LỜI CHÚA TUẦN 5 MÙA
THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNTN 5A - LÀ MUỐI,
LÀ ÁNH SÁNG
CNTN 5B - CẦU
NGUYỆN VÀ PHỤC VỤ
CNTN 5C - KẺ
CHINH PHỤC CON NGƯỜI
THỨ HAI - CHÚA
GIÊSU HOẠT ĐỘNG
THỨ BA - ĐIỀU
CHÍNH YẾU CỦA TIN MỪNG
THỨ NĂM - CHÚA
GIÊSU VÀ BÀ MẸ NGOẠI GIÁO
THỨ SÁU - CHÚA
GIÊSU VÀ NGƯỜI ĐIẾC
THỨ BẢY – PHÉP LẠ
HÓA BÁNH RA NHIỀU LẦN 2
CNTN 5A - LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG
Lời Chúa: Mt 5, 13-16
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con là
muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó
không còn sử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp
lên nó.
"Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên
núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy
thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà.
Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ,
để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".
TRUYỆN KỂ
1. Là muối, là ánh sáng
Anh em là muối cho đời: một định nghĩa tuyệt vời về người Kitô hữu.
Kitô hữu gắn liền với cuộc đời, hòa mình với mọi người, như muối thấm vào thức
ăn, giữ cho nó khỏi hư và thêm đậm đà.
Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng. Mặn thuộc về bản chất của
muối. Muối nhạt chẳng đáng gọi là muối, vì chẳng ướp được gì. Khi đánh mất bản
chất của mình, nó cũng hoàn toàn trở nên vô dụng.
Anh em là ánh sáng cho trần gian: một định nghĩa kinh khủng về
người Kitô hữu, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5). Chỉ Đức Giêsu
mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12). Anh em là ánh sáng vì anh em gần Thầy,
gần đèn thì sáng. Thế giới hôm nay tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhưng lại là một
thế giới nhạt nhẽo, mất ý nghĩa, một thế giới tối tăm và vẩn đục.
Chúng ta hay phàn nàn về sự xuống cấp, suy đồi, nhưng người Kitô
hữu ít khi nhìn nhận phần trách nhiệm của mình trước thực trạng đó.
Vì tôi là muối nhạt nên thế giới này vô vị. Vì tôi là đèn hết dầu,
nên thế giới còn nhiều bóng tối.
2. Nên thánh tự đáy lòng
Ngày xưa có một nhà nghiên cứu Thánh Kinh suốt ngày ở trong phòng
để tìm hiểu Lời Chúa và cầu nguyện, suy gẫm. Một hôm hay tin có một vị thánh
nhân đến thành phố mình, nhà nghiên cứu này hăng hái đi tìm.
Ông tìm ở các nhà thờ lớn mà không gặp. Ông tìm ở các nhà nguyện
nhỏ cũng không gặp. Tìm đến các dòng tu cũng không gặp. Cuối cùng đang khi đi
ngang chợ thì ông gặp được vị thánh ấy. Ông liền trình bày thao thức của mình,
cũng là lý do chính khiến ông muốn gặp vị thánh:
– Xin Ngài chỉ cho con biết làm thế nào để nên thánh.
Vị thánh hỏi lâu nay nhà nghiên cứu đã làm gì. Nhà nghiên cứu
cũng thành thật kể rõ mọi việc. Cuối cùng vị thánh đưa ra lời khuyên:
– Làm thánh trong phòng thì dễ thôi. Hãy ra chợ và cố gắng làm
thánh ở đó.
3. Titô và Fulton Sheen
Có những lời nói và việc làm rất là vô tình nhưng gây một ảnh hưởng
rất lớn. Đức Cha Fulton Sheen kể lại 2 câu chuyện như sau:
Tại Nam Tư, trong một lần giúp lễ, một cậu bé đã vô tình đánh
rơi lọ nước. Vị Linh mục tức giận tát cậu bé và thét lên: “Cút đi, đừng bao giờ
trở lại đây nữa”. Cậu bé đó đã không bao giờ trở lại nhà thờ nữa, bởi vì sau
này cậu đã trở thành nhà lãnh đạo Nước Nam Tư xã hội chủ nghĩa. Cậu bé ấy tên
là Titô.
Tôi còn nhớ tôi cũng là một cậu bé giúp lễ tại nhà thờ chính
tòa, lúc đó tôi lên 7 tuổi. Trong một phiên giúp lễ, tôi cũng đánh rơi lọ rượu.
Tôi sợ tưởng chết được, vì mấy cậu bé giúp lễ chúng tôi cứ nghĩ Đức Cha là người
rất nghiêm khắc. Thế nhưng sau Thánh lễ, Ngài gọi tôi lại và hỏi: “Lớn lên con
sẽ học ở trường nào? Con có bao giờ nghe nói Louvain không?” Tôi đáp “Thưa Đức
Cha, chưa”. Ngài nói: “Vậy thì con về nói với mẹ con rằng khi lớn lên con sẽ
vào học tại trường Đại học Louvain”. Tôi không ngờ rằng hai năm sau khi chịu chức
Linh mục, tôi đã ngồi trên chuyến xe lửa trực chỉ Louvain.
Cũng một biến cố, nhưng tôi đã đi về hướng này, còn Titô thì đi
về hướng ngược lại.
4. Rao giảng bằng gương sáng
Một hôm thánh Phanxicô Assisi gọi một thầy dòng lên dặn:
- Con lo sửa soạn chiều nay chúng ta phải đi giảng.
Đến giờ phải đi, hai cha con ra khỏi nhà đi một vòng quanh thành
phố rồi trở về nhà. Thầy dòng lấy làm lạ hỏi:
- Cha bảo cha đi giảng, sao chưa giảng mà cha đã về?
Thánh Phanxicô nghiêm trang đáp:
- Như vậy là đã giảng rồi đó.
Thánh Phanxicô có ý nói: đi một vòng nghiêm trang nết na cho người
ta thấy, đó cũng là một bài giảng bằng cách làm gương sáng. Gương sáng là một
cách thuyết phục và thánh hóa người khác mau lẹ nhất:
Lời nói như gió lung lay
Gương bày như tay lôi kéo.
5. Bình đựng muối trống rỗng.
Sưu tầm mọi thứ đủ loại là môn chơi phổ biến ngày nay. Người ta
sưu tầm tem thư, cúc áo, vỏ chai, sách hiếm, tiền cũ… Nghĩa là tất cả những thứ
bạn có. Một nhóm những người sưu tầm đã tổ chức triển lãm ở một nhà hội Công
giáo. Một người khách viếng thăm phòng triển lãm cầm ly cà phê và thịt quay,
ông vừa đi vòng quanh vừa ăn. Khi người khách đi qua chỗ trưng bầy sưu tập cả
hàng trăm cặp bình đựng muối và hạt tiêu, ông ta thấy thịt quay của ông cần muối,
ông liền đặt ly cà phê xuống và với lấy một bình đựng muối, nhưng không có muối.
Ông mở cả một tá bình đựng muối, nhưng cũng không có một hạt muối nào. Cuối
cùng, ông trở lại gian hàng đồ ăn để kiếm muối.
Hàng trăm cặp bình đựng muối mà không có muối. Đó là bức họa đời
sống! Rất nhiều người được coi là “có muối” mà thực ra lại không có muối. Sự kiện
này giúp chúng ta hiểu điều Chúa Giêsu nói hôm nay: “Các con là muối đất”
6. Kitô hữu và ánh sáng.
Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta như Người đã xác nhận:
“Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không mất đi trong đêm tối tăm, nhưng sẽ
được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12) và ban cho chúng ta ánh sáng. Ngài nói:
“Chính các con là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Dĩ nhiên, chúng ta không
phải là nguồn ánh sáng mà chỉ là ánh sáng phản chiếu của Chúa Kitô.
Ánh sáng phải chiếu tỏa ra, nhưng tỏa ra như thế nào đây? Chắc
chắn không phải chỉ bằng những lời kêu gọi trống rỗng, vô hồn vì chẳng mấy ăn
nhập với đời sống của người lên tiếng. Điều này chính Đức Giáo hoàng Gioan
Phaolô II và Phaolô VI cũng đã phát biểu cách mạnh mẽ răng: “Con ngưởi thời nay
tin vào các nhân chứng hơn là thầy dạy”.
Năm 1937, Gandhi, một lãnh tụ vĩ đại của Ấn độ, đã nói với các
nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa
hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả
người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để
chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống.
Đối với tôi đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống
đời Kitô hữu, chứ không phải là chú giải nó”.
Quả thật, chính khi nỗ lực đáp lại lời mời nên muối và ánh sáng
cho trần gian, là chúng ta tự làm cho mình nên cao cả và hạnh phúc. Chúng ta phải
xác tín rằng lời kêu gọi của Chúa Kitô qua sứ điệp Tin mừng hôm nay không phải
đến từ bên ngoài, nhưng nó đã được khắc sâu từ trong tâm khảm của mọi người
chúng ta, và nó vẫn hằng thống thiết kêu gọi chúng ta phải tích cực đáp lại để
kiến tạo niềm vinh phúc cho mình và những người chung quanh. Chớ gì chúng ta sẽ
không bao giờ còn ngập ngừng hoặc bịt tai lại nữa.
7. Ánh hào quang
Lobsang Rampa là một thiền sư Tây tạng nổi tiếng trên thế giới với
tác phẩm “Con mắt thứ ba” (Le troisème oeil). Viện văn hóa nghệ thuật Việt nam
đã dịch nó thành “Các Lạt Ma hóa thân”. Ở trang 11-12 (Bản Việt ngữ) viết rằng:
“Theo khoa học huyền môn, thể xác con người chỉ là một lớp vỏ, một áo khoác bên
ngoài của một linh hồn hay “Chân ngã”… Quanh con người có một vầng hào quang
thô thiển phản ánh nguồn sinh lực bên trong. Một người thánh thiện hay khỏe mạnh
thì hào quang sáng rõ, vươn ra cách thể xác vài phân. Một người tội lỗi hay yếu
đuối thì hào quang mờ tối, thu sát vào thể xác. Khai mở Thần nhãn để quan sát vầng
hào quang này, ta có thể biết được chân tướng mọi người mọi vật hay tình trạng
sức khỏe của một người để chữa bệnh.
Đúng thời kỳ sinh nhật thứ 9 của tôi, tôi được đưa vào một căn
phòng đặc biệt. Bốn vị Lạt ma Trưởng Lão trong đó có sư phụ tôi cũng đến đó
truyền dạy cho tôi những phép bí truyền để khai mở Thần Nhãn… Sau 9 tháng công
phu luyện tập, tôi đã thành công… Lần đầu tiên tôi mở mắt ra sát chung quanh, một
kinh nghiệm lạ lùng xẩy ra khiến tôi xúc động. Tôi thấy có 4 vị Lạt Ma Trưởng
Lão đều được bao phủ quanh mình bởi một hào quang chói lọi như ánh lửa. Về sau
tôi hiểu rằng các vị Trưởng Lão có một đời sống rất tinh khiết mới có được hào
quang như vậy.
Khi tôi khai mở Thần Nhãn, tôi phát hiện những rung động khác nữa,
xuất phát từ cái trung tâm hào quang đó. Nhờ đó tôi có thể đoán biết tình trạng
sức khỏe của một người ra sao. Cũng như thế, bằng cách xem sự thay đổi mầu sắc
của hào quang, tôi có thể đoán biết kẻ đó nói dối hay nói thật.
8. Trở nên ánh sáng trần gian
Trong giáo xứ kia, có một người đàn ông bất toại nằm liệt một chỗ.
Buổi sáng bà vợ đặt ông vào một cái ghế bành ngồi ngoài hiên, bà cũng để bên đó
một ấm nước và một cái li, rồi bà đi làm mãi tới trưa mới về. Ông không có con
cháu.
Cha xứ hay tin đến thăm ông, cha cũng nói ở nhà thờ khuyến khích
bà con giáo dân tới thăm và giúp đỡ ông. Mấy em học sinh trong tiểu đội Junior
khi nghỉ học tới thăm và đọc sách cho ông nghe. Hội đoàn Legio phân công tới
thăm ông hằng tuần khi đi công tác và còn có một bác sĩ tình nguyện thỉnh thoảng
tới khám bệnh cho ông nữa. Ông rất vui và cảm thấy được an ủi nhiều.
Gần ngày lễ Giáng sinh, ông thưa cha xứ: Xin cha cho con Rước lễ.
Cha nói: Nếu ông muốn Rước lễ thì phải học giáo lí và Rửa tội trước đã. Ông xin
học giáo lí và cha xứ cho giáo lí viên dạy giáo lí cấp tốc cho ông để rồi đúng
như mong ước, ngày lễ Giáng sinh, ông đã được Rửa tội và Rước lễ.
Ông nói: “Trước tôi chưa biết Chúa, nhưng nay nhờ các giáo hữu tốt
nên tôi cảm thấy hạnh phúc như được gặp Chúa”.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa gọi chúng con là “muối” và “ánh sáng, có
nghĩa là Chúa phong chức cho chúng con, để chúng con lên đường truyền giáo. Xin
cho những bước chân chúng con đi tới, đều rộn rã tiếng cười, nồng nàn tình yêu
thương, và thấm đậm tình con người. Amen.
9. Đèn phải sáng muối phải mặn
Mahatma Gandhi (1869 - 1948), nhà ái quốc và được tôn vinh là vị
cha già dân tộc Ấn Độ, cũng là vị thánh của những người Ấn giáo, đã đấu tranh
giành lại độc lập và tự do cho Ấn Độ bằng đường lối ôn hòa bất bạo động.
Một hôm người ta hỏi ông rằng: “Trước thảm họa nguyên tử, ngài sẽ
làm gì ?”
Ganhdi trả lời: “Tôi sẽ cầu nguyện”.
Gandhi là người rất yêu mến giáo huấn của Chúa Kitô, nhưng khi
được hỏi thêm: “Vì sao ngài không theo đạo Công giáo ?”
Ông trả lời: “Phúc Âm của Chúa thì rất tốt lành, nhưng người
công giáo đã không sống Phúc Âm, nên không hơn gì chúng tôi”.
Sau đó ông còn nói thêm: “Nếu tôi đã hân hạnh gặp được một người
nào là Kitô hữu chân thực, có lẽ tôi đã trở nên một người Kitô hữu ngay lập tức”.
Chính vì không sống đúng tư cách người môn đệ Chúa Kitô, người
tín hữu đã làm che mờ Chúa Kitô nên Gandhi đã không đến với Đạo Kitô. Câu trả lời
của Gandhi làm cho chúng ta cảnh tỉnh nhớ lại Lời Chúa nói trong Tin Mừng Mt
5,13-16: “Các con là muối ướp đời, là ánh sáng cho trần gian”.
10. Chấn hưng đạo đức xã hội
Vấn đề suy thoái đạo đức nghiêm trọng trên đất nước chúng ta là
mối ưu tư, trăn trở lớn nhất của nhiều người tâm huyết trong xã hội.
Nhận định về vấn đề này, Giáo sư Tiến sĩ Lê Thị Quý, Viện trưởng
Viện Nghiên cứu giới và phát triển cho rằng: “Đạo đức xuống cấp ở mức đáng báo
động! [1]”
Còn Tiến sĩ Khoa học Phan Hồng Giang thì nhận định rằng: “Thực
trạng xuống cấp của văn hóa, đạo đức xã hội đã ở mức độ nguy hiểm [2]”
“Đạo đức xã hội xuống cấp còn thể hiện ở những hành vi bạo lực
trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ bạo lực gia đình, bạo lực học đường... đến bạo
lực nơi công cộng… Thói tham lam, ích kỷ, thói vô cảm lan rộng gây nhiều tác hại
cho cộng đồng… Một số người đã tôn sùng đồng tiền một cách mù quáng, coi “tiền
là trên hết” và tìm mọi thủ đoạn để có nhiều tiền… Khi đồng tiền lên ngôi cũng
chính là lúc đạo đức xuống cấp.[3]”
Trước nguy cơ đáng lo ngại này, nhiều bậc trí giả lên tiếng kêu
gọi phải chấn hưng đạo đức như là một ưu tiên hàng đầu.
Tuy nhiên, công cuộc chấn hưng đạo đức không chỉ là trách nhiệm
riêng của các nhà lãnh đạo, các nhà giáo dục, các tôn giáo, nhưng trước hết, đó
là bổn phận của mỗi người chúng ta.
Muốn giữ cho cá khỏi ươn, người ta cần dùng muối để ướp mặn nó.
Vậy muốn cho con người khỏi hỏng, cũng cần một thứ muối khác để bảo toàn. Chúa
Giê-su mời gọi chúng ta trở nên thứ muối nầy.
Qua Tin mừng Mát-thêu chương 5, câu 13, Chúa Giê-su mời gọi
chúng ta: “Chính anh em là muối cho đời.”
11. Thắp lên niềm vui
Một buổi chiều, Mẹ Têrêsa đi qua một căn nhà ngoại ô ở Calcutta.
Nhà tối om và có tiếng rên từ bên trong vọng ra. Mẹ đẩy cửa bước vào, sờ soạng,
đi lại giường một cụ già tiều tụy đau yếu, Mẹ hỏi: Nhà cụ không có đèn đóm gì
ư?-Có một chiếc đèn còn tốt, nhưng không có dầu. Vả lại có ai đến thăm tôi đâu
mà phải đèn với đóm! Mẹ lục lọi tìm ra chiếc đèn, lau chùi, mua dầu cho vào và
đốt lên. Mặt cụ tươi tỉnh lên. Ít lâu sau Mẹ nhận được một lá thơ với mấy dòng
chữ: "Nụ cười vui tươi của Mẹ, như dầu khích lệ, như đèn đốt sáng đời tôi,
mỗi khi chiều về".
Mỗi người chúng ta cũng được Chúa mời gọi để thắp sáng cuộc đời
kẻ khác. Mỗi người đều có một khả năng cá biệt để thắp sáng niềm tin cho anh chị
em chúng ta và ướp mặn trần gian bằng tình yêu thương bác ái và cảm thông. Vì:
"Làm thân cây nến vào đời
Càng tiêu hao cháy, càng ngời
vinh quang"
Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của
chúng ta lu mờ dần đi và có khi tắt ngấm. Vì thiếu bác ái, thiếu lòng nhân từ
nên những ai tiếp xúc với chúng ta đều cảm thấy mặn chát, khô cằn thiếu sức sống
vui tươi. Xin Chúa giúp chúng ta dám hy sinh và từ bỏ mình mỗi ngày để trở nên
ánh sáng và muối men cho đời. Amen.
12. Muối phải chịu hòa tan
Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được
hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình
như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!“.
Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan.
Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng
bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại
phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi
đóng vào bao sạch đẹp… Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!
Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối
cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn
này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo
hạ tiện. Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được,
dù là cái vảy da của nó.
Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy,
ném nó ra đường lộ. Người người qua lại đạp lên nó!
Hạt muối là để hòa tan. Hạt Muối phải chịu tan biến chính mình mới
thể hiện giá trị đích thực của hạt muối. Muối đã lạt và không còn khả năng hòa
tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà
thôi!
Con người không được sống cho chính mình. Con người phải biết dấn
thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng.
Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với
gia đình và xã hội. Muối đã lạt thì vứt đi. Con người lạt tình người, lạt trách
nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị bị lãng quên.
13. Muối và ánh sáng--R.Veritas
Sau một thời gian dài học hỏi và tu luyện, người học trò mới cất
tiếng hỏi thầy mình:
- Thưa thầy, đâu là sự khác biệt giữa kiến thức và giác ngộ?
Thầy mỉm cười và ôn tồn giải thích:
- Khi có kiến thức, giống như con có “ánh sáng” soi đường con
đi. Nhưng khi con giác ngộ, chính con sẽ trở thành “ánh sáng” soi đường cho người
khác.
Vì tôi là muối nhạt nên thế giới này vô vị. Vì tôi là đèn hết dầu,
nên thế giới còn nhiều bóng tối. Thế giới này sẽ mang bộ mặt mới nếu tôi thực
thi lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: “Anh em là muối
cho đời …Anh em là ánh sáng cho trần gian ”.
Lạy Chúa Giêsu!
Xin giúp con lắng nghe tiếng Chúa
và nỗ lực thực thi Lời Ngài trong cuộc sống của con hôm nay.
Amen!
14. Lọ đựng muối tiêu
Câu chuyện "Những Lọ Đựng Muối Tiêu" sau đây, trích từ
"những câu chuyện tu đức hằng ngày" của chương trình phát thanh Việt
ngữ đài Chân lý phải làm mỗi tín hữu Chúa Kitô phải bóp trán suy nghĩ:
Sưu tầm là một giải trí rất phổ thông hiện nay. Người ta sưu tầm
tem, nhãn hiệu, lon bia, chai lọ, sách quý... và lâu lâu đem triển lãm.
Tại một nhà thờ nọ tại Chicago bên Hoa Kỳ, trong một cuộc triển
lãm các vật sưu tầm, người ta thấy có cả một khu dùng để triển lãm các lọ đựng
muối tiêu. Một ông khách nọ vừa bước vào, sau khi mua một cái bánh Hamburger ở
của vào, đã vội vã đi một vòng quan sát. Khi tới khu triển lãm các lọ đựng muối
tiêu, ông mới sực nhớ ra cái Hamburger của mình nhạt quá. Thế là ông đã cầm lấy
một lọ muối và xốc nhiều lần. Nhưng xốc đến lọ thứ mười hai mà ông vẫn chưa thấy
muối. Ông đành phải trở lại cửa xin người bán hàng cho ít muối và phàn nàn:
"Gần hai trăm cái lọ muối thế kia mà không có lấy một hột muối".
Đó là hình ảnh của cuộc đời Kitô chúng ta. Mang lấy danh hiệu là
muối đất, nhưng lắm lúc chúng ta chỉ là những lọ trống không. Muối dùng để ướp
đồ ăn cho khỏi ươn thối. Muối dùng để sát trùng, chữa những vết thương. Muối
dùng để nêm cho thức ăn được thêm đậm đà...
15. Sức hút của muối và ánh sáng
Khi người ta hỏi ông Gandhi, một người rất nổi tiếng đấu tranh
dành độc lập cho dân tộc Ấn-độ, về việc phải làm thế nào để cho ngày càng có
nhiều người biết chấp nhận và tuân giữ giáo lý khôn ngoan của Chúa, ông đã trả
lời: “Các bạn hãy nghĩ về bí quyết của những bông hồng. Mọi người đều thích
chúng vì ngoài vẻ đẹp và màu sắc sặc sỡ, hoa còn tỏa một mùi thơm kỳ diệu. Vậy,
các bạn hãy “tỏa hương thơm”. Không chỉ tỏa hương thơm mà thôi, Lời Chúa hôm
nay nhắn nhủ chúng ta hãy là muối đất và ánh sáng cho thế gian.
Là muối đất, vì muối mang lại hương vị cho thức ăn, giữ cho thực
phẩm khỏi hư thối hoặc sát trùng chữa lành những gì hư hại… thì cách sống của
chúng ta cũng phải có tác dụng tương tự với xã hội, nghĩa là phải nói năng, cư
xử, hành động thế nào để cứu chữa thế gian này khỏi những gì xấu xa, khỏi hư thối
vì tội lỗi và ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
Là ánh sáng cho đời vì nhiệm vụ của ánh sáng là soi chiếu đêm
đen. Cũng giống như Chúa Kitô là Ánh sáng thế gian, chũng ta phải trở nên đèn
sáng, những hướng đạo soi đường chỉ lối cho mọi người khỏi tối tăm lầm lạc để
biết tìm đến quê trời, tìm đến với Chúa là nguồn sống muôn đời.
16. Trở nên muối và ánh sáng
Những lời trích sách tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất của
Phụng vụ hôm nay đã vạch ra một cách cụ thể lối sống của những người thực sự đặt
niềm tin vào Chúa và phần phước của họ như sau: "Há lại không phải là bẻ
bánh với người đói, dẫn trọ nhà kẻ vô gia cư?
Thấy ai mình trần, ngươi cho áo che thân, ngươi sẽ không tránh
né một người cũng là cốt nhục của ngươi.
Bấy giờ ánh sáng của ngươi tung tóe như rạng đông, da non thương
tích ngươi sẽ mau líp lại, phúc đức của ngươi sẽ cầm đầu đi trước, và binh bọc
hậu là vinh quang của Đức Yavê.
Bấy giờ ngươi khẩn cầu và Yavê sẽ đáp lại, ngươi kêu cứu và Người
sẽ phán: Này Ta đây!
Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi cùm ách, việc trỏ tay và lời rủa độc,
và điều ngươi sở nguyện, ngươi cấp cho kẻ đói, và cho người đói khó no lòng ấm
cật, ánh sáng của ngươi sẽ rạng giữa tối tăm, và mù tối của ngươi cũng như
chính ngọ" (Is 58:7-10)
17. Ông bố của Mike
Một học sinh trung học tên là Mike ở Chicago, mặt vui tươi hớn hở
đi vào phòng thầy chủ nhịệm. Ông thấy cậu vui vẻ thì hỏi:
- Hôm nay trông trò vui vẻ lắm?
- Vâng, em rất vui. Vì sáng nay đang khi em ăn sáng, bố em đến
chào em rồi mới đi làm. Lúc đó em chợt nhớ mãi đến 9 giờ bố mới làm việc mà bấy
giờ mới có 7g45. nên em hỏi:
- Thưa bố, sao bố đi sớm thế? Con nhớ 9g bố mới làm việc mà.
- Con nói đúng, nhưng bố tranh thủ dự Thánh lễ lúc 8g tại nhà thờ
Ba Ngôi.
Điều đó làm cho em xúc động, vì bố em biết lâu nay em bỏ lễ Chúa
nhựt, nhưng bố em không bắt buộc em đi lễ, mà cố gắng đi lễ hằng ngày cố ý nói
lên cho em biết: bố đi lễ hằng ngày, ít ra con cũng đi lễ Chúa nhưt chứ. Rồi
Mike cười nói:
- Có lẽ từ nay em nên đi lễ hằng ngày, như thế em mới giống bố
em.
18. Quen với bóng tối
Một vùng đất nọ thình lình mất ánh sáng. Mặt trời không mọc lên,
tối tăm bao phủ cả vùng. Mọi người trong vùng đổ xô đến ông Rênô mua diêm quẹt
và đèn cầy, vì họ biết ông có cả một kho chứa các thứ đó. Nhưng dân chúng càng
nài nỉ, ông càng từ chối . . . "Ngày qua ngày, dân chúng quen dần với bống
tốt. Lúc đó ông Rênô mới ý thức thái độ ích kỷû của mình. Ông mở cửa kho, mời gọi
mọi người đến lấy diêm quẹt và đèn cầy về đốt. Nhưng trở trêu thay mọi người trả
lời:
- Chúng tôi đã quen sống với bóng tốt rồi. Chúng tôi không cần
ánh sáng nữa!
Cố ý bỏ qua hay chậm trễ làm điều tốt lành có thể làm sẽ gây thiệt
hại nặng nề cho người khác. Những vụ khủng bố, giết người, cướp nhà băng xảy ra
tại Manila thủ đô nước Phi-luật-tân, khiến Đức Hồng Y Jaime Sin ở Manila lên tiếng
kêu gọi Chính quyền phải lo thiết lập lại trật tự.
Phản ứng lại lời cảnh cáo của Đức Hồng Y, bộ trường bộ thông tin
trả lời:
- Giáo hội Công giáo cũng có phần trách nhiệm trong đó, vì đã
không chu toàn vai trò của mình trong vịêc làm cho tín hữu Công giáo sống Tin mừng.
Dân số Phi-luật-tân theo đạo Công giáo gần 90 phần trăm kia mà!
19. Ngọn Hải Đăng
Cô Nangy Powell 19 tuổi bị chết trong một tai nạn xe hơi gần
Houston (Mỹ). Cái chết bi thảm của cô đã khiến những người qưen biết cô vô cùng
xúc động. Một thanh niên nói về cô: "Sự trong trắng, tươi trẻ, nhiệt tình,
nhất là khả năng yêu thương của cô chan hoà tất cảû chúng tôi, những người ở
quanh cô. Cô ấy thục sự là niềm vui. Bản chất của cô là dù biết con người thực
sự là gì cô vẫn yêu thương như thể họ là người tốt nhứt. anh yêu thương đặc biệt
của cô là động lực cho cả cuộc đời tôi".
Liệu tôi có được Người khác nói về tôi như thế không?
"Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩõ, chúng chỉ chiếu
sáng (Dwighit L. Moody)
20. Được làm ánh sáng
Toyohiko Kagawa từ tuổi ấu thơ đã mồ côi cha mẹ. Gia đình một
người họ hàng đã nhận bé về nuôi, nhưng đã bị họ đối xử cách tàn tệ. Dầu vậy,
Kagawa vẫn nhẫn nhục chịu đựng và đã trở nên một người thành công trong xã hội.
Nhưng rồi đau thương một lần nữa lại đến viếng thăm: Ông Kagawa
đã mắc phải bệnh phổi, và chỉ còn chờ chết. Một hôm, ông thấy một luồng sáng
bao bọc ông và ông cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Liền sau đó,
ông đã được chữa lành, không những về phần xác, mà tâm hồn ông cũng được biến đổi.
Từ ngày đó, ông đã hiến thân phục vụ những người bần cùng nghèo
khó nhất trong xã hội. Ông đã hoàn toàn quên mình phục vụ những con người xấu số
này: an ủi, thông cảm, lắng nghe họ; cung cấp đồ ăn áo mặc cho họ. Một thời
gian sau, ông bị nhiễm trùng mắt, và vì đó đã bị mù một mắt, nhưng ông vẫn tiếp
tục phục vụ cho tới ngày ông từ biệt cõi đời.
Toyohiko Kagawa đã được lãnh nhận ơn Chúa, và ông đã cảm thấy bị
thúc bách phải đáp trả bằng cách phục vụ anh chị em đồng loại của mình. Qua tấm
gương phục vụ của ông, nhiều người đã tìm được ánh sáng cứu độ và nhận ra tình
thương của Thiên Chúa. Toyohiko Kagawa đã là một ngọn đèn sáng Chúa Giêsu nói đến
trong bài Phúc Âm hôm nay.
