnh
phúc không gì có thể sánh bằng.
Tôi cũng thế, chỉ là một người hành khất, nhưng với những gì
Chúa ban, tôi hãy trở nên hình ảnh Chúa Kitô, nói với người khác lời phục vụ sự
sống của Chúa: “Trỗi dậy đi.”
19. Bước nhảy của đức tin
Bệnh băng huyết là căn bệnh làm cho con người luôn ở trong tình
trạng suy kiệt về thể chất và nhơ uế theo luật Môsê. Người bị bệnh này không được
tiếp xúc với người khác, kẻo làm người khác cũng ra nhơ uế. Bệnh tật nào cũng
khổ nhưng với căn bệnh này thì cái khổ và cái đau nhân lên gấp bội, nhất là mặc
cảm về sự nhơ uế của mình. Người bệnh đã tốn tiền tìm thầy chạy thuốc mà bệnh
không thuyên giảm, lại còn nặng thêm. Chính trong hoàn cảnh bị dồn đến chân tường,
bệnh nhân đã quyết định: đặt niềm tin vào tình thương của Chúa Giêsu. Bà tự nhủ:
“Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Bà đã thực hiện bước nhảy của
niềm tin: từ chỗ tuyệt vọng sang chỗ hy vọng, từ người xa cách trở thành kẻ gần
gũi với Ngài.
Giữa đám đông chen lấn, chỉ có con người đau khổ với bước nhảy của
niềm tin đã thực sự chạm đến Đấng có năng lực chữa lành. Giữa cuộc đời đầy sự
chết chóc này, mời bạn thực hiện bước nhảy của đức tin để chạm đến con người của
Chúa Giêsu, để năng lực ban sự sống của Ngài đem lại cho bạn sự sống thần linh
của Ngài.
Tôi “chạm” đến Chúa, để tín thác vào Ngài trong các việc nhỏ bé
mỗi ngày, để hoàn toàn tín thác vào Ngài trong bước nhảy lớn lao hơn của đức
tin.
20. Con mắt đức tin nhìn và thấy
Sandra Hook, một giáo viên người Canada đang làm công tác tự
nguyện cho mẹ Têrêsa tại những khu ổ chuột Ấn độ. Một ngày kia, cô được yêu cầu
tắm rửa cho một phụ nữ bị ốm. Cô rùng mình khi nghĩ đến điều đó. Chợt cô nhớ lại
lời mẹ Têrêsa đã nói: “Khi chạm vào một người nghèo, bạn hãy làm như thể bạn
đang chạm vào Chúa Giêsu tình yêu.” Lúc đó, Sandra nhìn người phụ nữ với con mắt
đức tin và thấy chẳng khó khăn gì khi tắm rửa cho bà ta. Đó cũng là cách biểu lộ
đức tin đơn sơ đã chữa lành người phụ nữ trong bài Kinh thánh hôm nay.
Niềm tin đơn sơ như trẻ thơ là gì? Làm thế nào để đạt được và
làm cho nó trở nên sâu sắc hơn? Cái gì ngăn cản tôi trở nên trẻ thơ hơn trong đức
tin?
Đức tin là con mắt để nhìn thấy Ngài, là bàn tay để nắm lấy
Ngài, là sức mạnh giúp ta tự hiến cho Ngài (James Woodbridge).
21. Chúa cần sự hợp tác
Cách đây nhiều năm, Joseph Lewis, thủ lãnh nhóm Tự do Tư tưởng của
Mỹ, đã tuyên bố nơi sân ga WMIE, bang Miami: “Nếu tôi có quyền lực như Chúa
Giêsu đã có trong Kinh thánh kể lại, tôi không chỉ chữa lành cho một người mù,
tôi sẽ làm cho bệnh không còn tồn tại. Tôi sẽ chữa không phải một người phong
cùi, nhưng sẽ tận diệt bệnh phong”
Tại sao Chúa Giêsu không tiêu diệt bệnh tật, như mù lòa hay
phong hủi? Lời đáp của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ trong Tin mừng hôm nay
có thể gợi cho ta một câu trả lời như thế nào?
Chúng ta thường nhìn tới Chúa như nguồn lực cuối cùng và mong
manh nhất. Chúng ta đến với Chúa vì không thể đi đâu khác hơn. Và rồi chúng ta
học biết rằng bão tố trong cuộc đời không đưa chúng ta lên những mỏm đá, nhưng
vào nơi ẩn náu chúng ta hằng ước mơ. (George McDonald)
22. Đức tin là chìa khóa vạn năng
Hai người, hai hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả hai đều làm chứng
cho một điều là chỉ có lòng tin mãnh liệt vào Chúa Giêsu mới có thể cứu chữa họ,
ngay cả khi tưởng như không còn tia hy vọng, không còn một lối thoát nào: Người
đàn bà bệnh băng huyết 12 năm, không thuốc men nào chữa lành, nhưng chỉ cần sờ
vào gấu áo Chúa với lòng tin là được khỏi ngay lập tức. Con gái ông Giaia, trưởng
hội đường, đã chết rồi nhưng Chúa nói: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi;” và quả thật,
Chúa đã cầm tay em và cho em sống dậy. Niềm tin vào Chúa Giêsu chính là chìa
khoá vạn năng mở được mọi cánh cửa trong hành trình đức tin của chúng ta.
Hẳn bạn có lúc phải ngậm ngùi nếm mùi ê chề của thất vọng; hoặc
có khi bạn đã gặp những con người đáng thương đứng bên bờ vực thẳm tuyệt vọng,
thậm chí đến mức tự kết liễu đời mình. Trước hoàn cảnh bi đát đó, lòng tin vào
Đức Kitô chính là liều thuốc thần hiệu có thể chữa lành. Mời bạn hãy đến với
Ngài bằng cuộc sống cầu nguyện thân mật để thắp sáng đức tin trong lòng bạn và
để bạn khơi lại niềm tin nơi những tâm hồn đang rơi vào tuyệt vọng ở quanh bạn.
Hãy chia sẻ kinh nghiệm về việc bạn tìm lại được niềm tin nhờ
kiên trì trong lời cầu nguyện.
Duy trì nề nếp cầu nguyện riêng với Chúa hằng ngày, nhất là những
lúc gặp khó khăn, thử thách.
23. Liều lĩnh tin
“Một trong những lý do
khiến nhiều người trưởng thành ngưng phát triển và học hỏi là vì họ ngày càng
ít sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thất bại! Cũng thế, trong đời sống đức tin, các
Kitô hữu không lớn lên được; bởi lẽ, họ không dám liều lĩnh tin!” - John
Gardner.
Khác với nhận định của John Gardner, phụng vụ Lời Chúa hôm nay
cho thấy những con người trưởng thành trong đức tin. Đó là một Đavít thời
Samuel; một Giaia, trưởng hội đường, và một phụ nữ băng huyết thời Chúa Giêsu.
Họ là những con người ‘liều lĩnh tin’, những con người dám thưa lên “Lạy Chúa,
xin lắng tai và đáp lời con!” giữa tuyệt vọng.
CHÚA GIÊSU TẠI QUÊ HƯƠNG NADARÉT
Lời Chúa: Mc 6,1-6
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người.
Ðến ngày Sabát, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sủng sốt về
giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông nầy được như vậy? Sao ông được
khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông nầy chẳng
phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao?
Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.
Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị
khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình." Ở đó Người không làm phép lạ
nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng
lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.
TRUYỆN KỂ
1. Quyền lực âm thầm
Thánh Gioan Bosco, nhà giáo dục giới trẻ lừng danh nhất của thế
kỷ 19 đã kể lại giấc mơ năm Ngài lên 9 tuổi như sau: Ngài mơ thấy mình ở giữa một
đám trẻ đang chơi đùa, nghịch ngợm, cãi cọ và nói những lời thô tục. Muốn cho
đám trẻ một bài học, cậu bé liền gọi một số em ra và dùng nắm tay để đe dọa.
Nhưng chính lúc đó, Chúa Giêsu hiện ra gọi cậu bé lại và nói:
- Này Gioan, muốn biến những con chó sói này thành chiên con,
thì con không nên dùng sức mạnh của đôi tay, mà hãy dùng lòng tốt.
Lúc đó, cậu bé thưa với Chúa:
- Lạy Chúa, chắc con không làm được đâu.
Chúa Giêsu liền chỉ cho Gioan Bosco thấy gương mặt hiền hậu của một
người mẹ đang đi bên cạnh và nói:
- Ðây là mẹ của con và cũng là mẹ của chúng nữa. Với mẹ, con có
thể biến đổi giới trẻ cho Nước Chúa, cho một thế giới tốt đẹp hơn.
Quả thật, về sau, cả công cuộc giáo dục giới trẻ của Gioan Bosco
đều được đặt dưới sự hướng dẫn và bảo trợ của Mẹ Maria.
2. Từ chối sự thật bởi định kiến
Đại thi hào R. Tagore, thi sĩ nổi tiếng Ấn Độ, là người châu Á đầu
tiên đoạt giải Nobel Văn học. Ông có khiếu làm thơ ngay lúc còn thơ ấu…
Một ngày kia ông làm được một bài thơ và đưa cho bố coi thử. Chẳng
biết bố có đọc hết hay không, nhưng liền nhăn mũi mà bảo: “Dở ẹc."
Ngày hôm sau, cậu lại sáng tác một bài thơ khác và cũng đưa cho
bố coi thử. Lần này bố liền “kê tủ đứng vào mũi” cậu nhóc: “Đúng là bài thơ …
con cóc."
Bực quá, cậu nhóc bèn chơi trò láu cá, cậu nghĩ ra một cái mưu
nho nhỏ, đó là đem bài thơ vừa mới làm xong, chép lại cẩn thận, rồi ghi thêm xuất
xứ từ trong một tập thơ cổ.
Lần này thì bố cứ đọc đi đọc lại, rồi vỗ đùi đánh đét một phát
và phán: “Tuyệt vời, tuyệt vời, còn trên cả tuyệt vời nữa."
Sau đó, ông bố đem bài thơ khoe với anh con trai lớn, đang làm
chủ nhiệm một tờ báo văn học. Cả hai bố con đều tấm tắc khen lấy khen để, rồi lại
còn muốn đem trình làng cho bà con thiên hạ cùng thưởng thức. Và để cho ăn chắc,
bèn bảo cậu nhóc đem cuốn thơ cổ ra để đối chiếu. Tới lúc đó thì mới vỡ lẽ ra:
bài thơ ấy chính là của cậu nhóc. Ông bố giận sôi lên sùng sục, nhưng cũng cảm
thấy thán phục cậu nhóc và hối hận cho thái độ mâu thuẫn của mình.
Rất có thể chúng ta đang có thái độ của dân làng Nadarét bằng
cách không chấp nhận những sự thật không đúng với xét đoán mang tính so đo hơn
thua vị kỷ của mình.
3. Đâu có tình yêu thương ở đó có Thiên Chúa
Một bề trên tu viện công giáo đến tìm một ẩn sỹ ấn giáo tại chân
núi Hymãlạp sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện ông: Trước đây tu
viện này là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng
vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn nhận thêm
người tu hàng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà tu viện bây giờ chẳng khác nào một
ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sỹ thì lèo tèo vài người, cuộc sống
thật là buồn tẻ. Vị bề trên hỏi tu sỹ ấn giáo cho biết nguyên nhân hay lỗi lầm
nào đã đưa tu viện đến tình trang trên đây. Tu sỹ ẩn giáo ôn tồn bảo: “Các tội
đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình." Và ông giải thích:
“Chúa Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quí vị, nhưng quí vị không nhận
ra Ngài."
Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập
họp mọi người lại và thông báo cho họ biết Chúa Cứu Thế đang cải trang thành một
ngươì trong nhà. Các tu sỹ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Chúa Cứu
Thế cải trang vậy? Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai
có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ có thể là Chúa Cứu Thế.
Vậy từ đó mọi người đều đối xử với nhau như với Chúa Cứu Thế. Chẳng
bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm tin đã trở lại với tu viện.
Từ khắp nơi người ta tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ
cũng đến xin gia nhập cộng đoàn.
