LỜI CHÚA TUẦN 18 THƯỜNG NIÊN
GIA VỊ CHO BÀI GIẢNG
CNTN 18C – làm giàu trước mặt Chúa
THỨ HAI - PHÉP LẠ BÁNH HÓA NHIỀU
THỨ TƯ - LÒNG TIN BÀ MẸ NGOẠI GIÁO
THỨ SÁU - THEO CHÚA, HÃY VÁC THẬP GIÁ
THỨ BẢY - LÒNG TIN LỚN BẰNG HẠT CẢI
Lễ Chúa biến hình (năm A) - CON YÊU DẤU ĐẸP
LÒNG TA
LỄ THÁNH LÔRENXÔ - HẠT LÚA THỐI ĐI, SINH NHIỀU
BÔNG HẠT
CNTN 18A -
Lời Chúa Mt 14, 13-21
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết,
thì Người rời bỏ nơi đó, xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe
biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân
chúng đông đảo, thì thương xót họ, và chữa những người bệnh tật trong họ.
Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng:
"Đây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để
họ vào các làng mạc mà mua thức ăn." Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng:
"Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn." Các ông thưa lại rằng:
"Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá." Người bảo các
ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy."
Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người
cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ
ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều
ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số
người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ. Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Một tình
yêu có thể sờ chạm đến được
Báo “Người Canh Phòng” số ra ngày 19/6 có tường thuật
rằng, theo một báo cáo của liên hợp quốc, con số những người di dân phải rời bỏ
quê hương hiện nay vượt quá 50 triệu người trên khắp thế giới. Đây là con số kỷ
lục kể từ sau thế chiến lần thứ hai. Sự gia tăng số người di dân khiến các quốc
gia tiếp nhận và các tổ chức trợ giúp cũng phải khựng lại. Phân nửa số dân tị nạn
là trẻ em. Họ đi một mình hay từng đoàn, thất thểu tìm chốn nương thân, và thường
bị rơi vào tay bọn buôn người.
Tôi chưa từng bị thiếu ăn một ngày nào, nhưng gia
đình thân phụ tôi, khi phải di tản sau thế chiến lần thứ 2, đã có kinh nghiệm
này. Họ lê lết đi qua nhiều quốc gia và sống nhiều năm trong các trại tị nạn. Một
người bà con của bố tôi đã sống cảnh ly tán từ năm 16 tuổi và sống sót sau chiến
tranh nhờ được tiếp tế thực phẩm từ những người Mỹ thiện nguyện. Câu chuyện bi
thảm của người họ hàng đó mãi 30 năm sau mới kết thúc, khi ông ta được đoàn tụ
với mẹ và những người thân ở Canada.
Tình yêu có thể sờ thấy, chạm thấy, đáp ứng những
nhu cầu rất cụ thể của con người.
2. Ít thành
nhiều
Có một hành khách vừa mới bước lên chiếc xe taxi,
anh liền nói với bác tài xế: Bác lái giỏi quá. Bác tài nhìn anh và hỏi: Bộ anh
định xỏ xiên tôi hả. Anh trả lời: Không phải vậy đâu, tôi khen bác thực mà. Bác
tài mỉm cười, lát sau bác nói: Anh làm vậy với mục đích gì? Anh trả lời: Tôi muốn,
đem lại tình yêu, niềm vui mừng và hy vọng cho những người sống quanh tôi. Tôi
nghĩ rằng một khi bác cảm thấy vui, bác sẽ niềm nở với những khách hàng của
bác. Rồi những người này cũng sẽ niềm nở với những người mà họ gặp.
Như vậy, sự niềm nở và tử tế sẽ được trải rộng đến
hàng trăm, hàng ngàn người. Lời nói của anh làm chúng ta nghĩ tới một câu danh
ngôn: Thà thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi đó mà rủa sả bóng đêm.
Trở lại với đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy em
bé đã trao cho Chúa tất cả những gì mình có. Và Chúa đã chia sẻ quà tặng ấy cho
hàng ngàn người. Như thế, mỗi người chúng ta đều có thể và phải trở thành dụng
cụ cho Chúa thực hiện những phép lạ. Mỗi người chúng ta đều có thể và phải trở
trở thành phương tiện cứu giúp cho hàng ngàn người.
3. Trở thành
công cụ cho tình yêu Chúa
Ông Malcolm Muggeridge, một nhân vật nổi tiếng trên
đài TV Anh Quốc, đã trở lại đạo Công giáo, điều mà trước đây ông đã thề sẽ không
bao giờ làm. Ông nói, ông đã bị cảm kích bởi những việc Mẹ Têrêsa Calcutta đã
làm: “Không thể diễn tả bằng lời, tôi đã mắc nợ Mẹ Têrêsa thế nào. Mẹ đã tỏ cho
tôi thấy Kitô giáo trong hành động. Mẹ đã tỏ cho tôi thấy sức mạnh của tình yêu
có thể làm nổi dậy một ngọn thủy triều tình yêu lan tràn khắp thế giới…”
Đó cũng là sứ điệp của đoạn Tin Mừng hôm nay: dù chỉ
là một cá nhân, nhưng hành động của chúng ta vẫn có một tầm mức quan trọng và
đáng kể, nếu chúng ta biết chia sẻ những gì mình có với Chúa, thì Ngài sẽ làm
phần còn lại, là biến cái ít ỏi, nhỏ nhoi ấy trở thành hữu ích, đem lại hoa
trái vượt quá điều chúng ta mong ước. Chúng ta hãy dâng cho Chúa mọi khả năng,
vật chất cũng như tinh thần để tuỳ Ngài sử dụng. Và rồi Ngài có thể dùng chúng
để làm những phép lạ.
Để kết thúc, tôi xin ghi lại nơi đây lời thơ của một
thi sĩ: Lạy Chúa, con chỉ là một sợi dây, xin hãy biến con trở thành chiếc đàn.
Con chỉ là một giọt nước, xin hãy biến con trở thành một dòng suối. Con chỉ là
một tia lửa, xin hãy biến con trở thành một ngọn đuốc bùng cháy.
4. Hãy cho họ
ăn
Cách đây vài thập niên, Calcutta khi ấy là một thành
phố đông dân: ban ngày, người nghèo ngồi la liệt khắp phố, mong chờ lòng rộng
rãi giúp đỡ của khách thập phương; ban đêm, họ không nơi cư trú phải nghỉ đêm
trên các vỉa hè, hẻm cụt của thành phố. Một nữ tu trung niên người Albanie vốn
đang phục vụ truyền giáo tại Ấn Độ, đã động lòng xót thương họ. Đêm ngày đối diện
những cảnh nghèo hèn đau khổ của cư dân thành phố Calcutta, Chị đã tự hỏi: “Ta
phải làm gì cho đám đông những người đáng thương này?" Trở lại nhà dòng,
Chị gom hết số tiền mình có, mua một căn nhà rẻ mạt và sửa chửa nó thành nơi cư
trú qua đêm cho những kẻ không nhà. Bằng khả năng nhỏ bé nhưng với tấm lòng quảng
đại to lớn, Chị muốn ra tay làm một cái gì đó giúp người khốn cùng không còn phải
bơ vơ hiu quạnh nữa.
Không những lo cho họ có chỗ định cư, lại còn phải
tìm nguồn cung cấp lương thực giúp họ sống qua ngày. Làm thế nào Chị nữ tu ấy-
mà sau này người ta quen gọi là Mẹ Têrêsa- có thể nuôi đủ 9000 miệng ăn mỗi
ngày? Chúa đã không chịu thua lòng bác ái của Mẹ. Nhiều bàn tay yêu thương sẵn
sàng liên đới công việc từ thiện của Mẹ: một đôi bạn trẻ sắp lập gia đình, hy
sinh không tổ chức tiệc cưới dành toàn bộ chi phí giúp người nghèo; Ủy Ban Nobel
trao tặng Mẹ giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1979; nhiều phụ nữ thiện chí dâng
hiến cuộc đời trong hội dòng Thừa Sai Bác Ái nối dài việc cứu tế.
Biết nhận ra những người nghèo đói quanh mình, sẵn
sàng giúp đỡ tình trạng đau khổ của họ là phương thế đáp ứng lời mời gọi của
Chúa: “Các con hãy cho họ ăn” (Mt 14,16).
5. Hãy cho họ
ăn lòng tốt của ta
* Thánh Martin de Porrès: “đứa con bị từ chối” bởi
người cha là một hiệp sĩ Tây Ban Nha. Tuy gia đình nghèo khổ, mẹ Ngài vẫn kiên
tâm giáo dục 2 chị em Martin nên người tốt lành, hữu ích cho xã hội. Một ngày nọ
đi chợ, Martin gặp người nghèo túng bên đường, Martin đã bớt xén tiền chợ, bố
thí giúp kẻ khốn cùng. Cậu biết mình cơ cực nhưng nghĩ đến còn nhiều người khác
neo đơn hơn: Martin đã rộng tay san sẻ cái mình có.
* Cơn bão Katrina 2005 làm nhiều cư dân VN vùng New
Orleans và Bilosi gặp khó khăn. Ngày ngày, họ nhận hàng viện trợ Red Cross cung
ứng, tháng tháng lãnh phiếu Food Stamps chi tiêu cho qua ngày đoạn tháng. Bất
ngờ vài tháng sau đó, quê nhà Việt Nam bị cơn bão số 9 tàn phá miền Trung dấu
yêu: đồng hương đất Mẹ không nhà cửa trú thân, mỗi bữa ăn chỉ được giúp tiêu
chuẩn một gói mì tôm, cơn đói hành hạ thê thảm. Kiều bào VN hải ngoại đã không
ngại đóng góp tiền của, nhanh tay cứu giúp anh chị em quê nhà còn khốn khổ hơn
nỗi xót xa Katrina của mình.
* Mahatma Gandhi đã nói: “Theo quan niệm cá nhân
tôi, tất cả chúng ta xét ý nghĩa nào đó đều là tên ăn cắp. Vì: ta có quá nhiều
cái dư thừa không cần thiết, trong khi người anh em quanh ta còn thiếu thốn
đang cần đến nó. Chúng ta có vật nào đó không cần, thì vật ấy chính là của ăn cắp
mà chúng ta lấy từ những người nghèo cần đến nó."
6. Chúa cần
bàn tay con người
* Trong một lớp Kinh Thánh, khi học hỏi tìm hiểu về
phép lạ hoá bánh ra nhiều, một học viên tân tòng đã hỏi Cha xứ rằng: “Thưa Cha!
Ngày xưa Chúa đã làm phép lạ nuôi 5000 người ăn, tại sao thời nay Chúa không tiếp
tục làm phép lạ thêm, để chúng ta khỏi phải đi làm đầu tắt mặt tối như thế
này?" Cha xứ đã khéo léo trả lời: “Chúa là Đấng quyền năng, Ngài vẫn thường
xuyên làm phép lạ cho con người. Ngài vẫn nuôi dân Chúa mỗi ngày bằng lương thực
Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Nhưng Chúa vẫn muốn chúng ta cộng tác với Ngài vì
nếu Chúa cứ làm phép lạ hoài, con người sẽ lười biếng, cậy dựa vào Chúa hoàn
toàn, không trưởng thành được."
* Có một lần đi sang Hoa Kỳ, nghiên cứu cơ sở để lập
các chi nhánh dòng Thừa Sai Bác Ái tại quốc gia này, Mẹ Têrêsa Calcutta đã tâm
sự: “Nhiều trẻ em sinh sống tại Mỹ không nghèo vật chất nhưng thật tội nghiệp,
chúng lại nghèo tình thương." Đời sống sung túc đưa con người đến tình trạng
hưởng thụ quá đáng, quên cả sự hy sinh tiết kiệm để chia sẻ cho người nghèo,cộng
tác với Thiên Chúa giúp thế giới này bớt đau khổ hơn.
7. Đói khát
tâm linh
Mới đây, một người chị họ đến với tôi nhờ tôi giúp
cho con của chị vì con của chị đang bị “sơ cứng” về tâm linh. Chúng gần như bỏ
đạo!
Nhìn lại gia đình chị, cuộc đời của chị hoá ra là
gia đình chị may mắn hơn nhiều người là có của ăn của để và thậm chí dư ăn dư để
nữa nhưng hiện tại đang phải đối đầu với sự đói khát tâm linh. Giàu có đó nhưng
chắc gì là hạnh phúc? Nhà lầu xe hơi bạc tỷ đó nhưng lấy gì bình an? Hình như
bên dưới sự dư dật về của cải vật chất thì gia đình chị vẫn đói, vẫn khát về
tâm linh. Và chuyện đói khát tâm linh này chẳng ai có thể bù đắp cho chị, cho
chồng, cho con ngoài Chúa. Linh mục, các soeurs, các giáo lý viên, các đoàn thể
cũng chẳng có thể giúp gì được cho chị nếu như chị không “lắng tai và đến với
Ta, hãy nghe Ta thì các ngươi sẽ được sống."
Thế thôi! Đứng trước sự lựa chọn là lắng nghe Chúa
hay bôn ba vất vả đi tìm cái đời tạm này đó chính là lựa chọn không phải của
riêng chị mà của mọi kitô hữu.
Lý do tại sao? Lý do chắc ai cũng biết rồi: đó chính
là không kết hợp mật thiết với Chúa. Như Thánh Phaolô tông đồ, chúng ta ai cũng
biết, gần như cả đời Ngài đã không biết Chúa, Ngài đã bắt Chúa nhưng khi cảm
nghiệm được tình yêu thương của Chúa dành cho mình Ngài đã hoán cải cuộc đời.
Chính tình yêu sâu đậm giữa Ngài và Chúa thắm thiết để rồi Ngài gửi tấm chân
tình của mình cho cộng đoàn Rôma mà chúng ta cũng vừa nghe: “Thưa anh em, ai có
thê tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô, phải chăng là gian truân, khốn
khó, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8, 35)
8. Một đồng
vàng
Một nhà văn Kitô giáo đã dựng một vở kịch diễn tả vụ
hành quyết một tên trọng phạm tại một thị trấn nhỏ thời Trung Cổ. Theo phép nước,
chỉ có một lối thoát chết cho tử tội là nộp đủ 1000 đồng tiền vàng để chuộc mạng.
Nhà vua tỏ ra hào hiệp tặng hết số vàng 700 đồng mang theo trong một chuyến tuần
du qua đây, hoàng hậu theo gương có 200 đồng cũng giúp hết, các cận thần đi
theo cũng dốc túi. Người ta đếm được 999 đồng, còn thiếu một đồng. Công lý
không thể nhân nhượng, đành phải thi hành pháp lệnh.
Toán hành quyết tròng dây thừng vào cổ tên tử tội
thiếu may mắn. Khi sắp sửa rút dây thì có một tiếng kêu lớn: “Khoan đã, lục
soát người nó đi, biết đâu đấy”, tên đao phủ lần mò khắp người tội nhân và móc
ra được một đồng hắn giấu trong lưng quần từ hồi nào mà hắn cũng không nhớ nữa.
Thế là đủ 1000 đồng, tên tử tội được thoát chết.
Có lẽ chúng ta đều hiểu câu chuyện này phải không?
Chúa Giêsu đã cứu chuộc chúng ta, Mẹ Maria đã trợ giúp chúng ta, các thánh cũng
trợ giúp chúng ta, và chính chúng ta cũng phải góp phần. Tóm lại, dù chúng ta
là ai, dù chúng ta hèn kém thế nào, chúng ta hãy cố gắng với hết khả năng của
mình, Chúa sẽ trợ giúp chúng ta.
9. Cây nến nhỏ
Vào một đêm người đàn ông rút cây nến nhỏ từ trong
ngăn kéo ra, thắp nó lên, và bắt đầu bước lên chiếc cầu thang dài hình trôn ốc.
Cây nến hỏi người đàn ông: “Ông đi đâu vậy?”
Ông trả lời: “Đi lên chỗ cao hơn nóc nhà nơi chúng
ta đang ngủ." “Và ông sẽ làm gì ở đó?” cây nến hỏi. “Tôi sẽ chỉ cho những
con tàu ở biển khơi biết đâu là hải cảng”, người đàn ông nói, “vì chúng ta đang
ở ngay lối vào hải cảng, và một số con tàu ngoài biển khơi đang gặp bão táp, có
thể tìm thấy ánh sáng của chúng ta." “Không có con tàu nào nhìn thấy ánh
sáng của tôi cả”, ngọn nến nói “tôi quá nhỏ bé mà." “Mặc dù ánh sáng của
ngươi nhỏ bé”, người đàn ông đáp, “cứ hãy thắp sáng nó lên, đừng e ngại, hãy để
phần còn lại cho ta tính."
Rồi người đàn ông trèo lên những nấc thang cho tới đỉnh
của ngôi nhà hải đăng, cầm cây nến nhỏ bé, châm lửa vào những cái đèn vĩ đại đã
đứng sẵn ở đó với những tấm gương phản chiếu bóng láng ở phía sau. Một cây nến
nhỏ cũng có thể làm nên một ngọn lửa lớn hơn.
10. Lòng
thương
Mẹ Têrêsa Calcutta thuật lại một câu chuyện như sau:
Một hôm, có một cặp vợ chồng trẻ đến thăm tu viện và trao tặng cho chúng tôi một
khoản tiền lớn, bảo là để đóng góp vào chi phí mua thức ăn cho những người
nghèo.
Ở Calcutta mỗi ngày dòng Nữ Tử Bác Ái Truyền Giáo
chúng tôi phải cung cấp lương thực cho 9 ngàn người. Bởi đó không lạ gì hai bạn
trẻ này muốn dùng khoản tiền họ tặng vào mục tiêu trên.
Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi:
– Hai con có thể cho mẹ biết tiền đâu mà hai con có
nhiều thế?
Họ trả lời:
– Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Chúng con
quyết định không may đồ cưới, cũng không tổ chức linh đình, để dùng tiền đó
giúp những người kém may mắn hơn chúng con.
Mẹ Têrêsa hỏi tiếp:
– Ở Ấn Độ, không có quần áo cưới và tiệc cưới là điều
nhục nhã. Tại sao chúng con lại quyết định táo bạo như thế, làm phật lòng cha mẹ
và họ hàng?
Họ thưa:
– Chúng con yêu nhau và muốn tặng nhau món quà cưới
đặc biệt. Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống bằng một hy sinh mà cả hai
cùng đóng góp vào.
11. Lòng quảng
đại
Mẹ Têrêsa Calcutta đã kể lại câu chuyện một lần kia
mẹ đi ngang qua một gia đình Hin đu đã đói nhiều ngày. Mẹ cầm theo một ít gao
cho gia đình ấy. Điều xảy ra sau đó làm mẹ kinh ngạc.
Không chút lưỡng lự, người mẹ trong gia đình đã chia
số gạo ra làm hai phần. Rồi bà đem một nữa cho gia đình nhà bên cạnh, tình cờ
là những người theo Hồi dào.
Thấy điều đó, mẹ Têrêsa nói với bà mẹ “Bà còn lại được
bao nhiêu? Liệu có đủ cho gia đình bà không?"
“Nhưng họ cũng đã nhịn đói nhiều ngày rồi”, người
đàn bà ấy trả lời.
Phép lạ hóa bánh ra nhiều ấy còn được gọi là phép lạ
của lòng quảng đại. Trước hết là lòng quảng đãi tuyệt vời của cậu bé, vì với
món quà của cậu là năm chiếc bánh và hai con cá mà phép lạ mới được thực hiện.
Có thể tự nó là ít ỏi, nhưng đối với cậu bé đó là to lớn vì đó là tất cả những
gì cậu có. Cho vật gì mà cả người cho lẫn người nhận rất cần. Đó mới thật sự là
cho và là một sự hy sinh.
12. Lấy sỏi nấu
súp
Một hôm, có một người đàn ông vào nhà một bà dân
làng xin ăn. Bà này từ chối:
Xin lỗi. Hiện giờ trong nhà tôi không còn gì có thể
ăn cả.
Không sao. Chỉ nhờ Bà cho tôi mượn chiếc nồi nấu
súp. Tôi có một viên sỏi có thể nấu thành một nồi súp đặc biệt ngon, từ trước tới
giờ chưa từng có món ăn nào ngon bằng.
Bà chủ nhà bằng lòng. Người khách đổ nước vào nồi, bỏ
viên sỏi vào rồi bắt đầu nấu. Trong khi đó, bà chủ nhà sang nhà hàng xóm tiết lộ
bí mật của nồi súp tuyệt vời ấy. Hàng xóm này lại tiết lộ cho hàng xóm khác. Chẳng
bao lâu căn nhà đầy người.
Khi nước bắt đầu sôi, người khách lạ múc lên một muỗng
nếm: “Chà, rất ngon. Nhưng phải chi có thêm chút ít khoai tây nữa thì sẽ ngon
tuyệt." Một người vội vàng chạy về nhà lấy khoai tây bỏ vào. Lát sau người
khách lại nếm và lại nói “Ngon hơn trước rồi. Phải chi có thêm một chút thịt nữa
thì hết chỗ chê." Một người khách vội chạy về nhà lấy thịt. Cứ như thế…
Cuối cùng nồi súp chín. Người khách mời mọi người ngồi
vào bàn. Mỗi người một tô. Ai nấy đều khen món súp ngon tuyệt vời. Còn người
khách thì vớt từ đáy nồi lên viên sỏi của ông, bỏ vào túi, vui vẻ chào mọi người
và ra đi.
13. Các con
hãy cho họ ăn đi.
Một bà già sống trong một nửa căn nhà có hai hộ. Bà
rất túng nghèo về của cải vật chất, nhưng giàu có về của cải tinh thần. Bà cầu
nguyện rất nhiều. Trong khi người chủ nhà sống ở căn hộ sát bên, ông ta không
có đức tin, không cầu nguyện, không tôn giáo.
Ông ta lại thường chế nhạo bà già về lòng tin vào
Thiên Chúa. Có một ngày bà già cầu nguyện lớn tiếng, thưa với Chúa rằng: “Bà
không còn chút thực phẩm nào trong nhà." Người đàn ông không có đức tin ờ
sát căn hộ bên nghe được, và quyết định: “Ta phải chơi khăm mụ già này."
Thế là ông ta đem một ổ bánh mì đặt ở trước cửa nhà,
bấm chưông rồi vội vã trở về căn hộ của mình, và lắng nghe qua bức tường tiếng
kêu sung sướng của bà già: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa, con biết rằng Chúa không
bỏ rơi con."
Ông già nham nhở trở lại cửa trước nhà bà già và bảo
bà: “Bà già thật ngờ nghệch. Bà nghĩ rằng Thiên Chúa đáp lời bà xin ư! Phải,
tôi là người đem ổ bánh mì cho bà đấy!”
Bà già dũng cảm kêu lên: “Ngợi khen Chúa! Ngài luôn
giúp đỡ tôi trong lúc thiếu thốn, dù rằng Ngài phải dùng ma quỉ mà đáp lời tôi
xin."
CNTN 18B -
Lời Chúa
TRUYỆN KỂ
1. Tìm kiếm
giá trị tuyệt đối
Cách đây khoảng 10 năm, tại bang California bên Mỹ,
có hiện tượng thanh niên tự tử hàng loạt. Tất cả đều là những thanh niên trẻ tuổi,
con nhà giàu, có học thức. Nguyên nhân tự tử là vì họ mong về Thiên đàng. Năm ấy
có sao chổi xuất hiện. Họ cho rằng sao chổi chính là chuyến xe về Thiên đàng. Mấy
mươi năm mới có một chuyến, nên họ vội vàng ra đi, sợ nhỡ chuyến.
Tính tỉ lệ những người tự tử, ta thấy thanh niên các
nước giàu tự tử nhiều hơn thanh niên các nước nghèo. Hiện nay trong nước ta, tại
các thành phố lớn, đang có hiện tượng các thanh niên đua xe gắn máy, liều lĩnh
coi thường mạng sống. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy đó là những thanh niên
con nhà giầu có.
2. Nạn đói
trên thế giới
Báo cáo về Tình trạng An ninh Lương thực và Dinh dưỡng
trên thế giới được thực hiện tháng 7-2020, ước tính có khoảng 690 triệu người
rơi vào tình trạng thiếu ăn trong năm 2019 – tăng thêm 10 triệu người so với
năm 2018 và thêm gần 60 triệu người trong vòng 5 năm.
Với đại dịch Covid-19, tình hình thiếu đói lương thực
còn nghiêm trọng hơn, nhất là ở những quốc gia châu Phi và châu Á. Lương thực
là một trong những nỗi lo căn bản của con người. Nó cũng là nguyên nhân gây
xung đột ở nhiều cấp độ: thế giới, quốc gia, vùng miền và cá nhân.
3. Bánh từ nhà
đem tới
Trong trận chiến ở Tây Ban Nha, một người lính bị
thương nặng được đưa về bệnh viện dã chiến. Chàng có hy vọng bình phục nhưng
chàng lại không chịu ăn. Các y tá các nữ tu đã tìm mọi cách thuyết phục, nhưng
chàng từ chối mọi thức ăn đem tới.
Một người bạn thân của chàng, biết chàng nhớ nhà,
nên anh tình nguyện đi tìm nhà của người bạn, anh kẻ rõ hoàn cảnh. Người cha của
người bị thương chuẩn bị lên đường thì mẹ chàng gói cho con bà một tấm bánh. Nạn
nhân vui mừng khi thấy cha mình. Nhưng anh vẫn chưa chịu ăn, đến khi cha chàng
nói: “Này con, đây là tấm bánh mẹ con đã nướng.”
Người con tươi nét mặt nói: “Vâng, bánh mẹ con làm,
cho con một miếng.” Từ đó, chàng bắt đầu trên đường bình phục.
4. Cái đói của
tâm hồn
Thánh Ignatiô, Đấng sáng lập Dòng Tên, một dòng trí
thức nhất của Hội thánh, Ignatiô lúc còn là đại úy, là quan, là hiệp sĩ anh
dũng đầy những tham vọng, đòi giàu sang, khát danh tiếng, mê lạc thú, khát khao
đủ mọi của hư nát thế gian. Chẳng may, Ignatiô bị thương nặng, què cẳng, phải nằm
nhà thương lâu dài.
Ông có dịp đọc sách “Gương Chúa Giêsu”, ông cảm thấy
tâm hồn thanh thoát, phấn khởi chan chứa niềm vui. Ông thấy niềm vui thánh thiện
này khác hẳn với thú vui dục vọng, danh vọng, giàu sang.
Niềm vui thế tục như của ăn hư nát, vui chút là hết,
lại sinh ra buồn chán, khổ sở, cắn rứt bất mãn như kẻ say rượu, mê cờ bạc, nghiện
ngập. Niềm vui nhân đức, thánh thiện, việc lành, tồn tại mãi, an tâm, phấn khởi,
thanh thoát, giống như niềm vui của tuần tĩnh tâm, của mùa thương khó, của lễ
Phục sinh và Giáng sinh.