21. Đừng thích làm mặt trời
Thi sĩ Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa) viết bài thơ “Đừng
thích làm mặt trời”. Lời thơ thật nhẹ nhàng mà sâu lắng. Nhiều hình ảnh so sánh
rất gần gũi thân thương của đời thường.
Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Hãy cố gắng con ơi.
Làm những điều nhỏ mọn
Chỉ vì mến Chúa thôi.
Tặng người con không thích
Một nụ cười thế thôi.
Đôi mắt nhìn trìu mến
Để chia sẽ tâm tình
Với một người đau khổ.
Viếng thăm và giúp đỡ
Người bệnh tật già nua.
Đừng ngại nắng ngại mưa.
Thấy Chúa trong người họ
Không mắng la nạt nộ.
Đừng giận dữ một ai.
Chút mật bắt nhiều rồi
Hơn giấm chua từng hũ.
Hiền lành và tha thứ
Biết rộng rãi khoan dưng.
Theo Chúa ở khiêm nhường
Và sẵn sàng phục vụ.
Việc làm tuy bé nhỏ
Giá trị thật vô cùng
Làm mặt trời đừng mong.
Cũng đừng mơ làm sao sáng…
Đọc thơ, tôi liên tưởng đến hình ảnh Muối và Ánh Sáng của Tin Mừng
Chúa Nhật hôm nay.
Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Chỉ mong làm muối đất.
là ánh sáng Chúa thôi.
22. Gương trung thành của một con chó:
Tại một trạm xe điện ngầm bên Nhật Bản, có một bức tượng khá nổi
tiếng, không phải tượng của một nhân vật danh tiếng, nhưng là tượng một chú
chó. Ai đi qua cũng chăm chú nhìn tượng con vật được tạc trong tư thế nằm ngước
mắt nhìn về phía trước như đang đợi ai đó. Bức tượng này là hình ảnh của một
chú chó mà câu chuyện về sự trung thành của nó lay động lòng người như sau:
Một công nhân Nhật có nuôi được một con chó khôn ngoan và trung
thành. Nó luôn đi theo và quấn quít bên ông chủ. Ngày nào nó cũng tiễn đưa ông
đi làm tại trạm xe điện ngầm gần nhà. Nó chờ cho chủ lên tàu và tàu đóng cửa lại
rồi mới đủng đỉnh ra về. Chiều đến, nó lại xuất hiện đúng giờ xe điện về đến trạm,
vẫy đuôi chào đón chủ và sau đó ngoan ngoãn đi theo ông về nhà. Ngày nào cũng vậy,
sáng theo chủ đến bến, chiến lại đến bến để đón chủ.
Nhưng rồi một buổi chiều kia, người chủ của nó đã không trở về
do tai nạn sập hầm và ông bị chết trong đó. Hôm ấy con chó như mọi lần đã đến
trạm chờ chủ. Nhưng chờ đến chuyến xe cuối cùng mà không thấy chủ. Nó đành thất
thểu ra về khi màn đêm bắt đầu buông xuống. Hôm sau, trời vừa hừng sáng nó đã
có mặt tại trạm xe điện và ngồi yên chờ chủ. Nhưng đến tối mịt không thấy ông,
nó lại lui thủi trở về. Và ngày nào cũng vậy, con chó luôn có mặt và ra về đúng
giờ dù không có ông chủ đi cùng.
Chẳng ai thèm quan tâm tới con vật đáng thương ấy, ngoại trừ ông
xếp nhà ga và mấy nhân viên phục vụ nhà ga. Người ta thấy càng ngày con chó
càng gầy đi. Ai cho đồ ăn, nó cũng chỉ ngửi qua và không ăn. Đôi mắt nó ngày một
buồn hơn, và bước đi của nó cũng ngày một loạng choạng chậm chạp hơn. Nó thất vọng
vì bị mất ông chủ thật rồi!
Vào một buổi sáng kia, tiết trời giá rét, bên cạnh dòng người mặc
áo ấm chen chúc nhau lên tàu, người ta thấy con chó trắng đã nằm chết co quắp
bên vệ đường từ bao giờ. Thương hại con vật trung thành, ông xếp và các nhân
viên nhà ga xe điện đã chôn cất nó tử tế. Và để tưởng nhớ một con vật trung
thành, người ta đã đúc một bức tượng của nó và đặt ngay nơi nó thường nằm mỗi
khi đến đưa đón chủ.
23. Giá trị của ngọn nến tỏa sáng
Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời
thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại sân vận động trường Los
Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: "Xin các bạn đừng sợ.
Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này."
Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John
Keller nói tiếp: "Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh
lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên: "Đã thấy!" Một que diêm
được bật lên, cả vận động trường vang lên: "Đã thấy!"
Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích: "Ánh
sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm
tối của nhân loại y như vậy."
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng
nói vang lên ra lệnh: "Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt
cháy lên!" Bỗng chốc, cả sân vận động trường rực sáng.
Ông John Kener kết luận: "Tất cả chúng ta hợp lực cùng
nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của
tình thương và lòng tốt của chúng ta."
Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con luôn trở nên ánh sáng soi
chiếu cho những người xung quanh, để qua đó họ nhận biết Chúa là ánh sáng thật,
là ánh sáng dẫn đến nguồn ơn cứu độ. Amen.
24. Chướng ngại vật cho niềm tin
Người ta hỏi ông Ganhdi, nhà ái quốc Ấn Độ, rằng:
- Trước thảm hoạ nguyên tử, ông sẽ làm gì?
Ganhdi trả lời:
- Tôi sẽ cầu nguyện.
Và được hỏi thêm:
- Vì sao ông không theo đạo công giáo?
Ông trả lời:
- Phúc Âm của Chúa thì rất tốt lành, nhưng người công giáo đã
không sống Phúc Âm, nên không hơn gì chúng tôi.
Câu trả lời này khiến chúng ta nhớ lại lời Chúa: Các con là muối
đất, nếu muối đã nhạt đi, thì biết lấy gì mà ướp cho mặn lại. Chỉ còn ném ra
ngoài đường cho người ta chà đạp.
25. Ánh sáng xua đuổi bóng tối
Ngày kia, các môn đệ của thầy Haxiđich bên Ấn Độ đến than phiền
với thầy về ảnh hưởng xấu của ma quỷ trên thế gian. Họ hỏi thầy phải làm thế
nào để có thể xua đuổi ma quỷ?
Thầy Haxiđich đề nghị trước hết hãy lấy chổi bắt đầu quét bóng tối
khỏi căn phòng nhỏ dưới hầm. Các môn sinh ngạc nhiên trước lời dạy bảo đó.
Nhưng họ cũng đành lòng vâng theo.
Sau nhiều giờ mệt nhoài, mồ hôi nhễ nhãi, nhưng họ vẫn không đuổi
được bóng tối ra khỏi căn phòng nhỏ.
Thầy Haxiđich bảo các môn sinh lấy gậy đập bóng tối để đuổi ma
quỷ ra khỏi phòng. Nhưng vẫn uổng công vô ích. Lần thứ ba, thầy bảo các môn
sinh hãy xuống hầm gào thét nguyền rủa bóng tối. Họ đã khan cổ, mất tiếng mà vẫn
không sáng thêm được chút nào.
Sau cùng thầy bảo các môn sinh:
- Hỡi các con, mỗi người trong các con hãy đương đầu với thách đố
của bóng tối bằng cách đốt lên một cây nến.
Họ thi hành theo lời thầy. Và kìa, lập tức bóng tối đã bị đuổi
đi. căn hầm tối tăm lạnh lẽo bỗng trở nên sáng rực và ấm cúng.
Anh chị em thân mến,
Văn sĩ Locke, người Anh, cũng nói: “Thà bật lên một que diêm còn
hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”. Và trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định:
“Chính anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho người”.
26. Yêu thương là ở trong ánh sáng
Một vị ẩn sĩ đã hỏi các môn đệ của mình: "Lành sao phân biệt
được ban ngày và ban đêm?" Có môn đệ nói: "Khi còn nhìn rõ cây chà là
ở một trăm thước là ngày, không thấy thì là đêm" Thầy lắc đầu. Người khác
trả lời: "Khi còn nhìn rõ cây chà là ở mười thước tay là ngày, không thấy
là đêm" Thầy lắc đầu. Người khác nói: "Khi còn phân biệt được hai mặt
của bàn tay trước mặt là ngày. Không thấy là đêm. "Thầy lại lắc đầu. Mỏn đệ
liền hỏi " Vậy làm sao phân biệt được ngày và đêm?" Thầy trả lời:
"Nếu các người không thấy người anh em mình đang gặp khốn khó và giúp đỡ,
thì đó là đêm. Còn sống tình thương với họ đó là ngày”.
Tình yêu là tiêu chuẩn đánh giá ánh sáng và bóng tối. Kẻ sống
cho tình yêu tức là sống như con cái đích thực của ánh sáng chiếu rọi ra ngoài
ánh sáng, thần linh đã nhận. Và đến lượt mình họ trở thành ánh sáng thế gian
(Mt 5,14), đáp lại sứ mệnh chứng tá Đức Giêsu đã trao phó.
27. Ai sáng ai mù?
Nhà cách mạng lừng danh Gandhi, tuy ông không phải là người Công
Giáo, nhưng ông rất say mê Thánh Kinh, Thánh Kinh chính là Cuốn Sách gối đầu
giường của ông. Nhờ thấm nhuần tinh thần Phúc Âm mà ông đã chủ trương bất bạo động,
lấy tình thương xóa hận thù để buộc chính quyền Anh phải trả lại độc lập cho
dân tộc Ấn, và còn giúp dân Ấn xây dựng đất nước! Nhờ trải nghiệm này mà ông đã
nói với mọi người rằng: “Đời chỉ thành công bao lâu dám thí nghiệm sống chân lý
Phúc Âm”.
Đức Tin đã đâm rễ sâu vào ông Gandhi đến thế, nhưng sao đến cuối
đời ông vẫn không xin theo đạo??
Lý do là vì lần kia, ông muốn vào cầu nguyện tại một Nhà Thờ của
người da trắng, với hy vọng sẽ gặp một linh mục để xin học giáo lý và được lãnh
Bí tích Thánh Tẩy, nhưng khi ông vừa mới bước lên bậc thềm của ngôi thánh đường,
thì một người da trắng từ bên trong bước ra cản không cho ông vào và nói:
- Nhà Thờ này dành cho người da trắng, ông muốn cầu kinh thì đi
Nhà Thờ khác!
Từ đó ông quyết định không theo đạo Công Giáo nữa!
Kẻ đã cản bước đường ông Gandhi đến với Chúa có đáng “buộc cối
đá lớn vào cổ mà xô xuống biển” hay không?! (x. Mt 18,6). Vì nó là độc dược, là
vi trùng, tệ hơn muối lạt!
28. Muối kết hợp với Thiên Chúa
ĐHY F.X. Nguyễn văn Thuận, trong cuốn ‘Những người lữ hành trên
đường hy vọng’, đã kể chuyện một nữ tu mang tên Céline. Công việc của chị trong
40 năm trường là giữ nhà khách với một câu hỏi được lặp đi lặp lại như một điệp
khúc trên môi: “Thưa, ông bà muốn gặp ai ạ?”
Suốt 40 năm, đời chị bị cắt vụn thành từng miếng: bất cứ lúc
nào, bất cứ ở đâu hay làm việc gì, chị đều có thể phải quay ngay ra phòng khách
đáp lại tiếng chuông reo hay tiếng điện thoại: “Tất cả mọi người đều ăn cắp thời
gian của chị, hối thúc chị, cằn nhằn chị. Không ai cần gặp chị…”
Phần chị, chị nói: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ
dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi những người khác: tôi được gọi để đi gọi.”
Trong Phúc âm Matthêu, sau khi công bố Hiến chương Nước Trời, Đức
Kitô đã xác định ngay bản chất và ơn gọi của các môn đệ của Ngài: “Anh em là muối
cho đời … anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14).
Với dân Do thái, muối tượng trưng cho mối tương quan mật thiết
và bền vững với Thiên Chúa, đặc điểm riêng biệt của Dân Chúa: “(Các) ngươi phải
bỏ muối vào mọi lễ phẩm (các) ngươi dâng tiến; (các) ngươi không được để lễ phẩm
(các) ngươi thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa (các) ngươi; (các) ngươi phải
dâng muối cùng với mọi lễ tiến của (các) ngươi” (Lv 2,13). Do đó, sự kết hiệp mật
thiết và sâu xa với Thiên Chúa là điều kiện đầu tiên và dấu hiệu đích thực của
người môn đệ Đức Kitô: “anh em là muối cho đời”. Phải rồi, vì nếu muối ra nhạt,
nếu vắng bóng Thiên Chúa, thì ơn cứu độ nằm ở đâu?
29. Tình yêu trao ban
Năm 1227, bá tước Schavenbourg, nguyên là thiếu tướng trong quân
đội hoàng gia Phổ, đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa, trở nên một thầy dòng trong
dòng Anh em hèn mọn của thánh Phanxicô. Bề trên trao cho ông một bộ quần áo
nghèo hèn, một chiếc bị và một cái bát để đi khất thực ngay giữa nơi thành thị
đông đúc để nuôi người nghèo và nuôi mình.
Một hôm, trên đường đi xin ăn, ông gặp một vị hoàng thân quý tộc
đang dạo phố. Ông đến ngửa tay xin bố thí, nhưng vị hoàng thân không thèm lưu
tâm. Ông tiếp tục đi theo sau van nài một cách nhỏ nhẹ và nhẫn nhục. Bực mình,
vị hoàng thân quay phắt lại tát cho ông một cái.
Cơn phẫn nộ muốn trào ra ngoài, như ngày xưa khi còn hét ra lửa,
nhưng ông đã kịp giữ bình tĩnh và khiêm hạ nói: “Vâng, thưa ngài, tôi xin vui
lòng nhận phần tôi là cái bạt tai, còn phần những người nghèo khổ đáng thương,
xin ngài đừng quên bố thí …”
Cũng như muối đem lại vị ngon cho món ăn mà hầu như bị người
dùng quên đi; ánh sáng tô đẹp bông hoa, soi sáng con đường, mà chẳng được ai
nghĩ đến khi ngắm hoa, khi đi lại dễ dàng dưới ánh đèn; đặc điểm của tình yêu
mà Đức Kitô đòi hỏi nơi những người muốn trở nên môn đệ Ngài là trao ban, không
giữ lại một chút gì cho mình, như muối, như ánh sáng. Người Kitô hữu sẽ như
đánh mất chính mình nếu đánh mất tình yêu: “muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó
cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta
chà đạp thôi” (Mt 5,13).
30. Tình yêu phải phục vụ miễn phí
Một lần tôi tham dự một khoá bồi dưỡng về đại kết, người ta kể
chuyện vui về đại diện các hệ phái đối diện trước một đám tang. Người chết nằm
chờ một tang lễ tôn giáo và đem chôn. Người chết nghèo đến nỗi chết vì đói.
Thân nhân cũng không có tiền để tẩm liệm hay chốn cất. Nhà quàn mời đại diện
các tôn giáo đến để xem coi ai sẵn sàng chôn người chết nghèo nầy miễn phí?
Linh mục công giáo, linh mục Chính Thống Giáo, Mục Sư Anh Giáo,
Mục Sư Tin lành… của vài giáo phái khác đều theo qui chế Giáo Hội của mình: Phải
lấy $300, trong đó $150 vô nhà thờ và $150 tiền cho linh mục hay mục sư. Người
nghèo, chết vì nghèo đói, không có tiền, nên các linh mục và mục sư đều rút lui
từ từ và tự bảo: Thôi để kẻ chết chôn kẻ chết! Nghèo quá làm sao cho vô nhà thờ
được. Nhà thờ cũng phải trả điện sưởi chứ! Tình trạng kéo dài đi đến bế tắc.
Nhưng sau cùng, chuyện lạ xảy ra: Sau khi mọi người đã rút lui,
Chúa Giêsu âm thầm từ cây Thánh giá tuột xuống, ôm lấy người chết nghèo, đem đi
chôn vào huyệt đá mà người ta dành sẵn cho Ngài. Ngài lăn tảng đá lắp cửa mộ và
trở lại tiếp tục treo thân mình trên thánh giá và thều thào: Ơn cứu độ miễn
phí!
31. Dấu ấn của Thiên Chúa
Người La Mã đặt một “dấu sở hữu” lên các nô lệ và tài sản của họ.
Cũng vậy, những tướng lãnh La Mã xâm “dấu sở hữu” lên các tân binh. Thánh
Phaolô nhắc đến điều này khi nói rằng Thiên Chúa đặt lên chúng ta “dấu sở hữu”
khi chúng ta chịu phép rửa tội.
Tôi cảm nghiệm sự hiện diện và quyền năng của Chúa Thánh Thần -
dấu ấn của Thiên Chúa trên tôi như thế nào?
Đức tin không chỉ là quỳ gối cầu nguyện vào ban đêm. Cũng không
chỉ là đi xuyên qua đêm tối để vào ánh sáng. Đức tin là nỗ lực một cách can đảm,
dám ngước cao đầu, và phục vụ nhiệt tình bất cứ ở điều kiện nào.
32. Kho tàng không mất
Câu truyện về lòng tin và sự quảng đại này đã để lại nơi Chúa
Giêsu một ấn tượng sâu sắc. Ngài đã ám chỉ đến điều đó trong bài giảng đầu tiên
ở Nazareth (x.Lc 4,25-26). Ngài cũng nhắc lại điều đó khi nói về người đàn bà
góa đã bỏ hai đồng tiền kẽm vào hòm tiền ở Đền thờ: “Bà góa này đã bỏ vào nhiều
hơn ai hết, bởi vì những người khác đã rút từ tiền dư bạc thừa của họ… còn bà
đã bỏ vào tất cả những gì bà có để sống” (Lc 21,3-4).
Chúa Giêsu sẽ nói sao về những gì ta cho đi?
Thiên Chúa đã cho ta đôi tay, một tay để lãnh nhận và một tay để
cho đi. Chúng ta không thể trở thành những kho để tích trữ, mà là những con
kênh để chia sẻ (Billy Graham).
33. Cùng nhau tỏa sáng
Bác sĩ Albert Schweitzer được chọn làm “Con người của thế kỷ” vì
công việc ông đã làm cho những người nghèo ở Châu Phi. Trong một cuộc phỏng vấn,
ông nói: “Khi nhìn lại thời còn trẻ, tôi nhận ra sự giúp đỡ, hiểu biết và lòng
can đảm mà nhiều người dành cho tôi quan trọng đến mức nào. Những người nam và
những người nữ ấy đã đi vào cuộc đời tôi và trở nên sức mạnh cho tôi.”
Ngoại trừ cha mẹ tôi, ai đã trở nên sức mạnh cho tôi?
Một ngọn nến chẳng mất mát gì khi nó thắp sáng cây nến khác
(James Keller).
CNTN 5B - CẦU NGUYỆN
VÀ PHỤC VỤ
Lời Chúa: Mc 1, 29-39
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi hội đường, Người cùng với Giacôbê và
Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường,
lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm
tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các ngài.
Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những
bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám: và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người
chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không
cho chúng nói, vì chúng biết Người.
Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi
thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm thấy
Người, các ông nói cùng Người rằng: "Mọi người đều đi tìm Thầy."
Nhưng Người đáp: "Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để
Ta cũng rao giảng ở đó nữa." Và Người đi rao giảng trong các hội đường,
trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ. Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Xoa dịu nỗi đau khổ
Cuộc đời của Chúa Giêsu là một sự
dung hoà tốt đẹp giữa đạo và đời. Thực vậy Ngài không phải chỉ hăng say rao giảng
Phúc Âm, cứu rỗi phần hồn của chúng ta mà hơn thế nữa, bằng những hành động bác
ái yêu thương, Ngài còn xoa dịu những nỗi đớn đau và thống khổ của chúng ta.
Nỗi đau khổ của bản thân sẽ được
vơi nhẹ nếu chúng ta cố gắng xoa dịu nỗi khổ của người khác. Đúng thế, đau khổ
không được chữa trị bằng sự chấp nhận đã đành, mà còn bằng những nghĩa cử chúng
ta làm cho người khác.
2. Tình yêu cần việc làm
Ringhoff là một thuỷ thủ người Đức. Trong dịp mừng thượng thọ 80
tuổi người ta tới tấp đến thăm viếng và gởi lời chúc mừng. Trong số những người
gởi lời chúc mừng có Bộ trưởng Công Chánh. Trong bức thư, ông Bộ trưởng hết lời
khen ngợi ông thuỷ thủ già, bởi vì trong suốt thời gian hành nghề, ông thuỷ thủ
già đã vớt được tất cả 126 người khỏi chết đuối.
Cứu vớt người khỏi chết về phần xác là một hành động cao cả và tốt
đẹp. Vậy thì cứu vớt người khỏi chết về phần hồn lại càng cao cả và tốt đẹp hơn
biết chừng nào? Và trong ngày sau hết chính Chúa sẽ gởi lời chúc mừng đến cho bản
thân họ. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta làm được những gì để xoa dịu những đớn
đau của người khác và hơn thế nữa, chúng ta đã làm được những gì để góp phần
vào công việc truyền bá Phúc Âm, dẫn đưa người khác trở về cùng Chúa.
3. Sống cho người cũng là sống cho mình
Là một bộ phận trong cơ thể, quả tim không sống cho mình nhưng sống
cho toàn thân, không ngừng bơm máu nuôi sống toàn thân. Phổi, gan, bao tử, cũng
không sống cho mình, vì mình, nhưng là sống cho toàn thân, làm tròn chức năng
được trao phó để phục vụ và nuôi sống toàn thể thân mình. Lẽ sống của mọi bộ phận
trong cơ thể con người đều như thế cả.
Nếu một ngày nào đó, tim, gan, thận, phổi, không phục vụ cho
toàn thân nữa mà chỉ quy hướng về mình, chỉ lo phục vụ riêng mình thì đó là
ngày tận cùng của chúng.
Mỗi chúng ta cũng là những tế bào, những bộ phận của một Thân Thể
lớn lao là nhân loại. Chúng ta không thể bo bo chăm lo cho riêng mình nhưng phải
sống hết mình, phải cống hiến đời mình phục vụ tha nhân theo gương Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống hết mình vì Chúa Cha và vì mọi người.
Xin cho chúng con biết noi gương Chúa, đừng chỉ biết quy về
mình, chỉ biết mưu tìm hạnh phúc cho mình, nhưng biết hướng về tha nhân để mưu
tìm hạnh phúc cho họ, vì hạnh phúc chỉ thật sự đến với chúng con khi chúng con
biết đem lại hạnh phúc cho nhiều người.
4. Đừng quên Chúa vẫn ở ngay bên
Paul Tournier kể lại một trong những khám phá quan trọng nhất
trong đời ông như thế nào. Ông thường đến thăm một vị mục sư lão thành và ông cụ
chẳng bao giờ để ông ra về mà không cùng cầu nguyện với nhau.
Ông hết sức kinh ngạc vì cách cầu nguyện đơn sơ của vị mục sư nọ.
Nó giống hệt phần tiếp tục câu chuyện thân mật mà vị thánh tông đồ lão thành ấy
luôn trò chuyện với Chúa Giêsu.
Bác sỹ Tournier “về đến nhà, tôi sẽ kể cho vợ tôi nghe chuyện ấy
và chúng tôi cùng cầu xin Thiên Chúa cho chúng tôi cũng được thông hiệp mật thiết
với Chúa Giêsu như cụ mục sư nọ vậy.
Từ đó, Ngài trở thành trung tâm của giờ phút tĩnh tâm và là người
bạn đồng hành của tôi. Ngài vui lòng về mọi việc tôi làm và cũng quan tâm về việc
đó. Ngài là người bạn thân tôi có thể đem mọi sự xảy đến cho đời tôi ra thảo luận.
Ngài sẽ chia sẻ những niềm vui nỗi khổ, những hy vọng cùng mọi nỗi sợ hãi với
tôi. Ngài có mặt khi một bệnh nhân tâm sự với tôi. Ngài nghe người ấy nói còn
rõ hơn chính tôi được nghe nữa. Và khi bệnh nhân của tôi đi rồi, tôi vẫn còn có
thể trò chuyện với Ngài về người ấy."
Mấy lời trên đây bao gồm yếu tính sinh hoạt của Kitô hữu. Thế là
các môn đệ nguyên thủy đã học được điều trở thành thói quen cho cả đời sống:
đem hết mọi chuyện rắc rối của mình cho Chúa Giêsu và xin Ngài giúp đỡ mình.
5. Lòng biết ơn của mẹ vợ ông Phêrô
Nhà văn Oscar Wilde viết “chuyện hay nhất Thế Giới” trong đó ông
kể: “Đấng Cứu Thế đi từ miền thôn quê tầm thường lên một thành phố muôn phần sặc
sỡ.
Khi đi qua một phố đầu tiên Ngài nghe có tiếng nói phiá trên đầu,
nhìn lên thấy một thanh niên nằm vắt ngang thành cửa sổ. Chúa hỏi sao ngươi lại
bỏ phí linh hồn trong say sưa? Hắn đáp: thưa Chúa, tôi là người phong đã được
Chúa chữa lành, bây giờ tôi còn biết làm gì khác hơn?
Đi xa hơi một chút nữa, Ngài thấy một thanh niên đang lẽo đẽo
theo sau một cô gái mại dâm, Ngài bảo: Tại sao ngươi bỏ phí cuộc đời của ngươi
trong trác táng? Chàng đáp: Thưa Chúa, tôi là người mù được Chúa chữa lành, bây
giờ tôi còn biết làm gì khác hơn?
Cuối cùng ở giữa thành phố, Ngài thấy một người già nằm co dúm
trên đất khóc lóc, và khi được Chúa hỏi ông đáp: Lạy Chúa tôi là người chết được
Chúa cho sống lại, bây giờ tôi còn biết làm gì khác hơn là khóc?
Đó là những ví dụ kinh khủng nói lên cách con người đã tàn nhẫn,
vô tâm khi sử dụng ơn phúc và lòng thương xót của Chúa. Bà mẹ vợ của ông Phêrô
đã dùng sức khoẻ phục hồi của mình để phục vụ Chúa và tha nhân. Đó là cách
chúng ta sử dụng mọi hồng ân Chúa ban.
6. Sống là chiến đấu
Lafontaine có kể một câu chuyện ngụ ngôn như thế này: có một tiều
phu vác củi từ trong rừng về nhà. Củi thì nặng mà sức thì yếu cho nên ông ta cứ
than thở hoài. Sau hết vì quá chán nản, ông đã kêu thần chết đến đem mạng sống
mình đi phứt cho rồi.
Vừa kêu dứt tiếng thì thần chết bỗng hiện ra, mặt mày khủng khiếp,
tay cầm sẵn lưỡi hái. Thần chết hỏi: "Mi gọi ta đến để làm gì?" Ông
tiều phu mặc dù vừa mới đòi chết nhưng khi thấy thần chết thì hoảng sợ và không
muốn chết nữa, bèn nói trớ: "Xin ông làm ơn đặt bó củi này lên vai hộ
tôi."
Thần chết bỏ lưỡi hái xuống và đem bó củi chất lên vai người tiều
phu. Ông này vội vàng cám ơn và nhanh chân rảo bước, không còn thấy nặng nhọc
gì nữa.
Tất cả 3 bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay đều bàn đến những việc
lao động nhọc nhằn trong cuộc sống chúng ta nơi trần gian này. Cuộc sống này quả
là vất vả: ai nấy phải làm lụng từ sáng tới chiều, quần quật hết ngày này sang
ngày khác, hết tháng nọ sang tháng kia để kiếm lấy miếng cơm manh áo.
Kẻ thì lao động chân tay, người thì lao động trí óc, nhưng tất cả
mọi người đều phải làm việc vất vả. Làm để có cái mà ăn, ăn để có sức mà làm.
Làm-ăn, ăn-làm như một cái vòng lẩn quẩn trói buộc con người, cho tới khi con
người làm không nổi, ăn không vô thì cũng là lúc sắp xuôi tay chấm dứt một kiếp
sống làm người.
Ông Gióp nói: "Lao động nhọc nhằn là kiếp sống của tôi.
Ngày của tôi giống như ngày của một kẻ làm công, như một người nô lệ. Tôi phải
buồn sầu mãi cho đến tối và mắt tôi sẽ không nhìn thấy hạnh phúc."
Bài Tin mừng hôm nay mô tả một ngày làm việc của Chúa, một ngày
làm việc của tình yêu, vạch cho ta thấy phương hướng sống trước những công việc
bề bộn cực nhọc.
7. Dành thì giờ
Lần kia, có một người đàn ông đang cưỡi một con ngựa. Khi con ngựa
và người cưỡi ngựa ầm ầm phóng qua, một người nông dân già đang đứng ở cổng cất
tiếng hỏi: “Anh đang đi đâu đấy?”
Người đàn ông la lớn trong khi phóng vụt qua “Đừng hỏi tôi, hãy
hỏi con ngựa ấy."
Người đàn ông cưỡi ngựa tiêu biểu cho người có cuộc sống với
cách sinh hoạt hối hả không ngừng. Người đó không hề có tự do; anh bị nô lệ cho
công việc của mình. Nhưng vấn đề của anh ta còn sâu xa hơn. Anh ta không kiểm
soát được cuộc sống của mình.
Người ta có thể quá muộn để bắt kịp công việc, đến nỗi họ không
dành ra được lấy một phút nào cho bản thân mình. Hoạt động có thể trở thành một
thứ bệnh tật. Đây là một tình trạng nguy hiểm.
Đức Giêsu cũng cần dành thì giờ cho bản thân mình, có chú tâm cẩn
thận đến những nhu cầu thể lý, tình cảm, tâm trí, và tinh thần của bản thân,
thì chúng ta mới có thể luôn lỉ là những người vui vẻ cống hiến.
8. Nơi hoang vắng
Một người đàn ông kia có thói quen tự mình ra đi, vào một khu rừng
hẻo lánh. Ngày kia, vì tò mò muốn biết anh ta đi đâu, nên có người bạn đã đi
theo anh vào rừng. Khi đuổi kịp anh ta, người bạn đó thấy anh đang ngồi yên lặng
trên một khúc gỗ.
Người bạn đó hỏi: “Anh đang làm gì thế?”
Anh trả lời “Tôi đang cầu nguyện."