4. Lấy con dê làm bài thuốc hạnh phúc
Có một nhà hiền triết nọ, chuyên cố vấn giúp đỡ những ai gặp buồn
phiền, chán nản trong cuộc sống. Bất cứ ai đến xin chỉ bảo cũng đều nhận được từ
ông những lời khuyên thiết thực…
Một hôm, có một người thợ may mặt mày thiểu não chạy đến xin ông
giúp đỡ. Gia đình ông gồm có ông, vợ ông và 7 đứa con trai nhỏ. Tất cả chen
chúc nhau trong một căn nhà gần như đổ nát. Người vợ phải la hét suốt ngày vì sự
quấy phá của 7 đứa con. Xưởng may của ông lúc nào cũng lộn xộn, bẩn thỉu vì những
nghịch ngợm của lũ trẻ. Thêm vào đó là những tiếng la hét, khóc nhè suốt ngày,
khiến người thợ may không thể chú tâm làm việc được.
Nghe xong câu chuyện, nhà hiền triết mới đề nghị với người thợ
may như sau:
- Anh hãy ra chợ mua cho kỳ được một con dê, rồi dắt nó về cột
ngay trong xưởng may của anh.
Người đàn ông đáng thương không đoán được ẩn ý của nhà hiền triết,
nhưng vẫn đặt tất cả tin tưởng vào ông, cho nên anh về thu góp hết tiền của
trong nhà để ra chợ mua cho kỳ được con dê.
Chúng ta hãy thử tưởng tượng: sự hiện diện của con dê trong xưởng
may sẽ giúp được gì cho anh ta? Con vật hôi hám ấy không những không giúp được
gì mà còn phóng uế nhơ bẩn kêu la be be om xòm suốt ngày. Cái xưởng may của anh
ta vốn đã ồn ào nay lại biến thành một chuồng súc vật bẩn thỉu không thể chịu
được…
Người thợ may lại đến than phiền với nhà hiền triết vì sự hiện
diện của con dê. Lúc bấy giờ, nhà hiền triết mới bảo anh:
- Anh hãy tức khắc mang nó ra chợ và bán lại cho người khác.
Người đàn ông cảm thấy như nhẹ nhõm cả người. Anh dắt con vật ra
chợ. Trong khi đó, ở nhà, vợ anh mang nước vào tẩy uế cái xưởng may. Bảy đứa
nhóc con của anh bắt đầu trở lại xưởng may và hò hét trở lại. Khi về đến nhà,
người đàn ông nhìn xuống sàn nhà của xưởng may rồi mỉm cười nhìn những đứa con
trai của anh đang chạy nhảy la hét. Anh tự nhủ: dù sao, tiếng la hét của mấy đứa
con của mình, so với tiếng kêu của con vật dơ bẩn, vẫn dễ chịu hơn nhiều. Anh nở
một nụ cười thật tươi vì chưa bao giờ anh cảm thấy hạnh phúc bằng ngày hôm đó.
5. Giá trị bị đảo lộn
Một người thù ghét chủ tiệm buôn lớn, đã lợi dụng sơ hở của chủ
nhân nên lẻn vào cửa tiệm giữa đêm khuya để tìm cách phá hoại.
Thấy trong cửa hàng có một bàn thờ bằng gỗ quý, chạm khắc rất mỹ
thuật ghi giá bán 30 triệu đồng và một cái thùng rác ghi giá bán 10.000 đồng,
người đột nhập gỡ miếng giấy ghi giá 30 triệu ở bàn thờ gắn vào thùng rác và gỡ
miếng giấy ghi giá 10.000 đồng ở thùng rác dán vào bàn thờ. Thế là bàn thờ gỗ
quý chạm khắc công phu chỉ có giá 10.000 đồng trong khi thùng rác hèn hạ được
nâng giá trị lên đến 30 triệu đồng và y tiếp tục thực hiện như thế với những
món hàng khác.
Thế là các món hàng quý báu bị mất giá nghiêm trọng còn những
món hàng rẻ mạt thì được nâng cao giá trị gấp trăm lần. Hành động quái ác nầy
khiến khách hàng không thể nhận ra đâu là giá trị đích thực của các món hàng
nên có thể mua lầm một cách tai hại.
Đó là câu chuyện có thực trong xã hội hôm nay: Các giá trị của đời
sống con người hôm nay cũng đang bị đảo lộn y hệt như thế, khiến rất nhiều người
tôn vinh tiền tài của cải mà xem thường luân thường đạo lý, đánh giá cao những
gì phù phiếm bên ngoài mà coi rẻ phẩm chất cao đẹp của con người. Thế là những
điều phù phiếm được lên ngôi trong khi những phẩm chất cao đẹp của con người bị
đẩy xuống hạng thấp kém.
Công Đồng Vaticano II nhắc nhở mọi người: “Giá trị con người
không hệ tại những gì người ta sở hữu nhưng tuỳ thuộc phẩm chất của mỗi người"
Lạy Chúa Giê-su, Xin giúp chúng con “gắn lại bảng giá cho đúng với
giá trị thật của mỗi món hàng”
6. Yêu bác thợ mộc
Một ngày kia, có đoàn khách làm việc từ thiện đến thăm một viện
phong. Khi thấy một nữ y tá đang chăm sóc một người bệnh rất tận tụy, một ông
khách dừng lại và hỏi thăm về gia cảnh của cô y tá. Cô y tá trả lời: “Tôi chưa
lập gia đình, nhưng đã có người yêu. Người yêu của tôi là một bác thợ mộc.”
Đó chính là một cô gái đã tận hiến cuộc đời trong một tu hội đời.
Cô từ khước cuộc sống gia đình, tình nguyện phục vụ các bệnh nhân đau khổ. Bác
thợ mộc kia chính là Chúa Giêsu, người yêu muôn thuở của cô.
Xưa kia “bác thợ mộc” ấy đã bị coi thường và bị từ chối tại quê
quán mình. Chớ gì hôm nay “bác thợ mộc” ấy vẫn mãi là người yêu dấu của muôn
trái tim con người.
7. Trường dạy chân lý
Chúa có thể dùng quyền phép để mọi người công nhận lời Chúa rao
giảng, nhưng rồi Chúa cũng tôn trọng quyền tự do con người. Con người nhận hay
không nhận chân lý, mỗi người đều có tự do lựa chọn, và cũng vì tự do này, con
người mới được công phúc hay mới bị trừng phạt.
Bài học đặc biệt Chúa muốn dậy ta là: mọi việc ta làm, mọi dự
tính của ta không phải lúc nào cũng trôi chảy, lúc nào cũng kết quả như lòng ta
mong muốn. Chính Chúa đã qua những thất bại, thất bại một cách chua cay ở
Nazareth, trước mặt đông đảo quần chúng, thì chúng ta ở đây, mỗi lần ta gặp những
rủi ro trái ý, vì lý do nọ, lý do kia, ta bị nghi oan, bị người khác hằn học,
công việc của ta không trôi chảy, thì chúng ta hãy nghĩ tới những chi tiết của
bài Tin Mừng hôm nay.
Thánh Anphongsô có nói: “Khoa học của các thánh, hệ tại kiên trì
chịu đau khổ vì Chúa Giêsu, đó là phương tiện tự thánh hóa một cách mau chóng.”
Một hôm cha Jérome Natalis hỏi thánh Inhatiô: “Con đường nào, ngắn
nhất và chắc chắn nhất để đi tới trọn lành, đi tới nước trời?” Thánh Inhatiô đã
trả lời: “Đó chính là biết chịu đựng những nghịch cảnh lớn lao vì lòng mến Chúa
Giêsu Kitô.”
8. Chúa Giêsu đóng đinh Philatô
Đức Cha Sanh, (giám mục giáo phận Sàigòn 1942-1955) đã thuật lại
câu truyện sau:
Chịu chứng Linh Mục xong, Ngài sang Việt Nam và được bổ coi xứ
Di Linh. Ngày từ lúc tới Di Linh, ngài đã phải vất vả, tự tìm hiểu tiếng nói sắc
tộc Kô Hô…
Tuy chưa am tường ngôn ngữ của họ Ngài cũng cố dịch một số kinh
cần thiết như kinh Lậy Cha, kinh Tin kính… ra tiếng Kô Hô. Riêng kinh Tin Kính,
Ngài đã dịch sai câu “chịu nạn thời quan Phongxiô Philatô chịu đóng đinh trên
cây thánh giá.” Ngài dịch sai thế nào mà toàn thể xứ đạo đều hiểu là Quan
Philatô chịu đóng đinh trên cây thập giá và tai hại hơn, khi có dịp kiểm tra
giáo lý thì các ông bà già tới con nít đều hiểu là chính Chúa Giêsu đã đóng
đinh quan Philatô.
Ngài vội dịch lại câu đó, rồi tập hợp bổn đạo, dậy họ đọc và hiểu
cho đúng là quan Philatô đã lên án đóng đinh Chúa Giêsu, chứ không phải Chúa
Giêsu đóng đinh quan Philatô.
Nhưng ngay lúc đó, một cụ già (vào loại am hiểu giáo lý nhất
trong xứ đạo) giơ tay xin phát biểu ý kiến, cụ nói: “Xin cha cứ để đọc như cũ,
đừng sửa lại, là vì Chúa Giêsu là con Đức Chúa Trời, phép tắc vô cùng, ngài
đóng đinh người quan Philatô cũng được, chứ đóng đinh một quan Philatô, thì đã
ăn nhằm gì!”
“Ai muốn theo ta, thì phải
quên mình, phải vác thập giá mình mà theo ta” (Lc 9,23). Tôi có coi lời Chúa dạy
là một nghịch lý không?
9. Biển nằm ở đâu?
Một con cá biển nói với một con khác: “Xin lỗi anh, anh lớn tuổi
và có nhiều kinh nghiệm hơn, tôi hy vọng anh sẽ giúp được tôi. Hãy vui lòng nói
cho tôi biết cái mà người ta gọi là biển nằm ở đâu? Tôi đi tìm hoài mà chẳng
tìm được gì cả.”
“Anh tìm biển ư? Nhưng đây là biển mà.” Con lớn tuổi hơn trả lời.
“Ồ, đây là biển à? Tôi chỉ thấy toàn là nước, cái tôi đang tìm
là biển chứ”, con cá trẻ tỏ ra rất thất vọng, rồi tiếp tục bơi đi chỗ khác mà
tìm.
Chúa luôn ở giữa Dân Chúa. Thế nhưng chỉ vì lòng chai dạ đá mà họ
không nhận biết Ngài, như lời Chúa than thở với Êgiêkien khi sai ông đến với họ:
“Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Ít-ra-en, đến với dân phản
nghịch đang nổi loạn chống lại Ta; chúng cũng như cha ông đã nổi lên chống lại
Ta mãi cho đến ngày nay” (Ed 2,3).
10. Để được Chúa làm phép mầu
Khi một nhóm giáo sư Hoa kỳ đến thăm Mẹ ở Calcutta, họ đã hỏi Mẹ
cách giữ gìn bầu khí gia đình.
- Hãy mỉm cười với vợ bạn, mỉm cười với chồng bạn.
Một người chưa kết hôn hỏi Mẹ:
- Mẹ có lập gia đình không?
Trước sự ngạc nhiên của họ, mẹ trả lời:
- Có, và tôi thấy rằng đôi khi tôi thật khó mỉm cười với Chúa
Giêsu. Có lúc Ngài đòi hỏi rất khắt khe.
Như dân Nagiarét chỉ thấy nơi Chúa một anh thợ, Nước Trời không
thể đến, Đức Kitô cũng không thể làm phép lạ cho ai tìm đến Chúa chỉ với những
ước vọng thế tục, khấn với Chúa như một đối tác kinh doanh.
Đòi hỏi khắt khe Chúa đưa ra cho dân làng Nagiarét xưa và cho
chính tôi hôm nay là phải thay đổi chính mình, vượt qua cái nhìn thế tục để
nhìn ra vẻ đẹp của sự khôn ngoan thiên quốc trong giáo huấn Đức Kitô. Nếu
không, “Người không thể làm một phép lạ nào!”
11. Ai ghen tỵ là tự sát
Thế vận hội phát xuất từ những môn chơi của Hy Lạp diễn ra trên
vùng thảo nguyên Olympia vào năm 766 trước Công nguyên. Những thị trấn cổ thường
tỏ lòng kính trọng những người chiến thắng bằng việc dựng lên một tượng đài
danh dự. Có câu truyện Hy Lạp kể về một thị trấn có truyền thống kính trọng vị
anh hùng của địa phương mình. Đối thủ của vị anh hùng ganh tỵ đến nỗi một đêm
kia đã đập phá và xô đổ bức tượng. Bức tượng đổ xuống và đè bẹp anh ta. Câu
truyện nói lên thảm kịch của lòng ghen tỵ dẫn đến “gậy ông đập lưng ông."