5. Nhiều thứ
đói
Năm 1885 Vincent van Gogh đến viện bảo tàng
Amsterdam để được ngắm một họa phẩm nổi tiếng của họa sĩ Rembrandt, bức
"Cô Dâu Do Thái.” Sau khi ngắm xong, Van Gogh thố lộ: "Tôi thà giảm
thọ 10 năm để được ngồi 2 tuần trước bức danh họa này, chỉ cần ăn bánh mì khô
thôi cũng được. Thực ra, thứ mà tôi đói nhất không phải là thức ăn mà là hội họa.
Mỗi khi tôi có tiền tôi liền đi săn tìm các mẫu vẽ cho tới khi nhẵn túi.”
Không phải chỉ cơ thể mới biết đói, mà con tim và
tinh thần cũng biết. Cơm bánh không thể nào thỏa mãn cơn đói của con tim và
tinh thần. Nuôi sống một người không giống như nuôi một con vật, chỉ cần cho nó
ăn no. Chúng ta là người, chúng ta không chỉ có một thứ đói mà có hàng trăm thứ
đói. Ngoài cơm bánh ra chúng ta còn đói rất nhiều thứ:
- đói được người ta tôn trọng
- đói được người ta chấp nhận
- đói những tương giao
- đói nguồn động viên
- đói niềm tin
- đói hy vọng
- đói tình yêu
- Và còn một thứ đói nữa, sâu xa nhất, hàm chứa
trong mọi cơn đói khác, kể cả đói tình yêu. Đó là đói sự sống đời đời, hay nói
cách khác, đói Thiên Chúa.
6. Đói tiền
Trong một quyển truyện mang tựa đề "Chìa khóa
Nước Trời", nhà văn A.J.Cronin kể lại có một linh mục kia đi truyền giáo tại
một vùng quê nước Trung Hoa, ông truyền giáo bằng cách phân phát đồ viện trợ
nào tiền nào gạo nào thuốc men, những người giúp việc tông đồ cũng được trả
lương tháng rộng rãi.
Kết quả là chỉ trong vòng có một năm đã có tới 5000
người theo đạo. Nhưng sau khi ông về hưu thì hầu như tất cả đều bỏ đạo, thậm
chí Nhà thờ cũng bị những giáo dân bỏ đạo ấy tháo gở đập phá về sửa nhà riêng.
Vị linh mục thứ hai được gởi đến, tưởng mình sẽ gặp
được một họ đạo đông đúc và sốt sắng theo như bản báo cáo, nhưng đến nơi ông thấy
chẳng có gì cả: Không một giáo dân, không còn nhà thờ. Cuối cùng có hai người đến
tự xưng là các giảng viên giáo lý của linh mục trước, họ đòi lương 15.000 đồng
một tháng. Linh mục mới này quá nghèo không có tiền trả nên cả hai giáo dân đó
cũng bỏ đi hết. Cha ấy phải khởi sự tất cả lại từ con số không.
7. Theo đạo từ
tấm lòng
Trở lại với câu chuyện truyền giáo của linh mục kia.
Vì cha nghèo, không có tiền nhiều để làm mồi câu những người tòng giáo - mà dù
có cha cũng không muốn truyền giáo theo kiểu đó - cha chỉ đem tinh thần bác ái
của Tin Mừng ra để sống với người khác:
Cha thăm viếng những người bệnh, cha cư xử với những
người khác tín ngưỡng như những người bạn, cha nuôi những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ
rơi. Một hôm đứa con trai duy nhất của một ông điền chủ bị bệnh nặng. Nhờ có hiểu
biết chút ít về Tây Y, cha đã cứu cho nó sống. Ông điền chủ chiều hôm ấy tìm
đem cha về xin theo đạo.
Nhưng cha thẳng thắn từ chối vì thừa hiểu rằng ông
ta chưa có niềm tin. Cha chỉ giữ liên hệ láng giềng tốt với ông ta thôi. Phần
ông ta càng ngày càng có cảm tình với cha. Sau 30 năm truyền giáo như thế, vị
linh mục nghèo tiền nhưng giàu lòng bác ái ấy đã có được số giáo dân khoảng 500
người, nhưng đều là những giáo dân có niềm tin vững chắc.
Một ngày trước khi cha giã từ họ đạo để về hưu, cha
nhận được một niềm vui to lớn: ông nhà giàu kia lại xin theo đạo, và lần này vì
một lý do rất vững chắc, ông nói: Thưa cha, cách đây 30 năm tôi xin theo đạo để
trả ơn cha đã cứu sống con trai tôi, khi đó cha không nhận vì thấy tôi chưa có
niềm tin. Hôm nay, 30 năm sau tôi lại xin theo đạo, lần này không phải để trả
ơn cha, mà vì tôi thấy tôi cần có đạo.
Cuộc sống của cha trong 30 năm đã giúp tôi thấy đạo
rất là đẹp, rất là tốt và rất là cần cho con người. Vậy lần này tôi mong cha đừng
từ chối nữa. Dĩ nhiên là vị linh mục già ấy nhận lời. Buổi lễ tiễn biệt được trở
thành lễ Rửa tội thật là cảm động.
8. Hoàng đế Tần
thủy Hoàng.
Tần
thủy Hoàng còn muốn trường sinh trẻ mãi, nên đi tìm đủ mọi danh y, pháp thuật,
bói toán, chỉ dẫn cho uống thuốc, tập luyện và sai quần thần đi khắp nơi tìm
thuốc trường sinh, với bất cứ giá nào, dù phải vượt biển Đông hão huyền cũng phải
đi tìm, dù phải khổ luyện đến chết, vẫn nhắm mắt theo.
Đồng
thời, ông lại lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga, rộng lớn chín dặm vuông vức,
lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông Ngân hà, lấy vàng bạc xây tường
và chôn sống hàng trăm cung nữ vây quanh nhà mồ của ông...
Quả
thực, Thủy Hoàng chỉ làm vua hơn chục năm và sống hơn năm mươi tuổi. (Vũ Khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, nămB, tr 155).
9.
CNTN 18C – làm giàu trước mặt Chúa
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi
ấy, có người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, xin Thầy bảo
anh tôi chia gia tài cho tôi.” Người bảo kẻ ấy rằng: “Hỡi người kia, ai đã đặt
Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?”
Rồi
Người bảo họ rằng: “Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam:
vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu.”
Người
lại nói với họ thí dụ này rằng: “Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều
hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: 'Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu
mà tích trữ hoa lợi?' Đoạn người ấy nói: 'Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm
của tôi mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào
đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: “Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự
trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi.”
Nhưng
Thiên Chúa bảo nó rằng: 'Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn
ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?' Vì kẻ tích trữ của cải
cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy.”
TRUYỆN KỂ
1. Nghệ thuật làm giàu
Một
ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh
đón và chúc vua rằng: "Xin chúc nhà vua sống lâu.” Vua Nghiêu nói: "Đừng
chúc thế!" Viên quan lại chúc: "Chúc nhà vua giàu có.” Vua Nghiêu lại
nói: "Đừng chúc thế.” Viên quan chúc nữa: "Xin chúc nhà vua đông con
trai.” Vua Nghiêu lại nói: "Đừng chúc thế.” Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà
vua: "Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng
muốn?" Vua Nghiêu đáp: "Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc
nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.”
Viên
quan tâu: "Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra mỗi người
phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có
lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc
gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thoả,
thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời
chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là nhục?"
Đứng
trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận
trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho
ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên
khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn
ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu
giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu
muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà "làm giàu
trước mặt Thiên Chúa" (Lc 12, 21). Đó chính là "nghệ thuật làm giàu”
đích thực.
2. Biết dùng tiền của
Chúng
ta, ai cũng biết đến giải thưởng nổi tiếng nhất thế giới là giải thưởng Nobel
do tài sản khổng lồ của ông Alfred Nobel để lại. Ông đã dùng tiền của thế nào?
Ban
đầu, ông Nobel đã dùng tiền của để sáng chế ra chất nổ làm cốt mìn và thuốc
súng không khói. Kết quả là nhà thí nghiệm kho chất nổ của ông bị phát nổ tan
tành, và bộ chiến tranh nước Ý đã lập cho ông một phòng thí nghiệm khác ở San
Remo năm 1891. Để ông làm đạn và mìn. Do đó, nhiều người cho ông là hung thần
phá hoại. Bà Bertha Suttner nói với ông “ông là tên sát nhân.” Có lẽ nhờ những
lời đó mà ông thay đổi cách dùng tiền của.
Trước
khi tạ thế, Nobel đã làm chúc thư gởi tất cả tiền của vào ngân hàng để lấy tiền
lời thưởng hàng năm cho những ai có công nhất với nhân loại về năm công trình
sau đây:
Thứ
nhất giải thưởng cho ai có công xây dựng hòa bình.
Thứ
hai giải thưởng cho ai có công phát minh về sinh học, y học.
Thứ
ba giải thưởng về vật lý.
Thứ
tư giải thưởng về hoá học.
Thứ
năm giải thưởng văn chương cho tác phẩm nêu lên được lý tưởng cao đẹp cho nhân
loại.
Như
vậy, ông Nobel, lúc đầu đã dùng tiền của làm những việc bất nhân, về sau, ông
đã biết dùng tiền của giúp ích cho nhân loại.
Đức
Giêsu không nói tiền của là xấu, nhưng đã cảnh giác lòng tham lam tiền của và
phải coi chừng đừng dùng tiền của ăn chơi bất chính và gây những việc bất nhân.
Tin Mừng hôm nay nói đến một người đến xin Đức Giêsu: “Xin Thầy bảo anh tôi chia
phần gia tài cho tôi.”
Chắc
hẳn cha mẹ anh đã chết, chỉ còn lại hai anh em chung sống với nhau thôi. Thế mà
em đòi anh phải chia gia tài. Có lẽ anh không chịu nên em đến xin Đức Giêsu lấy
quyền như một vị tiên tri bắt anh chia gia tài cho em. Như vậy em đã coi tiền của
hơn tình nghĩa anh em ruột thịt. Nó coi của hơn người. Nó chọn chia rẽ hơn đoàn
kết, tranh chấp hơn hòa thuận.
3. Có tiền và xài tiền
Một
lão trọc phú keo kiệt kia đã tích lũy được một số tiền rất lớn và đang mơ tới
tương lai hạnh phúc đang chờ đón lão. Tuy nhiên trước khi lão kịp vung tiền ra
mua lấy hạnh phúc thì thần chết hiện ra đòi bắt hắn xuống âm phủ.
Lão
thương lượng: "Xin Thần chết cho tôi sống thêm ba ngày nữa thôi. Tôi sẽ
chia cho Ngài một nửa tài sản của tôi.” Thần chết không chịu. Lão xuống giá:
"Vậy xin cho tôi sống thêm một ngày. Tôi sẽ giao cho Ngài tất cả tài sản.”
Thần chết vẫn không chịu. Lão nài nỉ "Xin cho tôi một phút thôi, để tôi kịp
viết lời trối.” Thần chết đồng ý. Lão ngồi xuống, cầm bút viết câu sau đây:
"Gửi
người nào gặp được tờ giấy này. Nếu bạn có đủ tiền để sống thì đừng uổng phí cuộc
đời để kiếm thêm nhiều tiền nữa làm chi. Hãy lo sống thôi! Tiền bạc của tôi rất
nhiều, nhưng chỉ một giờ để sống tôi cũng chẳng mua được!"
Tiền
của không phải để sở hữu mà để hưởng dùng. Nói nôm na, tiền bạc không phải để
"có" mà để "xài.” Nhiều người rất biết cách "sở hữu"
nhưng lại không biết cách "hưởng dùng.” Rốt cuộc họ không hạnh phúc bằng một
đứa trẻ, sở hữu rất ít nhưng hưởng dùng rất nhiều. Người giàu thật không phải là
người có nhiều mà là người hưởng dùng nhiều. Cố gắng để có thật nhiều tiền mà
không thể hưởng dùng thì chẳng khác gì một người mù cố gắng thu góp thật nhiều
băng Vidéo.
Vấn
đề đặt ra là "hưởng dùng" và "xài" tiền như thế nào.
4. Túi tham không đáy
Tolstoi
kể rằng một người nông dân kia tên là Pakhom rất ham thích có một mảnh đất làm
tài sản riêng. Sau một thời gian làm lụng cực nhọc, anh tậu được một mảnh đất
40 mẫu. Anh mừng lắm. Nhưng chẳng bao lâu anh muốn một mảnh đất rộng hơn. Anh lại
làm lụng và để dành, bán mảnh đất cũ, cộng thêm tiền để dành, mua được một mảnh
đất 80 mẫu. Nhưng anh chưa thoả mãn, muốn tìm một mảnh đất khác rộng hơn nữa.
Có người cho anh biết rằng ở vùng bên kia núi có một bộ lạc mà dân chúng sống rất
đơn giản, họ có rất nhiều đất, ai muốn mua bao nhiêu cũng được.
Ngay
sáng hôm sau, anh nông dân đi sang vùng bên kia núi. Vị tù trưởng bộ lạc nói:
"Anh chỉ cần trả 1000 rúp thì có thể sở hữu được một vùng đất mà anh đi được
trong một ngày. Nhưng cần nhớ là anh phải trở lại đúng nơi điểm xuất phát cũng
trong ngày đó. Nếu về không kịp thì kể như mất tiền vô ích.”
Đêm
đó người nông dân sung sướng ngủ không được. Vừa rạng sáng hôm sau anh nhờ người
đánh dấu điểm xuất phát rồi bắt đầu bước đi. Càng đi anh càng sung sướng vì thấy
đất của mình càng rộng thêm. Anh cứ đi và đi mãi quên mất thời gian. Khi thấy mặt
trời bắt đầu xuống núi anh mới hốt hoảng quay về. Nhưng vì anh đã đi quá xa sợ
về không kịp nên anh cắm đầu chạy. Đến điểm mốc, anh ngã gục xuống.
Vị
tù trưởng đến chúc mừng: "Xin chia vui với anh. Từ trước tới nay tôi chưa
gặp được người nào đi xa được như anh. Anh hãy nhận phần đất của anh.” Nhưng
người nông dân không đứng dậy được nữa để nhận lấy tài sản của mình, vì anh đã
chết!
5. Gia tài để lại cho con cái
Có
thể chúng ta cố gắng kiếm tiền không phải để cho mình hưởng, nhưng để làm gia
tài trối lại cho con cái.
Xin
hãy nghe câu chuyện sau đây:
Người
kia làm việc trong một công ty đang phát triển mạnh, lương anh khá cao cho nên
gia đình rất hạnh phúc. Anh có một ngôi nhà xinh xắn, một người vợ hiền và mấy
đứa con ngoan.
Nhưng
anh tự nghĩ: mình còn trẻ, sức lực còn nhiều. Mà công ty hiện không thiếu việc.
Thế là anh làm thêm giờ phụ trội. Thu nhập càng cao hơn. Anh lại nghĩ: nếu mình
phấn đấu để lên chức thì sẽ được tăng lương nữa. Và anh phấn đấu, và quả thực
anh lên chức.
Cho
đến một hôm đi khám bệnh, anh được biết mình đã mắc phải một chứng bệnh nguy hiểm
và đã tới giai đoạn cuối cùng. Nghĩa là anh không sống được bao lâu nữa. Lúc sắp
rời bỏ vợ con ấy, anh mới biết rằng xưa nay anh chẳng hiểu vợ con bao nhiêu, và
con cái anh cũng chẳng hiểu anh bao nhiêu. Và anh chết, để lại cho con cái một
gia tài lớn. Đối với người khác, anh là một con người thành đạt. Nhưng đối với
vợ con thì anh là một con người thất bại. Vợ con anh hưởng gia tài của anh mà
chẳng nghĩ tới anh bao nhiêu: bấy lâu nay họ sống không có anh, sau này họ cũng
tiếp tục sống không cần anh.
Bởi
vậy trong bài Tin Mừng này Chúa Giêsu đã không quan tâm đến gia tài. Khi một
người đến nhờ Ngài phân xử việc tranh chấp gia tài. Ngài đã không xử, lại còn cảnh
cáo "Các ngươi hãy coi chừng giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải
sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu.”
6. Ba người bạn
Người
kia có 3 người bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy
thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ. Người
bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng
lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không được
ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không
những trắng án mà còn được thưởng nữa.
Người
bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một
chiếc chiếu và một cái hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc
đưa ta tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến
tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng.
7. Những thứ tiền không mua được
George
Horace Lorimer, chủ bút tờ Saturday Evening Post trong nhiều năm, có lần viết:
"Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng
để mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn."
Có
thể kể những thứ sau đây tiền không mua được:
Tiền
không mua được tình bạn chân thực.
Tiền
không mua được lương tâm trong sạch.
Tiền
không mua được niềm vui mạnh khoẻ.
8. Lòng tham của con người.
Khi
từ quan về ở ẩn, thi sĩ Nguyễn công Trứ khuyên người ta đừng chờ đợi những gì
quá sức mình, hãy biết dừng lại, bằng lòng với những cái mình đang có, cũng như
thi sĩ biết hưởng cái thú an nhàn trong bài thơ “Chữ Nhàn”:
Tri
túc tiện túc, đãi túc hà thời túc,
Tri
nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.
Biết
đủ tức là đủ, đợi đủ biết bao giờ đủ,
Biết
nhàn tức là nhàn, đợi nhàn biết bao giờ nhàn.
9. Ông già và con ngỗng.
Một
ông già nghèo ngồi bên cửa sổ lo lắng cho tương lai. Một người lạ mặt ôm một
con ngỗng đến tặng ông già và nói: ”Ông hãy chăm sóc con ngỗng này chu đáo thì
nó sẽ giúp ích cho ông.” Rồi người đó đi mất.
Ông
già nghèo đưa con ngỗng về nhà, cho nó ăn, cho nó uống, ban đêm cho nó ngủ
trong một cái lồng sạch sẽ. Sáng hôm sau khi nhìn vào chiếc lồng ông vui mừng
thấy một quả trứng ngỗng bằng vàng. Ông mang quả trứng ra tiệm bán được một số
tiền lớn, mua được đủ mọi thứ cần thiết cho cuộc sống. Hôm sau ông được thêm một
quả trứng ngỗng bằng vàng nữa. Hôm sau nữa cũng vậy. Cứ thế mỗi ngày ông nhặt
được một quả trứng vàng. Từ đó ông không còn nghèo nữa, ông sống rất thoải mái.
Nhưng
dần dần ông trở thành tham lam. Ông không chịu mỗi ngày chỉ có một trứng, ông
không thể chờ cho hết tuần mới có được 7 trứng. Ông muốn có ngay một lúc tất cả
những trứng vàng của con ngỗng. Thế là ông mổ bụng con ngỗng ra. Nhưng ông chẳng
thấy quả trứng nào trong đó cả. Ông vội may bụng ngỗng lại mong nó đừng chết.
Nhưng vô ích. Khi đó người lạ mặt kia trở lại và nói: ‘Trước đây đã chẳng bảo với
ông rằng nếu ông chăm sóc con ngỗng tử tế thì nó sẽ giúp ích cho ông sao? Bây
giờ cả ông lẫn tôi đều đã mất tất cả.”
10. Rồi sao nữa?
Ngày
xưa, thánh Philipphê Nêri muốn thuyết phục Phanxicô Spaoãano, một sinh viên Rôma
, đã hoàn toàn tin tưởng ở sự hướng dẫn của ngài về một chân lý ngàn năm. Một
hôm Phanxicô Spaoãano hớn hở đến báo tin cho ngài biết mình đã thành công rực rỡ
trên đường khoa nghiệp. Thánh nhân trả lời:
-
Khá lắm. Cha xin mừng với con. Nhưng rồi con sẽ làm gì?
-
Con sẽ làm trạng sư, sẽ biện hộ ở tòa án.
- Rồi
sao nữa?
-
Con sẽ có nhiều tiền.
- Rồi
sao nữa?
-
Con sẽ lập gia đình.
- Rồi
sao nữa?
-
Con sẽ sống hạnh phúc.
- Rồi
sao nữa?
Chàng
sinh viên suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Rồi…
rồi con cũng sẽ chết như bất cứ ai khác.
- Rồi
sao nữa?
Chàng
sinh viên im lặng bỏ đi, trầm tư và u buồn. Tuy nhiên, câu hỏi cứ nhắc đi nhắc
lại mãi, chàng cứ bị ám ảnh hoài. Và để đảm bảo cho cái “Rồi sao nữa” kia, cuối
cùng, chàng từ giã đường trần khóac áo tu trì.
Khi
giải thích dụ ngôn này của Chúa, thánh Athanasiô đưa ra lời khuyên: ‘Ai sống
như phải chết mỗi ngày – vì biết rằng cuộc sống này tự nó là tạm bợ, không chắc
chắn – sẽ không phạm tội, vì sợ hãi Chúa dập tắt một phần lớn lòng tham lam ;
trái lại, ai nghĩ mình còn sống lâu sẽ dễ dàng để cho mình bị dục vọng cai trị.”
11. Cho một được mười triệu.
Đang
lững thững đi trong một đường phố, có một người ăn mày đến xin bố thí, người
kia móc túi da đưa cho một đồng bạc.
Tám
hôm sau, nhà từ thiện đã hết sức ngạc nhiên, vì ông nhận được bức thư nặc danh,
trong có ngân phiếu 10 triệu quan. Bức thư viết thế này:
Có
lẽ ông còn nhớ một hôm ngao du ở Nice, ông đã bố thí cho một người ông tưởng là
hành khất. Trong 10 người tôi ngửa tay xin, chỉ có một ông đã thí cho một đồng bạc.
Xin ông biết cho rằng: tôi đây là một nhà triệu phú đã trá hình làm người hành
khất đó, với mục đích là nắm được phần thưởng trong cuộc đánh đố. Tôi đã được
cuộc, vậy xin ông cho phép tôi chia với ông số tiền thuởng đó.
Truyện
rất hào hứng này, đã được tất cả các báo thuật lại và là truyện có thật. Người
ta đoán ông Ernest Ingram chủ tiệm vàng ở Nice bên nước Pháp, chính là vai chủ
động trong truyện.
12.
Lễ
kính -
Lời
Chúa
TRUYỆN KỂ
1. truyện
THỨ HAI - PHÉP LẠ BÁNH HÓA NHIỀU
Lời
Chúa: Mt 14, 13-21
Khi
ấy Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó, xuống
thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố
đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót
họ, và chữa những người bệnh tật trong họ.
Chiều
tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Đây là nơi hoang địa, mà giờ đã
chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức
ăn." Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi,
các con hãy cho họ ăn." Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ
có năm chiếc bánh và hai con cá." Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại
cho Thầy."
Khi
Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai
con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ,
các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm
được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn
ông, không kể đàn bà và con trẻ.
TRUYỆN KỂ
1. Lời cầu xin của người đàn bà
Truyện
kể một người đàn bà nghèo về vật chất, nhưng lại giầu về lòng tin. Người chủ
căn phòng, nơi bà thuê là một người đàn ông giàu có, nhưng keo kiệt và vô đạo;
ông thường đem lòng tin của người đàn bà ra làm trò cười.
Một
hôm, người đàn bà cầu nguyện lớn tiếng với Chúa rằng hiện trong nhà không còn lấy
một hột gạo. Ðể cho người đàn bà một bài học về sự mê tín dị đoan, kẻ vô đạo liền
lấy một ổ bánh mì, rón rén đặt trước cửa phòng người đàn bà, bấm chuông rồi chạy
vội về phòng mình.
Người
đàn bà mở cửa phòng lấy ổ bánh mì, trở lại phòng và cầu nguyện: "Lạy Chúa,
con cám ơn Chúa vì con biết rằng lúc nào Chúa cũng nhậm lời con."
Người
đàn ông rất tâm đắc khi nghe một lời cầu nguyện như thế. Ông đến gõ cửa phòng
người đàn bà và nói vọng vào: "Hỡi người đàn bà ngu xuẩn, bà tưởng rằng
Chúa đã nhậm lời cầu xin của bà ư? Chính tôi là người đã mang ổ bánh đặt trước
cửa phòng bà đó."
Làm
như thể không để ý đến lời nói của người đàn ông, người đàn bà nghèo lại tiếp tục
cầu nguyện: "Lạy Chúa, chúc tụng Chúa, vì Chúa luôn trợ giúp con trong lúc
túng ngặt: Chúa dùng ngay cả một tên quỷ để đáp lại lời cầu xin của con."
2. Chúa mở rộng bàn tay ban bánh bởi trời
Nakamura,
một thiếu nữ Nhật, 18 tuổi, gia nhập đạo Công giáo được bốn năm, từ ngày vào đạo,
hầu như không ngày nào bỏ tham dự thánh lễ lúc 6g30 sáng.
Ngày
6/8/1945, Mỹ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống Hirôshima. Cảnh tượng tàn
phá thật là khủng khiếp... Đã gần hai tuần, vị linh mục phụ trách giáo điểm
truyền giáo không thấy Nakamura đi lễ nên quyết định đi thăm nàng. Ngài khổ sở
len lỏi mãi, mới tới được nhà Nakamura. Hỡi ôi, nhà nàng đã sụp đổ tan tành, chỉ
còn cái tường cao chừng hai thước trơ trọi đứng đó... Vị thừa sai thổn thức
vòng lại phía sau nhà. Trời ơi, một cái chòi thô sơ, bốn góc là bốn cái cột,
chung quanh che bằng chiếu, mành, áo quần rách, trên nóc, mấy tấm tôn kẽm xiêu
vẹo. Ngài bước vào trong. Ôi lạy Chúa, một cái chõng thô sơ, ọp ẹp: Nakamura nằm
trên đó, áo xống tả tơi, cháy sém, hai tay hai chân co quắp như một xác chết...
Vị
linh mục khựng lại, không sao nói được một lời. Sau một lát, ngài lấy can đảm gọi
tên nàng. Nakamura nhúc nhích, nhưng không sao trở mình được. Nàng bị thương nặng
quá, chân tay mình mẩy, chỗ nào cũng thấy sây sát. Ở đầu vai bên phải, thịt
xương cháy xám lòi ra, để một lỗ hổng, có thể đút lọt bàn tay. Vị linh mục xắn
áo, lau chùi, dọn dẹp rồi giúp nàng xoay mình. Nakamura mở hai mắt nhìn vị linh
mục, tràn ra mấy giọt lệ, cựa quậy tay trái như muốn giơ lên chào mà không giơ
lên nổi. Nàng nói thì thầm: “Cha có đưa Mình Thánh Chúa đến cho con
không?" Vị linh mục chưa kịp trả lời nàng, thì nước mắt đã trào ra. Sau ít
phút trao đổi, vị linh mục được biết, đã 14 ngày qua, trừ ra cha nàng, ông cũng
bị thương nặng, mỗi ngày đem cho nàng chút ít đồ ăn, nước uống, còn ngoài ra,
chẳng ai lo lắng chăm sóc nàng. Vậy mà Nakamura không một lời kêu ca than thở,
không kêu xin xót thương giúp đỡ. Nàng như quên hết mọi đau đớn, ê chề, chỉ nhỏ
nhẹ hỏi: “Cha có đưa Mình Thánh Chúa đến cho con không?" Vị linh mục nghẹn
ngào cảm kích cực độ, nước mắt cứ thi nhau trào ra...