“Nhưng tại sao anh phải đi đến nơi xa xôi này để cầu nguyện?”
“Bởi vì tôi cảm thấy là Thiên Chúa hiện diện ở đây."
“Nhưng phải chăng chúng ta có thể tìm thấy Thiên Chúa ở tất cả mọi
nơi, và phải chăng ở bất cứ nơi đâu cũng chỉ có một Thiên Chúa đó sao?"
“Thiên Chúa vẫn thế, nhưng tôi thì không."
Mặc dù chúng ta có thể tìm thấy Thiên Chúa, và cầu nguyện với
Người ở bất cứ nơi nào và tất cả mọi nơi – trong nhà bếp, ngoài đường phố, trên
xe hơi, tại nông trại, ở nơi làm việc – tuy nhiên, thật là một ý tưởng hay, khi
có một nơi đặc biệt – bờ biển công viên, núi non, nhà thờ, hoặc ở bất cứ nơi
đâu – mà tại đó, đôi khi chúng ta có thể rút lui khỏi những bận rộn của cuộc sống.
Tại những nơi này, chúng ta cảm thấy rằng dường như Thiên Chúa gần gũi hơn và
thân thiện hơn.
9. Sức mạnh của lời cầu nguyện
Linh mục Samson kể lại lời tự thuật của một người trong một bài
giảng ở nhà thờ Đức Bà Paris như sau: “Tôi đau rất nặng, người ta đem tôi vào bệnh
viện, không ai săn sóc tôi cả, ngoại trừ một chị y tá, chị tỏ ra rất tốt và hết
tình giúp đỡ tôi. Một đêm kia, trời đã rất khuya, tôi thấy chị quỳ gối im lặng
trong phòng, tôi hỏi: “Chị quỳ làm gì thế?”, chị trả lời: “Tôi cầu nguyện cho
ông." Chỉ mấy tiếng đồng hồ thôi đủ làm cho tôi bấy lâu nay không biết
Chúa, bây giờ tôi biết Chúa, tôi thấy Chúa nơi con người chị y tá ấy, giữa những
đau khổ thể xác và tinh thần, nhờ sự săn sóc đầy tình người và những lời cầu
nguyện đầy yêu thương của chị y tá ấy, tôi đã gặp Chúa."
Một thí dụ khác, bác sĩ Longghê là một người Pháp đã từng phục vụ
ở Việt nam cách đây mấy mươi năm và cũng nổi tiếng như bác sĩ Tôm Đulây, người
Mỹ, đã phục vụ ở Đông Nam Á. Ông tận tụy săn sóc, yêu thương các bệnh nhân, bất
kể giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, ngày cũng như đêm. Khi có người hỏi vì sao
ông yêu thương bệnh nhân như vậy? Vì sao ông có thể bỏ ăn bỏ ngủ vì bệnh nhân,
xem bệnh nhân là trên hết? Ông trả lời: “Vì thấy Chúa Giêsu trong mỗi người bệnh."
Mỗi sáng khi đi dự lễ, bệnh nhân lương giáo, ai muốn đi đều được ông cho đi xe
của ông, mỗi chiều Chúa nhật, ông lại đưa các bệnh nhân đi chơi, tham quan nơi
này nơi nọ, và mỗi tối, ông lần hạt chung với các bệnh nhân, vì là người Pháp,
về tiếng Việt ông chỉ thuộc kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh đủ để lần hạt.
Ít lâu sau, Longghê trở về Pháp, vào chủng viện, làm linh mục và tình nguyện
sang phục vụ những người nghèo khổ ở giáo phận Cần Thơ. Nhưng tiếc thay, sau
khi chịu chức, ông bị bệnh và qua đời trước khi tới nơi mong ước.
Nếu chúng ta không bắt chước được bác sĩ Longghê, thì chúng ta
có thể bắt chước được chị y tá trên đây, cầu nguyện cho các bệnh nhân.
10. Đổi mới bản thân
Một triết gia bên Ấn độ, ngồi kiểm điểm lại cuộc đời, đã ghi lại
như sau:
Thoạt tiên ở tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết, tôi đã sốt sắng
kêu xin thượng đế cho tôi có đủ nghị lực và cơ hội để thay đổi cả thế giới.
Đến tuổi trung niên, tôi bỗng nhận ra nửa đời trôi qua, mà chẳng
thay đổi được một ai, tôi liền điều chỉnh lời cầu của tôi với thượng đế.
Khi ấy tôi chỉ xin Ngài cho tôi đủ khả năng hoán cải những người
tôi gặp thường ngày, khởi đi từ những người thân yêu trong gia đình cũng như những
người bạn tôi hằng tiếp xúc.
Thế rồi đến nay, tôi thấy mình đầu tóc bạc phơ và mộng đẹp không
còn nữa. Tôi chỉ xin với thượng đế:
- Lạy Chúa, ít nữa xin ban cho con ơn biến đổi chính mình con.
Tiếc rằng tôi đã không xin với thượng đế điều đó ngay từ tuổi
thanh xuân, khiến tôi bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội để đạt được sự hoàn thiện nơi
chính bản thân mình.
Ta hãy đổi mới cuộc đời theo kiểu mẫu một ngày sống của Chúa
Giêsu.
11. Qua các bí tích Chúa vẫn ở bên ta
Bác sĩ Tissot người Thuỵ sĩ rất nổi tiếng. Ông theo đạo Tin Lành
nhưng luôn tôn trọng nếp sống của người Công Giáo. Một hôm ông tới chữa bệnh
cho một bà ngoại quốc, bà đang sốt nặng và tỏ ra hoảng hốt cáu kỉnh. Là người
Công giáo, bà đòi gặp một linh mục trước rồi mới chịu để bác sĩ chích thuốc chữa
bệnh. Sau khi được giải tội và xức dầu, bác sĩ Tissot thấy bệnh nhân bình tĩnh
dịu dàng khác thường. Sáng hôm sau, bác sĩ Tissot trở lại, thấy bà giảm sốt và
bắt đầu bình phục bác sĩ Tissot thường nói chân thành: "Nhiều bệnh nhân
Công giáo đã lành bệnh nhờ bí tích xức dầu."
Tin Mừng hôm nay cho ta thấy Chúa đến giường bà mẹ vợ ông Simon
đang sốt nặng, cầm tay đỡ bà dậy. Được khỏi ngay, bà chỗi dậy lo việc phục vụ
Chúa và các môn đệ. Chúng ta có thể nghĩ tới Chúa Giêsu đã thực hiện bí tích xức
dầu cho bà. Mọi bí tích đều do Chúa thiết lập và cử hành trước. Cử hành bí tích
là làm lại cử chỉ của Chúa Giêsu. Kèm theo một lời của Chúa hay lời cầu nguyện
của Giáo hội.
12. Trong cầu nguyện có nghỉ ngơi và tìm được sức mạnh
Tạp chí Thế Giới Bên Ngoài (Outdoor World) có đăng một bài rất
hay của Barry Lopez.
Vào một buổi sáng mưa phùn, Barry thức dậy một mình đi dạo trong
rừng trước buổi điểm tâm. Vừa rảo bước giữa những dãy thông và bá hương. Barry
vừa nhớ lại một buối sáng y hệt sáng hôm nay, khi còn là chú bé con, chàng đã
được nhìn thấy ông nội một mình bước ra khỏi nhà đi dạo ngang qua chính những
hàng cây này. Khi ông nội trở về chú bé Barry hỏi thăm nội đã đi đâu và đã làm
gì. Ông nội mỉm cười, ôm choàng Barry rồi nói: "Nào chúng ta hãy cùng đi
dùng điểm tâm, cháu nhé!"
Tiếp tục bước đi dưới cơn mưa phùn, Barry gặp một quãng rừng trống.
Chàng liền quỳ xuống và đặt đôi tay lên mặt đất ẩm ướt. Điều này gây cho chàng
cảm giác rằng chàng đang hiệp nhất với toàn thể vũ trụ. Barry nhớ lại lời ông nội
đã từng dạy bảo chàng: Khi nào cảm thấy cô đơn thì nên đi bách bộ vào rừng tìm
yên tĩnh, đoạn làm bất cứ điều gì đang được thôi thúc trong lòng, chẳng hạn như
quì gối xuống đặt tay lên mặt đất.
Nửa giờ sau, khi Barry trở về nhà, ông cảm thấy như được đổi mới,
được hồi phục sức lực. Bấy giờ ông mới hiểu được lý do ông nội thường hay đi dạo
trong rừng vào buổi sớm mai. Bà của Barry có lần nói cho ông hay đấy chính là
cách thức ông nội cầu nguyện. Ông ấy luôn luôn đi sang tận mé rừng bên kia, đứng
trên bờ biển, tay thọc vào túi, lắng nghe đại dương reo.
Giữa những bận rộn của cuộc sống, Chúa Giêsu vẫn tìm thời gian nghỉ
ngơi và cầu nguyện. Chúng ta cũng nên làm như thế.
13. Lặng yên
Một con tàu của hải quân Anh bị tai nạn. Trong khi bị nạn, con
tàu vang lên một tín hiệu được gọi là tín hiệu "Lặng Yên." Tín hiệu
này có nghĩa là: "Hãy ngưng tất cả những gì bạn đang làm. Hãy nghỉ ngơi và
xem xét lại tình hình của mình, và chuẩn bị làm những gì thật khôn ngoan."
Trước khi tín hiệu vang lên, ít có thuỷ thủ nào biết được điều
nào là điều khôn ngoan để mà làm đây. Nhưng trong thời gian nghỉ ngơi, họ đã biết
được điều gì cần làm. Tín hiệu "Lặng Yên" đã cứu được hàng ngàn mạng
sống quân Anh và hàng triệu bảng Anh.
Trong đời sống thường nhật chúng ta thường bị rơi vào tình trạng
khẩn cấp và chúng ta cũng chả biết làm gì ngay lúc đó. Thế rồi chúng ta la
toáng lên; "chúng ta có thể làm gì đây?" Thực sự, điều tốt nhất chúng
ta có thể làm là nghỉ ngơi và yên lặng. Sự nghỉ ngơi thường tạo nên điều kiện để
ta thành công và tránh cho ta những thất bại.
14. Thinh lặng tận hưởng cái đẹp
Một hôm, nhạc sĩ André Kostelanetz đến thăm nghệ sĩ Pháp Henri
Matisse. Khi Kostelanetz đến nhà Matisse, thần kinh ông bị suy nhược và ông gần
như kiệt sức. Matisse nhận ra tình trạng sức khoẻ người bạn, ông vừa đùa vừa
nói; "Này ông bạn, ông phải tìm ra những cây Áctisô cho đời sống của
ông." Nói xong, ông ta nắm tay dẫn Kostelanetz ra khu vườn nhà ông.
Khi cả hai đến gần một đám cây Áctisô, Matisse dừng lại. Ông nói
với Kostelantz là mỗi buổi sáng sau khi làm việc một lúc ông thường đến với đám
Astisô này để nghỉ ngơi yên tĩnh. Ông chỉ đứng đó ngắm nhìn đám Acstisô.
Đoạn Matisse nói thêm: "Dầu tôi đã vẽ được trên 200 bức
tranh tôi cũng vẫn luôn luôn nghiên cứu tổng hợp những màu sắc mới cũng như tìm
những bức mẫu tân kỳ. Không ai được phép quấy rầy tôi khi tôi lặng yên đứng ngắm…
điều này mang lại cho tôi nguồn hứng mới, một sự xả hơi cần thiết cũng như một
triển vọng mới cho công việc của tôi."
Mỗi người chúng ta nên ghi vào lòng lời Matisse khuyên nhủ André
Kostelanetz. Chúng ta phải tìm những đám Actisô cho đời chúng ta.
15. Cầu nguyện nâng tâm hồn lên cao
Bạn đang cần gì? Tôi có thể giúp
bạn giải một bài toán vật lý phải không? Chàng ta đáp: Thưa ông, tôi là sinh
viên khoa văn, tôi dốt khoa học lắm. nhưng xin ông cho tôi hỏi một vấn đề đến đức
tin.
Nhà Bác học trả lời:Đức tin là
môn tôi yếu nhất. Nhưng nếu giúp anh được việc gì tôi sẳn sàng. Thưa ông có thể
vừa là bác học vĩ đại vừa là tín hữu nhiệt thành cầu nguyện không?
Nhà Bác học ngỡ ngàng trước câu
hỏi của anh. Ông ta trả lời: Anh ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện
thôi. Nhà bác học kiêm triết gia nổi tiếng Pascal nói một câu rất thời danh:
"con người chỉ vĩ đại khi họ cầu nguyện."
Vậy cầu nguyện tức là thiết lập
mối tương quan mật thiết với Chúa. Sự cầu nguyện làm cho con người vĩ đại vì nó
thể hiện đúng đắn đạo làm người.
16. Sự cao trọng của một việc làm nhỏ bé
Trong vùng có một quân nhân xấu ai thấy cũng chế diễu, bửu môi,
đánh đập, không ai làm bạn với anh cả. Anh sống đời cô đơn uồn tủi. Khi anh chết,
người ta thấy một tờ di chúc trong tay anh: "Xin trao số tiền 10,000 đồng
của tôi cho cô bé Kitty, vì suốt cuộc sống của tôi không nhận được nụ cười nào
của bất cứ ai, ngoại trừ nụ cười của bé Kitty trong một lần tôi gặp cô đi học về.
Đó là niềm an ủi nhất đời tôi, khiến tôi can đảm sống trọn cuộc đời cô
đơn."
Cũng một câu chuyện nữa về một "Lời nói thân tình."
Tại một góc hè phố, người hành khất bại tay, nằm co quắp mở miệng
xin ăn. Người thì ném tiền vào nón của ông. Người thì cho cách khinh bỉ. Một
người sang trọng đi qua, ông xỏ tay vào túi rồi chẳng tìm được gì, ông nói:
"Này bác, rất tiếc tôi muốn giúp bác nhưng bất ngờ tôi không có đồng xu
nào trong túi mình cả." Người ăn xin trả lời: "Cám ơn ông, ông đã cho
tôi nhiều hơn cả mọi của bố thí. Ông đã gọi tôi bằng "Bác" thành thật
chưa bao giờ trong đời tôi nhận được danh xưng đó trên môi miệng một người sang
trọng bố thí cho tôi."
Thời đại nào, thế kỷ nào, ai ai cũng cần đến "Cái
tình" của con người, cần đến sự nâng đỡ, khích lệ trong cuộc sống.
17. Không cầu nguyện không được việc gì
Đức Cha Tihamer Toth đã nói chuyện với thanh niên như sau:
”Bạn không muốn sao lãng những công việc bề bộn, thế thì, bạn
ơi, hãy nghe tôi: Đây là chiếc tầu vượt đại dương bắt đầu mở máy giữa lúc giông
tố nổi to, và một đoàn hải điểu theo bên như những tầu khác khởi hành. Chiếc tầu
nọ mở hết tốc lực mà không vượt được những làn sóng dữ dội. Gió ngược mạnh vô
cùng, chiếc tầu nghiêng ngả. Cả bộ máy rung chuyển, nhưng chiếc tầu chỉ tiến
khó khăn được đôi chút. Một hành khách thương hại nói: "Khốn nạn đàn hải
điểu. Mở máy tới hàng trăm, hàng ngàn mã lực thế mà chúng ta chỉ tiến được đôi
chút thôi. Chim ơi, chim làm được gì với đôi cánh mong manh và bắp thịt yếu đuối”
?
Nhưng người hành khách thương hại bỗng nói và cảm động vô ngần:
"Đàn hải điểu nhẹ nhàng bay lượn với đôi cánh Đức Chúa Trời ban cho. Chúng
gối lưng lên gió vật. Và trong khi chỉ còn một việc, chỉ trông cậy có máy móc,
người ta tiến rất khó khăn, rất vất vả, thì đàn hải điểu vượt nhẹ nhàng lên trước
chiếc tầu với đôi cánh khéo léo, bay lượn thay cho sức yếu đuối của mình."
Bạn ơi, chiếc tầu đó là hình ảnh kẻ muốn thắng bằng sức riêng
mình. Đôi cánh chim hải điểu là hai tay người ta giơ lên trong lúc cầu guyện. Bạn
có còn cho rằng thời giờ bạn nguyện ngắm là thời giờ bỏ phí không ? Bạn có còn
nói rằng bạn không có thời giờ cầu nguyện không”?
18. Bỏ cầu nguyện, bỏ Chúa
Tại bảo tàng viện ở Wittenberg (Đức) người ta còn lưu giữ một lá
thư của một tu sĩ dòng Augustinô rất thời danh, mới 35 tuổi, đã làm tới chức
Giám tỉnh. Bức thư như sau: "Tôi quá bận rộn, phải đi dạy học, giảng thuyết,
viết sách, tôi làm quản lý, bắt cá ở hồ... nên không có giờ đọc kinh, không có
giờ nguyện gẫm, không có giờ dọn mình dâng Thánh lễ, có lúc phải bỏ luôn cả lễ...”
Vị cựu tu sĩ thời danh ấy là ai? Là Luther, người đã khởi xướng lên chủ thuyết
Tin lành, ly khai khỏi Giáo hội, ra khỏi dòng, lập gia đình, lôi kéo nhiều người
theo, đi vào con đường ly khai.
Tuy thế, có những người vần chưa công nhận sự cầu nguyện là cần
thiết, mà còn bác bỏ và chê trách sự cầu nguyện. Thi sĩ Alfred de Vigny đã nói:
"Thở than khóc lóc, cầu khẩn là hèn nhát."
Phải phân biệt hai lối cầu nguyện: thụ động và chủ động. Cầu
nguyện thụ động là thái độ của kẻ ươn hèn, muốn được điều lành mà không cố gắng,
không làm gì cả: họ chỉ há miệng chờ sung hay ôm gốc cây chờ thỏ. Trái lại cầu
nguyện chủ động là tính cách của người vừa cầu nguyện vừa làm việc để đi tới mục
đích mình cầu xin: Aide-toi, le Ciel 1’aidera!
Câu nói trên của Alfred de Vigny chỉ đúng cho những kẻ cầu nguyện
thụ động. Còn chính nhà khoa học lừng danh Alexis Carrel đã nói: "Dẫu có vẻ
lạ lùng, người ta vẫn phải nhận là đúng rằng kẻ nào cầu xin sẽ được và cửa sẽ mở
cho kẻ gõ." Một nhà khoa học đã từng được giải Nobel vào năm 1912 còn tin
tưởng như vậy, thì sự cầu nguyện đã rõ ràng không phải là sự mơ hồ.
Văn hào Cronin đã than thở cho những kẻ mất lòng tin tường, những
kẻ không cầu nguyện: "Địa ngục là khi lòng mất hy vọng." Sống là hy vọng,
mà mất hy vọng thì còn sống làm sao? Chính vỉ vậy, những kẻ tự tử là những kẻ
không còn tin tưởng, những kẻ không biết có sự cầu nguyện.
19. Cầu nguyện chữa lành tâm hồn
Môt hôm, một bệnh nhân trạc tuổi 40, đến gõ cửa phòng mạch bác
sĩ. Người bệnh nói:
- Đã lâu rồi tôi mắc bệnh mất ngủ. Tôi đã uống nhiều loại thuốc
an thần, thuốc ngủ. Ban đầu uống một viên, sau đó uống hai viên. Hiện giờ tôi uống
những ba viên mà cũng chẳng tài nào ngủ được. Hết muốn sống.
Bác sĩ là một người Công giáo, liền cho một toa thuốc an thần,
thật bất ngờ, lại không mất tiền mua:
- Từ nay ông đừng uống thuốc ngủ nữa. Thế vào đó, trước khi lên
giường, ông hãy đọc một câu kinh sốt sắng, và dâng phú những lo lắng của ông
vào lòng Thượng Đế.
Đã lâu lắm, bệnh nhân chẳng hề đọc kinh chiều. Tối hôm ấy, chàng
áp dụng toa thuốc của bác sĩ đã cho một cách nghiêm chỉnh.
Một tuần lễ sau, thần kinh bớt căng thẳng, chàng được lành mạnh,
ăn ngon ngủ ngon và làm việc như thường lệ.
Bác sĩ Carl Jung cho biết: "Trong 30 năm trời gần đây, có
nhiều người từ các nước văn minh tới phòng mạch của tôi. Tôi nhận thấy rằng những
bệnh nhân trên 35 tuổi, rút cuộc người nào cũng phải tìm một giải pháp tôn giáo
mới hết bệnh. Họ đau vì mất quân bình, mất tin tưởng."
20. Cầu nguyện và làm việc.
Một ông cụ già dẫn một thanh niên xuống thuyền của mình. Thuyền
này có hai mái chèo: một cái đề chữ “cầu nguyện”, một chiếc khác có đề hai chữ
“làm việc."
Người thanh niên nói kháy cụ già:
- Ông cụ ơi, chèo thế này chậm lắm. Người đã làm việc thì không
cần cầu nguyện nữa (có ý nói: chỉ cần chèo một chiếc chèo có chữ “làm việc”
thôi).
Ông cụ không nói gì, chỉ buông chiếc chèo có hai chữ “cầu nguyện”
ra thôi, rồi cứ chèo chèo chiếc có hai chữ “làmviệc” kia.
Ông cụ cứ cố sức chèo nhưng thuyền không đi được bước nào, chỉ
quay tròn đi thôi.
Thấy thế người thanh niên kia mới hiểu rằng, ngoài chiếc chèo
làm việc ra, còn cần phải có chiếc chèo cầu nguyện nữa, thuyền mới đi được.
21. Cầu nguyện là để Chúa lo liệu cho ta
Người ta kể lại rằng, sau khi vẽ xong bản họa đồ kiến trúc cho
ngôi thánh đường nổi tiếng tại Roma - Đại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô,
Kiến trúc sư Bramante dắt đứa con nhỏ của ông cùng đi vào để yết kiến Đức Thánh
Chúa và trình lên cho Ngài xem. Lúc đó là Đức Thánh Chúa Juilio II. Đức Thánh
Cha xem xong Ngài rất vui. Bản họa dồ kiến trúc đã thể hiện được đúng ý muốn của
Ngài. Để tưởng thưởng cho những công lao vất vả của Kiến trúc sư Bramante, Ngài
tế nhị dẫn đứa con nhỏ của ông đến chỗ ngài để tiền rồi bảo cậu bé:
- Con bốc đi. Bốc đầy hai bàn tay của con. Phần thưởng cho con
đó.
Cậu bé do dự mãi không bốc. Đức Thánh Chúa chờ mãi... Sau đó
Ngài thò tay vào bốc và bảo cậu bé đưa vạt áo ra. Ngài bốc bỏ đầy vạt áo của cậu.
Lúc ra về ông bố hỏi cậu con
- Sao Đức Thánh Chúa bảo con đưa tay mà bốc mà con không bốc?
- Ồ, bố không biết là tay con nhỏ còn tay Đức Thánh Cha lớn hơn
sao?
Chúa cũng đối xứ với những ai biết hy sinh cho Chúa như thế.
22. Lý do để cầu nguyện
Đức Cha Tihamer Toth kể:
Một triết gia kia buồn vì người học trò xuất sắc của mình ngày
càng ham suy tư nhiều cho nên việc cầu nguyện càng ngày càng ít đi. Khi hỏi lý
do thì người học trò đáp:
- Thứ nhất, Chúa biết hết
mọi sự, không cần chúng ta nói. Thứ hai, Chúa tốt lành vô cùng, Ngài sẽ cho
chúng ta mọi thứ chúng ta cần. Thứ ba, Ngài là Đấng Vĩnh Cửu, lời cầu nguyện của
chúng ta chẳng thay đổi được Ngài.
Triết gia không nói gì. Ông đến ngồi dưới bóng cây, mặt buồn bã.
Người học trò hỏi:
- Tại sao thầy buồn thế?
- Người bạn của thầy có một thửa ruộng rất tốt, hằng năm sản xuất
rất nhiều hoa màu. Nhưng bây giờ ông ta bỏ mặc không chăm sóc gì cho nó nữa.
- Bộ ông ta khùng ư ?
- Không đâu. Ông còn khôn nữa là đành khác. Ông nói: Chúa yêu
thương vô cùng. Ngài sẽ lo cho tôi mọi thứ tôi cần, thế nên chẳng cần làm ruộng
nữa. Chúa quyền phép vô cùng, dù tôi không cày xới, Ngài vẫn thừa sức cho nó
sinh sản hoa màu.
- Như thế nghĩa là thử thách Chúa rồi còn gì nữa?
- Thì con cũng thế thôi.
Một thanh niên người Scotland làm mướn cho gia đình khá giả.
Nhưng hai tuần sau, anh xin nghỉ. Một người bạn hỏi:
- Có phải công việc quá nặng không?
- Không.
- Hay lương thấp?
- Không, lương cao.
- Có lẽ thức ăn không hợp với anh?
- Thức ăn rất ngon.
- Thế sao anh nghỉ việc?
- Tôi nói để anh biết. "Nhà không có mái che."
Ở Scotland, thành ngữ này ám chỉ một gia đình không có sự cầu
nguyện.
23. Hãy cầu nguyện
Cuốn sách “Quẳng gánh lo đi mà vui sống” được coi là
cuốn sách bán chạy nhất thế giới vào những năm 1948-1950. Tác giả
cuốn sách này, Dale Carnegic, đã thu tập tài liệu trong 7 năm. Đặc
biệt, để cuốn sách có giá trị, tác giả đã đặt giải thưởng 200 mỹ
kim cho ai viết được câu truyện có thực về bản thân: “Tôi đã thắng
được ưu phiền cách nào?” Kết quả cuộc thi, ban giám khảo đã chọn
được hai truyện hay nhất, hay ngang nhau, do đó giải thưởng phải chia
đôi. Sau đây là một trong hai truyện đó:
Trong cuộc kinh tế khủng hoảng, lương trung bình nhà tôi
là 18 mỹ kim mỗi tuần. Nhiều khi không được số đó nữa, vì hễ đau
thì bị trừ lương, mà nhà tôi thường lại đau vặt. Chúng tôi nợ tiệm
tạp hoá 50 mỹ kim và phải nuôi năm đứa con, tôi phải giặt ủi thuê cho
hàng xóm và phải mua quần áo cũ về sửa lại cho cháu bận, rồi âu
sầu quá, tôi hoá đau. Một hôm người chủ tiệm tạp hoá kia lại mách
tôi rằng đứa con trai bảy tuổi của tôi ăn cắp hai cây viết chì. Tôi
hỏi cháu, cháu khóc. Tôi biết rằng cháu ngay thẳng dễ cảm động và
người ta đã làm nhục cháu ở trước đám đông. Từ đó tôi phát đau lung.
Tôi nghĩ tới tất cả những nỗi đau khổ đã chịu đựng và không thấy
chút hy vọng gì về tương lai hết. Ưu tư quá đến nỗi suýt nữa tôi hoá
điên. Tôi khoá máy giặt lại, gọi đứa cháu gái năm tuổi vào phòng
ngủ, đóng kín cửa sổ, lấy giấy và giẻ bịt hết các lỗ hở trong
phòng, cháu hỏi tôi: “Má làm gì đó?” Tôi đáp: “Cho gió khỏi lọt.”
Rồi tôi mở vòi hơi đốt (ta biết hơi đốt rất độc, nếu không đốt, ngửi
vào một lúc sẽ chết). Hai mẹ con nằm cạnh nhau trên giường. Cháu
hỏi: “Má, sao kỳ vậy má? Mới dậy lúc nãy, sao bây giờ đã buồn
ngủ?” Tôi đáp: “Không hại, má con mình ngủ thêm chút nữa.” Rồi tôi
nhắm mắt nghe hơi phì từ vòi ra. Chao ôi! Không bao giờ tôi quên mùi hôi
ấy…! Đột nhiên tôi vẳng tai nghe tiếng âm nhạc, tôi lắng tai. Thì ra tôi
đã quên tắt máy thâu thanh trong bếp. Mặc kệ. Nhưng bài nhạc tiếp
tục. Kế đó có ai lên tiếng ca một điệu cổ:
Tâm hồn bình tĩnh mất đi,
Đớn đau vô ích rước chi vào mình
Chỉ vì dại chẳng nguyện kinh,
Mọi điều cầu Chúa thênh thênh trong lòng
Nghe đoạn tôi nhận thấy đã lầm lẫn một cách thê thảm,
khi một mình tranh đấu ghê gớm với đời mà chẳng biết trông cậy vào
sức mạnh của Chúa. Thế là tôi nhảy phắt dậy, khoá vòi hơi và mở
cửa ra. Tôi vừa khóc lóc vừa cầu xin. Không những tôi cầu Chúa giúp
tôi, mà tôi còn đem cả tấm lòng thành kính cảm tạ Ngài: nhờ Ngài
phù hộ mà tôi có năm đứa con khoẻ mạnh, xinh xắn, thông minh, ngoan
ngoãn. Tôi hứa với Ngài không bao giám quên ơn Ngài nữa. Và tôi đã
giữ được lời hứa ấy.
Tình thế của tôi từ ngày đó mỗi ngày mỗi khả quan.
Nghĩ lại cái ngày ghê gớm mà tôi tự tử, tôi cảm ơn Chúa ngàn lần
đã thức tỉnh tôi, nếu tôi mê muội, sau này tôi mất bao nỗi vui, bao
nhiêu năm đẹp đã lạ lùng! Bây giờ mỗi lần nghe ai có ý định tự tử
tôi muốn la lớn: Đừng! Đừng! Những ngày đen tối nhất trong đời ta sẽ
qua đi, tương lai rực rỡ sẽ tới… HÃY CẦU NGUYỆN.
24. Giá trị của đau khổ
Ông Gióp là người công chính, được Chúa ban của cải dư đầy, ông
có 7 người con trai, chúng khôi ngô tuấn tú, và ba cô con gái của ông là hoa
khôi trong vùng. Con cái ông luân phiên mở tiệc từ nhà anh cả cho đến em út, rồi
ngược lại. Dầu ăn uống vui vẻ như thế, nhưng tối nào ông Gióp cũng họp các con
lại để xét mình và cầu nguyện, xin Chúa soi sáng xem trong ngày các con có làm
gì phiền lòng Chúa và xóm giềng không?
Ngày nọ, qủy đến trình diện Chúa, Ngài hỏi:
- Ngươi có thấy Gióp của Ta trung tín không?