Sự lây nhiễm của ghen tỵ là một trong những nguyên nhân khiến các tiên tri thường
không được kính trọng ở quê hương mình.
Ghen tỵ là nhân tố đã ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống và công việc
của tôi? Tôi có thể làm gì để đi ảnh hưởng của nó?
Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tỵ
nhìn bằng kính hiển vi (McKenzie).
12. Người có giá trị không sợ bị chối từ
Cha Paride Taban trở về Sudan sau khi được thụ phong linh mục tại
Uganda. Ban đầu, đồng bào của ngài gạt bỏ ngài. Họ nói: “Ông mà là một linh mục
ư? Thật khó tin. Ông cũng da đen như chúng tôi và cũng là thành viên của bộ tộc
Madi này. Làm sao ông có thể là linh mục của Chúa như những nhà truyền giáo da
trắng?” Paride đã trả lời họ bằng giọng thông cảm. Hai năm sau những kẻ chối bỏ
ngài đã đón nhận ngài với một tình cảm sâu sắc.
Việc Chúa Giêsu và cha Paride bị khước từ mời gọi tôi tự hỏi:
tôi đã chấp nhận ra sao khi bị chối bỏ, đặc biệt là bởi những người tôi yêu mến?
Để giữ trạng thái cân bằng, người nào đó đã có một con chó tôn
thờ anh ta, thì cũng nên có một con mèo phớt lờ anh ta.
13. Thôi hững hờ
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu trở lại quê nhà và những người
đồng hương vô thừa nhận Ngài. Lời Chúa mời gọi bạn và tôi ‘thôi hững hờ’ trước
quà tặng của Chúa!
“Bởi đâu ông ta được như thế? Trước những dấu chỉ cho thấy nguồn
gốc và sứ mệnh thực sự của Chúa Giêsu, đồng hương của Ngài sửng sốt và kinh ngạc.
Ngài tỏ cho thấy quyền năng siêu việt của Thiên Chúa, giờ đây, thể hiện nơi những
gì thuần tuý tự nhiên qua con người biệt danh “Bác thợ, con bà Maria." Những
phép lạ, những lời nói và việc làm mạnh mẽ của Ngài chỉ ra nguồn gốc thần linh
của mình; đồng thời, mời gọi họ tin. Đó là một lời mời bỏ lại phía sau phạm trù
hững hờ về một Giêsu như chỉ là một hàng xóm tốt bụng mà họ có thể có với Ngài
trước đây; để từ đó, đón nhận món quà Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ. Điều này có
nghĩa là họ cần thay đổi, hoán cải và ‘thôi hững hờ’.
CHÚA GIÊSU SAI ĐI MƯỜI HAI TÔNG ĐỒ
Lời Chúa: Mc 6, 7-13
Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai tông đồ và sai từng hai người
đi, Người ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế.
Và Người truyền các ông đi đường đừng mang gì, ngoài cây gậy,
không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng
mặc hai áo. Người lại bảo: "Ðến đâu, các con vào nhà nào, thì ở lại đó cho
đến khi ra đi. Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy
ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ."
Các ông ra đi rao giảng sự thống hối. Các ông trừ nhiều quỷ, xức
dầu chữa lành nhiều bệnh nhân.
TRUYỆN KỂ
1. Đừng mang gì
Cha Piô Ngô Phúc Hậu vị tông đồ truyền giáo vùng sông nước mênh
mông, đất đai thẳng cánh cò bay hiu quạnh ở vùng cực nam của Tổ quốc, cha chia
sẻ về một trong những kinh nghiệm truyền giáo: Mình xách môbylét đi một đường,
vừa đi vừa liếc, lòng thầm cầu nguyện để Chúa chọn cho người truyền giáo một
nơi dừng chân. Tự nhiên lòng mình thấy ấm hẳn lên khi nhác thấy một căn nhà lá
có trồng cây lựu ở phía trước. Trái lựu to bằng nắm tay đang đánh đu theo gió.
Như một phản xạ, mình lái môbylét vào tới hàng ba, làm bộ ngắm nghía cây lựu.
Bà chủ nhà, nét mặt hiền từ, mái tóc muối tiêu, nghe tiếng xe nổ và tắt máy vội
vàng chạy ra.
- Thầy kiếm ai đó?
- Chào bác. Cây lựu nhà bác dễ thương quá, cho tôi ngắm một tí.
- Thì vô trong nhà uống nước đã.
- Bác thứ mấy để tôi xưng hô cho dễ.
- Tôi thứ năm. Thứ của ông nhà tôi.
- Thế bác trai đi đâu rồi, bà Năm?
- Ông tôi mất từ lâu rồi.
- Bây giờ bà Năm ở với ai?
- Có hai bà cháu à. Thầy ở đâu mà vô đây?
- Tôi ở Ô Môn vô đây dạy giáo lý. Sáng vô, chiều về. Đi tới đi
lui thấy bất tiện quá. Tôi muốn ở lại đây luôn, mà chưa kiếm được chỗ nào ở cho
thuận lợi.
- Thì thầy ở đây với tôi. Nhà rộng rinh à. Thầy ở đây thì cũng
như con cháu trong nhà chứ gì.
- Thế bà Năm theo đạo nào?
- Tôi chẳng theo đạo nào hết. Thờ ông bà vậy thôi.
- Cám ơn Chúa. Cám ơn bà Năm. Vậy ngày mai tôi vô ở luôn nhá.
- Ừa (Trích Nhật ký Truyền giáo, Bà Năm).
2. Thánh Phanxicô Assisi giảng đạo.
Ngày kia, thánh Phanxicô Assisi nói với thầy dòng: “Nào chúng ta
cùng đi phố và giảng đạo." Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo
sang đường khác rồi về nhà. Thầy dòng thắc mắc hỏi: “Con nghe ngài nói là mình
đi phố và giảng đạo cơ mà”!
Thánh Phanxicô đáp: “Chúng ta đã giảng đạo rồi đó! Khi chúng ta
đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và
rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã
giảng đạo cho họ rồi sao”?
3. Thánh Vianney giảng đạo
Trong lãnh vực truyền giáo, Chúa cũng dùng đủ mọi phương tiện để
nhờ đó người ta có thể nhận biết Chúa, nhưng phương tiện sống động và hữu hiệu
nhất là chính con người chúng ta, chính con người chúng ta là dấu ấn của Thiên
Chúa để người ta trông thấy chúng ta thì đồng thời cũng nhìn ra Chúa.
Trong việc phong thánh cho linh mục Gioan Vianney, cha sở xứ
Ars, một nhà điều tra phong thánh có hỏi một người trong giáo xứ về đời sống của
Ngài, thì người giáo dân ấy chỉ trả lời vỏn vẹn bằng mấy chữ: “Tôi đã trông thấy
Thiên Chúa trong một con người."
Đức Thánh cha Phaolô VI: ”Con người thời đại chúng ta thích nghe
các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những
vị thầy này là những chứng nhân."
Đã có lần Lênin nói về thánh Phanxicô Assisi như thế này: “Để có
thể làm thay đổi bộ mặt thế giới, có lẽ chỉ cần 10 con người như vậy”
4. Điều kiện để rao giảng
Để tiện việc ôn thi đại học của đứa em, tôi phải thuê nhà trọ ở
gần trường và ở chung với nó. rồi một buổi tối, trời mưa như trút nước, ba mẹ
con hành khất đến xin chủ nhà cho ngủ trọ. Người chủ nhà từ chối và tìm cách đuổi
khéo.
Nhìn bóng ba mẹ con hành khất khuất dần trong bóng tối, tôi cảm
thấy sức nặng của Tin Mừng và những đòi hỏi quyết liệt của nó. Giả như các môn
đệ của Chúa đến với tôi không bị, không bánh, không tiền, liệu tôi có thể tiếp
nhận các Ngài không? Rất có thể một lần nữa, các Ngài sẽ bị xua đuổi hay khước
từ.
5. Có siêu thoát mới giàu
Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến vùng quê để thằng
bé thấy những người nghèo ở đây sống như thế nào. Họ tìm đến nông trại của một
gia đình nghèo nhất nhì vùng.
Đây là một cách để dạy con biết quí trọng những người có cuộc sống
cơ cực hơn mình – Người cha nghĩ đó là bài học thực tế tốt cho đứa con bé bỏng
của mình.
Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống tại đây, họ lại trở về nhà.
Trên đường về, người cha nhìn con trai mỉm cười:
- Chuyến đi như thế nào hả con?
- Thật tuyệt vời bố ạ!
- Con đã thấy người nghèo sống như thế nào rồi đấy!
- Ô, vâng rất tuyệt!
- Thế con rút ra được điều gì từ chuyến đi này?
Đứa bé không ngần ngại:
- Con thấy chúng ta có một con chó, họ có tới bốn con. Nhà mình
có một hồ bơi dài đến giữa sân, còn họ thì có cả một con sông dài bất tận.
Chúng ta phải đưa những chiếc đèn lồng vào trong vườn, còn họ thì có cả một bầu
trời sao lấp lánh suốt đêm. Mái hiên nhà mình chỉ đến trước sân, còn họ thì nhà
cửa rộng tít đến cả chân trời. Chúng ta có một miếng đất để sinh sống, còn họ
thì có cả những cánh đồng trải dài. Chúng ta phải có người phục vụ, còn họ lại
phục vụ người khác. Chúng ta phải mua thực phẩm, còn họ lại trồng ra những thứ ấy.
Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh, còn họ có những người bạn láng
giềng che chở nhau…
Đến đây người cha không nói gì cả.
- Bố ơi, con đã biết chúng ta nghèo như thế nào rồi. Cậu bé nói
thêm.
Rất nhiều khi chúng ta đã quên mất những gì mình đang có và chỉ
luôn đòi hỏi những gì mình chưa có hay không có.
6. Lời nguyện xin được sống tự do
W. Goethe nói: “Sự chiếm hữu có ý nghĩa gì đâu. Sự ưng thuận mới
là tất cả”
Giữa một thế giới chạy theo tiện nghi, hưởng thụ, xin cho con biết
bằng lòng với cuộc sống đơn sơ.
Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo, xin cho con đừng
thu tích của cải.
Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp, xin cho con biết quý trọng
phẩm giá từng người.
Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống, xin cho con biết
xây lại niềm tin.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con cảm được cơn đói đang giày vò bao
người, xin cho con nghe được lời mời của Chúa:
“Các con hãy cho họ ăn đi." Ước gì chúng con dám trao tất cả
những gì chúng con có cho Chúa, để Chúa trao tất cả những gì Chúa có cho chúng
con và cho cả nhân loại. Amen.
7. Đừng mang theo bất cứ điều gì
Khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng và chữa lành, Người
ban cho họ một huấn lệnh bất thường: "Anh em đừng mang theo bất cứ
gì."
- Tại sao Chúa Giêsu lại bảo các môn đệ đừng mang theo bất cứ gì
nhưng hãy đi xin?
- Nếu sống trong thời đại ngày nay, liệu Chúa Giêsu có ban cho
cùng một huấn lệnh ấy hay không?
- Điều gì sẽ xảy ra nếu Người làm như vậy? Thiên hạ sẽ phản ứng
ra sao nếu có một môn đệ gõ cửa và xin ăn?
- Và ngay cả nếu người ta cho ăn ở đi nữa, làm thế nào môn đệ ấy
có thể mời gọi chủ nhà hãy ăn năn sám hối và được chữa lành - tối thiểu là phần
tinh thần?
Một vài năm trước đây, một linh mục trẻ tuổi dòng Tên, Richard
Roos, cũng thắc mắc những câu hỏi trên. Người quyết định đi tìm câu trả lời.
Người được bề trên chấp thuận cho thực hiện 40 ngày Chay bằng cuộc
hành hương đi bộ 800 dặm từ San Diego đến San Francisco. Các Kitô Hữu thời tiên
khởi cũng hành hương với nhiều lý do - tỉ như, để bày tỏ sự tín thác vào Chúa,
để thực sự tin tưởng vào lòng tốt của người dân, để cảm nghiệm thế nào là nghèo
khổ.