Ngài
trở lại nhà, lấy Mình Thánh Chúa cho Nakamura rước lễ, rồi ngài nán ở lại, lau
chùi, dọn dẹp thêm chút nữa túp lều của nàng... Nakamura nhỏ nhẹ nói với ngài:
“… Đã bốn năm nay, con chuẩn bị vào Dòng. Con muốn tận hiến đời con cho Chúa,
muốn phục vụ hết mình những người nghèo khó, bệnh tật. Hiện giờ, con thế này,
không biết Chúa sẽ dẫn dắt con về đâu? Dẫu sao, ở đâu, đi về hướng nào, ra sao,
Chúa là nguồn sức mạnh, là nguồn hạnh phúc, là tất cả của con...."
Hôm
sau, vị linh mục trở lại, mang theo Mình Thánh Chúa… nhưng Nakamura đã về trời
với Bạn Chí Thánh Giêsu... không còn trên mặt đất khổ đau này nữa. Nakamura mới
gia nhập đạo được mấy năm, hằng ngày đi lễ ban sáng và rước lễ... bị tai nạn, cửa
nhà tan nát, thương tích đầy mình, đớn đau tinh thần, thể xác, mà không một lời
kêu ca, ta thán. Gặp linh mục Nakamura chỉ hỏi đến Mình Thánh Chúa... Vị thừa
sai xác tín: Ngoài trường “Thánh Thể” ra, không còn trường nào khác dạy được
như vậy!
3. Công cụ cho tình yêu quan phòng của Chúa
Một
người hồi giáo làm nghề đập đá có thói quen vào đền thờ cầu nguyện với Đức Ala.
Ngày nào anh cũng thấy một con chim cú mù đứng bất động trên vách tường trước mặt
và một con chim cú khác mang thức ăn đến cho nó. Cảnh tượng ấy làm cho anh suy
nghĩ: “Đấng Ala quan tâm lo lắng cho cả một con chim cú mù. Còn ta, tại sao ta
phải luôn luôn lo lắng về của ăn hằng ngày. Ta phải biết phó thác cuộc đời cho
sự quan phòng của Đấng Ala." Thế là anh bỏ nghề và ngày ngày đến trước của
đền thờ để chờ được Đấng Ala chăm sóc như Ngài đang chăm sóc cho con chim cú
mù.
Một
người bạn biết chuyện, đến khuyên: “Tôi nghĩ là anh chưa hiểu được đều mà Ala
muốn nói với bạn qua hình ảnh hai con chim. Ngài không hề muốn bạn trở thành
con chim cú mù, nhưng hãy học lấy tấm gương chia sẻ của con chim cú lành mạnh”
4. Đói tình yêu
Khoảng
nửa đêm, có một em bé tìm đến gõ cửa nhà mẹ Têrêsa. Mẹ bước xuống nhà và mở cửa
cho em. Vừa khóc nức nở em vừa nói:
-
Thưa mẹ, con tìm về với mẹ con và mẹ con nói: “Ta sẽ đánh mày." Con tìm về
với cha con và cha con đã đuổi con đi. Mẹ ơi! xin mẹ đừng đuổi con đi nữa nghe.
Ít là mẹ, xin mẹ hãy thương con.
Mỗi
ngày, ở nhiều nơi trên thế giới, những cảnh tượng giống như thế vẫn thường xảy
ra và không phải chỉ xảy ra ở những nước nghèo đói như Ấn Độ, mà còn xảy ra
ngay cả ở những nước giàu có và tiên tiến. Những đứa trẻ đang khao khát được
yêu thương và được chăm sóc. Đây chính là sự nghèo đói sâu xa nhất!
Mẹ
Têrêsa đã từng đón nhận hơn 40 ngàn người bị bỏ rơi như vậy ở các ngả đường
thành phố Calcutta. Mẹ mang họ về các viện mồ côi, các trung tâm cấp cứu và ở
đó, họ đã chết cách bình an dưới cái nhìn đầy yêu thương của Thiên Chúa và với
niềm xác tín là được Chúa yêu thương, một tình thương được cụ thể hóa qua tình
thương của Mẹ Têrêsa và các nữ tử Bác ái của mẹ. Mẹ và các chị chưa từng thấy
ai trong số những người nghèo bị bỏ rơi ấy từ chối tình thương của Chúa. Trong
những giây phút cuối đời, tất cả họ đều đã nói: “Lạy Chúa, con yêu Chúa, và con
tin Chúa rất yêu thương con."
5. Hãy cho họ ăn đi
Lúc
7 giờ chiều thứ năm 30-5-2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ đầu
tiên kính Mình Máu Thánh Chúa tại thềm Đền thờ thánh Gioan Laterano. Trong bài
giảng, Đức Thánh Cha đặc biệt quảng diễn câu Chúa Giêsu nói với các môn đệ khi
thấy đám đông dân chúng đến với Ngài và khi chiều về họ không có gì để ăn:
“Chính các con hãy cho họ ăn”[1]. Đức Thánh Cha nhận xét rằng: “Đứng trước nhu
cầu của đám đông, giải pháp của các môn đệ là mỗi người hãy nghĩ đến mình: giải
tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn! Bao nhiêu lần các tín hữu
Kitô chúng ta cũng bị cám dỗ như thế! Chúng ta không dám đảm trách những nhu cầu
của người khác, chúng ta thường để họ ra đi với câu nói đạo đức: ‘Xin Chúa giúp
đỡ bạn!’. Nhưng giải pháp của Chúa Giêsu đi theo một hướng đi khác, một hướng
đi làm cho các môn đệ ngạc nhiên: ‘Chính các con hãy cho họ ăn’.
Đức
Thánh Cha giải thích rằng: Lời mời gọi của Chúa Giêsu gửi đến các môn đệ là
‘Chính các con hãy cho, hãy chia sẻ.’ Và họ đã chia sẻ 5 chiếc bánh và hai con
cá. Nhưng chính những chiếc bánh và cá ấy, Chúa đã làm cho đám đông được ăn no
nê...
6. Con đường dễ, con đường khó
khi
Suy Niệm đoạn Tin Mừng này trong tác phẩm “5 chiếc bánh và 2 con cá”, Đức Hồng
Y Phanxico Nguyễn Văn Thuận cũng đã diễn tả cùng một ý như Đức Thánh Cha. Đức Hồng
Y nói: Các môn đệ muốn chọn con đường dễ nhất, khỏe nhất: “xin Thầy giải tán
đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." Nhưng Chúa Giêsu muốn
các môn đệ hành động ngay trong phút hiện tại. “Chính các con hãy cho họ ăn."
Chúng ta cũng hãy hành động ngay trong phút hiện tại với tất cả những gì mình
có. Không chọn dễ dãi nhưng chọn tình yêu.
Cũng
như các môn đệ, chúng ta cần quan tâm học hỏi cách xử sự của Chúa Giêsu: Ngài
chạnh lòng thương yêu cứu giúp mọi người đến quên bản thân mình. Chúng ta cũng
chỉ có thể học được bài học này, nếu chúng ta có trái tim của Chúa Giêsu:
thương cảm sâu sắc trước tình cảnh của người anh em chị em, tức là biết quan
tâm đến hoàn cảnh sống của anh chị em mình, với trái tim đầy tình yêu thương.
Hãy học cách yêu thương như Chúa bằng cách đáp ứng ngay, chia sẻ ngay, không
tìm cách giải quyết né tránh, cũng không chọn cách phục vụ theo kiểu dễ dãi
không dính bén đến mình.
Ước
gì khi cảm nghiệm Lời Chúa dạy qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng dám dấn
thân, dám chia sẻ ngay khi chúng ta chỉ có một phần ít ỏi nhỏ bé.
THỨ BA - CHÚA ÐI TRÊN BIỂN
Lời
Chúa: Mt 14, 22-36
Khi
dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ
bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên
núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã
ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh
tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt
biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa" và các ông sợ hãi kêu
la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy
đây, đừng sợ." Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì
xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy." Chúa phán:
"Hãy đến." Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng
Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng:
"Lạy Thầy, xin cứu con." Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà
nói: "Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền
thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng:
"Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!"
Khi
đã sang qua biển hồ, các ngài lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa
phương liền loan tin đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết
mọi kẻ ốm đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai
đã rờ đến thì đều được chữa lành.
TRUYỆN KỂ
1. Hãy bám chặt vào Ta
Có
người kể: Tối qua, tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng một luồng sáng xuất
hiện; và Chúa Giêsu hiện ra mỉm cười và nói: “Con hãy ngồi trên tấm thảm này với
Ta."
Lòng
tràn đầy vui sướng, tôi làm theo ý Ngài. Tấm thảm từ từ bay bổng lên không
trung đưa theo Chúa Giêsu và tôi ngồi trên đó. Tôi mỉm cười, lòng đầy vui sướng
và tự nhủ: thật không còn gì hạnh phúc cho bằng được ở gần bên Chúa.
Một
lúc sau, tôi quay nhìn Chúa Giêsu để tỏ bày niềm vui: nhưng tim tôi bắt đầu đập
mạnh vì Ngài không còn bận tâm gì đến tôi nữa, bởi lẽ Ngài đang chăm chủ rút từng
sợi chỉ của tấm thảm thả cho nó bay lơ lửng ở trên không trung. Hết sợ chỉ này
đến sợi chỉ khác từ từ bay lên theo gió. Chân tay tôi bắt đầu run lên vì hoảng
sợ, thế mà Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ. Sau cùng tôi
kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa làm gì thế? Chúa không thấy là chẳng còn mấy chốc nữa
tấm thảm sẽ tan tành hay sao?”
Chúa
Giêsu mỉm cười nắm tay tôi và nói: Sao con nhát đảm và kém tin thế? Hãy bám chặt
vào Ta, con sẽ không sợ gì, dù có bị tước đoạt mọi sự, cả đến sợi chỉ cuối cùng
đi nữa."
Chúa
Giêsu vừa dứt lời, thì quả thực sợi chỉ cuối cùng của tấm thảm cũng bị rút đi
luôn và tôi giật mình thức giấc.
2. Ngài vẫn ở đó một mình
“Giải
tán họ xong, Ngài lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Ngài vẫn ở đó một
mình!"
“Một
là tự tử, hai là về thành phố, ba là ôm chặt Chúa!" Đó là chia sẻ của cha
René Voillaume khi ngài nói đến ‘thời gian nhà tập’ của một Tiểu Đệ Chúa Giêsu
tại sa mạc Sahara, nơi nhiệt độ thông thường có thể lên đến 58°C và lạnh dưới -
45°C!
“Lạy
Chúa, đừng để con sợ cô đơn, dạy con yêu mến nó, một cô đơn đầy Chúa; nhờ đó,
con có thể cảm nhận sự kỳ diệu của nó!”, Amen.
3. Tham tiền là nguồn gốc mọi tội ác
Anh
Nguyễn văn S. vừa cưới vợ, thì biến cố 30/04/1975 cũng vừa tới. Cha mẹ anh gặp
khó khăn vì biến cố này, nên không đồng ý cho vợ chồng anh sống chung, thế là
anh và vợ phải chuyển xuống Rạch Giá sinh sống.
Gặp
thời điểm anh S. có người bạn rủ đi vượt biên và cho vợ chồng anh thiếu nợ, khi
nào tới nơi làm ăn sẽ trả!
Sang
tới đất Mỹ, vợ chồng S vừa đi học, vừa cần cù làm việc, nên đã sớm tạo được của
hàng buôn bán, và trở thành người Việt giàu có trên đất Mỹ!
Sau
18 năm xa quê hương, vợ chồng muốn về Việt Nam thăm bố mẹ, và cũng là dịp để
khoe với gia đình, chòm xóm về sự thành đạt của mình!
Cha
mẹ anh ở Việt Nam cũng gặp may, xây được một ngôi nhà lớn làm khách sạn kinh
doanh, nên giàu có hơn trước.
Vợ
chồng S. về tới quê nhà, vì muốn gây bất ngờ cho bố mẹ, nên anh để vợ ở tạm nhà
một người bạn, còn anh đóng vai người khách đến thuê khách sạn! Vì đã xa gia
đình hơn 18 năm, nên mẹ anh không nhận ra con trai mình, là thằng S. trước đây
gầy và đen nay thành một người bảnh bao, xuất tướng!
Thuê
được phòng, đêm ấy anh S mời mẹ và em gái lên phòng, anh mở va-li ra cho hai mẹ
con nhìn thấy va-li đầy ắp dollars, vàng, kim cương! Thế là đêm đó hai mẹ con lẻn
lên phòng thủ tiêu anh S để cướp số tài sản ấy!?
Ba
ngày sau,vợ S quá suốt ruột,không nghe tin chồng,nên cô quyết định đến khách sạn
của mẹ hỏi thăm về S, rồi kể lai lịch của vợ chồng cho mẹ và em gái nghe. Như
tiếng sét đánh phủ đầu, bà mẹ và cô em qúa hối hận nên đã nhảy lầu tự tử!!
Thật
đúng như lời Chúa Giêsu dạy: “Hãy coi chừng, tránh mọi thứ tham lam, vì không
phải ai được sung túc là đời sống người ấy được đảm bảo chắc chắn nhờ nơi của cải”
(Lc 12,15).
Bởi
thế thánh Phaolô dạy: “Tham tiền là nguồn gốc mọi tội ác!” (1Tm 6,10).
THỨ TƯ - LÒNG TIN BÀ MẸ NGOẠI GIÁO
Lời
Chúa: Mt 15, 21-28
Khi
ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở
Canaan từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: "Lạy Ngài là con Vua Đavít,
xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm."
Nhưng
Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: "Xin Thầy
thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi." Người trả lời:
"Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel."
Nhưng
bà kia đến lạy Người mà nói: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi." Người đáp:
"Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó." Bà ấy đáp lại:
"Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi
xuống."
Bấy
giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: "Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà
muốn sao thì được vậy." Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.
TRUYỆN KỂ
1. Sống Niềm Tin
Mahatma
Gandhi, người có công giành độc lập cho Ấn Ðộ bằng con đường bất bạo động, đã
có lần tuyên bố: "Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi không phục những người
Kitô hữu." Câu nói của con người đã từng lấy giáo lý của Chúa Kitô làm nền
tảng cho chủ trương bất bạo động đáng làm cho chúng ta suy nghĩ.
Giáo
lý của Chúa Kitô thì cao đẹp, nhưng nhiều Kitô hữu làm cho bao nhiêu người xa
lánh Giáo Hội, chỉ vì cuộc sống của họ đi ngược lại với những gì họ tuyên xưng.
Người ta thường nói: "Bà con xa không bằng láng giềng gần." Ðôi khi
chúng ta cảm thấy gần gũi với những người láng giềng hơn là với những người
thân thuộc. Trong liên hệ với Chúa Giêsu cũng thế, có biết bao người chưa từng
được nghe nói đến Chúa Giêsu, có biết bao người không mang danh hiệu Kitô,
nhưng lại gần gũi với Chúa Kitô và sống tinh thần Kitô hơn chính những người
Kitô hữu.
2. Niềm tin mạnh mẽ và lòng khiêm tốn
Một
em bé vâng lời mẹ xách giỏ ra tiệm tạp hóa. Em cẩn thận đọc cho người bán hàng
tên của từng món đồ mà mẹ em đã ghi trên mảnh giấy. Người bán hàng nhìn em và để
ý theo dõi từng cử chỉ cẩn thận của em một cách thích thú.
Sau
khi đã xếp gọn các món vào giỏ cho em, người bán hàng dẫn em đến trước cái hộp
đầy kẹo. Vừa mở nắp hộp người bán hàng vừa bảo em thò tay vào lấy kẹo. Em bé
vui mừng rút ra một viên kẹo. Người bán hàng bèn khích lệ em và nói: “Cháu hãy
bốc cho đầy lòng bàn tay của cháu đi." Em bé mỉm cười đáp: “Vậy ông hãy bốc
kẹo giùm con." Người bán hàng ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?” Em bé dí dỏm
trả lời: “Tại vì bàn tay của ông lớn hơn bàn tay của con rất nhiều."
Em
bé nhìn nhận cái bé nhỏ của mình trước sự lớn lao của người khác, nên đã được
ban cho dư đầy.
3. Niềm tin nửa vời
Một
người vô thần rất mê leo núi. Ngày kia trượt chân té ngã lăn từ đỉnh núi xuống.
Nhưng may thay ông nắm được một cành cây nằm chơ vơ giữa đỉnh cao và vực thẳm.
Giữa lúc chỉ còn biết chờ chết, một ý nghĩ chợt đến với ông: Tại sao không gọi
Chúa đến cứu giúp. Thế là lấy hết sức lực, người vô thần la lớn: “Lạy
Chúa." Tuy nhiên, bốn bể chỉ có yên lặng và ông chỉ nghe được tiếng dội của
lời kêu van. Một lần nữa, người vô thần lại kêu xin tha thiết hơn: “Lạy Chúa, nếu
quả thật Chúa hiện hữu thì xin hãy cứu con. Con sẽ tin Chúa và dạy cho người
khác cũng tin Chúa." Sau một hồi thinh lặng, bỗng người vô thần nghe một
tiếng vang dậy cả vực thẳm và núi cao: “Gặp hoạn nạn thì ai cũng cầu xin như thế."
“Không, lạy Chúa, nghìn lần không. Con không giống như những người khác. Chúa
không thấy sao, con đã bắt đầu tin từ khi nghe tiếng Chúa phán. Nào bây giờ xin
Chúa hãy cứu con đi, và con sẽ cao rao danh Chúa cho đến tận cùng trái đất."
Tiếng ấy trả lời: “Được lắm, Ta sẽ cứu ngươi. Vậy nếu ngươi tin thì hãy buông
tay ra." Người vô thần thất vọng thốt lên: “Buông tay ra ư, bộ Chúa tưởng
tôi điên sao?"
4. Những tư tưởng được ghi từ Internet:
- Một
con tằm phải trải qua đau đớn để tự chui ra khỏi cái kén và trở thành con bướm
biết bay.
- Một
hạt giống nằm sâu trong lòng đất nảy mầm phải tự vươn thẳng lên xuyên qua tầng
đất dày để thành cây cứng cáp.
-
Con tằm nào được người ta cắt vỏ kén chui ra sẽ mãi bò quẩn quanh cái kén mà
không bao giờ thành loài bướm biết bay.
- Hạt
giống nằm trên mặt đất dễ dàng nảy mầm nhưng sẽ bị bật gốc khi gặp cơn giông tố.
5. Thử thách tăng sức sống
vỉa
đá ngầm nổi tiếng kéo dài 1.800 dặm từ New Guinea đến Úc mà khách du lịch một
khi đã đến nơi đây, không thể không ghé thăm. Tại đây, một người khách đã hỏi
người hướng dẫn viên du lịch một câu hỏi khá thú vị:
-
Tôi quan sát thấy cũng vỉa đá này, ở ngoài đại dương nó thật rực rỡ và sống động
trong khi trong hồ nước nó lại xám xịt và thiếu sức sống. Tại sao lại như thế?
Người
hướng dẫn viên giải thích rằng: “Những vỉa đá dưới hồ tuy chìm trong nước nhưng
vì không phải đấu tranh sinh tồn nên chúng chẳng thể hoàn thiện được. Trong khi
đó, những vỉa đá phía đại dương lại không ngừng đối diện với biết bao nhiêu là
sức mạnh khắc nghiệt của thiên nhiên như sóng gió, bão tố... để tồn tại. Và khi
chịu đựng những thử thách như thế, nó mới có cơ hội để thay đổi và thích nghi.
Nó vẫn phát triển thật mạnh mẽ và liên tục tái sinh."
6. Nhà thơ Lý Bạch
Lý
Bạch là một trong những thiên tài lừng lẫy nhất của thế giới. Thơ ông bát ngát
những ước mơ đẹp, thấm thía tình thương yêu con người. Làm sao mà ông được như
vậy?
Tương
truyền, từ thuở nhỏ, Lý Bạch đã yêu say đắm thiên nhiên, ao hồ, sông núi nhất
là những con người trong vùng. Chú bé thường mải mê đi tìm những hoa cỏ đẹp, có
khi quên cả buổi học, chán cả lớp học.
Một
hôm, chú men theo dòng suối đến chân núi, thấy một người đàn bà tóc bạc ngồi mê
mải với một phiến đá và một mảnh sắt nhỏ. Chú đến gần xem và tò mò hỏi:
-
Bà ơi, bà mài sắt làm gì thế bà?
Bà
nhìn chú bé đáng yêu, đáp:
-
Bà mài sắt để làm kim khâu cháu ạ!
Mặt
bà sao phúc hậu thế. Giọng bà sao hiền từ thế. Rồi bà bảo bé Lý Bạch ngồi bên
bà. Chú nhìn đăm đăm hai bàn tay đưa đi đưa lại miếng sắt hàng trăm ngàn lần
trên phiến đá mài, chú khẽ hỏi:
-
Miếng sắt to thế này mà làm kim được hở bà?
Bà
bảo:
-
Mài mãi, sắt cũng mòn đi, bé lại, rồi thành cái kim.
Chú
lại hỏi:
-
Thế bao giờ mới xong hở bà?
Bà
đáp, giọng ôn tồn, nhỏ nhẹ:
-
Bà cứ mài, mài mãi, hôm nay, mai, một tháng, hai tháng, năm nay, sang năm, thế
nào cũng xong - bà nói tiếp, dằn giọng hơn - phải xong.
Chào
bà cụ, chú bé đứng dậy ra về. Suốt dọc đường, chú suy nghĩ về lời bà: có công
mài sắt, có ngày nên kim. Cái phút bà ngẩng nhìn chú với ánh mắt sáng mà nói:
“Thế nào cũng xong, phải xong”, cái phút ấy làm bừng lên một luồng sáng thật
sáng nơi lòng chú bé và suốt đời vẫn còn rung động mãi trong tâm hồn, trái tim
của Lý Bạch. Từ ngày ấy, Lý Bạch chú ý hơn đến sách vở, lớp học, rồi quen dần,
ham mê đọc thật nhiều sách, ghi chép cẩn thận. Với tâm hồn dễ xúc động, với kiến
thức rộng bao la, Lý Bạch để lại cho đời sau những áng thơ tuyệt mỹ.
Xin
được kết thúc bằng lời chúc của Thánh Giacôbê: “Phúc thay người biết kiên trì
chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng
là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người.” (Gc 1,12).
7. Cái không có
Cha
Anthony de Mello kể chuyện một môn đệ đến thưa với thầy:
-
Con đến gặp thầy với hai bàn tay trắng.
-
Hãy quăng nó ngay đi!
-
Nhưng làm sao quăng được? Thưa thầy, có gì đâu mà quăng.
-
Thế thì hãy mang nó theo!
Và
cha kết luận: “Cái không có của bạn chính là của cải có giá trị nhất của bạn.”
Cũng
thế, lời cầu xin của người đàn bà Canaan thật là mạnh mẽ, vì lòng thương xót của
Chúa không thể từ chối lời nài van của người không tìm được nơi nương tựa nào hết,
và Ngài nói: “Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.”
8. Thế nào là lòng thương xót
Trong
lời dẫn nhập cuốn “Lạy Chúa! Tại sao Ngài im lặng?”, linh mục Giuse Đinh Thanh
Bình, SDB. đã kể chuyện đời mình:
“Buổi
sáng ngày 25 tháng 4 năm 1986, em trai tôi, Giuse Đinh Công Khanh, hớn hở sắp xếp
đồ đạc lên xe để đi chơi với bạn bè. Em giơ tay vẫy chào từ giã mọi người trong
gia đình - lần cuối - vì em không bao giờ trở về nữa. Tối hôm đó, cảnh sát điện
thoại báo tin em đã bị tử nạn xe hơi gần một khúc quanh trơn trợt, lạc tay lái.
Em qua đời khi vừa tròn 20 tuổi”…
‘1
giờ sáng ngày 27, tôi phóng xe tới nhà thờ thánh Phanxicô, cửa đã đóng, tôi đứng
hét giữa trời: “Tại sao? Tại sao em con lại chết?” Như một thằng điên, tôi khản
giọng hỏi Chúa.
‘Chúa
im lặng.”
Liền
sau đó, cha kể về cái chết của ông thân sinh ở Việt nam vào cuối năm đó: “… tất
cả các con đều ở ngoại quốc, chẳng có đứa nào ở bên cạnh để Người nhắn nhủ đôi
câu di ngôn trước khi an tâm nhắm mắt.
‘Lần
này, tôi quì gối lặng lẽ, toàn thân cứng đờ bất động, tuyệt vọng nhìn lên Thánh
giá thều thào: “Lạy Chúa! Tại sao?”
‘Ngài
vẫn im lặng.”
Đức
Kitô thinh lặng để bà thấm thía được sự bất lực của mình, và nhờ đó mà thấy được
rõ hơn, rằng Thiên Chúa là nơi nương tựa duy nhất của mình: “Vì nếu Ngài cứ im
hơi lặng tiếng, thì con sẽ giống như kẻ đã xuống mồ” (Tv 28,1); còn những lời
khó nghe Chúa đã dùng là để cho bà thấy được ơn cứu độ là một hồng ân Chúa ban
bởi lòng thương xót, chứ không phải bởi sự xứng đáng của bất cứ ai.
9. Đức tin và lòng khiêm tốn
Christopher
Columbus, còn được gọi là Kha Luân Bố, sinh năm 1451 tại Genoa thuộc Ý Ðại Lợi,
được coi là người đầu tiên phát hiện ra Châu Mỹ, mặc dù lúc đó ông cứ ngỡ là
ÁChâu. Năm 1482, ông thỉnh cầu vua Bồ Ðào Nha là John II tài trợ cho chuyến
thám hiểm Ấn Ðộ, nhưng nhà vua từ chối. Không nản chí, Kha Luân Bố sang Tây Ban
Nha diện kiến vua Ferdinand và hoàng hậu Isabella để xin được giúp đỡ. Ban đầu
cũng không được chấp thuận, nhưng sau đó hoàng hậu Isabella đã đồng ý giúp đỡ
tài chánh cho chuyến đi của ông.