- Thưa Ngài, vì Ngài cho nó giàu có, sống sung sướng, nếu Ngài để
nó khổ, chắc nó sẽ chửi Ngài.
- Ta cho ngươi được quyền trên của cải Gióp có.
Thế là qủy liền ra tay hành hạ Gióp.
Ông Gióp đang ở nhà, thình lình có người chạy về đưa tin:
- Bò đang cày, lừa đang ăn, thì dân Saba xông vào cướp hết, các
tôi tớ bị giết chết, còn mình tôi sống sót về báo tin cho ông….
Hắn còn đang nói, thì một người khác chạy vào nhà hớt hải:
- Thưa ông chủ, lửa từ trời đổ xuống thiêu rụi bầy cừu và các
tôi tớ ngài, chỉ mình tôi chạy thoát về báo tin cho ngài…
Người đầy tớ chưa hoàn hồn, thì một đầy tớ khác chạy đến, gương
mặt tái xanh, giọng run run:
- Ba toán người Kanđê cướp hết lạc đà và giết hết các tôi tớ,
còn mình tôi thoát chạy về đây …
Ông Gióp chưa nghe hết câu, thì bỗng một người khác với gương mặt
đầy kinh hoàng chạy đến:
- Có môt cơn gió lốc từ sa mạc ùa vào làm sập nhà các con ông
đang ăn uống, tất cả đều chết bẹp dí trong đó, chỉ còn mình tôi may mắn thoát chết
chạy về báo tin cho ông….
Bao nhiêu tai họa dồn dập trút xuống ông Gióp. Dầu vậy vẫn không
lay chuyển được lòng trung tín của ông đối với Thiên Chúa, như ông nói: “Chúa
đã ban cho Ngài lại lấy đi, xin chúc tụng danh Chúa!” (G 1, 21)
Ma qủy lại được Thiên Chúa cho phép làm hại trên thân xác ông
Gióp: ung nhọt lở loét khắp người, ông ngồi trên đống tro và dùng mảnh sành cạo
máu mủ chảy xuống!
Bấy nhiêu đau khổ cũng chưa chua xót bằng chính người vợ ông đã
không tiếc lời xỉa xói: “Ông còn kiên quyết trong sự liêm chính của ông nữa hay
thôi? Hãy nguyền rủa Thiên Chúa và chết đi cho rồi!”
Rõ ràng ông Gióp bị Satan, người đời, cả vợ cũng xông vào tấn
công, mà xem ra Chúa chẳng thương! Cả vào thời ân sủng, thời mà Con Thiên Chúa
vào đời, Đức Giêsu cũng gặp thấy cảnh con người phải khổ đủ mặt ở khắp nơi nội
trong một ngày, và Ngài đã ra tay cứu giúp:
Đức Giêsu bước vào đời, không phải Ngài đến đập phá mọi thập
giá, vì chính Ngài “dầu là Con Thiên Chúa, Ngài cũng phải trải qua nhiều đau khổ,
để học cho biết thế nào là vâng phục”(Dt 5, 8), để Ngài dạy cho mọi người biết
biến đổi khổ giá thành Thánh Giá chuộc tội mình, và cộng tác với Đức Giêsu, hy
vọng được bù vào những gì còn thiếu sót trong cuộc Tử Nạn của Ngài (x Cl 1,
24), một khi biết vâng phục thánh ý Thiên Chúa để được kết hợp với Chúa Giêsu.
25. Gương bày lôi kéo
Người ta nói: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo.” Quả thế, lời
nói phải luôn đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức
thuyết phục nhất.
Sách Tin Mừng cũng như bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu
là con người nhất quán, vì việc làm luôn song hành với lời Ngài rao giảng; Ngài
chữa trị cho người bị quỷ ám giữa cử tọa đông đúc ở hội đường, cũng như chữa
lành cho bà nhạc mẫu ông Simon trong căn nhà nhỏ bé, trước sự chứng kiến vỏn vẹn
vài người của gia đình.
Cách Ngài chữa bệnh cho bà cũng rất thân tình: đến bên giường, cầm
tay người bệnh và đỡ dậy. Chúa không chỉ chữa bệnh mà còn muốn bày tỏ tình
thân, sự quan tâm gần gũi đối với bệnh nhân.
Kinh Thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối dạy ta: viếng
kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Bạn đã đọc nhiều lần lời kinh này, nhưng thực hành được
bao nhiêu lần?
26. Thiên Chúa là nơi con người nương tựa
Có một gia đình sống giữa cánh đồng. Đang đêm khuya thì căn nhà
bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái chạy ra sân đứng nhìn một cách bất lực ngọn lửa
đang hừng hực thiêu huỷ căn nhà theo từng luồng gió.
Bỗng người mẹ thấy thiếu mất cậu con út. Khi nghe kêu cháy, cậu
cũng chạy xuống thang, nhưng thấy lửa cháy dữ quá cậu lại chạy ngược lên lầu.
Đang lúc cả nhà hốt hoảng không biết làm cách nào cứu cậu ra thì cánh cửa trên
lầu mở toang, cậu bé kêu la trong hoảng sợ trong khung cửa. Người cha gọi tên
con và kêu lớn với cậu: “Con cứ nhảy xuống đi, ba sẽ đỡ con.”
Nghe tiếng cha, nhưng nhìn xuống bên dưới chỉ thấy khói mù và lửa
cháy, cậu bé hét lên: “Con không thấy ba ở đâu hết!”
Người cha trả lời, giọng cương quyết: “Cứ nhảy đi, ba thấy rõ
con.”
Lửa cháy sát sau lưng buộc cậu bé leo lên cửa sổ, nhảy liều xuống
và an toàn rơi vào vòng tay vạm vỡ đầy tình yêu thương của người cha.
Chính khi đi tìm hạnh phúc là lúc người ta thấy rõ tình trạng bất
lực, không điểm tựa của mình: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là
thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?”
Giữa cuộc đời nhiều thay đổi, người ta mới nhận ra Thiên Chúa là chỗ nương tựa
vững vàng cuối cùng mà họ phải chạy đến giữa cảnh đời bấp bênh: “Ngày đời tôi
thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng. Lạy Đức Chúa,
xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc
bao giờ” (G 7,1.6.7).
27. Nhận để cho
“Đức Giêsu lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay
và bà phục vụ các Ngài.” (Mc 1,29-39)
Ở Palestin có một cái biển nằm giữa đất liền. Sông Gio-đan đổ nước
vào nó, nhưng nó không có chỗ nào khác để thoát nước ngoại trừ việc nước biển bị
bốc hơi rất nhanh do sức nóng của sa mạc. Chính vì thế mà nước biển rất mặn, mặn
đến độ không một sinh vật nào sống nổi, trừ một ít vi khuẩn. Do đó mà nó mang một
cái tên ‘xui xẻo’: “Biển Chết." Biển thường được ví như mẹ sinh ra muôn
loài sinh vật, thế mà biển ở đây vắng bóng sự sống vì nó chỉ biết nhận mọi nguồn
nước đến, mà lại không cho đi cái nó nhận.
Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa chữa lành mẹ vợ ông Si-mon. Bà
đã mau mắn phục vụ Chúa và các môn đệ cách quảng đại, sau khi được chữa lành.
Thái độ “nhận để cho” của bà là sứ điệp Chúa mời chúng ta phải biết nhân rộng
ơn lành của Chúa đến cho người khác. Nhận mà không cho là lối sống giống như biển
chết, không phải của con cái sự sống. Nhận để cho mới chính là sống chứng nhân
của người Kitô hữu trong xã hội hôm nay.
“Chúng ta muốn ban phát
yêu thương đến cho người khác, chính chúng ta phải được tràn đầy tình yêu để
ban phát. Nếu chúng ta cảm nhận được tình yêu Chúa dành cho chúng ta, thì chính
tình yêu này lan toả từ chúng ta” (Têrêsa Calcutta).
28. Sống để làm gì?
Một chiếc xe lửa tốc hành đụng vào một chiếc xe hơi do một sinh
viên trường đại học Cincinnati lái. Thật lạ lùng, cô sinh viên không hề hấn gì.
Biến cố này đã tác động sâu xa đến cô. Cô không cảm thấy sự sống này là của
mình, cũng không sử dụng cuộc sống như cô muốn nữa. Cô cảm thấy mình được cứu sống
không phải do công lao hay tài năng của mình. Cô tin rằng cô được cứu sống là để
“phục vụ” Bà mẹ vợ của Phêrô đáp trả như thế khi bà được Chúa Giêsu chữa lành.
Phúc âm nói: “Bà bắt đầu phục vụ các ngài”
Bạn đã có lần nào giáp mặt với tử thần chưa? Biến cố đó đã tác động
đến quãng đời còn lại của bạn như thế nào? Tại sao?
Bạn không thể cứ mãi mãi là quả trứng tốt. Hoặc bạn sẽ nở ra hoặc
bạn sẽ hư đi (C.S Lewis).
29. Gieo gì thì gặt nấy
Một nhà truyền giáo người Scottland tên là Robert Moffat từ Châu
Phi trở về, cố gắng tuyển một số người để giúp ông. Một đêm lạnh giá nọ, chỉ có
một vài bà già và một cậu bé đến nghe ông nói chuyện. Moffat thầm nghĩ: “Thật
chẳng nên mất thời giờ cho buổi nói chuyện này” Nhưng rồi ông vẫn hết mình làm
việc đó. Những lời nói của Moffat đã thúc đẩy cậu bé. Khi lớn lên, cậu đã trở
thành một bác sĩ, làm việc như một nhà truyền giáo ở Châu Phi. Đó là bác sĩ
David Livingstone, một người nổi tiếng khắp thế giới.
Câu truyện về việc Êli đã dạy cậu Samuel và việc Moffat gợi hứng
cho cậu Livingston mời gọi tôi kiểm điểm xem tôi đã giúp đỡ và truyền cảm thế
nào trong khi tiếp xúc người trẻ?
Hãy đối xử với một em bé như thể em đã là người mà em có thể trở
thành trong tương lai (Halm Ginott).
CNTN 5C - KẺ CHINH PHỤC CON NGƯỜI
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Luca.
Khi ấy, dân chúng chen nhau lại
gần Ðức Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, lúc đó Người đứng ở bờ hồ Giênêsarét. Người
trông thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền
và họ đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và
Người xin ông đưa ra khỏi bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền, giảng dạy
dân chúng.
Vừa giảng xong, Người bảo ông
Simon rằng: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá.” Ông
Simon thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không
được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới.” Các ông đã thả lưới và bắt được
rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn
đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ
cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm.
Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới
chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con,
vì con là người tội lỗi.” Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng
kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa mới bắt được; cả ông Giacôbê và Gioan, con
ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế.
Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông
Simon rằng: "Ðừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta.” Bấy giờ
các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.
TRUYỆN KỂ
1. Thành quả vàng son
Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày
kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo sát Vianney xem có đủ
khả năng học vấn để tới chức linh mục chăng?
Tuy đã dốc hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được
câu nào cho trôi chảy.
Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: "Vianney, anh dốt đặc như
con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì.”
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: "Thưa cha, ngày xưa
Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy
với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?"
Quả thật, con lừa của Thiên Chúa đó, sau này không chỉ trở thành
một cha sở, mà còn được tôn phong làm thánh bổn mạng của các cha sở.
Hôm nay, Simon cũng vất vả suốt một đêm chài lưới mà không bắt
được một con cá nào, nhưng: "Vì lời Thầy con sẽ thả lưới" (Lc 5,5).
Và lạ thay, một mẻ cá lớn bất ngờ, đến nỗi lưới hầu như sắp rách. Trước tình thế
này, Simon chỉ còn biết bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà
nói: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi" (Lc
5,8).
Kẻ nhận mình là tội lỗi yếu hèn đó, sau này đã trở thành Phêrô,
người thuyền trưởng của con thuyền Giáo Hội.
Có một điểm gì đó rất giống nhau, rất tương đồng giữa Vianney và
Phêrô. Đó chính là nhận mình yếu hèn khuyết điểm và hoàn toàn để Chúa lèo lái
điều khiển đời mình. Nhờ đó, Chúa đã ban tặng cho các ngài những đậc ân vô cùng
lớn lao. Vì ơn Chúa chỉ ban xuống cho những kẻ khiêm nhượng.
2. "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới"
Ban đêm là lúc thuận tiện để đánh cá. Nếu một người nào khác nói
với Phêrô "Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá", có lẽ ông đã
vặn lại "Bộ anh khùng hả? Anh muốn cho tôi thành trò cười cho các bạn chài
khác sao? Đã thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào thì làm sao mà bắt
được nữa khi trời đã sáng.”
Nhưng vì người nói câu đó là Chúa Giêsu nên Phêrô đã không vặn lại
như thế. Ông cũng trình bày quan điểm của mình "Thưa Thầy, chúng con đã vất
vả suốt đêm mà không bắt được gì cả", nhưng liền sau đó thì vâng lời
"Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới.” Đối với Phêrô, lời nói của Chúa
Giêsu không như lời của những người khác, vì nó có uy tín mà lời của bất cứ ai
khác đều không có. Bởi thế, nếu Chúa Giêsu đã bảo, thì cho dù tình thế có vô vọng
bao nhiêu đi nữa, cho dù ông đã mệt mỏi bao nhiêu đi nữa, và cho dù người ta có
thể nhạo cười bao nhiêu đi nữa, Phêrô cũng phải vâng theo.
Phêrô đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Tin vào lời Ngài,
ông đã thử làm điều bất khả. Sau này chúng ta lại thấy ông tin vào lời Chúa
Giêsu mà bước đi trên mặt biển.
Chúa Giêsu chẳng những bảo ông thả lưới bắt cá, mà còn bảo ông
làm môn đệ, chia xẻ sứ mạng của Ngài. Phêrô có đức tính gì mà được Chúa Giêsu mời
gọi như thế? Đức tính thứ nhất và quan trọng nhất Chúa Giêsu thấy nơi Phêrô là
Tin vào Lời Ngài. Đức tính thứ hai là Khiêm tốn.
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ là chuyện về đánh cá, mà
còn là chuyện về lòng tin tưởng. Vì Phêrô tin tưởng vào lời Chúa Giêsu, nên
Ngài chẳng những bảo ông thả lưới lại một lần nữa, mà còn kêu gọi ông lãnh nhận
một sứ mạng quan trọng hơn "Từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.”
Mọi kitô hữu chúng ta cũng đều được Chúa gọi như Phêrô. Và điều
quan trọng nhất Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. (FM)
3. Thu phục lòng người
Một ngày nọ, Tổng thống Abraham Lincoln đi đến thành phố
Charleston, tiểu bang South Carolina. Khi đi ngang qua trung tâm thành phố, ông
trông thấy người ta đang tổ chức một cuộc đấu giá buôn bán nô lệ. Chứùng kiến cảnh
buôn bán người, tận đáy linh hồn ông cảm thấy bị khuấy động lên cơn giận dữ của
Thiên Chúa, và một nỗ lực phải làm để cứu những người nô lệ. Do đó ông đã làm một
điều độc đáo và bất thường nhất. Ông bước vào trong đám đông, khi cuộc trả giá
bắt đầu, trước tiên là một em gái nô lệ rất nghèo, ông đã bước ra trả giá trước.
Cuộc đấu giá càng lúc càng sôi động, ông tham gia rất tích cực, và sau cùng đã
trúng giá, đánh hạ tất cả mọi người. Ông trao tiền để lấy người nô lệ. Cô bé
gái được đem đến cho ông. Con bé sợ hãi hỏi ông sẽ làm gì đối với nó. Abraham
Lincoln trả lời:”Tôi sẽ để cho cô được tự do.” “Tự do? Tự do để làm gì”? Cô bé
kinh ngạc hỏi. Ông trả lời:”Tự do để làm bất cứ cái gì cô muốn.” Cô bé thắc mắc
có phải mình được tự do đi đến bất cứ chỗ nào cô muốn, làm bất cứ điều gì cô
thích, nói bất cứ điều gì cô nghĩ, và làm bất cứ nghề nào cô ước muốn. Sau cùng
cô bé mỉm cười và nói:”Cháu sẽ đi theo ông.”
Abraham Lincoln đã chứng tỏ cho chúng ta thấy, ông là một con
người gương mẫu và biết cách “kêu gọi” dân chúng “theo ông.” Ông đã gọi họ bằng
chính gương sáng của mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu kêu gọi Phêrô,
rồi Giacôbê, Gioan và Anrê cũng đi theo Ngài. Đức Giêsu đã cho họ biết Ngài là
ai qua việc giảng dạy, chữa lành, và bằng các đức tính tốt lành, nhân từ và tha
thứ của Ngài.
4. Cần có ơn Chúa để làm người
Hôm đó một nhà phẫu thuật nổi tiếng người Hòa Lan thực hiện một
ca mổ tử thi trong hội đường của một trường đại học. Chung quanh ông có cả một
đoàn sinh viên đông đảo cùng tham dự. Tử thi này là xác của một tội nhân phạm
trọng tội và bị án treo cổ. Khi phóng tầm nhìn trên khuôn mặt của tử thi, ông cảm
thấy như có một cái gì quen quen. Ông nhìn đi nhìn lại nhiều lần và không bao
lâu thì các sinh viên thấy mặt của thầy mình tự nhiên biến sắc rồi cả con người
của ông run lên. Các sinh viên cảm thấy vô cùng ngạc nhiên vì bình thường thì
ông là một con người rất bình tĩnh.
Cuối cùng thì ông phải lên tiếng để giải thích: "Các bạn ạ!
Người này là một trong số những người bạn trong thời thơ ấu của tôi. Bây giờ
tôi là người như thế nào thì các bạn đã thấy. Hãy để tôi nói cho các bạn điều
này: Nếu không có ơn của Thiên Chúa thì tôi thấy chẳng có cái gì khác có thể
giúp tôi tránh khỏi cái tình trạng của người bạn tôi đang nằm ở trước mặt các bạn
đây"
Hãy cộng tác với ơn của Chúa. Hãy mau mắn đáp lại lời mời gọi của
Người. Có Người chỉ đường dẫn lối chúng ta sẽ không sợ lạc hướng. Có Người bảo
trợ chắc chắn chúng ta sẽ thành công.
5. Biết có Chúa
Đây là câu chuyện do Anatole France đã viết và đã được dựng
thành phim được chiếu nhiều trước đây tại Việt Nam. Câu chuyện có liên quan đến
một người đà bà tên là Thái.
Và Thái sống ở Aicập vào thế kỷ thứ tư và có một cuộc sống nổi
tiếng là phóng đãng. Nhà ẩn tu Paphnatius biết được tin ấy thì cầu xin với Chúa
soi sáng giúp đỡ cho ngài để ngài có thể tìm phương tìm cách giúp đỡ cho người
đàn bà này được trở về với Chúa. Sau khi được Chúa soi sáng, Paphnatius cải
trang tìm đến gặp nàng và xin được gặp nàng ở một nơi thật kín đáo. Nàng dẫn
Ngài qua rất nhiều phòng nhưng chỗ nào Ngài cũng chê là chưa đủ an toàn. Thai dẫn
Ngài đến một nơi cuối cùng và ngoài ra thì không còn một chỗ nào khác.Thế nhưng
nhà ẩn tu cũng cho là chưa đủ an toàn. Tức quá không còn kiên nhẫn thêm được nữa,
nàng nó thật to:
"Chắc chắn là không ai có thể nhìn thấy chúng ta ở trong
nơi này. Tuy nhiên nếu ngài muốn tránh được sự hiện diện của Thiên Chúa thì
Ngài sẽ chẳng bao giờ mà làm được điều đó dù ngài có ẩn trốn ở một nơi kín đáo
nào đi nữa"
Vừa nghe thấy thế Paphnatius vội hỏi ngay: "Thế nào? Nàng
mà cũng biết là có một Thiên Chúa sao?
- Có lẽ thế! Tôi còn biết có một thiên đàng dành cho những người
thánh thiện và một hỏa ngục dành cho những người gian ác.
+ Nàng đã biết các điều trên….vậy thì làm sao mà nàng còn dám sống
một cuộc đời như thế trước một vị Chúa luôn luôn thấy nàng?
Những lời như thế đã xoáy vào tâm tư người đàn bà tội lỗi. Với một
thái độ hoán cải nàng sấp mình xuống thú nhận tội lỗi của mình quyết làm lại cuộc
đời và sau nàng đã chết như một vị thánh.
6. Miễn sao Tin Mừng được loan báo
Noi gương Chúa Giêsu, đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã
liên tục ra khơi, chèo ra chỗ nước vừa sâu lại vừa nguy hiểm. Qua 26 năm của
triều đại giáo hoàng, ngài đã thực hiện 146 chuyến công du bên trong nước Ý
(không tính Rôma), 104 chuyến công du ra ngoài nước Ý để thăm viếng hơn 130 quốc
gia trên thế giới. Tưởng cũng cần thêm rằng trong số đó, ngài đã tám lần đến
thăm viếng các nước Hồi Giáo, đặc biệt là vị giáo hoàng đầu tiên bước vào một
ngôi Đền thờ Hồi giáo cổ kính tại Syria vào năm 2001.
Tính ra, Thánh Gioan Phaolô II đã đi công du 1,400,607 km, tương
đương 28 lần vòng quanh trái đất. Ngoài ra mỗi ngày Ngài còn làm việc đến 18 tiếng
đồng hồ.
Ngài đã 'chèo' đến những vùng biển nhiều sóng gió: đến thăm cả
những miền đất thù nghịch với Hội Thánh, vào những 'miền đất thánh' của Phật
giáo, Ấn giáo, Hồi giáo hay Chính Thống giáo... vào cả những nơi mà một số đông
dân chúng sở tại không muốn cho ngài đến, lại đòi ngài phải xin lỗi họ (như
trong chuyến tông du tại Hy Lạp vào tháng 5 năm 2001), đến cả những nơi mà tính
mạng bị đe doạ... Ngài là vị giáo hoàng can đảm nhất trong lịch sử, sẵn sàng ra
khơi, dấn thân vào những 'chỗ nước sâu', những vũng xoáy, những nơi sóng gió
nguy hiểm cho tính mạng... mà không hề biết sợ là gì, miễn sao Tin Mừng được
loan báo.
7. Ơn gọi phục vụ
- "Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?"
Chị Céline đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó
ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của
chị.
Bổn phận của chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40
năm trường, chị Céline chỉ làm ngần ấy công việc. Câu hỏi trên kia chị phải lặp
đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế có đôi phần thay
đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo,
kẻng sắt… nhưng công việc luôn luôn vẫn là gọi người khác.
Ôi chao! biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng
nói đã vang rền trong điện thoại. Nhưng có một điều chị Céline hằng đoán chắc:
người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó… trừ ra chị. Vì thế chị thường
nói đùa: "Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn
luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi.”
Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị
bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết
mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không
quá 10 dòng; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp
thỏm đợi chờ chuông reo… Luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với "sự gián đoạn"
này của mình, chị mới có thể tạo nên "sự liên hệ" của người khác. Chị
bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất
cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị… Với thời gian, da mặt
chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở
nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn.
Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chị Céline
đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng, thổ huyết! Chị bập bẹ: "Chúa đến gọi
tôi lần thứ hai" (và cũng là lần cuối). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực
khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình
không biết từ nay mình sẽ là vô chủ…
Chị Céline đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với
công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự
cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?
8. Ra khơi, mà thả lưới!--AM Trần Bình An
Chủ đề tĩnh tâm Giáo phận năm nay là truyền giáo. Đức Giám mục
hô hào đẩy mạnh phong trào truyền giáo. Phương pháp truyền giáo là phát triển
Dân Sinh, Dân Trí và Dân Đạo.... Bất ngờ ngài nói với anh em một câu của một vị
thừa sai nào đó: “Linh mục Việt Nam chỉ có tài coi sóc họ đạo, chứ không biết gầy
dựng họ đạo.”
Vì tự ái dân tộc, mình giơ tay và đứng bật lên như một cái lò
xo: “Thưa Đức cha, không phải linh mục VN không biết gầy dựng họ đạo, nhưng vì
chưa có “Bài sai" (Văn thư bổ nhiệm một linh mục do Đức Giám Mục ấn ký) của
Đức Cha.” Mình hung hăng chừng nào thì Đức Giám mục bình tĩnh chừng ấy. Với giọng
trầm buồn, ngài thủng thẳng trả lời: “Tôi biết đi truyền giáo thì thiếu thốn và
cực khổ nhiều lắm, nên không nỡ tâm sai các cha đi. Cha nào tình nguyện thì tôi
mới dám. Vậy cha nào tình nguyện thì giơ tay lên.” Mình đếm được sáu cánh tay
giơ thật cao và thật thẳng: Hai cha già, hai cha sồn sồn, và hai cha trẻ. Đức
Giám mục cười và khôi hài: “Các cha đi truyền giáo thì bỏ họ đạo, bỏ chủng viện,
bỏ trường học cho ai?”
Cả hội trường cười hì một cái. Thế là đánh trống bỏ dùi. Vấn đề
truyền giáo chỉ được nêu lên như một sự gợi ý và thăm dò. Rồi đây, sau tuần
tĩnh tâm, ai nấy lại trở về với họ đạo của mình và tiếp tục rao giảng Tin Mừng
cho người đã nghe. Tuyệt nhiên không nghĩ gì, không làm gì cho người lương
dân, những người chưa bao giờ được nghe Tin Mừng.
9. Được mời gọi để loan báo Tin Mừng
Franco là một kịch sĩ người Italia nổi tiếng. Suốt 40 năm lão
luyện trong nghề, ông đã đặt hàng trăm vở kịch thành phim được chiếu trên màn ảnh
truyền hình nhà nước, từ năm 1980 đến nay ông đã dùng để rao giảng Lời Chúa.
Franco đi khắp các thành phố và xứ đạo Italia, vào các nhà tù hay tham dự đại hội
ca múa dân tộc để trình diễn Phúc Âm. Ông dùng mọi nhân tố kịch nghệ để đạo diễn
Tin Mừng, chẳng hạn 16 chương Phúc Âm thánh Marcô được ông diễn xuất thành 96 cảnh.
Ước mong duy nhất của ông là dùng kịch nghệ để loan báo Lời
Chúa. Trong số bạn bè và người thân, có kẻ chế nhạo ông là người mất trí, nhưng
cũng có nhiều người khuyến khích ông trong sáng kiến mới này, và đã có hàng
trăm ngàn người được nghe loan báo Tin Mừng cứu độ qua hình thức nghệ thuật đó.
Ông tâm sự: "Tôi thật may mắn được tin vào Chúa Giêsu và có
Ngài làm bạn đường trong đời. Không có Chúa Giêsu, cuộc đời thật là nhạt nhẽo
vô vị. Và chính lòng tin đã giúp tôi nảy ra sáng kiến lấy Ngài làm đề tài diễn
xuất. Trong bao nhiêu năm cuộc đời nghệ sĩ, tôi đã chỉ nói và diễn xuất những
gì người khác biết. Nhưng từ 10 năm nay, tôi đã lựa chọn việc thông truyền cho
khán thính giả lịch sử nhất thế giới, đó là Phúc Âm kể lại cuộc đời Chúa Cứu Thế.”
10. Biết cúi đầu
Ngày xưa có người hỏi Socrates: “Ông là người có học vấn uyên
thâm, ông có biết khoảng cách giữa trời và đất là bao nhiêu không?”
Socrates trả lời: “Khoảng 1 mét.”
Người đó không tin nói:“Thưa ông, ngoài trẻ sơ sinh ra, chúng ta
ai cũng cao hơn 1m, nếu độ cao giữa trời và đất chỉ có 1m, thì chẳng phải chúng
ta đã đâm vào bầu trời rồi hay sao?”
Socrates tiếp tục nói: “Đúng, ai mà chả cao hơn 1m, nếu muốn nổi
bật giữa trời đất, thì phải biết cách cúi đầu.”
Hóa ra con người cần phải học cúi đầu. Cúi đầu để thấy mình
không bằng ai. Cúi đầu để thấy con người mình thật hạn hẹp cần đến sự trợ giúp
của Trời cao. Cúi đầu để thấy rằng mình cần sự trợ giúp của anh em. Cúi đầu để
thấy mọi sự đều là ân ban của Trời mà biết sống cảm mến tri ân.
Phê-rô và các bạn chài năm xưa đã thấy quyền năng Chúa nhờ biết
cúi đầu. Cúi đầu để vâng lời Thầy mà chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Họ đã được
một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi một thuyền không mang về hết mà phải nhờ đến các
bạn đồng nghiệp.
Mẻ cá này cũng là hình ảnh tiên báo cho lời giảng thuyết đầu
tiên của Phêrô sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phêrô đã nhờ ơn Chúa thánh
Thần mà mang về cho Giáo hội hơn 3000 người tin theo Chúa.
Các tông đồ cũng dựa vào sức mạnh của Chúa để ra đi loan báo tin
mừng. Các ngài đa phần là dân chài nghèo hèn thế mà đã thay đổi cả thế giới.
Văn hoá kytô giáo đã phủ khắp năm châu bốn biển không do tài trí của con người,
mà do quyền năng Chúa thực hiện trên những con người vốn dĩ bất toàn vẫn làm
nên những chuyện phi thường.
11. Mẻ cá lạ
Một trong những lời giảng dạy làm nhiều người khó chịu, nhưng
cũng rất thú vị, của Minh Sư là: ”Thượng Đế gần gũi kẻ có tội hơn là người
thánh thiện.”
Ngài dùng hình ảnh để giải thích như sau:
- Thượng Đế ở trên thiên đàng nắm mỗi người ở đầu một sợi dây.
Khi người ta phạm tội, sợi dây đó bị cắt đứt. Bấy giờ Thượng Đế cột sợi dây lại
bằng cách làm một nút thắt - và như vậy, Ngài kéo họ lại gần Ngài hơn. Cứ như
thế, mỗi khi người ta phạm tội, sợi giây bị cắt đứt, Thượng Đế lại buộc một nút
thắt mới để kéo chúng ta lại gần Ngài nhiều hơn nữa.
“Lạy Ngài! Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc. 5,8).