Và vì thế người lên đường theo con đường truyền giáo xưa - bây
giờ là xa lộ - của các thừa sai Tây Ban Nha đến truyền giáo tại California
trong khoảng 1700.
Cha Roos đi bộ qua mưa nắng, gió to. Người tiếp tục đi, hết ngày
này sang ngày nọ, bất kể đôi chân sưng vù và rướm máu - giống như các nhà thừa
sai trước đây đã thi hành.
Tuy nhiên, có một sự khác biệt. Người chỉ xưng mình là một Kitô
Hữu đang làm cuộc hành hương mùa Chay.
Người đã được câu trả lời gì cho những thắc mắc của người? Cha
Roos viết:
Mỗi buổi chiều vào lúc hai hay ba giờ là tôi bắt đầu lo lắng
không biết sẽ ngủ đêm như thế nào...
Và dĩ nhiên, tôi cảm thấy bất lực vì nghèo. Khi bạn phải gõ cửa từng
nhà... và xin tá túc cũng như thực phẩm... bạn sẽ thấy mình thật khiêm tốn.
Bạn hoàn toàn trông nhờ vào người khác. Bạn không còn quyền lợi
và sức lực gì.
Người ta phản ứng thế nào khi thấy Cha Roos? Người viết:
Tôi chưa bao giờ bị đối xử cách tệ hại hay thiếu tử tế. Những
người tiếp đãi tôi đều là Kitô Hữu thuộc đủ mọi giáo phái và ngay cả những người
không có tôn giáo gì cả. Tất cả đều bàng hoàng với ý nghĩa của cuộc hành hương.
Người kết thúc bài tường trình với một nhận xét không ngờ. Nó
liên hệ trực tiếp đến cách người rao giảng Phúc Âm. Người viết:
Nói chung, tôi thấy rằng sự hiện diện của tôi và cuộc đối thoại
đã đem đến cho họ cũng như kiện cường niềm hy vọng của họ vào Thiên Chúa và vào
sự tốt lành của con người.
Tôi không quen biết với Cha Roos. Nhưng từ những gì người viết,
tôi biết Cha Roos là một người siêng cầu nguyện với đức tin sâu đậm và tin tưởng
mãnh liệt vào Thiên Chúa và vào con người.
Tôi nghĩ ngay ở đây chúng ta đã có câu trả lời về cách Cha Roos
rao giảng Phúc Âm trong cuộc hành hương.
Người đã rao giảng bằng đức tin và gương mẫu của người. Chính đức
tin này và gương mẫu này đã lộ ra khi người nói chuyện với dân chúng.
Nói cách khác, người không rao giảng Phúc Âm bằng lời. Người rao
giảng bằng một phương cách mạnh mẽ hơn: bằng sự hiện diện, đức tin, và gương mẫu
của người.
Một vài năm trước đây, một số Kitô Hữu trẻ tham dự một cuộc cắm
trại quốc tế. Họ đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Một vấn đề được đặt ra
cho họ là hãy nghĩ ra các phương cách hữu hiệu nhất để rao giảng Phúc Âm trong
thế giới hiện đại ngày nay.
Sau khi các người trẻ nói về việc sử dụng đến truyền hình, truyền
thanh, trình diễn nhạc kích động, và các đại siêu thị, một cô gái người Phi
Châu đã đánh động tâm hồn mọi người khi cô nói:
“Khi Kitô Hữu ở quê hương tôi nghĩ rằng một làng ngoại giáo nào
đó sẵn sàng để theo đạo, họ không gửi sách vở hay các nhà truyền giáo. Họ gửi đến
một gia đình Kitô Hữu tốt lành. Đời sống gương mẫu của gia đình này hoán cải cả
làng.”
Và điều đó đưa chúng ta đến việc áp dụng bài Phúc Âm hôm nay cho
mỗi một người trong chúng ta ở đây.
Chúa Giêsu muốn chúng ta rao giảng Phúc Âm trong thế giới ngày
nay. Người muốn chúng ta thi hành việc ấy giống như Cha Roos đã làm, nhưng với
một ngoại lệ.
Người không muốn chúng ta thi hành điều đó trong một cuộc hành
hương mùa Chay.
Người muốn chúng ta thi hành điều đó ngay trong gia đình, nơi sở
làm, và trong cộng đoàn chúng ta. Người muốn chúng ta thi hành điều đó theo
phương cách mà cô gái Phi Châu đã đề nghị.
Người muốn chúng ta thi hành điều đó bằng đời sống của một người
có đức tin sâu xa vào Chúa và vào con người. Người muốn chúng ta thi hành điều
đó bằng sự hiện diện và bằng gương mẫu của chúng ta hơn là bằng lời nói.
Và nếu chúng ta thi hành theo phương cách đó, không những chúng
ta sẽ kiên cường đức tin của những người chung quanh chúng ta, nhưng còn mời gọi
họ bắt chước đức tin và đời sống cầu nguyện của chúng ta.
Thi sĩ Edgar Guest đã có lý khi ông nói:
Tất cả sẽ là phù phiếm khi rao giảng chân lý
Cho những đôi tai muốn lắng nghe của người trẻ...
Lời nói có thể chải chuốt cho sự khuyên giải
Nhưng người trẻ sẽ học từ cách bạn sống.
Và một người Bà La Môn ở Ấn Độ đã có lý khi nói với nhà truyền
giáo Kitô Hữu như sau:
“Nếu Kitô Hữu các anh ở Ấn, ở Anh Quốc, hay ở Hoa Kỳ mà giống
như trong Phúc Âm, anh sẽ chinh phục nước Ấn này trong năm năm.”
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu của Đức Hồng Y Newman:
“Lậy Chúa Giêsu, xin giúp con lan tỏa hương thơm của Người ở bất
cứ đâu con đến. Xin hãy tràn ngập linh hồn con với thần khí và sự sống của Người.
Xin hãy thấm nhập toàn thể con người con. Xin hãy chiếu tỏa qua con và trong
con để bất cứ linh hồn nào con tiếp xúc sẽ cảm thấy sự hiện diện của Chúa...
Không có gì là của con, tất cả đều là của Chúa soi sáng người khác qua con. Con
xin ca tụng Chúa theo cách Chúa ưa thích nhất... Không bằng lời rao giảng,
nhưng bằng đời sống gương mẫu của con.”
8. Truyền giáo bằng cầu nguyện, hy sinh và gương sáng
Một hôm: vào dịp lễ Phục Sinh, một vị tổng thanh tra giáo dục đi
săn tại miền Di linh. Lúc đó Di linh mà một khu rừng, chỉ có dân tộc thiểu số
Kô Hô sinh sống. Hổ, nai, các thú rừng khác có rất nhiều. Vị tổng thanh tra này
chưa biết đã có một làng cùi, do Cha Gioan B. Sanh thành lập. Nghe tiếng súng nổ,
Cha Sanh ra gặp vị tổng thanh tra (Người Pháp) và nói cho Ông biết là không một
ai được lai vãng tới khu vực này. Vị thanh tra bỡ ngỡ, và ra oai hỏi: “Ông lấy
quyền nào mà ngăn cản chúng tôi”, Cha Sanh chỉ vào làng cùi và dẫn Ông vào coi.
Vừa thấy những người cùi, Ông ghê sợ vội bỏ đi, và không cần ai ngăn cấm, Ông
cũng không giám bén mảng đến khu vực đầy sợ hãi này. Tuy nhiên khi bỏ đi, Ông
cũng tỏ thái độ bực bội với linh mục Sanh, và tỏ ra mình cũng có quyền giải tán
làng cùi này. Nhưng rồi mấy tuần lễ sau: Cha Sanh đã nhận được một bưu kiện lớn,
trong đó có nhiều thuốc men và dụng cụ y tế… kèm theo một mảnh giấy: “Tôi tặng
Cha món quà này, để giải đáp câu hỏi, mà sự hiện diện những người cùi Di Linh,
luôn gợi lại trong trí óc tôi.” Dưới ký tên Tổng thanh tra.
Cách bốn năm sau, khi Cha Sanh đã về nhận chức Giám Mục Sàigòn,
thì vào một buổi trưa, ngài nhận được một bức điện: “Xin Đức Cha cấp tốc tới bệnh
viện trung ương Nam Vang: Một bệnh nhận liệt nặng muốn gặp. Có xe tới đón.”
Xe đưa Đức Cha Sanh khởi hành từ Sàigòn lúc 6 giờ chiều, tới 10
giờ đêm mới tới Nam Vang. Ngài vào trọ đêm tại tòa giám mục Nam Vang. Sáng sớm
hôm sau vào bệnh viện. Bệnh nhân liệt nặng này chính là vị tổng thanh tra, trước
đây vẫn ác cảm với đạo. Tuy có rửa tội, nhưng đã bỏ đạo từ lâu. Từ ngày gặp
linh mục Sanh ở Di Linh: hình ảnh một linh mục sống giữa những con người cùi
ghê tởm, hy sinh băng bó vết thương cho họ, đã ghi sâu vào đầu óc Ông. Đó là một
nhân chứng sống động của đức bác ái Kitô giáo. Ông đã tìm về với Chúa. Ông xin
Đức Cha giải tội cho Ông, trước khi Ông từ giã cõi đời.
9. Từng hai người một
“Từng hai người một”, có nghĩa là hơn một người. Nếu hiểu rao giảng
Tin Mừng là làm chứng, thì quả thật, hai người là cần thiết, vì: “nhất chứng
phi, nhị chứng quả." Ngoài việc thiết lập tôn chỉ cho sứ vụ rao giảng Tin
Mừng, Chúa Giêsu chắc chắn còn nghĩ đến việc hình thành của Giáo Hội sau này.
Ngài muốn cho Giáo Hội được hiệp nhất chính trong niềm tin và cả trong hoạt động
để củng cố và phát triển niềm tin này. Từng “hai người một” nói lên sự đồng tâm
nhất trí mà những người được sai đi phải luôn canh cánh như tôn chỉ hàng đầu.
Nguyên việc sống hiệp nhất đã là một lời rao giảng, nên không có gì làm trở ngại
cho việc rao giảng bằng đời sống thiếu hiệp nhất.
Trong cánh đồng truyền giáo, có những người cảm thấy bị cản trở
khi có người anh em cùng làm việc bên mình và với mình. Bạn có thuộc thành phần
đó không?
Một chuyên gia Nhật chia sẻ với các sinh viên Việt Nam: “Người
Việt Nam các anh là những viên ngọc xinh đẹp, chỉ có thể đặt cạnh nhau thôi;
người Nhật chúng tôi là những viên gạch, có thể xếp chồng lên nhau để làm nên một
toà nhà.” Liệu người Việt Nam Công Giáo chúng ta có vượt qua được lời bình phẩm
nhức nhối này không?
10. Đừng mang theo gì
E.B.Washburne mô tả tướng Grant đã tiến hành chiến dịch trong cuộc
nội chiến như thế nào: “Tất cả phụ thuộc vào khả năng di chuyển nhanh. Điều
quan trọn đối với tướng Grant là mang hành lý càng nhẹ càng tốt. Ông không mang
theo cận vệ cũng chẳng có áo khoác ngoài, ngay cả một áo sơ mình sạch. Lúc đó
tôi ở với ông và biết rằng toàn bộ hành trang của ông trong sáu ngày chỉ là một
bàn chải đánh răng. Ông ăn uống như những binh sĩ thường nhất, ngủ trên đất, và
khỏi cần có gì đắp ngoài vòm trời.”
Gương của tướng Grant và lời Chúa Giêsu mời gọi tôi tự hỏi: lối
sống của tôi có giản dị không? Tôi lệ thuộc vào của cải vật chất ra sao?