Kha
Luân Bố được trao quyền chỉ huy ba chiếc tàu thám hiểm với đoàn thủy thủ gồm 88
người. Vào ngày 3 tháng 8 năm 1492, ông cho đoàn tàu rời bến cảng ra khơi. Mục
đích cuộc thám hiểm là tìm ra con đường ngắn nhất đến Á Châu, cụ thể là Ấn Ðộ
và Trung Hoa, nơi được nghe nói là có nhiều vàng, ngọc trai, kim cương và gấm
vóc. Chuyến đi dài hơn dự tính, nên sau hai tháng lên đênh trên biển không tìm
thấy đất liền, thủy thủ đoàn chán nản, bắt ông phải cho tàu quay về. Ông hứa
trong hai ngày nữa, nếu không thấy đất liền sẽ làm theo ý họ. Thật may mắn,
chưa đầy 48 giờ sau, ngày 12 tháng 10, họ đã gặp được miền đất ngày nay có tên
là Châu Mỹ.
Với
sự kiên trì và niềm say mê khám phá, Kha Luân Bố đã tìm ra châu lục mới. Nhờ niềm
tin kiên vững và lòng khiêm tốn của người đàn bà xứ Canaan mà con gái bà được Đức
Giêsu chữa lành.
THỨ NĂM – CHÌA
KHÓA NƯỚC TRỜI
Lời
Chúa: Mt 16, 13-23
Khi
ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng:
"Người ta bảo Con Người là ai?" Các ông thưa: "Người thì bảo là
Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri
nào đó". Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy
là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có
phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy,
Đấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ
xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho
con chìa khoá Nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc;
và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở". Bấy giờ Người truyền
cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Đức Kitô.
Kể
từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem,
phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và
ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: "Lạy
Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu". Nhưng
Người quay lại bảo Phêrô rằng: "Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy: con
làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà
chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người".
TRUYỆN KỂ
1. Chúa Giêsu là ai?
Nhà
điêu khắc Dannecker người Đức, đã để nhiều công khó trong công tác tạc một bức
tượng của Chúa Giêsu bằng cẩm thạch. Trong hai năm đầu, bức tượng đã xong, nhà
điêu khắc mời một em bé vào phòng vẽ của mình và hỏi em bé rằng:
-
Ai đó?
Em
bé tức khắc trả lời:
- Một
vĩ nhân.
Nhà
điêu khắc buồn và nghĩ rằng, công khó của mình trong hai năm kể như đã hỏng.
Ông tiếp tục tạc lại trong sáu năm nữa và mời một em bé khác vào phòng vẽ và hỏi:
-
Em biết bức tượng này là ai không?
Sau
khi nhìn bức tượng một lúc, yên lặng và nước mắt tràn ra đôi mi, em khẽ nói:
- Hỡi
những con trẻ đau khổ, hãy đến cùng ta!
Nhà
điêu khắc thỏa mãn, thành công về tác phẩm của mình. Nhà điêu khắc Dannecker
sau đó đã tuyên bố:
-
Tôi đã thấy Chúa Cứu Thế Giêsu và hình ảnh của Ngài đã thể hiện trong khi tôi tạc
bức tượng Ngài bằng cẩm thạch này.
Sau
đó ít lâu, hoàng đế Napoléon Bonaparte yêu cầu nhà điêu khắc tạc cho hoàng đế bức
tượng nữ thần Vệ Nữ để trưng bầy trong việc bảo tàng Louvre, Paris. Hoàng đế hứa
sẽ trả cho ông một món tiền rất lớn, nhưng Dannecker từ chối. Ông nói rằng: “Một
người đã thấy Đấng Kitô và đã tạc vẽ mặt của Ngài rồi thì không thể dùng nghệ
thuật của mình vào những việc ở đời này được nữa, bởi vì làm như thế là tục hóa
nghệ thuật của mình mất rồi”.
2. Dung nhan Chúa Kitô
Ngày
kia, hoàng đế của một vương quốc lớn đã mời gọi các nghệ sĩ từ nhiều nước đến dự
cuộc thi “mô tả chân dung hoàng đế”. Các nghệ sĩ Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ
và các thứ đá hoa kim cương quí nhất. Các nghệ sĩ Ai cập thì mang đến đủ thứ đồ
nghề và một khối cẩm thạch hảo hạng. Sau cùng người ta rất nhạc nhiên khi thấy
phái đoàn Hy Lạp chỉ mang vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng.
Mỗi
phái đoàn dự thi trong một căn phòng đặc biệt của cung điện. Khi thời gian đã hết,
Đức vua cho trưng bày các tác phẩm tranh giải. Ông hết sức khen các bức chân
dung của chính mình do các nghệ sĩ Ấn Độ và Ai cập tạc nên. Sau cùng đến phòng
trưng bày của người Hy Lạp, hoàng đế chỉ thấy duy nhất một bức tường đã được
đánh bóng đến độ khi hoàng đế nhìn vào ông thấy khuôn mặt của mình hiện ra từng
nét. Và phái đoàn Hy Lạp đã đoạt giải nhất trong cuộc thi đó.
Sứ
mệnh căn bản của mỗi kitô hữu là hoạ lại dung nhan của Đức Kitô nơi cuộc sống
và tâm hồn của mình. Để đạt được điều đó, chúng ta phải đục đẽo, phải loại bỏ tất
cả những gì là gồ ghề, thô nháp, những thói hư tật xấu và phải cầu xin để có một
đức tin vững mạnh.
Lạy
Chúa, xin cho con biết kiên nhẫn đục đẽo tâm hồn và cuộc sống con để dung nhan
Ngài giãi sáng qua mọi hành vi của đời sống con. (Hosanna)
3.
THỨ SÁU - THEO CHÚA, HÃY VÁC THẬP GIÁ
Lời Chúa: Mt 16, 24-28
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng:
"Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà
theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng
sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại
sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống
mình?
"Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của
Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho
mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật, Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng
đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước
Người."
TRUYỆN KỂ
1. Giá trị của
đau khổ
Khi nhắc đến ông Leonardo da Vinci, chúng ta thường
nghĩ đến những phát minh khoa học và những bức họa nổi tiếng của ông. Chúng ta
không biết rằng để giải trí ông Leonardo de Vinci còn sưu tầm những chuyện cổ
tích, hoặc đặt ra những câu chuyện vui sau đây về một cuộc đối thoại tưởng tượng
giữa một tờ giấy trắng và cái bút:
Tờ giấy trắng từ lâu nằm ù lì trên bàn giấy cùng với
những đồng bạn khác, nhưng bỗng nó được chọn đem ra nằm giữa bàn và chịu cảnh
cây viết mực đen ngòm vẽ lên nó không biết bao nhiêu là dấu hiệu mà nó không hiểu
gì cả. Nó phàn nàn với cái bút như sau:
- Tại sao anh lại làm thế? Anh vẽ trên mình tôi những
dấu đen làm mất đi sự trong trắng ban đầu. Anh làm nhục tôi như thế này sao?
Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi.
Nhưng cái bút trả lời:
- Không đâu anh giấy ạ, anh hiểu lầm tôi rồi. Tôi
không bôi đen anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ kể từ nay
anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, nhưng có mang trên mình những sứ điệp.
Anh trở thành kẻ cộng tác với con người. Lưu giữ những tư tưởng cao siêu. Và vì
thế được con người nâng niu, bảo vệ. Anh sẽ được sống mãi để trợ giúp cho con
người.
Tờ giấy chưa kịp trả lời cái bút thì nó bỗng nhìn thấy
một bàn tay người quơ lấy những tờ giấy khác, trước kia trắng tinh nay đã đổi
màu, đầy bụi mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh. Tờ giấy bị vẽ trên mình những lằn
mực đen kia mới hiểu được hành động của cái bút và lấy làm sung sướng, vì được
trở thành như người cộng tác lưu giữ trong kho tàng trí khôn con người
2. Thánh giá vừa
sức mình
Thánh giá ta đang mang là thánh giá vừa sức ta. Câu
chuyện ngụ ngôn dưới đây chứng minh điều đó: có một người luôn than van những nỗi
khổ cực của mình. Một ngày kia, thiên thần hiện đến phán bảo:
- Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó người ta để lại
thánh giá của mình. Con hãy mang thánh giá của con ra để đó và lựa chọn thánh
giá vừa sức con.
Ông ta mang thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa,
ông bắt đầu chọn cái khác nhẹ hơn, ông tìm kiếm mãi mà không được: có cây quá
dài, cây quá ngắn, có cây thì nhẹ nhưng sù sì, khó vác, có cây thì trơn tru
nhưng nặng quá, và sau cùng ông nói với thiên thần:
- Thưa thiên thần, cây nào cũng khó vác, chỉ có cây
con định vứt đi là vừa với con thôi.
- Phải, Chúa đã trao cho con một cây thánh giá vừa sức,
con hãy vui lòng vác đi, đừng than van gì nữa.
3. Hai cách đi
theo Chúa:
Chính Thánh Don Bosco đã tưởng tượng chuyện sau đây:
Một hôm Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan theo Ngài lên núi. Ngài dặn mỗi ông mang
theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một lúc rồi nhặt một hòn đá nhỏ bỏ vào túi; còn
Gioan, do lòng quảng đại, vác cả một tảng đá to. Dĩ nhiên, đường dài, vác nặng,
Gioan thở hổn hển và lên đến nơi sau cùng. Phêrô bước thảnh thơi và còn nói với
Gioan: “Sao anh nhọc công vác tảng đá to như thế!" Tới nơi, Chúa Giêsu bảo
hai môn đệ ngồi xuống. Ngài đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá thành bánh.
Dĩ nhiên, Phêrô chỉ được một chiếc bánh nhỏ xíu không đủ cho cơn đói cồn cào của
ông.
Lần khác, Chúa lại bảo hai ông theo Ngài lên núi và
cũng mang theo đá. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang một tảng đá thật to. Đến
nơi, ông ngồi chờ phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nói “Nào, mỗi người hãy ngồi
lên tảng đá mà mình mang theo. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh
đâu." Rồi Ngài nói riêng với Phêrô: “Lòng quảng đại thật không phải là
lòng quảng đại tính toán."
Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết cho
đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một
phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã làm theo ý Chúa.
4. Vì Chúa
Kitô
Chị Tiểu Phụng, bề trên cả dòng Thánh Gia ở Quảng
Tây, vốn là một tân tòng. Thấy một sinh viên trong trường có đời sống trong
sáng vui tươi khác thường, lúc nào cũng sẵn sàng quên mình vì bạn bè, tỏa ra một
sức sống tinh thần thật hấp dẫn, chị chơi thân với bạn ấy, rồi mới hỏi thật:
“Bí quyết nào khiến bạn sống được như thế?” Câu trả lời là: “Giêsu Kitô.”
Thế là chị đọc Tân Ước từ đấy, muốn họa lại từng
trang trong đời mình. Môn đệ hay người đi theo Đức Giêsu không phải từ bỏ một,
hai điều gì đó, nhưng là từ bỏ cái quý giá nhất với mình là bản ngã, ý muốn bản
thân, để trọn vẹn đặt Ngài làm kiểu mẫu cho mọi suy nghĩ, cái nhìn, và lối sống.
Nỗ lực làm đẹp lòng “Giêsu Kitô” sẽ thật sự là động lực, là quy tắc cho mọi
hành xử của họ.
Theo Đức Giêsu là chấp nhận cung cách “liều mất mạng
sống” như Ngài. Bạn sẽ không hỏi: Tôi sẽ thu tích bao nhiêu, nhưng sẽ hỏi: Tôi
sẽ ban phát bao nhiêu. Không hỏi: Việc nào an toàn cho bản thân tôi, nhưng sẽ hỏi:
Việc nào là điều tốt tôi nên làm. Và bạn sẽ có hằng trăm câu hỏi như vậy.
5. Thánh giá của
ngày hôm nay mới có giá trị
Vào ngày thứ Năm Tuần Thánh năm 2012, Hugo Chavéz, tổng
thống Venezuela, một Kitô hữu từ lâu đã lơ là trong việc đạo đức, bất ngờ xuất
hiện trước truyền hình quốc gia. Trong Thánh lễ đồng tế, ông đứng trước công
chúng, vừa khóc, vừa nói: “Lạy Chúa xin cho con cuộc sống, thậm chí là một cuộc
sống bị thiêu đốt, hoặc đau đớn đi nữa cũng không quan trọng... Lạy Chúa Kitô,
xin cho con thánh giá của Chúa, một trăm thánh giá đi nữa con cũng chịu vác,
nhưng xin cho con cuộc sống bởi vì còn có nhiều thứ con chưa làm xong... đừng bắt
con đi bây giờ.”
Hugo Chavéz nói những lời trên khi ông đang chống chọi
với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối. Ông muốn đổi tất cả để lấy mạng sống,
nhưng mọi nỗ lực đều vô vọng. Căn bệnh đã cướp đi mạng sống của ông vào ngày
05/3/2013, sau 4 lần giải phẫu.
Quả thực “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt
mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” Nếu sự sống đời này mà không gì có thể đổi
được, thì sự sống đời đời càng phải khó hơn!
Không gì có thể đổi được mạng sống – cho dù là cả thế
giới; chỉ có một cách để giữ được nó, là hãy liều mất mạng sống vì Chúa Kitô
(c. 25).
THỨ BẢY - LÒNG TIN LỚN BẰNG HẠT CẢI
Lời Chúa: Mt 17, 14-19
Khi ấy, có một người đến gần, quỳ gối trước mặt Chúa
Giêsu mà nói rằng: "Lạy Ngài, xin thương xót con trai tôi vì nó mắc chứng
kinh phong và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa và lắm lúc nó ngã xuống nước.
Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó được."
Chúa Giêsu đáp: "Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các
ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó
lại đây cho Ta." Chúa Giêsu quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé. Và
nó được lành ngay trong lúc ấy.
Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng:
"Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?" Chúa Giêsu bảo các ông
rằng: "Vì các con yếu lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng
tin lớn bằng hạt cải, thì các con có khiến núi này rằng: 'Hãy rời khỏi đây mà
sang nơi kia', thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được."
TRUYỆN KỂ
1. Kiêu ngạo sẽ
thất bại
Một sự cám dỗ lớn lao nhất thường đến với con người,
đó là cơn cám dỗ về sự kiêu ngạo.
Thật vậy, sự kiêu ngạo nó thường trực trong con người,
và mức độ nguy hiểm của chúng là rất cao. Có thể ví rằng: sự kiêu ngạo luôn
nhăm nhe bừng phát, chúng giống như bình xăng còn ma quỷ như bó đuốc. Nếu không
cẩn thận và đề phòng bằng sự khiêm nhường, ắt không sớm thì muộn, chúng cũng
làm cho bình xăng bốc cháy!
Đọc lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy, từ xa xưa,
người ta vẫn bị mắc vào cám dỗ này.
Khởi đi từ Nguyên Tổ loài người là Ađam và Evà; rồi
câu chuyện tháp Babel, đến hành động của Môsê, Aharon, Đavít, và ngay cả đến
các môn đệ, tất cả đều bị ngã gục trước sự cám dỗ của ma quỷ dưới lưỡi hái của
sự kiêu ngạo.
Thật vậy, cậy vào sức riêng của mình là chuyện bình
thường. Tuy nhiên, vì tự tin đến độ không cần đến Thiên Chúa thì lại là kẻ bất
thường, vì thế, thất bại là lẽ đương nhiên.
Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy việc các môn đệ thất
bại trong việc trừ quỷ. Nguyên do chính là do các ông tự mãn và cậy vào khả
năng riêng của mình chứ không phải là niềm tin vào Thiên Chúa.
2.Đức tin phải
cháy luôn
Thời Thập Tự Quân (Croisade), một kỵ sĩ bị quân nghịch
đạo tấn công sắp chết. Trong cơn nguy hiểm đó, ông nhìn lên trời và khấn: “Lạy
Chúa, nếu con đánh trận còn sống, con sẽ thắp một cây sáp nơi mồ Chúa và đem
cây sáp luôn cháy sáng về tận nhà."
Ông được thoát nạn. Giữ lời hứa, ông thắp một cây
sáp nơi mồ Chúa và tìm cách mang nó về tận nhà.
Trên đường về, ông luôn che cho cây nến khỏi tắt vì
gió mạnh. Sắp hết cây nến này, ông thắp cây nến khác. Cứ thế, ông đem cây nến
đó về tận nhà như lời đã hứa với Chúa.
Thật là một gương anh dũng!
Cây đèn đức tin của chúng ta cũng vậy, trên con đường
về quê Trời, phải luôn được chúng ta thắp sáng.
3. Niềm tin
trong chiến đấu
Cần có niềm tin Một tướng quân quyết định tấn công
cho dù binh lính của ông chỉ bằng một phần mười quân địch. Ông quả quyết rằng sẽ
thắng, nhưng lính của ông rất nghi ngờ.
Vì thế, trên đường đi tới trận chiến, ông dừng lại ở
một nhà thờ và cầu nguyện. Khi trở ra, ông nói với họ:
- Tôi sẽ tung một đồng tiền lên. Nếu nó ngửa, chúng
ta sẽ thắng. Nếu nó sấp, chúng ta sẽ thua. Vận mệnh bây giờ sẽ được tiết lộ.
Ông tung đồng tiền lên. Nó ngửa. Những người lính rất
hăm hở vào trận đấu và tin tưởng rằng họ sẽ thắng cách dễ dàng. Hôm sau, một sĩ
quan có niềm tin mạnh nói với tướng quân rằng:
- Kết quả cho thấy rằng không ai có thể thay đổi
cánh tay vận mệnh.
Tướng quân trả lời:
- Rất đúng - và ông cho hay rằng đồng tiền có hai mặt
ngửa!
4. Cần sức mạnh
của Chúa
Có một người hỏi một học giả Á Đông nổi tiếng là người
xác tín vào Thiên Chúa rằng:
- Tại sao ông là người học cao hiểu rộng, đã biết đến
nơi đến chốn về các tôn giáo, về các triết lý cao siêu của Á Đông mà ông lại
đón nhận Tin Mừng như vậy?
Vị học giả trả lời:
- Tôi vốn dĩ giống như một người chìm tàu giữa đại
dương, sóng cả dập vùi, sức người có hạn. Các vị lãnh đạo tôn giáo khác đã dạy
tôi rằng: Con phải bơi lội theo phương pháp này, tập dưỡng sức theo phương pháp
nọ. Nhưng các lý thuyết ấy không cứu vớt tôi ra khỏi biển sâu. Chỉ có Chúa
Giêsu, Ngài đã nhảy xuống biển và liều chết để cứu vớt tôi, vì vậy tôi tin vào
Ngài.
5. Tin Chúa
hay tin môn đệ Chúa?
Cha Ngô Phúc Hậu kể chuyện ông Hai Hiếu nghỉ đạo 70
năm vì “Hồi xưa con ở Trà Lồng. Có một lần đi lễ trễ, bị ông cố Quimbrôtz bắt nằm
xuống, đánh cho một trận chảy máu đít. Con sợ, con giận, con bỏ đạo luôn cho tới
bây giờ. Hồi ấy con mới có 19 tuổi.” (Nhật Ký Truyền Giáo). Ta cảm thấy chua
xót, vì nhiều người của Hội Thánh thất bại trong việc giới thiệu khuôn mặt nhân
hậu của Đức Giêsu. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người tín hữu có lý do để
nghỉ đạo. Người cha trong bài Tin Mừng là mẫu gương cho ta. Dù các môn đệ thất
bại trong việc trừ quỷ cho con mình, người cha vẫn không thất vọng. Ông đến gặp
chính Đức Giêsu để van xin Ngài. Mất lòng tin nơi người của Hội Thánh, nhưng
ông không mất niềm tin nơi Đức Giêsu.
“Một ít người gây gương xấu đã làm xói mòn tính khả
tín của nhiều người” (Đức Gioan-Phaolô II). Đây đó trong Hội Thánh, các môn đệ
của Chúa tiếp tục thất bại khi trình bày sứ điệp Tin Mừng, để lộ những thói hư
tật xấu, và không đối phó được với những tệ nạn của xã hội.
6. Gương sáng và đức tin
Năm
1961, một người phạm tội đốt nhà bị kết án mười hai năm tù tại một nhà tù ở
Stillwater, Minnesota. Khi được phóng thích vào năm 1973, ông ta cảm thấy rất
khó thích nghi được với những thay đổi của xã hội đã xảy ra trong những năm
qua. Có lẽ ông đã trôi dạt lại với cuộc sống tù ngục, nếu không nhờ một giáo sư
đã tin tưởng và giúp đỡ ông. Ông nói: “Lòng tin của con người đó đã chữa lành
và cứu sống tôi.”
Điều
gì đã gia tăng lòng tin của tôi vào Chúa và vào người khác?
Giếng
nước của Chúa Quan Phòng thì sâu, còn thùng đựng nước của chúng ta lại nhỏ bé.
(Mary Webb)
LỄ CHÚA HIỂN DUNG
(năm A) - CON YÊU DẤU ĐẸP LÒNG TA
Lời Chúa: Mt 17, 1-9
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em
ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình
trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng
như tuyết. Và đây ông Môsê và Êlia hiện ra và đàm đạo với Người.
Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng:
"Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; nếu Thầy ưng, chúng con xin
làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia." Lúc ông còn đang
nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây
phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời
Người." Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống và hết sức sợ hãi. Bấy giờ
Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: "Các con hãy đứng dậy, đừng sợ."
Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra
lệnh cho các ông rằng: "Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho
tới khi Con Người từ cõi chết sống lại."
TRUYỆN KỂ
1. Thiên Chúa
vẫn còn hiển dung
Trong cuốn sách The Golden String, văn sĩ người Anh
Bede Griffiths mô tả lại một khám phá diệu kỳ của ông khi còn là một cậu học
sinh.
Một buổi chiều hè, Bede Griffiths ung dung thư thái
dạo chơi ở bìa rừng. Trong lúc thơ thẩn một mình bỗng dưng cậu nhận ra tiếng
hót líu lo của đàn chim trên tàng cây mới tuyệt vời làm sao! Cậu rất ngạc nhiên
vì từ hồi nào đến giờ chưa bao giờ được nghe chúng hót hay đến thế.
Đang lúc tiếp tục bước tới, cậu gặp thấy những đoá
hoa của những bụi táo gai như đang mỉm cười niềm nở chào đón cậu trông dễ
thương lạ lùng và đang toả hương trong gió. Bede cũng rất ngạc nhiên vì từ trước
tới nay cậu đã từng thấy những bông hoa như thế nở rộ cả trăm lần mà không hề
nhận ra vẻ đẹp tinh khôi và hương thơm dịu dàng của chúng.
Sau cùng cậu tìm đến một nơi yên tĩnh, đứng tựa vào
thân cây, lặng ngắm vầng kim ô đang dần dần chìm xuống sau rặng núi lam cuối
chân trời. Bỗng chốc cậu cảm thấy trời đất vô cùng huyền diệu và bất giác cậu
nghiêng mình quì gối xuống biểu lộ một niềm cảm xúc rất thánh thiêng: cậu vừa
trải nghiệm được sự hiện diện rất nhiệm mầu của Thiên Chúa trong tạo vật của
Ngài.
2. Khi chúng
ta hiển dung
Jiddu Krishnamurti, người Ấn-độ (1895- 1986) là một
tác giả và nhà diễn thuyết nổi tiếng về các vấn đề triết học và tinh thần, cho
rằng, trong mỗi con người có ba “nhân vật” đang chung sống:
* Một là “tôi-là." Đây là con người thật của
tôi, chân tướng của tôi. Ví dụ: bản chất tôi (tôi-là) là người tham lam, ích kỷ,
lười biếng…)
* Hai là “Tôi-muốn-là." Đây không phải là bản
chất con người tôi, nhưng là con người mà tôi mong muốn trở thành. Ví dụ: Tôi
hiện là người tham lam, ích kỷ, lười biếng nhưng tôi muốn sống như là người quảng
đại, vị tha, năng động…
* Ba là “Tôi-tưởng-tôi-là." Đây cũng không phải
là bản chất con người tôi, nhưng là ảo tưởng tôi có về mình. Ví dụ: Một số kinh
sư và Pha-ri-sêu thời Chúa Giêsu thực chất là người tham lam dối trá, nhưng cứ
tưởng mình là người công chính đạo đức.
3. Hãy biết
mình
Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất
kiêu ngạo, vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ. Sư tử thường mắng
thỏ và doạ nạt thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới nghĩ ra cách báo
thù.
Một lần kia nó nói với sư tử rằng:
– Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông
giống anh lắm. Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám
đối mặt với nó." Thằng cha này không coi ai ra gì cả!
Sư tử tức giận và bảo rằng:
– “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”
Thỏ trả lời:
– Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng
lộng lên và bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.
Sư tử càng tức điên người lên và hỏi:
– Nó ở đâu? dẫn tao đến ngay.
Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở
đàng xa và bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!
Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy
giếng. Quả thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng
nhìn nó. Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù
lông cổ lên tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên
kia cũng hăm dọa lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống
giếng để cho thằng khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt
đời mình dưới giếng sâu…
4. Đường về đỉnh
vinh quang
Đây là một câu chuyện xưa có tên “Người kế vị”, nội
dung như thế này: Ở ngôi chùa kia có vị cao tăng với nhiều đồ đệ đông đến hàng
trăm người. Cũng như mọi người bình thường, vị cao tăng biết rõ ràng quy luật
“sinh, tử” của Tạo Hóa là không có ngoại lệ. Nay tuổi cao, sức yếu, vị cao tăng
muốn tìm một người kế vị mình. Ngặt nỗi, người kế vị chỉ có một, còn đồ đệ thì
rất nhiều. Vị cao tăng nghĩ là một kế và tiến hành lựa chọn người kế vị.
Cứ khoảng vài ba ngày, vị cao tăng tự đem giấu một
món đồ vật và phàn nàn với đồ đệ rằng nơi đây có trộm cắp.
Ít lâu sau, vị cao tăng bỗng la lên: Trộm! Trộm! Có
kẻ trộm!
Nghe tiếng thầy kêu, dù đang ngon giấc, các đồ đệ đều
bật dậy, vội chạy tới. A là một đồ đệ rất siêng năng, nhanh nhẹn, tháo vát,
luôn quí trọng thầy, thương yêu sẵn sàng giúp đỡ bạn, có uy tín vào bậc nhất
trong các đồ đệ của vị cao tăng. A chạy đến trước tiên, hy vọng sẽ giúp thầy
tìm bắt kẻ trộm, bảo vệ tài sản.
Thấy A, vị cao tăng vội túm lấy áo của A và nói lớn:
Bắt được kẻ trộm rồi.
Trước đông đảo các môn đệ, vị cao tăng tuyên bố:
A là kẻ trộm vừa bắt được và đuổi A đi.