Bạn thân mến! Trên đây là lời nói của Simon Phêrô thưa với Chúa
Giêsu khi ông cảm nhận được sự thấp hèn tội lỗi của mình trước đấng thánh cao cả
Giêsu, khi ông kinh ngạc trước phép lạ “Mẻ Cá Lạ” mà ông đã được chứng kiến và
cũng là người trong cuộc.
12. Một khởi đầu tốt đẹp
Isaia, Phaolô và Phêrô là trung tâm của các Bài đọc hôm nay. Cả
ba người đã làm những điều vĩ đại cho Thiên Chúa. Tuy nhiên họ đều có mặc cảm tự
ti. Họ có một quan điểm thấp kém về mình. Họ không đặt mình ra trước, nhưng được
Thiên Chúa kêu gọi. Họ chấp nhận ơn gọi ấy một cách miễn cưỡng, nghĩ rằng họ
không xứng đáng với ơn gọi.
Isaia nói: “Tôi là một người có đôi môi ô uế.” Phaolô nói: “Tôi
là người nhỏ nhất trong các tông đồ. Tôi không xứng đáng mang danh tông đồ.” Và
Phêrô tuyên bố: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.” Đó
không phải là một sự khiêm nhường giả tạo của ông mà là một chân lý rõ ràng.
Mỗi người bắt đầu bằng sự nhận ra sự bất xứng và không thích hợp
của mình. Theo một quan điểm tâm linh, sự khởi đầu như thế là lý tưởng. Người
nào đặt mình ra trước xem ra làm hại hơn có lợi. Người ấy chỉ cậy dựa sức mình
là cát mà thôi và ngôi nhà tâm linh xây trên cát chắc chắn sẽ sụp đổ.
Mặt khác, khi chúng ta gặp một người lo sợ, miễn cưỡng ngần ngại,
chúng ta nhận thấy người ấy đáng tin hơn, và nhân đạo hơn. Yếu tố miễn cưỡng
này là cốt lõi của vấn đề, bởi lẽ nếu một thánh nhân hoặc tử đạo hăm hở đi tìm
cái chết hoặc cực hình xem ra không chân thật.
Ở đây có một nghịch lý to lớn. Phaolô nói: “Khi tôi yếu, chính
là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Nghĩa là khi ông nhận ra sự yếu đuối của mình và
chạy đến Thiên Chúa, quyền năng của Thiên Chúa trở nên có hiệu lực nơi ông.
Khi chúng ta biết những yếu đuối của chúng ta, Thiên Chúa có thể
làm chúng ta mạnh mẽ. Khi chúng ta biết sự trống rỗng của chúng ta, Thiên Chúa
có thể đổ đầy chúng ta. Khi chúng ta biết sự nghèo nàn của chúng ta. Lúc đó,
chúng ta thích hợp để làm công việc của Người, và Người hoàn thành trong chúng
ta những việc mà chúng ta nghĩ mình không làm được.
Sự khiêm nhường là một khởi điểm. Điều đó không có nghĩa là
chúng ta chỉ yếu đuối, vị kỷ và hèn nhát. Không có ân sủng, chúng ta không thể
cứu lấy mình, càng không thể cứu người khác.
13. Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người
Thánh Augustinô nói một câu rất nổi tiếng: “Chúa dựng nên con
không cần có con nhưng để cứu chuộc con, Chúa cần sự cộng tác của con.” Mặc dầu,
Thiên Chúa ban ơn để biến đổi con người từ bất xứng trở thành khí cụ hữu hiệu của
Chúa. Nhưng Thiên Chúa luôn luôn cần sự cộng tác của con người. Khi nghe Thiên
Chúa mời gọi, Isaia đã sẵn sàng đáp trả và dấn thân trong sứ mạng tiên tri.
Cũng vậy, sau cú ngã ngựa trên đường Đamát, Phaolô đã hỏi Chúa
Giêsu: “Lạy Chúa, con phải làm gì?”(Cv 22,10). Sau đó, Phaolô đã làm theo sự hướng
dẫn của Chúa: Lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy bởi ông Anania. Cố gắng hoà nhập với
các Tông đồ và các Kitô hữu tiên khởi. Đặc biệt, Phaolô đã dùng khả năng và cống
hiến sức lực của mình để loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Có thể tóm tắt sự cộng
tác của Ngài với ơn Chúa qua chính lời Ngài kể trong thư 2 Côrintô sau đây: “…
Bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần
bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh
giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp
bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm
vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do
những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức
đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các
điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả
các Hội Thánh!”(x. 2Cr 11, 23-28).
Với Thánh Phêrô, mặc dầu đang yên bề gia thất, nghề nghiệp ổn định...Nhưng
Ngài đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Ngài đi theo Chúa trong suốt thời
gian ba năm, được Chúa huấn luyện, uốn nắn. Mặc dầu Phêrô đã chối Chúa ba lần,
nhưng sau đó đã ăn năn khóc lóc, hối hận về hành động của mình. Trước khi đặt
làm đầu Giáo Hội, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần, con có yêu mến Thầy không?
Phêrô đã không ngần ngại thưa lên rằng: “Lạy Thầy, con yêu mến Thầy”(x. Ga 21,
15-19). Phêrô đã thực sự yêu mến Chúa hết lòng hết sức, Ngài cống hiến hết mình
vì sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội thuở ban đầu.
14. Tin vào sức mạnh Lời Chúa
Bài thánh ca “Tin vào tình Chúa” của Cha Mi Trầm viết rằng: “Người
đời dạy con phải sống khôn ngoan nhưng Chúa dạy con phải sống điên dại.. Người
đời dạy con tin vào quyền lực nhưng Chúa dạy con tin vào tình thương. 2. Người
đời dạy con nắm giữ thật chặt nhưng Chúa dạy con phát hết cho người. Người đời
dạy con sẵn sàng dừng lại nhưng Chúa dạy con sẵn sàng mà đi. 3. Người đời dạy
con hãy tin tưởng mình nhưng Chúa dạy con phó thác nơi Ngài.. Người đời dạy con
sống vì hiện tại nhưng Chúa dạy con sống vì ngày mai. ÐK: Xin cho con tin vào
tình Chúa mà dấn bước đời con. Xin cho con tin vào tình Chúa mà đánh liều đời
con.”
Quả thế, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng của xã hội hôm nay gây
ra nhiều mối nguy hại cho cuộc sống, nhất là chúng làm cho các mối tương quan
con người với nhau, giữa con người với thiên nhiên và giữa con người Thiên Chúa
bị đảo lộn. Thậm chí, nhiều khi nó làm cho chúng ta không nhìn thấy Chúa hiện
diện trong đời sống chúng ta và Lời của Ngài không ứng nghiệm nữa!
Chính vì thế, Lời Chúa hôm nay, đầu năm mới này cho thấy Chúa
luôn hiện trong mọi cảnh huống của cuộc sống của chúng ta và mời gọi chúng ta
phó thác tin vào Lời Chúa vì Lời có sức mạnh đem lại hạnh phúc đích thực cho
chính mình, gia đình, giáo xứ, giáo hội và xã hội của chúng ta ngay ở đời này
và đời sau.
15. Khiêm nhường
Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy: người khôn ngoan là người biết
tận dụng mọi cơ hội để làm giàu cho mình, nhưng đồng thời cũng phải khiêm tốn để
biết mình và biết người. Kẻ thành công đỗ đạt là kẻ biết tin tưởng, cậy dựa vào
kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm của người khác.
Và hành trình của đức tin cũng không đi ra ngoài sự khôn ngoan ấy.
Đoạn Tin Mừng hôm nay mô tả cho chúng ta khuôn mặt người khôn ngoan đi tìm Chúa
và đã nhận ra Ngài, không ai khác hơn là thánh Phêrô.
Thực vậy, ông là một dân chài chuyên nghiệp, một người đi biển
nhiều kinh nghiệm quý giá, thế nhưng ông không quá tự phụ với những sự từng trải
ấy, trái lại, ông vẫn có một sự khôn ngoan đặc biệt, đó là khiêm tốn, tin tưởng
và vâng phục vào lời Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy, con xin thả lưới.
Trước mẻ cá lạ lùng này, Phêrô không tự hào về đức tin của riêng
mình để mà khoe khoang với các bạn, cũng như để kể công với Chúa. Trái lại,
thêm một lần nữa, ông vẫn khôn ngoan dựa vào mẻ cá lạ lùng ấy, để suy nghĩ và
nhận ra Đức Kitô là Thiên Chúa của mình. Đứng trước mẻ cá, Phêrô đã thực sự
khiêm tốn thú nhận:
- Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.
Chính nhờ thái độ này, đức tin của ông được củng cố đến độ ông
không chỉ nói lên lời cảm tạ suông, mà còn đáp trả bằng cả cuộc sống của mình,
đó là ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa.
16. Người ấy biết đứng lên
Theodore Roosevelt đã từng nói, "Người đáng được chú ý
không phải người biết nhận xét hoặc người biết ý kiến cho người khác con đường
tốt, nhưng là người ở trong cuộc. Người phải chịu xây sát với nước mắt và mồ
hôi, dũng cảm đấu tranh, lầm lỗi và gặp những trắc trở, biết hăng hái nhiệt
tình, mạnh mẽ tin tưởng vào sự thành công của công việc nhưng lại bị thất bại.
Như thế, chỗ đứng của họ không chung với những tâm hồn cô đơn và nhút nhát,
nhưng với những tâm hồn biết cảm nghiệm được thất bại và chiến thắng."
Không biết trong đầu của Roosevelt đã có ai là thần tượng hay
không, nhưng thật ra điều đó miêu tả một ngư phủ được Chúa Giêsu kêu gọi theo
Ngài để cộng tác vào việc rao giảng Nước Thiên Chúa: Thánh Phêrô, một con người
thuộc giới lao động. Đây là một người ở "trong trận chiến, xây sát bằng nước
mắt và mồ hôi, dũng cảm chiến đấu, lầm lỗi và luôn gặp những trắc trở, hăng hái
nhiệt tình, mạnh mẽ tin tưởng vào sự thành công của công việc nhưng lại bị thất
bại." Hơn hết, đây là một người biết thế nào là "thất bại" và
"chiến thắng."
17. Này tôi đây
Takashi Nagai, một bác sĩ nổi tiếng của Nhật bản, tác giả của
nhiều cuốn sách được yêu thích trong cả nước Nhật – nhất là cuốn Tiếng chuông
Trường kỳ (The Bells of Nagasaki), đã kể về hành trình của đức tin nơi mình từ
khi vào Trường Y khoa năm 1928: “Bắt đầu từ trung học, tôi đã trở nên tù nhân của
chủ nghĩa duy vật... tất cả những gì tôi thấy chỉ là vật chất. Còn linh hồn là
gì? Một bóng ma do những kẻ lừa đảo sáng chế ra để lừa gạt những người đơn sơ,
ngu dốt.”
Năm 1930, cha ông gửi cho ông một bức điện tín: “Về nhà ngay.”
Ông vội vã về. Vừa đến nhà ông đã đờ người ra khi biết mẹ mình bị bệnh đột ngột,
và không còn nói được nữa. Ông ngồi bên mẹ và đọc thấy trong mắt mẹ mình tiếng
chào từ biệt. Ánh mắt người mẹ đã phá đổ tất cả cái ý thức hệ ông vừa dựng lên
cho mình: “Người mẹ đã đưa tôi vào thế giới và đã gầy dựng nên tôi, là người
không lúc nào mà không yêu tôi, và trong giờ sau hết đã nói với tôi rất rõ
ràng. Cái nhìn của mẹ tôi nói cho tôi biết là linh hồn con người vẫn tiếp tục sống
sau cái chết. Cái biết đó đến bởi trực giác, một trực giác mang hương vị của sự
thật.”
Một thân phận rất mong manh, tầm thường, là câu trả lời đầu tiên
cho câu hỏi “Tôi là ai?” trong tâm hồn mọi người. Tiên tri Isaia, khi đứng trước
nhan thánh Chúa, đã sợ hãi cho sự hèn hạ của mình: ..”. tôi chết mất, vì lưỡi
tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông
thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh”; còn thánh Phaolô thì nói: “tôi vốn
là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ,
vì tôi đã bắt bớ Hội thánh của Thiên Chúa”; ngay cả thánh Phêrô cũng phải thốt
lên: “Lạy Chúa, xin Chúa tránh xa tôi, vì tôi là người tội lỗi”
Nhưng Kinh thánh lại cho thấy con người tuy rất hèn hạ, nhưng
cũng rất cao quí: Còn gì tầm thường hơn bụi đất, nhưng còn gì cao quí hơn công
trình của Chúa? Mà con người là gì nếu không phải là bụi đất được nhào nắn bởi
chính bàn tay Chúa (St 3,7)?
Càng ý thức mình là bụi đất, càng thấy hạnh phúc khi biết mình được
Thiên Chúa của cả vũ trụ yêu thương. Không phải con người được dựng nên trong một
nhà máy, mà trái lại, mỗi người đều được đích thân Thiên Chúa nhào nắn nên với
tất cả tình thương của Ngài. Chính tình thương đó đã làm thay đổi tất cả: Thần
Sốt mến đã gắp than lửa đặt vào miệng Isaia và nói: “than lửa này đã chạm đến
lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ”; cũng chính tình thương đó nói với
Phêrô: “Đừng sợ hãi”
Cuộc sống con người luôn là một sự liên kết giữa bản chất tầm
thường của cát bụi với tình thương bao la của Chúa: “Ngắm tầng trời tay Chúa
sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến,
phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8,4-5)
Để trả lời cho câu hỏi “tôi là ai?” của con người, chính Thiên
Chúa đã “tự mặc khải và BAN chính mình cho con người. Như vậy, Người mang đến một
lời giải đáp cuối cùng và phong phú cho những câu hỏi mà con người đặt ra cho
mình về ý nghĩa và cùng đích cuộc đời.” (GLCG 68)
18. Hội Thánh đang mời gọi chúng ta ra khơi
Trong tông thư Novo Millennio Ineute được công bố vào ngày kết
thúc đại năm thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Phaolô II khẩn thiết kêu gọi mọi thành
phần Dân Chúa trên khắp thế giới hãy 'Chèo ra chỗ sâu' (Lc 5, 4) để thả lưới,
vì 'một thiên niên kỷ mới đang mở ra trước mặt Hội Thánh như là một biển cả mà
chúng ta sẽ mạo hiểm trong đó, cậy dựa vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa' (số 58)
Trong dịp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam triều yết Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II nhân chuyến đi viếng mộ hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô vào
ngày 22-1-2002, vị Cha chung của Hội Thánh cũng mời gọi Giáo Hội Việt Nam hãy
ra khơi. Ngài ngỏ lời với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam: 'Giáo Hội Việt Nam được mời
gọi ra khơi: Tôi muốn khích lệ anh em hãy hết sức quan tâm rao giảng Tin Mừng
và truyền giáo...'
Thủ lãnh của chúng ta là Chúa Giêsu đã dấn thân vào chỗ nước sâu
như thế, vị lãnh đạo của Hội Thánh là Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng
như Bênêđictô đã anh dũng ra khơi như thế... thì với tư cách là thân mình của Đức
Kitô, chúng ta không còn chọn lựa nào khác là cùng chèo ra chỗ nước sâu với
Chúa Kitô, cùng ra khơi với Hội Thánh.
19. Là người thu phục người ta
Ba năm trước, tại WYD05 (Đại hội Giới Trẻ thế giới), cô gái Mỹ
Maria cầu nguyện trong một nhà thờ ở Koln. Chị chợt cảm xúc trước tình yêu
Chúa, nước mắt lăn dài. Một nữ tu ở hàng ghế bên kia chạy đến an ủi. Maria cám
ơn và nói: “Không có gì phải lo khi có những giọt nước mắt chảy ra vì Giêsu.”
Sau đó, Maria mới biết rằng nãy giờ nữ tu kia đang cầu nguyện cho mình. Năm nay
tại WYD08, nữ tu Maria quỳ cầu nguyện trong một nhà thờ ở Sydney, cũng với mong
ước đánh động một tâm hồn đang ngồi ở hàng ghế bên kia. Theo Chúa là trở thành
người thu phục người ta, không phải về cho mình, nhưng về cho Chúa. Việc thu phục
ấy có thể bằng lời cầu nguyện sốt sắng như hai chị nữ tu trên đây, hoặc bằng hoạt
động tông đồ như bao giáo dân, tu sĩ, và linh mục đang triển khai khắp chốn.
Mời Bạn: Có nhiều cách để thu phục người ta đến với Chúa: đời sống
đạo tốt lành, gia đình Công giáo hạnh phúc, cuộc sống phục vụ người nghèo, đời
sống bác ái yêu thương, hay các công tác Công Giáo Tiến Hành như thăm viếng,
giúp đỡ người neo đơn... Bạn cũng có thể nghĩ ra một cách thu phục người ta
thích hợp với khung cảnh của mình.
20. Sự khôn ngoan Nước Trời
Thi sĩ Anh Ruyard Kipling viết một bài thơ có tựa đề “Thép Lạnh”,
nói về một nam tước khởi loạn chống đối và cố gắng lật đổ nhà vua. Ông bị đánh
bại, bị bắt và bị xiềng xích dẫn đến trước mặt vua. Mọi người đều nghĩ là ông
ta bị xử tử, nhưng thay vì xử tử, nhà vua đã đối xử tử tế với ông và đã cho dọn
bánh và rượu trước mặt ông. Không biết Kipling có định đưa ra bài thơ như một dụ
ngôn hay không về cuộc nổi loạn của chúng ta chống lại Thiên Chúa và phản ứng của
Ngài đối với chúng ta, một phản ứng có thể bị xem là ngu xuẩn theo tiêu chuẩn
loài người.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa vì phản ứng của Ngài
đối với tôi ra sao? Tôi có bắt chước phản ứng của Thiên Chúa trong công việc
hàng ngày của tôi đối với người khác không?
Sự hiểu biết của người khôn ngoan giống như thủy tinh: đón nhận
ánh sáng từ trời và phản chiếu nó. (A.G. và J.C. Hare)
21. Hãy làm điều có thể
Dấu lạ trên bờ hồ Galilê trong Tin Mừng hôm nay trích dẫn lời của
Phêrô. Dấu lạ cho thấy lời nói và việc làm của Chúa Giêsu không phải là những
hành động của quá khứ xa xôi. Chúa Giêsu vẫn luôn tìm kiếm những người được chuẩn
bị để dám liều theo lời Ngài vì thực sự tin vào Ngài. Niềm tin của Phêrô vào
Chúa Giêsu và việc bắt được nhiều cá sau đó được ghi nhận, không những để khuyến
khích mà còn mời gọi chúng ta bắt chước Phêrô.
Đâu là sự liều lĩnh mà Chúa Giêsu mời gọi đảm nhận lúc này trong
đời tôi?
Lỗi lớn nhất là không làm gì cả vì bạn chỉ làm được rất ít. Hãy
làm tất cả những gì bạn có thể. (Sydney Smith)
22. Bỏ hết mọi sự mà theo Chúa
Tony de Mello, một linh mục Ấn độ,
thực hiện một chương trình truyền hình qua vệ tinh được phát sóng tới 76 trường
đại học ở Mỹ và Canada và gồm 3.000 sinh viên trong cuộc đối thoại. Tony lớn
lên gần Bombay, Ấn độ. Một ngày nọ, ở trường trung học về, Tony hỏi cha là anh
có thể đi tu làm linh mục được không. Người cha nói: “Không được, con là con
trai một, cha muốn con duy trì dòng họ.” Thế rồi, sau 14 năm không có thêm con,
mẹ của Tony bỗng có thai. Khi bà được cấp tốc đưa đến bệnh viện để sinh, Tony
chạy bộ bốn dặm. Đến nơi anh hổn hển hỏi cha: “Trai hay gái vậy cha?” Cha anh
trả lời: “Con có em trai” Tony nói: “Tuyệt, giờ đây con có thể trở thành linh mục
được”
Tôi có hăng say theo Chúa không? Lòng nhiệt thành của tôi phát
xuất từ đâu?
Lòng nhiệt thành dẫn đến những nghĩa cử anh hùng (S.M. Dubnov).
23. Lạy Cha, xin vâng như ý Cha
Như Đức Giêsu, suốt cả kiếp người
đã không làm gì khác hơn là thi hành ý Cha. Cho đến giờ chết vẫn cứ là: “Lạy
Cha, xin vâng như ý Cha.” Nhờ thế sự sống nơi Ngài đã tuôn tràn chứa chan cho
nhân loại.
Liên quan đến chủ đề này, Thánh
Anphongsô có nói về một thầy dòng kia, trông diện mạo bên ngoài thì không có gì
đáng chú ý. Thầy cũng chẳng thường hãm mình bao nhiêu. Thế mà lại hay làm phép
lạ. Bề trên ngạc nhiên mới hỏi: “Con có nhân đức gì trổi hơn anh em, hay có thi
hành việc lành nào sốt sắng, mà sao cha thấy con làm được nhiều sự lạ vậy?” Thầy
dòng khiêm tốn trả lời: “Con không dám so sánh với các nhân đức của anh em con…
Chỉ có một điều con luôn chú ý hơn cả là vâng theo thánh ý Chúa hết lòng: Sự gì
Chúa muốn là con muốn, dù vui sướng hay buồn khổ, an lành hay gian truân.”
Nghe thế bề trên liền hỏi lại:
“Thế chứ cách đây mấy hôm, có kẻ đã làm thiệt hại cho dòng ta, họ đã đốt phá
nhà cửa đất đai của ta tan tành, con có lấy làm đau đớn ưu phiền không?” Thầy
liền thưa lại: “Thưa cha, con không lấy gì làm đau khổ, cũng chẳng lấy chi làm
ưu phiền. Con vẫn bình an như thường, vì biết rằng Chúa luôn muốn cho chúng ta
được phần ích lợi hơn. Nên con cảm tạ Chúa luôn.”
Cha bề trên nghe những lời ấy đã
công nhận rằng: Đây là một vị thánh, có đủ các nhân đức, vì thầy có lòng vâng
phục thánh ý Thiên Chúa hết mình (Anphongsô, Chân Lý Đời Đời, tr. 299).
Vâng theo ý Chúa sẽ giúp ta vượt
qua gian truân khốn khó của đường đời và tìm được bình an và niềm vui dồi dào
phong phú. Vâng theo Chúa không chỉ lúc thuận ý nhưng cả khi nghịch ý. Không chỉ
khi thành công may mắn nhưng cả lúc rủi ro thất bại ê chề.
24. Biết nghe và ghi tâm tạc dạ
Ngày xưa một nhà vua Ấn Độ, muốn
thử nhân tài của một nước chư hầu, liền gửi tới nước này ba pho tượng vàng giống
hệt nhau.
Nhà vua Ấn Độ xin nhà vua chư hầu
cho biết, trong ba pho tượng vàng này, pho tượng nào giá trị nhất.
Nhà vua nước chư hầu cho triệu tập
các nhà thông thái tới để thẩm định. Các nhà thông thái nghĩ ngay tới giá trị mỗi
pho tượng sẽ được căn cứ vào cân nặng nhẹ, hoặc vào tuổi vàng (vàng tốt, vàng xấu),
hoặc vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng. Nhưng rồi các nhà thông thái đều
phải bó tay, vì ba pho tượng này giống hệt nhau về nghệ thuật, về nặng nhẹ, về
tuổi vàng. Không ai tìm ra chi tiết nào khác nhau trong ba pho tượng đó. Nhà
vua rất buồn, vì không xác định được giá trị hơn kém của ba pho tượng. Vua liền
cho loan báo khắp nước: Ai tìm ra được bí mật giá trị của mỗi pho tượng, sẽ được
trọng thưởng. Có một người tù, biết truyện, xin được xem ba pho tượng, và nếu
anh tìm ra được giá trị hơn kém của ba pho tượng này, thì anh chỉ xin một điều
kiện là cho anh được tự do. Lập tức nhà vua cho anh xem ba pho tượng.
Vừa ngó xong ba pho tượng, anh
ta xin một cọng rơm, và cho phép anh mang ba pho tượng vào một phòng kín. Chỉ
trong ít phút sau, anh đi ra, và cho biết giá trị hơn kém của ba pho tượng. Anh
lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng rơm xuyên từ lỗ
tai này sang lỗ tai kia, anh bảo: đây là pho tượng ít giá trị nhất, vì nó tượng
trưng cho hạng người, nghe điều gì, vừa vào tai này, đã ra tai kia, không biết
ghi nhớ, không biết suy nghĩ, đó là hạng người đểnh đoảng, vô tâm, vô trí. Anh
ta lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ hai, thì thấy cọng rơm đi từ
lỗ tai, chạy xuống miệng. Anh bảo: pho tượng này hơn pho tượng trước là vì nó
tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ, nhưng mắc khuyết điểm là vừa
nghe được gì đã vội nói ngay, không suy nghĩ xem điều mình nghe đúng hay sai,
nói ra có lợi hay có hại. Anh lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ
ba, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống bụng. Anh nói: Đây là pho tượng
quí giá nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ, biết để
lòng suy nghĩ, biết ghi tâm tạc dạ.
25. Bỏ ý riêng để tìm ý Chúa
George Washington, tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, từ khi còn
bé đã tỏ ra là một người phục thiện và yêu sự thanh liêm. Một hôm ra vườn làm cỏ,
cậu đã vô tình chặt đứt mấy cây anh đào mẹ cậu rất yêu thích. Thấy mấy cây anh
đào bị chặt, cha cậu hỏi:
- Con có biết ai đã chặt mấy cây anh đào không?
- Con đã lỡ tay chặt mấy cây anh đào đó. Xin cha cứ phạt con đi.
- Con đã làm một điều lỗi, nhưng con đã chữa được lỗi lầm đó khi
con dám nhận lỗi, người cha nói.
Thiên Chúa rất nghiêm khắc, nhưng cũng hết sức nhân từ: “Bạn hãy
xem Thiên Chúa nhân từ và nghiêm khắc thế nào: Người nghiêm khắc với những kẻ
sa ngã, nhưng nhân từ với bạn, cứ một mực cậy nhờ vào lòng nhân từ đó” (Rm
11,22). Bởi tình yêu mà Chúa sẵn sàng ôm vào lòng mọi tội nhân thống hối, nhưng
chỉ mở cửa Nước Trời cho những tâm hồn nào sẵn lòng bỏ ý riêng mà tìm ý Thiên
Chúa: “chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào
mà thôi” (Mt 7,21)
THỨ HAI - CHÚA GIÊSU HOẠT ĐỘNG
Lời Chúa: Mc 6, 53-56
Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ qua biển rồi, các ngài tới miền
Giênêsarét và ghé bến. Các ngài lên khỏi thuyền, tức thì người ta nhận ra Người,
họ liền rảo chạy khắp miền, và nghe tin Người ở đâu thì khiêng những người đau
yếu nằm trên chõng đến đó.
Bất cứ Người vào làng trại hay đô thị nào, người ta cũng đặt các
bệnh nhân ở các nơi công cộng và xin Người cho họ ít là được chạm tới gấu áo
Người, và tất cả những ai chạm tới Người, đều được khỏi bệnh.
TRUYỆN KỂ
1. Giáo Hội vì người nghèo
Mẹ Têrêxa Calcutta nổi tiếng trên khắp thế giới không phải ngài
là một người giỏi giang, cũng không phải nơi mẹ có những điểm hấp dẫn về nhan sắc...
Tuy nhiên, mẹ trở nên một người có thể làm đảo lộn thế giới chỉ vì tình yêu rất
lớn của mẹ dành cho người nghèo và những người bện tật, đến nỗi có những ngày
các nữ tu trong dòng của mẹ phải nấu thức ăn cho khoảng 7 ngàn người, và cả những
người phải cung cấp lương thực, có lúc lên đến 9 ngàn người.
Chúng ta còn nhớ ngày mẹ lìa cõi trần, nhiều nguyên thủ quốc gia
đã tuyên bố quốc tang, nhiều bài phát biểu bày tỏ sự ngưỡng mộ được phát đi với
những lời lẽ hết sức xúc động như: “Từ nay, thế giới bớt tình thương hơn”; hay:
“Hôm nay, người nghèo mất đi một người mẹ yêu thương, người bạn đồng
hành...."
Hôm nay, bài Tin Mừng cũng thuật lại cho chúng ta khái quát về
những hoạt động của Đức Giêsu. Ngài làm việc không biết mệt mỏi, đi đến đâu là
thi ân giáng phúc tới đó.
Đối tượng mà Đức Giêsu nhắm đến để phục vụ chính là những người
nghèo. Vì họ mà Ngài chấp nhận quên ăn, quên ngủ, bất chấp bị quấy rầy, bởi
Ngài thấy được những vấn đề cấp thiết mà họ đang mong đợi.
2. Ơn gọi phục vụ
Bác sĩ Longet người Pháp đã từng phục vụ ở Việt Nam cách đây mấy
mươi năm (và cũng nổi tiếng như bác sĩ Tom Dooley người Mỹ đã phục vụ ở Đông
Nam Á). Ông tận tụy săn sóc, yêu thương các bệnh nhân trong bệnh viện mình, bất
kể giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, ngày cũng như đêm…
Mỗi sáng, khi đi dự lễ bệnh nhân lương giáo ai muốn đi, ông đều
cho đi. Mỗi chiều Chúa nhật, ông lại cho các bệnh nhân đi chơi, tham quan nơi
này, nơi nọ. Và mỗi tối, ông lần chuỗi chung với bệnh nhân Công giáo. Vì là người
Pháp, ông chỉ thuộc các kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng danh đủ để lần hạt chung
với họ là những người khác quốc tịch.
Ít lâu sau, Longet trở về lại Pháp, vào chủng viện dâng mình làm
linh mục và tình nguyện sang phục vụ những người nghèo khổ nhất ở giáo phận Cần
Thơ. Nhưng tiếc thay, sau khi chịu chức, ông bị bệnh và qua đời trước khi tới
nơi mong ước.
3. Chúng tôi cần một Đấng Cứu Thế
Một ngày kia, có một nhà lãnh đạo Trung hoa theo Kitô giáo đến
thăm Hoa Kỳ. Sau khi nghe ông nói chuyện tại một buổi hội họp, một sinh viên hỏi:
“Tại sao nước ông đã có Khổng Tử mà còn muốn có Kitô giáo nữa”?
Ông đáp: “Có ba lý do:
- Thứ nhất: Khổng Tử là một vị tôn sư, còn Chúa Giêsu là Đấng Cứu
Thế. Chúng tôi cần Đấng Cứu Thế hơn là cần vị tôn sư.