Một nửa những phiền toái là do chúng ta không biết mình cần ít
như thế nào (Tướng Richard Byrd)
11. Quả thận thánh
Vào ngày 13 tháng 11 năm 2009, theo tờ Dallas Morning News đã
đưa tin, bà Carrie Gehling, 45 tuổi, đã bị mất cả hai chân vì bệnh tiểu đường,
đau tim, và cần được ghép thận sau nhiều năm lọc thận. Bác sỹ cho biết bà đang
gặp nguy cơ đến tính mạng. Trong lúc bệnh tật và khó khăn, Bà Gehling chạy đến
Đức Ông và cũng là cha xứ Mark Seitz tại nhà thờ Saint Rita ở Dallas, tiểu bang
Texas, để nhờ ngài tìm kiếm quả thận cho bà. Khi nhận được tin này, Đức Ông
Seitz đã suy nghĩ, tại sao không phải là tôi? Sau đó, ngài quyết định tặng quả
thận của mình cho bệnh nhân, ngài coi việc hiến tặng này là biểu lộ tình yêu và
nhiệm vụ của linh mục. Ngài nói rằng: "Tôi noi gương Chúa Giê-su vì Ngài
đã hy sinh mạng sống cho tôi, thì tôi cũng có thể cho đi một quả thận cho người
đang cần được sống."
Hơn nữa, ngài rất ngưỡng mộ lòng dũng cảm của bà Gehling khi phải
đối phó với căn bệnh khủng khiếp này, nhưng bà ấy luôn vẫn tin tưởng vào lòng
nhân từ và tình yêu của Thiên Chúa khi tiếp cận với những người khác. Để có được
đức tin mạnh mẽ như thế, thì bà ta cũng đã trải qua một kinh nghiệm về quá khứ
của tuổi trẻ. Như lời bà Gehling nói với Dallas Morning News rằng: Khi được 20
tuổi, bà đã bị mất niềm tin một thời gian sau khi người cha qua đời vì căn bệnh
đau tim. Một ngày kia, tôi tỉnh dậy và nghĩ rằng, mình thật là điên khùng. Bà
nói tiếp: Nếu cha tôi còn sống sau cơn đau tim, thì ông ta chỉ sống như một
loài thực vật. Vậy những gì Chúa đã làm là tốt nhất. Lời sau cùng, bà Gehling
nói rằng: Không có từ ngữ nào có thể nói lên lời cảm ơn. Làm thế nào để có thể
nói lời cảm ơn với một người đã cho bạn một cuộc sống mới! Bà đã gọi đây là quả
"thận thánh", trong khi đó vị linh mục Seitz nói, món quà ấy chỉ là một
cố gắng sống theo gương của Chúa Kitô.
Gương mục tử hiến tặng quả thận có thể dẫn đưa chúng ta đến gần
với trang Tin mừng hôm nay về sự từ bỏ, quên mình và làm chứng cho Tin mừng,
cho tình yêu Thiên Chúa một cách sống động và thiết thực hơn. Cha Seitz đã chia
sẻ sự sống của mình cho bà Gehling, một người đang khát khao để được sống.
12. Gỡ bỏ hành trang
Ulysses Grant là tổng tư lệnh liên quân trong trận nội chiến, và
sau này là Tổng thống Hoa Kỳ trong hai nhiệm kỳ. Ông K.B.Washburn, Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao, làm chứng về lối sống đơn giản của ông Grant như sau:
“Khi ông Grant rời tổng hành dinh, mở một chiến dịch quyết định,
ông không đem theo hành trang như thói quen các binh sĩ. Tất cả lệ thuộc vào phản
ứng mau lẹ, điều quan trọng là ông không bị cản trở bởi hành trang. Ông không
đem theo tùy viên, không ngựa hay tôi tớ, không đem theo áo khoác và ngay cả một
chiếc sơ mi. Trọn hành trang của ông trong 6 ngày –tôi có mặt lúc đó- là chiếc
bàn chải đánh răng. Ông ăn uống như một người lính trơn, ngủ giữa màn trời chiếu
đất."
Tướng Grant đi tay không. Đức Giêsu và các Tông đồ cũng vậy. Chúng
ta vừa đọc, Đức Giêsu đã sai phái những người lãnh đạo của Ngài ra sao. Người
nói với họ: “Không đem theo đồ ăn, không giỏ xách, không tiền và không áo ngoài
nữa."
Chúng ta phải làm gì? Bạn và tôi được gọi làm tông đồ để loan
truyền sứ điệp của Đức Kitô bằng lời nói và việc làm.
13. Hãy đi
Một mẩu đối thoại vui giữa một tâm-hồn-được-sai-đi với Chúa. Những
câu đối thoại ngắn thôi nhưng có thể nói lên được mấy đặc tính cốt yếu của việc
truyền giáo:
- HÃY ĐI!, Chúa sai tôi.
- Chúa sai con đi sao?, tôi ngạc nhiên hỏi.
- Đúng, Ta sai con.
- Nhưng con chưa sẵn sàng, và đang mắc bạn bè, và con không thể
xa gia đình. Chúa biết là không có ai thay thế cho con.
- Con đừng đánh trống lảng. HÃY ĐI!, một lần nữa Chúa sai tôi.
- Nhưng con không muốn đi.
- Ta đâu có hỏi là con muốn hay không.
- Xin Chúa hiểu cho, con là người có ít khả năng. Hơn nữa, gia
đình con không thích thế, hàng xóm con sẽ nghĩ gì về con?
- Con đừng lo nghĩ vớ vẩn. HÃY ĐI! Chúa sai tôi lần thứ ba.
- Có thực là Chúa nhất định sai con không?, tôi ngập ngừng hỏi.
- Con có yêu Ta không?, Chúa hỏi lại tôi.
- Lạy Chúa, con sợ lắm. Người ta sẽ ghét con, cắt con ra từng miếng
nhỏ. Con không thể một mình làm hết mọi việc.
- Con nghĩ rằng Ta ở đâu? HÃY ĐI!
Và tôi phải trả lời: “Lạy Chúa, này con đây. Xin hãy sai con.”
14. Bà mẹ truyền giáo
Trong một bài tiểu luận, một bé gái mười hai tuổi đã viết: “Khi
tôi được yêu cầu viết về một nhà truyền giáo tôi biết, một vài nhân vật xuất hiện
trong tâm trí tôi, như Mẹ Têrêxa, rồi tôi dừng lại và suy nghĩ: ‘Tôi không thể
viết về một trong những người vĩ đại đó vì tôi không thực sự biết họ. Đúng là
tôi đã nghe tên, đã đọc và nghe kể về họ, nhưng tôi không biết được họ như thế
nào’.
‘Nhà truyền giáo tốt mà tôi nghĩ đến là mẹ tôi. Điều này nghe có
vẻ lạ tai nhưng tôi chắc chắn là một nhà truyền giáo không cần được thụ phong.
Việc truyền giáo của mẹ tôi là làm một bà nội trợ và một người mẹ cho tôi và cả
gia đình. Mẹ tôi không bao giờ ích kỷ và coi mình là người thứ nhất trong gia
đình. Tôi không bao giờ bị bỏ đói hoặc thiếu thốn tình thương dạt dào của mẹ.
Đúng như các nhà truyền giáo, mẹ tôi phải can đảm nhiều lắm. Bà có thể dễ dàng
chơi bingo và bỏ quên tôi, nhưng bà không làm thế. Hy sinh lớn nhất của bà là
nghĩ đến tôi trước bản thân mình. Tôi thật may mắn có một bà mẹ truyền giáo.”
Chúa không sai tôi đi đâu xa, dạy những điều xa lạ, mà chỉ cần
tôi để mặc Ngài làm việc trong tôi, như công cụ cho tình yêu của Ngài. Đó là
truyền giáo.
15. Bình an cho ai có Chúa
Một người phụ nữ nói: “Tôi luôn cảm thấy rắc rối khi hòa hợp hai
câu Kinh thánh: “Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” và Thiên Chúa
là tình yêu” Thế rồi một hôm, tôi đọc được một điều giúp ích cho tôi rất nhiều,
đó là câu nói của Rod McKuen: “Tôi yêu biển, nhưng điều đó không làm tôi cảm thấy
ít sợ biển hơn”
Rod McKuen muốn nói gì, nó cho thấy một cái nhìn sắc sảo ra sao
rằng tình yêu và sự kính sợ có thể cùng tồn tại trong mối quan hệ giữa tôi với
Thiên Chúa?
Mong gặp Chúa, sợ mất Chúa, và tìm thấy niềm vui trong những gì
dẫn ta tới Chúa. Hãy làm như thế và bạn sẽ gặp an bình lớn lao. (Thánh Têrêsa
Avila)
16. Lời tâm huyết cho đời người
Grace Kelly, công nương xứ Monaco, là con gái của Jack Kelly.
Ông này đã khởi sự lập nghiệp như một thợ nề ở Philadelphia, rồi trở thành giám
đốc công ty xây dựng. Trong di chúc, ông đã viết cho con cái ông như sau: “Cha
chỉ cho các con của cải thế gian. Nhưng nếu được lựa chọn, cha muốn cho các con
phẩm cách” Trong bài đọc hôm nay, Đavít cũng đưa cho Salomon một ý tương tự.
Nếu hôm nay tôi chết, tôi sẽ nói với những người tôi yêu thương
lời khuyên gì? Tôi thể hiện lời khuyên đó thế nào trong cuộc sống hiện tại của
tôi?
Điều nghiêm trọng mà thế hệ trẻ phải đối diện, đó là tấm gương
mà thế hệ trước để lại. (E.C. McKenzie)
17. Tại sao Chúa bảo không mang gì
Chủng sinh Richard Roos muốn biết rõ cảm giác khi không có đồ ăn
thức uống và tiền bạc. Vào một Mùa Chay, anh đi ăn xin và cuốc bộ 800 dặm từ
SanDiego đến San Francisco. Anh viết: “Mỗi buổi chiều, khoảng hai hay ba giờ,
tôi bắt đầu thấy lo lắng không biết đêm nay tôi ngủ ở đâu. Và dĩ nhiên, tôi cảm
nhận được sự bất lực của cái nghèo. Khi bạn đến gõ cửa để xin ăn và trú ngụ, bạn
sẽ cảm thấy mình quá bần cùng. Khi bạn ngửa tay ra trước người khác và tùy thuộc
vào sự định đoạt của họ, bạn không có bất cứ quyền lực nào cả”
Tại sao Chúa Giêsu bảo các môn đệ không mang tiền bạc hay lương
thực? Liệu hôm nay người có còn nói với họ như thế không?
Khi một người bắt đầu mặc bộ đồ gấm, người ấy thật khó mà dậy sớm
được (Jockey E.Arcaro).
18. Gia đình truyền giáo
Tại trại hè quốc tế với chủ đề loan báo Tin mừng, cô gái đến từ
Phi Châu đã trình bày một phương cách gây ấn tượng nhất cho các tham dự viên
qua kinh nghiệm sau đây: “Khi muốn rao giảng Kitô giáo cho một làng ngoại giáo,
các Kitô hữu tại nước tôi không gởi đến đó sách báo hay các nhà thừa sai, nhưng
cử đến làng một gia đình Kitô hữu tốt lành. Gương sáng của gia đình ấy sẽ cải
hoá cả làng."
Đời sống thuận hoà yêu thương giữa vợ-chồng và cha mẹ-con cái, đặc
biệt sự hoà hợp giữa hai con tim trong gia đình Kitô giáo luôn là dấu ấn cho
các gia đình chung quanh. Nếu mỗi Kitô hữu là một tông đồ với sứ mạng đem Chúa
Kitô đến cho người khác, thì mỗi gia đình Công giáo cũng phải là tổ ấm tông đồ
tỏa lan ánh sáng Giêsu, là muối, là men Tin Mừng cho các gia đình hàng xóm lân
cận.
“Hãy truyền đạo đức lại cho con cái bạn, chỉ có đạo đức mới làm
chúng sung sướng, chứ không phải tiền bạc” (nhạc sĩ Beethoven). Nền tảng đem lại
hạnh phúc cho gia đình là yêu thương quên mình và đạo đức, chứ không phải tiền
bạc và tiện nghi hưởng thụ. Đó cũng là phương cách hữu hiệu để loan báo Tin Mừng
cho người hôm nay.
Gia đình tôi sẽ hoạch định một phương cách cụ thể giới thiệu
Chúa Giêsu cho các gia đình lân cận.
THỨ SÁU – GIOAN TẨY GIẢ BỊ TRẢM QUYẾT
Lời Chúa: Mc 6, 14-29
Khi ấy, vua Hêrôđê nghe nói về Chúa Giêsu, vì danh tiếng Người
đã lẫy lừng, kẻ thì nói: "Gioan Tẩy giả đã từ cõi chết sống lại, nên ông
đã làm những việc lạ lùng"; kẻ thì bảo: "Ðó là Êlia"; kẻ khác lại
rằng: "Ðó là một tiên tri như những tiên tri khác.” Nghe vậy, Hêrôđê nói:
"Ðó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại.”
Vì chính vua Hêrôđê đã sai bắt Gioan và giam ông trong ngục,
nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan đã
bảo Hêrôđê: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình.” Phần Hêrôđia,
nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hêrôđê kính nể
Gioan, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông
nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe.
Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hêrôđê, khi vua thết
tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ
Galilêa. Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các
quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: "Con muốn gì, cứ xin,
trẫm sẽ cho", và vua thề rằng: "Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước,
trẫm cũng cho.” Cô ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì?" Mẹ cô đáp: "Xin
đầu Gioan Tẩy Giả.” Cô liền vội vàng trở vào xin vua: "Con muốn đức vua
ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa.” Vua buồn lắm, nhưng vì lời
thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức,
vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục
chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ.
Nghe tin ấy, các môn đệ Gioan đến lấy xác ông và mai táng trong
mồ.
TRUYỆN KỂ
Đa-vít và Hê-rô-đê là hai vị vua có nhiều điểm giống nhau.
Đa-vít say mê sắc dục. Chiếm vợ của U-ri-gia. Lại còn giết chết U-ri-gia.
Hê-rô-đê cũng say mê sắc dục. Chiếm đoạt bà Hê-rô-đi-a là vợ của Phi-líp-phê,
anh vua.
Nhưng càng về sau hai vị vua càng khác biệt. Được Na-than nhắc
nhở, Đa-vít tỉnh ngộ và ăn năn sám hối. Nhưng Hê-rô-đê chỉ lưỡng lự phân vân.
Sau đó còn nghe lời tình nhân, giết chết Gio-an Tẩy giả.
Từ khi ăn năn sám hối, Đa-vít sống tốt lành thánh thiện. Luôn
tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Đặc biệt ông dùng tài ca nhạc, sáng tác ca tụng
Thiên Chúa. “Với trọn cả tâm tình, ông hát lên những khúc thánh thi tỏ lòng yêu
mến Đấng tạo thành ông.” Ông còn sắp đặt lễ nghi phượng tự cho long trọng. Vì
thế “Đức Chúa đã xoá bỏ tội lỗi của ông và nâng cao uy thế ông luôn mãi” (năm
chẵn).
Còn Hê-rô-đê vì lưỡng lự nên không những không tiến bộ mà ngày
càng lún sâu vào tội ác. Nếu Đa-vít dùng đàn ca ca tụng Thiên Chúa, thì
Hê-rô-đê bị đàn ca mê hoặc đến nỗi đưa ra những lời hứa nhẹ dạ. Nếu Đa-vít
khiêm tốn nhận mình tội lỗi, thì Hê-rô-đê sĩ diện, lỡ hứa rồi, biết là nông nổi,
nhưng không dám rút lại. Nếu Đa-vít nghe lời can gián, thì Hê-rô-đê giết người
can ngăn mình phạm tội. Vì thế triều đại Đa-vít bền vững mãi mãi. Còn triều đại
Hê-rô-đê mau chóng suy tàn.
Thư Do thái khuyên nhủ ta hãy noi những tấm gương ấy mà chọn một
con đường tốt đẹp. “Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng lời Chúa
cho anh em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của
họ. Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến
muôn đời.” Chúa vẫn thế. Thế cuộc đổi thay. Nhưng những nguyên tắc đạo đức ở
trong thánh ý Chúa không hề thay đổi. Vẫn là kim chỉ nam đưa ta đến sự sống.
Xin cho con noi gương thánh vương Đa-vít. Biết sám hối tội lỗi.
Và dành thời gian còn lại của đời sống đền bù lỗi lầm. Ca tụng tôn vinh Chúa.
2. Một học sinh can đảm.
Một học sinh Nhật là Kitô hữu duy nhất trong ngôi trường có 150
học sinh. Trước mỗi bữa ăn, em thường mạnh dạn làm dấu thánh giá và đọc kinh.
Các học sinh đến tố cáo với thầy giáo là em có “hành vi ma thuật.” Nghe thấy thế,
thầy cho gọi em lên đứng giữa lớp, hỏi xem em đã làm gì?
Em thẳng thắn nói rằng em chỉ cám ơn Chúa đã ban lương thực hằng
ngày. Nghe vậy, thầy giáo gục xuống bàn, nước mắt ràn rụa nói: “Này con, ta
cũng là Kitô hữu, nhưng ta không can đảm tỏ ra cho mọi người biết. Giờ thì cảm
ơn Chúa, ta đã biết là Kitô hữu, mình phải làm gì” (Góp mặt).
3. Con người yếu đuối
Herode là hình ảnh của những con người yếu đuối, hướng chiều
theo tội lỗi. Sở dĩ ông tống ngục ông Gioan Tẩy Giả là cũng vì nghe lời
Hêrôđiađê xúi giục, chứ riêng ông thì ông kính sợ Gioan Tẩy Giả vì biết Gioan
là người công chính thánh thiện. Máccô viết: “Ông che chở người. Khi nghe ông
nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại thích nghe.” Hêrôđê đúng là mẫu người yếu
đuối, buông theo sự dễ dãi đến khi muốn trở lại thì đã quá trễ không thế làm lại
được nữa.
Một chú vịt trời theo đàn bay về phương Bắc. Một buổi chiều khi
đáp xuống một nông trại, chú vịt trời thấy đàn vịt nhà đang ăn bắp, liền nhảy
lên để được ăn. Bữa ăn ngon làm nó không muốn bay theo đàn nữa, nó tự nhủ: để
mai mốt mình bay theo cũng không muộn.
Nhưng rồi ngày qua ngày nó vẫn ở với đàn vịt nhà để được nuôi
ăn. Mùa thu đến, đàn vịt trời bay từ hướng Bắc xuống hướng Nam: các bạn cũ kêu
nó trở về khi bay qua nông trại. Chú vịt trời ráng sức dập cánh bay lên, nhưng
đôi cánh bây giờ quá yếu, nó chỉ bay được lên nóc nhà rồi lại rơi xuống đất. Đời
sống dễ dãi ở đây đã làm nó không thể bay được như xưa. Nó đành đứng nhìn đàn vịt
trời bay xa dần.
Từ đó mỗi mùa xuân và mùa thu, chú vịt trời đều thấy các bạn cũ
bay qua hướng Bắc rồi trở về hướng Nam.
Mới đầu nó còn thèm thuồng số phận đó, nhưng dần dần ước vọng mờ
tan, nó yên lòng sống dưới đất với đàn vịt nhà trong trang trại!
4. Hình ảnh cho tiếng lương tâm
Bộ Tam Quốc Chí thuật lại chuyện Tào Tháo bị ảo giác trước khi
chết: ông thấy oan hồn những người đã bị ông ám hại, nay hiện về đòi mạng. Dưới
góc độ tâm lý học, nỗi ám ảnh như thế là hậu quả của tiếng lương tâm suốt đời bị
bóp nghẹt nay vùng dậy như một tiếng kêu gào, đòi chủ thể của nó phải trả món nợ
trách nhiệm về những sai trái ông đã gây ra.
Gioan Tẩy Giả chính là đại diện cho tiếng nói lương tâm. Lời của
ông là lời của công lý, nhà vua “rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.” Thế
nhưng dục vọng đã khiến tiếng nói ấy bị bóp nghẹt, nhà vua “nhắm mắt đưa chân”
làm điều xằng bậy và cuối cùng “tay cũng nhúng chàm” sát hại con người dám can
gián ông và nói cho ông điều hay lẽ phải.
Chém đầu Gioan là Hêrôđê “chém” chính lương tâm của mình. Không
lạ gì một người độc ác như ông lại bị ám ảnh sâu xa bởi cái chết của Gioan Tẩy
Giả đến thế.
Chẳng có ai nội trong một sớm một chiều “chém đầu” lương tâm.
Ngay từ đầu người ta cũng “thích nghe” tiếng lương tâm đấy chứ! Thế nhưng chỉ
vì người ta đã “phân vân”, do dự, thoả hiệp với sự ác thay vì mau mắn quyết liệt
và triệt để nghe theo lẽ phải mà người ta đi dần đến chỗ “bịt miệng”, “bỏ tù”
lương tâm. Từ đó đến chỗ “xử trảm” lương tâm nào có còn bao xa!
5. Đừng quên tình huynh đệ
Patt Blue, một nhiếp ảnh viên của tạp chí Life, trong một chuyến
công tác dài ở một bệnh viện. Tại đó, cô đã làm quen với Carrie, một nạn nhân của
chứng xơ cứng cơ thể. Trong bài báo ngày 17.9.1979, Patt viết: “Các y tá hay những
người khác xem ra không thích công việc của mình. Khi Carrie được đặt vào xe
lăn, chẳng ai muốn nói chuyện với cô ấy như một con người. Khi cô ngã xuống, chẳng
ai vực cô dậy”
Việc Carrie bị quên lãng và lời Chúa trong bài đọc hôm nay mời gọi
tôi tự hỏi: Tôi quan tâm thế nào đến những người cần được tôi chăm sóc?
Trong tất cả những tiếng nhạc từ trái đất, tiếng vang xa tới
thiên đàng là nhịp đập của trái tim yêu thương thực sự (Henry Ward Beecher).
6. Tình yêu nối kết
Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi. Năm 23 tuổi, ông tìm gặp
Chúa Giêsu Kitô. Năm 26 tuổi, ông gia nhập Đan viện Trappist ở Gethsemane,
Kentucky. Ông vẫn sống ở đây cho đến lúc chết vào năm 1969. Mark Van Doren đã
có những lời ca ngợi Merton như sau: “Chai rượu ngon nhất nghiêng xuống và đổ
ra. Muốn chụp lấy và giữ lại, nhưng không ai có thể. Giờ đây, chẳng còn lại gì,
ngoại trừ hương vị”
Tác giả sách Huấn ca cũng đã ca tụng Đavít bằng những lời tương
tự trong bài đọc hôm nay.
Tôi muốn được người ta ca ngợi như thế nào sau khi tôi chết?
Khi con người đó chết, hãy đón lấy và chia ra những tinh tú. Và
anh ta sẽ làm nên bề mặt của thiên đàng, thật quá tuyệt. Tất cả thế giới sẽ
liên kết trong tình yêu, ngay cả giữa bóng đêm. Và như vậy chúng ta không thể tôn
thờ mặt trời rực rỡ nữa (W. Shakespeare).
7. Lương tâm cần đến việc làm
Nhà tự nhiên học Henry Đavít Thoreau thà vào tù còn hơn là nộp
thuế thân để ủng hộ cho cuộc chiến tranh Mêxicô. Như nhiều người, ông thấy rằng
chiến tranh chẳng qua là một biện pháp để mở rộng lãnh thổ chiếm giữ nô lệ. Ông
không thể ủng hộ chính phủ khi chính phủ ủng hộ chế độ nô lệ. Ralph Waldo
Emerson, một người cũng ghét chế độ nô lệ, đến thăm ông trong tù và nói:
“Henry, tại sao anh lại ở đây?” Henry đáp: “Waldo, tại sao bạn lại không vào
đây?”
Gioan Tẩy giả và Henry Đavít Thoreau phải trả giá vì dám chống lại
điều ác. Đã khi nào tôi đã trả giá vì đối đầu với sự ác chưa? Tôi có thể làm gì
khi giá đó quá cao?
Điều cần duy nhất để sự ác chiến thắng là những người tốt đừng
làm gì cả (Edmund Burke).
8. Sống theo sự thật
Đã bao lần các vị hữu trách trong ngành giáo dục nước nhà quyết
tâm “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong học tập,” thế
nhưng bệnh tình xem chừng không thuyên giảm mà còn có phần nặng nề hơn. Việc
“nói thật, sống thật, quý nhất sự trung thực…” lắm khi chỉ còn là câu chuyện đầu
môi chót lưỡi, là câu nói ngoại giao… Còn thực tế lại là nói một đàng làm một nẻo,
sợ sự thật, bưng bít sự thật,…
Tấm gương Tin Mừng soi rọi cung cách của hai mẫu người đứng trước
sự thật: Gioan Tẩy Giả làm chứng cho sự thật bằng lời nói và hy sinh cả mạng sống
của mình; đối lại, Hêrôđê dẫu biết sự thật tội lỗi của mình nhưng không dám chấp
nhận sự thật để hối cải lại còn sát hại cả Gioan Tẩy Giả là người đã nói sự thật
cho mình.
Khi không sống theo sự thật chúng ta trở nên nô lệ cho sự giả dối,
và thuộc về ma quỷ, bởi vì ma quỷ là “kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga
8,44). Trái lại, sự thật sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8,32), và sâu xa nhất là
giải thoát khỏi tội lỗi để thuộc về Thiên Chúa. Khi bạn chọn sống theo sự thật,
dẫu bạn phải trả giá rất đắt nhưng đổi lại bạn đạt được kho tàng vô giá là mãi
mãi bạn được thuộc về Chúa.
Hãy tập tôn trọng và yêu mến sự thật bắt đầu từ trong lời nói đến
một việc làm cụ thể.
9. Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy
Trích truyện tử đạo của thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn do một
tác giả cùng thời thuật lại.
Thật là kỳ diệu khi thấy các vị tử đạo bị treo trên khổ giá mà tất
cả đều một niềm kiên trung theo lời cha Pa-xi-ô và cha Rót-ri-ghê lần lượt
khuyên bảo. Cha đặc uỷ vẫn ở yên dường như bất động, mắt đăm đăm nhìn trời. Để
cảm tạ lòng nhân từ của Chúa, thầy Mác-ti-nô hát mấy thánh vịnh kèm theo câu :
Trong tay Ngài, lạy Chúa. Thầy Phanxicô cũng lên tiếng dõng dạc tạ ơn Thiên
Chúa. Thầy Gun-xan-vô thì cất cao giọng đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng.
Phao-lô Mi-ki, người anh em của chúng tôi, khi thấy mình ở nơi
cao trọng hơn hết mà trước kia chưa bao giờ được ở, trước tiên đã nói cho những
người đứng chung quanh biết mình là người Nhật và thuộc dòng Tên, mình chết vì
loan báo Tin Mừng và tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân cao cả đó, rồi thêm những lời
sau đây : “Đã đến lúc này, tôi thiết tưởng không ai trong quý vị lại tin rằng
tôi muốn che giấu sự thật. Vậy tôi xin tuyên bố cùng quý vị là không có con đường
nào đưa tới ơn cứu độ, ngoài con đường các Ki-tô hữu đang đi. Vì con đường đó dạy
tôi tha thứ cho kẻ thù và mọi người đã xúc phạm đến tôi, nên tôi vui lòng tha
thứ cho nhà vua và mọi người đã gây ra cái chết cho tôi, và tôi xin họ hãy ao ước
đón nhận bí tích Thánh Tẩy của người Ki-tô hữu.”
Rồi đưa mắt nhìn các bạn, người khuyến khích họ trong cuộc chiến
đấu cuối cùng này. Trên nét mặt mọi người thấy rạng rỡ một niềm vui, nhất là niềm
vui trên gương mặt Lu-y.
Khi một Ki-tô hữu nói lớn với người rằng chẳng bao lâu nữa người
sẽ ở trên thiên đàng, thì các ngón tay và toàn thân người biểu lộ niềm vui chan
chứa, khiến ai nấy đều đưa mắt nhìn người.
An-tôn, ở bên cạnh Lu-y mắt đăm đăm nhìn trời, sau khi kêu tên cực
trọng Giê-su, Ma-ri-a, thì xướng thánh vịnh đã học được trong lớp giáo lý ở
Na-ga-xa-ki : Hỡi tôi tớ Chúa, hãy dâng lời ca ngợi. Quả vậy, trong lớp đó, để
dạy giáo lý, người ta cho các trẻ em học thuộc lòng một số thánh vịnh.
Sau hết, người thì lặp lại nhiều lần “Giê-su, Ma-ri-a” với nét mặt
bình thản, người thì khuyên bảo những kẻ đứng chung quanh sống sao cho xứng
danh Ki-tô hữu. Với những hành vi tương tự, các ngài tỏ ra sẵn sàng chịu chết.
Bấy giờ, theo thói quen của người Nhật, bốn đao phủ rút kiếm ra
khỏi bao : thấy cảnh tượng khủng khiếp đó, mọi tín hữu kêu lên : “Giê-su,
Ma-ri-a”, tiếng khóc than thảm thiết tiếp theo sau vang lên thấu tận trời.
Trong khoảnh khắc, các đao phủ đã kết liễu cuộc đời mỗi vị bằng một hay hai
nhát kiếm.
THỨ BẢY - DUNG MẠO YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA GIÊSU
Lời Chúa: Mc 6, 30-34
Khi ấy, các tông đồ hội lại bên Chúa Giêsu và thuật lại với Người
mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy.
Người liền bảo các ông: "Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà
nghỉ ngơi một chút." Vì lúc ấy dân chúng đến tấp nập đến nỗi các tông đồ
không có thì giờ ăn uống. Vậy các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo
lánh. Thấy các ngài đi, nhiều người hiểu ý, và từ các thành phố, người ta đi bộ
kéo đến nơi đó và tới nơi trước các ngài.
Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động
lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều.
TRUYỆN KỂ
1. Dung mạo Chúa Giêsu
Manio Flajano, văn sĩ, ký giả
kiêm đạo diễn người Italia, qua đời năm 1972, đã để lại những trang nhật ký thật
cảm động: năm 1942, đứa con gái 8 tuổi của ông bị bệnh sưng màng óc và kéo lê
cuộc sống tàn tật đó cho đến năm 1992. Nhìn đứa con mà lòng đau xót, nhưng người
cha vẫn đặt tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa.
Trong một trang nhật ký, ông viết:
"Một người đàn ông nọ dẫn đến cho Chúa Giêsu đứa con gái bệnh tật và nói với
Ngài: "Con không muốn chữa lành nó, nhưng chỉ xin Chúa yêu thương nó mà
thôi." Chúa Giêsu cúi xuống hôn đứa bé mà nói: "Ta nói thật, người
đàn ông này đã xin điều mà có thể cho được."
Nói xong, Chúa Giêsu biến đi
trong ánh sáng chói ngời bỏ lại một đám đông tiếp tục bàn tán về các phép lạ,
còn các nhà báo thì cố gắng mô tả các phép lạ."
Những dòng trên đây của Flajano
đưa chúng ta vào trọng tâm của Tin Mừng. Thật thế, Tin Mừng không phải là một mớ
lý thuyết hay giáo điều, Tin Mừng cũng không phải là một Thiên Chúa cao xa trừu
tượng. Tin Mừng thiết yếu là một con người bằng xương bằng thịt, với một trái
tim dễ rung động và biết yêu thương.
2. Dây cung sao không căng mãi?
Người ta đồn rằng thánh Gioan
tông đồ thích chơi với chim sẻ nuôi trong nhà. Ngày kia, một thợ săn đến thăm
và rất ngạc nhiên thấy một người nổi tiếng như vậy mà lại vui chơi. Ông nghĩ có
thể dùng thời giờ đó làm một việc tốt lành và quan trọng. Nên ông hỏi: “Tại sao
ngài lãng phí thì giờ vui chơi? Sao ngài lại dành thì giờ cho một chú chim sẻ
vô dụng thế?"
Thánh Gioan nhìn anh với vẻ ngạc
nhiên. Tại sao ông ta không vui chơi? Vì thế, ngài hỏi ông: “Tại sao dây cung của
ông không kéo căng ra?"
“Nó không thể kéo căng, vì như
thế dây cung sẽ mất độ đàn hồi và không thể bắn tên."
Thánh Gioan bảo ông: “Này bạn,
anh cần thả lỏng dây cung, nghĩa là anh cũng phải giải thoát sự căng thẳng
trong anh và nghỉ ngơi. Nếu tôi không nghỉ ngơi và giải trí, tôi sẽ không có sức
cho bất kỳ công việc hệ trọng nào. Tôi cũng sẽ không có sức làm những việc tôi
phải làm và cần làm, đòi hỏi sự chú tâm hoàn toàn của tôi."
3. Ly nước nặng bao nhiêu?
Nghỉ ngơi cần thiết và có lợi.
Trong một buổi thuyết trình về vấn
đề thư giãn trong cuộc sống, người dẫn chương trình giơ cao một ly nước lên và
hỏi khán giả:
- Quý vị thử đoán xem ly nước
này nặng bao nhiêu?
- Điều đó còn tùy thuộc vào chuyện
anh cầm nó trong bao lâu chứ? Một khán giả nói.
- Đúng vậy – Người dẫn chương
trình trả lời – Nếu tôi cầm nó trong một phút thì không có gì đáng nói. Nhưng nếu
tôi cầm nó trong một tiếng đồng hồ thì tay tôi sẽ mỏi. Còn nếu tôi cầm nó cả một
ngày, quý vị sẽ phải gọi xe cấp cứu cho tôi. Cùng một khối lượng, nhưng mang nó
càng lâu thì nó càng trở nên nặng hơn.
Trong cuộc sống cũng vậy. Nếu
chúng ta cứ liên tục chịu đựng gánh nặng, nó sẽ càng ngày càng trở nên trầm trọng.
Không sớm thì muộn chúng ta gục ngã. “Điều quý vị phải làm là đặt ly nước xuống
nghỉ một lát, rồi lại tiếp tục cầm nó lên."
Thỉnh thoảng, chúng ta phải biết
đặt gánh nặng cuộc sống, nghỉ ngơi lấy sức để còn tiếp tục mang nó trong quãng
đời tiếp theo. Mỗi ngày, chúng ta đều cần phải có giây phút nghỉ ngơi, không bận
tâm đến bất kỳ một gánh nặng nào.
4. Động viên không cần lời
Abraham Lincoln là vị tổng thống
Hoa kỳ đã phải đương đầu với cuộc nội chiến tang thương nhất trong lịch sự đất
nước. Ngày nọ, căng thẳng gần như điên cuồng, ông đã nhờ người về nơi sinh quán
của mình là Kentusky để mời cho được người bạn già đến thủ đô Washington cho
ông tham khảo ý kiến. Hai người bạn mừng mừng tủi tủi khi gặp nhau. Sau những
giờ phút tâm tư, tổng thống Lincoln cảm thấy tươi vui hẳn lên.
Về sau có người hỏi ông đã làm
gì để tổng thống phấn khởi lên như thế. Người bạn già của tổng thống cho biết:
tổng thống không bàn hỏi với ông bất cứ điều gì có liên quan đến chiến tranh
hay chuyện đất nước. Ông cũng cho biết là ông chỉ ngồi thinh lặng để lắng nghe
tổng thống trút hết nỗi lòng của mình.
5. Tình yêu biết quan tâm là sức
mạnh cho cuộc sống
Cha Badinger Germain người Pháp
kể lại rằng: “Một buổi sáng nọ tôi có hẹn với một thiếu nữ trong một quán cà
phê vào lúc 6 giờ sáng. Cô ta thất vọng về cuộc đời. Tôi gắng hết sức để thuyết
phục khuyên bảo cô, nhưng vô ích. Sau đó, đến 7 giờ 30 phút, cô phải đến sở
làm. Đến 9 giờ cô điện thoại lại cho tôi. Giọng của cô thật vui tươi.
Ngạc nhiên, tôi hỏi lý do thì cô
giải thích rằng:
- Chính người bán vé xe điện ngầm
đã làm cô thay đổi. Và cô nói thêm: “Thực ra, lúc đầu con chỉ có ý gặp cha để
than van chứ chẳng muốn nghe cha khuyên giải điều gì. Sau khi rời quán cà phê
đi đến trạm xe điện ngầm, con đã gặp bà bán vé xe điện thật dễ thương. Bà đã cười
thật tươi và nói:
- Chà, cô mặc áo đẹp quá. Màu thật
là hợp với màu tóc của cô.
Ngạc nhiên, con hỏi lại:
- Tại sao bà lại khen tôi như thế
?
Bà ta giải thích:
- Cô coi, trong nghề của tôi,
không có gì nhàm chán cho bằng cả ngày chỉ có một động tác đổi những vé xe điện
ngầm này để lấy tiền. Vì thế, để tạo cho cuộc đời và công việc nhàm chán này một
ý nghĩa, tôi cố gắng nhìn xem trong đám những khách hàng của tôi có điều gì để
khuyến khích họ không, nhất là khi tôi thấy họ có vẻ buồn bực hoặc cáu kỉnh.
Thí dụ, đối với ông nọ tôi nói: “Chà ông hai có cà vạt đẹp quá." Ông ta
bèn chỉnh lại cà vạt rồi mỉm cười.
Vừa rồi khi thấy cô bước đến,
đôi mắt đỏ hoe, tôi nghĩ: “Cô này chắc có điều gì đau khổ đây, mình phải nói một
câu gì đó dễ thương với cô. Cô thấy không, làm như thế là đem lại cho cuộc sống
một ý nghĩa. Nếu tôi không làm như thế, thì trong nghề của tôi thực không có gì
là thích thú."
Đúng là người phụ nữ bán vé xe
điện ngầm này đã biết quan tâm đến người khác và sự quan tâm ấy đã đem đến một
niềm vui thanh thản cho chị.
6. Đón nhận sức mạnh từ Kinh
Thánh
Chúng ta biết thủ tưởng Ấn Độ là
ông Gandhi, dù ông không phải là người Công giáo, nhưng ông rất say mê đọc
Thánh Kinh, đây là sách gối đầu giường của ông, ông thường nghiềm ngẫm vài
chương trước khi đi ngủ, và khi vừa thức dậy!
Nhờ đức tin này mà ông đã đuổi
quân đội Anh quốc về, trả độc lập tự do cho dân tộc Ấn, không những thế, người
Anh còn giúp Ấn Độ kiến thiết đất nước như một nước đồng minh!
Hỏi có nhà cách mạng nào trên trần
gian này dành độc lập cho dân tộc lại không hao tốn tiền của, sức lực, xương
máu? Chỉ có ông Gandhi, không mất một giọt mồ hôi, một đồng xu nào để giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang.
Với trải nghiệm ấy, ông nói: “ĐỜI
CHỈ THÀNH CÔNG, BAO LÂU NGƯỜI TA DÁM THÍ NGHIỆM SỐNG CHÂN LÝ!” Mà chỉ có Lời
Chúa mới thực sự là chân lý! (x Ga 18,38)
7. Biết sống tự do
Phillip Parham thuật câu chuyện
về một thương gia giàu có khó chịu mất bình an khi thấy một ngư phủ đang ngồi
nhàn hạ biếng nhác bên cạnh thuyền của ông. Ông hỏi: "Tại sao anh không ra
ngoài khơi đánh cá?" Ngư phủ đáp: "Vì tôi đã đánh đủ số cá cho ngày
hôm nay?" Thương gia hỏi: "Tại sao anh lại không bắt nhiều cá hơn số
mình cần?" Ngư phủ hỏi lại: "Tôi sẽ dùng chúng để làm gì?"
Vị thương gia trả lời: "Anh
có thể kiếm thêm tiền và mua được thuyền tốt hơn, lớn hơn để có thể đi ra ngoài
khơi xa hơn, bắt nhiều cá hơn và kiếm thêm tiền. Chẳng bao lâu anh sẽ có cả một
đoàn thuyền và giàu có như tôi." Ngư phủ hỏi: "Rồi tôi biết làm gì với
sự giàu có đó?"
Vị thương gia nói: "Lúc đó
anh có thể ngồi xuống vui hưởng cuộc đời."
Ngư phủ đáp trong lúc đôi mắt
bình thản nhìn ra biển cả: "Thế ông nghĩ tôi đang làm gì bây giờ?"
8. Lời kinh
đẹp nhất thiên niên kỷ.
Đó là cuốn sách nhỏ, ghi lại 50 lời cầu nguyện của nhiều người.
Mỗi lời nguyện đều chất chứa nỗi lòng, tình yêu, sự tha thiết của những con người
thích chìm trong cầu nguyện.
Lời cầu nguyện số 4 gây trong tôi nhiều cảm động và ấn tượng. Đó
là lời cầu nguyện bộc lộ lòng yêu mến Chúa lớn lao, lòng yêu mến chất chứa đầy
nghị lực. Tác giả của lời cầu nguyện ấy là bà Vérônique, một phụ nữ Pháp sống ở
Cameroun. Tính đến năm 1979, bà đã 58 tuổi, nhưng phải sống và làm bạn với căn
bệnh phong đến 55 năm, và 20 năm đui mù. Lời cầu nguyện của bà như sau:
“Lạy Chúa, Chúa đã đến và đã xin con tất cả. Và con, con cũng đã
hiến dâng cho Chúa tất cả. Xưa kia con ưa thích đọc sách, và Chúa đã muốn mượn
đôi mắt của con. Ngày trước con thích chạy nhảy trong những khu rừng thưa, và
Chúa đã muốn mượn đôi chân của con. Mỗi độ xuân về, con tung tăng hái lượm những
cánh hoa tươi, và Chúa lại xin con đôi tay.
"Bởi con là một phụ nữ, con ưa ngắm nhìn suối tóc óng ả của
con, ưa ngắm nhìn những ngón tay thon nuột xinh xắn của con, thế mà giờ đây, đầu
con hầu như chẳng còn sợi tóc nào, cũng chẳng còn đâu những ngón tay hồng xinh
xinh nữa, chỉ còn lại một vài que củi khô queo nham nhúa.
"Chúa ơi, Chúa hãy nhìn xem: cái thân thể diễm kiều của con
đã bị hủy hoại đến độ nào. Thế nhưng, con không hề muốn nổi loạn, con lại muốn
dâng lên Chúa lời tạ ơn… Ôi lạy Cha, Tình Yêu của con, con xin dâng Cha căn bệnh
phong cùi thân xác của con, để cho những người thân yêu kia đừng bao giờ biết đến
nữa, cái đắng cay, cái lạnh lẽo kinh hồn của căn bệnh cùi tâm hồn...”
Lời kinh phản chiếu trái tim nhân hậu của Chúa Cứu Thế:
"Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng
thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều."
9. Cần nghỉ ngơi đôi chút
Một nhà thám hiểm vùng Amazon
(Braxin) cố gắng thực hiện một cuộc hành trình cấp tốc băng qua khu rừng già. Tất
cả đều tốt đẹp trong hai ngày đầu. Nhưng đến này thứ ba, những thổ dân khuân
vác không chịu di chuyển, họ nói: “Chúng tôi không thể tiếp tục nữa. Chúng tôi
phải để cho linh hồn và thể xác đồng nhịp với nhau.”
Tất cả chúng ta đôi khi cũng cần
phải dừng lại một chút để linh hồn theo kịp thể xác. Tiến sĩ William G.
Menninger viết: “Tôi khẳng định rằng các vị lãnh đạo cần dùng một ít thời gian
để xem xét mình đang đi về đâu… Bạn có biết là mình đang đi đúng hướng không,
và quan trọng hơn là bạn muốn đi về đâu?
Có ích lợi bất ngờ nào mà tôi đã
cảm nghiệm được qua việc thực hành suy tư trong thinh lặng không?
Hãy ở yên tĩnh trong nơi vắng vẻ,
và bạn sẽ gặp được Ngài trong chính bạn (Thánh Têrêsa).
10. Một mái chèo thuyền đứng tại
chỗ
Có một tu sĩ trẻ thắc mắc về
chăm ngôn của Dòng mình “Cầu nguyện và làm việc.” Rồi một ngày kia, Viện phụ bảo
anh chèo thuyền qua hồ với ngài. Viện phụ chèo trước, nhưng chỉ với một mái
chèo và kết quả là thuyền chỉ xoay tròn mà không đi được. Tu sĩ trẻ nói: “Thưa
cha, nếu không chèo hai mái, chúng ta sẽ chẳng đi được.” Viện phụ trả lời:
“Đúng, mái chèo bên phải là cầu nguyện, mái chèo bên trái là làm việc. Nếu
không hài hòa được chúng, con vẫn chỉ ở trong vòng xoáy.”
Tôi có luôn cố gắng giữ cân bằng
giữa công việc và cầu nguyện không? Tôi nhận thấy thế nào khi có sự cân bằng?
Mỗi kitô hữu cần cầu nguyện nửa
giờ mỗi ngày khi bận rộn. Nếu không bận lắm, cần cầu nguyện một giờ mỗi ngày
(Thánh Phanxicô Salêsiô).
11. Lòng nhân hậu
Trước tình trạng thất nghiệp trầm
trọng, một nhân viên chính phủ xúc tiến việc trợ giúp nông dân nghèo hạt giống
và một số cải tiến cần thiết. Ngày nọ, ông tình cờ gặp một phụ nữ ở khu đồi
Tennesse. Bà sống trong một căn nhà sàn bẩn thỉu, các cánh cửa sổ phủ đầy hắc
ín. Nhân viê chính phủ hỏi bà: “Nếu tôi cho bà 200 đô la bà sẽ làm gì?” Bà suy
nghĩ một lát rồi nói: “Tôi nghĩ là tôi sẽ cho người nghèo”
Câu truyện về người phụ nữ sau
đây và về Salomon mời gọi tôi tự hỏi: Tôi đã bị mù lòa độ nào bởi nhu cầu bản
thân, đến nỗi tình yêu của tôi không thấy được nhu cầu của anh em?
Tôi đã gặp trên đường phố một
thanh niên rất nghèo, nhưng biết yêu thương. Chiếc mũ của anh quá cũ, áo khoác
rách rưới và nước thấm qua cả đôi giày, nhưng có những tinh tú lấp lánh xuyên
qua linh hồn anh (Victor Hugo).
12. Cần có thời giờ để biết mình
Cách đây nhiều năm, bác sĩ
W.R.Luxton đã viết: “Tôi không cường điệu về tầm quan trọng của thói quen suy
tư trong thinh lặng đối với sức khỏe thể xác, tâm trí và linh hồn. Cuộc sống của
con người thời đại cực kỳ bất ổn. Chúng ta cần phải khám phá đời mình trong
thinh lặng và chậm rãi trước mặt Thiên Chúa”
Từ khi bắt đầu dành thời giờ để
cầu nguyện và suy tư trong thinh lặng, kinh nghiệm ấy đã tác động tôi ra sao?
Đôi khi chúng ta phải đi đây đó
để cảm nghiệm nỗi cô đơn. Chỉ những ai học cách sống trong cô đơn mới hiểu được
mình và cuộc đời. Tôi ra khỏi nhà, dạo bộ, nhìn ngắm cây cối và bầu trời. Tôi lắng
nghe âm thanh của cái vắng vẻ. Ngồi trên tảng đá… tôi nhủ thầm: Anh là ai,
Sandburg? Anh từ đâu đến và đang đi về đâu? (Carl Sandburg).
13. Nơi thanh vắng
Tại một đại hội giới trẻ, một
Giám mục Mỹ đã giảng một bài sôi nổi; trong đó, ngài lặp đi lặp lại ‘câu thần
chú’: “Giáo Hội cần những Kitô hữu điên!" Quan điểm của ngài thật rõ, Kitô
hữu phải đi ngược lại các xu hướng thời đại. Khi làm điều đó, bạn trông có vẻ
“điên”, nhưng nó lại trông giống Chúa Giêsu. “Điên” khi Kitô hữu trở nên công cụ
của Chúa cho tha nhân trong một thế giới ích kỷ; “điên” khi thực hiện công lý
trong một thế giới bất công; “điên” khi yêu thương trong một thế giới hận thù;
“điên” khi tha thứ trong một thế giới tranh chấp. Và hôm nay, bạn và tôi “điên”
khi cần cho mình một ‘nơi thanh vắng’ trong một thế giới điên đảo xô bồ hơn bao
giờ hết!
Thế giới đang quay; và xem ra mọi
người đang biến ‘sự bận rộn’ thành một ‘huy hiệu danh dự’. “Mọi chuyện thế nào,
thưa cha?”; “Khá điên! Khá bận!" Lời ấy mang một thông điệp ngầm, “Tôi
đáng giá, vì tôi bận." Không! Đó không phải là ‘huy hiệu danh dự’, nhưng
là dấu của một cuộc sống mất cân bằng, một sứ vụ mất cân đối, và một nội tâm mất
chiều sâu!
“Mọi vấn đề của nhân loại đều bắt
nguồn từ việc con người không thể ngồi yên lặng trong phòng một mình!” - Blaise
Pascal.
Lời
Chúa Tuần 4 Thường Niên
Thường
niên V-GS C-PS Ngoại
lịch