Bị thầy đuổi, không một lời thanh minh, không một lời
oán thán, A nhẫn nhục ra đi.
Ba ngày sau, A trở lại Chùa, quỳ trước vị cao tăng
và nói: “Thưa thầy, con ngộ (giác ngộ – nhận thức) được rồi."
Vị cao tăng đỡ A dậy, trong lòng cảm thấy rất vui vì
đã lựa chọn được người kế vị xứng đáng đúng như lòng muốn.
5. Biến hình
Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về
cuộc đời của ông như sau: Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu
nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực
để biến đổi thế giới này."
Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người
trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời
cầu nguyện của tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những
người trong gia đình của con.”
Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được
trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như
sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”
Và ông kết luận: “Nếu tôi biết cầu nguyện như thế
này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.”
6. Dõi theo bước Chúa – R. Veritas
Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu
Chai-san đã được bố cho đi theo một đoàn lữ hành phải vượt cao nguyên trùng điệp
với những đỉnh đồi, những ngọn núi vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đêm đến đoàn lữ
hành trú ngụ trong những chiếc lều vải thô sơ. Một đêm nọ cậu bé Chai-san cảm
thấy có một sức mạnh từ bên trong thúc đầy cậu trốn ra khỏi lều. Và kìa, giữa
miền núi cao, bầu trời đầy trăng sao lấp lánh như bao trùm lấy cậu. Một cảm
giác hạnh phúc nhẹ nhàng xâm chiếm tâm hồn Chai-san. Cậu có cảm tưởng như cả vũ
trụ xinh đẹp này đã được tạo dựng để ban tặng cho cậu, và nó đang nâng tâm hồn
cậu lên với Đấng Tạo Hóa.
Bỗng chốc bầu khí yên tĩnh và an bình bị xáo trộn vì
tiếng gọi của người cha: “Chai-san, mày trốn đi đâu rồi? Trở vào lều đi."
Chai-san miễn cưỡng trở vào lều và tiếc nuối nói với cha: “Bố ơi, bầu trời trăng
sao đẹp quá chừng!"
7. Chúa tỏ hiện
vinh quang
Nếu có xuống Bà Rịa, đi ngang qua nghĩa địa ở làng
Phước đến gần nhà thờ các Thánh Tử Đạo, hãy vào thăm một ngôi mộ, đây là ngôi mộ
của một tu sĩ tên là Lazarô Phiền.
Tên của nhân vật có thể gợi lên cả cuộc đời của vị
tu sĩ này là một chuỗi những ngày khổ đau, những phiền muộn. Mẹ ông qua đời vì
bệnh dịch tả năm ông mới được ba tuổi. Năm ông lên mười hai tuổi, cùng với ba
trăm tín hữu công giáo khác, cha của cậu bé Phiền đã bị Văn Thân thiêu sống
trong ngục, còn cậu bé thì tay chân bị phỏng nặng nhưng cậu bé đã cố lết ra
ngoài và được cứu thoát. Một sĩ quan Pháp thương tình đưa cậu bé Phiền lên
Sàigòn và giới thiệu cho một gia đình Việt Nam giàu có. Cùng với người con trai
trong gia đình này, Lazarô Phiền đã được cho ăn học đến nơi đến chốn. Sau khi
đã thành tài, được bổ nhiệm đi làm thông ngôn, hai người thương nhau như là anh
em ruột thịt. Tình nghĩa giữa hai người bạn lại càng thắm thiết hơn khi chính
gia đình của người bạn này đã đứng ra lo chuyện gia đình cho Lazarô Phiền,
nhưng niềm vui của cuộc sống hôn nhân không được trọn vẹn, bởi vì có một người
đàn bà khác vì yêu Thầy Lazarô Phiền nhưng không được đáp trả nên đã tìm cách
hãm hại Thầy.
Qua hai lá thư giả mạo của người đàn bà này, Lazarô
Phiền nghi ngờ người vợ của mình có tư tình với người bạn thân của mình, cho
nên không làm chủ được cơn ghen, ông đã lập mưu giết người bạn thân và dùng thuốc
độc để sát hại vợ mình. Hai cuộc mưu sát đã được tính toán một cách tài tình,
cho nên kẻ sát nhân đã tránh được lưới của pháp luật. Thế nhưng về phần mình,
Lazarô Phiền ngày đêm bị tòa án của lương tâm cắn rứt. Cuối cùng ông xin vào tu
trong một tu viện ở Sàigòn. Sau sáu năm tu luyện, Lazarô Phiền được thực sự trở
thành một tu sĩ, mọi người trong tu viện đều thầm khâm phục sự thánh thiện của
thầy, nhưng riêng thầy vì không bao giờ xưng thú hành động sát nhân của mình,
cho nên đêm ngày không bao giờ được sự bình an trong tâm hồn. Phải cho đến lúc
lâm bệnh nặng và ngày trước khi qua đời, thầy mới xin phép nhà Dòng cho về thăm
quê hương ở Bà Rịa, tìm đến vị linh mục chánh xứ để xưng tội. Chỉ sau khi cảm
nhận được ơn tha thứ của Chúa, thầy mới nhắm mắt lìa đời và ra đi trong bình
an.
8. Khuôn mặt
ngời sáng
Một vị ẩn sĩ nọ suy niệm và chay tịnh đến độ suốt
ngày không động đến thức ăn, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban
ngày, đó là dấu hiệu trời cao chấp nhận lễ hy sinh của ông.
Ngày nọ, vị ẩn sĩ quyết định leo lên núi cao. Ông muốn
vươn lên cao hơn trong sự khổ chế. Vừa lúc ông đang leo núi, thì một cô bé
trong làng chạy tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho
cô bé đi cùng. Họ ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi
lúc một chói chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn
cố gắng khắc phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô bé hãy uống nước. Vị
ẩn sĩ không uống nước vì lời thề của mình, còn cô gái không nỡ uống một mình.
Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Đến một lúc vị ẩn
sĩ không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Ông đành lỗi
lời thề. Ông cầm lấy nước đưa lên miệng và cô bé cũng mỉm cười uống nước với
ông.
Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời
cao nữa. Ông cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự
khổ chế của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, khi ông ngước mắt nhìn
lên đỉnh núi. Ngạc nhiên biết chừng nào, hai vì sao đang chiếu sáng như mỉm cười
với ông.
Sau khi đã chay tịnh nhiều ngày và chấp nhận vươn
lên cao trong sự khổ chế, vị ẩn sĩ đã được trời cao chứng giám bằng cách cho một
vì sao ngời sáng giữa ban ngày.
9. Gọi điện
thoại trong địa phương
Một người cao cấp trong ngành kinh tế Hoa-Kỳ sang
thăm Canađa và đã gọi một cú điện thoại viễn liên (long distance) từ nơi ông ở
Toronto sang tận Montreal. Sau khi nói chuyện xong, ông đã hỏi giá và được cho
biết là cú điện thoại viễn liên ấy tốn mười bốn đồng, năm mươi xu tiền Mỹ-kim.
Vị kinh tế gia ấy nổi sùng lên và nói: “Sao đắt quá vậy? Ở xứ tôi ở, tôi gọi đến
hỏa ngục hay gọi từ đó cũng chỉ mất có mười bốn đồng năm mươi xu!” Nhân viên tổng
đài điện thoại trả lời: “Đúng vậy thưa ông, nơi ông ở và chỗ ông gọi đó cùng
trong vùng mà thôi!”
Có những lúc trong cuộc sống, chúng ta cảm thấy Chúa
Toàn Năng là Đấng quá xa vời với chúng ta. Tuy nhiên, cũng có đôi lúc ta lại cảm
thấy Thiên Đàng lại rất gần với chúng ta. Bài Tin Mừng hôm nay mô tả lại một mối
cảm nghiệm chót đỉnh trong cuộc sống của Chúa Giêsu và ba vị Tông Đồ.
10. Hãy vâng
nghe lời Người – Jude Siciliano
Một người bạn đã kể với nhóm chúng tôi về một doanh
gia mà ông quen biết. Doanh gia này thường xuyên di chuyển bằng máy bay để tham
dự các buổi hội họp làm ăn. Ông nói: “Tôi là khách hàng quen thuộc của một hãng
máy bay, đến nỗi tôi nghĩ họ phải cho tôi một cổ phần của hãng.” Ông ta thuộc
lòng các đường bay. Trước khi lên máy bay, ông mua một tờ thời báo kinh tế, một
ly cà phê và rồi ở trên máy bay ông kéo hành lý của mình đến ghế dành riêng, cột
dây an toàn, uống cà phê và đọc tin tức. Gần đến nơi ông coi lại các ghi chép về
nội dung buổi họp sắp tới. Người nữ tiếp viên xuất hiện chỉ dẫn cách thức đề
phòng các sự cố bất ngờ. Ông ta làm ngơ không để ý tới, bởi đã quá quen thuộc
những thủ tục ấy. Ông lẩm bẩm với hành khách bên cạnh: “ Khổ lắm, biết rồi, nói
mãi.”
Ngoại trừ lần gần đây, máy bay đã tới sát phi trường,
nhưng lúng túng không đáp được. Giọng nói hồi hộp của phi công từ buồng lái vọng
ra: “Thưa quý hành khách, chúng ta đang gặp rắc rối, các bánh xe hạ cánh không
hoạt động. Chúng ta cần lượn quanh vài vòng để xả bớt nguyên liệu, tránh may
bay bốc cháy, khi đáp không bánh xe lăn.” Cô tiếp viên lại xuất hiện, cặn kẽ chỉ
dẫn an toàn cho hành khách lúc gặp nguy hiểm vì đáp khẩn cấp. Người ta phải ngồi
hướng về đằng trước, hai tay ôm đầu gối phía cẳng dưới. Ông thương gia kể tiếp:
“Lúc ấy tôi dương to cả hai tai nghe cho tỏ. Vị trí của các cửa thoát hiểm ở
đâu? Đèn báo đi ra cửa như thế nào? Dây nịt an toàn ra sao và ngồi đúng tư thế
đã chỉ định, không sót chi tiết nào. Tôi tái mặt chờ đợi điều khủng khiếp sắp xảy
ra. Rồi tôi lờ mờ nhìn thấy ánh sáng của các xe cứu hộ sẵn sàng hai bên đường
băng và tôi ý thức ra tầm quan trọng của lời cô tiếp viên chỉ dẫn. Nó nằm giữa
sự sống và cái chết. Tôi lâm râm cầu khẩn Chúa liên tục. May quá cuối cùng các
bánh xe hoạt động trở lại và chuyến đáp an toàn. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.
Đó là một kinh nghiệm để đời không thể quên.”… Quý vị có lẽ đã mường tượng ra sứ
điệp của câu truyện. Nó cho chúng ta hay tầm quan trọng của việc lắng nghe và
làm theo những chỉ dẫn của tiếng nói định mệnh trong lúc nguy hiểm. Những lời
hướng dẫn rất trọng yếu. Nó là sự sinh tử của một đời người. Nó ban cho người
ta ý nghĩa để sống hay chỉ là những giây phút qua đi vô hồn hời hợt, không có mục
tiêu nào cả và như thế là một kiểu chết chóc vậy.
11. Mầu nhiệm ấy
phải lôi cuốn ta
Vậy biến cố Đức Giêsu biến đổi hình dạng (17,1-9) là
để giúp các môn đệ thấy rõ hơn Ngài là ai theo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ta được
đặt đối diện với vực thẳm của mầu nhiệm Thiên Chúa nơi Đức Giêsu – mầu nhiệm ấy
phải đánh động ta, lôi cuốn ta, khiến ta say mê! Nhưng chìa khoá để mở cho ta
thấy mầu nhiệm lại do chính Đức Giêsu nắm giữ! Một câu chuyện nhỏ có thể giúp
ta nhận ra vấn đề vừa nêu.
Tác giả cuốn “Bảy Thói Quen của Những Người Thành Đạt”
(The Seven Habits of Highly Effective People. Fireside. New York 1989) là ông
Trần Cao Vọng (Stephen R. Covey).
Sáng Chúa Nhật hôm ấy, ông Vọng bước vào toa xe điện
ngầm ở Nữu Ước. Ông đặt mình vào bầu khí yên lặng, trong đó người thì đọc báo,
người trầm ngâm suy nghĩ, người trầm ngâm suy nghĩ, người lim dim ngủ. Thật là
một cảnh an bình.
Bỗng một người đàn ông và các con ông bước vào toa tầu.
Bọn trẻ ồn ào, khó bảo, làm cho không khí trong toa tầu thay đổi hẳn.
Ông Vọng kể lại: “Người đàn ông ngồi xuống cạnh tôi,
nhắm mắt, hình như không chú ý đến những gì đang xảy ra. Bọn trẻ la hét, ném đồ
vật, vồ cả mấy tờ báo của người khác. Chúng quấy phá quá sức, nhưng người đàn
ông ngồi cạnh tôi vẫn không làm gì.
Thật khó mà không nổi cáu. Tôi không thể tin rằng
ông ta vô tâm đến thế, để cho bọn trẻ chạy loạn lên mà không làm gì cả, choi
như không có trách nhiệm. Dễ nhìn thấy những người khác trong toa cũng đều nổi
giận. Sau cùng, không thể chịu đựng được nữa, tôi quay sang ông ta và nói:
“Thưa ông, bọn trẻ nhà ông quấy đảo quá, ông không bảo chúng được một câu hay
sao?”
Người đàn ông ngước mắt như lần đầu tiên biết được
tình hình này và nhẹ nhàng nói: “Vâng, thưa ông, ông nói phải. Tôi nghĩ rằng
tôi phải làm một cái gì. Vâng, chúng tôi vừa ở bệnh viện ra, mẹ các cháu vừa mất
cách đây khoảng một giờ. Tôi không biết nghĩ như thế nào. Tôi cho rằng chúng
cũng không biết xử trí ra sao.”
Ông Vọng nói tiếp: “Bỗng tôi nhìn sự vật một cách
khác và bởi vì tôi nhìn khác nên tôi cũng nghĩ khác, cảm thấy khác, hành động
khác. Cơn giận của tôi biến mất. Tôi không phải lo kiểm soát thái độ hay hành
vi của tôi; con tim tôi tràn đầy nỗi đau của người đàn ông ấy. Một thiện cảm và
lòng thương dâng lên trong tôi: “Vợ ông mới mất ư? Ồ, xin lỗi! Ông có thể cho
tôi biết chuyện được không? Tôi giúp gì được ông đây?” Mọi cái đã thay đổi
trong chốc lát.” (ibd., trang 30-31)
12. Chọn lựa
là từ bỏ
Nguyễn Công Trứ là một vị quan văn võ song toàn, quê
ở Hà Tĩnh. Từ thuở hàn vi, ông đã có chí lớn giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:
“Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.”
Năm 42 tuổi ông đỗ Giải Nguyên, và bắt đầu bước vào
quan trường, hoạt động trong nhiều lãnh vực, từ quân sự đến kinh tế, thi ca.
Bởi bao thành tích trổi vượt trong nhiều lãnh vực,
ông đã được thăng đến chức thượng thư, tổng đốc. Nhưng sự đời “vinh liền nhục”,
“khóc trước cười”, năm 63 tuổi ông bị kết án trảm quyết rồi lại được tha, năm
65 tuổi bị cách làm lính thú… rồi mất ở nhà quê năm 80 tuổi.
Chua chát cuộc đời vẫn không làm ông mất đi cái khí
phách quân tử, trong bài thơ gẫm cuộc đời thăng trầm: “Ngồi buồn mà trách ông
xanh: Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người, làm
cây thông đứng giữa trời mà reo.” (Vịnh cây thông)
13. Tự nhiên
phải nhường chỗ cho siêu nhiên,
Sáng ngày 02.3.2011, ông Shahbaz Bhatti, bộ trưởng
Công giáo duy nhất của Pakistan về người thiểu số đã bị một nhóm vũ trang sát hại.
Tất cả đeo mặt nạ, chặn xe ông Shahbaz Bhatti lại, lôi ông ra khỏi xe và bắn thẳng
vào người ông, rồi trốn chạy bằng một chiếc xe. Những kẻ giết người để lại hiện
trường một bức thư ngắn, nội dung là nhóm TTP (Tehrik-e-Taliban Pakistan) nhận
trách nhiệm về vụ ám sát ông, vì ông đã lên tiếng chống lại luật phỉ báng.
Shahbaz Bhatti đã đứng ra bảo vệ Asia Bibi, một Kitô
hữu chịu những cáo buộc sai trái và bị kết án tử hình vì tội phỉ báng. Khi bảo
vệ Asia Bibi, ông đã trở nên mục tiêu hàng đầu của những kẻ cực đoan.
Trước đó ông đã nhận được những lời đe dọa. Một người
bạn của ông, Robinson Asghar, đã khuyên ông rời khỏi Pakistan một thời gian do
bị đe dọa, nhưng ông đã từ chối.
ĐHY Jean Louis Tauran đã thú nhận trên Radio
Vatican: “Tôi đã cảm động sâu xa khi đọc di chúc thiêng liêng mà – theo tôi –
ngang tầm một bản văn của một trong những giáo phụ,” và gọi ông là một “vị tử đạo
thực sự.”
ĐHY đọc di chúc của ông: “Tôi không còn sợ hãi nào nữa,
tôi hiến dâng mạng sống tôi cho Chúa Giêsu. Tôi không tìm kiếm danh tiếng, tôi
không muốn những vị trí quyền lực. Tôi chỉ muốn một chỗ ở chân Chúa Giêsu.” và
kết luận:
Shahbaz Bhatti đã “không bao giờ có một lời hận thù.
Ông đã đồng hóa Tin Mừng cách tuyệt vời. Chúng ta hết thảy đều bé nhỏ khi đối
diện với một mẫu gương cao cả này. Một con người 42 tuổi – rất trẻ – đã sống
như một hiến tế.”
14. Gặp gỡ Đức
Kitô, biến đổi cuộc đời mình
Một vị truyền
giáo kể lại: Phải qua nhiều thủ tục tôi mới được phép vào thăm một tử tù. Khi đến
phòng giam, tôi thấy anh đang quì, hai tay ghì chặt cây Thánh Giá mà khóc. Tôi
yên lặng ngồi cạnh anh như muốn nói lên sự đồng cảm. Khi nỗi xúc động lắng xuống,
người tử tù nói:
- Thưa Cha, con khóc không phải vì sợ chết, nhưng vì
40 năm qua, con đã bỏ Chúa để chạy theo những đam mê và đám bạn bè. Hôm nay sợ
liên lụy, chúng làm như không hề biết con. Gia đình cũng không muốn nhìn mặt,
vì phải nhục nhã và xấu hổ do những tội ác con đã làm. Giờ đây con rất hối hận
và chỉ biết hoàn toàn trông cậy vào Đấng đã chết trên thập giá để tẩy xóa tội
con.
Kể đến đây, vị linh mục ấy nói:
- Tôi tin rằng ơn Chúa đã biến đổi tâm hồn người tử
tội và anh sẽ được hưởng lòng thương xót của Chúa như người trộm lành năm xưa.
Chúng ta không có khả năng biến đổi dung nhan và y
phục như Đức Giêsu, nhưng nhờ Người và ơn Chúa Thánh Thần, cùng với quyết tâm đổi
mới, chúng ta sẽ nên hoàn thiện mỗi ngày đang khi trông đợi trời mới, đất mới
xuất hiện.
15. Ánh sáng tỏa
lan
Trong tác phẩm “Một điều tốt đẹp cho Chúa”
(Something beautiful for God), ông Malcolm Muggeridge đã viết về Mẹ Têrêxa: “Được
sống một vài ngày với Mẹ, tôi vô cùng cảm kích trước sự vui tươi của các nữ tu,
họ làm những công việc mà người ngoài cuộc cho là khổ sở và khó khăn không thể
làm được.”
Mẹ Têrêxa có thể làm ‘một điều tốt đẹp cho Chúa’ vì
Chúa đã chiếu giãi ánh sáng của đức tin vào cuộc sống Mẹ. Ánh sáng đó lôi kéo Mẹ
đến một sự thay đổi triệt để trong cuộc sống, trong cái nhìn, trong cách đánh
giá, theo sự khôn ngoan của thập giá Đức Kitô.
Ánh sáng đó thay thế bóng tối đời này bằng niềm vui
đến từ sự khôn ngoan Nước Trời, vì "những đau khổ hiện thời chẳng thấm vào
đâu so với vinh quang sắp tới sẽ được giãi bày cho chúng ta" (Rm 8,18).
Mẹ Têrêxa giải thích: “Đó là tinh thần hội dòng
chúng tôi, hoàn toàn phó thác, cậy trông và vui tươi. Chúng tôi phải giãi toả
niềm vui Đức Kitô qua việc làm của chúng tôi. Nếu việc chúng tôi làm chỉ là những
hoạt động hữu ích mà không đem lại niềm vui cho tha nhân thì những người nghèo
khổ của chúng tôi sẽ chẳng bao giờ đáp ứng lời mời mà chúng tôi muốn họ nghe
theo, lời mời hãy đến cùng Thiên Chúa.”
Điểm mấu chốt là ở đó! Thiên Chúa là hạnh phúc thật
của tôi. Nếu tôi để đức tin biến đổi cuộc đời, đức tin sẽ đưa tôi đến gần Thiên
Chúa. Khi đó dù ở đâu, hạnh phúc cũng ở bên tôi, và tôi sẽ thốt lên: “chúng con
ở đây, thật là hay.”
16. Hòang tử
lưng gù
Có một hòang tử vừa đẹp trai vừa văn võ song tòan.
Nhất là có thái độ khiêm tốn hòa nhã với mọi người, nên rất được lòng vua cha
và bá quan trong triều. Hòang tử chỉ có một khuyết điểm duy nhất là cái lưng bị
gù từ lúc mới sinh. Chính vì mang dị tật ấy mà chàng có mặc cảm tự ti không bao
giờ dám xuất hiện trước công chúng. Triều đình có cái lệ này là tạc tượng các
nhân vật trong hòang tộc khi họ được 20 tuổi. Bức tượng ấy sẽ được trưng bầy tại
viện bảo tàng quốc gia cho thần dân đến chiêm ngưỡng.
Năm đó, hòang tử của chúng ta cũng tròn 20 tuổi. Dù
không muốn người ta tạc tượng cho mình, nhưng chàng không dám trái lệnh vua
cha. Có một điều là chàng xin vua cha hai điều và được chấp thuận: một là bức
tượng của chàng phải được tạc ở thế đứng thẳng người chứ không bị gù lưng. Hai
là bao lâu chàng còn sống thì không được trưng bầy bức tượng ấy, mà chỉ được đặt
trong phòng riêng của chàng.
Từ khi có bức tượng, mỗi ngày hòang tử đều đến gần
ngắm nhìn ảnh mình. Chàng rất thích dáng vẻ hiên ngang của bức tượng, và cố bắt
chước thế đứng thẳng người của bức tượng. Và sau một thời gian, mọi người trong
hòang cung đều vui mừng nhận thấy hòang tử không còn gù lưng nữa, trái lại,
chàng luôn có dáng vẻ hiên ngang oai vệ xứng đáng như một hòang tử. Cũng từ đó,
chàng đồng ý cho trưng bầy bức tượng của mình tại viện bảo tàng quốc gia cho thần
dân chiêm ngưỡng.
17. Chiếc giầy
của Gandhi
Xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Gandhi nhảy vội lên tàu.
Một chiếc giày của ông rơi xuống. Gandhi không thể nào nhảy xuống để nhặt nó
trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Trước sự sững sờ của mọi người, Gandhi
đã tháo luôn chiếc giày còn lại và ném về phía chiếc giày kia.
Hành khách trên tàu lấy làm lạ về hành động kỳ quặc
của ông. Gandhi mỉm cười và giải thích: “Nếu có một người nghèo nào lượm được
chiếc thứ nhất, họ có thể tìm thấy chiếc thứ hai và sẽ xài được đôi giày của
tôi."
Ông Gandhi đã tỏ ra mình là người sống yêu thương.
Tình yêu thương của ông tỏ hiện ra mọi nơi, mọi chốn. Tình yêu của ông không cầu
kỳ nhưng đơn giản. Tình yêu của ông còn tỏ ra lòng bao dung qua việc ông kêu gọi
Nước Ấn đấu tranh bất bạo động để giành chiến thắng.
Gandhi đã làm được điều đó bởi ông đã học được từ
Kinh Thánh. Dù rằng ông không theo đạo nhưng ông đã sống Lời Chúa. Ông vẫn coi
lời Chúa chính là kim chỉ nam cho đời sống của mình. Từ lời Chúa đã giúp ông học
rất nhiều bài học bổ ích cho cuộc sống, và nhờ đó mà ông đã sống tình yêu thật
đơn sơ, chân thành.
Người kitô hữu tức là một kitô khác. Người kitô hữu
phải biết tỏ mình ra dấu chỉ người môn đệ qua hành vi yêu thương. Không có yêu
thương thì không phải là môn đệ của Chúa. Vì bản chất của Chúa là tình yêu thì
người môn đệ của Chúa cũng phải biết sống yêu thương.
18. Gương hiếu
thảo
Trong cuốn sách tựa đề "Gương Hiếu Thảo",
tác giả Phan Như Huyên có thuật lại gương chí hiếu của Công Chúa An Thường như
sau: An Thường là con gái thứ tư của vua Minh Mạng. Nàng rất thông minh và thảo
hiếu.
Năm lên 9 tuổi, mẹ của công chúa bị bịnh. Lúc đó vào
dịp lễ Vạn Thọ, các hoàng tử công chúa đều được triệu vào cung để chúc tuổi vua
cha. Nhà vua cho các hoàng tử được ăn thịt dê. An Thường chỉ ngậm thịt trong miệng
chứ không nuốt.
Vua thấy lạ mới hỏi nguyên do, cô trả lời: "Con
nghe nói thịt dê bổ lắm, nên con ngậm về cho mẹ đang bị bịnh ăn cho mau khỏe."
Nghe vậy, vua cảm động quá, mới truyền đem khay lấy thêm thịt để An Thường đưa
về cho Mẹ. Đến khi Vua Minh Mạng chết, nàng để tang ba năm, sống bên lăng cha
cho trọn đạo hiếu.
19. Đường về đỉnh
vinh quang
Đây là một câu chuyện xưa có tên “Người kế vị”, nội
dung như thế này: Ở ngôi chùa kia có vị cao tăng với nhiều đồ đệ đông đến hàng
trăm người. Cũng như mọi người bình thường, vị cao tăng biết rõ ràng quy luật
“sinh, tử” của Tạo Hóa là không có ngoại lệ. Nay tuổi cao, sức yếu, vị cao tăng
muốn tìm một người kế vị mình. Ngặt nỗi, người kế vị chỉ có một, còn đồ đệ thì
rất nhiều. Vị cao tăng nghĩ là một kế và tiến hành lựa chọn người kế vị.