- Thứ hai: Khổng Tử đã chết, Đức Kitô vẫn đang sống, chúng tôi cần
một Đấng Cứu Thế đang sống chứ không cần một người đã chết.
- Thứ ba: Khổng Tử cũng có ngày chịu phán xét, chúng tôi cần biết
Đức Kitô là Đấng Cứu Thế trước khi là vị thẩm phán."
4. Hãy đến với Chúa ngay đi.
June là một em bé 5 tuổi xinh đẹp và lanh lợi. Cha của em là một
mục sư. Mẹ em mỗi khi đi đâu thường cho em theo. Ngày nọ, khi hai mẹ con vào
bưu điện, một ông lão thấy em liền nói:
- Này bé, ai cho bé mái tóc đẹp thế?
- Chúa cho cháu đó!
Nói xong bé nhìn thẳng vào ông hỏi:
- Thế ông có được Chúa cho gì không? Có được Chúa cứu không?
Ông già kinh ngạc và xúc động trước câu hỏi đơn sơ đó. Ông thẫn
thờ đáp:
- Không, bé ạ!
- Thế thì ông phải đến với Chúa ngay đi. Rồi Chúa sẽ cho ông
thành một người thật đẹp đẽ!
Nói xong, bé vội chạy theo mẹ. Ít tuần sau, người ta thấy ông
tìm đến nhà thờ và xin theo đạo. Ông cho biết lời của em bé luôn ám ảnh trong đầu
và ông quyết định theo Chúa.
5. Mong chạm đến Chúa
Người hấp hối than thở với Cha sở rằng chẳng cảm nghiệm được sự
hiện diện của Chúa. Cha sở lấy một chiếc ghế đặt bên cạnh, rồi bảo ông hãy nghĩ
rằng Chúa Giêsu đang ngồi đó, hãy đặt tay mình trên tay Ngài trên thành ghế.
Người đó làm theo và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Mấy
hôm sau, được tin ông qua đời, Cha sở đến thăm và thấy tay ông vẫn còn đặt trên
bàn tay vô hình ở thành ghế.
6. Tìm đến Chúa
Nghe tin Người ở đâu, họ bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó… và bấy cứ
ai chạm đến Người thì đều được khoải” (Mác-cô 6,55-56)
Một cảnh tượng tuyệt đẹp và đầy xúc động, đẹp ở sự chủ động của
đám đông, xúc động vì lòng tin vững vàng của họ. Họ đã không đòi hỏi gì hơn là
được chạm đến tua áo người, và mong được chữa khỏi.
Sự kiện đó khiến tôi liên tưởng ngay đến câu chuyên về họa sỹ
Holman Hunt. Ông đã vẽ một bức tranh trong đó Chúa Giêsu đang đứng gõ của một
ngôi nhà. Nhưng điểm khác thường ở đây là cánh cửa đó không có tay cầm và cũng
không có ổ khóa, và vì thế cánh cửa đó chỉ có thể mở bên trong.
Đám đông dân chúng nay đã tự mở cánh cửa lòng mình cho Đấng chữa
lành, và vì thế họ đã được khỏi bệnh.
7. Có Chúa là nguồn sống
Bà Rober người Pháp khi được 26 tuổi bị bại liệt toàn thân,
không thể ăn uống được gì từ năm 1930 tới năm 1981. Suốt 51 năm bị bệnh như vậy,
mỗi ngày bà chỉ được rước mấy giọt Máu Thánh (rượu nho đã được truyền phép). Vậy
mà bà đã sống tới 77 tuổi mới qua đời!
Bà kể lại cho mọi người nghe: “Khi tôi được rước Chúa vào lòng,
như có một sức sống mới lưu truyền tăng thêm nghị lực trong tâm hồn tôi, tôi
không thể diễn tả cho ai hiểu được, vì đó là cảm nghiệm đặc biệt Chúa chỉ tỏ
mình cho tôi!”
Xưa kia người Do Thái hằng ngày phải lượm man-na ăn, mới đủ sức
về đất Chúa hứa; thua xa nay người Kitô hữu mỗi ngày được rước Mình Máu Thánh
Chúa làm cho xác hồn sống về tới Thiên Đàng! (x. Xh 16; Ga 6).
8. Biết Chúa
Mùa hè, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, Thomas Merton một
mình đi du lịch đến Châu Âu. Anh bị choáng ngợp bởi những ngôi thánh đường đẹp
với những bức bích họa sinh động và những cửa sổ kính màu. Anh viết: “Tôi bắt đầu
năng lui tới các nhà thờ… Lần đầu tiên trong đời, tôi khám phá một vài điều về
con người được gọi là Chúa Kitô… Nhưng trên tất cả, tôi bắt đầu cảm nghiệm
chính Chúa Kitô hiện diện trong những ngôi thánh đường đó”
Đâu là hình ảnh Chúa Kitô mà tôi gặp được khi nghĩ tới sự hiện
diện của Ngài giữa chúng ta hôm nay?
Đó là ai mà ánh mắt tự bình
minh?
Nàng thật đẹp, thông minh và tỏa sáng,
Như mặt trời hay mặt trăng. (Song of songs)
9. Tiếng nói của cơ thể
Vào dịp Giáng sinh năm 1980, ba linh mục được phép gặp gỡ 52 tù
binh Mỹ bị giữ làm con tin ở Iran. Các vị giúp đỡ các con tin và đem thư từ của
gia đình đến cho họ. Một vị linh mục nói với con tin Barry Rosen: “Barry, tôi
đã gặp vợ anh và con trai Alexander của anh, ở Nữu ước. Alexander nhờ tôi trao
cho anh cái này” Rồi ngài đặt một nụ hôn lên má Barry. Barry phải khó khăn lắm
mới ngăn được dòng lệ.
Sự tiếp xúc là cách truyền đạt hùng hồn nhất. Một số người ngạc
nhiên thấy người ta chạm vào Chúa Giêsu. Một số khác ngạc nhiên thấy họ được chữa
lành khi chạm đến Ngài.
Liệu tôi có giúp người khác thêm vững mạnh, đặc biệt những người
thân trong gia đình, bằng một cử chỉ thân ái không? Đến mức độ nào?
Hãy cho người khác không những sự săn sóc, mà còn cả trái tim của
bạn. (Mẹ Têrêsa)
THỨ BA - ĐIỀU CHÍNH YẾU CỦA
TIN MỪNG
Lời Chúa: Mc 7, 1-13
Khi ấy, những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập
lại bên Chúa Giêsu, và họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay
không tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Vì theo đúng tập tục của tiền nhân,
những người biệt phái và mọi người Do-thái không dùng bữa mà không rửa tay trước,
và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều
tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng.
Vậy những người biệt phái và luật sĩ hỏi Người: "Sao môn đệ
ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không
tinh sạch?" Người đáp: "Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri
rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: "Dân này kính Ta ngoài môi miệng,
nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những
giáo lý và những luật lệ loài người." Vì các ngươi bỏ qua các giới răn
Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều
như vậy."
Và Người bảo: "Các ngươi đã khéo bỏ giới răn Thiên Chúa, để
nắm giữ tập tục của các ngươi. Thật vậy, Môsê đã nói: "Hãy thảo kính cha mẹ",
và "ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử." Còn các ngươi thì lại bảo: "Nếu
ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi
(nghĩa là của dâng cho Chúa)", và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho
cha mẹ nữa. Như thế các ngươi huỷ bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho
nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế."
TRUYỆN KỂ
1. Sư máy.
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến
mới lạ ở Nhật, đó là “sư máy." Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì
vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt
cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi giơ lên, một tay thì gõ
mõ, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại
Nhật.
Sáng kiến này đưa ra nhằm đáp ứng cho ơn gọi sư sãi ngày càng
khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật. Tuy nhiên, như tác giả bài báo
ghi nhận: những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ có một điều chúng không thể
làm được, đó là chúng không biết yêu thương.
2. Giữ đạo nơi môi miệng
Một bà cụ năng đến nhà thờ cầu nguyện. Một cậu bé lấy làm ngạc
nhiên liền theo dõi. Cậu nấp sau bàn thờ nghe bà cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy
Chúa, con đã già và sống đủ. Bất cứ lúc nào Ngài gọi, con sẵn sàng”
Bà cầu nguyện suốt ba ngày cũng vẫn những lời ấy. Ngày thứ tư,
sau khi bà cầu nguyện, cậu bé giả giọng nói vọng ra ngay sau bàn thờ: “Ta đã
nghe lời cầu xin của con, Ta sẽ đến đón con lúc chín giờ sáng mai.”
Bà về nhà, không sao ngủ được vì lo lắng về điều đã nghe. Bà
không chấp nhận nổi những gì bà đã cầu nguyện.
3. Mồ mả tô vôi trắng đẹp
Sách cổ học tinh hoa có chép một câu chuyện xảy ra tại Hàn Châu.
Có một người bán trái cây đã tìm ra được một bí quyết giữ cho
cam lâu ngày mà vỏ cam vẫn luôn đỏ hồng. Ông bán với giá rất đắt, thế mà thiên
hạ vẫn tranh nhau mua. Có người mua được một trái đem về bóc ra mới vỡ lẽ ra
bên trong chỉ là một trái cam thối. Người đó bèn đem trả lại cho người bán và mắng
nhiếc thậm tệ.
Người bán cam cũng chẳng có vừa. Ông ta cười nói:
- Tôi làm nghề này đã lâu, tôi bán và người ta mua, không ai
than phiền, chỉ có ông mới kêu ca. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng riêng gì tôi,
ông thật chẳng chịu nghĩ cho đến nơi đến chốn. Này thử xem có người đeo hộ phú,
hùng dũng như một quan võ, kỳ thực không biết người đó có giỏi được như Tôn Tần,
Ngô Khởi không? Có người đội mũ cao, đóng đai dài, trông giống như một quan
văn, nhưng liệu họ có giỏi được như Y Doãn, Cao Dao không? Giặc nổi lên không
biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị,
pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương mà không biết xấu hổ.
Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn cao lương mỹ vị, oai
vệ hách dịch vô cùng. Đó bề ngoài chẳng như vàng như ngọc, còn bề trong chẳng
như hỏng nát là gì? Tại sao ông không chịu đi xét những hạng người ấy, mà lại
đi xét quả cam của tôi.
Chúa Giêsu cũng đã nghiêm trách những thành phần lãnh đạo thời đại
của Ngài. Ngài so sánh họ với mồ mả tô vôi, bên ngoài thì sơn phết bóng bẩy,
nhưng bên trong chỉ là những xác chết hôi thối.
4. Cách ăn uống đẹp
Một nhà quí phái kia mở một bữa tiệc để thết đãi khách. Trong số
những thực khách được mời tham dự bữa tiệc này có một bác nông dân. Sở dĩ bác
nông dân này được mời vì bác là người giàu có trong vùng, lại có lòng tốt.
Chính bác đã tặng cho nông dân ở trong vùng một số tiền lớn để xây cất một nhà
thương.
Hôm ấy, trên bàn ăn người ta dọn ra món đầu tiên là cua nướng.
Ngoài dĩa cua nướng dọn cho mỗi người, người ta còn để ở bên cạnh một ly nước
nóng và một lát chanh tươi.
Vì là một nông dân, tính tình chất phác, không lễ nghi khách
sáo, đàng khác có lẽ bác nông dân kia cũng đã đói, vì thế sau khi khai mạc bữa
tiệc, bác đã cắm đầu cắm cổ ăn một hơi hết món cua nướng.
Ăn cua xong, thấy bên cạnh đó có một ly nước nóng và một lát
chanh tươi, tưởng là để cho khách uống, nên bác nông dân vắt chanh vào nước rồi
uống một hơi hết sức tự nhiên. Thực ra đây là những thứ để rửa tay, sau khi ăn
món cua nướng.
Thấy bác nông dân ăn uống như thế, mọi người chung quanh đều trố
mắt nhìn nhau rồi tủm tỉm cười với một sự khinh bỉ. Nhưng riêng với ông chủ
nhà, khi thấy bác nông dân kia đã uống như thế, thì ông đã xử sự một cách hết sức
khôn khéo. Ông cũng vắt chanh vào ly nước của ông và đưa lên uống, để bác nông
dân không bị mất mặt trước những thực khách được mời hôm đó.
Thế là mọi người trong bàn tiệc hôm đó, không ai bảo ai, tất cả
đều vắt chanh vào ly nước của mình, rồi bưng lên uống.
5. Thói quen là bản tính thứ hai
Có con sư tử mồ côi, nó được bầy dê nuôi dưỡng. Sau một thời
gian sư tử con quen ăn thức ăn của dê, và tập kêu be be như dê. Lần kia nó đang
đùa giỡn với bầy dê bên bờ suối, thình lình có con sư tử già xuất hiện, nó gầm
rống lên, làm bầy dê tháo chạy hết, chỉ còn lại sư tử con đứng ngơ ngác. Sư tử
già đến hỏi:
- Sao mày lại chơi với dê? Mày có biết mày là sư tử như tao
không?
- Be be… Sư tử con kêu.
- Mẹ cha thằng này… Sư tử già nổi giận mắng.
Thế là sư tử già vồ lấy sư tử con đưa xuống bờ suối, dí đầu nó
xuống mặt nước và nói:
- Mày nhìn kỹ đi, mặt mày và tao có giống nhau không?
- Be be…..
Sau đó sư tử già tha đến cho sư tử con một miếng thịt sống bắt
phải ăn, sư tử con đưa lên mũi ngửi, rồi lắc đầu:
- Tanh lắm tôi không ăn được, ăn cỏ ngon hơn.
Nhưng sư tử già cứ bắt sư tử con ăn thịt, cấm không cho ăn cỏ.
Chẳng bao lâu, sư tử con không thích ăn cỏ nữa mà nó thèm thịt, nó liền trở lại
đàn dê, tìm các chú dê đã nuôi nó để ăn thịt!!
6. Cẩn thận với hàng giả trong đời sống đạo
Gần ngày Tết, các phương tiện truyền thông lại ra rả nhắc nhở
dân chúng coi chừng hàng giả. Ngày nay mọi sự đều có thể là đồ dỏm, từ thứ đáng
giá tiền tỷ như thiên thạch đến bó rau, củ cà rốt cũng có thể là hàng Trung Quốc
giả hàng Việt.
Thế nhưng, tinh vi nhất và đáng trách nhất vẫn là những thứ giả
liên hệ đến bản thân con người như thói giả nhân giả nghĩa hay thứ tình yêu giả
hiệu khiến bao người bị lừa đau đớn. Thậm chí với Chúa, cũng có người dâng cho
Ngài những thứ giả mà cứ làm như là thật.
Đức Giê-su đã trách những người Pha-ri-sêu và các kinh sư thờ
phượng Chúa trên đầu môi chót lưỡi, nhưng trái tim lại xa cách Ngài, chăm chăm
tuân giữ các truyền thống xưa, còn điều răn yêu thương cốt lõi Chúa dạy thì lại
bỏ quên không giữ.
Đức giáo hoàng Grê-gô-ri-ô Cả nhắc nhở: “Bạn nên cẩn thận tối đa
kể cả khi làm điều thiện. Bởi vì có thể trong khi thực thi điều thiện, bạn đang
tìm kiếm lợi lộc hay ân huệ từ người khác: hoặc bạn ước muốn được người khác ca
ngợi, và muốn có những hiệu quả bên ngoài, chứ không phải phần thưởng bên
trong” (Bài giảng TM 12).
7. Món quà xúc phạm người nhận quà
Trong một vở kịch của G. Marcel, chị vợ dự định tặng cho chồng
món quà sinh nhật là một đôi giày thật đẹp. Chẳng may anh chồng bị tai nạn phải
cưa mất đôi chân. Chị vợ vẫn nhất quyết giữ ý định cũ của mình bất chấp giờ đây
chồng mình không còn chân để đi giày nữa. Đôi giày thay vì là một món quà đem lại
niềm vui hạnh phúc thì lại trở thành một sự xúc phạm nặng nề.
Cách giữ luật theo kiểu người Pharisêu cũng thế. Thay vì thờ phượng
Chúa bằng cuộc sống “công bình, nhân ái và thành tín” như Ngài mong muốn (Mt
23,23) thì họ chỉ dành cho Ngài những lời lẽ ngoài môi miệng và tuân giữ “những
giới luật phàm nhân.” Như thế không phải là xúc phạm nặng nề đến Chúa hay sao?
Chúng ta có thực sự thờ phượng Chúa đúng như lòng Chúa mong muốn
không? Chúng ta không thiếu những nghi lễ long trọng nhưng chúng ta đã sống
công bình và nhân ái chưa? Liệu chúng ta đã đồng cảm với những người khổ đau,
nghèo đói? Liệu chúng ta đã bênh vực, chia sẻ với những người đang chịu bất
công, bị loại bỏ bên lề xã hội? Nếu chưa sống như thế, chúng ta mới chỉ thờ
Chúa ngoài môi miệng, chưa đúng như lòng Chúa mong muốn.
8. Luật là chuyện của tâm hồn
William Barclay kể về một giáo sĩ Do thái suýt bị chết khát, vì
ông thà dùng phần nước ít ỏi hằng ngày của mình để rửa tay theo nghi thức, hơn
là để uống. Sự tuân thủ nghiêm ngặt những thực hành bên ngoài vừa là sức mạnh vừa
là nhược điểm đối với nhiều người Do thái, nhất là những người Biệt phái. Nó
khiến cho họ thêm mạnh mẽ, thêm sùng đạo. Nhưng nó cũng làm cho một số người
trong họ thành những kẻ giữ đạo hình thức, coi trọng lễ nghi bên ngoài hơn là
thái độ của tâm hồn như tình yêu, phục vụ, bác ái.
Khi tham dự thánh lễ, có khi nào tôi coi trọng hình thức bên
ngoài hơn thái độ nội tâm không?
Thước đo sự thờ phượng đích thực, là nó có làm cho ta nhạy cảm với
Đấng “vượt trên ta nhưng lại ở gần ta”, với Chúa Kitô nơi kẻ đói khát, trần trụi,
không nhà không cửa chăng? (John Robinson).
9. Sự thật cần thiết để làm người
Vở kịch “Tốt-xấu-giả-thật” của nhà hát kịch 5B Võ Văn Tần “dẫn dắt
khán giả đi vào vấn đề cốt lõi của đời sống hôm nay: cái giả nhiều quá, cái xấu
nhiều quá! Làm sao để có cái thật, làm sao để có cái tốt?”
Sứ điệp của tác phẩm là: “Chỉ có sự thật và lòng tốt có trong mỗi
người mới làm cho cuộc đời này tốt hơn, thật hơn, con người sống với nhau tử tế
hơn” (x. Lê Quí Dương, “Sống Thật Đi, Cuộc Sống Sẽ Đổi Thay”, Tuổi Trẻ
26.12.2011, tr. 13). Không rõ thời Chúa Giêsu hàng dỏm, hàng nhái, bằng giả,…
có nhiều không chứ thói đạo đức giả đã thành tệ nạn nơi những người Biệt phái.
Chúa Giêsu đả phá thái độ đó vì họ: “tôn kính Chúa bằng môi miệng, còn lòng thì
xa Chúa, gạt bỏ điều răn Thiên Chúa, duy trì truyền thống người phàm.”
Thiện căn ở tại lòng ta. (Nguyễn Du). Gốc rễ của sự thiện nằm
sâu trong tâm hồn bởi thế để sống đạo thật sự trước hết phải bồi dưỡng, thanh tẩy,
chỉnh đốn nội tâm của mình. Phải sống thật trước cái nhìn của Chúa chứ không phải
chỉ lo tô điểm cái vỏ đạo đức trước mặt người ta.
THỨ TƯ - TINH SẠCH TINH THẦN
Lời Chúa: Mc 7,14-23
Khi ấy, Chúa Giêsu lại gọi dân chúng mà bảo rằng: "Hết thảy
hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có
thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người ta xuất ra, chính những
cái đó mới làm cho họ ra ô uế. Ai có tai để nghe thì hãy nghe."
Lúc Người lìa dân chúng mà về nhà, các môn đệ hỏi Người về ý
nghĩa dụ ngôn ấy.
Người liền bảo các ông: "Các con cũng mê muội như thế ư?
Các con không hiểu rằng tất cả những gì từ bên ngoài vào trong con người không
thể làm cho người ta ra ô uế được, vì những cái đó không vào trong tâm trí,
nhưng vào bụng rồi xuất ra." Như vậy Người tuyên bố mọi của ăn đều sạch.
Người lại phán: "Những gì ở trong người ta mà ra, đó là cái
làm cho người ta ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư
tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá,
lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những sự xấu đó đều
ở trong mà ra, và làm cho ngươì ta ô uế."
TRUYỆN KỂ
1. Vấn đề sạch dơ
Khi bàn về chế độ ăn uống của các dân tộc và của cá nhân, những
nhà văn hóa xã hội phải thú nhận không thể đưa ra một tiêu chuẩn chung để qui định
đâu là thức ăn ngon, đâu là thức ăn dở, đâu là thức ăn sạch sẽ bổ dưỡng, đâu là
cái bẩn thỉu và độc hại. Bởi vì, đối với dân tộc này, món óc khỉ chẳng hạn là một
món ăn bổ dưỡng và sang trọng, nhưng đối với dân tộc khác, đó là một thức ăn của
người còn mang nặng thú tính, chưa có nhân tính thuần thục. Người Do thái ngày
xưa cũng tự qui định cho mình một số thức ăn được phép và một số thức ăn không
được phép. Còn thái độ của Chúa Giêsu đối với vấn đề này như thế nào?
Trước hết, phải nhìn nhận rằng cả Chúa Giêsu lẫn người Do thái đều
không đứng trên bình diện sinh học để cứu xét thức ăn sạch hay dơ, tốt hay xấu,
nhưng cả hai phê phán giá trị thức ăn theo quan điểm luân lý.
2. Thanh tẩy tâm hồn, rửa sạch trái tim
Tại phòng triển lãm, có mặt một nghệ sĩ lớn. Ông được đề nghị
làm một cái gì đó để giúp vui cho khán giả. Ông đồng ý và hỏi xem mọi người muốn
ông làm gì. Sau vài giây thinh lặng, một giáo sĩ già đề nghị: “Thưa ngài, ngài
có thể đọc Thánh Vịnh 23 chứ?"
Nhà nghệ sĩ thoáng ngỡ ngàng. Rồi ông nói: “Tôi sẵn sàng chiều ý
ngài, với một điều kiện là khi tôi đọc xong, ngài cũng phải làm như tôi."
Giáo sĩ đáp: “Tôi à? Tôi đâu phải nhà hùng biện? Nhưng nếu ngài muốn, tôi xin sẵn
lòng."
Nhà nghệ sĩ bắt đầu đọc. Giọng điệu tuyệt vời. Khán giả ngây ngất.
Và khi kết thúc, một tràng pháo tay như sấm vang dội khắp phòng.
Rồi đến lượt vị giáo sĩ. Âm giọng bình thường, điệu bộ không có.
Khi ngài đọc xong, chẳng ai vỗ tay, nhưng mọi cặp mắt đều ướt lệ. Nhiều người gục
đầu. Nhà nghệ sĩ bước tới, đặt tay trên vai vị giáo sĩ nói: “Thưa quý vị, lời
tôi chỉ đi tới đôi tai quý vị, còn lời vị này đi vào con tim quý vị."
3. Tội từ trong lòng
Cổ nhân cũng thường hay nói đến
chữ “Tâm." Nếu con người có được cái tâm trong sáng thì cuộc sống ắt sẽ tốt
đẹp, còn những kẻ “Tâm tà” thì dù cái mã bên ngoài có tốt đẹp đến đâu đi nữa sớm
muộn rồi cũng bị lộ tẩy.
Người Tây phương cũng thường
nói: “Tư tưởng của bạn thế nào thì hành động của bạn sẽ như vậy."
Chúa Giêsu đã nói: không phải
cái từ bên ngoài có thể làm cho người ta ra ô uế, mà chính là những cái phát xuất
từ bên trong, từ lòng của con người như tham lam, tà dâm, giết người, trộm cắp,
độc ác, xảo trá, ganh tị... Chính những cái đó mới làm cho người ta ra xấu xa ô
uế.
4. Hai vị sư và cô gái
Một buổi chiều kia, sau trận mưa đầu mùa, cảnh vật tươi mát hẳn
lên, thiên nhiên càng thêm hữu tình, hai nhà sư Tandan và Êkinô cùng xuống núi,
thong dong tản bộ dọc theo con đường dẫn vào một ngôi đền ở làng quê.
Tới một khúc đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh đẹp trong
bộ Kimônô sặc sỡ và chiếc khăn quàng bằng lụa óng ả. Cô gái đứng bên vệ đường
dáng vẻ băn khoăn vì không thể băng qua khúc đường lầy lội với một trang phục
như thế. Nhà sư Tandan liền bảo:
- Đi lối này cô bé!
Rồi không để cô gái kịp xoay xở, Tandan nhanh tay bồng cô bé
lên, bế cô gái qua vũng lầy và đặt cô xuống phía bên kia. Cô gái cúi đầu tỏ dấu
cảm ơn, còn sư thì mỉm cười đáp lễ rồi tiếp tục cuộc đi dạo.
Thế nhưng, kể từ lúc ấy thì Êkino đổi hẳn thái độ. Anh không
thèm nói một lời nào với người bạn nữa. Mãi cho đến khi hai người dừng chân trước
một ngôi đền, thì lúc ấy Êkinô mới hậm hực nói với Tandan:
- Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là
phụ nữ trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm! Sao anh lại dám làm như thế?
Tandan mỉm cười và thản nhiên đáp:
- Tôi đã bỏ nàng ở chỗ vũng lội rồi. Còn anh, sao anh vẫn mang
nàng tới tận nơi đây?
Đúng là những cái bên ngoài không làm cho người ta ra ô uế, mà
chính là cái phát xuất từ bên trong.
5. Đồng vọng ngược chiều
Là một truyện ngắn được đăng trong tuyển tập bốn mươi chuyện rất
ngắn do hội Nhà văn xuất bản, tác giả Lã Thế Khanh đã kể lại cuộc gặp gỡ cảm động
giữa hai người mù: một bà lão ăn xin và một bé gái cũng ăn xin.
Bên một đống rác lớn, bà lão van vỉ xin khách qua đường giúp đỡ
nhưng không có một hồi âm nào ngoài tiếng vo ve của mấy con nhặng xanh đang
tranh ăn trên một chiếc lá bánh. Bà lão vẫn tiếp tục van vỉ điệp khúc cũ, nhưng
càng về sau càng thống thiết, những câu nói rời rạc như rãi chảy ra từ khuôn miệng
dúm dó, xệch xạc của bà.
Trong khi đó, tại một gốc cây sếu già, một bé gái ăn xin mù lòa
đang thiu thiu ngủ. Nó gối đầu trên một cái túi khâu bằng nhiều loại vải cũ, một
cái bát sắt hoen dỉ thủng đáy nằm lăn lóc bên cạnh. Từ sáng sớm đến giờ chưa có
gì trong bụng, nên cô bé đói rũ người. Nó hy vọng giấc ngủ sẽ xua tan cái đói.
Nhưng cô bé bỗng giật thót người: có một bàn chân nào đó dẫm lên người nó. Đang
lúc đói mệt, cô bé gầm lên:
- Mù à, người ta nằm đó mà dẫm lên?
Bà lão ăn xin lại van vỉ:
- Bà mù, bà mù thật cháu à. Thôi bà đã trót, cho bà xin.
Lặng đi một lát, cô bé đưa hai tay sờ mặt mình, từ hai hốc mắt của
nó những giọt nước mắt mặn chát chảy ra, nó ngập ngừng:
- Cháu... Cháu xin lỗi bà, cháu không biết bà như thế.
Bà lão ngúc ngoắc đầu như thể chấp nhận, rồi tiếp tục đi về phía
có đông người. Ngẫm nghĩ điều gì đó, cô bé lấy trong túi áo ra tờ giấy bạc hai
trăm đồng mất góc, và nói một cách lễ phép:
- Bà ơi! Cháu biếu bà này!
Một làn gió thổi mạnh. Những chiếc lá từ trên cây rụng xuống rơi
vào nón, làm bà lão tưởng là cô gái lừa dối mình, còn cô gái thì chờ mãi mà vẫn
không thấy bà lão nhận tiền.
Nếu xét về cái vẻ bên ngoài thì hai nhân vật trong câu chuyện
này chẳng có gì đáng nói. Hay nếu có phải nói trắng ra thì bên ngoài... rất bẩn,
rất dơ. Thế nhưng, bên trong như thế nào thì tôi tưởng mọi người chúng ta đều
thấy. Không thấy được bằng con mắt thịt nhưng thấy được bằng cái tâm của con
người.
6. Đam mê, dục vọng là những động lực cần được lèo lái
Tổng thống Franklin Delano Roosevelt rút tỉa được nhiều điều hữu
ích từ câu truyện sau: Có hai người culi Trung quốc tranh cãi lớn tiếng với
nhau trên một đường phố đông người. Sau khi quan sát một lúc, một du khách tỏ
ra ngạc nhiên vì không thấy họ đánh nhau. Người hướng dẫn giải thích: “Đó là vì
kẻ tấn công trước nhận rằng anh ta hết ý. Và cả hai đã quá kiêu hãnh không muốn
nhìn nhận điều đó.”
Đâu là điển hình của sự kiêu hãnh tốt hoặc không tốt trong đời
tôi?
Cũng như mặt trăng, sự kiêu hãnh của con người có hai mặt, mặt
sáng và mặt tối. Mặt sáng hệ tại nhìn nhận danh dự bản thân một cách trung thực.
Mặt tối hệ tại đề cao giá trị bản thân một cách quá đáng, không đáng trọng.
7. Thiện căn ở tại lòng ta
Chúa Giêsu đến để chữa lành bản tính con người bị tổn thương do
tội lỗi. Ngài muốn đổi mới con người từ bên trong, như lời tiên tri Êdêkien:
“Ta sẽ tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng. Lấy khỏi
mình các ngươi quả tim chai đá, và sẽ ban tặng một quả tim biết yêu thương” (Ed
36,26). Tâm hồn mỗi người là đền thờ cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Đó không
thể là nơi dung túng sự dữ. Chúng ta phải đào tạo con tim mình nên giống con
tim của Chúa Giêsu, nói cách khác, đó là trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa
Kitô.
Bạn đã làm gì để đào tạo con tim của mình? “Chúng ta có đem lại
cho con tim chúng ta những điều bổ ích nuôi dưỡng nó hay không? Hay chúng ta lại
nhồi nặn nó bằng bạo lực, những điều tầm thường làm cho nó thành trái tim chai
đá? (Timothy Radcliffe, O.P.)
8. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Nơi con người cũng vậy, nhìn bên ngoài ai biết tâm địa bên trong
thế nào: “Sông sâu còn có kẻ dò; nào ai bẻ thước mà đo lòng người." Lối sống
hình thức hào nhoáng và tính tự ái sĩ diện làm người ta trau chuốt những cái
bên ngoài mà quên rằng chính những đam mê dục vọng, những âm mưu và toan tính tội
lỗi làm cho con người ra xấu xa, chúng như loài mối đực khoét từ bên trong, để
rồi một ngày kia bừng con mắt dậy thấy mình đã lún sâu trong tội lỗi tự bao giờ.
Thật là nguy hiểm!
9. Biết muốn điều tốt thực sự
Sách Macabê quyển thứ hai thuật lại việc Syria xâm chiếm Israel
vào năm 170 trước Công nguyên và đã cố gắng tiêu diệt niềm tin của người Do
thái như thế nào. Chẳng hạn, bảy thiếu niên đã bị tra tấn và bị giết trước mắt
người mẹ, vì các em không ăn những thức ăn ô uế. Những câu truyện như thế khiến
cho những người Do thái kính trọng đối với những truyền thống xưa. Không may là
những người theo chủ nghĩa truyền thống lại bắt đầu nhấn mạnh đến thức ăn ô uế
hơn là đến một tâm hồn không trong sạch. Đó là một trong những sai lầm về tôn
giáo mà Chúa Giêsu phải điều chỉnh.
Tôi thấy những nghi lễ bên ngoài nào hữu ích trong việc thờ phượng
của tôi?
Ít khi tôi quỳ gối vì cảm thấy mình có lòng tôn kính, nhưng thường
là vì tôi muốn cảm thấy mình có lòng tôn kính.
10. Rau sạch
Chỉ mới gần đây thôi, người ta cổ võ trồng rau sạch, ăn rau sạch.
Để có rau sạch, không chỉ dùng nước rửa cho khỏi đất cát bám vào mà đủ, thậm
chí phải rửa bằng thuốc sát trùng để khử cả những con vi trùng nhỏ mắt không thấy
được. Nếu chỉ thế mà thôi thì mới sạch bên ngoài, chưa “rửa” được những dư lượng
thuốc trừ sâu đã ngấm vào tận sớ mạch của cây rau. Tiêu chuẩn “sạch” ngày càng
được nâng cấp tương ứng với chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao.
Về mặt tâm linh con người cũng thế, người ta không thể trở nên sạch
trước mặt Thiên Chúa chỉ bằng cách tẩy rửa bên ngoài (rửa tay, rửa chén bát,
v.v…) hay kiêng cữ một số thức ăn. Cái làm cho con người dơ bẩn trước mặt Thiên
Chúa xuất phát từ nội tâm con người chứ không phải từ bên ngoài. Bởi thế để nên
trong sạch, trước tiên con người phải thanh tẩy ý hướng, thanh tẩy lòng muốn của
mình.
Nếu thân thể bạn cần tắm rửa hằng ngày để được sạch sẽ thơm tho,
thì tâm hồn bạn cũng thế. Bạn có thể giữ sạch tâm hồn mình bằng cách thường
xuyên kiểm điểm đời sống, sám hối ăn năn và lãnh nhận bí tích Hoà giải.
THỨ NĂM - CHÚA GIÊSU VÀ BÀ MẸ
NGOẠI GIÁO
Lời Chúa: Mc 7, 24-30
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt Tyrô và Siđon. Vào một nhà kia,
Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được.
Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà
nghe nói về Người liền đến phục lạy Người. Bà đó là người dân ngoại, dòng giống
Syrô-Phênixi và bà xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà.
Người nói: "Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy
bánh của con cái mà ném cho chó." Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng:
"Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới
bàn ăn của con cái."
Người liền nói với bà: "Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã
ra khỏi con gái bà rồi." Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên
giường và quỷ đã xuất rồi.
TRUYỆN KỂ
1. Ơn cứu độ đại đồng
Trong nhật ký của mình, Mahatma Gandhi cho biết khi còn theo học
ở Nam Phi, ông rất say mê đọc Kinh Thánh, nhất là Bài Giảng Trên Núi, đến nỗi
ông xác tín rằng Kitô giáo chính là câu trả lời cho nạn kỳ thị giai cấp đã từng
hành hạ dân Ấn suốt bao thế kỷ, thậm chí ông còn muốn trở thành Kitô hữu nữa.
Thế nhưng, một ngày nọ, khi đến nhà thờ dự lễ, ông bị người giữ cửa chặn lại và
bảo ông phải đi lễ ở nhà thờ dành cho người da đen, kể từ đó, ông không bao giờ
quay trở lại nhà thờ nữa.
Chúa Giêsu không bao giờ tỏ ra kỳ thị con người như thế. Tin Mừng
hôm nay là một bằng chứng. Cũng như các tác giả Tin Mừng khác, thánh sử Marcô
cho thấy phần lớn hoạt động và thời giờ của Chúa Giêsu được dành cho người Do
thái; chỉ sau khi sống lại, Ngài mới chính thức sai các Tông đồ truyền giảng
Tin Mừng cho mọi người, bất luận là Do thái hay không Do thái.
2. Thế giới tha nhân
Thật vậy, một người đàn bà có đứa con gái nhỏ bị quỷ ám, vừa
nghe nói đến Người, liền vào sấp mình dưới chân Người. Bà ta là người Hy-lạp, gốc
Phê-ni-xi thuộc xứ Xy-ri-a. bà xin Người trừ quỷ cho con gái bà. (Mc. 7, 25-26)
Để hiểu rõ câu chuyện gặp gỡ này, đừng quên rằng Chúa Giêsu là
người Do thái. Theo tâm thức của người Do thái, chuyện gặp gỡ một người ngoại
là điều không ổn, cũng giống như ta gặp một người nào đó không cùng chủng tộc với
ta vậy.
Nhưng ở đây lòng khiêm tốn tháo gỡ tất cả, bởi lẽ lòng khiêm tốn
là cánh cửa mở rộng. Trước tấm lòng cởi mở của người phụ nữ này, tâm hồn của
Chúa Giêsu cũng mở rộng ra.
3. Buông tay ra
Một người vô thần rất mê leo núi. Ngày kia trượt chân té ngã lăn
từ đỉnh núi xuống. Nhưng may thay ông bám được một cành cây nằm chơ vơ giữa đỉnh
cao và vực thẳm. Giữa lúc chỉ còn biết chờ chết, một ý nghĩ chợt đến với ông: Tại
sao không gọi Chúa đến cứu giúp. Thế là ông lấy hết sức lực, và la lớn: “Lạy
Chúa."
Tuy nhiên bốn bề chỉ có thinh lặng và ông chỉ nghe được tiếng dội
của lời kêu van. Một lần nữa, người vô thần lại kêu xin tha thiết hơn: “Lạy
Chúa, nếu quả thật Chúa hiện hữu thì xin hãy cứu con. Con hứa sẽ tin Chúa và dạy
cho những người khác cũng tin Chúa." Sau một hồi thinh lặng, bỗng người vô
thần nghe một tiếng vang dậy cả vực thẳm và núi cao: “Gặp hoạn nạn thì ai cũng
cầu xin như thế." “Không, lạy Chúa, nghìn lần không. Con không giống như
những người khác. Chúa không thấy sao, con đã bắt đầu tin từ khi nghe tiếng
Chúa phán. Nào bây giờ xin Chúa hãy cứu con đi, và con sẽ cao rao danh Chúa cho
đến tận cùng trái đất."
Tiếng ấy trả lời: “Được lắm, Ta sẽ cứu ngươi. Vậy nếu ngươi tin
thì hãy buông tay ra." Người vô thần thất vọng thốt lên: “Buông tay ra ư,
bộ Chúa tưởng tôi điên sao!”
4. Giữ vững lòng tin
Một sĩ quan quân đội Nga đến gặp một vị linh mục Hungari và xin
được nói chuyện riêng với ông. Viên sĩ quan là một chàng trai trẻ, tướng khí
hung hãn và dương dương tự đắc trong tư thế của kẻ chiến thắng.
Khi cửa nhà khách được đóng lại rồi, viên sĩ quan chỉ cây thánh
giá treo trên tường và nói với vị linh mục rằng: “Ông biết không, cái đó là sự
dối trá do các linh mục bầy ra để làm mê hoặc đám dân nghèo để giúp những người
giầu dễ dàng kềm hãm họ trong tình trạng ngu dốt. Bây giờ chỉ có tôi và ông,
ông hãy thú nhận với tôi rằng: ông không bao giờ tin rằng Chúa Giêsu Kitô là
Con Thiên Chúa."
Vị linh mục cười và trả lời rằng: “Ông bạn ơi, tôi tin thật đấy,
vì đó là sự thật."
“Ông đừng có lừa dối tôi, cũng đừng diễu cợt tôi”, vị sĩ quan
hét lên. Anh ta rút ra một khẩu súng lục, chĩa vào đầu linh mục và hăm dọa: “Nếu
ông không nhận rằng đó chỉ là một sự dối trá, thì tôi sẽ nổ súng."
Vị linh mục điềm tĩnh trả lời: “Tôi không thể nói như thế, Đức
Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa."
Viên sĩ quan vứt khẩu súng xuông sàn và chạy đến ôm vị linh mục.
Anh ta vừa khóc vừa nói: “Đúng thế, đúng thế. Tôi cũng tin như vậy, nhưng tôi
không thể tin rằng có những người dám chết vì Đức tin cho đến khi chính tôi
khám phá ra điều này. Tôi xin cám ơn ngài. Ngài đã củng cố lòng tin của tôi.
Bây giờ chính tôi cũng có thể chết cho Đức Kitô. Ngài đã chứng minh cho tôi rằng:
Điều này có thể làm được."
5. Ai cần hơn
Một người da trắng và một người thổ dân cùng nghe giảng. Người
thổ dân cảm động và xin nhập đạo ngay. Còn người da trắng cũng cảm động nhưng cả
năm sau mới nhập đạo. Trong một buổi phụng vụ, người da trắng hỏi
- Tôi phải mất một thời gian mới có lòng tin, sao anh có lòng
tin sớm thế? Người thổ dân đáp
- Này bạn, để tôi nói cho bạn nghe. Có vị hoàng tử hứa cho chúng
ta chiếc áo mới. Bạn nhìn vào áo mình, tự nhủ áo mình còn đẹp, để mai sau hãy lấy.
Còn tôi, tôi nhìn vào tấm chăn cũ kĩ của mình, thấy nó chẳng ra gì, nên vội
vàng đến nhận áo mới. Bạn ạ, bạn đã có chút khôn ngoan, nên bạn còn muốn dùng
chúng. Còn tôi, tôi không có, nên tôi mau mắn đón nhận sự khôn ngoan của Chúa
Giêsu.
6. Đức tin cần tâm hồn khiêm tốn để lớn lên
Newton, một nhà vật lý học và thiên văn học trứ danh, sau những
thành công hiển hách của sự tìm tòi, ông đã viết:
- Không biết thế giới nghĩ về công việc của tôi như thế nào,
nhưng tôi, trong tất cả các sự tìm tòi của tôi về khoa học, tôi chỉ như một đứa
trẻ con chơi ngoài bãi biển. Có lẽ, đôi khi cũng đã tìm được những hạt sỏi tròn
hơn, những vỏ hến đẹp hơn những cái bạn tôi tìm, nhưng biển mênh mông của chân
lý, dưới con mắt tôi vẫn còn mầu nhiệm quá.
Văn sĩ Walter Scott người Anh đã nói một cách rất nhũn nhặn, sau
bao nhiêu năm làm việc chuyên cần:
-Trong đời sống của tôi, cái dốt đã ngăn tôi lại và dày vò tôi.
Người ta càng biết nhiều bao nhiêu thì lại càng phải khiêm nhường bấy nhiêu,
người ta càng học nhiều thì lại càng tự thấy mình còn dốt.
Socrate đã nói rất có lý:
- Bậc hiểu biết cao nhất của con người là biết được rằng mình
chưa biết gì cả.
Và Sénèque cũng đã viết:
- Đừng tưởng mình là khôn ngoan, mới là khôn.
Ở Hungary có câu châm ngôn rất đúng:
- Nếu anh thông minh, anh đừng khoe khoang.
Người ta thường nói: gà cục tác nhiều thì đẻ trứng ít.
7. Chẳng có chi để phô trương
Một hôm, Alcibiade khoe với Socrate là thầy dạy mình về những
lãnh thổ mênh mông của ông chung quanh vùng Athènes. Socrate liền mở bản đồ ra
hỏi:
- Hãy chỉ cho tôi biết Á Đông ở đâu?
Alcibiade chỉ đúng cái lục địa rộng lớn ấy.
- Đúng! bây giờ chỉ cho tôi biết Hy Lạp ở đâu?
Alcibiade vẫn chỉ đúng.
- Đâu là Péloponèse, Socrate vẫn hỏi.
Alcibiade cố gắng mãi mới tìm thấy cái chấm nhỏ trong bản đồ.
-Vịnh Attique ở đâu?
Alcibiade thấy vịnh Attique là một cái chấm nhỏ quá gần như
không trông thấy, Socrate kết luận: - Đó, bây giờ hãy cho tôi biết phần đất rộng
lớn của anh chỗ nào!
Alcibiade nhận ra lãnh thổ của mình không đáng một phần nhỏ nào
trong bản đồ.
Như vậy, chúng ta thấy cuộc sống của mỗi người đâu có gì đáng tự
hào mà phải khoe khoang, phô trương.
8. Chó con cũng được ăn
Một cô bé đến ăn tối tại nhà một người bạn. Khi mọi người ngồi
xuống, em cúi đầu, chờ đợi lời tạ ơn. Thấy không có ai cầu nguyện, em nói: “Các
bạn giống con chó của tôi, các bạn ăn ngay lập tức” Người Do thái cũng có cái
nhìn như thế về người ngoại đạo. Vì người ngoại thiếu nhạy cảm về Thiên Chúa. Từ
“chó” trong tiếng Hy lạp mà Chúa Giêsu sử dụng ám chỉ một con chó yêu quý, chứ
không phải con chó lang thang ngoài đường. Chúa Giêsu dùng từ này một cách khôi
hài, cũng như cha mẹ dùng từ “nhãi ranh” một cách vui đùa để nói về một đứa trẻ
“con nhãi ranh” Câu trả lời của người phụ nữ hàm ý nhiều hơn.
Tôi đến với Chúa Giêsu để xin ngài giúp đỡ như thế nào? Có thái
độ tự tin, kể cả táo bạo giống như người phụ nữ ngoại giáo này không? Tại sao?
Nếu bạn gõ đủ lâu và đủ mạnh, chắc chắn bạn sẽ đánh thức được một
ai đó (Henry M.Longfellow).
THỨ SÁU - CHÚA GIÊSU VÀ NGƯỜI
ĐIẾC
Lời Chúa: Mc 7, 31-37
Khi ấy, Chúa Giêsu từ địa hạt Tyrô, qua Siđon đến gần biển
Galilêa giữa miền thập tỉnh. Người ta đem đến cho Người một kẻ điếc và xin Người
đặt tay trên kẻ ấy. Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh
và bôi nước miếng vào lưỡi anh.
Ðoạn ngước mắt lên trời, Người thở dài và bảo: Ephata, nghĩa là
"hãy mở ra", tức thì tai anh được sõi sàng. Chúa Giêsu liền cấm họ: đừng
nói điều đó với ai cả.
Nhưng Người càng cấm, thì họ càng loan truyền mạnh hơn. Họ đầy
lòng thán phục, mà rằng: "Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc
nghe được và người câm nói được."
TRUYỆN KỂ
1. Mở miệng là sống, và sống với nhau
Michel-Angelo là một trong những danh họa đã để lại nhiều tác phẩm
bất hủ nhất, bất hủ vì giá trị nghệ thuật siêu vượt thời gian đã đành, mà còn bất
hủ vì sự sống động mà ông đã mặc cho các tác phẩm của ông, điển hình là bức tượng
Môsê. Người ta kể lại rằng sau khi hoàn thành bức tượng này, Michel-Angelo đứng
chiêm ngắm một cách say sưa, và sự sống động của pho tượng làm ông ngây ngất đến
độ ông đã cầm búa gõ vào và thốt lên: "Hãy nói đi."
Quả thật, lời nói là một trong những biểu lộ sống động nhất của
sự sống. Khi chúng ta mở miệng thốt ra lời, là lúc chúng ta muốn biểu lộ sự sống,
đồng thời nói lên rằng chúng ta đang sống cùng và sống với người khác.
2. Cánh cửa cuộc đời bị khóa lại
Một phụ nữ có người bạn bị điếc. Bà hỏi người bạn muốn gì nhân dịp
sinh nhật. Người bạn trả lời: “Nhờ bạn viết thư cho Ann Landers, yêu cầu cho
tôi bản kinh cầu nguyện cho người điếc."
Và ngày sinh nhật của người điếc đó, bà Ann đã gửi tặng lời kinh
như bà thỉnh nguyện. Trong đó có lời cầu như sau:
“Lạy Chúa, người ta thường có thiện cảm với kẻ mù, người què,
nhưng nổi sung bực bội với kẻ điếc, nên người điếc luôn phải ẩn tránh bạn hữu
và ngày càng phải sống cô đơn khép kín!"
Lời kinh trên đây cho chúng ta thấy nỗi khổ của kẻ điếc. Chúng
ta thường nghĩ rằng người mù khổ hơn kẻ điếc. Nhưng Helen Keller vừa mù vừa điếc
thì cho rằng bị điếc còn khốn hơn bị mù nhiều, vì các cánh cửa cuộc đời bị khóa
chặt lại: mở radio vô ích, xem truyền hình chẳng thú vị gì, không thể nói chuyện
với ai, và cảm thấy cô đơn chán nản... (Câu chuyện theo Br. Thiện Mỹ, CMC).
Khi ơn cứu độ được ban: “Bấy giờ mắt kẻ mù sẽ mở, tai người điếc
sẽ thông. Bấy giờ què quặt sẽ nhảy nhót tựa hươu nai, lưỡi người câm sẽ reo hò
niềm vui. Nước sẽ phun lên trong sa mạc, khe suối tuôn chảy giữa vùng đất hoang
vu… đất khô cằn có mạch nước trào ra” (Is 35,6-7a).
3. Bệnh câm điếc thiêng liêng.
Cử chỉ Chúa Giêsu trong phép lạ chữa lành người câm điếc, đã có
một thời được Giáo hội lặp lại khi cử hành Bí tích Rửa tội. Thật thế, Bí tích Rửa
tội cũng là một phép lạ trong đó chúng ta được chữa lành và tái sinh trong đời
sống mới.
Trong phép lạ này, Chúa Giêsu cũng nói với mỗi người chúng ta:
Epphata, Hãy mở ra. Hãy mở lớn đôi tai để nghe được tiếng Ngài trong từng biến
cố, từng giây phút của cuộc sống. Hãy mở rộng con tim và đôi tay để cảm thông
và chia sẻ với người khác. Hãy mở miệng để cảm tạ, chúc tụng và loan báo tình
thương Chúa, để nói những lời của yêu thương và hòa bình, của cảm thông và tha
thứ.
4. Máu lạnh
Trong truyện ngắn Máu Cá (tức máu lạnh), nhà văn Nguyễn Minh
Châu kể chuyện một bà mẹ trẻ mất con ở ga Hàng Cỏ, kêu la thảm thiết, nhưng chẳng
ai đoái hoài. Nhà văn xin một công an trực rao trên loa, người này cũng chẳng
nói chẳng rằng. Cả ngàn người trên ga Hàng Cỏ như điếc, như câm trước nỗi khổ của
người mẹ quẫn trí vì mất con!
Bài Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu không dửng dưng trước đau khổ của
con người, Ngài đã chữa lành cho người câm điếc. Lời tán dương của đám đông gợi
nhớ lại lời kết luận của sách Sáng thế về công trình sáng tạo (St 1,31). Chúa
Giêsu đến để phục hồi sự tốt đẹp của công trình sáng tạo: một thế giới trong đó
mọi người tin nhận và sống tư thế con thảo của Cha trên trời, nhìn vào mặt người
khác và nhận ra họ là anh em, chị em mình.
Chúng ta phải phá bỏ bức tường
câm điếc đã làm cho chúng ta xa cách tha nhân, không còn hiểu nhau, không còn
thông cảm và thương yêu nhau, coi nhau như kẻ thù. Trái lại, phải xây lại nhịp
cầu thông cảm và yêu thương mà chính Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta khi chịu
phép Rửa tội. Trong ngày đó, chúng ta được cởi mở khỏi xiềng xích tội lỗi và được
đàm đạo với Chúa như với người bạn chí thiết.
5. Bức tường Bá Linh.
Ngày 13/08/1961, người ta xây một bức tường chưa từng thấy trong
lịch sử loài người: cao 8 mét, dài 700 cây số ngăn đôi một gia đình, một thành
phố, một dân tộc, một nước Đức, không ai được qua lại với nhau, coi nhau như kẻ
thù ghê gớm. Ai vượt qua bức tường đó hoặc bị bắt hoặc bị bắn chết. Mãi đến 28
năm sau, ngày 13/11/1989 bức tường đó bị phá đổ, chấm dứt hận thù chia rẽ. Gia
đình, dân tộc được đoàn tụ với nhau, nước Đức được thống nhất, thế giới chấm dứt
chiến tranh lạnh, trở thành đồng minh đồng chí với nhau.
6. Giao lưu là gieo và gặt
Hãy cẩn thận với những gì chúng ta làm cho người khác hôm nay.
Đây là những vần thơ tôi đọc được từ Internet.
Nếu bạn gieo thành thật, bạn sẽ
gặt lòng tin.
Nếu bạn gieo lòng tốt, bạn sẽ gặt được thân thiện.
Nếu bạn gieo khiêm tốn, bạn sẽ gặt cao thượng.
Nếu bạn gieo kiên nhẫn, bạn sẽ gặt chiến thắng.
Nếu bạn gieo cân nhắc, bạn sẽ gặt hòa thuận.
Nếu bạn gieo chân chỉ, bạn sẽ gặt thành công.
Nếu bạn gieo tha thứ, bạn sẽ gặt hòa giải.
Nếu bạn gieo cởi mở, bạn sẽ gặt thân mật.
Nếu bạn gieo chịu đựng bạn sẽ gặt cộng tác.
Nếu bạn gieo niềm tin bạn sẽ gặt phép mầu.
Nhưng
Nếu bạn gieo dối trá, bạn sẽ gặt
ngờ vực.
Nếu bạn gieo ích kỷ, bạn sẽ gặt cô đơn.
Nếu bạn gieo kiêu hãnh, bạn sẽ gặt hủy diệt.
Nếu bạn gieo đố kỵ, bạn sẽ gặt phiền muộn.
Nếu bạn gieo lười biếng, bạn sẽ gặt mụ mẫm.
Nếu bạn gieo cay đắng, bạn sẽ gặt cô lập.
Nếu bạn gieo tham lam, bạn sẽ gặt tổn hại.
Nếu bạn gieo tầm phào, bạn sẽ gặt kẻ thù.
Nếu bạn gieo lo lắng, bạn sẽ gặt âu lo.
Nếu bạn gieo tội lỗi, bạn sẽ gặt tội lỗi.
Vì vậy hãy cẩn thận với những gì bạn gieo hôm nay, nó sẽ quyết định
những gì bạn gặt vào ngày mai.
7. Đó là các kitô hữu
Thánh Pacôme, khi còn ngoại đạo, đã tự hiến mình trong đạo binh
của hoàng gia. Một ngày kia, các binh sĩ trong đơn vị của ngài gặp phải hoàn cảnh
cực kỳ đói khát sau khi phải đi bộ qua sa mạc dưới cái nắng chết người. Khi
ngài và các binh sĩ vào thành Thèbes ở Ai Cập thì có nhiều người chạy lại bên họ,
cho họ ăn và uống, cùng chăm sóc họ chu đáo, tận tình. Pacôme rất ngạc nhiên
trước những sự chăm sóc bất ngờ và bất thường này. Pacôme cho tra hỏi xem những
người tốt lành này là ai? Thì người ta trả lời Ngài: “Đó là những người Kitô hữu."
Ngài bèn la lên: “Một tôn giáo dạy người ta cứu giúp những kẻ khốn
khổ hoàn toàn xa lạ với mình là một tôn giáo chỉ có thể đến được từ vị Chúa
chân thật!”
Sau biến cố này, Pacôme đã giã từ binh nghiệp và trở lại đạo
Công giáo. Ngài trở thành một vị sáng lập các đan viện vĩ đại và một vị thánh lừng
danh.
8. Rao giảng bằng đời sống
Vào năm 1934 giáo lý viên Gioan Caduna được linh mục Palexi sai
đến vùng Ramxi miền Bắc Ấn Độ để truyền giáo cho dân làng Majoribua, là những
người rất sùng kính tôn thờ vật linh. Sau 18 năm (1952), cha Palexi trở lại
vùng này, thấy cả làng đã theo đạo và sống Đức Tin rất sốt sắng! Cha Palexi hỏi
thăm về giáo lý viên Gioan Caduna, thì được biết anh đã chết lâu rồi. Họ kể lại
rằng:
Thời gian đầu mới đến, anh Caduna bị dân làng tẩy chay, và nói:
- Ở đây không có chỗ cho Chúa của mày!
Gioan Caduna đáp:
- Tôi không thể đi nơi khác, vì tôi đã được sai đến đây để nói về
Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và làm Chủ muôn loài, Ngài yêu thương hết mọi người,
nên đã chấp nhận chết bi đát trên thập giá, nhưng chưa tới ba ngày sau, Ngài đã
sống lại, ai tin vào Ngài thì được Ngài cứu độ!
Thế nhưng dân làng vẫn quyết liệt không muốn nghe vào lời anh
Caduna giảng dạy, đuổi anh đi. Anh đành phải chấp nhận ra khỏi làng và đã dựng
một cái chòi bên cạnh ngôi làng để hằng ngày cầu nguyện cho dân đừng cứng lòng
tin! Dân làng mỗi khi đi qua đều phỉ nhổ và mạt sát Caduna:
- Cút đi cho xa, chúng tao không muốn thấy mặt mày, và chúng tao
càng không muốn nghe mày nói về ông Giê-su nào đó!
Caduna trả lời:
- Tôi không đi đâu được, Chúa Giêsu đã chết vì yêu mọi người,
nên tôi cũng muốn chết ở đây, để chứng tỏ lòng tôi rất yêu dân Majoribua.
Thời gian sau, Caduna chết vì bị bệnh sốt rét và sống quá túng
thiếu. Lúc đó dân làng mới tỏ ra thương anh, họ tổ chức an táng anh cách tử tế.
Không bao lâu, tất cả dân trong làng xin theo đạo Công Giáo hết!
Anh Gioan Caduna đã đáp trả được tiếng Chúa Giêsu hỏi: “Con có
yêu Thầy hơn những người này không?”(Ga 21,15-17). Vì “thế giới sẽ thuộc về tay
ai biết yêu!” (Lm. Gioan M. Vianey).
9. Tiếng nói của trái tim
Có một đôi nam nữ rất yêu nhau. Họ hẹn ước sẽ cưới nhau lúc
chàng trai đi du học về. Sau khi chàng trai ra đi ít lâu, cô gái bị một tai nạn
giao thông khủng khiếp. Sau đó, cô được cứu sống. Nhưng điều bi đát hơn cả là
cô bị mất đi giọng nói. Bác sĩ bảo rằng tai nạn đã gây tổn thương não, khiến cô
bị câm, không thể nói được nữa.
Cô gái bị suy sụp tinh thần hoàn toàn. Cô không muốn cho người
yêu biết và cũng không muốn trở thành gánh nặng cho anh nên viết thư cho anh và
nói rằng cô không còn kiên nhẫn đợi chờ anh được nữa. Cô trả lại cho anh chiếc
nhẫn đính hôn. Chàng trai đã gửi hàng trăm bức thư và gọi biết bao cuộc điện
thoại, nhưng cô không trả lời mà chỉ khóc. Cha mẹ cô quyết định chuyển nhà đến
nơi khác để cô quên đi những gì đã xảy ra. Cô gái học ngôn ngữ bằng tay dành
cho người câm và bắt đầu một cuộc sống mới. Chàng trai sau đó cũng về nước và
không liên lạc với cô gái nữa. Cô nghĩ rằng chàng đã quên cô.
Một năm trôi qua, ngày kia, một người bạn đến trao cho cô gái
thiệp mời đi dự lễ thành hôn của chàng trai, người yêu của cô. Trái tim cô tan
nát. Khi mở thiệp cưới ra, cô giật mình khi thấy tên mình trong tấm thiệp. Ngước
mắt lên, cô thấy chàng trai đang đứng trước mặt. Chàng xuất hiện đúng vào lúc bất
ngờ nhất.
Chàng dùng tay để nói với cô: “Một năm qua anh đã dành thời gian
để học ngôn ngữ bằng tay này. Hãy cho anh có cơ hội để nói với em: Anh yêu em.”
Chàng xỏ chiếc nhẫn vào tay cô. Cô gái đã khóc, khóc vì hạnh phúc lại trở về với
cô.
10. Điếc, ngọng và lòng vị kỷ
Chuyện ngày xưa kể rằng, Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề thăm nhà
bạn cũ. Người bạn cũ trách Mặc Tử: “Bây giờ thiên hạ còn ai biết đến việc
nghĩa, quan lớn cũng như quan bé, mạnh ai nấy sống, lấy cái công làm cái tư,
ông tự khổ thân một mình làm việc nghĩa chi cho nhọc xác?” Mặc Tử trả lời: “Tôi
hỏi ông, nhà có mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn, thì chẳng phải đứa
cày phải cày chăm hơn sao? Bởi vì đứa cày thì ít đứa ăn thì nhiều. Thiên hạ bây
giờ không ai chịu làm việc nghĩa, ông phải khuyên tôi cần làm việc nghĩa nhiều
hơn mới phải chứ, sao lại ngăn tôi?”