Cứ khoảng vài ba ngày, vị cao tăng tự đem giấu một
món đồ vật và phàn nàn với đồ đệ rằng nơi đây có trộm cắp.
Ít lâu sau, vị cao tăng bỗng la lên: Trộm! Trộm! Có
kẻ trộm!
Nghe tiếng thầy kêu, dù đang ngon giấc, các đồ đệ đều
bật dậy, vội chạy tới. A là một đồ đệ rất siêng năng, nhanh nhẹn, tháo vát,
luôn quí trọng thầy, thương yêu sẵn sàng giúp đỡ bạn, có uy tín vào bậc nhất
trong các đồ đệ của vị cao tăng. A chạy đến trước tiên, hy vọng sẽ giúp thầy
tìm bắt kẻ trộm, bảo vệ tài sản.
Thấy A, vị cao tăng vội túm lấy áo của A và nói lớn:
Bắt được kẻ trộm rồi.
Trước đông đảo các môn đệ, vị cao tăng tuyên bố:
A là kẻ trộm vừa bắt được và đuổi A đi.
Bị thầy đuổi, không một lời thanh minh, không một lời
oán thán, A nhẫn nhục ra đi.
Ba ngày sau, A trở lại Chùa, quỳ trước vị cao tăng
và nói: “Thưa thầy, con ngộ (giác ngộ - nhận thức) được rồi."
Vị cao tăng đỡ A dậy, trong lòng cảm thấy rất vui vì
đã lựa chọn được người kế vị xứng đáng đúng như lòng muốn.
20. Chia sẻ nỗi
đau
Tác giả cuốn "Bảy Thói Quen của Những Người
Thành Đạt" (The Seven Habits of Highly Effective People. Fireside. New
York 1989) là ông Trần Cao Vọng (Stephen R. Covey).
Sáng Chúa Nhật hôm ấy, ông Vọng bước vào toa xe điện
ngầm ở Nữu Ước. Ông đặt mình vào bầu khí yên lặng, trong đó người thì đọc báo,
người trầm ngâm suy nghĩ, người trầm ngâm suy nghĩ, người lim dim ngủ. Thật là
một cảnh an bình.
Bỗng một người đàn ông và các con ông bước vào toa tầu.
Bọn trẻ ồn ào, khó bảo, làm cho không khí trong toa tầu thay đổi hẳn.
Ông Vọng kể lại: "Người đàn ông ngồi xuống cạnh
tôi, nhắm mắt, hình như không chú ý đến những gì đang xảy ra. Bọn trẻ la hét,
ném đồ vật, vồ cả mấy tờ báo của người khác. Chúng quấy phá quá sức, nhưng người
đàn ông ngồi cạnh tôi vẫn không làm gì.
Thật khó mà không nổi cáu. Tôi không thể tin rằng
ông ta vô tâm đến thế, để cho bọn trẻ chạy loạn lên mà không làm gì cả, choi
như không có trách nhiệm. Dễ nhìn thấy những người khác trong toa cũng đều nổi
giận. Sau cùng, không thể chịu đựng được nữa, tôi quay sang ông ta và nói:
"Thưa ông, bọn trẻ nhà ông quấy đảo quá, ông không bảo chúng được một câu
hay sao?"
Người đàn ông ngước mắt như lần đầu tiên biết được
tình hình này và nhẹ nhàng nói: "Vâng, thưa ông, ông nói phải. Tôi nghĩ rằng
tôi phải làm một cái gì. Vâng, chúng tôi vừa ở bệnh viện ra, mẹ các cháu vừa mất
cách đây khoảng một giờ. Tôi không biết nghĩ như thế nào. Tôi cho rằng chúng
cũng không biết xử trí ra sao."
Ông Vọng nói tiếp: "Bỗng tôi nhìn sự vật một
cách khác và bởi vì tôi nhìn khác nên tôi cũng nghĩ khác, cảm thấy khác, hành động
khác. Cơn giận của tôi biến mất. Tôi không phải lo kiểm soát thái độ hay hành
vi của tôi; con tim tôi tràn đầy nỗi đau của người đàn ông ấy. Một thiện cảm và
lòng thương dâng lên trong tôi: "Vợ ông mới mất ư? Ồ, xin lỗi! Ông có thể
cho tôi biết chuyện được không? Tôi giúp gì được ông đây?" Mọi cái đã thay
đổi trong chốc lát." (ibd., trang 30-31)
21. Mầu nhiệm
nhập thể
Họa sĩ người Ý, Raphael (1483 – 1520), khi chết mới
37 tuổi, nhưng đã để lại một số lượng tác phẩm tuyệt vời cho hậu thế. Một trong
những tác phẩm danh tiếng của ông có tên là “Cuộc Biến Hình”,
“Transfiguration." Trong tang lễ, bức tranh này đã được đặt trên đầu quan
tài của ông. Bức tranh vẽ có hai phần. Phần trên, diễn tả cảnh Chúa Giêsu biến
hình trong sự sáng láng và vinh quang của Ngài, mặt Ngài chiếu sáng, áo Ngài trắng
như tuyết. Bản tính Thiên Chúa ngời sáng qua nhân tính của Ngài. Ở bên phải là
Môsê, đại diện cho luật cũ, và bên trái là tiên tri Elia, đại diện cho các tiên
tri của Cựu ước. Ở dưới chân của Chúa Giêsu là ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và
Gioan trong sự sửng sốt và kinh ngạc khi thấy vinh quang thiên quốc của Ngài.
Trái lại, phần dưới của bức tranh tối tăm u buồn.
Trong cái u tối đó có một bé trai bị bệnh, đang đau đớn quằn quại trên chiếc
giường nhỏ, gia đình qui tụ xung quanh, cùng với chín tông đồ còn lại. Một tông
đồ đang chỉ tay vào em bé bị bệnh, và một tông đồ khác chỉ tay hướng về Chúa
Giêsu đang trên đường đi xuống núi. Các tông đồ không thể chữa được cơn bệnh ngặt
nghèo của em bé, chỉ có Chúa Giêsu mới có thể chữa được. Em bé trai phải hướng
về Chúa Giêsu và tin tưởng vào Ngài.
22. “Con có ổn
không”
Có một câu chuyện cổ kể về một người cha. Vào một
đêm tối giông bão đầy những tiếng sấm sét và tia chớp không ngớt, ông thức giấc
và nghĩ về đứa con trai nhỏ của mình đang ở một mình trong phòng ngủ trên gác.
Lúc này chắc hẳn nó rất sợ sệt. Vì vậy, ông vội vàng đi vội lên lầu với chiếc
đèn pin của mình để coi xem cậu bé có ổn không. Ông đang pha đèn chung quanh
phòng thì cậu bé thức giấc và bật lên một giọng nói giật mình: “Ai đó? Ai đang ở
trong phòng của tôi đó?” Suy nghĩ đầu tiên của người cha là chiếu đèn vào mặt cậu
bé, nhưng sau đó ông nghĩ: “Không. Nếu làm điều đó, tôi sẽ khiến nó sợ hãi
thêm." Vì vậy, ông đã bật đèn chiếu sáng vào chính khuôn mặt của mình. Và
cậu bé nói, “Ồ, chính là bố,” Người cha nói, “Phải rồi, bố đây. Bố vừa lên đây
để kiểm tra mọi thứ xem sao. Mọi thứ đều ổn, vậy con hãy ngủ tiếp đi.” Và cậu
bé tiếp tục ngủ lại.
Đó có lẽ là tất
cả ý nghĩa về mầu nhiệm Hiển Dung: Thiên Chúa chiếu ánh sáng vào khuôn mặt của
chính Ngài để bạn và tôi có thể nhận biết sự vật ở trần gian này. Thánh vịnh
36,10: “Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng."
23. Biến đổi
Một người bán gỗ cho xưởng mộc. Anh thường thủ lợi bằng
cách đo gỗ thiếu. Ngày kia, có tin đồn đến xưởng là anh ta nhập đạo. Nghe thấy
thế, mọi người bán tín bán nghi rồi bàn thảo mỗi người mỗi ý. Có một người lặng
lẽ ra kho gỗ, một lúc sau trở vào dõng dạc tuyên bố:
- Đúng, anh ta nhập đạo thật.
- Sao anh biết?
- Tôi vừa xem lại số gỗ anh ta chở tới hôm qua. Tôi
thấy là đúng với qui cách ta đặt, không thiếu nữa.
Người nào tiếp
nhận đức Kitô cũng phải thay đổi cuộc đời và sống ngay chính.
Cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa, xin cho con được nếm những giây phút
ngất ngây như Chúa Giêsu trên núi Tabor. Trong những lúc đó xin cho con biết
làm như Chúa Giêsu xưa: con sẽ hướng về Chúa để cầu nguyện, và con sẽ được nghe
lời Chúa nói "Con là con yêu dấu của Cha."
Lạy Thiên Chúa, khi con gặp những lúc suy sụp, xin
cũng cho con biết làm như Chúa Giêsu xưa: con cũng hướng về Chúa để cầu nguyện.
Và khi đó con cũng được bàn tay Chúa an ủi, nâng đỡ và xoa dịu con. Amen
Lễ
Chúa biến hình (năm B)
Lời Chúa
TRUYỆN KỂ
1. truyện
Lễ
Chúa biến hình ( năm C)
Lời Chúa: Lc 9, 28b-36
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên
núi cầu nguyện. Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và
áo Người trở nên trắng tinh sáng láng. Bỗng có hai vị đàm đạo với Người, đó là
Môsê và Êlia, hiện đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại
Giêrusalem. Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang của
Chúa và hai vị đang đứng với Người.
Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu
rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; chúng con xin làm ba lều,
một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia.” Khi nói thế, Phêrô không rõ mình
nói gì. Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các Ngài và thấy các ngài
biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng. Bấy giờ từ đám mây có tiếng
phán rằng: "Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người.” Và khi
tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu.
Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với
ai những điều mình đã chứng kiến.
TRUYỆN KỂ
1. Biến hình
và đổi đời
Michel Ange và Raphael là hai kiến trúc sư thiên
tài, còn là họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất thế giới, đã được Đức Giáo
Hoàng Juliô II trao cho nhiệm vụ thiết kế xây cất và trang trí Đại Thánh đường
Thánh Phêrô và địện Vatican ở Rôma.
Suy về đề tài Chúa Biến Hình, Raphael đã thực hiện một
bức họa có 3 cấp: Cấp trên là Đức Giêsu đứng giữa cụm mây sáng láng, cấp giữa
là Thánh Phêrô, Gioan và Giacôbê, cấp cuối là nhóm các môn đệ và dân chúng vây
quanh một thiếu nhi bệnh họan đang nằm chờ chết bên cạnh có 2 môn đệ: một môn đệ
đang chỉ tay lên Đức Giêsu, môn đệ kia đang chỉ tay vào bệnh nhân” (ĐGM. Althur
Tone).
Bức họa đã lột được hết ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm
nay là chỉ có Đức Giêsu mới biến đổi những kẻ bệnh hoạn nên lành thánh. Tin Mừng
hôm nay đã giới thiệu Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, đang lúc Người cầu nguyện
dung nhan Người bỗng biến đổi sáng láng, chói lòa trong vinh quang. Người cầu
nguyện để biến đổi ý mình trọn vẹn theo Thánh ý Chúa Cha, Người cầu nguyện cho
cuộc tử nạn của Người sẽ phải hoàn tất tốt đẹp tại Giêrusalem và biến cuộc sống
ta nên vinh hiển. Người cầu nguyện cho ánh sáng tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con
và Chúa Thánh thần soi sáng cho khắp nhân loại, từ Adam Eva đến Abraham,
Maisen, Êlia, từ Phêrô, Gioan, Giacôbê đến những người đang đứng chờ dưới chân
núi được sống lại trong vinh quang nước Chúa. Người cầu nguyện nhất là cho các
môn đệ và chúng ta biến thành đồng dạng với Con Chúa Cha và biết vâng lời Người:
“Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người.”
2. Một thoáng
vinh quang
Trên núi Tabor, ánh vinh quang của Thiên Chúa đã tỏa
chiếu từ thân xác Chúa Giêsu, và Ngài được biến hình. Các môn đệ đã ngây ngất
trước vẻ đẹp và sự sáng ngời ấy. Đó không phải chỉ là vẻ bề ngoài, mà là vinh
quang thật từ bên trong thoáng tỏ lộ ra. Nói tắt một lời: Đó là chính Thiên
Chúa ở trong Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng có vinh quang thần linh ở trong chúng
ta, bởi vì chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta
cũng có những thoáng biến hình. Van Gogh nói: "Một người tiều phu hay một
người thợ mỏ nghèo nhất cũng có thể có những thoáng cảm hứng khiến anh ta cảm
thấy gần như đang ở thiên đàng.”
Một người nghèo sống trong khu nhà dành cho những kẻ
vô gia cư đã kể câu chuyện sau đây. Một hôm ông đi dạo trên phố và tình cờ vào
một ngôi nhà thờ lúc nào không hay. Ông không nhớ là lúc đó ông có cầu nguyện
không, nhưng ông nhớ là cảm thấy tâm hồn mình chìm ngập trong ánh sáng. Mọi buồn
chán đều tan biến hết, chỉ có bình an. Ông cảm thấy mình rất gần Chúa và được
Chúa yêu thương. Cảm nghiệm này rất sâu đậm mặc dù chỉ thoáng qua trong phút chốc.
Ông nói rằng ông sẵn sàng đánh đổi cả đời để có được một thoáng cảm nghiệm ấy.
Khi ông rời nhà thờ, cảm nghiệm ấy tan loãng dần. Về sau, ông trở lại nhà thờ
nhiều lần để mong có lại cảm nghiệm tuyệt vời ấy, nhưng không được.
Điều sai lầm của người vô gia cư trên là muốn bám cứng
vào một cảm nghiệm thoáng qua. Nói cách khác, ông muốn đi lùi chứ không đi tới.
Nói rõ hơn nữa: lẽ ra ông phải biết dùng cái cảm nghiệm thoáng qua ấy để soi
sáng cuộc đời tăm tối của mình, và nhờ đó mà can đảm tiến bước trong hy vọng.
Phêrô cũng sai lầm như thế. Ông muốn ở lại mãi trên
núi.
3. Người vẫn đồng
hành
Truyện ngụ ngôn kể về một nhà thiên văn có thói quen
mỗi buổi tối lại nhìn lên các ngôi sao, nghiên cứu các vì tinh tú đang xoay vần,
chuyển đổi trong vũ trụ bao la.
Một lần kia, đang đi dạo mát quanh vùng, mải mê suy
nghĩ những chuyện trên trời, ông ta vô ý ngã xuống giếng cạn. Tiếng kêu cứu thất
thanh, khiến một người đi ngang qua đó nghe được. Ông vội vàng chạy đến miệng
giếng, liền đoán được việc gì đã xay ra, bèn nói với nhà thiên văn: "Này
ông, ông cứ muốn biết những việc xảy ra trên trời, còn những việc sờ sờ dưới đất
sao ông không thấy?"
4. Biến đổi
Một người bán gỗ cho xưởng mộc. Anh thường thủ lợi bằng
cách đo gỗ thiếu. Ngày kia, có tin đồn đến xưởng là anh ta nhập đạo. Nghe thấy
thế, mọi người bán tín bán nghi rồi bàn thảo mỗi người mỗi ý. Có một người lặng
lẽ ra kho gỗ, một lúc sau trở vào dõng dạc tuyên bố:
- Đúng, anh ta nhập đạo thật.
- Sao anh biết?
- Tôi vừa xem lại số gỗ anh ta chở tới hôm qua. Tôi
thấy là đúng với qui cách ta đặt, không thiếu nữa.
Người nào tiếp nhận đức Kitô cũng phải thay đổi cuộc
đời và sống ngay chính.
5. Văn hào
André Froissard.
Văn hào André Froissard thuộc Hàn lâm viện Pháp đã
được ơn “trở lại” lạ thường. Ôâng đã thuật lại trong cuốn sách thời danh “Có
Thiên Chúa và tôi đã gặp Ngài.” Thân phụ ông, Tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp,
đã từng tuyên bố: “Nếu có Thiên Chúa, thì tôi khuyên “ông ấy” lo rút lui vì
không ai thích ông.” Nhưng chính con ông lại được gặp gỡ Chúa và khẳng định:
“Khi người ta may mắn được gặp Thiên Chúa thì mọi sự khác chỉ là trò hề. Chỉ có
Thiên Chúa là Đấng không làm cho tôi thất vọng kể từ một buổi sáng năm ấy,
1935” (Phỏng vấn của Paris Match 8.4.1988)
6. Con sâu
thành con bướm.
Có một con sâu nhỏ bò mãi, cho đến thời điểm cuối của
cuộc đời thì tới thiên đàng. Nó gõ cửa, một giọng nói phát ra từ bên trong:
- Không có sâu bọ nào được phép vào đây. Ta thấy
ngươi quá vội vã đấy.
- Lạy Chúa, xin dạy cho con biết phải làm gì bây giờ?
- Chịu đựng hơn một chút nữa, chiến đấu một chút nữa,
và hãy biến thành bướm đi.
Thế là con sâu quay lại trần gian bắt đầu lại cuộc
hành trình bò lên thiên đàng. Nó bò nhanh hơn, cố gắng nhiều hơn. Mồ hôi vã ra
như tắm. Mồ hôi càng đổ ra, sức lực nó càng tiêu hao, nó càng cảm thấy nhẹ
nhàng để bò nhanh hơn. Gần tới cửa thiên đàng rồi nhưng nhìn lại nó vẫn là con
sâu xấu xí, khốn khổ. Nhưng nó vội xua nỗi buồn bằng sự cố gắng chính mình, nó
rướn người lên và cảm thấy tàn hơi, kiệt sức. Chính lúc nó cúi đầu tuyệt vọng lại
là lúc nó chợt cảm thấy thân hình nó nhẹ nhàng lạ thường. Nó đã hóa thành chú
bướm xinh xắn bay vào khung cửa thiên đàng đang rộng mở. Nó đã biến hình trọn vẹn.
Con sâu biểu tượng mỗi con người chúng ta trong cuộc
lữ hành đức tin đời mình. Chúng ta khao khát bò lên cao trên đường thánh đức với
bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Vì phải chiến đấu chống lại những chước cám dỗ nội
tâm để đáp trả tiếng nói của chân lý, hay phải đối diện với những cám dỗ thế
gian đang phơi bầy trước mắt, khiến chúng ta thường có tư tưởng buông xuôi.
7. Hãy tự giúp
mình trước.
Người ta kể rằng: một bác tiều phu kia đi lấy được một
xe bò củi chất đầy. Nhưng khi đi tới một khúc đường sình lầy thì đôi bò dừng lại.
Xe bò sụn lún xuống bùn. Bác ta ngồi khóc than. Khóc một hồi, bác ta nhớ ra có
một vị thần và bắt đầu van xin. Vị thần hiện ra phán bảo: “Thay vì ngồi khóc
thì ngươi hãy ghé vai vào xe thử đẩy đi và ta sẽ giúp.” Bác tiều phu làm theo lời
vị thần, cố gắng mọi cách, cuối cùng chiếc xe bò đã vượt qua khúc đường sình lầy.
Đó là ngụ ngôn dạy chúng ta phải cộng tác với một sức
mạnh hơn để làm việc, để giải quyết mọi việc. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng
ta còn biết nhờ vả vào những người khỏe mạnh hơn, thì tại sao chúng ta lại
không cậy nhờ Chúa, là Đấng toàn năng và hay cứu giúp. Ngài sẽ giúp chúng ta vượt
thắng đau khổ nếu chúng ta tin tưởng, cậy trông và kêu xin Ngài.
8. Bốc cát cọ
mình.
Người ta thuật lại rằng cả một khu đất kia chỉ có một
gia quyến người da đen ở. Gia quyến đó gồm có một bà vợ, một người chồng và một
đứa con trai 9 tuổi, Cậu bé đi học, nhưng giữa bọn trẻ da trắng, riêng mình đen
thủi đen thui, nên lắm phen bị chê cười, chế nhạo. Cậu luôn bị chọc ghẹo nên
khó chịu, giống như một tấm lòng non nớt bị một vết thương sâu. Sau cùng, cậu tự
hỏi mình có thể thay đổi nước da chăng, rồi nhất định làm theo ý nghĩ đó.
Bữa nọ, thầy giáo thấy cậu vắng mặt, bèn hỏi đám học
sinh về cậu. Một trò thưa rằng thấy cậu đi đàng sau trường, giữa khu rừng nhỏ
có rạch chảy qua. Thầy giáo ra công tìm kiếm và thấy cậu ở sát bờ rạch, đang
dùng cát ướt kỳ cọ hai cánh tay đen. Thỉnh thoảng cậu dừng tay, rửa cát dính
vào da, rồi nhìn xem màu da đen mất chưa. Chao ôi! Mầu đen quá sậm cậu mất công
toi.
Vài phút sau thầy giáo gọi cậu:
- Này em làm gì vậy?
Cậu giật mình thưa:
- Con cố sức kỳ cọ hết màu da đen để nên người da trắng,
song không sao được. (Ms Lê văn Thái, Những tia sáng, tập 2, tr 94-95)
Khi gợi lên cho ta thấy Đức Giêsu với “gương mặt biến
đổi” nhờ sự cầu nguyện, Luca có ý khích lệ chúng ta. Trong cuộc sống đầy thử
thách và thất bại, đầy đau khổ và tội lỗi, chỉ có cầu nguyện, vào những lúc nào
đó, mới có thể biến đổi chúng ta.
9. Hy vọng cứu
sống
Một đoàn các nhà khoa học thám hiểm vùng sa mạc
Sahara (châu Phi), đang khi giữa cuộc nghiên cứu thi đoàn bị mất liên lạc và mất
cả phương hướng để ra khỏi hoang mạc. Họ phải chịu đựng cái nắng thiêu đốt vào
ban ngày, và giá lạnh khắc nghiệt khi đêm về. Lương thực đoàn mang theo đã cạn
dần, thể xác họ cạn kiệt sức lực, lại giữa chốn hoang vu nên tinh thần cùng ý
chí cũng dần dần suy sụp.
Sự tuyệt vọng bắt đầu xâm chiếm mọi người, muốn tìm
một khe suối, một bóng mát, thế nhưng chung quanh họ chỉ toàn cát với cát, nắng
với nắng vào ban ngày và cái lạnh thấu xương vào ban đêm. Họ thất vọng và không
muốn cất bước nữa và buông xuôi cho định mệnh đen đủi. Mọi người nghĩ rằng: “Có
lẽ chúng ta sẽ chết giữa sa mạc hoang vu này thôi.”
Bỗng người trưởng đoàn cất tiếng: “Anh em ơi, có
bóng cây từ xa xa.” Nghe được câu nói đó, như được tiếp thêm sức mạnh, mọi người
hối hả cất bước tiếp, dù chính họ không thấy gì, chỉ tin tưởng vào lời anh trưởng
đoàn. Trong mỏi mệt, họ cố gắng thêm những bước đi trong hy vọng trước mặt họ sẽ
là một ốc đảo với những bóng cây mát, dù quá mệt mỏi họ vẫn tiến bước, tiến bước...
Cuối cùng, nhờ những bước đi hy vọng đó, họ tìm được
ốc đảo giữa sa mạc... Được nghỉ ngơi dưỡng sức và đội cứu hộ đã tìm thấy họ
trong sự kinh ngạc, vì sức chịu đựng phi thường của đoàn thám hiểm. Vì mọi người
cứ tưởng sẽ không thể tìm được họ trong sự sống...
Cuộc đời của chúng ta được ẩn dụ như một cuộc lữ
hành, cuộc thám hiểm và đôi lúc chúng ta bị lạc lối giữa sa mạc hoang vu của cuộc
đời như các nhà thám hiểm mất hướng trên hoang mạc Sahara. Chúng ta cũng cần cố
bước đi hy vọng và nghỉ ngơi bên suối hồng ân.
10. Ông có phải
là Chúa Giêsu không?
Một nhóm doanh nhân đi dự một buổi họp ở Chicago. Họ
đã dặn vợ con ở nhà là sẽ trở về nhà để kịp bữa tối. Nhưng rồi cứ hết việc này
lại giây sang việc kia khiến cho cuộc họp kéo dài hơn dự định. Sau khi kết thúc
họ đã vội vàng chạy ra phi trường cho kịp chuyến bay. Khi họ hấp tấp chạy tới cổng
phi trường thì không may một người trong họ đụng vào một chiếc bàn có để một rổ
táo của một cô bé đang đứng bán. Tất cả đã không dừng lại, cứ cúi đầu chạy thẳng
để kịp chuyến bay. Khi đến nơi họ thở phào nhẹ nhõm. Nhưng rồi một người trong
nhóm đã ý thức được mình phải làm gì để cảm thông với cô bé bán táo kia. Anh đã
giơ tay ra chào các bạn và quay trở lại. Anh thấy vui vì đã làm như thế. Anh nhận
ra cô bé bán táo là một cô gái mù. Anh đã thu lượm các trái táo đổ lăn trên
trên lối đi. Anh nhận ra có một số trái táo đã bị dập bể. Anh liền móc túi lấy
bóp ra và nói với cô bé bán táo mù đó rằng: “Đây xin cô cầm lấy 10 dollars để đền
bù cho thiệt hại chúng tôi đã gây ra. Tôi hy vọng cô không buồn.”
Khi người thanh niên vừa quay bước đi thì cô bé mù
đó sửng sốt hỏi: “Thưa ông! Ông có phải là Chúa Giêsu không?”
Câu hỏi đó đã làm cho người doanh nhân suy nghĩ.
Bạn và tôi, chúng ta có phải là Giêsu không? Chúng
ta có đi con đường Giêsu đã đi không? Chúng ta có hành xử như Giêsu đã hành xử
không?
11. Một cuộc
hoán cải lạ lùng
Trong một nhà giam các tù nhân trọng án, có một tù
nhân khét tiếng hung ác tên là Starr Daily. Anh ta vào tù ra khám nhiều lần vì
tội say sỉn đánh lộn làm mất an ninh trật tự xã hội. Trong lần tuyên án thứ
năm, quan tòa đã tuyên bố: “Chúng tôi biết rằng có bắt anh ở tù thêm cũng chẳng
có kết quả. Phải nói thật là: chúng tôi hoàn toàn thất vọng về anh! Nhưng chúng
tôi không thể không tuyên án cho anh. Lần này anh bị phạt tù giam 10 năm.”
Sau khi vào nhà tù, Đêli vẫn tỏ thái độ ngoan cố và
còn coi thường kỷ luật nhà tù hơn trước. Anh thường hay đánh đập các bạn tù và
phản đối lại cai tù, đến nỗi anh bị biệt giam trong một căn hầm tối dơ bẩn đầy
gián hôi và lũ chuột cống... Một hôm, khi đang nằm ngủ trên nền gạch lạnh giá,
đột nhiên Đêli nghe có tiếng nói như sau: “Hỡi Đêli, tại sao mi lại bị nhốt
riêng trong căn hầm khủng khiếp này? Tại sao mọi người đều thù ghét mi? Tại sao
mi không dùng sức khỏe để phục vụ mà cứ tiếp tục làm điều ác chống lại kẻ khác
như thế? .”.. Tư tưởng này đã đánh động tâm hồn khiến Đêli nhiều phen suy nghĩ.
Rồi một đêm kia Đêli đã gặp được Đức Giêsu trong giấc mơ, Đấng mà anh đã xua đuổi
ra khỏi cuộc đời anh từ khi mười hai tuổi. Cũng từ đây, hình ảnh của Đức Giêsu
thường xuyên xuất hiện trong tâm trí anh. Anh mơ thấy Người đến bên âu yếm nhìn
và nói với anh những lời mà anh đã từng thuộc lòng khi còn bé: “Hãy ăn năn sám
hối và tin vào Tin mừng”, “Hãy yêu thương kẻ khác như yêu chính mình ngươi.”..
Anh cảm thấy tâm hồn được bình an mà từ trước đến nay chưa khi nào được hưởng.
Rồi khuôn mặt của những kẻ đã từng bị anh hãm hại lần lượt xuất hiện trong tâm
trí khiến anh rất hối hận. Lần đầu tiên, anh đã mở miệng cầu nguyện: “Lạy Chúa,
xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13).
Cảm nghiệm ấy đã biến Đêli từ một người hung ác gian
tham và thù hận, trở thành một người đầy độ lượng nhân ái! Sự biến đổi nội tâm
khiến Đêli không còn la hét đập phá như trước, Các nhân viên cai ngục đã nhận
ra có sự thay đổi rõ rệt xảy ra nơi anh, họ cho phép anh được trở lại trại giam
thường phạm. Tại đây anh bắt đầu đối xử tốt với các bạn tù: Anh luôn bênh vực
những người mới đến, nên dần dần anh được mọi người trong trại quý mến. Rồi anh
được giảm án tù từ mười xuống còn 5 năm. Mãn hạn tù, anh gia nhập vào “Nhóm cải
thiện chế độ lao tù.” Cùng với cha tuyên úy và các bạn, Đêli đi thăm và động
viên các tù nhân còn bị giam và khuyên họ hãy học tập cải tạo tốt. Nhờ đó nhiều
bạn tù đã sớm được về đoàn tụ với gia đình. Linh mục Pitơ Mácsôn (Peter
Marshall) đã bình luận về sự hóan cải của Đêli như sau: “Đây là một bằng chứng
sống động cho thấy: Sita Đêli không chỉ là một người cũ được tân trang lại,
nhưng chính là một tạo vật hoàn toàn mới của Thiên Chúa!”
12. Cởi bỏ con
người cũ
Thời lập quốc, Hoa Kỳ có ra một đạo luật: ai bị bắt
quả tang trộm cắp, phải bị hình phạt khắc hai chữ ST (stealer = kẻ trộm) lên
trán, để răn dạy mọi công dân. Ngày nọ có hai anh em bị bắt quả tang ăn trộm cừu.
Cả hai bị xử phạt khắc hai chữ S.T. lên trán, có nghĩ đây là kẻ ăn trộm.
Một trong hai người anh em đó không chịu nỗi sỉ nhục
nên trốn sang vùng đất khác. Nhưng anh không thể xóa đi hai chữ khắc trên trán.
Ai nhìn thấy anh cũng tra hỏi ý nghĩa của hai chữ đó. Nhục nhã quá, anh không sống
nổi nữa. Anh đã kết liễu cuộc đời mình!..
Ngược lại, người em của anh tự nhủ:
- Dù đi đâu, tôi cũng mang danh là kẻ trộm xấu xa.
Tôi vẫn ở lại đây, cương quyết tái tạo lại niềm tin cho mọi người...
Với quyết tâm đó, ngày ngày anh cố gắng sống công
bình chính trực, cặm cụi làm ăn sinh sống, không nhờ vả ai cũng chẳng làm thiệt
hại ai, mà còn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhất là những người bệnh hoạn cùng
khổ chung quanh.
Chẳng bao lâu, anh được mọi người trong xứ mến phục.
Nhiều người thấy anh sống công bình bác ái hơn mọi người như thế mà sao trên
trán có khắc hai chữ S.T. Họ thắc mắc hỏi một cụ già về ý nghĩa hai chữ đó. Cụ
trầm ngâm một lúc rồi đáp:
- Tôi cũng không rõ ý nghĩa của hai chữ đó. Nhưng
nhìn vào cuộc sống của anh, tôi nghĩ hai chữ đó có nghĩa là "Thánh thiện"
(saint = thánh thiện).
13. Khu ổ chuột
ở Ấn Độ
Một đêm nọ, ký giả Trey Ketler đi bách bộ xuyên qua
một khu ổ chuột tại thành phố Calcutta, Ấn Độ. Thình lình ông nghe một âm thanh
kỳ lạ. Ông quay lại và thấy một cậu bé ăn xin tàn tật đang lết về phía ông. Người
ký giả lấy tiền lẻ trong túi và trao cho cậu bé. Không đầy một phút sau, ông lại
nghe một cuộc chửi rủa inh ỏi. Ông quay lại, thấy cậu bé ăn xin tàn tật bị đám
ăn xin tàn tật khác trấn lột!..
Ngày nọ, một người nữ khác cũng đến khu ổ chuột đó.
Bà thấy cảnh quá nghèo khổ của khu này, bà dốc hết những gì bà có biến đổi khu
này. Đầu tiên, bà chỉ cất được một phòng học cho trẻ. Tấm bảng là nền nhà, bàn
ghếcũng là nền nhà. Ít năm sau tức là năm 1997, khi bà qua đời, khu ổ chuột đã
có 100 trường học trang bị đầy đủ: 750 phòng phát thuốc miễn phí, 150 nhà dành
cho những kẻ bị bỏ rơi, và trên 40 ngàn thiện nguyện từ khắp nơi đến trợ giúp.
Người nữ đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.
Phải chăng đó là một cuộc biến hình Chúa dùng con
cái Người thực hiện.
14. Nhận lỗi
Liszt là một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng khắp nước
Hungary vào cuối thế kỷ 19. Nhưng càng nổi danh ông càng bị người ta mạo danh.
Một hôm tại một thành phố bên Đức, một thiếu nữ quảng
cáo buổi độc tấu dương cầm và cô ta là học trò của nhạc sĩ Liszt. Nhưng một
ngày trước khi biểu diễn, cô hoảng hốt hay tin nhạc sĩ đại tài đó đến thành phố.
Như thế sự mạo danh của cô sẽ bị khám phá và tương lai cô sẽ tiêu tan. Nhưng
thay vì bỏ cuộc, cô đã can đảm đến gặp nhạc sĩ và thú nhận việc mạo danh của
cô. Nhạc sĩ ôn tồn lắng nghe cô và dịu dàng nói:
- Cháu đã phạm một lỗi lầm. Nhưng trong đời không ai
tránh được lầm lỗi. Cháu đã biết lỗi và hối hận. Điều đó tốt lắm rồi. Bây giờ
cháu hãy biểu diễn thử cho bác nghe.
Cô liền ngồi lên dương cầm, biểu diễn cho ông ta
nghe. Nghe xong, ông ta sửa lại những sai sót rồi nói:
- Dù bác dạy cho cháu rất ít, nhưng cháu cũng là học
trò của bác. Ngày mai cháu cứ đi trình diễn và loan báo: Bác sẽ trình tấu bản
cuối cùng.
15. Ý thức
mình là con Thiên Chúa để vươn lên
Một người thợ săn bắt gặp một ổ trứng phượng hoàng
trong khu rừng nguyên sinh. Anh đem ổ trứng ấy về nhà, trộn chung vào ổ trứng của
gà mẹ đang ấp. Mấy tuần sau, một chú phượng hoàng con xinh đẹp chào đời và được
gà mẹ dẫn đi ăn chung với đàn gà con bé nhỏ.
Phượng hoàng con lớn lên bên cạnh những con gà khác,
luôn nghĩ rằng mình cũng thuộc nòi giống gà như những con gà cùng lứa, cùng cào
bới đống rác, đống phân… để kiếm ăn như những con gà kia.
Thế rồi, vào ngày định mệnh ấy, một con phượng hoàng
oai phong từ trên cao thình lình đáp xuống khiến cả đàn gà hoảng hốt chạy tán
loạn. Phượng hoàng tiến đến gần chú phượng hoàng con, chỉ cho nó biết nó không
phải là chú gà tầm thường, nhưng thuộc giống nòi phượng hoàng oai phong lẫm liệt.
Thế là từ hôm đó, phượng hoàng con ngẩng cao đầu,
vươn cao cổ, bắt đầu xoè cánh tập bay và chẳng bao lâu, nó xoải rộng đôi cánh,
phóng mình vút lên, bay lượn giữa khung trời cao xanh lộng gió, trông thật oai hùng.
16. Hai mặt của
cuộc đời
Ngôi nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Nếu người ta
chỉ nhìn mặt sau của ngôi nhà mà không nhìn mặt tiền của nó, người ta sẽ đánh
giá thấp về nó, sẽ thất vọng vì nó.
Tấm huy chương nào cũng có mặt trái mặt phải. Nếu chỉ
nhìn mặt trái sần sùi và trơ trọi của tấm huy chương mà không nhìn mặt đẹp của
nó, thì chẳng ai thèm nhận huy chương.
Hoa hồng rất đẹp rất kiêu sa nhưng cũng đầy gai. Nếu
người ta chỉ chú trọng đến những gai nhọn của hoa hồng mà không để ý đến vẻ đẹp
của bông hoa thì thật là đáng tiếc! Nhờ giá trị của những bông hoa hồng đẹp rực
rỡ kiêu sa và hương thơm dịu dàng của nó, người ta quên đi những gai nhọn đáng
phàn nàn của nó.
Đối với người anh em chung quanh cũng thế. Mỗi người
đều có mặt sáng và mặt tối, mặt tốt và mặt xấu, không ai hoàn toàn tốt, chẳng
ai hoàn toàn xấu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào mặt đen tối của một con người, mà
quên đi mặt sáng của họ, nhìn vào nhược điểm mà quên đi ưu điểm của họ, thì
chúng ta sẽ rất thất vọng về người đó. Chúng ta đánh giá người đó chẳng ra gì.
Sự kiện Chúa Giêsu tỏ cho ba môn đệ thân tín thấy mặt
sáng láng vinh hiển của Ngài trên núi cao để chuẩn bị tinh thần cho các ông đón
nhận mặt đen tối của đời Ngài trong đêm vườn Dầu và đêm khổ nạn, cũng là bài học
cho chúng ta trong tương quan với người khác.
Một người dù có bị xem là xấu xa đến đâu chăng nữa
cũng có những điểm sáng, những nết tốt tiềm ẩn bên trong. Ước gì chúng ta biết
nhìn vào điểm sáng, điểm tốt, nhìn vào ưu điểm của họ để dễ dàng thông cảm với
những mặt trái, mặt xấu của họ. Nhờ đó, chúng ta cảm thấy những người quanh ta
dễ thương hơn, tương quan của ta với người khác được cải thiện tốt đẹp hơn và đời
sống giữa chúng ta với nhau sẽ hạnh phúc hơn.
17. Qua thập
giá đến vinh quang
Năm 1982, các nữ tu Dòng Con Đức Bà Phù Hộ, quen gọi
là Dòng nữ Salêsiên ở Cáp bên Haiti, muốn thuê nhà điêu khắc Pêrikhêt làm một
cây thánh giá lớn để đặt trong nhà thờ mới của các chị. Nhưng lúc đó, ông
Pêrikhêt đã bị ung thư nặng.
Các chị nhờ một nữ tu cùng dòng đến gặp nhà điêu khắc
để nói về ý định này. Hôm đó viên bác sĩ của ông cũng có mặt, ông nói với chị nữ
tu:
- Lẽ ra chỉ phải đến đây sớm hơn. Rất tiếc là bây giờ
căn bệnh ung thư của ông Pêrikhêt đã quá nặng rồi. Im một lát, bác sĩ quay sang
nói với nhà điêu khắc:
- Ông là người có đức tin, vậy ông cứ tiếp tục hy vọng
dù có điều gì xảy ra đi nữa.
Từ ngày đó, nhà điêu khắc Pêrikhêt chẳng muốn cầm
bút để rèn tác phẩm nghệ thuật nào nữa.
Vài ngày sau, một nữ tu lại đến gặp ông và năn nỉ:
- Ông Giovani Pêrikhêt à, các nữ tu ở nhà thờ mới tại
Cáp mong muốn ông làm cho các chị ấy một cây thánh giá thật đẹp, dài hai mét. Họ
biết tài năng của ông mà. Trước khi trả lời dứt khoát cho họ, tôi muốn hỏi ý kiến
ông một lần nữa.
Nhà điêu khắc trầm ngâm suy nghĩ và cầu nguyện, rồi
ông bình thản nói với chị nữ tu:
- Tôi xin nhận lời. Cây thánh giá này sẽ là tác phẩm
cuối cùng, tôi sẽ làm cây thánh giá nầy để chuẩn bị chết, và xin Chúa thương
xót tôi.
Thế là nhà điêu khắc bắt tay vào công việc với tất cả
tâm hồn của một người mong gặp được Chúa Giêsu. Đây thật là một công việc nặng
nhọc vì bệnh tình của ông. Nhưng ông cảm thấy một điều thật lạ lùng, mỗi nhát
búa đập trên thanh sắt nóng đỏ, thay vì làm cho ông mệt mỏi thêm, thì lại làm
cho ông cảm thấy như được bồi dưỡng sinh lực trở lại. Ông tiếp tục làm việc
ngày qua ngày, và khi ông hoàn thành cây thánh giá thật đẹp, ông cảm thấy như
khoẻ hẳn. Chúa Giêsu đã giải thoát ông khỏi căn bệnh quái ác.
Ngày nay, cây thánh giá do ông thực hiện vẫn còn được
treo ở nhà thờ thánh phố Cáp và tiếp tục thu hút nhiều tín hữu: người lành mạnh
cũng như kẻ yếu đau đến kính viếng thường xuyên.
18. Chịu chết
vì yêu
Sau một trận cháy rừng ở Yellowstone Park, tiểu bang
Wyoming, Hoa Kỳ, những nhân viên kiểm lâm đã khám phá thấy một con chim bị cháy
thành than rồi khô cứng lại dưới một gốc cây. Thật đau buồn khi phải dùng cây gậy
đâm nhẹ vào mình chim mẹ để nhận thấy ba chim con thu mình dưới đôi cánh của
chim mẹ.
Người ta đã đặt giả thuyết rằng chim mẹ đã đem được
con của nó tới gốc cây, tập hợp chúng lại dưới đôi cánh . Theo bản năng chim mẹ
biết rằng hơi độc của đám khói cháy rừng đang bừng lên. Chim mẹ đã có thể bay
đi thoát nạn, nhưng nó khong nỡ bỏ rơi con của mình để thoát thân. Ngay cả khi
bị đốt cháy, nó vẫn không nhúc nhích để bảo vệ bầy con, và sẵn sàng chịu chết để
bầy con đước sống dưới đôi cánh của mình.
19. Bức tranh
“phù vân”
Họa sĩ C. Allan Gilbert đã vẽ một bức tranh mà tôi đặt
tên là “Phù Vân.” Họa sĩ có một cái nhìn vừa đạo đức – theo sự gợi ý của lời
khuyên trong sách Giảng Viên - vừa trào phúng khi vẽ bức hình diễn tả người phụ
nữ đẹp đẽ sang trọng đang trang điểm, soi ngắm mình trong gương. Trên mặt bàn
trang điểm, bày đủ loại phấn son, những chai dầu thơm hảo hạng, hoa tươi và ngọn
nến. Mặc chiếc áo thời trang bằng tơ lụa mỏng của Tây phương, người phụ nữ hơi
khom mình về phía trước để ngắm khuôn mặt cho rõ hơn. Rõ ràng người phụ nữ này
đang có tất cả mọi sự thế gian cung ứng cho nàng – sắc đẹp, của cải và tuổi
xuân.
“Với một phối cảnh rộng hơn, gương mặt xinh đẹp biến
thành hình ảnh chiếc sọ người.”
Nhưng nếu bước lùi ra xa một chút, người nhìn sẽ phải
ngạc nhiên ngay. Với một phối cảnh rộng hơn, người phụ nữ đang say đắm ngắm
mình trong gương bị biến thành hình ảnh một chiệc sọ người! Thật là mỉa mai, tất
cả những sự sang trọng của thế gian chỉ là phù vân như sách Giảng viên khuyên dạy.
Của cải, tài sản, khoái lạc, và ngay cả sự khôn ngoan của loài người cũng chỉ
là một đám mây mờ bay qua bầu trời hay “hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi
lại tan biến đi” (Gc 4:14).
20. Người cha
giữ lời hứa
Ngày 7 tháng 12 năm 1998 ở tây Bắc Armenia xảy ra trận
động đất lớn với độ rung là 6.9, đã làm xụp đổ bình địa thành phố với khoảng 25
ngàn người bị thiệt mạng với câu chuyện rất cảm động như sau:
Sau trận động đất, giữa nhừ đám người hoảng hốt và
lo sợ, có một người cha đang tuyệt vọng rảo bước qua những con đường đầy gió bụi
đổ nát và điều tàn. Ông vội vã tiến về phía trường học đi tìm người con trai
yêu quí đi học từ sáng sớm. Vừa bước đi ông vừa nghĩ tới những lời hứa hẹn đã
thề thốt với con ông: “Armand con ơi, bất cứ chuyện gì xảy ra, ba cũng luôn
luôn ở với con!”
Vừa tới vị trí trường học, ông nhận ra chỉ còn là một
đống gạch vụn. Đứng lau chùi nước mắt… rồi phỏng đoán phương hướng lớp học của
con ông, ông cúi xuống lượm từng miếng gạch vỡ quăng ra ngaoài. Bằng tay không,
ông bắt đầu đào bới. Nào là gạch, ván tường, tôn kẽm… Những người qua lại tuyệt
vọng nói với ông: “Thôi đi ông ơi! Chúng chết hết rồi!” Nhưng ông ngẩng lên trả
lời: “Các bạn chỉ trích tôi hay giúp tôi nâng những viên gạch này ra?” Một số
người cũng tiếp tay với ông thu dọn gạch vụn, nhưng chẳng được bao lâu họ cũng
bỏ cuộc vì mệt mỏi và tay chân đau nhức. Riêng ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ
vì ông luôn luôn nghĩ tới sinh mạng của con ông. Ông kiên trì làm việc từ giờ
này qua giờ khác, 2 giờ qua đi… 18 giờ… 24 giờ… 36 giờ… và sau cùng, vào giờ thứ
38 ông nghe được một tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ phía dưới một mảng tường đổ
nát. Ông nắm lấy mảng gạch, lay mạnh và gọi lớn: “Armand! Aramand! Armand!” Từ
bóng tối phía dưới bức tường đổ vang lên một giọng trẻ thơ trả lời: “Ba! Ba!
Ba!” Tiếp ngay sau đó là những tiếng gọi yếu ớt khác của những em học sinh sống
sót vang dội lên. Công việc đào bới để cứu các em ra khỏi tai nạn được các bậc
phụ huynh thực hiện ngay sau đó.
Người đã cứu được 14 em học sinh trong tổng số 33
em. Khi em Armand được cứu thoát em vẫn mạnh mẽ khẳng định: “Đã bảo mà, cha tôi
không bao giờ quên tôi.”
Bác sĩ Scott đã kể lại câu chuyện trên trong cuốn
sách nổi tiếng của ông có nhan đề “A Father Who Keeps His Promises” - “Người
Cha giữ lời hứa.” Và ông đã kết luận như sau: “Đó là loại đức tin mà chúng ta
đang cần, bởi vì đó là Người Cha mà chúng ta có.”
21. Cầu nguyện
biến đổi --AM Trần Bình An
Hơn 10.000 người đã tụ tập tại một nhà thờ làng thuộc
Tổng giáo phận Tellicherry ở Kerala, sau khi tin tức lan truyền rằng khuôn mặt
của Chúa Giêsu xuất hiện trên Bánh Thánh trong Thánh Lễ buổi sáng. Tổng giáo phận
đã vội vã tập hợp một đội điều tra hiện tượng xảy ra tại Nhà thờ Chúa Kitô Vua,
Vilakannur, khoảng 50 km về phía đông của thành phố Kannur.
Linh mục chánh xứ Cha Thomas Pathickal, 60 tuổi, nói
với trang web mattersindia. Vị linh mục đã cai quản Giáo xứ này từ ba năm trước,
cho biết ngài đã làm theo sự hướng dẫn của Đức Tổng Giám Mục George
Valiamattam, của Tổng giáo phận Tellicherry để giữ cho "phép lạ"
Thánh thể bên trong Nhà tạm Thánh thể trong nhà thờ.
Hơn 500 giáo dân đang cầu nguyện trong nhà thờ, khi
họ chờ đợi các cuộc điều tra Tổng giáo phận, quyết định phổ biến cho mọi người
biết. Các quan chức cảnh sát cấp cao từ các Quận, Huyện và địa phương cũng kéo
đến, cũng như người dân từ các Giáo xứ khác kéo đến Vilakannur. Nhiều phương tiện
xe cộ cũng kéo đến đông nghẹt cả con đường đến vùng Paithalmala, nơi đây cũng
là một địa điểm nổi tiếng cho du khách ưa du lịch mạo hiểm.
Cha Thomas Pathickal nói hiện tượng này xảy ra khi
Giáo xứ đang chuẩn bị cho lễ Chúa Kitô Vua vào ngày 24 tháng 11. Tường thuật lại
sự việc, Cha nói tại thời điểm trong Thánh Lễ sáng lúc 7:00, Cha nhận thấy một
điểm trên Bánh Thánh, "trở nên lớn và sáng hơn, sau đó xuất hiện khuôn mặt
Chúa Giêsu." Ngài để Bánh Thánh đó sang một bên và tiếp tục Thánh Lễ bằng
Bánh Thánh khác trong Nhà tạm.
Sau Thánh lễ, Cha gọi ông thủ từ đến, người này sau
khi xem cũng nói với Cha rằng đó là gương mặt của Chúa Giêsu. Sau đó Cha đặt
Bánh Thánh đó vào Mặt nhật và để lên bàn thờ trong Thánh đường. Hàng trăm người
khác cũng nhìn thấy khuôn mặt sáng ngời của một người đàn ông râu tóc dài.
"Chỉ có màu đen và trắng, ngoài ra không có màu nào khác", Cha
Pathickal nói khuôn mặt sáng ngời đó vẫn có thể nhìn thấy được, sau khi Cha cất
Bánh Thánh trong Nhà tạm, lúc đó khoảng 11 giờ sáng theo như sự hướng dẫn của Đức
Tổng giám mục. Cha Thomas cho biết lòng tin của Cha trở nên mạnh mẽ sau khi
nhìn thấy "Phép lạ.” Cha cho biết mình phải đến Naduvil, trụ sở chính quyền
địa phương của vùng này (cách 3 km về phía đông) vì một số vấn đề khi họ nghe về
tin này. "Tôi đã chạy vội đến đây và thật may mắn khi được thấy Chúa
Giêsu," Cha nói thêm. Cha cho biết nhiều người đã thất vọng khi Cha từ chối
để cho họ được nhìn thấy Bánh Thánh.
Được thành lập vào năm 1962, Giáo xứ có hơn 500 gia
đình và 1.250 người Công giáo và hầu hết trong số họ là thế hệ thứ hai và thứ
ba của những người đã di cư từ Trung tâm Kerala thế kỷ trước.
22. Những câu
chuyện biến hình
Tác giả cuốn sách The Seven Habits of Highly
Effective People (“Bảy Thói Quen Của Người Làm Việc Có Hiệu Quả”), Steve Covey,
trên một chuyến xe điện ngầm tại thành phố New York vào một sáng Chúa nhật, đã
thu được một kinh nghiệm sống rất quí như sau. Steve kể:
Mọi người ngồi yên lặng. Vài kẻ đang đọc báo. Số
khác đang chập chờn ru giấc ngủ. Số khác nữa đang suy nghĩ miên man. Thật là một
cảnh yên tĩnh, thanh bình.
Tàu dừng lại tại một nhà ga. Một người đàn ông và mấy
đứa nhỏ, có lẽ là con ông ta, bước lên. Lập tức bầu khí yên bình bị phá tan. Những
đứa bé la hét om sòm. Chúng vất đồ đạc qua lại. Thậm chí còn lấy báo của người
khác vò lại ném nhau. Thật là phiền hà hết sức! Nhưng sao người cha của mấy đứa
bé kia lại không có phản ứng nào?
Steve cảm thấy bực bội khó chịu trước thái độ của
cha con những người khách mới. Anh ta không thể hình dung ra được trên đời này
lại có những kẻ vô cảm và vô tâm như gã đàn ông kia. Con cái quậy phá làm phiền
biết bao nhiêu người, thế mà vẫn cứ ngồi im. Steve quan sát và thấy nhiều hành
khách khác cũng có vài nếp nhăn khó chịu.
Cuối cùng, khi sức kiên nhẫn đã vượt mức tối đa,
Steve bèn lên tiếng với người bố: “Thưa ông, con ông đang làm phiền nhiều người
lắm đấy. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông không làm gì để kiềm chế chúng một
chút.” Người đàn ông nhướng mắt nhìn Steve như vừa sực tỉnh lại từ một ưu trầm
lắng. Nén tiếng thở dài, ông ta nói: “Tôi thành thật xin lỗi. Tôi cũng không biết
phải làm sao. Chúng tôi mới rời khỏi bệnh viện nơi mẹ chúng nó vừa qua đời cách
đây một giờ. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết cuộc đời rồi đây sẽ ra sao khi
không còn nhà tôi, và chắc là chúng nó cũng không biết chịu đựng thế nào khi chẳng
còn có mẹ.”
Steve kết luận bài viết của mình: “Bạn có thể tưởng
tượng được cảm giác của tôi lúc đó như thế nào không? Ngay lập tức tôi thấy mọi
sự đổi khác. Vì thấy mọi sự đổi khác nên thái độ của tôi cũng đổi theo. Cơn khó
chịu bực bội trong tôi biến mất. Thay vào đó là niềm cảm thông cho nỗi đau của
người chồng mất vợ và những đứa con mất mẹ.”