Ngày xưa cũng như ngày nay, cám dỗ mạnh ai nấy sống luôn luôn hiện
diện. Khoái điếc, thích ngọng từ đó cũng là căn bệnh của chúng ta. Hôm nay, Đức
Giêsu cũng sẵn sàng chữa lành nếu chúng ta biết đó là bệnh và ước được chữa
lành.
11. Tình yêu nói được mạnh mẽ
Mendelssohn, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức, có ông nội là
Moses, một người có vóc dáng xấu xí, đã thấp bé lại gù lưng. Chuyện kể là một
hôm ông Moses Mendelssohn đến thăm một thương gia tại Hamburg và gặp Frumtje,
cô con gái rất dễ thương của ông.
Ngay khi gặp Frumtje, ông đã yêu cô say đắm nhưng cô lại tỏ ra sợ
hãi vẻ bề ngoài xấu xí của ông. Trước mắt ông, cô đẹp như một thiên thần, nhưng
ông lại thật buồn khi cô luôn tránh nhìn ông.
Trước lúc ra về, ông thu hết can đảm gõ cửa phòng cô gái, mong
có dịp nói chuyện riêng với cô. Sau mấy lời chào xã giao, ông lúng túng hỏi cô:
“Cô có tin hôn nhân là việc đã được định đoạt từ trước trên thiên đường không?”
“Tôi tin,” cô gái nhìn xuống sàn nhà trả lời. “Ông cũng tin chứ?”
“Có chứ,” ông trả lời. “Cô biết đấy, trên thiên đường khi một cậu
bé được sinh ra, Chúa cho cậu ấy biết về cô gái mà cậu sẽ cưới làm vợ. Khi tôi
sinh ra, cô dâu tương lai của tôi cũng đã được chỉ định. Chúa còn nói thêm rằng
vợ tôi sẽ bị gù. Ngay lúc đó, tôi kêu lên: ‘Lạy Chúa, một người phụ nữ gù hẳn sẽ
là một thảm kịch. Lạy Chúa, xin trao cho con cái bướu đó để người vợ của con được
xinh đẹp”
Frumtje nhìn vào mắt ông và bỗng nhiên thấy tâm tưởng có sự xáo
trộn mãnh liệt. Cô đưa tay cho Mendelssohn nắm lấy, và sau đó đã trở nên người
vợ trung thành của ông. Một phép lạ của tình yêu!
Câu chuyện cứ tưởng như trong cổ tích mà lại có thật. Lời nói có
thể không đúng y như thế, nhưng một cô gái xinh đẹp lại kết hôn với một người
thấp bé gù lưng là một sự khó hiểu của tình yêu.
Còn khó hiểu hơn bội phần là tình yêu Chúa dành cho nhân loại.
12. Điếc mà không biết mình điếc
Ngày nọ, trong một hội nghị về thế giới, Satan ngỏ lời với đám
ác thần vây quanh: “Chúng ta không thể nào ngăn cản bọn Kitô hữu đi nhà thờ, đọc
Kinh Thánh và biết được chân lý. Chúng ta cũng không thể ngăn cản chúng có một
tương giao thân mật với Đức Kitô… Ngày nào họ còn liên lạc được với Đức Kitô,
ngày ấy chúng ta còn bất lực!”
“Vậy cứ để mặc chúng đi lễ, và giữ nếp sống riêng tuỳ ý, nhưng
phải cướp hết thì giờ của chúng, đừng để chúng gặp được Đức Kitô.”
Đám quỷ nhỏ ào ào lên: “Chúng tôi phải làm gì để được như thế?”
“Hãy làm cho bọn chúng bận rộn với những điều không thiết yếu
trong đời và tạo ra nhiều chương trình để cho đầu óc chúng không rảnh rỗi. Hãy
xúi chúng tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài, rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền…
“Hãy khuyến khích chúng mở tivi, đĩa phim và máy vi tính suốt
ngày. Hãy đổ tràn vào hộp thư của chúng những bức thư tào lao, giấy đặt hàng, bản
cá cược, mọi loại thư tiếp thị và khuyến mãi…
“Không gặp được Đức Kitô, chúng sẽ thuộc về chúng ta.”
Để chiếm hữu tôi, ma quỷ có nhiều mưu kế tinh quái để che tai, bịt
mắt, không cho tôi tiếp cận với Chúa Giêsu, đấng Cứu Độ của tôi. Ngày xưa Chúa
“đã kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông” để chữa anh khỏi câm và điếc, để "nối
mạng" với anh. Đâu là khoảnh khắc tôi dành riêng cho Chúa trong một ngày sống?
13. Sức mạnh của lòng tin
Một y sĩ (giấu tên) khá nổi danh, tới Turinô, xin gặp Cha Don
Boscô. Y sĩ nói: “Người ta nói là, cha có thể chữa khỏi mọi chứng bệnh?”
Cha Don Boscô trả lời: “Đâu có!”
Y sĩ nói: “Người ta đã quả quyết với tôi như thế, họ còn nói rõ
tên, cũng như chứng bệnh những người đã được Cha chữa khỏi.”
Cha Don Boscô trả lời: “Quả thực có nhiều người tới đây, xin “Đức
Mẹ phù hộ” chuyển cầu cho họ, rồi nếu sau một tuần tam nhật, hoặc một tuần cửu
nhật, họ được khỏi, thì chính là do ơn Đức Mẹ, chứ tôi không có tham dự gì vào
việc chữa khỏi đó.”
Y sĩ nói: “Vậy xin Đức Mẹ chữa tôi”
Cha Don Boscô nói: “Ông bệnh gì?”
Y sĩ nói, Ông hay bị té xỉu (động kinh), và nhất là từ một năm
nay, bệnh xỉu của ông xẩy ra luôn, nên đi đâu cũng phải có người theo. Tuy là y
sĩ, Ông lại không chữa được chính bệnh Ông. Ông thất vọng, Ông tới đây cầu mong
được khỏi như một số người khác.
Cha Don Boscô nói: “Vậy thì xin ông cũng làm, như người ta quen
làm ở đây, là quỳ xuống, đọc chung với tôi vài kinh, rồi ông cáo mình, rước lễ,
để tâm hồn được trong sạch và được tăng nghị lực. Đức Mẹ sẽ yên ủi ông.”
Y sĩ nói: “Xin Cha dậy tôi làm việc gì khác, vì những việc Cha vừa
nói, tôi không làm được.”
Cha Don Boscô nói: “Tại sao?”
Y sĩ trả lời: “Quả thật, tôi cũng chẳng tin Chúa, tin Đức Mẹ,
tin lời cầu nguyện, tin phép lạ!”
Tuy Cha Don Boscô rất bỡ ngỡ, nhưng nhờ ơn Chúa, Cha cũng đã tìm
được những lời khuyên khiến y sĩ cảm động. Kết cục Ông cũng quỳ xuống, và làm dấu
thánh giá.
Y sĩ nói: “Tôi lấy làm lạ, là làm sao tôi còn nhớ làm dấu, vì
tôi đã bỏ hẳn những việc này hơn 40 năm nay.”
Ông cầu nguyện, và kết cục, ông cũng đã cáo mình.
Ngay sau lúc đó, ông cảm thấy bên trong như có gì thay đổi. Và rồi,
kể từ ngày đó, ông hết bị xỉu. Sau đó, ông thường tới cầu nguyện và tạ ơn “Đức
Mẹ phù hộ."
14. Phá đổ bức tường ngăn cách
Ngày 13/11/1989 bức tường Berlin (Bá-Linh) cao 8 mét, dài 700
cây số, sau 28 năm chia cắt thủ đô và đất nước Đức đã bị phá đổ, chấm dứt hận
thù chia rẽ. Gia đình, dân tộc được đoàn tụ với nhau, nước Đức được thống nhất.
Tật câm điếc như bức tường ngăn cách kẻ câm điếc với gia đình và xã hội. Điếc
không nghe, không hiểu, không thông cảm với ai được; câm không nói, không cho
người ta hiểu tâm tư nguyện vọng của mình.
Sống giữa người khác mà như bị nhốt tù trong bốn bức tường câm lặng.
Đức Giê-su đã đến phá đổ bức tường câm điếc cho anh, anh có thể nghe được, nói
được, và mọi người cũng nghe được và hiểu được anh. Tình liên đới, thương mến sống
lại trong anh. Anh được đoàn tụ, hợp tác xây dựng cuộc đời tươi đẹp biết bao với
mọi người.
Bạn có phải là người câm điếc tâm hồn, khép kín trong chính
mình, tự cô lập, không chịu mở ra với người khác để đối thoại, trao đổi? Bạn
hãy đến với tha nhân bằng thái độ chăm chú lắng nghe và nếu cần nói, hãy nói những
lời mang tính xây dựng.
15. Thế giới câm lặng
Nhiều người thức dậy mỗi ngày không cần tiếng chuông báo thức của
đồng hồ mà chỉ cần tiếng vo vo của máy dao động đặt dưới gối. Cũng như người
câm điếc trong Phúc Âm, những người này sống trong một thế giới thinh lặng. Đối
với họ, mở máy thu thanh là vô dụng, xem truyền hình là vô nghĩa, những cuộc đối
thoại là điều bất khả. Nhưng hoàn cảnh của người câm điếc về thể lý chẳng là gì
so với người câm điếc về tinh thần, những kẻ không thấy hoặc không thể chuyện
vãn với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều rơi vào tình trạng
này, ít là đôi khi trong đời sống chúng ta. Về mặt tinh thần, chúng ta sống
trong một thế giới câm lặng.
Tôi có bao giờ xin Chúa Giêsu đưa tôi ra khỏi đám đông và chữa
cho tôi khỏi câm điếc về tinh thần không?
Có gì là khó đối với Thiên Chúa đâu? (St 18,14)
16. Lưỡi và tai
Một hôm trong lúc đang ngồi uống trà và hàn huyên tâm sự với
nhau, tự nhiên tôi thấy ông Hai Hưu Trí có vẻ tư lự và phát biểu như sau:
- Người đời thường hay đổ thừa mọi điều xằng bậy là do tội của
“cái lưỡi không xương nhiều điều lắt léo." Nhưng tôi nghĩ nếu chỉ có cái
lưỡi thì cũng chẳng có vấn đề! Anh cứ ngẫm lại mà coi, nếu chỉ có mấy cái lưỡi
lươn lẹo, xu nịnh thường hay múa may với nhau thì bất quá cũng chỉ làm điếc tai
hàng xóm láng giềng mà thôi. Cái lưỡi chỉ có thể làm nên những chuyện tày trời
nếu nó được hỗ trợ của những “cái tai” không biết phân biệt tốt xấu, thật giả của
mấy ông: “Nhà báo nói láo ăn tiền."
Nhưng họ lại quên không chê mấy ông cấp trên quan liêu chỉ khoái
được nghe những bài báo cáo thành tích khi chưa kiểm tra thực hư! Nếu chỉ
chuyên có cái lưỡi thì chắc sẽ không thể “vẽ vời” để biến một công ty đang từ
tình trạng làm ăn thua lỗ, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho nhà nước, bỗng
dưng trở thành một công ty đang trên đà phát triển và làm ăn khấm khá. Nếu có
những cái tai thực sự ngay chính thì những lời đường mật như vậy làm sao có khả
năng gây ra biết bao thiệt hại được.
Nghe ông Hai Hưu Trí triết lý một hồi như vậy, tôi liền thêm
vào:
- Hôm nay Bác Hai nói thật là chí lý thậm phải!
Ông Hai Hưu Trí bèn cười lên một tiếng lớn rồi ôn tồn nói:
- Nè nhá, cũng bởi cái tai của chú mày chỉ khoái nghe những chuyện
xốc hông xiên xỏ, nên cái lưỡi của lão già rách việc này mới có cơ hội múa may
như từ nãy đến giờ, phải không chú em?
Chẳng ai muốn mình bị điếc, nhưng trong thực tế không thiếu người
mắc bệnh này. Chúng ta bị điếc khi để mình mất khả năng lắng nghe kẻ khác.
Chúng ta bị điếc khi chúng ta nghe người khác nhưng lại cố hiểu theo ý mình.
Chúng ta bị điếc khi lắng nghe mà không nhận thức được đúng sai, hay dở. Vậy điều
quan trọng không nằm ở nơi người nói, mà ở chỗ người nghe suy nghĩ và quyết định
ra sao. Nắm được tâm lý của con người nên hãng bảo hiểm Prudential mới chọn khẩu
hiệu: “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu."
17. Học nói
Vì điếc, Helen Keller chưa bao giờ học nói, mãi tới khi cô
Fuller, một giáo viên dạy nói, mở đường cho Helen. Cô đặt bàn tay Helen lên mặt
cô để Helen có thể cảm nhận được vị trí của môi và lưỡi khi cô nói chuyện với
Helen. Rồi Helen thử bắt chước tập lại. Sau thời gian tập luyện lâu dài, Helen
đã nói được. Niềm vui của Helen thật vô tận. Về sau, cô đã viết: “Tôi thường lặp
đi lặp lại một cách say sưa: giờ đây tôi không còn câm nữa” Đó là điều mà người
câm trong bài Tin Mừng hôm nay cảm thấy khi được Chúa Giêsu chữa lành.
Tôi có coi trọng những khả năng được nghe, nói và thấy của tôi
không? Trong những khả năng ấy, thứ nào thường bị tôi lạm dụng? Lạm dụng ra
sao?
Tôi đã khóc chỉ vì không có giày, cho đến khi trông thấy một người
bị cụt chân (Ngạn ngữ Ba Tư).
THỨ BẢY – PHÉP LẠ
HÓA BÁNH RA NHIỀU LẦN 2
Lời Chúa: Mc 8,1-10
Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ
không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: "Ta thương đám đông, vì này
đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về
nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến.”
Các môn đệ thưa: "Giữa nơi hoang địa nầy, lấy đâu đủ bánh
cho họ ăn no.” Và người hỏi các ông: "Các con có bao nhiêu bánh?" Các
ông thưa: "Có bảy chiếc.”
Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc
bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát. Các ông chia cho dân
chúng. Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ. Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền
cho các ông phân phát.
Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại
được bảy thúng. Số người ăn độ chừng bốn ngàn. Rồi Người giải tán họ, kế đó Người
cùng các môn đệ xuống thuyền đến miền Ðam-ma-nu-tha.
TRUYỆN KỂ
1. Hãy biết chạnh lòng thương
Khi kể về ơn gọi của Mẹ Têrêxa
Calcutta với người nghèo, người ta không quên được sự kiện làm cho mẹ thay đổi
ơn gọi. Từ một giáo viên dạy địa lý và là một nữ tu của Dòng Nữ Vương Ðức Bà
Loreto, mẹ đã trở thành một nữ tu khiêm tốn, chuyên phục vụ người nghèo khi quyết
định rời bỏ dòng cũ để lập nên Hội Dòng Nữ Tu Bác Ái với hy vọng xoa dịu nỗi khổ
cho biết bao con người ngày đêm kêu cứu. Vì thế, mẹ đã trở thành người nổi tiếng
về lòng bao dung, nhân hậu.
Nguyên nhân để mẹ trở thành vĩ
nhân là vì mẹ đã cảm nghiệm sâu xa lời kêu cầu của Đức Giêsu trên Thánh Giá “Ta
khát” qua hình ảnh của một người già nghèo khổ, trong sân ga tàu hỏa khi mẹ lên
đường để đi chữa bệnh.
2. Một nồi cháo đá tuyệt vời.
Một người lạ mặt đến gõ cửa nhà
một bà góa nghèo để xin ăn. Nhưng bà góa nghèo này biết, trong nhà bà không có
gì để ăn cả.
Người lạ mặt nói:
- Không sao, tôi có mang theo một
hòn đá. Hòn đá này có thể biến nước lã thành một thứ cháo tuyệt vời. Vậy xin bà
cho tôi mượn một cái nồi lớn.
Thấy người là mặt này có vẻ
thành thật, bà góa kia đi lấy một cái nồi lớn, bắc lên bếp, rồi đổ nước đầy nồi.
Nhóm bếp lên để nấu nồi nước xong, bà chạy qua các nhà hàng xóm báo cho họ biết
về hòn đá lạ lùng của người lạ mặt đang ở nhà bà. Thế là người này truyền miệng
người kia. Một lát sau, người ta kéo đầy đến nhà bà... đông quá đến nỗi không
còn chỗ chứa. Trước những đôi mắt mở to vì tò mò, người lạ mắt lấy ra từ trong
bị của ông một hòn đá, rồi trịnh trọng bỏ vào nồi nước lúc này đang sôi. Ông ta
lấy chiếc đũa giá lớn, quậy nồi nước lên. Một lát sau, ông lấy một muỗm nhỏ,
múc nước ở trong nồi, đưa lên miệng thổi cho nguội đi rồi nếm, vừa nếm ông vừa
hít hà nói:
- Thật là tuyệt vời. Nhưng nếu
giá có thêm một ít khoai bỏ vào nữa, thì còn tuyệt hơn nhiều
Nghe người lạ mặt nói thế, một
người đàn bà có mặt lên tiếng:
- Nhà tôi có khoai.
Nói xong, bà vội chạy về nhà,
đem đến một rổ khoai. Người lạ mặt cho những miếng khoai đã được gọt rửa, rồi xắt
nhỏ, bỏ vào nồi cháo. Ông ngồi đó để quậy nồi cháo.
Một lát sau, ông lại lấy muỗm
múc ra để nếm thử, rồi nói:
- Tuyệt lắm rồi. Nhưng giá có
thêm một chút thịt thì ngon hơn nhiều.
Nghe nói thế, một bà có mặt ở
đó, nhà làm thịt heo, chạy về nhà lấy ngay mấy miếng xương và mấy miếng thịt heo
chưa bán hết đem tới.
Người lạ mắt bỏ những miếng
xương và mấy miệng thịt kia vào nồi, rồi lại ngồi đó quậy nồi cháo một hồi lâu.
Trước những con mắt chờ đợi để
xem sự lạ, người lạ mặt lại múc cháo nếm thử, rồi nói:
- Bây giờ thì chúng ta có thể
thưởng thức nồi cháo này được rồi. Nhưng giá có thêm một ít hành ngò và một
chút tiêu nữa thì tuyệt hảo.
Thế rồi người ta đã đem hành,
ngò và tiêu đến. Sau khi đã bỏ những thứ này vào nồi cháo, người lạ mặt bảo bà
góa chủ nhà:
- Hãy lấy bát múc cho mọi người
ăn thử.
Trong khi mọi người đang vui vẻ
nếm thử cháo đá, thì người lạ mặt đã lén đi mất. Vậy là nhờ mỗi người đóng góp
một tí mà hôm đó mọi người đã có một món cháo ngon lạ lùng.
3. Ai nghèo, ai giàu?
Một lần nọ, khi dừng xe lại ở
ngã tư vì đèn đỏ, tôi bất chợt thấy hai đứa trẻ nghèo ngồi bên vệ đường, bẻ đôi
chiếc bánh cho nhau và cùng ăn cách ngon lành. Bỗng dưng tôi cảm thấy xúc động.
Nhìn lại bản thân, tôi mới nhận ra rằng lâu này mình vẫn sống trong “tháp ngà”
và bàng quan với mọi chuyện của “thiên hạ.” Chỉ tích lũy và thu vén cho bản
thân hơn là cảm thông và chia xẻ với mọi người.
Tôi thực sự là kẻ nghèo và vẫn
nghèo vì bao lâu nay chỉ biết thu vén và tích lũy mà không hề biết cho đi, dù
chỉ là một ánh mắt trìu mến, một nụ cười cảm thông hay “bẻ đôi tấm bánh.”
Lạy Chúa, xin cho con thâm tín rằng
mình chỉ thực sự hạnh phúc khi học biết “bẻ đôi tấm bánh” hay chia xẻ với mọi
người anh em. (Epphata).
4. Nối vòng tay lớn
“Cháu thương các bạn nghèo.” “Bé
Kin Kin gửi quà đến các bạn nghèo.” “Là sinh viên nghèo, nhưng cũng có thể ủng
hộ một chút cho người nghèo.” “Mong Tết này nhà nào cũng có bánh chưng.” “Một
chút tiền. Một chút tình.” “Sống là để yêu thương.” “Tôi ước mơ về một nước Việt
không còn ai nghèo khó...”
Đó là một vài thông điệp yêu
thương, gửi kèm với mỗi thông điệp là 15 ngàn đồng, như những“chiếc bánh, con
cá nhỏ” của hơn 448.000 tin nhắn (tương đương gần 7 tỉ đồng) dành cho người
nghèo, trong chương trình “Nối vòng tay lớn”, tối 31/12/2006, đã góp phần làm
nên “phép lạ” do lòng yêu thương giữa cuộc sống hôm nay.
Sự kiện này nhắc nhớ chúng ta về
phép lạ trong Tin Mừng hôm nay: do lòng chạnh thương, Chúa Giê-su đã biến bảy
chiếc bánh và mấy con cá nhỏ của các môn đệ cho khoảng bốn ngàn người ăn no nê
mà còn thừa được bảy giỏ đầy.
5. Đồng tiền vạn lịch
Nhà văn Quyên Di khi suy niệm về
việc Chúa Giêsu “bẻ bánh” đã kể lại sự tích “Đồng Tiền Vạn Lịch” trong ca dao.
Ngày xưa, các đôi nam nữ lấy đồng
tiền kẽm bẻ làm đôi, mỗi người giữ một nửa, thề rằng khi nào hai người nên
duyên vợ chồng chung sống với nhau, như hai mảnh đồng tiền ráp lại thành một đồng
tiền trọn vẹn lúc đó họ mới trọn vẹn hạnh phúc.
Từ chuyện “bẻ tiền” đến chuyện
“bẻ bánh”: Chúa Giêsu không chỉ bẻ đôi tấm bánh, làm phép lạ cho dân chúng ăn no
nê; Ngài còn bẻ tấm bánh trong bữa Tiệc Ly để biến nó thành Mình Ngài, để con
người ăn và được sống và sống dồi dào.
Trong tấm bánh được bẻ ra đó,
Ngài trao thân gửi phận cho chúng ta để giữ trọn lời thề “ở với chúng ta mọi
ngày cho đến tận thế.”
6. Đam mê sinh đau khổ
Trong cuốn tiểu thuyết “Studs
Lonigan”, James Farrell đã thốt lên: “Lạy Chúa, tại sao Chúa không đưa tay cứu
con người khỏi những đau khổ trên mặt đất này?” Những người xưa cũng đã kêu gào
về những nỗi khổ trên trái đất này. Họ hỏi các vị lãnh đạo tinh thần: “Nếu con
người phải chịu trách nhiệm về những xấu xa luân lý (tội lỗi), thì ai sẽ chịu
trách nhiệm về những xấu xa thể lý (đau khổ)?” Kinh thánh trả lời câu hỏi này
qua bài đọc hôm nay. Đau khổ không phải là những kết quả của những khiếm khuyết
trong công trình sáng tạo, mà là do việc chúng ta lạm dụng nó.
Bằng tội lỗi của mình, tôi đang
làm tăng thêm những đau khổ của nhân loại như thế nào?
Chúng ta không bị trừng phạt vì
đã phạm tội, nhưng bị trừng phạt bởi chính tội mình đã phạm. (Elbert Hubbard)
7. Sự chết từ bên trong
Trong cuốn tiểu thuyết “Studs
Lonigan”, James Farrell đã thốt lên: “Lạy Chúa, tại sao Chúa không đưa tay cứu
con người khỏi những đau khổ trên mặt đất này?” Những người xưa cũng đã kêu gào
về những nỗi khổ trên trái đất này. Họ hỏi các vị lãnh đạo tinh thần: “Nếu con
người phải chịu trách nhiệm về những xấu xa luân lý (tội lỗi), thì ai sẽ chịu
trách nhiệm về những xấu xa thể lý (đau khổ)?” Kinh thánh trả lời câu hỏi này
qua bài đọc hôm nay. Đau khổ không phải là những kết quả của những khiếm khuyết
trong công trình sáng tạo, mà là do việc chúng ta lạm dụng nó.
Bằng tội lỗi của mình, tôi đang
làm tăng thêm những đau khổ của nhân loại như thế nào?
Chúng ta không bị trừng phạt vì
đã phạm tội, nhưng bị trừng phạt bởi chính tội mình đã phạm. (Elbert Hubbard)
8. Trong tình yêu không có phân
biệt
Thánh Marcô tránh sự lặp lại.
Tuy nhiên, trước đó ngài đã kể một câu truyện tương tự (x. 6,38-44). Tại sao lại
có sự lặp lại ở đây? Việc nghiên cứu cho thấy đây không phải là sự lặp lại.
Chính Chúa Giêsu có liên quan đến cả hai lần “nuôi dưỡng” (Mc 8,19-21). Vậy,
hai câu truyện khác nhau thế nào? Câu truyện thứ nhất chỉ liên quan đến người
Do thái; câu truyện thứ hai gồm cả những người ngoại giáo. Các học giả đồng ý rằng
người ngoại hiện diện vì vị trí địa lý (Mc 7,31). Vì vậy, lần “nuôi dưỡng” thứ
hai báo trước ngày người Do thái và người ngoại cùng nhau bẻ bánh như trong gia
đình duy nhất của Thiên Chúa.
Tại sao “bẻ bánh” như gia đình
duy nhất của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng dễ dàng?
Trong Chúa Kitô, không có phương
Đông hay phương Tây, cũng chẳng có phương Nam hay phương Bắc. Nhưng chỉ có tình
yêu thương trên khắp cùng trái đất này thôi (Bài thánh ca cổ).
9. Nghèo đói vì thiếu chia sẻ
Hội nghị Quốc Tế An Ninh Lương
Thực năm 2012 cho biết cứ năm giây có một trẻ em chết đói. Tổ chức Lương Nông
Quốc Tế vừa công bố số người đói trên thế giới vừa giảm xuống dưới một tỷ người
trong năm 2010 dự kiến sẽ lại tăng lên trong năm 2012.
Nước ta chưa giàu, vẫn còn đó biết
bao người cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, tiền không có để đi học; thế mà vẫn
có những người ăn uống xa xỉ phung phí; có quan chức “đánh bạc triệu đô,” đánh
cờ tướng ăn thua vài tỷ bạc một ván. Sự chông chênh đó có làm bạn nhức nhối?
Chung quanh bạn có ai đang túng thiếu hơn bạn mà bạn chưa tìm cách chia sẻ
không?
Làm thế nào để việc bạn cho đi
không trở thành việc của kẻ trên bố thí cho kẻ dưới, hoặc cho tay này lấy lại
tay kia, nhưng là một sự chia sẻ trong yêu thương, cảm thông và tôn trọng?
Hãy dành một khoản trong số thu
nhập của bạn để dành vào việc giúp những ai lầm than cơ nhỡ.
10. Lấy đâu ra bánh cho họ?
GDP bình quân cả nước trong năm
2010 là 1.200 USD/người, nhưng 70% dân số sống ở nông thôn có mức thu nhập bình
quân cả năm chỉ đạt 400 USD/người (Thân Hoàng, “Giảm Nghèo cần phải bền vững,”);
điều đó có nghĩa là người nghèo đang có đó, cạnh chúng ta.
Vấn đề đặt ra là “lấy đâu ra
bánh cho họ”? Chưa hết, còn những người nghèo chất lượng cuộc sống, nghèo tình
người và nghèo đói Thiên Chúa, “lấy đâu ra bánh cho họ” đây? Người ta thường
tìm lời giải nơi người này, người kia; còn đối với Chúa Giêsu, lời giải nơi
chính mỗi người chúng ta: “Anh em có mấy chiếc bánh?” Nhận ra số “bánh” mình có
để cho người đói ăn, cho người bị bỏ rơi đang chới với, cho người đói khát Thiên
Chúa, đã là điều đáng kể. Vấn đề còn lại là chúng ta có dám chia sẻ không?
Tin Mừng cho biết đã có một người
thanh niên giàu có tiu nghỉu bỏ đi vì không dám chia sẻ. Còn chúng ta thế nào?
Tuy số “bánh” chúng ta có chẳng thấm tháp gì so với nhu cầu của đám đông, nhưng
Chúa cứ đợi chờ chúng ta dám san sẻ để Ngài làm những điều lớn lao cho người
nghèo.
Đâu là những khả năng của bạn
trước nhu cầu chính đáng của người nghèo? Bạn có dám chia sẻ không?
11. Đứng trên tiền của
Có một người giàu có kia thường
đến xưng tội với thánh Phi-líp-phê Nê-ri. Ông có nhiều tiển của, có thiện chí,
nhưng ông vẫn cảm thấy mình không đạt được sự tiến bộ nào trên đường thiêng
liêng. Từ chán nản đến thất vọng, cuối cùng ông bỏ cuộc và không trở lại xưng tội
với thánh nhân nữa.
Thấy ông đã lâu không đến xưng tội,
thánh nhân tìm đến nhà ông để gặp ông. Sau một hồi trò chuyện, ngài nhìn lên
cây Thánh giá treo trên tường, ngài cân nhắc độ cao của Thánh giá rồi đề nghị với
người đàn ông giàu có: “Ông là người cao lớn, ông thử với coi có tới Thánh giá
không?” Ông đứng dậy giơ cánh tay lên cố với nhưng không thể nào chạm tới Chúa
Giêsu trên Thánh giá.
Bấy giờ thánh Phi-lip-phê dùng hết
sức đẩy cái hòm tiền của người giàu đến bên cạnh ông và bảo ông hãy đứng lên
trên cái hòm tiền để với tới cây Thánh giá. Ông làm theo ý thánh nhân và sờ được
Chúa Giêsu trên Thánh giá.
Sau đó ngài nói với ông: “Để có
thể nắm lấy được Chúa Giêsu, để có thể tiến bộ trên đường thiêng liêng, chúng
ta cần phải đứng trên tiền bạc của cải.”
LỄ KÍNH -
Lời Chúa
TRUYỆN KỂ
1.
Lời Chúa Tuần 5 Thường Niên
Thường niên V GS C PS Ngoại lịch