23. Hoàn toàn
tín thác nơi Thiên Chúa
Rít Rítpphai Vô-đơn-Spring là một mục sư phục vụ một
bệnh viện làng Bethel, ở miền Bắc Palestin. Ông là người đạo đức. Có một bận, y
sĩ trưởng phòng giải phẫu cùng với vị phụ tá đến báo tin cho ông biết tình trạng
thất vọng của một bệnh nhân, mà họ đã giải phẫn không lâu. Mục sư Vô-đơn-Spring
hỏi:
- Bác sĩ đã cầu nguyện cho bệnh nhân được tai qua nạn
khỏi chưa?
Vị y sĩ trưởng phòng giải phẫu và y tá mỉm cười kín
đáo mà không trả lời. Mục sư Vô-đơn-Spring nhận ra điều đó và nói:
- Nghĩa là chưa. Thôi được rồi, tôi muốn bàn chuyện
này với Chúa.
Vậy là trong một giờ liên tiếp, mục sư quỳ sụp xuống
trong phòng, ông cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Sau đó đến phòng người bệnh trầm
trọng ấy. Vừa thấy ông, cô y tá đã vội vàng nói:
- Đã từ nửa giờ bệnh nhân thấy đỡ hơn.
Vài tuần sau đó bênh nhân lành hẳn. Bác sĩ trưởng
phòng giải phẫu đến gặp mục sư và nói:
- Thưa mục sư, tôi sẽ không bao giờ mỉm cười nghi ngờ
nữa.
Thái độ của mục sư Vô-đơn-Spring hoàn toàn tin tưởng
phó thác mọi sự cho Thiên Chúa quan phòng có thể giúp chúng ta hiểu được các sứ
điệp Chúa nhật hôm nay.
24. Hãy biết bắt
đầu lại.
Một thanh niên thấy cuộc sống mình bê bối, muốn sám
hối ăn năn, đến gặp một linh mục và nói:
- Thưa cha, hôm nay con đến xin cha giúp con, con bê
bối lắm nhưng con không biết bắt đầu từ đâu cả! Mười điều răn Đức Chúa Trời,
sáu điều răn Hội Thánh, bảy mối toi đầu con đều phạm hết. Con nản quá! Bạn bè
khuyên con, con trả lời rằng: Thôi đã lỡ phạm tội thì phạm cho hết mọi tội, xuống
lót đáy hỏa ngục luôn. Nằm dưới đáy có lẽ đỡ nóng hơn lànằm hơ hơ trên ngọn lửa,
nóng lắm! Nói thì nói thế cho vui, chớ con không yên tâm chút nào! Vị linh mục
cười và nói:
- Cha lại thích mấy con cá bự, cá nhỏ ăn hoài chán rồi!
Cả hai cha con cười xòa. Vị linh mục nói tiếp:
- Cha kể cho con một câu chuyện nhé: Một người con
trai kia thất nghiệp, trở về nhà buồn bã. Người cha an ủi: Thôi con ơi, nhất sĩ
nhì nông, hết gạo chạy rông thì nhất nông nhì sĩ; con trở lại với miếng ruộng của
gia đình đi. Sáng mai con ra làm cỏ năm sào ruộng để mùa tới chúng ta sẽ xạ
lúa. Người con nghe lời, sớm mai vác cuốc ra ruộng. Nhưng khi nhìn thấy đám ruộng
mênh mông chỉ có cỏ với cỏ, anh ngán ngẩm, tìm một gốc cây nằm ngủ?
Người cha biết sự việc, không la rầy, ôn tồn nói với
con: Mỗi ngày con làm cho cha chừng 20 mét vuông thôi, con làm được không?-Dạ
ít vậy thì được. Và cứ như thế, chẳng bao lâu đám ruộng đã sạch cỏ.- Tâm hồn
con bây giờ cũng như đám ruộng kia, đầy cỏ dại, nhưng con hãy bắt đầu đi, rồi
con sẽ thấy kết quả. Rồi đây con sẽ còn sa ngã, nhưng cái quan trọng là luôn biết
bắt đầu lại. Tội con Chúa đã tha rồi, Chúa chỉ đòi hỏi con cố gắng mà thôi. Mười
năm sau đó, vào một buổi sáng đẹp trời, một tu sĩ bước vào nhà xứ và cúi đầu
chào vị linh mục, rồi nói: cha còn nhớ con nữa không? Con là người cha đã chỉ
cho cách làm cỏ cách đây khoảng mười năm.
25. Thập giá
vinh quang--Lm Giuse Tạ Duy Tuyền
Có một nhà vua đã hỏi các quan đại thần rằng:
- "Trong chiến trận thì cái gì cần nhất?”
Một đại thần trả lời:
- Tâu bệ hạ, cần nhất là lòng dũng cảm.
Nhà vua liền hỏi:
- Thế còn sức mạnh và vũ khí? Nhà ngươi quên à?
Vị quan nói:
- Tâu bệ hạ, nếu người lính đã không có tinh thần
dũng cảm thì sức mạnh và vũ khí của anh ta cũng chẳng giúp được tí gì.
26. Nghịch cảnh
vừa chôn vùi vừa nâng dậy
Một hôm, có một bác nông dân có một chú lừa chẳng
may bị lọt xuống một cái giếng cạn. Chú lừa tội nghiệp kêu la thảm thiết cả buổi
mà bác chẳng biết làm cách nào đưa nó lên. Cuối cùng bác nông dân nghĩ rằng chú
lừa đã già lắm rồi, thôi thì đành lấp giếng đi vậy. Hơn nữa, một con lừa cũng
chẳng đáng bao nhiêu. Nghĩ thế bác liên gọi hàng xóm giúp bác một tay.
Tất cả mọi người hè nhau lấy xẻng xúc cát đổ xuống
giếng. Lúc đầu, chú lừa hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình nên la hét khủng
khiếp. Rồi bỗng dưng lừa ta im lặng khiến mọi người ngạc nhiên. Sau khi đổ đất
được một hồi, bác nông dân nhìn xuống và kinh ngạc vô cùng trước những gì mình
thấy: cứ một lớp đất đổ xuống lưng mình, nó giũ lớp cát xuống và giẫm chân lên.
Khi mọi người tiếp tục đổ xuống đầu con vật, nó lại giũ lớp cát và giẫm chân
lên một bước nữa. Cứ thế, cứ thế. Chẳng bao lâu con vật đã leo lên được thành
giếng và bước ra ngoài trước sự sửng sốt của mọi người.
27. Tình yêu
Chúa biến đổi
Lịch sử Giáo hội đánh dấu nhiều cuộc biến đổi lạ
lùng, cụ thể:
Một Agustinô: từ say rượu đến say Chúa.
Một Maria Mađalêna: từ gái giang hồ thành thánh và
là chứng nhân nhiệt thành cho việc Phục sinh của Chúa.
Một Inhaxiô Loyola: từ trai chinh chiến trở thành đấng
lập dòng.
Một Têrêsa Avial: từ kẻ khô khan đến người sốt mến
Một Giakêu: từ người tham lạm, hà khắc trở thành kẻ
rộng lượng và khoan nhân...
Đó là công việc của Chúa và con người hợp tác nhờ sức
mạnh tình thương của Chúa. Đó là những cuộc canh tân và biến hình đã, đang và
còn tiếp tục diễn ra trong lòng Giáo hội. Những điều cụ thể đó đủ chứng minh rằng
ơn Chúa luôn tràn trề trong lòng mọi người dù cho họ có thể nào đi nữa, có ở
trong hoàn cảnh và tình trạng nào đi nữa! Bất cứ khi nào, con người quyết tâm
làm lại cuộc sống, biết đứng lên sau những vấp váp, sau những té ngã thì
"Ơn Ta vẫn đủ cho ngươi.”
28. Hai ngọn
núi.
Có một cuốn phim mang tựa đề “Mặt nạ”, kể lại một
câu chuyện về chú bé 16 tuổi, tên là Rocky. Chú mắc phải một chứng bệnh kỳ lạ
khiến cho sọ và xương mặt chú phát triển khác thường, làm cho khuôn mặt chú bị
biến dạng thật khủng khiếp. Nhiều người trông thấy chú, phải vội vã quay đi vì
sợ hãi. Có kẻ lại chọc ghẹo, chế nhạo chú. Riêng chú thì chẳng bao giờ cảm thấy
tủi thân, vì chú chấp nhận nó như một phần cuộc sống mình.
Ngày nọ, chú và vài người bạn đi thăm khu công viên
vui chơi. Họ vào một ngôi nhà được ráp kiếng và bật cười vì khuôn mặt họ bị những
tấm gương làm cho biến dạng. Còn chú thì giật mình khi nhìn vào một tấm gương
đã biến khuôn mặt méo mó của chú thành một khuôn mặt bình thường, nếu không muốn
nói là rất đẹp trai. Lần đầu tiên trong đời, bè bạn chú đã nhìn thấy chú trong
một trạng thái hoàn toàn mới mẻ. Họ đã nhìn thấy con người thực sự xinh đẹp bên
trong của chú được bộc lộ ra bên ngoài.
Một điều tương tự như thế đã xảy ra cho Chúa Giêsu
quan đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Trong lúc Ngài biến hình, các môn đệ đã nhìn
thấy Ngài trong một trạng thái hoàn toàn mới lạ. Lần đầu tiên họ được trông thấy
sự vinh quang tươi đẹp bên trong của Con Thiên Chúa được bộc lộ ra bên ngoài.
Điều này khiến chúng ta tự hỏi: Tại sao cuộc biến hình lại được xếp vào Mùa
Chay là mùa vốn mang màu sắc ảm đạm?
Nếu để ý một chút chúng ta sẽ thấy được sự tương phản
giữa cuộc biến hình và cơn hấp hối trong vườn Cây Dầu. Cả hai đều xảy ra trên
những ngọn núi, trước sự chứng kiến của ba môn đệ thân yêu. Và cả hai sẽ bổ túc
cho nhau. Thực vậy, trên đỉnh Tabor ba môn đệ nhìn thấy Ngài xuất thần, và qua
đó được chiêm ngắm thiên tính của Ngài. Còn trên núi Cây Dầu họ nhìn thấy Ngài
hấp hối và qua đó nhân tính của Ngài được bộc lộ một cách rõ nét hơn cả.
Tabor và Cây Dầu mạc khải nét tương phản sinh động
giữa nhân tính và thiên tính của Ngài. Hai biến cố này không thể tách lìa nhau
như hai mặt của một đồng bạc, và như thế cho chúng ta thấy Ngài vừa là người thật
vừa là Thiên Chúa thật.
Hãy chấp nhận thập giá cuộc đời để nhờ đó chúng ta sẽ
được chia sẻ phần vinh quang phục sinh với Ngài.
Lễ Thánh Đaminh
Lời
Chúa
TRUYỆN KỂ
1.
truyện
LỄ THÁNH LÔRENXÔ - HẠT LÚA THỐI ĐI,
SINH NHIỀU BÔNG HẠT
Lời
Chúa: Ga 12, 24-26
Khi
ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thật, Ta nói thật với các con:
Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình,
nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.
Ai
yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được
nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng
sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó."
TRUYỆN KỂ
1. Mục nát đi và sinh bông hạt
Tôi
nhớ về tuổi ấu thơ bên ruộng lúa, rau muống ở Biên Hoà. Bên bờ ruộng, người ta
có trồng chuối nên tôi đã được nhìn cây chuối mang một buồng quả chín. Lá của
cây chuối mẹ héo rũ và xác xơ, và thân của nó oằn xuống như sắp gãy vì nó phải
mang trên mình một buồng chuối nặng trĩu quả. Khi buồng chuối chín hoàn toàn,
cây chuối mẹ sẽ gục hẳn xuống.
Cây
chuối mẹ đã hy sinh những phần tinh túy nhất của mình, chất dinh dưỡng trong gốc,
thân và lá, cho những quả chuối được chín, để dâng cho đời những trái chuối
ngon ngọt… Cây chuối tượng trưng cho một hình ảnh tuyệt đẹp về sự hy sinh.
Dưới
gốc cây chuối mẹ sắp chết đi, xuất hiện nhiều chồi non của những cây chuối mới.
Người trồng chuối chỉ chọn một mầm, để có một cây chuối mới cho năng suất cao.
Một cuộc sống mới, một sự hy sinh mới lại bắt đầu...
Sinh
trái, đơm hoa, cây chuối mẹ héo tàn và chết, từ gốc cây lại nảy ra mầm chồi non
cho một sức sống mới…
Chúa
Kitô tự ví mình là hạt lúa gieo vào lòng đất, định mệnh của hạt giống chịu chôn
vùi, chịu mục nát trong đất bùn. Mục nát không phải mất đi nhưng là để đâm chồi
nảy lộc: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà… thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt”
(Ga 12,23-24).
2. Sự sống mới
Một
bà đạo đức áy náy vì một vài tật xấu bà đã cố gắng hết sức mà vẫn không chừa được.
Bà đến than thở với cha linh hướng. Ngài nói:
-
“Con có để ý thấy không, vào mùa đông, lá sồi rụng nhiều, nhưng vẫn còn vài chiếc.
Gió đông thổi mạnh cũng không làm chúng rụng xuống. Nhưng khi mùa xuân đến,
chúng tự động rụng nhường chỗ cho lá non mẩy lộc. Vậy cái gì làm cho chúng rơi
rụng? Thưa đó là sự sống mới lưu chuyển trong thân cây. Với chúng ta cũng vậy,
khi sự sống mới của Đức Kitô nảy nở trong đời sống, ta sẽ mau thăng tiến trên
đường đạo đức.”
3. Tấm lòng đơn sơ thành thật
Vào
mùng hai tết Canh Thìn năm 2000, trong lúc đi chơi, bé Thiên Thanh, 9 tuổi, lớp
3A trường Phạm Như Xương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Ninh, đã nhặt được chiếc
ví có rất nhiều tiền.
Trên
đường cầm chiếc ví đến trạm công an khu vực ở gần đó để giao, bé Thiên Thanh thấy
một người khách dáng cao to, đang lúi húi tìm kiếm một vật gì đó, khuôn mặt đầy
vẻ lo âu.
Đoán
đây chính là người mất chiếc ví, bé đến gần và hỏi thì quả thật đúng như vậy.
Em đã trao cho người khách chiếc ví còn nguyên vẹn dưới sự chứng kiến của nhiều
người. Số tài sản gồm 4.100.000 đồng, 1.300 mỹ kim, 12 chỉ vàng và tất cả giấy
tờ cá nhân quan trọng như hộ chiếu v.v...
Người
khách may mắn đã hết lời khâm phục cám ơn bé Thiên Thanh. Để tỏ lòng biết ơn,
người khách đã lấy 2 triệu đồng và 100 mỹ kim biếu em, nhưng bé một mực không
nhận và hồn nhiên nói:
-
Cháu xin cám ơn bác, nhưng cô giáo cháu đã dạy rằng: khi đi đường mà nhặt được
của rơi, thì phải tìm cách trả lại cho người bị mất, cháu không nhận tiền thưởng
của bác đâu!
4. Chuyện thánh Lô-ren-sô--Lm Giuse Đinh Tất Quý
Hoàng
đế Valêrianô là con người độc ác lại cố tình tham lam, và khi biết Giáo hội còn
nhiều tài sản có thể làm thỏa mãn lòng tham của ông, lập tức ông hạ lệnh bắt thầy
Lô-ren-sô tới để tra của. Hoàng đế nói với Lô-ren-sô:
-
Cha ngươi và những người Kitô giáo trách ta xử ác với các ngươi, giờ đây ta hứa
sẽ dễ dãi với các ngươi, nếu các ngươi đem nộp cho ta tất cả của cải, những
chén vàng, đĩa bạc, chân nến, và các đồ thờ quí giá: ta rất cần những đồ đó để
tăng cường ngân quỹ quốc gia.”
Lô-ren-sô
nhanh nhẹn trả lời:
-
Thưa hoàng đế, Giáo hội tôi rất giầu. Của cải trong kho bạc của hoàng đế cũng
không thấm vào đâu. Tôi sẽ nộp cho hoàng đế những vật quí báu ấy. Vậy xin hoàng
đế cho tôi ít ngày để kịp thu thập của cải đó lại. Vậy xin hoàng đế gia hạn cho
tôi 3 ngày thôi và đồng thời cử quan lãnh binh Hi-pô-lit (Hypolite) giúp đỡ.”
Trong
mấy ngày sống bên cạnh Lô-ren-sô, Hy-po-lit được mắt thấy tai nghe những việc
bác ái và đời sống thánh thiện của Lô-ren-sô. Được ơn Chúa thúc giục tâm hồn,
quan lãnh binh và toàn gia gồm 19 người xin trở lại đạo và được thầy phó tế
Lô-ren-sô rửa tội cho.
Ít
ngày sau Hy-po-lit đã dâng mạng sống vì đức tin một cách quảng đại, hài cốt
Ngài an táng trên đường Ti-bua (Tibur) Sau được đi về Lu-cô (Lucques). Giáo hội
dâng lễ kính thánh Hy-pô-lit ngày 13.8.
Còn
Lô-ren-sô, Ngài công nhiên đi khắp thành phố Roma, tập trung các bệnh nhân mà
Giáo hội vẫn nuôi sống, gồm mọi thứ phong, hủi, mù lòa, què quặt…. độ ngàn rưởi
người, Ngài mướn những chiếc xe ngựa và chở họ thẳng tới cung điện nhà vua.
Thấy
công việc kỳ lạ của thầy Tổng phó tế, dân chúng Roma bảo nhau đi xem đông đúc.
Đoàn xe ngừng lại trước sân rồng, Lô-ren-sô tâu trình lớn tiếng:
-
Tâu hoàng đế, đây là tất cả kho tàng quý báu của Giáo hội chúng tôi. Đây là những
người cùng khốn, nhưng nhờ công việc cứu trợ họ mà chúng tôi đã tích trữ được
nhiều của quí trọng trên trời. Hoàng đế hãy đón nhận tất cả những của cải này để
dùng cho dân thành Roma và cho chính hoàng đế.”
Biết
mình bị lừa gạt và những lời thách thức khiêu khích đó, Valeriano đỏ mặt tía
tai nổi giận đùng đùng.
-
Ngươi phải chết, nhưng đừng tưởng sẽ được chết ngay đâu, ta sẽ kéo dài cái chết
của ngươi bằng trăm ngàn cực hình.
Người
lính chiến dũng cảm của Chúa Kitô mạnh dạn thưa:
-
Ngài tưởng tôi sợ cực hình sao? Ô không! Ngài cho những cực hình đó là dữ tợn,
song tôi không sợ chút nào, mà còn ước mong từ lâu.
-
Ngươi tưởng rằng, những “của quý” kia sẽ cứu ngươi thoát khỏi những cực hình
này sao?
-
Tôi cậy vào của cải trên trời, là lòng Chúa nhân từ thương xót, Chúa sẽ ban cho
hồn tôi được thanh thoát, dù khi thân xác tôi phải phanh ra trăm nghìn mảnh.
Bạo
vương truyền đánh đòn thánh nhân lần nữa đồng thời lệnh cho lý hình nung đỏ những
thanh sắt dí vào khắp mình thánh nhân.
Không
kêu la than trách, thánh nhân chỉ ngửa mặt lên cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, Con
một Thiên Chúa, xin hãy thương đến tôi tớ Chúa đã bị cáo là không chối danh
Chúa, đã bị tra khảo vì dám tuyên xưng danh thánh Chúa giữa trăm ngàn cực
hình."
Bạo
vương tức giận quát:
-
Mày là thằng phù thủy, mày coi khinh cực hình, nhưng nhân danh các thần minh, nếu
mày không tế lễ các Ngài ta sẽ hành hạ như chưa từng ai có thể làm được.
Thánh
nhân mạnh bạo trả lời:
-
Nhờ ơn Chúa, tôi không sợ chút nào, mọi khổ hình sẽ qua đi. Chúc đức vua hăng
hái thi hành điều đức vua đã dự định để làm khổ tôi.
Hoàng
đế Valêrianô vẫn chưa nguôi căm tức, ông truyền đặt trước mặt thánh tử đạo những
dụng cụ hành hình có thể làm dựng tóc gáy người xem. Vua lên tiếng hỏi lý lịch
thánh nhân. Lô-ren-sô trả lời:
-
Quê tôi ở Tây Ban Nha, từ nhỏ tôi sang ở Rôma được rửa tội và giáo huấn trong đức
tin công giáo.
-
Người gọi Thiên Chúa Đấng dạy ngươi bất kính các thần minh và coi thường các khổ
hình phải không?
-
Nhân danh Chúa Kitô, tôi không sợ cực hình chút nào.
Nghe
lời thách thức này, bạo vương căm giận như điên cuồng, ông truyền nung đỏ giường
sắt và áp mình thánh nhân vào lửa. Nhưng vì toàn thân Ngài đã bị vết thương nên
dù có bị đốt Ngài cũng không cảm thấy đau đớn hơn: Ngài nguyện thầm:
- Lạy
Chúa, xin nhận của lễ xông mùi ngọt ngào này.
Rồi
quay lại phía bạo vương Ngài nói:
-
Tâu đức vua, đức vua phải biết rằng: lửa này chỉ làm cho tôi tươi tỉnh hơn,
nhưng nó sẽ dành sức nóng của nó để thiêu đốt Ngài đời đời.
Người
ta thấy Valêrianô có vẻ bối rối, bọt mép sùi ra; ông đã bị mù quáng trong giận
dữ. Thánh nhân tươi cười nói thêm:
-
Ngài không thấy nửa người tôi bị rán chín kỹ rồi sao? Hãy lật phía kia rán cho
hết đi để Ngài có thể dùng thịt rán này."
Khi
lý hình đã lật Ngài lên, Ngài nói:
-
Đã chín rồi, mời nhà vua ăn đi.
Lúc
đó đoàn giáo dân sợ sệt đứng chung quanh thấy một vòng sáng lạ lùng bao bọc
Ngài và xác Ngài tỏa ra hương thơm ngào ngạt.
Biết
rằng cuộc chiến đấu sắp hoàn tất, thánh Lô-ren-sô tạ ơn Thiên Chúa rằng:
- Lạy
Chúa tôi, tôi đội ơn Chúa, vì nhờ Chúa mà tôi sắp được vào nước hạnh phúc
Rồi
Ngài tắt thở, hôm đó là ngày 10.8.258.
Xác
thánh nhân được hai người lính kính cẩn an táng một nơi cách thành phố Roma hai
ngàn thước. Tới thế kỷ IV vua Constantinô đã xây cất một ngôi thánh đường nguy
nga trên chính mộ thánh nhân và thánh đường mang tên thánh nhân.
Lạy
Chúa toàn năng, Chúa đã giúp thánh Lô-ren-sô toàn thắng trên ngọn lửa ác hình,
xin tắt lửa ham muốn tội lỗi trong lòng chúng con.
5. Tài sản của Giáo Hội
Hôm
nay, Giáo Hội kính nhớ một vị thánh được tôn kính rất nhiều trong những thế kỷ
đầu tiên của Kitô giáo: đó là thánh Lôrenxô.
Thật
ra, người ta biết rất ít về vị thánh này...
Theo
tương truyền, thì Lôrenxô là một vị phó tế người Roma phục vụ Giáo Hội dưới thời
Ðức Giáo Hoàng Sixtô II, và có lẽ cũng đã chịu tử đạo trong thời kỳ bách hại của
Hoàng đế Velerianô vào thế kỷ thứ 3.
Chuyện
kể lại rằng, cũng như các phó tế trong giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội,
Lôrenxô được giao phó trách nhiệm quản lý tài sản của Giáo Hội và trợ giúp người
nghèo. Ngày nay chúng ta gọi là hoạt động xã hội của Giáo Hội.
Sau
khi Ðức Sixtô II bị bắt giữ, phó tế Lôrenxô cũng đã nghĩ ngay đến số phận chờ đợi
mình mà Giáo Hội phải trải qua. Ngài tập trung lại tất cả những người nghèo,
các bà góa và các em cô nhi tại Roma. Tất cả tài sản của Giáo Hội, ngài phân
phát cho họ. Ðể cung cấp đủ cho số người túng thiếu quá đông, ngài đã cho bán cả
các chén thánh dùng trong phụng tự...
Hoạt
động bác ái quá rầm rộ này không mấy chốc đến tai viên thị trưởng Roma. Ông cho
rằng, Giáo Hội phải có rất nhiều kho tàng. Thế là Lôrenxô đã bị điệu đến để
cung khai về tất cả tài sản của Giáo Hội. Vị phó tế khôn ngoan này đã xin hoãn
lại một thời gian để xếp đặt mọi sự và lập danh sách của cải của Giáo Hội.
Trong suốt ba ngày, ngài cho triệu tập những người tàn tật, đui mù, góa bụa, cô
nhi... và cho họ xếp hàng đứng trước dinh viên thị trưởng. Rồi ngài dõng dạc
tuyên bố: "Ðây là tất cả tài sản của Giáo Hội."
Viên
thị trưởng đã cho lời tuyên bố này là một thách thức ngạo mạn. Ông truyền lệnh
cho thiêu sống Lôrenxô trên một chiếc giường sắt được nung đỏ. Các lý hình thay
phiên nhau để quay trở thân xác của thánh nhân như một con thú...
6. Hy Sinh Và Phục Vụ-- ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’
Văn
sĩ Robert Jordan Mayer đã viết tập sách có tựa đề Tạ Ơn Chúa. Trong đó ông chia
ra ba loại cho đi: cho đi vì tức, cho đi vì bổn phận và cho đi vì lòng biết ơn.
- Kẻ
cho đi vì tức thường nói: “Tôi không thích cho đi, vì kẹt quá nên đành phải làm
như vậy." Cho đi vì tức thì cho đi rất ít, vì món quà mà không có người
cho thì không giá trị.
-
Người cho đi vì bổn phận thì nói: “Tôi phải cho đi." Cho đi vì bổn phận
thì cho đi nhiều hơn là cho đi vì tức, nhưng món quà không hấp dẫn, không màu sắc.
-
Người cho đi vì lòng biết ơn thì nói: “Tôi muốn cho đi." Cho đi vì lòng biết
ơn thì cho đi mọi sự và làm cho thế gian nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa.
Chúng
ta hãy xét xem mình thuộc loại người nào trong ba mẫu người vừa nêu trên: cho
đi vì tức, cho vì bổn phận và cho đi vì lòng biết ơn.
Bài
Phúc Âm hôm nay dùng hình ảnh hạt giống phải chết đi mới trổ sinh nhiều hoa
trái để nhắc cho môn đệ Chúa Giêsu phải biết sống hình ảnh cao cả nhất của việc
cho đi là biết chấp nhận chết đi nơi bản thân, biết hy sinh chính mạng sống
mình như thánh Laurensô vì tình yêu Chúa.
Lời Chúa Tuần
18 Thường Niên
Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch
