LỜI CHÚA TUẦN 2 MÙA VỌNG
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNMV 2A - ĂN NĂN THỐNG HỐI,
VÌ NƯỚC TRỜI GẦN ĐẾN
THỨ HAI – BỆNH CỦA TÂM HỒN VÀ TÌNH LIÊN ĐỚI
THỨ TƯ - DỊU HIỀN VÀ KHIÊM NHƯỢNG TRONG LÒNG
THỨ NĂM - GIOAN TẨY GIẢ ĐƯỢC CHÚA KHEN
THỨ SÁU - CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN
THỨ BẢY - GIOAN TẨY GIẢ LÀ ELIA
CNMV 2A - ĂN NĂN THỐNG HỐI, VÌ NƯỚC TRỜI GẦN ĐẾN
Lời
Chúa: Mt 3, 1-12
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày
ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng: "Hãy ăn năn thống
hối, vì nước trời gần đến.” Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo:
"Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa
cho ngay thẳng.” Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da
thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng.
Bấy
giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến
với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan.
Thấy
có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì
Gioan bảo rằng: "Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ
hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối.
Chớ tự phụ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay:
Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Đây
cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và
bỏ vào lửa.
Phần
tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối; còn Đấng sẽ
đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người.
Chính
Đấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay
mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề
tắt.”
TRUYỆN KỂ
1. Món “ăn năn”--‘Làm Nụ
Hoa Trắng’--GM. Giuse Vũ Duy Thống
Có
một món ăn các nhà hàng nhiều sao không quen thết đãi, nhưng những quán ăn tôn
giáo lại xem như đặc sản của mình. Món ăn ấy người đời không quen thưởng thức,
nhưng kẻ có đạo lại tìm đến ăn như một thứ lương thực sớm tối. Món ăn ấy không
có trong thực đơn của những đầu bếp trứ danh nhưng luôn gặp thấy trên bàn ăn của
Giáo Hội lữ hành. Món ăn ấy đơn giản lắm nhưng lại là món ăn có đầy đủ mọi
hương vị chua cay mặn chát ngọt bùi của quá khứ hiện tại tương lai. Món ăn chữa
bệnh nhưng đồng thời cũng là món ăn bổ dưỡng tâm linh. Món ấy là món gì?
Thưa
đó là món “ăn năn sám hối”, một món ăn màu tím truyền thống của Chúa Nhật thứ
hai Mùa Vọng, cũng là món ăn hữu ý được nhìn qua trang Tin Mừng hôm nay. Nhưng
để tránh dị ứng hoặc phản ứng phụ, đồng thời để tận hưởng những hiệu quả bổ dưỡng,
trang Tin Mừng đề nghị ta những động tác quan trọng để hưởng dùng món “ăn năn
sám hối.”
1)
Động tác thứ nhất là chân thành nhìn nhận tội lỗi của mình.
2)
Động tác thứ hai được gặp thấy trong lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả: “Hãy làm việc
lành cho xứng với lòng sám hối.”
3)
Động tác thứ ba để thưởng thức món “ăn năn”, đó là khiêm tốn đợi chờ Đấng đang
đến.
2. Lòng sám hối chân thành
Buổi
sáng như thường lệ, ông Alfred vừa thưởng thức ly cà phê nóng, vừa liếc nhìn
qua những tựa lớn trên tờ nhật báo trước khi đi làm.
Hôm
ấy ông hoảng hốt khi đọc thấy bản tin trên báo nói về cái chết của ông. Có lẽ
người ta đã in lầm tên của ông với tên của một người nào đó chăng. Nhưng rồi với
tính tò mò, ông cố đọc xem người ta nói gì về ông sau khi ông chết. Bản tin
mang tựa đề lớn in chữ đậm viết: “ông vua lựu đạn qua đời.” Ông càng sửng sốt
hơn nữa khi đọc hết bản tin. Người ta đã mô tả ông như người buôn bán cái chết.
Thật
vậy, ông Alfred chính là người đầu tiên phát minh ra lựu đạn giết người. Ông mở
xưởng sản xuất lựu đạn và trở nên nhà tỷ phú bằng cái chết của biết bao nhiêu
người. Giờ đây ông như người tỉnh ngộ sau cơn mê. Thì ra với vũ khí giết người
đó, ông chính là người lái buôn của sự chết. Ông tự hỏi mình: tôi có nên tiếp tục
cái nghề không lành mạnh này không. Tôi có muốn xuống mồ với cái danh hiệu là
người buôn bán sự chết không? Ông cảm thấy như có một sức sống mới trào dâng
trong tâm hồn. Nó mãnh liệt hơn cả sức mạnh phá huỷ sự sống của những lựu đạn
mà chính ông đã phát minh ra.
Thời
giờ của Chúa đã điểm trong tâm hồn của ông, đó là giờ của ơn cứu độ, của tỉnh
thức, giờ của giác ngộ và thống hối. Từ ngày đó Alfred nhất định thay đổi lối sống,
ông tận dụng dùng tất cả những sinh lực còn lại cũng như cái gia sản khổng lồ
mà ông đã thu được vào công cuộc thăng tiến con người và kiến tạo hòa bình.
Quả
thực, ông Alfred đã được ghi vào lịch sử không phải với danh hiệu người lái
buôn sự chết nữa nhưng là người sáng lập giải thưởng hòa bình Nobel. Bởi vì quý
danh của ông là Alfred Nobel.
Đây
có thể được coi là tấm gương cụ thể cho lòng sám hối chân thành. Sám hối là
thay đổi: đổi cách suy nghĩ, từ đó đổi cách sống.
3. Niềm vui của lòng sám
hối
Trong
mục “Dừng Chân” trên một tờ báo Công giáo Dân tộc số ra ngày 24.9.1999, tác giả
Hồng Ngọc ghi lại câu chuyện được một linh mục ở Long Xuyên kể như sau:
Có
một nữ tín đồ Hoà hảo đem lòng yêu một chàng trai Công giáo, đến khi có con mới
hay chàng ta đã có vợ. Biết mình làm tan vỡ cuộc sống gia đình một phụ nữ khác,
chị tự cắt đứt quan hệ với kẻ đa tình kia và chấp nhận một mình nuôi con. Nhưng
lương tâm cắn rứt. Chị thấy mình phải đền tội vì đã khiến cho một người vợ, một
người mẹ phải đau khổ. Chị quyết định thực hành việc sám hối ăn năn bằng cách
nhận một bệnh nhân về nhà săn sóc. Còn gì nhọc nhằn hơn cho việc phục vụ nuôi nấng
một người điên. Người tín đồ Hoà hảo ấy đang thanh luyện mình trong vất vả nhọc
nhằn, và lạ thay mỗi ngày chị lại thấy nhẹ nhõm và thanh thản hơn. Có lẽ chưa hẳn
khỏi bị lương tâm đang cắn rứt, nhưng tình thương dành cho người bệnh đang biến
đổi dần con người chị, đưa chị từ nỗi đau đớn dằn vặt nghiêm trọng đến niềm vui
của một người sống có ích.
4. Thánh cũng sám hối
Đây
là kinh nghiệm bản thân của Đức thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII.
Ngài
đã ghi lại ngày 11-8-1961 trong “Tâm hồn nhật ký’:
“Xưng
tội hằng tuần là việc tôi làm suốt đời...
“Tội
nghịch đức trong sạch? Suốt đời không bao giờ có lỗi trọng, hoặc vì cá nhân hoặc
vì thân thiện với ai. Dù do mắt, dù do tay chân, dù do hình ảnh cám dỗ không
bao giờ có. Đó là ơn Chúa nâng đỡ sự yếu hèn của tôi, và tôi tin ở Chúa sẽ tiếp
tục bảo vệ tôi đến giây phút sau cùng.
“Tội
nghịch đức khiêm nhường? Tôi tôn thờ và hằng thực hiện thực này. Tuy nhiên, khi
bị coi thường, thâm tâm vẫn còn phản ứng. Phản ứng này tôi xin âm thầm giữ
trong bụng để học tập thêm đức nhẫn nại, để thêm dịp đền tội, và cũng là phương
thế để đền tội thế gian.
“Đối
với đức bác ái? Tuy ít gặp khó khăn về điểm này, thế nhưng lắm lúc cũng là dịp
hãm mình, vì lắm lúc xuýt mất nhẫn nại và do dó, có thể có một hai kẻ vô tình
đã phải gánh chịu đau khổ.
“Xúc
phạm? Ai biết được bao lần mình đã lỗi luật Chúa và luật Hội Thánh. Thực nhiều
vô kể! Tuy nhiên, tôi không cả lòng trong sự nặng, ngay cả trong sự nhẹ. Lòng
trí tôi hằng quý mến luật của Chúa, luật Hội thánh và luật đời; nhất là tôi hằng
cẩn thận giữ gìn để làm gương cho thuộc hạ, để “xây dựng giáo sĩ và giáo dân.”
“Nếu
có lỗi, tôi đã xưng tội, đã dốc lòng sửa chữa, và càng cao tuổi, tôi càng hằng
cố gắng giữ các thứ luật cách chín chắn.
“Sơ
suất? Thế nào cũng lắm sơ xuất vì bao nhiệm vụ của đời mục vụ và hiện nay của một
Giáo Hoàng kế vị thánh Phêrô: Cả cuộc sống dài 80 tuổi với bao nhiêu “lỗi lầm
sơ suất”, tôi đã thú nhận tất cả hồi sáng nay với Đức Giám mục Cavagna, người
giải tội thường xuyên của tôi, ngay nơi phòng này, nơi mà các vị tiền nhiệm Piô
XI, Piô XII ở. Và riêng Đức Piô XII đã chết, ngày 9-10-1958...
“Xin
Chúa Giêsu hằng thương xót con là kẻ có tội, con hằng tin tưởng ở sự đại từ bi
vĩnh cửu của Chúa.” Amen.
5. Không nhận ra Chúa vì
bám víu vào của cải
Đây
là một trong những kinh nghiệm mà Jacque Maritain và Réxa là 2 triết gia của
Pháp vào đầu thế kỷ này kể lại. Họ là những con người xết về phương diện trần
thế thì quả thực họ không thiếu một thứ gì trên đời. Họ rất yêu thương nhau, đã
tích trữ cho mình được một gia sản kếch xù ít có ai sánh bằng, thế nhưng họ vẫn
cảm thấy cuộc đời thật vô nghĩa. Họ thiếu một cái gì đó mà họ vẫn chưa tìm ra.
Thế
rồi một hôm họ cùng nhau đến một công viên. Và chính từ trong công viên này mà
họ đã đi tới một quyết định rất táo bạo ít có ai dám làm như thế. Họ thề với
nhau rằng nếu trong một năm mà họ không tìm ra được một ý nghĩa cho cuộc sống của
mình thì họ sẽ cùng nhau tự tử. Rất may, sau 12 tháng, họ đã tìm ra. Ý nghĩa ấy
nằm trong hai tiếng Yêu thương và ân sủng của Thiên Chúa.
Họ
đã thực sự gặp được Thiên Chúa, cảm nghiệm được Tình yêu của Thiên Chúa trong
cuộc đời của mình. Từ đó trở đi hai người dùng cả quãng đời còn lại 50 năm trời
để làm chứng cho một cuộc đời có Chúa ở cùng.
Trong
một tác phẩm “Thủ lãnh của thế gian” nổi tiếng của mình, Bà Réxa đã viết những
lời rất cảm động này: “Ma quỉ đã tung ra một màng lưới ảo tưởng trên chúng ta.
Màng lưới này tuy vô hình nhưng rất mãnh liệt. Nó làm cho chúng ta yêu thích những
giây phút chóng qua hơn vĩnh cửu. Nó khuyên dụ chúng ta chạy theo sự vô định
hơn là chân lý. Nó bảo chúng ta rằng ta chỉ có thể yêu mến tạo vật bằng cách thờ
lạy nó mà thôi.” Và chính vì thế mà người ta không thể nhận ra được sự hiện diện
của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình.?
6. Không gặp được Chúa vì
kiêu ngạo, hận thù
Muốn
thấy Chúa, muốn gặp được Ngài con người phải dẹp qua một bên những chướng ngại
làm cho con đường gặp gỡ không được khai thông. Gioan đã nói đến hố sâu của hận
thù, nói đến nuí cao của kiêu ngạo, nói đến quanh co của những nẻo đường bất
chính gian dối.
Một
hôm thần dữ Satan triệu tập tất cả các sứ giả của mình lại để sai đến trần gian
với sứ mạng duy nhất này là giải thích cho con người biết Thiên Chúa đã chết rồi.
Các
sứ giả ra đi. Nhưng không bao lâu sau tất cả đều trở về. Thần dữ Satan ngạc
nhiên hỏi:
- Tại
sao các ngươi thực hiện công tác nhanh như thế? Hay là có chuyện gì trục trặc?
Các
sứ giả đồng thanh đáp:
-
Thưa Ngài, chúng tôi không còn việc gì để làm nữa. Bởi vì tất cả những nơi
chúng tôi đi quan trên trần gian, nơi nào con người cũng sống như thể Thiên
Chúa đã chết rồi. Họ hận thù, chém giết nhau, gian tham, trộm cắp. Không có gì
xấu mà con người không làm. Dù nhiều người vẫn còn xưng mình là kẻ tin Thiên
Chúa, nhưng cách sống của họ không hề biểu lộ niềm tin này mà ngược lại như là
loan báo Thiên Chúa đã chết rồi. Như vậy chúng ta đâu cần tốn công thuyết phục
con người nữa.
Đó
là những chướng ngại ngăn cách làm cho Chúa và con người không thể gặp nhau.
Con
người sống như Thiên Chúa đã chết. Đó là một thảm cảnh đáng thương cho tất cả mọi
người nhất là những người còn bảo rằng mình vẫn tin có Chúa. Sống mà coi như
Thiên Chúa đã chết thì làm sao có thể “GẶP” được Ngài.
7. Sám hối có sức hóa giải
thù hận
Zenkai
là một thanh niên con của một hiệp sĩ Samourai. Anh được tuyển vào phục dịch
cho một viên chức cao cấp trong triều đình. Không mấy chốc, Zenkai đem lòng say
mê người vợ của chủ mình. Anh lập mưu giết người chủ và đem người đàn bà đó trốn
sang một vùng đất lạ. Anh tưởng có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà. Nhưng
không mấy chốc, người đàn bà đã để lộ nguyên hình của một con người ích kỷ, đê
tiện. Zenkai đành bỏ người đàn bà và ra đi đến một vùng đất khác, ở đó anh sống
qua ngày bằng nghề ăn xin.
Trong
cảnh bần cùng khốn khổ, Zenkai đã bắt đầu hồi tâm để nhớ lại những hành động tội
lỗi của mình. Anh quyết định làm một việc thiện để đền bù cho quá khứ nhơ nhớp
của mình.
Anh
đi về một vùng núi hiểm trở, nơi mà nhiều người đã bỏ mình vì khí hậu khắc nghiệt
cũng như vì công việc nặng nhọc. Zenkai đem hết sức lực của mình để khai phá một
con đường xuyên qua vùng núi ấy.
Ban
ngày đi khất thực, ban đêm đào đường xuyên qua núi. Zenkai cặm cụi làm công việc
ấy ròng rã trong 30 năm trời.
Hai
năm trước khi Zenkai hoàn thành công trình của mình, thì người con của viên chức
triều đình mà anh đã sát hại trước kia bỗng tìm ra tung tích của anh. Người
thanh niên thề sẽ giết Zenkai để trả thù cho cha mình. Biết trước mình không
thoát khỏi án phạt vì tội ác mình đã gây ra mấy chục năm trước, Zenkai phủ phục
dưới chân người thanh niên và van xin:
"Tôi
xin sẵn sàng chịu chết. Nhưng cậu hãy cho phép tôi được hoàn thành công việc
tôi đang làm dở. Khi mọi sự đã hoàn tất, cậu hãy giết tôi.”
Người
thanh niên ở lại để chờ cho đến ngày trả được mối thù cho cha. Nhưng trong khi
chờ đợi, không biết làm gì, người thanh niên đành phải bắt tay vào việc đào đường
với Zenkai mà vẫn nuôi chí báo thù cha.
Nhưng
chỉ một năm sau cùng làm việc với kẻ đã giết cha mình, người thanh niên cảm thấy
mọi ý muốn báo thù đều tan biến trong anh. Thay vào đó, anh lại thấy dậy lên
trong lòng sự cảm phục và thương mến đối với sự nhẫn nhục, chịu đựng của
Zenkai.
Con
đường đã được hoàn thành trước dự định. Giờ đây dân làng có thể qua lại vùng
núi hiểm trở một cách dễ dàng không còn gặp nguy hiểm chết người như ngày xưa nữa.
Họ rất vui mừng khôn xiết đến tạ ơn Zenkai.
Tuy
nhiên, giữ đúng lời hứa, Zenkai đến phủ phục trước mặt người thanh niên để chấp
nhận sự trừng phạt, chịu chết trước kẻ muốn báo thù cho cha mình. Nhưng người
thanh niên vừa đỡ Zenkai dậy vừa nói trong tiếng khóc:
"Làm
sao tôi có thể chém đầu được thầy của tôi!"
Người
thanh niên đã nhận ra nét đẹp quí phái nhất nơi Zenkai. Đó là lòng người biết hồi
tâm, biết nhận ra lỗi lầm và từ đó quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp
hơn. ZenKai đã quyết tâm, nhẫn nhục xây dựng một con đường xuyên qua khu rừng
núi hiểm trở để cho người ta có thể đi lại.
8. Đại bàng chết đuối
Ngày
xưa, có một con chim đại bàng kiêu ngạo, đậu trên thân cây chuối, mà người ta cắt
bỏ, trôi bồng bềnh trên một con sông chảy xiết. Con chim to ấy dường như không
để ý đến một thác nước khổng lồ ở phía trước.
Thình
lình có một thợ săn đi xuống dọc theo bờ sông. Nhìn thấy con chim to đậu trên
thân cây chuối, ông vỗ tay và gào to: “này này, bay đi, nguy hiểm ở phía trước!”
Con chim đại bàng uể oải quan sát và nhún vai bằng đôi cánh to của nó như thể
muốn nói: “đừng lo lắng cho tôi, tôi biết tôi phải àm gì.”
Vì
thân cây chuối mỗi lúc càng trôi gần đến thác nước, người thợ săn càng gào to
và ra dấu rối rít: “này, có một thác nước ở phía trước đấy!” Một lần nữa con đại
bàng tự mãn lại nhún vai.
Đúng
lúc đó, con đại bàng nhìn xuống và thấy thân cây chuối đã trôi đến bờ của thác
nước, chỗ mí nước đổ xuống. Nó vươn rộng đôi cánh và chuẩn bị bay lên, nhưng nó
không thể bay lên được. Những móng vuốt sắc bén của nó đã cắm sâu vào thân của
cây chuối. Thế là nó nhào xuống thác nước, tàn đời một con chim tự mãn, không
biết quan tâm đến lời cảnh báo.
Qua
bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy lắng nghe lời kêu mời của Gioan “hãy sám hối”
như quyết tâm của một triết gia Ấn Độ khi nhìn lại quãng đời của mình và đã tâm
sự như sau:
-
Lúc còn trẻ, tôi là một người có đầu óc cách mạng. Lời cầu nguyện duy nhất của
tôi là dâng lên Thiên Chúa là: Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để con thay đổi
thế giới.
- Đến
tuổi trung niên, tôi mới nhận ra rằng một nửa đời người của tôi đã đi qua mà
tôi chưa thấy thay đổi được một người nào. Lúc đó, tôi mới cầu nguyện với Thượng
Đế: Lạy Chúa, xin cho con được biến cải tất cả những người con gặp gỡ hằng
ngày. Và như vậy là con mãn nguyện rồi.
-
Nhưng giờ đây, tóc đã bạc, răng đã long, ngày tháng còn lại chỉ còn đếm trên đầu
ngón tay, tôi mới nhận ra rằng tôi đã khờ dại biết chừng nào. Giờ đây, tôi chỉ
biết cầu nguyện như sau: Lạy Chúa, xin ban cho con được thay đổi chính mình
con. Amen.
9. Phép mầu của tình yêu
Cậu
bé Craig Shergold là niềm vui không những cho gia đình, mà còn cho cả chòm xóm,
láng giềng, bạn bè và cả thầy cô nữa. Vậy mà một khối u trong não đã làm cho mọi
người thân của cậu bé vùng Carohalton, ngoại ô London hốt hoảng bởi biết rằng
sinh mạng của cậu khó được bảo toàn. Nhưng rồi cậu bé đã dũng cảm chấp nhận
hoàn cảnh hiện tại để đi vào phòng mổ với lời khuyên của người mẹ thân yêu: “Mẹ
muốn con phải thật dũng cảm!”
Với
khối u ác tính, một dạng ung thư não hoạt tính, mấy ai thoát chết đâu? Nhưng rồi
những cánh thiệp khắp nơi đổ về động viên, khuyến khích đã làm cậu bé phấn chấn
hơn. Với 1.000.266 thiệp, trong đó có cả những tấm thiệp của một số vị lãnh tụ
trên thế giới như Magaret Thatcher, Thái tử Charles, George Bush, Ronald
Reagan, Mikhail Gorbachev và cả hai thần tượng của Craig là Michael Jackson và
Sylvester Stallone, Craig đã phá vỡ kỷ lục Guinness về người nhận được nhiều
thiệp nhất mà trước đây một cậu bé người Anh khác nắm giữ (1.000.265 thiệp).
Niềm
vui nối tiếp niềm vui, cách đó 6000km nhà tỷ phú 77 tuổi- John Kluge ở
Charlottesville, bang Virginia đã nhận được một lá thư từ những người bạn về
tình trạng quá hiểm nghèo của cậu bé. Ông đã từng quyên góp hàng triệu đô la
cho những người xứng đáng, nhưng chưa bao giờ ông tặng tiền trực tiếp cho một
cá nhân nào. Và cũng không muốn tạo thành một tiền lệ hay khơi dậy những hy vọng
hư ảo cho gia đình Craig. Nhưng rồi, khi tiếp xúc với gia đình, qua câu nói
dũng cảm của cậu bé bởi gia đình không muốn cậu đau đớn nữa vì đã chịu phẫu thuật
nhiều lần: “Mẹ ơi, không có thắng lợi nào mà không phải trả giá mà mẹ!” chính ý
chí phấn đấu của cậu bé đã làm nhà tỷ phú quyết tâm nổ lực bằng mọi giá giành lại
mạng sống cho em.
Và
rồi nụ cười đã tỏa rạng trên mọi khuôn mặt: Ca phẫu thuật đã thành công vượt
quá mong đợi của nền y học hiện đại. Mùa xuân đã trở về trên khắp nước Anh với
lời tạ ơn của Manon khi nói với chồng là Ernie lúc nhận được tin nhà tỷ phú
John Kluge đã tài trợ trọn vẹn cho ca phẫu thuật của con mình: “Em nghĩ Chúa đã
ban cho chúng ta một phép mầu!”
10. Lời cảnh báo về sinh
mạng
Tự
thành lập một tổ chức trẻ em vì môi trường (ECO) khi mới 10 tuổi, hai năm sau
đó lại cùng bạn bè quyên tiền, trang trải mọi chi phí tham dự hội nghị thượng đỉnh
Trái đất đầu tiên, ở Rio de Janeiro, Brazil, năm 1992, Severn Suzuki đã trở
thành “cô gái khiến cả thế giới im lặng trong 6 phút.” Nước mắt và những gương
mặt sững sờ của các nhà lãnh đạo trên thế giới còn hiện rõ trong băng ghi hình
vì bài phát biểu của cô bé.
“Cháu
sợ ra ngoài ánh nắng mặt trời vì những lỗ thủng trên tầng ozone. Cháu sợ hít thở
không khí vì cháu không biết có những loại hóa chất gì trong đó. Mới vài năm
trước cháu vẫn thường đi câu cá với bốở quê Vancouver, còn bây giờ cháu thấy lũ
cá với đầy tế bào ung thư.”
“Cháu
đang đấu tranh cho tương lai của bản thân. Cháu ở đây để nói thay cho những đứa
trẻ đang chết đói, mà không ai nghe được tiếng khóc của chúng. Cháu ở đây để
nói thay cho vô số loài động vật đang chết dần trên cả hành tinh này, vì không
có nơi nào để đi.”
Không
quá thể hiện cảm xúc bằng đôi mắt hay bàn tay, nhưng với giọng điệu quả quyết,
có những lúc cô bé gần như cầu xin các đại biểu: “Cháu chỉ là một đứa trẻ và
cháu không biết hết mọi giải pháp, nhưng cháu muốn các cô chú hiểu rằng các cô
chú cũng thế. Các cô chú không biết cách xử lý những lỗ thủng ở tầng ozone,
không biết cách khiến cá hồi trở lại một con suối đã ngưng chảy, không biết
cách hồi sinh một loài vật đã tuyệt chủng và cũng không thể mang lại những khu
rừng ở những nơi giờ đây chỉ còn là sa mạc. Nếu các cô chú không biết cách khắc
phục hậu quả thì xin đừng phá hoại thêm nữa!”
Kết
thúc sáu phút trình bày của cô bé, ông Al Gore, sau này trở thành phó tổng thống
Mỹ, đã chạy tới chúc mừng Severn Suzuki về một bài phát biểu mà ông thấy “hay
nhất, muốn nghe nhất tại hội nghị.”
Cô
đã bỏ ra hơn 20 năm đi khắp thế giới, diễn thuyết và cảnh báo về hiểm họa môi
trường bị hủy hoại. Còn Thánh Gioan Tiền Hô hơn 2000 năm trước, đã hùng hồn,
gay gắt, cảnh báo khẩn cấp và quyết liệt hơn nữa, về cuộc phán xét của Thiên
Chúa.
11. Giá trị của nước mắt
sám hối
Ông
Khấu Chuẩn thuở nhỏ tính hay du đãng, không giữ lễ phép, lại thích chơi chim
chơi chó. Bà mẹ vốn là người nghiêm khắc thấy con như thế thì quở phạt luôn mà
cậu vẫn không chừa.
Một
hôm, ông bỏ học đi chơi, bà mẹ giận lắm, cầm quả cân ném trúng chân ông máu chảy
đầm đìa. Từ bấy giờ ông không dám lêu lổng, phóng túng, chỉ chuyên cần học tập.
Về
sau ông thi đỗ làm quan đến chức tể tướng. Lúc ông quí hiển thì mẹ ông đã tạ thế
rồi. Mỗi khi ông sờ đến vết thương ở chân thì ông lại nức nở khóc lóc mà nói rằng:
“Chính vết thương này đã làm cho ta nên người.”
Có
nhiều dòng nước mắt trong cuộc đời: Có những nước mắt của đau khổ, nước mắt của
niềm vui, nước mắt của ly biệt, nước mắt của tiếc thương. Nhưng chỉ có nước mắt
của sám hối là có giá trị hơn cả. Nước mắt sám hối khép lại quá khứ để mở cửa
tương lai. Nước mắt sám hối rửa sạch tội lỗi để lộ ra ân sủng.
12. Để vẽ được Chúa Giêsu
Ông
Leonard de Vinci là tác giả bức họa Tiệc ly rất nổi tiếng. Ông vẽ 12 tông đồ và
Chúa Giêsu mất nhiều ngày. Một bữa kia ông có chuyện cự cãi với một người và đã
chửi mắng ông này nặng lời sau đó ông vào xưởng vẽ để tiếp tục vẽ khuôn mặt
Chúa Giêsu.
Nhưng
khi cầm bút lên ông không thể nào vẽ được, nên ông nhận ra lỗi mình, liền bỏ
bút vẽ xuống, ra ngoài tìm người người ông mới bức súc chửi mắng và xin lỗi ông
ta, hai người làm hòa với nhau, sau đó ông trở về xưởng vẽ và lúc này cầm bút
lên ông tiếp tục vẽ được khuôn mặt Chúa Giêsu cho tới khi hoàn thành.
13. Bắt đầu từ chính mình
Cũng
tại Hoa Kỳ, Luật Tiểu Bang cấm gọi điện thoại khi lái xe. Ai vi phạm sẽ bị phạt
100 đồng. Một hôm ông Thị Trưởng đi làm bị kẹt xe giữa đường. Hàng xe dài nối
duôi nhau chẳng tiến mà cũng chẳng lùi được. Quên luật cấm, ông Thị Trưởng móc
điện thoại di động ra liên lạc xem Ty Cảnh Sát có trách nhiệm giải quyết vụ kẹt
xe đến đâu rồi. Bị nhà báo chụp hình ông đang nói điện thoại vi phạm luật cấm.
Khi nạn kẹt xe được tháo gỡ, lưu thông trở lại bình thường. Ông Thị Trưởng lái
xe thẳng tới sở Cảnh Sát, ông bình thản móc túi nộp 100 đồng tiền phạt.
Khi
được hỏi, ông trả lời: "Đã có luật thì phải chấp hành, bất kể trong trường
hợp nào và là ai. Tôi vi phạm nên tôi phải nộp phạt.”
Khi
đã khẳng định: Thượng bất chính thì hạ tắc loạn, nghĩa là người trên, kẻ lớn chả
ra sao, thì cấp dưới, con cái nhất định cũng chẳng ra lề thói gì.
Ngược
lại, lời khẳng định trên cũng hàm chứa điều này: Nếu người trên, kẻ cả tuân thủ
luật pháp một cách nghiêm túc, thì chắc chắn cấp dưới sẽ chẳng có cửa nào để
làm càn. Chẳng cần ngồi lắc đầu nhìn những việc lỗi đạo hoặc than ngắn thở dài
về sự xuống cấp đạo đức nơi gia đình, ngoài xã hội, có lẽ nên bắt chước gương
người cha hoặc gương cấp trên của ông Thị Trưởng, chắc là hữu ích.
Lạy
Chúa, để dọn mình chờ đón Chúa đến, con xin hứa sẽ nghe lời Gioan kêu gọi mà thực
tâm cải thiện đời sống chính mình và kêu gọi người khác cùng thi hành với con.
14. Ngày cả nước sám hối
Đứng
trước tình trạng của một quốc gia không còn nhận biết hồng ân Thiên Chúa, Tổng
thống Abraham Lincoln đã chỉ định ngày 30 tháng 4 năm 1863 là Ngày Toàn Quốc Chay
Tịnh, Hãm Mình, và Cầu Nguyện.
Trong
dịp này, Tổng thống Lincoln đã nói: “Chúng ta đã được lãnh nhận biết bao ơn
phúc của trời cao. Qua nhiều năm, chúng ta được sống trong bình an và thịnh vượng.
Đất nước chúng ta đã phát triển về dân số, thế lực, và kinh tế, như chưa từng
có trong lịch sử nhân loại. Nhưng chúng ta đã quên Thiên Chúa... Với một trái
tim đầy ắp tự mãn, chúng ta mộng tưởng rằng những gì chúng ta có là do sự khôn
ngoan vượt mực của mình. Say sưa trong sự thành công của mình, chúng ta không
còn thấy sự cần thiết của ơn thánh Chúa, và trở nên kiêu hãnh đến nỗi không còn
cảm thấy nhu cầu phải cầu nguyện với Đấng đã tác thành nên mình. Vì vậy, chúng
ta cần phải hạ mình xuống trước Đấng mà chúng ta đã xúc phạm, phải xưng thú tội
chung của quốc gia, và cầu xin ơn thương xót và tha thứ.”
Mới
đây, khi nhìn vào hiện trạng của thế giới, mục sư Billy Graham đã có nhận xét
sau đây: “Chúng ta đang mắc phải một chứng bệnh trầm trọng. Chứng bệnh này
không liên quan đến vấn đề chủng tộc, không phải là cảnh nghèo khó, và cũng
không phải là chiến tranh. Chứng bệnh trầm trọng này liên quan đến trái tim của
chúng ta. Chúng ta cần một trái tim đổi mới.”
Đó
cũng là lời kêu gọi của Thánh Gioan Tẩy giả đối với mỗi người chúng ta trong những
ngày chuẩn bị mừng kỷ niệm ngày Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người: “Hãy ăn
năn thống hối, vì Nước Trời đã gần đến.”
15. Lời khuyên duy nhất
Truyện
ngắn Lời Khuyên Duy Nhất đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp từ số tháng
12/1996-05/1997 là một truyện giả tưởng thuật về việc Chúa Giêsu đích thân đến
giảng tĩnh tâm vào mùa Vọng 1999 ở một giáo xứ của người Việt Nam tại Hoa kỳ, để
giúp mọi người chuẩn bị bước vào đệ tam thiên niên kỷ.
Vì
được cha xứ cho biết chính Chúa Giêsu sẽ đến giảng tĩnh tâm cho giáo xứ vào tối
thứ bảy 27/11/1999, áp Chúa nhật thứ nhất của mùa vọng dẫn vào năm 2,000, mọi
người trong xứ đều thu xếp công việc để đến tham dự. Ai nấy đều cảm thấy mình bị
đánh động mãnh liệt khi lắng nghe những lời giảng dạy từ môi miệng của chính
Chúa Giêsu. Sau khi nghe Chúa giảng, một số người muốn xin Chúa cho họ một lời
khuyên để làm hành trang cho cuộc sống mới của họ sau khi gặp gỡ Chúa.
Lời
khuyên duy nhất mà Chúa nói với mọi người - từ những người mang tiếng là xấu xa
tội lỗi như cậu Johnny Lê, cô Tư Ngựa và ông Sơn Rô đến những người được tiếng
là đạo đức thánh thiện như “bà Năm xướng kinh”, từ giáo dân trong xứ đến cả cha
xứ và cha phó - chính là những lời Chúa đã nói với mọi người khi bắt đầu cuộc đời
truyền giáo công khai của Người. Đó là: “Hãy hối cải và tin vào Tin mừng.” Và
ai nấy đều cảm nhận rằng đó chính là lời khuyên thích đáng nhất, cần thiết nhất,
và ích lợi nhất cho họ.
Với
Johnny Lê, hối cải nghĩa là phải bỏ lối sống đi hoang và băng đảng để trở về
nhà giúp mẹ, học hành tử tế và sống đạo tích cực qua việc xin làm huynh trưởng
đoàn thiếu nhi.
Với
Tư Ngựa, hối cải nghĩa là phải trở về làm hòa với cha mẹ, bỏ lối sống lang chạ
để bắt đầu một cuộc đời trong sạch.
Với
ông Sơn Rô, hối cải nghĩa là đóng cửa sòng bài, sàn nhảy, bỏ luôn lậu cần sa,
không tiếp tụd mướn bọn cao bồi cướp phá uy hiếp các cửa tiệm của bà con đồng
hương, bồi thường các thiệt hại đã gây cho người khác, và trở về sống với vợ
con và sinh hoạt cùng giáo xứ.
Với
“bà Năm xướng kinh”, hối cải nghĩa là phải từ bỏ hình ảnh một Thiên Chúa khó
tính và khắc nghiệt để tin tưởng nơi một Thiên Chúa đầy lòng khoan dung từ ái;
phải tìm sự an bình nội tâm bằng cách cậy trông nơi tình thương vô cùng của
Chúa và công nghiệp Chúa Kitô chứ không phải dựa vào các việc thiện của riêng
mình.
Với
ông chủ tịch hội đồng giáo xứ, hối cải nghĩa là phải bỏ đi sự tự ái, tính sợ dư
luận gièm pha, để dấn thân cho lợi ích chung.
Với
cha phó, hối cải nghĩa là phải từ bỏ lối nhìn Giáo hội với con mắt thế gian, phải
cố gắng sống theo các Giáo huấn chân thực tốt lành của Giáo hội chứ không đòi Hội
thánh phải thay đổi Giáo huấn cho phù hợp với lối sống của mình, và phải gia
tăng lòng yêu mến gắn bó với Mẹ Maria và Hội thánh.
Với
cha xứ, hối cải nghĩa là phải tận lực quan tâm làm đẹp lòng Chúa hơn là tìm
cách lấy lòng dân chúng, phải sống như một ngôn sứ chứ không phải một chính
khách, phải quan tâm đến việc truyền giáo chứ không được tự thỏa vì sự sung túc
điều hòa của giáo xứ.
Câu
truyện kết thúc bằng việc chính cha xứ đã thực hiện lời khuyên ấy trước tiên
qua việc ngài xin xưng tội cùng cha phó khi đồng hồ điểm 12:00 AM, giờ bắt đầu
Chúa nhật thứ nhất mùa vọng dẫn vào năm 2000.
16. Hãy tiếp rước nhau
như chính Chúa đã tiếp rước anh em
Mẫu
gương thứ nhất về cha Thelliler de Poncheville. Ngài là một nhà giảng thuyết nổi
tiếng, nhưng lại giàu lòng bác ái yêu thương. Ngày kia khi nghe biết có một người
đàn bà tội lỗi bị đau nặng tại nhà thương, ngài liền mua một chiếc quạt, đem đến
biếu và thăm hỏi. Ngài nói với bà ấy:
-
Tôi tới đây thăm bà vì tôi yêu thương linh hồn bà.
Người
đàn bà thực sự cảm động và nói:
-
Thưa cha, nhiều người cũng đã đến thăm con và nói rằng yêu thương con, nhưng Lời
Chúa và chiếc quạt này đã mang lại cho con một ý nghĩa khác.
Tình
thương của cha đã làm cho tâm hồn bà tìm về cùng Chúa, trong khi đó, sự khinh bỉ
đã đảy bà tới chỗ oán hận và tuyệt vọng.
Mẫu
gương thứ hai về thánh Gioan Cottolengô. Ngài là một người đã hiến trọn cả cuộc
đời để chăm sóc những người đau yếu, điên khùng và bất hạnh. Ngài tận tình giúp
đỡ họ bằng những việc làm cụ thể. Ngài an ủi họ bằng những lời lẽ đơn sơ và
chân thành, bởi vì ngài luôn ý thưc mỗi khi làm như thế là làm cho chính Chúa.
Từ lời nói đến việc làm, bao giờ ngài cũng tỏ cho họ thấy một tình yêu thương
trìu mến.
17. Đâu là điều tôi tìm kiếm
Trong
cuốn “Thư ngỏ tuổi đôi mươi”, André Maurois cảnh báo về “những mối nguy của thời
đại chúng ta”, về cái dại khờ đáng kể trong sự nhận biết. Ông viết:
"Chúng
ta đã thấy những cái điên khùng không tưởng tượng nổi. Nhật báo Anh đã đăng tin
một nhà chơi dương cầm vô danh quảng cáo rầm rộ rằng sẽ có một buổi diễn tấu nhạc
yên lặng. Đúng ngày đó, phòng chật ních thính giả. Bậc diệu thủ im lặng ngồi
trước mặt đàn, làm bộ chơi đàn không gây một âm thanh nào cả. Thính giả liếc trộm
các người ngồi bên xem có nên phản kháng không. Nhưng các ông ngồi bên cứ thản
nhiên, cử toạ đều kiên nhẫn, ngồi yên. Sau hai giờ yên lặng buổi tấu nhạc chấm
dứt. Nhạc sĩ đứng dậy chào thính giả. Cử toạ nồng nhiệt vỗ tay khen. Hôm sau,
trên vô tuyến truyền hình, nhạc sĩ im lặng đó kể lại câu chuyện và kết: “Tôi muốn
biết xem cái ngu xuẩn của con người tới mức nào; nó thật vô biên.”
Maurois
nói: “Tôi thì tôi không nói 'cái ngu xuẩn' mà nói 'cái nhu nhược' của con người.
Những thính giả đó biết rằng họ không nghe thấy gì cả, nhưng họ sợ rằng nếu phản
kháng thì không hợp thời.”
Vấn
đề ở đây không phải là phải gọi đó là 'cái ngu xuẩn' hay là 'cái nhu nhược', mà
là tôi có thực sự muốn tìm kiếm sự thật hay không.
18. Chúa ở đâu trong đời
tôi
Có
một người đàn bà kia mua vé xe lửa đi qua một vùng có nhiều phong cảnh đẹp để
thưởng ngoạn. Lên tàu, bà loay hoay mãi mới để các gói hành lý lên giá cho đúng
ý mình, rồi chỉnh lại màn che cửa sổ cho phù hợp với ánh nắng, rồi lại đi lên
đi xuống kiếm cho được một chỗ ngồi êm ái, rồi mở ví ra kiểm tra lại xem tiền
có còn đủ cho chuyến về không, rồi ngồi tính toán xem có thể mua những gì với
túi tiền của mình.
Cuối
cùng, khi vừa ngả mình để thưởng ngoạn phong cảnh đẹp bên ngoài thì cũng là lúc
tàu đến chỗ chỗ dừng tàu. Bà càu nhàu: “Xe chạy mau quá, chưa kịp xem gì thì đã
đến nơi rồi!”
Thật
đáng tiếc! Cuộc du ngoạn đã bị đánh mất, vì bao việc lặt vặt!
Thế
nhưng đâu là những việc choán đầy cuộc sống của tôi hôm nay? Phải chăng cuộc đời
tôi giống như lời ĐHY Nguyễn văn Thuận mô tả: “Đứng trên tầng lầu cao nhìn xuống
đường, con thấy làn sóng người cuồn cuộn. Đủ loại xe, đủ hạng người, dành nhau,
tông nhau, đâm đầu chạy, vội vã hấp tấp, hốt hoảng, vì tình, vì tiền, vì tham vọng,
vì đua sống.” (ĐHV 82)
Không
chỉ là một cuộc du ngoạn bị đánh mất mà là cả một cuộc đời! Tôi phải tự hỏi
mình: Tôi nói rằng tôi tin vào Chúa… nhưng nay Chúa đang ở đâu trong đời tôi?
19. Sám hối nửa vời
Trong
một buổi diễn thuyết với đề tài “Ngay thật”, nhà văn nổi tiếng của
Mỹ là Mark Twain đã kể lại kinh nghiệm của chính ông: “Khi còn là
một đứa trẻ, ngày nọ đang đi đường, tôi thấy có người kéo chiếc xe
chở đầy dưa, loại trái cây tôi rất thích, tôi rón rén đến phía sau
thùng xe và chộp lấy một quả, rồi chạy vội vào con hẻm gần bên,
cắn một phát ngập chân răng vào trái dưa cho thỏa cơn thèm. Nhưng ngay
lúc ấy, một cảm giác ân hận tràn ngập con người tôi. Không một chút
do dự tôi quyết định ngay, vội quay lại chiếc xe trả lại quả dưa lạt
lẽo. Tuy vậy, khi nhìn thấy những trái chín mọng trên xe, tôi lại đưa
đôi bàn tay ra để lấy hai trái khác.”
Giống
như cậu bé Mark Twain, có những người ân hận về những việc sai trái
đã làm, nhưng vẫn tiếp tục phạm. Ân hận như thế là sám hối nửa
vời.
Quan
Philatô muốn tha Đức Giêsu vì thấy Người không có tội chi đáng chết,
nhưng vì sợ hãi trước áp lực của đám đông, nên đã ký bản án đóng
đinh một người mà ông biết rõ là vô tội. Để che đậy hành vi thiếu
trung thực này, quan đã rửa tay trước mặt dân chúng và tuyên bố: “Ta
vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi.” (Mt 27, 20-26)
Nói và làm như vậy, quan Tổng Trấn chỉ ân hận hình thức.
Giuđa
đã bán Thầy với giá 30 đồng bạc, khi thấy Đức Giêsu bị tra tấn và
xỉ nhục, ông rất hối hận nên đã đem trả lại tiền và đi thắt cổ (Mt
27, 3-5). Giuđa đã sám hối trong nỗi tuyệt vọng, vì không đủ tin vào
tình thương tha thứ của Đấng đã dạy phải tha cho anh em đến bảy mươi
lần bảy.
Lòng
sám hối chân thành phải thúc đẩy chúng ta đi đến quyết tâm từ bỏ
những hành vi xấu, và kiên trì sửa lỗi bằng cách làm việc thiện, như
Thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi: “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng
thống hối.” (Mt 3, 8)
20. Tiếng lương tâm
Dương
Chấn được bổ đi làm thái thú quận Đông Lai, khi nhậm chức đi qua đất Xương Ấp.
Quan huyện ở đấy là Vương Mật, trước được ông đề bạt, xin vào yết kiến. Rồi đợi
đêm khuya lại đem vàng đến lễ.
Dương
Chấn bảo: “Trước tôi biết ông là người khá, mới cử ông lên, thế mà ông vẫn chưa
biết bụng tôi, còn đem vàng bạc đến cho tôi ư?”
Vương
Mật cố nài, thưa rằng: “Xin ngài cứ nhận cho. Bây giờ đêm khuya không ai biết?”
Dương
Chấn nói: “Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, sao lại bảo không ai biết?”
Vương
Mật nghe nói, xấu hổ lùi ra.
21. Chọn Nước Trời
Cách
đây nhiều năm, một người đàn ông bị xúc động mạnh khi đọc thấy caó phó của
chính mình trên một nhật báo buổi sáng. Người ta đưa tin cái chết của ông một
cách lần lẫn. Nhưng điều khiến ông bàng hoàng hơn cả là bản cáo phó đã mô tả
ông như một người đã cống hiến cả đời để chế tạo vũ khí chiền tranh. Sáng hôm
đó, ông quyết định sử dụng năng lực của mình theo một hướng mới, đó là hoạt động
cho hòa bình thế giới và cải thiện nhân loại. Người đàn ông ấy là Alfred Nobel,
người sáng lập ra giải Nobel hòa bình.
Lời
của Gioan tẩy giả kêu gọi chúng ta hoán cải và quyết định của Nobel sử dụng
năng lực của mình theo một hướng mới thúc đẩy tôi kiểm điểm và đánh giá lại mục
đích của tôi trong cuộc đời.
[Chúa
Giêsu nói:] “Một người được cả thế giới, mà đánh mất chính mình hay là thiệt
thân, thì nào có lợi gì? (Lc 9,25).
CNMV 2B - DỌN ĐƯỜNG CHỜ CHÚA
Lời
Chúa: Mc 1, 1-8
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khởi
đầu Phúc Âm của Ðức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa.
Như
có lời Tiên tri Isaia chép rằng: Ðây Ta sai Thiên Thần của Ta đến trước mặt
ngươi để dọn đường cho ngươi.
Có
tiếng kêu trong hoang địa rằng: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa
cho ngay thẳng." Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, rao giảng phép rửa
sám hối cầu ơn tha tội. Dân cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với người,
thú tội và chịu phép rửa trong sông Giođan. Lúc đó Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt
lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng.
Người
rao giảng rằng: "Ðấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, tôi không đáng cúi
xuống cởi dây giày Người. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, còn Ngài,
Ngài sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần."
TRUYỆN KỂ
1. Dọn đường cho Chúa
Trong
một trận lũ lụt kia, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc - Nam bị kẹt ở miền
Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường
sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc - Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị
nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn.
Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên
đành chịu bó tay.
Những
con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra.
Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc
giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc
cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu
trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật
tốt.
Con
đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị
hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.
Tương
tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến.
Phương
thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch.
Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa.
Phương
thế thứ hai là mặc áo da thú. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống
thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ.
Phương
thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế.
2. Hãy dọn đường
Trong
cuốn “Nội lực nơi bạn” (the power within you), Pat William ở tiểu bang
Philadelphia có kể một câu chuyện đặc biệt sau đây:
Năm
1980, vào một buổi trưa Chúa nhật nóng bức, một bệnh nhân trẻ bị chứng tê liệt
não bộ tên là Cordell Brown đang đi bộ đến câu lạc bộ quán quân thế giới
Philadelphia Phillies. Cordell bước đi hết sức khó khăn, nói năng cũng rất là
khó. Ăn uống đối với anh là một bổn phận hết sức nặng nhọc. Khi thấy Cordell tới,
nhiều người quay mặt đi đàng khác, hoặc cố tình không nhìn thấy anh. Đó là cách
phản ứng của một số người trong hội Phillies khi thấy Cordell đi tới câu lạc bộ.
Cordell
làm gì trong câu lạc bộ Phillies vậy? Anh được mời tới đó để nói chuyện với những
tay ăn chơi trong một buổi nói chuyện tại nhà nguyện câu lạc bộ.
Cordell
có thể nói gì với những ngôi sao màn bạc như Steve Carleton và Mike Schmit, những
người sống rất xa cách với thế giới đau khổ và dị tật của anh?
Một
vài người trong hội Phillies cũng tự hỏi như thế khi họ ngồi xuống để chuẩn bị
nghe anh nói. Cordell bắt đầu bằng cách làm sao cho các tay ăn chơi đó cảm thấy
thoải mái dễ chịu. Anh nói: "Tôi biết rằng tôi rất là khác biệt với các bạn."
Rồi anh trưng đoạn thư Thánh Phaolô (1Cr. 15,10): nhưng nhờ ơn của Thiên Chúa
mà tôi được như thế này.
Suốt
20 phút kế đó, Cordell đã nói về lòng nhân hậu của Thiên Chúa được thể hiện
trong cuộc sống của anh. Anh kết luận bằng cách trả lời cho câu hỏi này: Anh có
thể nói gì với những siêu minh tinh nổi tiếng như Steve Carleton và Mike
Schmit, là những người sống hết sức xa cách với thế giới của những người đau khổ
tật nguyền như anh?
Cordell
nói một cách rất duyên dáng: "Bạn có thể thành công suốt cả cuộc đời, và
lãnh cả triệu đôla mỗi năm, nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà người ta đóng nắp
hòm quan tài của bạn lại, thì bạn sẽ chẳng khác tôi chút nào. Đó là lúc mà mọi
người chúng ta đều y như nhau. Tôi không cần tới những gì các bạn đang có trong
cuộc sống, nhưng có một điều tôi chắc chắn rằng: các bạn cần một điều mà tôi
đang có, đó là Đức Giêsu Kitô."
3. Chúng ta cũng phải
sám hối.
Sám
hối, theo tiếng Hy lạp có nghĩa là thay đổi não trạng. Theo tiếng Do thái là
quay trở về, trở lại, tức là trở về với Chúa, với giao ước của Chúa. Gioan rao
giảng kêu gọi mọi người sám hối. Ai nghe lời ngài giảng mà sám hối thì được
ngài làm phép rửa. Nhưng phép rửa của ngài chỉ có tính cách giúp người ta thống
hối, sửa soạn cho việc tha tội, chứ không phải là một bí tích như phép rửa Chúa
Giêsu sẽ thiết lập sau này.
Sám
hối là biết trở về, nghĩa là phải nhận biết tội lỗi của mình, biết nhìn nhận ra
thực trạng của linh hồn mình, nhưng mấy người biết nhìn ra tội lỗi của mình. Biết
thực trạng con người của mình là điều kiện cần thiết của sự sám hối.
Gần
20 thế kỷ nay, thánh Phaolô tông đồ đã nói: “Tôi xử sự như một thằng điên và
sai lầm của tôi thì nhiều vô kể."
Hùm
thiêng khi đã sa cơ như Napoléon lúc ngồi vò võ tại đảo Sainte Hélène cũng phải
tự thú: “Sự sụp đổ này là tại chính tôi, tôi là tử thù của tôi, là nguyên nhân
mạt kiếp của tôi."
Tâm
hồn thánh thiện như thánh Phaolô, một bộ óc vĩ đại như Napoléon mà còn buông ra
những lời tự thú như vậy thì huống hồ là chúng ta...hay làm lỗi mà ít khi chịu
nhận là mình lầm lỗi.
Triết
gia Elbert Hubbart nói: “Người nào cũng sai lỗi ít là 5 phút mỗi ngày. Bậc
thánh nhân là không để vượt qua thời gian kỷ lục ấy."
4. Biết nhận lỗi mình.
Công
tước d’Ossone, một nhà chính trị trứ danh, vào năm 1624 lên chức phó vương ở
Naples. Một hôm, ông đến thăm nhà ngục và hỏi từng phạm nhân là đã làm gì mà
mình bị giam
Tất
cả mọi tù nhân đều kêu là mình bị oan, duy chỉ có một anh cúi đầu nhận tội, và
còn nói đáng lẽ ra mình phải chịu phạt hơn nữa mới xứng đáng. Thấy hắn khiêm
nhường nhận lỗi, công tước bảo: “Như vậy thì anh ở đây không phải chỗ: anh có tội
mà sao lại ở giữa những người vô tội này? Hãy ra khỏi đây, Ta tha cho
anh."
Chúa
cũng sẽ tha tội cho tất cả những ai thành thật thú nhận tội lỗi của mình, bởi
vì bản tính của con người là hay sa ngã, còn bản tính của Thiên Chúa là hay tha
thứ!
Đức
Khổng Tử đưa ra môt chương trình giáo dục mà ngày nay vẫn còn có giá trị.
Chương trình đó là: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”: muốn cai trị được
thiên hạ, muốn đem lại được bình an thịnh vượng cho thế giới thì trước tiên phải
“tu thân”, phải sửa mình cho nên tốt đã. Mình có tốt thì mới điều khiển được
thiên hạ, mới có thể đưa xã hội vào con đường ngay chính, mới đưa đến trật tự
an toàn, mới có hoà bình trật tự. Còn nếu muốn điều khiển thiên hạ mà mình chưa
tốt thì sẽ rơi vào tình trạng “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”:
5. Kinh nghiệm của một
triết gia.
Một
vị thiền sư Ấn giáo vào tuổi cao niên đã phát biểu cảm nghĩ về cuộc đời của ông
từ nhỏ tới lớn đã từng trải qua như sau:
-
Lúc còn trẻ, tôi là một thiếu niên có những suy nghĩ táo bạo và đầy quyết tâm.
Khi nhìn thấy thế giới chung quanh đầy tội lỗi gian ác, tôi đã mạnh dạn cầu
nguyện với Thượng Đế như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con có đủ khôn ngoan để biến
đổi thế giới tội lỗi xấu xa này nên thánh thiện tốt đẹp hơn."
- Rồi
khi đến tuổi trưởng thành, tôi đã nghiệm ra rằng: Tôi đã trải qua nửa đời người
rồi mà vẫn chưa biến đổi được ai nên tốt hơn. Lúc đó, tôi đã thay đổi lời cầu
nguyện như sau: “Lạy Chúa, xin cho con đủ sức biến đổi mọi người trong gia đình
và bè bạn của con nên tốt hơn. Và như vậy đã đủ làm cho con thỏa mãn."
-
Nhưng giờ đây đến tuổi xế chiều, “răng nong tóc bạc”, khi ngày tháng đời tôi sắp
đến lúc chấm hết, tôi mới nhận ra rằng: tôi đã thật khờ dại biết bao! Tôi đã chẳng
làm được điều tốt nào cho ai cả. Bây giờ tôi chỉ còn biết khiêm tốn cầu nguyện
như sau: “Lạy Chúa, xin giúp con đủ nghị lực để biến đổi chính bản thân con… Giả
như tôi đã sớm hiểu biết và cầu nguyện quyết tâm như vậy ngay từ lúc còn trẻ,
thì tôi đã không phí thời gian cách vô ích rồi."
6. Dâng yếu đuối và tội
lỗi
Vào
một đêm lễ Giáng Sinh kia. Giêrônimô đang cầu nguyện trong một hang đá ở rừng vắng,
ngài suy niệm về mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người.
Đột
nhiên Chúa Giêsu hiện ra hỏi ngài: “Giêrônimô, con có gì làm quà cho Ta trong
ngày sinh nhật của Ta không?" Ngài thưa: “Lạy Chúa, con xin dâng Chúa trái
tim của con." Chúa nói: “Còn gì khác nữa không?" Ngài thưa: “Lạy
Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những gì con có và tất cả những gì con có thể."
Chúa lại hỏi: “Còn điều gì khác nữa không?" Ngài thưa: “Lạy Chúa, con mới
dịch sách Thánh xong, con xin dâng Chúa bản dịch công lao vất vả của con."
Chúa nói: “Tốt lắm, con còn điều gì nữa không?"
Ngài
thưa: “Lạy Chúa, con còn gì nữa đâu?" Chúa bảo: “Còn sự yếu đuối và tội lỗi
của con, con hãy dâng những thứ ấy cho Ta." Giêrônimô hốt hoảng thưa: “Lạy
Chúa, làm sao con dám dâng những cái ấy?" Chúa nói: “Được chứ, Ta muốn con
dâng những cái đó cho Ta để Ta tha thứ cho con. Đó là điều Ta mong đợi."
Câu
chuyện trên nhắc nhở: Chúng ta phải có tâm hồn sám hối để được Chúa tha thứ.
7. Sám hối - điều kiện để
được tha tội:
Một
hôm, vị Phó Vương xứ Naples là công tước d’ Osone khi mới lên nhậm chức, ông
quyết định sẽ ân xá cho các tù nhân có biểu hiện sám hối thực sự. Ông đã đích
thân đến thăm nhà ngục và xét hỏi từng người để sẽ ban lệnh ân xá cho họ. Khi
được hỏi, hầu hết tù nhân đều kêu mình bị oan. Riêng chỉ có một người là sẵn
sàng nhận tội, và còn nói lẽ ra mình phải chịu mức án nặng hơn mới đáng với tội
của mình. Thấy phạm nhân thành tâm nhận lỗi, vị công tước liền nói với anh như
sau: ”Anh đã nhận mình là tội nhân đang khi nhiều người khác lại chối tội. Như
vậy nhà tù này không hợp với anh, nên anh được ân xá và sẽ lập tức được trở về
nhà."
Một
người phàm như công tước xứ Naples mà còn có lòng thương xót và sẵn sàng tha thứ
cho một tù nhân có lòng khiêm hạ sám hối, phương chi Thiên Chúa là Cha giàu
lòng từ bi thương xót lại không tha thứ lỗi lầm cho những hối nhân sám hối và
quyết tâm cải tà quy chính hay sao? Bởi vì nếu bản tính của loài người là kẻ yếu
hèn và dễ phạm tội, thì Thiên Chúa lại là “Đấng từ bi nhân hậu, chậm giận và
giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Ngài không cứ
tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm” (TV 103,8-10).
8. Gương sáng hiệu quả
hơn lời giảng:
Vào
thế kỷ 12, nhiều tệ đoan đã xảy ra trong nội bộ Hội thánh, nhiều bè phái đã nổi
lên ở khắp nơi phê phán chỉ trích nếp sống xa hoa của nhiều chủ chăn trong Hội
thánh.
Lúc
đó hai thánh Phan-xi-cô thành Át-si-si và thánh Đa-minh đã được Thiên Chúa sai
đến với sứ mạng thức tỉnh và canh tân Hội thánh. Các ngài đã không lớn tiếng
phê phán bất cứ ai, nhưng luôn ý thức người phải ăn năn sám hối trước hết là chính
bản thân các ngài. Các ngài không khoe khoang thành tích đã làm được, không
tham lam của cải vật chất và địa vị quyền hành, không sống giả hình đạo đức…
Tuy
cả hai vị đều thuộc dòng dõi quý tộc, nhưng các ngài đã từ bỏ tất cả địa vị
danh vọng tiền của vật chất để chọn lối sống khó nghèo, hiền hòa và khiêm tốn
phục vụ người nghèo của Chúa Giêsu trong Tin Mừng.... Thánh Đa-minh đã lập dòng
“Anh em thuyết giáo” (OP), còn thánh Phan-xi-cô lập dòng “Anh em hèn mọn”
(OFM).
Các
tu sĩ của hai dòng khổ tu này có nếp sống đơn giản: ăn mặc quần áo vải thô,
ngày ngày đi chân đất qua các xóm làng khất thực và đến tối lo dạy giáo lý cho
người lớn và trẻ em tại các nhà thờ lâu ngày bỏ hoang, tổ chức những tuần tĩnh
tâm cho các tín hữu. Chẳng mấy chốc tiếng lành đồn xa, cuộc sống nghèo khó và đạo
đức của các ngài đã được nhiều vị chủ chăn và các tín hữu nhận biết nể phục.
Nhiều tội nhân và người theo lạc giáo đã được ơn Chúa hồi tâm sám hối trở về với
Hội thánh Công giáo.
Nhờ
sự quyết tâm canh tân vừa bằng lời giảng kèm theo gương sáng của các vị chủ
chăn, các tu sĩ nam nữ và các tín hữu mà con thuyền Hội Thánh đã vượt qua nhiều
cơn phong ba bão táp có nguy cơ chìm đắm.
9. Tha thì quên
Có
anh chồng kia xúc phạm đến chị khi đi lăng nhăng gì đó. Chị biết được, nên
chàng xin lỗi chị, chị tha cho. Nhưng thỉnh thoảng chị vẫn nhắc lại chuyện xưa.
Hơi bị chạm, nên chàng nói.
-
“Chuyện đó em đã tha thứ cho anh rồi mà.”
-
“Thì em nhắc lại cho anh biết là em đã tha thứ.”
Tha
nhưng không quên thì cũng gần như chưa tha. Đài truyền hình Mỹ kia tuần nào
cũng có một chương trình mang tựa đề: Forgive and Forget. Tha thứ và Quên luôn.
Bấy giờ cuộn gai mới được dẹp lại cất đi, chứ nếu dẹp lại rồi để đó thì con đường
vẫn có thể bị chặn lại, vì sơ ý là kẽm gai bung ra liền. Hãy dọn đường bằng
cách cuộn kẽm gai lại cất đi thì mới không chặn bước Chúa đến với bạn.
10. Nhận sai, sửa sai
Alfred
Nobel được biết tới như người cổ súy mạnh mẽ cho hòa bình, chống lại chiến
tranh. Nghiệt ngã thay, các sản phẩm sáng tạo nổi tiếng nhất của Nobel lại là
thuốc nổ, những công trình nghiên cứu chấn động với chất nitroglycerine và các
loại thuốc nổ khác.
Khi
tạo ra thuốc nổ, Nobel chưa từng nghĩ rằng các phát minh của ông rồi sẽ được
dùng để phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên khả năng tàn phá của thuốc nổ nhanh
chóng được biết tới và người ta đã đưa chúng vào sử dụng trong chiến tranh.
Vô
tình năm 1888, tờ báo Pháp đăng tin nhà khoa học phát minh ra chất nổ Alfred
Nobel qua đời với dòng tin:
"Tiến
sĩ Alfred Nobel, người trở nên giàu có nhờ tìm cách giết người nhanh hơn bao giờ
hết, đã qua đời hôm qua." Tờ báo dành cả trang để đăng bài cáo phó với
ngôn từ mỉa mai Nobel, "tưởng nhớ" ông như một "kẻ buôn bán tử
thần." Nhưng người chết khi đó là anh trai ông, Alfred Ludvig.
Bàng
hoàng trước nhận định ấy, Nobel quyết định sử dụng tài sản tặng thưởng cho những
thành tựu đem lại lợi ích cho nhân loại. Theo di chúc của Nobel, giải này sẽ chỉ
được trao cho những con người có công lao gây dựng tình anh em giữa các quốc
gia, giúp xóa bỏ hoặc giảm bớt quy mô quân đội thường trực và cổ súy cho các hội
nghị hòa bình.
11. Lầm lỗi và sám hối
Có
đôi vợ chồng nọ, mới cưới nhau về được khoảng một tuần, anh nói với vợ rằng,
-
Xin em hứa với anh là đừng bao giờ mở cái hộp này ra, bao lâu anh đang còn sống.
-
Người vợ gật gù đồng ý.
- Sau
bốn mươi năm sống chung, gia đình rất hạnh phúc. Một hôm ông đi vắng, bà ở nhà
một mình, tò mò lấy cái hộp từ dưới chân giường ra, không hiểu là ông đã giấu
cái gì trong hộp. Người vợ nghĩ rằng đã sống với nhau bốn mươi năm, cái gì cũng
biết hết rồi, ngoài trừ cái hộp này.
-
Bà liền mở hộp ra xem, và trong hộp có năm vỏ bia, và một trăm hai mươi lăm đồng,
năm chục xu. Bà nghĩ rằng chỉ có vậy thôi mà sao ông bí mật thế.
-
Khi Ông đi làm về, bà liền đến tự thú với ông. Và bà hỏi ông rằng, tại sao
trong hộp lại có năm vỏ bia? Ông trả lời, năm vỏ bia là tượng trưng cho mỗi lần
tôi làm lỗi với bà, thì tôi uống một lon. Người vợ thấy vậy cũng vui vui, vì
nghĩ rằng, sống với nhau bốn mươi năm, mà ông chỉ làm lỗi với mình chỉ có năm lần,
kể cũng quá ít.
-
Bà tiếp, vậy còn một trăm hai mươi lăm đồng, và năm chục xu thì sao?
-
Ông đáp, "thì là tiền bán vỏ lon bia."
-
Bà...."ố trời ơi!!!!!"
12. Giấc mơ hay hiện thực
Một
người kia kể lại giấc mơ khủng khiếp như sau: Tôi thấy mình đứng trước một biệt
thự nguy nga. Bước vào trong, tôi thấy hai hành lang với hai hàng chữ: Bên phải
dành cho người Công giáo, bên trái dành cho kẻ ngoại đạo. Theo bảng chỉ dẫn,
tôi đi theo hành lang bên phải dành cho người Công giáo.
Đi
được một lúc, tôi thấy mình đứng trước một ngã rẽ khác. Lần này tôi đọc thấy bảng
chỉ dẫn như sau: Bên phải dành cho kẻ có đức tin vững mạnh, bên trái dành cho kẻ
có đức tin yếu kém. Và tôi lại đi bên phải.
Đến
một ngã rẽ khác, tôi lại thấy một bảng chỉ dẫn: Bên phải dành cho những người
có lòng bác ái, bên trái dành cho những người ích kỷ. Tôi lại chạy qua bên phải
mà đi.
Cuối
cùng tôi gặp một bảng chỉ dẫn: Bên phải dành cho những ai có đời sống thánh thiện,
bên trái dành cho những kẻ tội lỗi. Một lần nữa tôi cứ chọn bên phải mà đi.
Nhưng tôi đang hân hoan rảo bước, thì bỗng một cảnh tượng hãi hùng khủng khiếp
hiện ra ở cuối hành lang ấy: cảnh hỏa ngục với muôn vàn hình khổ không lời nào
tả xiết. Tôi hoảng hốt kêu rú lên và giật mình thức giấc.
Sau
một phút tôi hoàn hồn và tự hỏi: “Phải chăng đời sống đạo của tôi cũng chỉ là một
giấc mơ hãi hùng?"
13. Hai chìa khóa thiên
đàng
Và
Đức cha JB. Bùi Tuần đã kể lại câu chuyện như sau:
Trong
một phòng khách của Đức Giáo Hoàng, tôi thấy có một bức tượng thánh Phêrô bằng
đồng đen, đặt trên bệ cao.
Có
lần tôi tò mò lại gần xem, thì thấy tay ông thánh Phêrô cầm một chùm hai chìa
khóa.
Tôi
tự hỏi: mở cửa thiên đàng thì một chìa là đủ, sao lại phải hai chìa?
và
đột nhiên một ý tưởng thoáng qua trả lời rằng:
Chùm
này là để mở lòng người. Kẻ tội lỗi cứng lòng thì một chìa là đủ. Còn người
công chính cứng lòng, thì hai chìa chưa chắc đã mở được.
Người
tự coi mình là công chính, đạo đức mà cứng lòng và tự mãn thì thật khó trở về.
14. Người dọn đường tâm
hồn--Lm. Nguyễn Minh Hùng
Mỗi
lần chuẩn bị cho xa giá của nhà vua đi qua một nơi nào đó, thường có một người
lính cầm loa phóng thanh đi trước hô to để dọn đường. Khi nghe tiếng loa báo hiệu
như thế, dân chúng sẽ thu dọn mọi thứ rác rến bừa bãi, thu dọn những gì bị coi
là không đẹp mắt, làm cho con đường sạch đón vua đi qua.
Cũng
thế, mỗi lần có một phái đoàn quan trọng của chính phủ đi trên đường phố, thường
có xe cảnh sát và đoàn xe mô tô đi trước, làm nhiệm vụ bảo vệ và dọn đường để
chuẩn bị cho xe của phái đoàn cấp cao đi qua.
Nhiệm
vụ của thánh Gioan Tẩy giả vừa giống như thế, nhưng cũng vừa không giống như thế.
Giống là vì thánh Gioan cũng được gọi là người dọn đường. Không giống là vì nhiệm
vụ của thánh Gioan quan trọng hơn, cao cả hơn: Thánh Gioan không dọn đường đi
như những người dọn đường cho vua chúa, nhưng là Dọn Đường Tâm Hồn.
Dọn
đường cho chính Thiên Chúa đi vào tâm hồn con người. Người dọn đường tâm hồn nhắn
gởi đến mọi người lời kêu gọi thống thiết: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường
Chúa cho ngay thẳng."
Cùng
với lời kêu gọi dọn đường cho Chúa là rao giảng phép rửa sám hối để đem mọi người
trở về với lòng ăn năn tội nhằm xin ơn tha thứ. Hóa ra dọn đường cho Chúa ngự
vào tâm hồn, không có gì khác hơn, nhưng chính là hoán cải đời sống và thú nhận
tội lỗi để được ơn tha thứ. Chỉ có tâm hồn trong sạch, một tâm hồn hoàn toàn
không vướng mắc tội lỗi mới xứng đáng cho Chúa ngự vào.
Dù
lời mời gọi của thánh Gioan Tẩy giả: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường
Chúa cho ngay thẳng" đã có từ rất lâu, nhưng vẫn rất phù hợp với mọi người
hôm nay. Vì ở đâu có tội lỗi, ở đó rất cần ơn ăn năn sám hối. Bạn và tôi có tội.
Cách duy nhất để dọn đường và sửa đường đón Chúa ngự vào tâm hồn là ăn năn sám
hối.
15. Thái độ cần có với
Chúa
Charles
Lamb là một văn sĩ nổi tiếng của nước Anh vào thế kỷ thứ 18. Buổi tối nọ, năm
sáu văn sĩ khác tụ họp ở nhà ông để thảo luận về các đề tài văn chương. Bỗng
nhiên, có người đặt vấn đề: Chúng ta sẽ làm gì nếu được gặp gỡ các danh nhân thế
giới trong các thời đại đã qua. Có người gợi ý:
- Nếu
giờ đây Dante bước vào phòng này?
-
Giả như đêm nay có Shakespeare cùng tham gia thảo luận với chúng ta?
Charles
Lamb hô to: - Tôi sẽ hân hoan giơ tay đón tiếp các vị như các hoàng đế của tư
tưởng.
Cuối
cùng một người nói:
-
Còn nếu bây giờ Đức Kitô bước vào phòng này?
Charles
Lamb nghiêm nét mặt nói:
-
Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều quỳ xuống.
Đó
là thái độ đúng đắn để tiếp đón Chúa Kitô. Người khác với mọi danh nhân trong lịch
sử, vì Người là Thiên Chúa.
16. Nước mắt sám hối:
Người
Hồi Giáo có câu truyện sau đây:
Ngày
kia, Đức Ala truyền cho một sứ thần xuống thế gian tìm xem có điều gì tốt đẹp
nhất để mang về trời. Sứ thần đáp xuống ngay một chiến trường, nơi máu của các
vị anh hùng đang chảy lai láng. Sứ thần thu nhặt một ít máu mang về cho Đức
Ala. Nhưng xem ra Đức Ala không hài lòng mấy. Ngài bảo: Máu đổ ra cho tổ quốc
và tôn giáo là một điều quý giá, nhưng vẫn chưa phải là điều tốt đẹp nhất nơi
trần gian."
Sứ
thần đành xuống thế một lần nữa. Lần này ngài gặp đám tang của một người giàu
có nhưng rất quảng đại. Vô số người nghèo đi theo sau quan tài, vừa đi vừa
khóc, vừa xông hương, để tỏ lòng biết ơn đối với vị đại ân nhân. Sứ thần liền
thu nhặt hương thơm đem về trời. Lần này Đức Ala mĩm cười đón lấy hương thơm
ngào ngạt. Nhưng xem ra Ngài vẫn chưa hài lòng. Ngài nói: Dĩ nhiên lòng biết ơn
là một trong những điều hiếm có và tốt đẹp nơi trần gian. Nhưng ta nghĩ cần có
một cái gì đó tốt đẹp hơn.
Lại
một lần nữa, sứ thần đành phải vâng lệnh. Sau nhiều ngày tìm kiếm khắp bốn
phương, một buổi chiều nọ ngồi nghỉ bên vệ đường, ngài bỗng thấy một người đang
khóc sướt mướt. Trước những câu hỏi đầy ngạc nhiên của sứ thần, người ấy giải
thích: “Tôi đã chìu theo cơn cám dỗ mà phạm tội. Giờ đây nước mắt là lương thực
hằng ngày của tôi." Sứ thần giơ tay hứng lấy những giọt nước mắt còn nóng
hổi và thẳng cánh bay về trời. Đức Ala chăm chú nhìn những giọt nước mắt rồi
mĩm cười nói: “Thế là ngươi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ."
Quả
thật dưới trần gian không có gì tốt đẹp và hữu ích cho bằng lòng sám hối, bởi
vì nó có sức canh tân cuộc đời. Một lòng sám hối chân thật có sức biến đổi mùa
đông giá rét của lòng người thành mùa xuân ấm áp của tình yêu, và đánh động
lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, khiến Người ban Con Một xuống thế làm Người cứu rỗi
thiên hạ.
17. Sứ giả dọn đường
Anh
Weaver làm công nhân hầm mỏ. Có lần anh vô tình làm cho một công nhân khác giận.
Anh này gầm thét lên: chắc tao phải cho mày mấy bạt tai quá. Weaver đáp: Nếu
anh thấy cần.
Thế
là người đó tát Weaver một cái. Anh đưa má kia, lại một tát nữa… Đến lần thứ 6,
người đó hậm hực bỏ đi. Weaver nói theo: Chúa tha cho anh. Tôi cũng thế. Và xin
Chúa cứu anh.
Sáng
hôm sau khi xuống mỏ, người đầu tiên mà Weaver gặp là kẻ đã tát anh. Anh mĩm cười
bắt tay. Người ấy bật khóc lên nói trong tiếng nức nở: Ôi anh Weaver, anh thực
sự tha cho tôi?!
Phải
chăng việc làm của anh Weaver, công nhân hầm mỏ này đã dọn đường cho Chúa đến với
bạn mình như lời Thánh Gioan Tầy Giả kêu gọi: “Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa,
sửa lối cho thẳng để Người đi."
18. Cái gì thuyết phục?
Một
vị khách đến ủy lạo thương binh trong bệnh viện. Ông hỏi:
-
Anh thuộc giáo hội nào?
-
Tôi thuộc Giáo Hội của Chúa Ki tô.
-
Cái gì thuyết phúc anh vào Giáo Hội đó?
-
Thuyết phục ư? Rồi nhìn lên tượng chịu nạn, anh tiếp: Phải, tôi bị Ngài thuyết
phục đến dộ ngay cả sự sống sự chết, thần quyền thế quyền… Khôn có gì có thể
tách tôi ra khỏi lòng mến Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.
19. Bán tất cả
Một
đệ tử thắc mắc hỏi Thầy Rapbi:
-
Thưa thầy, trong Phúc Âm Chúa Giêsu bảo người thanh niên giàu có bán hết gia
tài bố thí cho kẻ nghèo rồi đến theo Người. Như thế là phải từ bỏ hết mọi sự
trên đời này phải không?
Thầy
Rapbi trả lời bằng câu chuyện sau đây: Có một người rất ham đọc Phúc Âm. Một
hôm ông mở Kinh Thánh ra thấy ngay đoạn con nói đó. Ông vui mừng vì ông là người
muốn tìm đường cứu rồi. Lập tức ông bán hết tài sản bố thí cho người nghèo.
Thực
hiện Lời Chúa dạy xong, ông mở Kinh Thánh ra, cũng thấy ngay đoạn đó nữa. Ông
nghĩ là mình đã vâng Lời Chúa, bán hết gia tài sản nghiệp bố thí rồi, còn gì nữa
đâu. Bỗng ông sực nhớ còn quyển Kinh Thánh, thế là ông đem bán nốt…
20. Khách dọn đường
Một
khách du lịch nhân lúc mệt mỏi trưa vắng đã ghé vào túp lều tranh của vị thừa
sai trong một làng xa xôi hẻo lánh tại Ấn Độ. Bước vào lều, người khách chỉ thấy
có vài cái chỏng tre trải chiếu sơ sài, cái bàn cái ghế cũng bằng tre với đống
sách trong góc nhà.
Anh
không hiểu sao một linh mục thừa sai mà sống đơn sơ nghèo khó đến thế, có thể
nói được khắc khổ nữa là khác. Anh ngạc nhiên hỏi linh mục:
-Thưa
Cha, đồ đạc của Cha chỉ có bấy nhiêu đó thôi sao?
Vị
thừ sai mỉm cười đáp:
-Vậy
chớ đồ đạc của anh bao nhiêu? Chỉ có chiếc ba lô nhỏ đó chớ gì.
Anh
thành thật đáp:
Nhưng
con chỉ là khách du lịch. Con đi đường vài ngày, đâu cần mang theo đồ đạc nhiều.
Còn cha ở luôn đây.
Vị
thừa sai hóm hỉnh nói:
-Anh
là khách đi đường. Tôi cũng thế. Tôi chỉ là khách dọn đường…
21. Tuyên xưng đức tin
An
là một học sinh tiểu học bán trú và là một người Công giáo rất ngoan đạo vì em
được giáo dục đức tin từ thưở bé. Chuyện xảy ra là trong một giờ ăn trưa, khi
các bạn bè của An ngồi vào bàn ăn và ăn ngay những thức ăn được dọn sẵn.
Còn
An thì chậm rãi là dấu Thánh giá và thì thầm trong miệng lời kinh Lạy Cha mà em
vẫn được dạy đọc trước mỗi giờ ăn. Các bạn bè của An nhìn An một cách tò mò và
tỏ vẻ khó chịu. Thế rồi có một đứa bạn của An chạy đến chỗ thầy giáo đang dùng
cơm ở phòng kế bên và nói: "Thầy ơi, bạn An đọc thần chú trước bữa ăn đó
thầy."
Chờ
các học trò ăn xong, thầy giáo gọi An lên hỏi xem em đã làm gì. An bình thản trả
lời: "Em chỉ làm dấu thánh giá và đọc kinh Lạy Cha để cám ơn Chúa đã ban
cho em bữa ăn thôi." Thầy giáo cố nén vẻ xúc động và chân thành nói:
"An à, em tốt lắm. Em là người can đảm. Em làm cho thầy cảm thấy mình thật
xấu hổ, vì thầy cũng là người Công giáo, nhưng thầy chỉ đọc kinh khi ở một
mình. Còn khi có ai, thầy cảm thấy mắc cỡ nên không đọc. Từ nay, thầy sẽ noi
theo gương của em để tuyên xưng niềm tin của mình."
Câu
chuyện rất đơn sơ nhưng thật cảm động. An đã là một cử chỉ rất thiết thực để
rao giảng về Chúa Kitô cho người khác và cho những ai còn non kém về niềm tin của
họ.
22. Chúng ta đợi chờ
Truyện
cổ Đông Phương kể về một con cá con bơi dọc theo bờ sông. Cạnh bờ sông, ông
giáo đang dạy khoa học cho các học trò đang quây quanh ông. Thày giáo giảng:
"Nước tuyệt đối cần thiết cho sự sống. Không có nước trong một tuần lễ
chúng ta sẽ chết."
Một
con cá con nghe vậy liền tự nghĩ: "Trời! Nếu nhà khoa học đó nói đúng, tôi
phải đi tìm cái mà người ta gọi là nước đó, nếu không tìm được mấy ngày nữa tôi
sẽ chết." Nó hỏi mọi con cá khác nó gặp có biết nước là gì không, nhưng
không ai trả lời cho nó. Họ chỉ biết để ý đến tìm của ăn nuôi sống. Nhiều con
cá còn cho nó là dại gì mà nghĩ những chuyện đâu đâu. Nó tiếp tục đợi chờ đi
tìm cái gọi là nước.
Rồi
một hôm nó cố hỏi con cá lớn tuổi, có phần khôn ngoan: "Làm ơn chỉ cho tôi
cái chất mà người ta gọi là nước là gì và tìm đâu ra nó?" Con cá lớn trả lời:
"Nước hả! Mày đang ở trong đó, mày sinh ra và lớn lên trong đó. Nước bao
quanh mày và mày cứ ngụp lặn, hút lấy nó thì mày sống được."
Con
cá đang sống trong nước mà nó không nhận ra. Cũng thế, chúng ta đang sống trong
sự hiện diện của Chúa mà chúng ta không nhận ra Ngài.
23. Dọn đường
Trong
truyền thống Zen của Đông phương có ghi lại một câu chuyện sau đây của một ông
giáo sư đại học đến gặp vị thiền sư để xin lời chỉ dạy: Thưa thầy, xin dạy con
phải làm gì để có một đời sống hạnh phúc. Con đã học thánh kinh, con đã học hỏi
với những bậc đại sư, nhưng con chưa tìm thấy câu trả lời, xin thầy làm ơn chỉ
dạy cho con biết cách nào đây?
Nghe
xong câu hỏi, vị thiền sư rót nước trà mời khách. Ngài rót trà đầy tách của
khách, rồi tràn cả ra ngoài, nhưng ngài vẫn cứ rót thêm mãi, tới nỗi nước trà
chảy xuống bàn, rồi từ bàn chảy xuống sàn nhà. Ông giáo sư nhìn thấy thế, không
thể kềm hãm mình được nữa, bèn nói lớn: “Ngưng đi! Ngưng đi! Đầy quá rồi! Không
còn chỗ… tràn cả ra nhà."
“Giống
như cái tách trà này!”Vị thiền sư nói. Ông đã đổ đầy những suy nghĩ và ý kiến của
ông vào rồi. Làm thế nào tôi có thể chỉ cho ông cách nào được nữa, trừ phi ông
phải làm trống rỗng cái tách của ông trước đã.
24. Chờ đợi và sám hối
Một
tờ báo tại Paris (thế kỷ 19) quảng cáo tìm người truyền giáo hải ngoại như sau:
“Không lương bổng, không bảo hiểm, không tiền hưu trí, nhưng rất nhiều việc cực
nhọc, một chỗ ở tồi tàn, rất ít an ủi, rất nhiều phũ phàng, đau ốm triền miên,
một cái chết do bạo hành hay cô đơn và một ngôi mộ vô danh.” Cũng như các vị
truyền giáo, Gioan đã sống tất cả những khó khăn thử thách của người dọn đường
cho Chúa. Ông sống đời chay tịnh, cô độc trong hoang địa đá vôi khô khốc, với
cái nóng khắc nghiệt, giữa Giuđê và Biển Chết. Ông sống khó nghèo, áo bằng da lạc
đà, thức ăn đạm bạc (châu chấu và mật ong rừng). Kêu gọi người khác dọn đường,
chính Gioan đã là con đường đưa con người đến với Đức Giêsu. Mời gọi người khác
sám hối, Gioan đã sống tâm tình sám hối ấy trước.
Mỗi
mùa Vọng, đến hẹn Gioan lại lên. Mùa Vọng là mùa đợi chờ Đức Giêsu đến lần thứ
hai. Gioan chính là người giúp ta sống tâm tình chờ đợi tuyệt vời hơn cả, vì
nơi ông, lối sống đi đôi với lời loan báo, hành động sánh vai với ý hướng. Đặc
biệt hơn, ông không hướng người ta về với mình, nhưng chỉ dẫn họ đến với Chúa.
Để là người giới thiệu Chúa cho người lân cận, bạn hãy sống như Gioan.
25. Mở đường bằng hành động
sám hối
Kho
tàng thần thoại Hy Lạp đã ghi lại câu chuyện về hai cha con Idam và Ika. Người
cha là Idam, một kiến trúc sư kiêm điêu khắc, ông đã xây một “bát quái trận đồ”
để giam con quái vật có đầu người mình thú. Nhưng sau đó, vua Minos đã bắt giam
hai cha con vào đó. Tuy nhiên, với tài khéo của người cha, họ đã chế tạo được
cho mình những đôi cánh bằng sáp, để bay lên cao thoát ra khỏi nơi bị giam cầm.
Thích thú với cảnh trên không trung, đứa con là Ika cứ muốn bay cao hơn, cao
hơn nữa, mặc cho người cha cản ngăn. Ika càng lúc càng bay cao đến gần mặt trời,
đôi cánh bằng sáp không chịu nổi sức nóng và bắt đầu tan chảy. Cuối cùng đôi
cánh tan rã và Ika rơi xuống chết thảm thương.
Thi
hào Shakespeare đã nói “Chỉ có người ngu mới tin mình là thánh và chỉ có bậc
thánh mới biết cái ngu của mình.” Biết cái giới hạn, biết những tật xấu của
mình mới là kẻ tỉnh thức và hy vọng được cứu sống.
Mùa
Vọng mời gọi hãy mở đường bằng việc sám hối. Hãy vào sa mạc là nơi thanh tịnh để
con người dễ dàng gặp gỡ Thiên Chúa và thuận tiện để nhìn rõ chính bản thân
mình.
26. Tha thứ là tự cởi
trói
Văn
hào Nga Leon Tonstoï kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: Có người hành khất nọ đến
trước cửa nhà của một người giàu để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay miếng bánh
vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi. Nhưng, mặc cho người khốn khổ
van xin, ông nhà giàu vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Ðến lúc không còn chịu nổi những
lời nài nỉ của người hành khất, thay vì bố thí, ông phú hộ đã lấy đá ném vào
con người khốn khổ kia.
Người
hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi lẩm bẩm trong miệng: “Ta mang
hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại
ngươi.” Từ ngày đó, đi đâu và làm gì, người hành khất đều mang theo hòn đá ấy.
Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.
Năm
tháng qua đi, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận,
ông nhà giàu bị tước đoạt tất cả tài sản và tống giam vào ngục. Ngày hôm đó,
người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải ông phú hộ vào trại giam. Nỗi
căm hờn sôi sục trong lòng, ông đi theo đoàn người áp tải, tay không rời hòn đá
mà người giàu đã ném vào ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá ấy vào
người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng. Nhưng khi nhìn thấy gương mặt tiều
tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, ông thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ:
“Tại sao ta lại phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người ấy,
giờ đây, cũng chỉ là một kẻ khốn khổ như ta.”
27. Tha thứ là nên giống
Thiên Chúa
Charlie
Rumbaugh lớn lên ở trường cải tạo, nhà tù và bệnh viện tâm thần. Năm 17 tuổi,
anh trốn khỏi phòng dành cho người loạn trí, tìm được một khẩu súng và giết người
trong một vụ ẩu đả vì cố gắng ăn cướp. Bồi thẩm đoàn Texas kết án tử hình anh.
Trong khi chờ đợi bị hành hình, anh nói với những người hiện diện: “Các người
không thể tha thứ cho tôi vì những việc tôi đã làm, nhưng tôi tha thứ cho những
ai đã từng chống lại tôi.”
Tôi
tha thứ và cầu xin để có thể tha thứ cho những người đã làm tổn thương tôi như
thế nào?
Chúng
ta giống cầm thú khi giết chóc. Chúng ta giống con người khi xét đoán. Chúng ta
giống Thiên Chúa khi biết tha thứ.
28. Để mùa xuân mọc lên
Mùa
Xuân. Hai hạt giống được gieo trên miếng đất màu mỡ. Hạt thứ nhất lo lắng:
“Tôi
sợ quá! Nếu cắm rễ xuống đất, tôi chẳng biết sẽ gặp thấy gì trong lòng đất tối
tăm;
“nếu
tìm đường xuyên qua lớp đất cứng bên trên, rất có thể những chồi non yếu ớt của
tôi bị thương tổn...
“khi
một búp non của tôi xoè lá thì lấy gì làm chắc là không có một con sâu rình sẵn
đó để xơi tái đọt lá xanh;
“và
nếu tôi nở hoa, một em bé có thể nhổ cả rễ tôi lên!
“Thôi,
tôi cứ đợi thêm một ít xem sao rồi hãy mọc lên.”
Thế
là trong buổi sáng đầu Xuân, chị gà mái vừa chạy ra vườn bới đất kiếm ăn đã thấy
ngay một hạt giống nằm sẵn ở đó, chị ta mổ lấy và nuốt ngon lành!!
Còn
hạt thứ hai thì sao? Nó rất hứng khởi:
“Tôi
muốn mọc lên! Tôi muốn cắm rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi xuyên qua lớp đất
cứng bên trên;
“tôi
muốn giương những búp chồi non mơn mởn như những lá cờ báo mùa Xuân đến...
“tôi
muốn để ánh mặt trời mơn man ấm áp trên nhuỵ và mấy giọt sương mai mát lạnh đọng
trên cánh hoa.”
Và
mùa Xuân mọc lên!
Bất
chấp bao nhiêu tội ác, gian tà, nhất là sự cứng lòng của nhân loại, một mùa
Xuân mới, mùa Xuân của tình yêu, đã được gieo vào lịch sử nhân loại. Tin vui ơn
cứu độ đã được loan báo: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa
đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta” (Is 40,3).
CNMV 2C – DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Đời hoàng đế Tibêriô năm thứ mười lăm, Phongxiô
Philatô làm toàn quyền xứ Giuđêa, Hêrôđê làm thủ hiến xứ Galilêa, còn em là
Philipphê làm thủ hiến xứ Ituria và Tracônitêđê; Lysania làm thủ hiến xứ
Abilêna; Anna và Caipha làm thượng tế; có lời Chúa đã kêu gọi Gioan, con
Giacaria, trong hoang địa.
Ông liền đi khắp miền sông Giođan, rao giảng phép rửa
sám hối cầu ơn tha tội, như lời chép trong sách Tiên tri Isaia rằng: "Có
tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng,
hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay
thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của
Thiên Chúa."
Đó là lời Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Bắt đầu từ chính mình
Ngày xưa có một vị vua trị vì một đất nước thịnh vượng.
Một ngày nọ ông đi kinh lí đến một vùng xa xôi hẻo lánh trong nước. Khi trở về
dinh, ông phàn nàn rằng đôi bàn chân ông rất đau nhức vì đây là lần đầu tiên
ông đi một chuyến dài như vậy, và con đường mà ông đã đi rất gồ ghề, đầy đá sỏi
lại thêm những ổ gà chi chít. Sau đó, ông muốn truyền lệnh cho thần dân của
mình phải bọc da mọi con đường trong nước. Chắc chắn điều này sẽ cần đến da của
hàng triệu con vật, và sẽ tốn một số tiền rất lớn. Nhưng trước khi mệnh lệnh được
ban ra, một vị bá quan khôn ngoan đã dám chất vấn vua: “Tại sao ngài phải tiêu
số tiền không cần thiết đó? Tại sao ngài không cắt một miếng da nhỏ để bọc chân
của ngài?” Nhà vua rất ngạc nhiên, và ngay sau đó đồng ý với lời đề nghị của
viên quan để làm một chiếc “giày” cho chính mình.
2. Tìm đến thần linh để trưởng thành
Nơi một số nền văn hóa bản địa của lục địa Bắc và
Nam Mỹ, nghi thức chứng nhận tuổi trưởng thành dành cho những người trẻ gồm một
đòi hỏi được gọi là truy tìm thần linh. Bắt buộc đối với trẻ em trai và khuyến
khích đối với các em gái, tục lệ này yêu cầu mỗi em phải một mình đi đến một
nơi hẻo lánh, cách làng một khoảng thật xa. Đương sự phải nhịn ăn và tịnh tâm
nhiều ngày.
Người ta tin rằng một vị thần hộ mệnh sẽ ban cho người
trẻ này một thị kiến, sẽ truyền cảm hứng và định hướng cho anh ấy/ cô ấy về bước
đường tương lai của mình. Sau khi trở lại cộng đồng bộ tộc, thị kiến sẽ là nguồn
sức mạnh và sự khích lệ cho anh ấy/ cô ấy, đặc biệt là trong những thời điểm
khó khăn.
3. Đàn hay chỉ dành cho người chơi giỏi
Tại một nhà thờ lớn nọ ở châu Âu, nơi có một cây đàn
phong cầm ống thật giá trị mà chỉ người chơi đàn của nhà thờ đã được chỉ định mới
được phép chơi.
Một ngày nọ, khi ông từ nhà thờ đang kiểm tra gác
xép của ca đoàn trước khi đóng cửa nhà thờ, ông ta nghe thấy tiếng bước chân của
một người lạ bước vào phòng gác xép. Người lạ cầu xin: “Thưa ông, tôi đã đi một
chặng đường dài chỉ để muốn được ngồi và chơi cây đàn kỳ diệu này. Tôi có thể
được phép để làm như vậy không?” Ông từ trả lời: “Không, nhạc cụ này chỉ có thể
được duy nhất một người chơi. Nếu tôi cho phép bạn, tôi có thể bị mất việc làm.”
Người lạ hiểu ra, và tỏ ra vô cùng thất vọng.
“Nhưng,” anh ta vẫn tiếp tục, “tôi có thể chơi một vài hợp âm được không? Tôi hứa
sẽ không lâu đâu. Một vài phút là tất cả những gì tôi mong muốn.”
Ông từ động lòng trắc ẩn và cho phép người lạ đó
chơi chiếc đàn phong cầm ống, với điều kiện ông phải dừng lại sau một vài ô nhịp.
Di chuyển đến chỗ ngồi trước chiếc đàn uy nghi đó, người lạ nhắm mắt lại một
lúc rồi bắt đầu.
Ngón đàn của ông ta quá điêu luyện và những âm thanh
thú vị phát ra đến nỗi ông từ như thể chết đứng tại đó. Ông không thể tin vào
tai mình. Người lạ là một nhạc sĩ tài giỏi và một tay danh cầm organ nổi tiếng.
Vài phút sau, kẻ lạ mặt dừng lại và nhấc bàn tay khỏi bàn phím. Ông cảm ơn người
giữ cửa nhà thờ đã cho ông đặc ân hiếm có đó và chực bỏ đi. “Chờ đã,” ông từ cầu
xin: “Tôi chưa bao giờ được nghe những dòng âm thanh như vậy trước đây từ cây
đàn này. Xin vui lòng cho tôi biết quý danh của ông?”
Người lạ trả lời: “Mendelssohn.”- “Gì?” Ông từ kinh ngạc
thốt lên, “ông thực sự là nhà soạn nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng, Felix
Mendelssohn, phải không ạ?” “Vâng, thưa ông,” người lạ đáp và khiêm tốn bước
đi.
4. Tạo nên sự khác biệt
Một nữ giáo viên nọ ở New York đã quyết định tôn
vinh từng học sinh lớp 12 của mình trong trường trung học phổ thông bằng cách
nói cho họ biết mỗi người trong họ là một con người đặc biệt.
Đầu tiên, cô nói với từng người trong số họ rằng họ
đã tạo ra sự khác biệt như thế nào đối với cô và cả lớp. Sau đó, cô tặng cho mỗi
người một dải ruy băng màu xanh có in dòng chữ vàng với nội dung: “Tôi là người
tạo nên sự khác biệt.” Cô cũng trao cho mỗi học sinh thêm ba dải ruy băng và hướng
dẫn các em đi ra ngoài và truyền bá cách thức thừa nhận này.
Cuối ngày hôm đó, một trợ tá điều hành cấp dưới đến
gặp ông chủ của anh ta, người được cho là một gã cục cằn thô bạo; anh mời ông
chủ của mình ngồi xuống và nói với ông rằng, anh vô cùng ngưỡng mộ ông vì ông
là một thiên tài sáng tạo. Ông chủ tỏ ra rất ngạc nhiên. Người trợ tá hỏi ông
liệu ông có muốn nhận món quà là dải ruy băng màu xanh lam hay không, và anh lấy
ngay dải băng đặt nó vào trên áo khoác của sếp phía trên trái tim của ông.
Khi rời đi, anh ấy nói: “Ông có lấy thêm dải băng
này và chuyển nó để tôn vinh người khác không?” Tối hôm đó ông chủ về nhà, gặp
đứa con trai 14 tuổi của mình và bảo cậu ta ngồi xuống. Ông nói với cậu: “Điều
ngạc nhất đã xảy ra với cha ngày hôm nay. Khi cha đang ở trong văn phòng của
mình thì một trợ lí điều hành cấp dưới bước vào và nói với cha rằng anh ngưỡng
mộ cha và tặng cha một dải ruy băng xanh vì cha là một thiên tài sáng tạo. Anh ấy
đưa thêm cho cha một dải ruy băng khác và nhờ cha tìm một người khác để tôn
vinh.
Khi lái xe về nhà tối nay, cha bắt đầu nghĩ về người
mà cha sẽ vinh danh với dải băng này và bỗng cha nghĩ về con. Cha muốn tôn vinh
con. Những ngày của cha thực sự rất bận rộn và mỗi khi trở về nhà, cha không có
thời giờ quan tâm đến con. Tối nay, cha chỉ muốn cho con biết rằng con đã tạo
ra sự khác biệt đối với cha như thế nào. Ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng
nhất trong cuộc đời của cha. Con là một đứa trẻ tuyệt vời và cha yêu con!” Cậu
bé cảm thấy thổn thức, bắt đầu khóc nức nở và không thể ngừng khóc. Cậu ngước
nhìn cha mình và nói trong nước mắt: “Con đã định ngày mai tự tử, bố ạ, vì con
không nghĩ rằng bố yêu con. Bây giờ con biết bố quan tâm đến con. Đây là ngày hạnh
phúc nhất mà con từng biết đến.”
Ông chủ đi làm trở lại, nhưng đã trở nên một người
được biến đổi. Ông không còn là một kẻ cục cằn nữa mà dịu dàng với tất cả nhân
viên của mình. Đến lượt mỗi công nhân cũng tạo ra sự khác biệt bằng cách sống
hài hòa với người khác. Và cậu bé cảm nhận được tình thương của cha cũng đã sống
hết mực hiếu thảo với cha mẹ mình.
5. Sự khác biệt giữa thiên đàng và hỏa ngục
Một câu chuyện kể về một người lính đã hỏi một nhà
sư: “Hãy chỉ cho tôi biết sự khác biệt giữa thiên đàng và hỏa ngục.” Nhà sư
nói: “Rõ ràng bạn là một kẻ hèn nhát, không phải là một chiến binh. Hơn nữa,
tôi tin rằng bạn còn không biết cách sử dụng khẩu súng đó.” Người lính rất tức
giận đến nỗi rút khẩu súng lục từ bao da định bắn nhà sư.
Khi chuẩn bị bóp cò súng, nhà sư điềm tĩnh nói: “Đó
là địa ngục.” Người lính bị xúc phạm đó lập tức tỉnh ngộ và đặt súng trở lại
bao da. Và nhà sư khẽ nói: “Đó là thiên đàng.”
6. Kẻ ngốc hơn
Ngày xưa một vị vua của một đất nước nọ được triệu tập,
phải thực hiện một cuộc hành trình đến một vương quốc khác. Cuộc hành trình đòi
phải băng qua một khu rừng rộng lớn, vì vậy vua đã yêu cầu một số chúng dân đi
cùng với mình. Ông giao cho một người đặc trách chuẩn bị mọi hành trang cần thiết
cho tập thể trong chuyến đi, và họ sẽ sớm lên đường.
Khi đoàn lữ hành đi qua khu rừng, họ bất ngờ gặp một
con hổ. Nhà vua yêu cầu một khẩu súng từ người mà ông đặt phụ trách mọi công việc.
Anh này nói với vua rằng anh ta không nghĩ đến việc mang theo súng. Nhà vua rất
tức giận và nói với anh ta: “Anh thật là một thằng ngốc! Làm thế nào anh có thể
quên chuẩn bị cho một tình huống như thế này trong cuộc hành trình của chúng
ta?”
Sau đó vua đưa cho anh ta một cây gậy và nói: “Đây,
cầm lấy cây gậy này và dẫn chúng ta đến đích. Và sau đó hãy mang nó theo luôn
bên mình cho đến khi anh tìm thấy kẻ ngu ngốc hơn mình; khi đó anh có thể chuyển
nó cho người đó.”
Người tôi hiền tiếp tục giữ cây gậy nhà vua trao cho
mình trong nhiều năm. Thời gian trôi qua, nhà vua trở nên già yếu và suy kiệt sức
khỏe. Những ngày cuối cùng của cuộc đời ông đã gần kề và vì vậy ông bắt đầu nhận
được những cuộc thăm hỏi từ các thần dân bên giường bệnh của mình.
Một ngày nọ, người đàn ông mà vua đã trao cây gậy vì
“ngốc như vậy” cũng đến gặp nhà vua. Ông ta vẫn mang theo cây gậy. Ông đến gặp
vua và nói với vua: “Thưa bệ hạ, nếu ngài cho phép, tôi có thể hỏi ngài một câu
được không ạ?” Và sau khi được cho phép, ông nhẹ nhàng hỏi nhà vua: “Tâu đại
vương, chẳng hay ngài đã chuẩn bị kỹ càng cho chuyến hành trình quan trọng mà
ngài sắp thực hiện chưa?” Nhà vua nhìn ông ta với vẻ ngạc nhiên và sau đó nói:
“Chuẩn bị cho cuộc hành trình này à? Tôi đau ốm và sắp chết; tôi phải chuẩn bị
như thế nào cho một cuộc hành trình như vậy?”
Lão thần đáp lại và nhẹ nhàng trao cây gậy cho vua:
“Vậy ngài có cây gậy này và giữ nó bên mình.” Và rồi ông lặng lẽ bước đi.
7. Hãy là một cái vịnh
Một tu sĩ trẻ đến gặp một người đan sư giàu kinh
nghiệm trong sa mạc. Anh ấy bày tỏ sự thất vọng của mình: “Con cảm thấy bản
thân mình rất hạn chế. Con vẫn còn trì trệ như ở trong một cái ao hay một vũng
nước.”
Vị đan sư già đáp: “Vậy thì đừng làm cái ao. Hãy là
một cái vịnh.” Một vịnh tất nhiên là hòa với đại dương bao la. Mỗi ngày nó được
thay nước mới. Nó hiếm khi bị đình trệ.
Thánh Gioan Tẩy Giả là như vậy. Ngài đang ở một nơi
cực kỳ cô đơn vắng lặng, sa mạc Giuđê. Nhưng sa mạc là nơi mà người ta gặp gỡ
Thiên Chúa. Và như vậy ngài không bị trì trệ, vì ngài luôn kết nối mình với đại
dương lớn, là lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì vậy, trong Mùa Vọng này khi
chuẩn bị cho biến cố Chúa quang lâm, chúng ta hãy kết nối với đại dương bao la
là Thiên Chúa, vì tình thương đã đến với chúng ta, để rồi cuối cùng, “Mọi xác
phàm sẽ được nhìn thấy sự cứu độ của Chúa!”
8. Tiếng kêu dọn đường
Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta muốn tự định nghĩa
về mình. Chúng ta tự hỏi mình là ai.
Đây là một câu hỏi quan trọng và cần thiết. Gioan Tẩy
Giả cũng đã đặt cho mình câu hỏi tương tự. Nhiều người nghĩ rằng ông là đấng
Mêsia, là Êlia... Còn ông, ông biết rõ ông là ai. Gioan không đánh lừa mình hay
đánh lừa người khác. Ông tự định nghĩa: "Tôi là tiếng kêu trong sa mạc. Hãy
dọn đường cho Chúa đến" (Ga 1, 23).
Cả cuộc đời Gioan là một tiếng kêu.
9. Dọn đường cho Chúa--TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trong những trận bão lụt tại miền Trung nước Việt,
nhiều làng bị nước ngập; nhiều đoạn đường bị nước lũ cuốn đi hay bị sạt lở, xe
cộ không đi lại được… Dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá
không còn xử dụng được nữa. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi,
nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.
Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp
cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được
sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người.
Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ
việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc
cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho
thật tốt.
Bạn thân mến, Con đường vật lý đã cần, nhưng “con đường
thiêng liêng” còn cần hơn…Con đường thiêng liêng có thật tốt mới giúp ta lãnh
nhận Ơn Chúa và nhất là đón nhận chính Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu,
nhưng ta chưa đón nhận được Ngài vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã
bị hư hỏng.
10. Sẵn lòng bị bỏ quên
Một linh mục kia được các linh mục bạn và các giáo
dân ngưỡng mộ, quý mến. Thế rồi ngài mắc một chứng bệnh nên bị buộc phải về
hưu, cả quãng đời còn lại phải ngồi trên chiếc xe lăn. Ban đầu, người ta đến
nhà hưu thăm ngài rất đông. Nhưng năm tháng trôi qua, dòng người tuôn đến thăm
viếng ngày càng giảm bớt và cuối cùng khô cạn hẳn. Không một bức thư, không một
cú điện thoại. Tuyệt đối không còn gì cả, mà chỉ toàn là cô độc, lặng thinh, trống
vắng. Ngài buồn nản vô cùng, nhất là những khi nhớ lại bao nhiêu công sức mình
đã nhiệt tình đổ ra để phục vụ mọi người.
Rồi một hôm có một linh mục cùng lớp ngày xưa ghé
thăm. Vị linh mục về hưu mừng rỡ vô hạn. Hai người đã nói chuyện huyên thuyên với
nhau rất lâu. Cuối cùng vị linh mục về hưu hỏi: "Anh nghĩ là có ai còn nhớ
đến tôi không?" Vị linh mục bạn không trả lời. Mà biết trả lời thế nào
đây!
11. Khi tôi yếu đó là lúc tôi mạnh
Có một thầy tu kia tên là Ambrôsiô, rất đạo đức, rất
thông minh, và cũng rất cần cù. Thầy được mời đi giảng tĩnh tâm nhiều nơi, và
ai nấy đều kinh ngạc vì kiến thức và uy tín của Thầy. Thầy sung sướng vì đã làm
chủ được mọi việc mình làm.
Nhưng đột ngột thầy ngã bệnh, không còn làm gì được
nữa. Ban đầu thầy rất tuyệt vọng. Nhưng sau một thời gian, thầy chợt nghĩ phải
biết cách dùng cơn bệnh của mình để hiểu được những khổ đau của người khác. Thế
là thầy vui sống với cơn bệnh của mình. Khi có ai đến với thầy, thầy chia xẻ những
suy nghĩ của mình và an ủi, khuyến khích họ. Kết quả là thời gian nằm bệnh của
thầy còn sinh hoa quả nhiều hơn thời gian thầy còn khoẻ mạnh. Trước khi chết,
Thầy viết: "Trước đây tôi đã đi theo một hướng, rồi thình lình tôi bị buộc
phải đi theo một hướng khác. Nhưng nhờ đó tôi đã học biết về bản thân mình và về
người khác nhiều hơn gấp bội so với những gì tôi học biết trong những năm trước
khi bệnh.”
Có rất nhiều hoàn cảnh lạ lùng mở lòng chúng ta ra
đón nhận những điều Chúa muốn ban cho chúng ta. Khi chúng ta đến với Chúa trong
tư thế của người tự mãn và hùng mạnh, thì khi đó chúng ta đẩy Ngài ra xa. Còn
khi chúng ta đến với Ngài mà cảm thấy yếu đuối, nghèo nàn, thì khi đó chúng ta
mời Ngài vào lòng mình.
12. Sám hối canh tân
Ðời chiến Quốc, nhà du thuyết Tô Tần sang Nước sở,
phải đợi suốt ba ngày mới được vào ra mắt vua Sở.
Nói xong câu chuyện, Tô Tần xin cáo biệt đi ngay.
Vua Sở bảo:
- Quả nhân nghe tiếng tiên sinh quý như nghe tiếng một
bậc danh nhân xưa. Nay tiên sinh đã không quản xa xôi, đến chơi với quả nhân, lại
không chịu ở lại là cớ làm sao?
Tô Tần thưa:
- Tôi xem ra thấy nước Sở này có đồ ăn đắt hơn ngọc,
củi đắt hơn quế, quan khó được trông thấy như ma, vua khó được yết kiến như trời.
Nay nhà vua muốn bắt tôi ở lại để ăn ngọc thổi quế, nhờ ma thấy trời hay sao?
Vua Sở khẩn khoản nói:
- Xin mời tiên sinh cứ ở lại, quả nhân đã hiểu rõ
quá rồi.
Một đất nước mà vật giá đắt đỏ: "Củi quế gạo
châu", vua quan xa cách dân chúng, thì nhân dân trong nước khổ sở biết
bao. Cái đáng khen của vua Sở là sau khi nghe Tô Tần bình phẩm về tình hình kinh
tế chính trị của đất nước mình, thì ông liền nhận ra sai lầm và quyết tâm sửa
chữa.
Mỗi lần Mùa Vọng đến, lại có một Tô Tần xuất hiện để
vạch ra những lỗi lầm của chúng ta và nhắc chúng ta sám hối canh tân. Ðó chính
là Gioan Tẩy Giả: "Có tiếng kêu trong hoang địa. Hãy dọn đường cho Chúa sửa
lối cho thẳng để Người đi" (Lc 3,4).
13. Chờ đợi không tuyệt vọng
Tôi đưa một người bạn mù ra sân bay. Khi đến nơi,
tôi bảo người đó "Tôi đi lo chút việc. Anh đứng đây chờ tôi nhé. Ðừng đi
đâu cả.” Rồi tôi đi mua vé, gởi một lá thư và đọc thông báo về các chuyến bay.
Khi tôi quay lại, tôi thấy người bạn mù vẫn đứng đấy. Người ta chen lấn chung
quanh anh, một người phu khuân vác đây xe trước mặt anh, một đứa bé ngạc nhiên
nhìn anh chăm chăm, một người bán báo rao inh ỏi trước mặt anh... Nhưng anh vẫn
đứng yên, nét mặt bình thản, không chút nghi ngờ, không hề sợ sệt. Anh tin chắc
tôi sẽ trở lại đón anh.
Cảnh một người mù nhắm mắt đứng yên chờ tôi trở lại
khiến tôi liên tưởng tới thái độ người tín hữu phải có trong Mùa Vọng để đón chờ
Chúa đến. (Willi Hoffsuemmer).
14. Lòng tham vô đáy.
Người Trung hoa có câu truyện ngụ ngôn nói lên được
cái dục vọng thầm kín của con người muôn thuở:
Một người bị giam ở địa ngục, sắp được đi đầu thai.
Anh ta tâu với Diêm Vương:
- Như quả thật Đại Vương muốn cho tôi trở về dương
thế, thì xin cho tôi được mấy đặc ân.
Diêm Vương hỏi:
- Ngươi xin điều chi?
Anh ta đáp:
- Tôi xin đầu thai làm con một vị tể tướng, làm cha
một vị trạng nguyên. Tôi xin được một ngôi nhà ở giữa một khu đất vạn mẫu, có
ao thả cá, có cây trái đủ thứ. Tôi xin có một người vợ tuyệt sắc, nhiều tì thiếp
diễm lệ, tất cả đều chung tình ngoan ngoãn chiều chuộng tơi. Tôi xin được châu
báu chất đầy phòng, lúa thóc đầy lẫm, tiền bạc đầy rương. Tôi xin được làm một
vị quan công khanh, suốt đời vinh hoa phú quí, sống lâu trăm tuổi. Chỉ bấy
nhiêu thôi.
Diêm Vương đáp:
- Trần thế mà có được người như vậy, thì ta đây đã đầu
thai thế cho ngươi rồi.
15. Giỏi gì đâu.
Trần-nghiêu-Tử làm quan tiết độ sứ đời Tống, là người
tài bắn, thiên hạ khen phục, Nghiêu Tử cũng lấy làm kiêu căng tự đắc.
Nghiêu Tử thường bắn ở trong vườn nhà mình. Một hôm
có ông lão bán dầu đi qua, thấy Nghiêu Tử bắn, đặt gánh xuống, ngấp nghé đứng
xem. Ông lo thấy Nghiêu Tử bắn 10 phát trúng 7, 8 thì hơi gật gù và mỉm miệng
cười.
Nghiêu Tử thấy thế, gọi vào bảo:
- Nhà ngươi cũng biết bắn chứ? Người cười ta bắn
không được phải không?
ông lão đáp:
- Giỏi gì đâu, chẳng qua là quen tay đấy thôi.
Nghiêu Tử giận, nói:
- A, nhà ngươi dám khinh ta không bắn giỏi có phải không?
Ông lão bán dầu đáp:
- Khinh hay không ngài cứ xem, tôi rót dầu đây thì
biết!
Nói xong, ông lão lấy ngay cái bầu đặt xuống đất,
trên miệng bầu để một đồng tiền rồi từ từ rót dầu qua lỗ mà không nhiễu một tí
dầu nào ra lỗ đồng tiền cả.
Rót đoạn, ông lão ngẩng mặt lên Trần nghiêu Tử:
- Như tôi đây cũng chẳng giỏi gì đâu, chỉ quen tay
đó thôi.
Nghiêu Tử cười, khen phải và từ đó không lên mặt là
tay bắn giỏi nữa.
16. Bán cam thối.
Lưu Cơ một danh sĩ nước Tầu về đời nhà Minh có viết
một bài văn kể lại câu chuyện sau đây. Chuyện kể rằng:
Ở Hàng Châu (bây giờ là tỉnh Chiết giang) có người
bán các thứ hoa quả, anh ta để dành cam rất khéo, để lâu không ủng, vỏ vẫn đỏ
tươi, trông đẹp như vàng ngọc. Anh đem ra chợ bán rất đắt người người tranh
nhau mua.
Ta thấy vậy, cũng lại mua một quả đem về. Nhưng bóc
ra thì hơi xông lên mũi như xác bông nát. Vì thế, ta phải ra chợ tìm người bán
cam, trách rằng:
- Anh bán cam cho người ta để làm cúng lễ, để đi
khách khứa, hay là chỉ làm cho choáng bề ngồi để đánh lừa người ta. Tệ thật,
sao anh làm người mà giả dối như vậy?
Người bán cam cười đáp:
- Tôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền nuôi
thân. Tôi bán, thiên hạ mua chẳng ai nói gì chi nhiều. Ông ơi, người đời giả dối
nhiều, há phải một mình thằng tôi đâu. Sao ông trách tôi mà không nghĩ. Kìa người
đeo hổ phù ngồi da cọp, hùng dũng trông thật đáng quan võ, nhưng xét sự thật được
bằng Tôn Tẫn, Ngô Khởi hay không? Người đội mũ cao, thắt đai dài, đường hoàng
ra vẻ quan văn lắm, nhưng xét sự thật hỏi được như Y Doãn, Cao Dao hay không?
Than ôi, giặc giã không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng
không biết trừng trị, pháp độ mục nát không biết sửa, ngồi rồi ăn lương không
biết xấu. Thế mà lúc ở công đường ăn của quí, uống rượu ngon, đi xe ngựa, trông
thật oai vệ, thật vô cùng hách dịch. Đó bề ngoài chẳng như vàng như ngọc mà
trong như bông nát là gì? Sao ông không xét những người ấy lại chỉ chú ý vào quả
cam của tôi.
Ta nghe nói, nín lặng không trả lời sao được, và
nghĩ người ấy có giọng khôi hài nên có cảm tưởng:
- Dễ chừng anh ta ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục,
mới nhận chuyện bán cam để dạy mình đây chăng?
17. Sẵn sàng về với Chúa.
Vài năm trước đây, tạp chí This Week có thuật lại
câu chuyện cảm động về một cậu bé 17 tuổi người Ha lan đã từng trốn khỏi trại tập
trung Đức quốc xã, nhưng đã bị bắt lại và bị kết án tử hình. Ngay trước khi bị
hành hình, cậu đã gửi cho bố cậu lá thư sau đây. Xin trích lại: “Bố thân yêu,
thật khó khăn lắm con mới viết được cho bố lá thư này, nhưng con vẫn phải cho bố
hay rằng con đã bị toà án quân sự kết tội tử hình. Xin bố đọc lá thư này một
mình và khéo léo bảo cho mẹ biết dùm con… Chẳng bao lâu nữa, lúc đúng 5 giờ, điều
đó sẽ xẩy đến cho con… chỉ một chốc thôi thế là con sẽ về với Chúa, Nói cho
cùng đấy có phải là cuộc chuyển tiếp đáng kinh hãi không?.Con cảm thấy rõ ràng
rằng mình đang ở gần bên Chúa, con đã chuẩn bị sẵn sàng đón chờ cái chết… Con
nghĩ rằng con còn đỡ đau khổ hơn bố nhiều, vì con biết rằng mình đã xưng hết tội
lỗi, và hiện tâm hồn con hoàn toàn thanh thản… Ký tên: “Kless.”
18. Lòng trắc ẩn và vết trầy xe
Trên một con đường vắng, một chiếc xe đang phóng
nhanh, chợt đột ngột thắng gấp lại và tấp vào lề đường. Ai đó vừa ném một viên
đá vào cánh cửa chiếc xe. Bước ra khỏi xe, liếc nhìn chỗ xe bị ném, người lái
xe bực tức chạy nhanh đến tóm ngay thằng bé dứng gần đó - chắc chắn nó là tác
giả của vết trầy trên chiếc xe. Trước đó anh đã thấy nó vẫy xe, chắc là để đi
nhờ.
- Không cho đi nhờ mà mày làm như vậy hả?
Anh vừa gằn giọng vừa nắm chặt cổ áo đẩy cậu bé sát
vào chiếc xe...
Cậu bé lắp bắp sợ hãi:
- Em xin lỗi! Nhưng em em... không biết làm cách nào
khác. Nếu em không ném vào xe của anh thì anh đã không dừng xe... Nãy giờ em đã
vẫy biết bao nhiêu xe mà không có ai chịu dừng.
Nói đến đó, nước mắt cậu bé lăn dài trên má. Cậu chỉ
tay về vệt cỏ phía bên kia đường.
- Có một người... anh ấy bị ngã và chiếc xe lăn của
anh ấy cũng ngã. Em tình cờ đi ngang qua thấy vậy nhưng không thể đỡ nổi anh ấy
vì anh ấy nặng quá.
Giọng ngắt quãng vì những tiếng nấc liên tục cậu bé
nài nỉ:
- Anh có thể giúp em đưa anh ấy trở lại chiếc xe lăn
được không ạ? Anh ấy ngã chắc là đau và đang bị chảy máu.
Lời nói của cậu bé khiến anh thanh niên không thể thốt
lên được lời nào. Anh thấy cổ mình như nghẹn lại vì bất ngờ và xúc động. Anh đến
đỡ người bị ngã trở lại ngồi ngay ngắn trên chiếc xe lăn, băng vết thương và
cùng cậu bé kéo xe lên đường. Người bị ngã cảm ơn anh rồi chiếc xe bắt đầu lăn
đi về phía đường ngược lại, cậu bé phụ đẩy phía sau. Anh dõi mắt nhìn theo cho
đến khi hình ảnh cậu bé và chiếc xe lăn khuất hẳn.
Anh bước thật chậm về phía chiếc xe của mình, cảm
giác giận dữ trong anh không còn nữa và những bước chân ngập ngừng cũng không
thể diễn tả hết tâm trạng của anh lúc này. Anh quyết định không sửa lại vềt trầy
trên xe. Anh muốn nó sẽ nhắc anh về câu chuyện xúc động hôm nay về một điều mà
trước nay anh không để ý đến và cũng không có thời gian để nghĩ đến. Anh đã
không nhận ra, không có được lòng trắc ẩn như cậu bé kia. Anh đã tiếc thời gian
và đi quá nhanh đến nỗi phải có ai đó ném một viên đá mới làm anh dừng lại.
19. Dọn đường
Có một ông vua kia, để thử lòng dân, ông đã cho đặt
ở giữa đường một tảng đá lớn. Vua bèn núp rình xem người ta phản ứng
thế nào.
Kết quả là rất nhiều người đi ngang qua, lớn tiếng
càu nhàu nhà chức trách đã không giữ cho đường xá được an toàn và
sạch đẹp, nhưng không ai chịu khó dừng lại, để dẹp chướng ngại vật
đó ra khỏi đường.
Cuối cùng có một bác nông phu nghèo dừng lại
và ra sức lăn tảng đá đi. Ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy một túi vàng
dưới tảng đá. Đang lúc lúng túng không biết giải quyết ra sao, với
một kho báu từ trên trời rơi xuống như thế, thì người nông phu phát
hiện bên cạnh túi vàng có một mảnh giấy viết rằng: đây là phần
thưởng nhà Vua tặng cho bất kỳ ai dẹp chướng ngại vật này.
Như vậy, chúng ta thấy bác nông phu là một con
người có trách nhiệm, vì là người có trách nhiệm nên ông đã tìm
cách lăn tảng đá ra, để dọn đường cho mọi người đi. Và ông xứng đáng được
phần thưởng.
20. Dọn tâm hồn
Kho truyện cổ Tây Phương có kể tích truyện một anh hề
trong cung điện nhà vua, được vua trao cho phủ việt, biểu tượng của vương quyền,
để giúp nhà vua khỏi ưu phiền. Một hôm nhà vua gọi anh hề lại và truyền cho
anh: "Ngươi hãy giữ lấy phủ việt này cho đến khi tìm được người nào ngây
ngô khờ dại hơn ngươi thì ngươi hãy trao lại cho người ấy.” Từ đó, mỗi khi có
việc thết đãi triều thần, anh hề đều đến với cây phủ việt trên tay, dáng điệu
vênh váo, ngông nghênh, cốt mua vui cho nhà vua.
Mấy năm sau, nhà vua lâm bệnh nặng. Biết mình sắp chết,
nhà vua cho gọi anh hề lại và buồn bã nói: "Ta sắp sửa đi du lịch ở một
nơi xa lắm.”
- "Đức vua sắp đi đến nơi nào vậy?", anh hề
hỏi.
- "Ta cũng chẳng biết nữa.”
- "Đức vua đi có lâu không?”
- "Đi mãi mãi không bao giờ trở lại nữa.”
- "Đức vua đã chuẩn bị hành trang mang theo
chưa?"
- "Chưa.”
Bấy giờ anh hề liền cười hóm hỉnh và lễ phép tâu
vua: "Vậy xin Đức Vua hãy cầm lấy cây phủ việt này. Thảo dân xin trao lại
cho Đức Vua, bởi vì hôm nay thảo dân đã tìm thấy một người ngây ngô khờ dại hơn
thảo dân rồi.”
Lời Chúa cũng nhắc nhở mỗi người chúng ta trong Mùa
Vọng này: "Hãy sẵn sàng, vì lúc anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến.”
Đừng khờ dại khi sống không mục đích, không biết sẽ có ngày mình
phải chết, phải ra đi với hai bàn tay trắng.
21. Giải thưởng Nobel
Vào ngày 3 tháng 9 năm 1864, nhà máy Nobel phát nổ,
rất nhiều công nhân bị thiệt mạng, trong đó có cả E-mil là em út của Nobel. Khi
ấy Nobel bàng hoàng khi hầu hết các tờ báo phát hành ngay từ sáng
sớm đều loan tin sai lạc về cái chết của chính ông, người mà họ mô tả
là kẻ đã sáng chế ra cốt mìn, một thứ vũ khí giết người hàng
loạt. Các bài viết mang những tựa đề lớn như: “Nhà buôn cái chết đã chết” – hoặc:
"Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách
thức giết con người nhanh chóng hơn bao giờ hết, đã qua đời vào ngày hôm qua.”
Thực ra báo chí đã hiểu lầm về bản chất con người ông. Việc phát minh ra
chất nổ của Nobel ban đầu chỉ là công trình khoa học nhằm phục vụ cho
nhân loại. Chẳng hạn: Phá đá làm đường hầm xuyên qua núi, hoặc lấy đá
làm nguyên liệu xi măng xây dựng đường xá, cầu cống, nhà cửa và các
công trình phục vụ công ích. Nhưng về sau khi chiến tranh nổ ra, chính quyền
đã lạm dụng phát minh của No-bơn để chế tạo mìn sát thương trái với ý
muốn của ông.
Ngay sáng hôm đó, Nobel đã quyết định nhờ
luật sư làm di chúc để tình nguyện hiến toàn bộ tài sản to lớn của
ông để phục vụ nhân lọai. Đó là nguồn gốc của giải thưởng Nobel được
công bố hằng năm ngày nay. Mỗi năm, số tiền lời phát sinh từ tài sản kếch
xù ban đầu của Nobel đã được sử dụng làm giải thưởng có giá trị cao
cho bất cứ người nào, không phân biệt quốc tịch, có công sáng chế những phát
minh phục vụ nhân lọai về năm lãnh vực: vật lý, hoá học, y học, văn học và đấu
tranh cho hòa bình.
22. Tiếng kêu trong sa mạc
Một mẩu chuyện của người Phi Châu kể lại rằng: Một
người Ả Rập sống ở sa mạc có thói quen nằm sát xuống đất, úp tai trên cát từng
giờ lâu. Có người hỏi tại sao làm thế. Anh ta giải thích như sau: “Tôi nghe sa
mạc khóc vì nó rất muốn được làm một ngôi vườn xinh tươi.”
Sa mạc mong mỏi được trở thành ngôi vườn, cũng vậy,
tâm hồn con người luôn hướng tới về điều thiện. Khoảng cách giữa sa mạc và ngôi
vườn xinh tươi đó là nước non, điều kiện thời tiết và nhất là công lao của con
người.
23. Điều gì thúc đẩy tôi?
Theo truyền thuyết, lúc nhà danh họa Leonardo da
Vinci vẽ bức tranh “Bữa Tiệc ly” của Chúa Giêsu, ông có việc cải vã với một người
và đi đến xô xát nhau. Sau đó, ông vào phòng làm việc, cầm cọ lên định vẽ gương
mặt của Chúa, nhưng ông không phác họa được nét nào. Ngồi mãi không vẽ được, buộc
lòng ông phải quyết định làm một việc mà ông tin chắc nó sẽ giúp ông vẽ được
gương mặt Chúa… Ông đặt cọ xuống, đi thẳng đến gặp người ông vừa ẩu đả và làm
hòa. Sau đó, ông trở lại phòng làm việc, và vẽ được gương mặt Chúa dễ dàng.
Có bao giờ tôi trải qua một kinh nghiệm như ông
Leonardo không? Điều gì thúc đẩy tôi thống hối tội lỗi?
Điều khiến tôi thống hối tội lỗi, không những vì tội
lỗi đưa đến hỏa ngục, mà nhất là vì tội lỗi ngăn cản Chúa đến với tôi, không thể
đem ơn cứu rỗi cho tôi và mọi người cũng như ngăn cấm ông Leanardo vẽ gương mặt
Chúa.
24. Người giàu có nhất
Một chủ nông trài về nhà sau một chuyến du lịch. Sau
khi gặp gỡ gia đình mừng rỗ, ông đi thăm nông trại và người đầu tiên ông gặp là
người tá điền trung thành nhất của ông. Ông gặp ngay lúc người tá điền vào bàn
ăn, và trước khi ăn, người đó đọc kinh cầu nguyện và cám ơn Chúa.
Thấy vậy, ông ta nói: - Nếu Chúa ban cho tôi bữa ăn
tồi tệ như thế, tôi không bao giờ cám ơn Chúa.
Nghe vậy, người tá điền liền nói: - Tôi rất mừng được
gặp lại ông hôm nay, vì tối qua tôi mơ thấy người giàu nhất trong làng này sẽ
qua đời trong đêm nay.
Người chủ nông trại nghe nói thế thì hết sức bối rối
lo sợ, vì có ai là người giàu nhất trong làng nầy.
Thế là tối hôm đó ông ta mời bác sĩ đến khám sức khỏe.
Bác sĩ bảo ông rất khỏe mạnh, dù vậy ông vẫn ăn ngủ không yên. Đêm đó ông nằm
mãi vẫn không ngủ được, bỗng có tiếng gõ cửa. Ông hé cửa ra, một gương măt hớt
hải loan báo:
- Thưa ông, người tá điền của ông vừa qua đời:
Người chủ ông nông trại thở ra nhẹ nhõm, vì tử thần
chưa gõ cửa nhà ông. Nhưng ông lại chợt nghĩ: “Người giàu nhất trong làng này
không phải là ta…”
25. Tìm Chúa
Một thiếu nữ nghe nói Chúa ở trên ngọn núi tận cùng
trái đất. Nàng muốn tìm gặp Chúa để Chúa cứu giúp nàng. Nàng đi lên ngọn núi
đó. Nhưng ngay lúc nàng khởi sự leo lên thì Thiên Chúa tự nhủ:
- Làm thế nào Ta chứng tỏ cho loài người biết Ta
thương mến họ. Ta biết rồi: Ta sẽ xuống núi ở giữa họ.
Thế là khi cô thiếu nữ leo lên đến đỉnh núi, thì
Chúa không còn ở đó nữa. Nàng nghĩ:
- Thiên Chúa không có ở đây, như thế là chẳng có
Thiên Chúa.
Câu chuyện trên muốn nói với chúng ta: Nhiều khi
chúng ta tìm Chúa sai chỗ: Thiên Chúa đã xuống thế làm ngời ở giữa chúng ta. Ngạn
ngữ Do thái có câu: “Thiên Chúa ngự ở bất cứ nơi nào chúng ta để cho Ngài vào ở.”
Muốn Chúa đến ở với chúng ta, cứu vớt chúng ta,
chúng ta phải nghe tiếng Người: “hoán cải tâm hồn”, phải nghe lời thánh Gioan
Tiền hô: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, đường lồi lõm phải san cho phẳng. Rồi
mọi người phàm sẽ thấy ơn Thiên Chúa cứu độ”
26. Cú sút trật đích rồi
Một ngày chúa nhật vào tháng sáu oi ả, hàng triệu
người Mỹ đang theo dõi truyền hình trận tranh giải toàn quốc môn Golf tổ chức
trên sân cỏ lộ thiên. Ở phút gay go của trận đấu: máy thu hình tâp trung vào
Jack Nicklaus. Anh đang giữ banh ở khu đất lởm chởm và đang chuẩn bị sút bóng.
Chậm rãi nhưng quả quyết, anh giơ chiếc gậy nhắm vào quả banh, và suốt 20 giây
trên màn hình người ta thấy anh chần chừ, chuẩn bị sút bóng. Nhưng rồi đột
nhiên vào giây cuối cùng anh bỏ mặc qủa bóng và nói to cho mọi người nghe:
"Cú sút này trật đích rồi." Bình luận viên thể thao trận đấu bối rối
thốt lên: "Nhưng anh đã không sút bóng: không hiểu chuyện gì xảy ra với
anh?" … và cuộc tranh giải lại tiếp tục.
Về sau Nicklaus giải thích rõ ràng tại sao như vậy
trong cuốn sách của anh nhan đề: Golf My Way (lối chơi gôn của tôi). Anh mô tả
cách thức anh chuẩn bị cho từng cú sút bóng như thế nào: đầu tiên, anh sắp xếp
các cú sút trong trí, nghĩa là anh tưởng tượng ra trước từng cú sút, sau đó anh
mới vung gậy đánh thực sự trên sân. Anh nói: "Y hệt một cuộn phim màu, trước
hết tôi mường tượng trái banh tôi sắp vung gậy đánh, trái banh trông xinh xắn,
trắng trẻo đang nằm trên sân cỏ xanh thắm, rồi hình ảnh trong trí chuyển biến
thật lẹ làng và tôi thấy đường banh đang lăn, và thấy cả cách thức nó chạm đất
ra sao nữa, rồi cảnh ấy nhoà đi nhường cho cảnh tiếp theo. Cảnh này chỉ cho tôi
cách vung gậy để đưa những hình ảnh đã mường tượng trước đó trở thành hiện thực.
Điều mà Jack Nicklaus thực hiện trên sân golf vào
trưa chúa nhật nóng bức ấy chính là điều Giáo Hội khuyên chúng ta nên làm trong
suốt Mùa Vọng này, nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị tâm trí để đón tiếp Chúa
Kitô.
27. Sám hối, hoán cải tâm lòng
Thomas Merton là một tiểu thuyết gia nổi tiếng lan rộng
khắp thế giới. Vào thập niên 60, chàng theo Anh giáo, nhưng sống như người vô
thần. Một ngày nọ, tình cờ đi ngang một nhà thờ Công Giáo, chàng được Chúa thúc
đẩy ghé vào nhà thờ trong chốc lát. Từ trước tới nay Thomas Merton cũng đôi lần
đi nhà thờ đó, nhưng vì tò mò, vì theo anh em bạn cho vui hơn là vì lòng tin, dầu
chàng đã được cha mẹ cho rửa tội ngày còn nhỏ. Sau này, khi đã theo đạo Công
Giáo và nhập vào Trappiste khổ tu, Thomas Merton đã kể lại biến cố ấy như sau:
"Khi bước vào trong nhà thờ, điều đầu tiên lôi
kéo sự chú ý của tôi đó là, tôi trông thấy một cô gái duyên dáng tuổi chừng 15,
16 đang quì cầu nguyện một cách vô cùng sốt sắng, không để ý đến chuyện gì khác
xảy ra chung quanh. Khi cả lúc tôi bước vào nhà thờ, tôi rất đỗi ngạc nhiên trước
sự kiện, một thiếu nữ từng ấy tuổi lại quì cầu nguyện trong ngôi thánh đường lặng
lẽ, một cách hết sức tự nhiên và say đắm trong lời cầu, như thể bị hút hồn. Dĩ
nhiên, là cô gái nọ vào nhà thờ không phải là để cho người ta ngắm nghía, mà là
để cầu nguyện và chỉ để cầu nguyện mà thôi. Và nàng đã cầu nguyện chăm chú, sốt
sắng như các thánh trong một ngôi thánh đường thanh vắng. Cuộc gặp gỡ và thân
tình ấy của thiếu nữ đó với Thiên Chúa trong khung cảnh hoàn toàn vắng lặng của
ngôi thánh đường hôm đó, đó là một trong các nhân tố dẫn đưa tôi đến chỗ gặp
Chúa và theo đạo sau này.”
Ngôi thánh đường công giáo vắng lặng ấy, đó là một
bãi sa mạc nơi con người có thể gặp gỡ Thiên Chúa giữa lòng xã hội loài người
nhiều bôn chôn, dao động này.
28. Sợ ngày Chúa đến
Ngày tận thế, ngày kết thúc lịch sử của nhân loại
luôn là đề tài gây nhiều chú ý cho con người. Chẳng hạn như ở năm 1843-1844,
giáo chủ Cơ đốc phục lâm William Miller (1782-1849) ở Mỹ tin Chúa sẽ trở lại
vào ngày 21.03.1844. Ông lan truyền thông điệp: "Chúa đã chọn thời điểm hủy
diệt trái đất, thế giới sẽ hoàn toàn biến mất. Hãy sẵn sàng để gặp Chúa.” Thông
tin trên khiến hàng nghìn người dân trong vùng bán hoặc cho hết toàn bộ tài sản.
Tuy nhiên, "ngày tận thế" bình yên trôi qua mà không thấy Chúa xuất
hiện.
Năm 1992, một mục sư người Hàn Quốc, tên Lee Jang
Rim, viết trong cuốn sách thuộc loại bán chạy có tựa đề “Sắp đến gần ngày tận
thế" (Getting Close to the End), ông dự đoán ngày 28.10.1992 là ngày tất cả
tín đồ Ki-tô giáo đều được lên trời.” Tuyên bố này gây nên sự hỗn loạn trong xã
hội Hàn Quốc. Tại Seoul, 5.000 người bỏ việc, bán nhà và từ bỏ gia đình vì tin
vào tin đồn trên.
Và theo tin đồn gần đây nhất, 21.12.2012 sẽ là ngày
diệt vong của nhân loại dựa theo sự kết thúc lịch của người Maya. Tin đồn này
khiến nhiều người trên thế giới lo sợ. Họ đã tích cực mua nến, tích đồ lương thực,
xây dựng hầm trú ẩn... để mong muốn khỏi bị những thảm họa của ngày tận thế.
Thưa anh chị em, tất cả những dự đoán trên về ngày tận
thế nơi con người đều không đúng, không xảy ra nhưng đã làm cho con người hoang
mang sợ hãi. Con người sợ hãi vì không biết ngày Chúa đến sẽ như thế nào.
29. Sám hối là món quà quý giá nhất
Người Hồi Giáo Ảrập có kể một giai thoại nói về sám
hối rất hay: một ngày kia, Đức Thánh Ala cho gọi một thiên sứ đến và bảo:
"Ngươi xuống trần gian kiếm cái quý giá nhất của con người và mang về đây
cho Ta.” Thiên sứ ra đi thi hành mệnh lệnh.
Lần đầu tiên, ngài mang về cho Đức Thánh Ala một
bình máu của các chiến sĩ mà ngài hứng được trong trận chiến giữa người Hồi và
người Ấn Giáo (đó là máu của các vị tử đạo theo quan niệm của người Hồi Giáo).
Lần thứ hai thiên sứ mang về là hương thơm của lòng biết ơn mà người dân dành
cho vị trưởng làng qua cái chết của ông. Cả hai lần, Đức Thánh Ala rất vui, vì
đó là những điều quý ở trần gian mà sứ thần tìm kiếm được. Tuy nhiên, đây vẫn
không phải là món quà quý giá mà Đức Thánh Ala muốn tìm. Và, Ngài lại sai thiên
sứ đi lần thứ ba. Lần này, thiên sứ vừa đi vừa suy nghĩ, điều quý giá nhất ở trần
gian là cái gì? Bỗng nhiên, từ đàng xa, thiên sứ nghe thấy tiếng khóc của một
phụ nữ. Đến gần, thiên sứ cảm thương hỏi: "sao cô khóc"? Không có tiếng
trả lời! cô gái lại càng khóc nức nở hơn trước. Bấy giờ vị thiên sứ tiến lại gần
nắm lấy tay cô và hỏi: "sao cô khóc nhiều đến thế, có gì nói cho tôi nghe
với"? Bấy giờ có tiếng nói từ miệng cô thoát ra hòa lẫn tiếng nấc cùng với
dòng nước mắt tuôn rơi. Cô gái nói: "thưa ngài con đau khổ quá, con đau khổ
vì lỗi lầm của con, con đã xúc phạm đến nhiều người và làm trái với lòng
mình... Bây giờ con hối hận lắm....” Thật cảm động! thiên sứ liền hứng những giọt
nước mắt của cô mang về cho Đức Thánh Ala. Lần này Ngài vui mừng và reo lên:
"đây chính là điều Ta mong muốn. Giọt nước mắt của lòng sám hối chính là
món quà quý giá nhất mà Ta cần.”
30. Ai cần dọn đường?
Có một nhà giảng thuyết nổi tiếng, cứ hết Chúa nhật
này đến Chúa nhật khác, đều đến giảng tại một cộng đoàn rộng lớn. Họ rất chăm
chú lắng nghe. Vào một Chúa nhật, khi ông đang đi đến bục giảng, thì những lời
trong Tin Mừng vang bên tai ông: “Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho
thẳng để Người đi.”
Từ trên bục giảng, ông nhìn vào các gương mặt đang
chờ đợi của giáo dân, và tự hỏi không biết những lời đó có ý nghĩa gì đối với họ.
Những điều cần phải chấn chỉnh trong cuộc sống của họ là gì? Ông nhận ra rằng
chỉ bản thân họ mới có thể trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, có một lãnh vực mà
ông cảm thấy đáng nói đến: các mối quan hệ thường xuyên bị bóp méo và rối loạn
của họ.
Ông đã quen biết những người này cả một thời gian
dài. Họ đã từng đến với ông, để được giúp đỡ và hướng dẫn qua những vấn đề của
họ. Ông biết những đố kỵ nhỏ nhặt làm cho tâm hộn họ bực bội, những hận thù khiến
cho người này chống lại người kia, những cuộc cãi vã vặt vãnh vẫn còn tồn tại,
những ghen tỵ và hiểu lầm, sự tự hào xuẩn ngốc.
Ông quyết định gởi một thông điệp cho những con người
cố chấp, đầy cay đắng, không chịu tha thứ và bỏ qua đó. Ông sẽ ghi khắc nơi họ
ý tưởng rằng cuộc đời vốn dĩ quá ngắn ngủi rồi, không ai nên gây hận thù và bất
mãn cho nhau nữa. Ông sẽ van nài họ nên cư xử trong sự hiểu biết và khoan dung
đối với nhau. Ông sẽ nói với họ từ tận tâm hồn của ông, như thể ông đang nói
riêng với từng người vậy. Một ý tưởng bất chợt đến với ông, thế là ông bắt đầu:
“Thiên Chúa không cần chúng ta phải sửa đường cho Người, nhưng chính chúng ta mới
cần.”
31. Dọn đường đến với nhau
Một thương gia trong một thị trấn nhỏ nọ có hai người
con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của cha mình.
Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng. Mọi
việc đều êm đẹp cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất…
Người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi
đi ra ngoài với khách. Khi quay lại, tờ giấy bạc đã biến mất.
Người em hỏi người anh: – “Anh có thấy tờ giấy bạc
đâu không?” – “Không!”, người anh đáp.
Tuy thế, người em vẫn không ngừng tìm kiếm và gạn hỏi:
– “Anh không thể không đụng đến nó. Tờ giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy
đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó!”
Sự buộc tội phảng phất trong giọng nói của người em.
Căng thẳng bất đầu tăng lên giữa hai anh em. Sự oán giận cũng theo đó mà len
vào.
Không lâu sau, một hố ngăn cách gay gắt và sâu thẳm
đã chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào. Cuối
cùng không làm chung với nhau, và một bức tường ngăn cách đã được xây ngang giữa
cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau đó, lan đến
cả gia đình họ.
Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước của
hàng. Ông bước vào và hỏi người bán hàng: - “Anh đã ở đây bao lâu rồi?” Người
bán hàng đáp rằng anh đã ở đây cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp: - “Tôi phải nói
với anh điều này 20 năm trước tôi đang đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc
đó vì tiền khô cháy túi tôi đã phải chịu đói khát suốt 3 ngày trời. Khi tôi đến
đây bằng cửa sau thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi
ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là
món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh tha thứ lỗi.”
Người đàn ông ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt
lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên này.
“Ông có vui lòng sang cửa hàng bên và kể lại chuyện
này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không.” Anh ta đề nghị.
Rồi người khách lạ càng ngạc nhiên hơn khi thấy hai
người đàn ông trung niên, trông giống nhau, ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng.
Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường
thù hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ.
32. Sám hối như thế nào?
Vicka là một trong sáu thị nhân tại Mễ du, được
chính Đức Mẹ dạy dỗ, khi có người hỏi: “Theo cô biết, ăn năn trở lại là thế nào?”
- Ăn năn hối cải là ý thức rằng chúng ta đang sống
trước mặt Thiên Chúa, đêm cũng như ngày, và chúng ta chịu trách nhiệm về tất cả
những gì thuộc bản thân ta, cũng như những gì thuộc quyền sở hữu của ta. Mẹ đã
đến kêu gọi mọi người thế hãy nghe theo các sứ điệp của Mẹ mà ăn năn hối cải. Sống
trong tội quả là điều nguy hiểm! Những tai hoạ ghê gớm đang chờ đợi những kẻ
không quay trở về cùng Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa luôn tha thứ cho ta, dầu tội
lỗi đến như thế nào đi nữa. Không có tội nào quá lớn đến nỗi Thiên Chúa không
tha thứ được. Tình yêu Thiên Chúa luôn mãi lớn hơn tội lỗi chúng ta. Tất cả những
gì ta có thể làm là nài xin. Đức Mẹ đến để bảo ta nài xin Chúa tha thứ ngay bây
giờ. Mẹ nhắc lại cho ta rằng Thiên Chúa không bao giờ từ chối tha thứ cho bất cứ
ai xin Người.
- Và khi được hỏi về mức độ khẩn trương phải ăn năn,
Vicka đáp: “Đức Mẹ phải khóc vì những đứa con của mình không biết Thiên Chúa,
hoặc quay lưng với Thiên Chúa, hoặc bất tuân các giới răn của Người.
- Rồi sau khi được Đức Mẹ dắt đi tham quan thiên
đàng, luyện ngục và hoả ngục, cùng với Jakov, trong một cuộc phỏng vấn, có người
hỏi: “Từ khi thấy hoả ngục lời cầu nguyện của cô có khác gì không?” Vicka đáp
ngay: “Ồ! Dĩ nhiên là có. Bây giờ tôi cầu nguyện cho kẻ tội lỗi ăn năn hối cải.
Tôi biết cái gì đang chờ đợi họ, nếu họ từ chối quay trở về.
- Vậy điều gì xảy ra đối với kẻ phạm tội?
- Hết thảy chúng ta đều phạm tội. Đó là lý do Đức Mẹ
kêu gọi ta làm hoà lại với Thiên Chúa và với anh em ta, chị em ta, ngay từ bây
giờ. Ta càng cứng đầu chống nghịch đường lối của Thiên Chúa, thì ta càng rời xa
Nước Thiên Chúa. Và khi được hỏi: “Làm sao để chúng ta quay trở lại?” Vicka cho
biết: “Đức Mẹ bảo rằng bao lâu còn sống trên trần, ta còn có thể trở lại với
Thiên Chúa mọi giờ mọi phút, bằng cách ăn năn sám hối. Và cũng vì thế, ăn năn hối
cải không phải là một việc nhất thời, làm một lần là xong. Đó là con đường
xuyên suốt đời người, và lúc đầu, người ta có thể gặp nhiều khó khăn, vì satan
rất mạnh, nó tìm mọi cách để cản trở việc ăn năn hối cải của ta. Càng gặp khó
khăn ta càng phải cầu nguyện. Ăn năn hối cải không thể là chuyện trên đầu môi
chót lưỡi, song bằng hành động, bằng tình yêu, một công việc kiên trì mỗi ngày.”
- Còn Jakov, khi được hỏi ăn năn hối cải có ý nghĩa
thế nào đối với cậu? Cậu trả lời: “Khi em còn nhỏ, em chỉ biết sơ sơ về Thiên
Chúa. Cũng có đi dự lễ, đi nhà thờ, nhưng không bao giờ thực sự cảm nghiệm được
Thiên Chúa. Đi là chỉ do sự thúc đẩy. Cần nhất là Thiên Chúa phải sống trong
ta. Em không cảm nghiệm được điều ấy cho đến khi các cuộc hiện ra xảy ra. Em có
thể nói ăn năn trở lại là Thiên Chúa sống trong em và em nhận biết sự ấy.”
- Rồi khi được hỏi: “Làm thế nào để cảm nghiệm được
Thiên Chúa hiện diện trong đời sống? Jakov được Đức Mẹ dạy, trả lời: nhờ cầu
nguyện. Và như vậy, phương thế để ăn năn trở lại đó là: dành thời giờ để cầu
nguyện.
Bạn đã sám hối như thế nào? Và quyết định mỗi ngày
dành ra bao nhiêu thời giờ để cầu nguyện?
33. Chính Người cất ách tù đày cho chúng ta
Cô Angelina Jolie là một nữ minh tinh trong phim trường
Hollywood nổi tiếng nhất thế giới, có lối sống thác loạn về tình dục! Nhưng năm
2004 cô được chọn trong số 25 người làm việc từ thiện, và cô đã trở thành Đại sứ
thiện chí của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Được phỏng vấn, cô khiêm tốn thú nhận
đời tư của mình:
Trước đây khi còn làm diễn viên, cách sống của tôi
vô cùng tồi tệ, không xứng đáng là người, sự bình an không bao giờ đến với tôi!
Nhưng từ ngày tôi dốc của vào việc từ thiện và dấn thân phục vụ người xấu số,
tôi thoát được nếp sống hèn hạ trước đây, và sự bình an đến tràn ngập tâm hồn
tôi!
Lối sống cải thiện của cô minh tinh này, mới có thể
cất lời nói với mọi người: “Kìa Đức Vua là Chúa Tể hoàn cầu ngự đến. Chính Người
sẽ cất ách tù đày cho chúng ta” (Tung Hô Tin Mừng).
34. Trở về với Chúa
Bức tranh Gác Đêm của Rembrandt nổi tiếng nhờ độ
tương phản giữa màu sáng và màu tối của tuyệt tác này. Để bảo vệ tranh, mỗi thế
hệ lại đắp thêm nhiều lớp sơn dầu, khiến màu sáng trở thành mờ tối. Nhờ kỹ thuật
xử lý bằng hóa chất, người ta đã phục hồi được nguyên bản. Thế nhưng, lắm người
thất vọng thốt lên: “Đây không còn là Rembrant của tôi nữa.” Quá quen nhìn những
lớp sơn dầu thêm vào, họ nhận thấy tranh gốc xa lạ và nhạt nhẽo. Cũng vậy, có
thể do đọc Lời Chúa qua những lớp “sơn dầu” quen thuộc, ta cảm thấy Lời ấy xa lạ,
mất sức mạnh, đôi khi còn gây sốc cho mình. Trong khung cảnh của hoang địa
thanh vắng, ông Gioan có cơ hội thuận tiện để tiếp cận với Lời Chúa. Lời Chúa
ông nghe và sống đã thúc đẩy ông trở thành ngôn sứ, nghĩa là thành người mời gọi
người khác nghe và sống theo Lời Ngài.
Sứ mạng của các ngôn sứ qua mọi thời đại là “nuôi dưỡng
và khơi gợi một ý thức và cảm nhận khác với ý thức và cảm nhận của nền văn hóa
trổi vượt chung quanh ta” (Brueggemann).
35. Sa mạc
Thomas Morton là một tiểu thuyết gia nổi tiếng. Mặc
dù theo Anh giáo, nhưng khi còn trẻ, chàng đã sống như một kẻ vô thần. Sau khi
trở lại, chàng đã vào dòng khổ tu. Chàng đã ghi lại biến cố làm đảo lộn cuộc đời
chàng như sau:
Hôm đó tình cờ tôi bước chân vào một nhà thờ Công
giáo. Điều đầu tiên lôi kéo sự chú ý của tôi đó là một cô gái duyên dáng đang
quỳ cầu nguyện một cách sốt sắng, không để ý tới những gì xảy ra chung quanh.
Tôi tự hỏi: Tại sao một thiếu nữ trẻ đẹp lại có thể quỳ cầu nguyện trong một
ngôi thánh đường lặng lẽ, một cách hết sức tự nhiên và say đắm như thể bị hút hồn?
Dĩ nhiên cô gái vào nhà thờ không phải là để cho người
ta nhìn ngắm, mà là để cầu nguyện và chỉ để cầu nguyện mà thôi. Cuộc gặp gỡ thân
tình của cô gái với Thiên Chúa trong khung cảnh vắng lặng ấy đã là một trong những
yếu tố dẫn đưa tôi đến chỗ gặp Chúa và theo đạo sau này.
Ngôi thánh đường, trong bầu khí trang nghiêm và
thinh lặng ấy, phải chăng là hình ảnh của một sa mạc, nơi con người có thể gặp
gỡ và sống thân mật với Thiên Chúa giữa dòng chảy của một cuộc đời nhiều bon
chen và dao động này.
36. Trong tiền vé cả rồi
Một gia đình nọ lâm cảnh túng nghèo, khánh tận tài sản.
Họ quyết định bỏ lại tất cả để đến nhà một người thân mà gầy dựng lại công ăn
việc làm. Hàng xóm tốt bụng góp tiền cho đủ vé tàu đưa cả gia đình đến New
York. Họ chưa từng đi tàu xa đến 14 ngày đêm như thế bao giờ nên họ chuẩn bị
phó mát, rau cỏ, bánh sandwich và chất tất cả trong cabin của cả gia đình. Dù
ăn uống rất dè sẻn, nhưng đến ngày thứ 12, họ chỉ còn vài cái bánh sandwich để
nhấm nháp.
Lúc cả nhà gần như đói lả, đứa con trai út lại nài nẵng
xin cha `mẹ một xu để lên boong mua một cục kẹo hay một cái bánh. Họ không nỡ
lòng từ chối nên đưa tiền cho đứa bé. Nó cầm tiền đi ra.
Một giờ sau cũng không thấy nó trở lại, cả nhà phát
hoảng, ông bố lên boong tàu tìm con. Trên boong tàu ông thấy con trai ông ở giữa
đám người ngồi chật ních quanh các bàn ăn đầy thức ăn ngon lành, miệng ngồm
ngoàm nhai ngấu nghiến. Ông đến quát lớn với cậu:
- Sao con dám ăn uống như vậy, bố làm sao có đủ tiền
trả cho con! Ai bảo con ăn như vậy?
- Bố đoán thử xem đi … Bố ơi, chúng ta đáng ra đã được
ăn uống như thế này từ đầu đấy. Người ta đã tính cả vào vé tàu rồi mà, cậu bé
tươi cười trả lời.
Chúa không dựng nên con người để đày đọa, mà để được
hạnh phúc khi thi hành thánh ý Chúa: “Theo quyết định Chúa, mọi loài tồn tại
mãi đến nay, vì muôn sự đều phục vụ Chúa. Nếu luật Ngài chẳng làm con vui thoả,
gặp cơn khổ nhục, con đã tiêu vong” (Tv 119,91-92)
37. Hãy xét lại đường lối con đi
Một lần nọ, Mark Twain gặp một người hợm mình mộ đạo.
Người đó nói: “Trước khi chết, tôi sẽ đi hành hương Đất Thánh. Tôi sẽ leo lên đỉnh
núi Sinai và đọc to Mười Điều Răn của Thiên Chúa!”
Mark Twain đáp lại: “Tôi có một ý tưởng hay hơn! Tại
sao ông không ở nhà và giữ Mười Điều Răn?”
Không giữ Mười Điều Răn, tôi đang mong ai đến?
Lời Chúa rõ ràng: “Con xét lại đường lối con đi, và
quay gót trở về cùng thánh ý. Con mau lẹ chứ không trì hoãn tuân theo mệnh lệnh
Ngài” (Tv 119,59-60). Bởi đó, thánh Phaolô khẩn khoản nài xin cho mọi tín hữu
“được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Chúa
Kitô quang lâm” (Pl 1,10)
38. Sống trong hy vọng
Ai cũng có lúc thấy đời mình như một cuộc đoạ đày.
Ông Gióp đã than thở: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ
dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê? Tựa người
nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công, cũng thế, gia tài của tôi
là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề. Vừa nằm xuống,
tôi đã nhủ thầm: 'Khi nào trời sáng?' Mới thức dậy, tôi liền tự hỏi: 'Bao giờ
chiều buông?' Mãi tới lúc hoàng hôn, tôi chìm trong mê sảng”
Và cái đau đớn nhất của kiếp người là đánh mất niềm
hy vọng: “Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia
hy vọng.” (G 7,1-4.6)
Nhưng Chúa không dựng nên con người để đày đọa, mà để
được hạnh phúc. Người ta tìm thấy hạnh phúc đó khi thi hành thánh ý Chúa: “Nếu
luật Ngài chẳng làm con vui thoả, gặp cơn khổ nhục, con đã tiêu vong” (Tv
119,92)
39. Vẽ dung nhan Chúa
Truyền thuyết kể rằng trong khi vẽ bức “Tiệc Ly”
danh họa Leonardo da Vinci đã đánh nhau với một người. Sau đó, ông đến phòng
làm việc, cầm cọ lên chuẩn bị vẽ mặt Chúa Giêsu, nhưng ông hết sức chán nản, vì
không thể phác một nét nào ra hồn. Ông đặt cọ xuống, đến làm hòa với người ông
vừa ẩu đả. Sau đó, ông trở lại phòng làm việc và bắt đầu vẽ lại khuôn mặt Chúa
Giêsu.
Tôi đã bao giờ trải qua một kinh nghiệm như Leonardo
không? Cái gì thúc đẩy tôi thống hối tội lỗi?
Điều khiến ta thống hối tội lỗi, không những vì tội
lỗi đưa chúng ta xuống hỏa ngục, nhưng còn vì tội lỗi là điều bất chính và xúc
phạm đến Thiên Chúa, và cũng là xúc phạm đến chính bản thân. (Gardiner Spring)
THỨ HAI – BỆNH CỦA TÂM HỒN VÀ TÌNH LIÊN ĐỚI
Lời
Chúa: Lc 5, 17-26
Ngày
ấy, Chúa Giêsu đang ngồi giảng, có cả những người biệt phái và tiến sĩ luật từ
các làng mạc xứ Galilêa, xứ Giuđêa và Giêrusalem đến nghe Người, và Người dùng
quyền lực của Thiên Chúa chữa nhiều người. Người ta khiêng một người bất toại đến,
họ tìm cách vào nhà để đặt người bất toại trước mặt Người. Nhưng không tìm được
lối vào, vì dân chúng quá đông, họ liền trèo lên sân thượng và thả người bất toại
xuống giữa cử toạ trước mặt Chúa Giêsu. Thấy lòng tin của họ, Người nói:
"Hỡi người kia, tội ngươi đã được tha!"
Các
luật sĩ và biệt phái bắt đầu lý luận rằng: "Người này là ai mà dám nói phạm
thượng? Trừ một mình Chúa, ai có quyền tha tội?" Chúa Giêsu biết rõ điều họ
suy tính, liền nói với họ: "Sao các ngươi lại nghĩ trong lòng như vậy? Nói
rằng: "Các tội của ngươi đã được tha", hay nói: "Ngươi hãy đứng
dậy mà đi", đàng nào dễ hơn? Song (như thế là) để các ngươi biết Con Người
có quyền tha tội ở dưới đất." Người nói với người bất toại rằng: "Ta
bảo ngươi, hãy chỗi dậy vác giường về nhà."
Tức
thì anh ta chỗi dậy vác giường đi về nhà và ca tụng Thiên Chúa. Ai nấy đều sợ
hãi và ngợi khen Thiên Chúa; họ kinh sợ và nói: "Hôm nay chúng ta đã thấy
những việc lạ lùng."
TRUYỆN KỂ
1. Bệnh của tâm hồn
Bệnh
tật nơi thân xác con người có thể tượng trưng cho một thứ bệnh tật nào đó nơi
tinh thần.
Ít
người mắc bệnh câm, nhưng ai cũng có kinh nghiệm về sự câm nín, do sợ hãi của
chính mình hay do bị đe dọa bắt phải im. Ít người mắc bệnh điếc, nhưng lại có
quá nhiều cuộc đối thoại mà hai bên chẳng hiểu nhau, vì mất khả năng nghe.
Người
mù không phải chỉ là người không thấy ánh mặt trời, nhưng còn là người không
dám thấy ánh sáng của sự thật, không nhận ra hình ảnh người anh em nơi khuôn mặt
kẻ thù.
Không
phải ai cũng có bàn tay khô bại, không duỗi ra được, nhưng ai cũng có lần thấy
mình khó đưa tay ra để bắt tay người khác.
Đức
Giêsu đã chữa cả thảy bao nhiêu bệnh nhân, chúng ta không biết. Nhưng chắc Ngài
đã không dừng lại ở việc chữa lành thân xác. Ngài muốn một sự lành mạnh nơi
toàn diện con người."Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai” (Is 35, 6).
2. Tâm hồn bình an.
Một
buổi sáng tháng 7/1971, tại một thành phố bên Hoa Kỳ, một người đàn ông đến nộp
mình tại một trạm cảnh sát gần nhà. Ông thú nhận đã giết một người đàn bà cách
đó 21 năm. Ông cho biết trong 21 năm qua, ông không bao giờ chợp mắt được mỗi
khi màn đêm phủ xuống. Ông nói: “Chỉ vì một phút say sưa, tôi đã biến 21 năm
qua thành một cơn ác mộng. Giờ đây sau khi thú nhận tội lỗi, tôi cảm thấy thanh
thản trong lương tâm. Tôi cảm thấy như được tái sinh."
Những
câu chuyện nộp mình và thú nhận tội lỗi như trên đây không phải là chuyện hiếm
có trong lịch sử nhân loại. Riêng với người Kitô hữu, đó là một phần của cuộc sống
đức tin. Trong những cao điểm của năm phụng vụ, lời nhắc nhở của Giáo Hội về ý
nghĩa này lại càng tha thiết hơn. Đặc biệt mỗi khi Mùa Vọng về, Giáo Hội khẩn
kêu mời chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón Chúa giáng sinh, Chúa của hoà bình. Làm
sao chúng ta cảm nhận được bình an tâm hồn, nếu tội lỗi vẫn còn đè nặng lương
tâm của chúng ta?
3. Phép lạ ở Lộ Đức
Serge
Francois mắc chứng thoát vị đệm (hernia) từ nhiều năm và được giải phẫu hai lần,
khiến cho chân trái gần như hoàn toàn tê liệt. Ngày 12/4/2002, ông đến hang đá
Massabielle tại Lộ Đức để cầu nguyện. Ông đã bị một cơn đau khủng khiếp khiến
ông tưởng như sắp chết. Sau những giây phút cầu nguyện chỉ vài phút sau đó, cơn
đau đã nhường chỗ cho một cảm giác khỏe khoắn và ấm áp. Chân trái ông hết đau
và từ từ cử động được.
Ngày
01/12/2008, sau nhiều năm nghiên cứu hồ sơ, Ủy ban Khoa học quốc tế trung tâm
hành hương Lộ Đức, gồm khoảng 20 bác sĩ (có cả thành viên không Công giáo và vô
thần), nhìn nhận rằng việc khỏi bệnh của Francois không thể giải thích được về
mặt y khoa, vì diễn ra bất ngờ, toàn diện và lâu bền mà không qua bất cứ một trị
liệu y khoa.
Thiên
Chúa chọn Lộ Đức để biểu lộ tình thương của Ngài qua trung gian nhờ lời cầu bầu
của Đức Mẹ. Qua đó, Ngài đã bầy tỏ vinh quang cho nhân loại, khi chữa lành nhiều
bệnh tật của nhiều anh chị em được đem đến Lộ Đức.
4. Tha tội trước
Tờ
New York Times ngày 17. 3. 1994 có đăng câu chuyện có thật của một phạm nhân
tên là Ricardo Caputo như sau:
Ông
ta là một tội phạm nghiêm trọng của tòa án liên bang. Ông đã cưới và ăn ở với 4
người vợ trong suốt 20 năm trời và đặc biệt là ông đã giết chết cả bốn người vợ
đó. Rồi bằng nhiều thủ đoạn khéo léo, ông đã trốn thoát khỏi tất cả những mạng
lưới bao vây lùng bắt của pháp luật. Tuy nhiên, sau 20 năm, ông ta đã tự ra đầu
thú tại sở cảnh sát Mineola, New York. Bởi vì lương tâm ông cắn rứt làm ông
không thể chịu nổi. Khi đầu thú, ông cho biết, ông thà bị giam cầm trong ngục
còn sướng hơn bị lương tâm cắn rứt và tội lỗi dày vò.
Chúa
Giêsu tha tội trước khi chữa cho người bại liệt được khỏi vì theo Chúa tội lỗi
cũng là một thứ bệnh. Hơn nữa, nó còn là một thứ bệnh nguy hiểm, nhiều khi còn
nguy hiểm hơn cả bệnh phần xác. Lý do vì tội làm cho con người phải xa lìa
Thiên Chúa nên không thể có hạnh phúc.
5. Chữa lành tâm hồn
Tại
một phòng cấp cứu khoa tim mạch, người ta mới chuyển đến một gã đàn ông tóc
dài, râu tua tủa, vừa dơ bẩn vừa béo ị một cách bệnh tật. Ông khoác hờ hững một
chiếc áo jacket bằng da đã cáu bẩn và rách tươm. Toàn thân ông toát ra mùi nồng
nặc của rượu và mồ hôi, và nhất là cái mùi của những bãi rác mà ông thường lê
la ở đó.
Thoạt
nhìn thấy ông được đẩy vào phòng, những nữ y tá đã giật mình và bối rối nhìn
nhau. Và dường như những y tá đang muốn nói với nhau qua ánh mắt của mỗi người:
-
Không, tôi không muốn chăm sóc người này.
Họ lấm la lấm lét nhìn Bonnie, người y tá trưởng
vốn nổi tiếng nghiêm khắc và nguyên tắc. Ai cũng sợ bị phân công tắm rửa cho
người đàn ông mới được chuyển vào. Bonnie nhìn quanh một lượt rồi quyết định một
điều mà không ai có thể nghĩ đến:
-
Đây sẽ là bệnh nhân của tôi.
Bonnie
nhanh nhẹn mang găng tay cao su và một mình chuẩn bị xà phòng, thuốc sát trùng,
dao cạo...
Dịu
dàng và dè dặt, Bonnie vừa tẩy rửa, vừa giúp người đàn ông đáng thương này. Cô
nhẹ nhàng nói:
-
Vào những ngày lễ chúng tôi rất bận. Nhiều khi việc vệ sinh cho các bệnh nhân
cũng được làm qua loa. Ông hãy thư giãn cơ thể và cảm nhận làn nước mát này. Nó
sẽ làm ông cảm thấy dễ chịu vì bệnh viện là nơi làm cho người ta thấy yêu cuộc
sống hơn.
Thân
thể người đàn ông đầy những vết sẹo nham nhở. Có thể ông đã nghiện rượu, nghiện
ma tuý, đã từng tham gia trong các băng đảng... Bonnie vừa chùi rửa vừa cầu
nguyện cho một linh hồn bị vùi dập trong cuộc đời khắc nghiệt.
Công
đoạn cuối cùng của Bonnie là xoa sữa làm ấm cơ thể và thoa phấn trẻ em lên người
bệnh nhân. Ngược với vóc dáng dữ tợn, khi úp mặt vào gối để được xoa bóp ở
lưng, người đàn ông không giấu được sự cảm động. Ông tấm tức khóc. Khi quay lại,
đột nhiên ông ta nhìn Bonnie với một ánh mắt xanh lơ đẹp kỳ dị:
-
Cám ơn cô. Đã lâu lắm rồi, không có ai chạm vào người tôi một cách dịu dàng thế
này! Dường như trái tim tôi cũng đang liền sẹo!
Mẹ
Têrêsa đã có lần nói: "Nghèo khó, không chỉ là đói ăn thiếu mặc, mà còn là
sự cô độc và thiếu tình thương."
6. Khiêng người bệnh
Bỏ
đạo từ lâu và khi biết mình sắp chết, người anh của giám mục H. Camara (Braxin)
hỏi ngài: “Lâu nay tôi để ý thấy không có sự cách biệt nào giữa lời giảng và việc
làm của chú. Vậy tôi có thể dựa vào lòng tin của chú mà rước Chúa không?” – Em
tin Chúa lòng lành thương anh. Thế nhưng, sau khi xưng tội và rước Chúa, anh thều
thào: “Bây giờ tôi tin không phải dựa vào lòng tin của chú mà thực sự tôi xác
tín Chúa thương tôi.” Người bại liệt trong bài Tin Mừng được cứu nhờ niềm tin của
bạn bè. Tự bản thân không đến được với Đức Giêsu, anh đã nhờ sự giúp đỡ của bốn
người khiêng. Những người này không đến được với Ngài bằng cửa chính, họ phải
nghĩ đến con đường gay go hơn: bằng mái nhà. Niềm tin đích thực sẽ chắp đôi
cánh đưa ta vượt qua mọi trở ngại trên đường đến với Chúa.
Sử
gia T. Carlyle nói rằng tiếng mẹ ông như luôn vang vọng bên tai: “Con hãy tin cậy
Chúa và làm điều lành.” Bao người con đã trở thành người tốt nhờ đức tin của
cha mẹ; cũng như bao con người trở nên tốt đẹp hơn nhờ đức tin của những bạn
thân. Hôm nay Chúa cũng mời gọi bạn tích cực hơn để đem niềm tin đến cho người
khác.
7. Đừng sợ
Jo
Jo Starbuck là một người trượt băng người Mỹ nổi tiếng. Khi còn trẻ, cô phải phấn
đấu để trở thành người trượt băng giỏi. Cô thường chán nản trở về nhà vì bị huấn
luyện viên la rầy. Những lúc như thế, mẹ cô thường động viên cô. Jo Jo nói:
“Tôi trở về nhà, khóc lóc và bỏ cuộc. Nhưng mẹ tôi thường xuyên nâng đỡ tôi.
Người khuyên bảo tôi cho tới khi tinh thần tôi được phục hồi.”
Những
lời nâng đỡ của mẹ Jo Jo và những lời đầy khích lệ của ngôn sứ Isaia mời gọi
tôi tự hỏi: tôi nâng đỡ và khích lệ những người cần được phục hồi tinh thần như
thế nào?
Điều
tuyệt vời nhất bạn có thể làm, không chỉ là chia sẻ của cải, mà là giúp người
khác nhận ra được chính mình. (Benjamin Disraeli)
8. Tha thứ để giúp người
chỗi dậy
Cách
đây nhiều năm, Joe Queen lái một chiếc xe kem, trên xe có gắn hai chuông đồng
mà Joe lắc để cho biết anh đang có mặt ở khu vực. Vào một buổi sáng ngày giáng
sinh, Joe lúc đó đã về hưu, tìm thấy một hộp bìa cứng trên sân. Trong đó có hai
chuông đồng, một hộp bánh, và một mẩu giấy viết như sau: “20 năm trước đây, tôi
đã đánh cắp những chiếc chuông khỏi xe của ông. Xin lỗi. Chúc mừng Giang sinh!”
Joe nói: “Nếu tôi đã thấy anh ta khi trả lại những chiếc chuông, tôi đã bắt tay
anh ta và bảo rằng anh ta được tha thứ.”
Sự
sẵn sàng tha thứ của Joe là một hình ảnh về sự sẵn sàng tha thứ của Chúa Giêsu.
Nó khiến tôi tự hỏi: tại sao tôi lại do dự tha thứ hoặc xin được tha thứ?
Tha
thứ là câu trả lời cho giấc mơ trẻ thơ: những gì đổ vỡ được hàn gắn lại và những
gì vấy bẩn sẽ được tẩy sạch (Dag Hammarskjold)
9. Cầu nguyện để đón nhận
tình thương
Hồng
y Bernadin nhận xét rằng trước khi có thể theo Chúa Giêsu, chúng ta phải trải
qua một quá trình hoán cải. Chúng ta phải nhận biết và yêu mến Ngài. Một cách để
nhận biết Chúa Giêsu là mở rộng lòng mình đón nhận Ngài qua lời cầu nguyện đều
đặn mỗi ngày.
Nhận
xét của Hồng Y Bernadin và việc Chúa Giê su chữa lành người bại liệt mời gọi
tôi nhìn vào lòng mình và tự hỏi: Điều gì khiến tôi không mở rộng lòng mình hơn
nữa với Chúa Giê su trong lời cầu nguyện?
Chúa
phán: “Ta sẵn sàng đáp lời khẩn nguyện của dân Ta, nhưng chúng không hề nguyện
xin. Ta sẵn sàng chờ đón chúng tìm gặp Ta, nhưng chúng chưa một lần cố gắng.”
(Is 65,1)
10. Họ dỡ mái nhà bởi
lòng khao khát
Có
lẽ số phận ngồi tù là một trong những hoàn cảnh bế tắc nhất của một người, thế
nhưng chẳng có gì ngăn cản tâm hồn khao khát Chúa như ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn
Văn Thuận làm chứng: “Ban đêm, các tù nhân thay phiên nhau thờ lạy Chúa. Với sự
hiện diện lặng lẽ, Chúa Giêsu Thánh Thể đã làm nên những việc kỳ diệu… Và thế
là đêm tối của nhà tù đã trở thành ánh sáng Phục sinh… Nhà tù trở thành trường
dạy giáo lý.”
Với
cuộc sống hiện đại dư thừa tiện nghi vật chất, người ta dửng dưng không cần đến
Chúa. Phần bạn, điều gì thúc bách bạn khao khát tìm đến Chúa để được Ngài cứu độ?
Trong
ngày, bạn dành ít phút hồi tâm hoặc viếng Thánh Thể để khơi dậy lòng khao khát
Chúa: Như nai rừng mong mỏi, tìm về suối nước trong, hồn con luôn mong mỏi, tìm
gặp Ngài, lạy Chúa.
THỨ BA - CON CHIÊN LẠC ĐÀN
Lời
Chúa: Mt 18, 12-14
Khi
ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con nghĩ sao? Nếu ai có một
trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con
trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy
bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên
không thất lạc.
Cũng
vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải
hư đi."
TRUYỆN KỂ
1. Chiên lạc
Một
nhà truyền giáo trong vùng Thái bình dương có kể lại sự kiện như sau: Ngày nọ
có một người đàn bà bước vào lều của Ngài với đôi bàn tay nắm chặt cát ướt. Bà
hỏi ngài:
-
Cha có biết cái gì trong tay con không?
Vị
linh mục đáp:
-
Hình như chị đang cầm cát trong tay thì phải?
Người
đàn bà lại hỏi tiếp:
-
Cha có biết tại sao con mang cát ấy đến đây không?
Nhà
truyền giáo lắc đầu.
Người
đàn bà liền giải thích:
-
Thưa cha, đây là tội lỗi của con, tội con nhiều như cát biển, làm sao con có thể
được tha thứ?
Lúc
bấy giờ vị linh mục mới an ủi:
- Có
phải chị lấy cát từ bờ biển không, vậy chị hãy quay trở lại bờ biển và giống
như các em bé vẫn thường làm, chị hãy xây một núi cát, rồi chị ngồi đó và ngắm
những đợt sóng biển, sóng biển sẽ vỗ vào bờ và cuốn đi ngọn núi cát của chị. Ơn
tha thứ của Chúa cũng giống như thế, lòng nhân từ của Ngài bao la như đại
dương, chị hãy thành tâm thống hối và Chúa sẽ tha thứ cho chị.
2. Tình yêu không biết đếm
Ở
Phi châu, có một bộ tộc khá kì lạ. Họ không bao giờ đếm, không ai biết tí gì về
toán học. Có người hỏi một người dân bản địa có bao nhiêu cừu.
Anh
đáp: “Không biết. ”
“Vậy
nếu lỡ mất một hai con, làm sao anh biết."
Câu
trả lời thật ý nhị: “Không phải tôi mất một con số, mà mất một bộ mặt."
3. Tình mẹ tha thứ.
Ở
Batna, có một gia đình nằm vào địa điểm hẻo lành, gồm bà mẹ với các con, mà thằng
con lớn phản bội vô số kể, tên là Sidi Melkassen, ưa a tùng với côn đồ du đãng,
bị mẹ khiển trách hằng ngày. Mất tự do, thằng đó bực tức, nhất định hai mẹ con
không đội trời chung. Liền bắt mẹ đem giam cầm vào một nhà cô tịch tăm tối. Lấy
sợi xích lớn mà xiềng hai chân mẹ nó lại, đoạn đục vào tường gắn móc khóa lại
và giữ chìa khóa trong túi. Đành lòng đóng cửa lại trước những tiếng kêu la,
khóc lóc, van nài của mẹ.
Trên
ba năm trời tù túng, nóng nực, lạnh lẽo, không mền, không chiếu, bữa no bữa
đói, người mẹ than khóc đã khô nước mắt, kêu không ai nghe, buồn không một lời
an ủi.
Chiều
nọ, một nàng dâu thảo giật được chìa khóa và mở cửa, tháo xiềng giải thoát cho
người mẹ vô phúc. Bà đi ra giữa thanh thiên bạch nhật, không còn hình tượng người
nữa, ai nấy đều thương hại. Việc này thấu đến tai nhà chức trách, thằng con bất
hiếu bị bắt và kêu án sáu tháng tù ở. Ai nấy đều ca tụng công lý. Chỉ có bà mẹ
quên tội của con, cất tiếng lên vừa than khóc vừa xin tòa đừng tống giam con mình
tội nghiệp.
4. Cái chết của Chúa cho
thấy giá trị của sự sống
Đã
có lần tôi cảm thấy ngao ngán khi phải đến thánh đường. Tất cả những sinh hoạt
tôn giáo đối với tôi chỉ mất thời gian và vô nghĩa. Chúa ở đâu? Tôi chẳng cần
biết nữa. Và tôi tự giải thoát bằng đam mê học tập, lo toan kiếm sống và chạy
theo những thú vui… Cuộc sống vẫn trôi, vẫn vui.
Rồi
một ngày, trên đường đến trường, tôi gặp đám tang của một bạn trẻ. Sau quan
tài, bà mẹ được hai người dìu bước, khóc nức nở… Cảnh tượng ấy làm tôi hết sức
xúc động. Nhìn gương mặt tươi trẻ của anh trong khuôn ảnh, tôi tự hỏi: Cuộc sống
chỉ có thế thôi sao? Bạn ấy sẽ đi về đâu? Còn tôi? Chẳng lẽ cuộc sống lại kết
liễu dễ dàng như vậy sao? Tôi cảm thấy băn khoăn, trống rỗng. Chẳng biết phải
làm gì nữa, tôi lại tìm đến Chúa… Nhìn lên thập giá, Chúa Giêsu đang dang tay,
đầu gục xuống, như mong mỏi, chờ đợi tôi từ lâu. Trong thinh lặng, tôi đã nhận
ra chính Ngài đã kiếm tìm tôi qua sự kiện bất ngờ ấy.
Lạy
Chúa, xin cho con luôn cảm nhận được tình Ngài luôn dõi bước theo con, kiếm tìm
con, chờ đợi con, dẫu có những lúc con đã quên Ngài (Epphata).
5. Tình yêu của Thiên
Chúa
Truyền
thống Do Thái kể rằng: Để dạy cho Môisen bài học về sự yêu thương mà ông sẽ phải
đem ra áp dụng với đoàn dân Chúa trao sau này, thì một hôm lúc ông còn đang lẩn
trốn trong sa mạc, Chúa đã cho ông gặp một người chăn chiên. Ông đã sống trọn
ngày với người chăn chiên này và giúp anh ta vắt sữa. Chiều đến, ông thấy anh
ta đổ thứ sữa tốt ấy vào trong một cái bát lớn, đặt nó trên một hòn đá cách đó
không xa. Môisen hỏi thì anh trả lời:
-
Đó là sữa dành cho Thiên Chúa. Người chăn chiên trả lời.
Môisen
tự cho mình có bổn phận phải giải thích cho thanh niên biết rằng, Thiên Chúa là
Thần Linh. Người không uống sữa. Người thanh niên không muốn tin điều này cho
nên sau một hồi tranh luận, Môisen gợi ý để cho anh đến núp sau bụi cây và rình
xem Thiên Chúa có đến uống sữa của anh ta không... Đêm đó, người chăn chiên núp
sau một bụi cây, dưới ánh trăng, anh nhìn thấy một chú chồn tơ đến liếm một
cách thèm thuồng bát sữa của anh. Xong chú chồn chạy biến vào sa mạc.
Sáng
hôm sau, Môisen gặp lại người chăn chiên trong trạng thái sa sút tinh thần.
Môisen hỏi anh:
-
Hình như anh có điều gì không ổn?
Người
chăn chiên chậm rãi trả lời:
-
Ông quả có lý! Thiên Chúa là Thần Linh, Người không thèm sữa của tôi.
Ngạc
nhiên, Môisen nói lớn:
-
Bây giờ anh đã biết Thiên Chúa hơn rồi! Đáng lý ra anh phải hài lòng và vui lên
mới phải chứ!
-
Vâng, anh ta đáp - Tuy nhiên, cách tốt nhất để cho tôi biểu lộ tình yêu đối với
Ngài đã bị mất.
Lúc
đó, được Chúa soi sáng, Môisen đã chợt hiểu. Ông rút lui vào nơi thanh vắng.
Ông cầu nguyện thâu đêm. Đêm đó, Thiên Chúa hiện ra với ông và nói:
-
Môisen, ngươi đã lầm! Ta là Thần Linh. Điều này rất đúng nhưng không phải vì thế
mà Ta đã không ưa thích đón nhận bát sữa của người chăn chiên dâng lên cho Ta để
tỏ lòng thương mến Ta. Tuy nhiên, bởi vì Ta không cần dùng sữa, Ta đã chia sẻ
bát sữa ấy với chú chồn tham ăn kia!
Vâng!
Tình yêu của Chúa là thế.
6. Tình yêu không biết
lên án
Trong
một nhà thờ ở Tây Ban Nha, người ta tôn kính một cây Thánh Giá cổ xưa mà cánh
tay phải của Chúa tách rời khỏi đinh. Cây Thánh Giá này có lịch sử như sau:
Ngày
nọ, một tội nhân “gạo cội” đến xưng thú tội mình dưới cây Thánh Giá này với tất
cả dấu hiệu của một sự thống hối chân thật. Cha giải tội do dự ban phép tha tội
cho ông ta vì các tội của ông ta nhiều và nặng. Tội nhân nài xin sự tha thứ.
- Tôi ban phép giải tội cho ông, vị linh mục
nói, tuy nhiên, ông không được tái phạm nữa nhé!
Tội nhân xin hứa và giữ được một thời gian.
Nhưng rồi, vì yếu đuối ông lại sã ngã lại. Lòng thống hối thúc đẩy ông đến toà
giải tội. Vị linh mục bảo ông:
- Lần
này thì tôi không ban phép giải tội cho ông đâu!
-
Con thống hối, - tội nhân đáp lời vị linh mục - con rất chân thành khi đoan hứa
với cha, nhưng con yếu đuối! Xin hãy tha thứ cho con!
Cha
giải tôi tha thứ và nói thêm:
-
Đây là lần cuối cùng đó nhé!
Một thời gian khá lâu sau đó, một phần theo
thói quen, một phần vì yếu đuối, ông lại rơi vào vòng tội lỗi.
-
Bây giờ thì dứt khoát! –vị linh mục bảo - ông luôn rơi lại trong cùng một tội lỗi.
Sự thống hối của ông không chân thành.
-
Thưa Cha, con rất chân thành thống hối. Con sa ngã vì con yếu đuối. Con thẳng
thắn, chân thực, nhưng con bệnh hoạn.
-
Không, không còn sự tha thứ cho ông nữa.
Vào
chính lúc đó người ta nghe có tiếng người khóc và có tiếng động phát xuất từ
cây Thánh Giá: một cánh tay rời khỏi đinh, giơ lên và vạch trên đầu tội nhân dấu
hiệu sự tha thứ, đồng thời có một tiếng nói: “Ngươi, ngươi có đổ máu ngươi ra
cho người này đâu!”
7. Ai đã bảo vệ con cừu
yếu ớt?
Trong
một cuộc mít tinh tại Nga, một diễn giả theo chủ nghĩa duy vật vô thần đã thao
thao diễn thuyết cho rằng không có Thượng Đế: ”Sự sống tự nhiên mà có và phát
triển bằng cách "tuyển chọn" và "đào thải" tự nhiên. Trong
cuộc chiến đấu sinh tồn này, những thú vật mau và mạnh thì thắng, còn những thú
vật yếu thì bị tiêu diệt.”
Thình
lình một Kitô hữu đứng lên đặt câu hỏi:
- Nếu
vậy, thì tại sao con cừu không bị tuyệt diệt mà vẫn sống còn cho đến bây giờ? Tại
sao chó sói không diệt hết được chúng? Chó sói có thể sinh một lúc năm, sáu sói
con, trong khi cừu chỉ có thể sinh từng con một. Sói lại có răng nhọn, móng vuốt,
có sức mạnh và nhanh nhẹn, còn cừu thì không có gì hết để tự vệ. Vậy tại sao cừu
vẫn sống còn?
Bị
hỏi bất ngờ, diễn giả lúng túng không biết phải trả lời làm sao, thì người kia
vừa hỏi vừa giải thích:
- Vậy
xin hỏi: Ai đã bảo vệ những con cừu yếu ớt này? Con người có thể giải thích nhiều
sự kiện mà không cần gì đến Thượng Đế, nhưng loài cừu không thể sống, nếu không
có Thượng Đế. Và nếu không có Thượng Đế, thì đàn chiên cừu đáng thương của Chúa
Giêsu làm sao sống được khi mà Hội Thánh đã bị cấm cách nghiệt ngã từ khi được
thành lập cho đến hôm nay.
8. Tiếng Chúa với
Augustino
Trước
khi hoán cải vào năm 389, thánh Augustino đã luôn lo lắng cho đời mình. Ngài muốn
“lấp đầy mọi thung lũng” của tham lam và “bạt núi đồi” của kiêu ngạo, nhưng
không thể được. Thế rồi một ngày nọ, Ngài bắt đầu cầu nguyện sốt sắng. Đột
nhiên Ngài nghe một tiếng nói: “Hãy cầm lấy mà đọc.” Ngài cầm lấy cuốn kinh
thánh, đọc và bắt gặp những lời này: “Hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều
theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (Rm 13,14). Sau đó thánh nhân nói:
“Tâm hồn tôi bỗng được chan hòa ánh sáng…để lại cho tôi niềm an bình sâu xa.”
Giây phút đó đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của thánh Augustino.
Đâu
là giây phút chan hòa trong cuộc đời tôi?
Con
đường đến ánh sáng thường đi qua tội lỗi.
9. Tình yêu không bỏ rơi
một ai
Một
người mẹ được thông báo rằng đứa con trai bị lãng tai của bà là khó dạy. Bà ta
trả lời: “Chính tôi sẽ dạy dỗ nó.” Đứa con ấy là Thomas Edison, người đã phát
minh ra ánh sáng điện.
Câu
chuyện của bà Edison mời gọi tôi tự hỏi: Tôi có thể làm gì để góp phần thực hiện
chương trình của Thiên Chúa để: “không ai trong những kẻ bé mọn này” phải hư mất?
Tôi
tin rằng mỗi đứa trẻ sinh ra đều có một sứ điệp chuyển đến cho nhân loại. Vì vậy
nó phải được đối xử như một cái gì thánh thiên nhất (Sam Levinson)
10. Thiên Chúa muốn cứu
sống
Trong
diễn văn nhận chức, cố Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc D. Hammarskjold đã hỏi: “Phải
chăng sẽ có ngày mà niềm vui sẽ lớn và nỗi buồn sẽ nhỏ?” Và ông trả lời: “Đến
ngày mà chúng ta cảm thấy mình sống với bổn phận đã hoàn thành và đáng làm,
ngày ấy sẽ lớn và ta có thể coi nỗi buồn là chuyện nhỏ.”
Qua
bài dụ ngôn chiên lạc hôm nay, Đức Giêsu nói rằng với Thiên Chúa, có một ngày
mà niềm vui của Ngài thật lớn lao. Đó là ngày Ngài tìm được, gặp lại một con
người xa lìa Ngài, cắt đứt mối thân tình với Ngài. Dù chỉ một con người bình
thường thôi trong bảy tỷ người hiện nay (2010), Thiên Chúa cũng không muốn họ
hư mất. Ngài không thể ngồi chờ đợi con người đến với mình, Ngài đi tìm họ và
vui mừng khi có dịp cứu vớt họ, nghĩa là đem lại hạnh phúc thật sự cho họ.
Câu
Mt 18,14 trích dẫn trên đây là đỉnh cao của Tin Mừng: Thiên-Chúa-muốn-cứu-độ-mọi-người
là lý do giải thích mọi sự kiện trong đời Đức Giêsu: nhập thể, rao giảng Tin Mừng,
Khổ nạn và phục sinh. Mời bạn chậm rãi đọc đi đọc lại từng lời của câu Tin Mừng
này, để có thể nghiệm thấy tình thương bao la và nhiệm mầu của Thiên Chúa dành
cho bạn và cho mọi người.
THỨ TƯ - DỊU HIỀN VÀ KHIÊM NHƯỢNG TRONG LÒNG
Lời
Chúa: Mt 11, 28-30
Khi
ấy, Chúa Giêsu phán rằng: Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh
nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học
cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp
được bình an.
Vì
ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.
TRUYỆN KỂ
1. Giận vì hết quên
Sách
"Liệt Tử" có câu truyện như sau: Nước Tống có một người đã đứng tuổi
tự nhiên mắc phải chứng bệnh quên lãng. Buổi sáng lấy gì của ai, buổi chiều đã
quên. Hôm nay ai cho cái gì ngày mai lại chẳng nhớ. Ra đường quên cả đi, về nhà
quên cả ngồi. Trước đã làm gì và bây giờ đang làm gì đều quên hết, sau này cũng
chẳng nhớ. Cả nhà rất lo lắng về bệnh tình của anh nên đã mời thầy thuốc, chạy
đủ hết mọi cách mà cũng chẳng khỏi.
Sau
đó có ông thầy đồ người Lỗ nói rằng là tôi chữa được.
Người
bệnh hứa với ông đồ: Hễ chữa được bệnh sẽ chia cho ông một phần gia tài.
Trước
khi trả lời đáp ứng nhận chữa bệnh, ông đồ dùng nhiều cách thức khác nhau để
tìm hiểu khả năng trí nhớ của người bệnh này. Trước hết ông đồ thử bằng cách lột
áo của người bệnh để rét lạnh thì thấy anh ta xin áo. Bỏ đói không cho ăn thì
anh ta xin ăn. Ðem anh ta vào chỗ tối tăm thì anh ta xin ra chỗ sáng. Sau đó
ông đồ mới nhận lời chữa bệnh. Chẳng biết ông đồ chữa thế nào mà sau bảy ngày
anh ta đã hết bệnh và trở lại bình thương.
Tuy
nhiên, khi đã tỉnh táo như thường thì anh ta lại nổi giận, chửi vợ đánh con, cầm
dao rượt đuổi ông đồ.
Người
ta bắt giữ anh ta lại hỏi: Tại sao anh lại giận dữ như vậy?
Anh
ta trả lời: Lúc trước tôi mắc bệnh quên thì lòng tôi thảnh thơi khoan khoái, trời
đất có còn hay không tôi cũng chẳng cần biết. Nay tôi lành bệnh, tôi nhớ lại tất
cả những chuyện của mấy mươi năm về trước như chuyện buồn, vui, yêu, ghét,
thành công, thất bại, lòng tôi trở nên bối rối, ngổn ngang trăm mối. E rằng sau
này các việc ấy cứ bám cứng lấy tâm trí tôi thì dù cho muốn quên chúng đi trong
một giây, một phút liệu tôi có được như ý muốn hay không?
2. Lạn Tương Như và Liêm
Pha.
Lạn
Tương Như sau khi lập công lớn được vua phong làm tướng quốc nước Triệu. Liêm
Pha – một vị đại tướng nhiều chiến công – cảm thấy mình bị xếp dưới Tương Như
nên nổi giận, thề hễ gặp Tương Như là sẽ giết. Biết chuyện ấy, Tương Như luôn
tìm cách tránh mặt để không xảy ra xung đột.
Một lần,
đang đi trên đường, thấy quân của Liêm Pha tới trước, Tương Như vội bảo người
đánh xe rẽ vào ngõ nhỏ, chờ họ đi qua rồi mới dám ra. Bọn gia nhân thấy vậy thì
rất bất bình. Họ trách Tương Như: “Ngài là tướng quốc, sao lại sợ Liêm tướng
quân đến mức phải tránh từ trong triều đến ngoài đường? Chúng tôi theo ngài mà
giờ thấy xấu hổ quá, muốn xin bỏ đi.”
Tương
Như điềm tĩnh giải thích: ông không hề sợ Liêm Pha. Bằng chứng là ngay cả vua Tần
– người khiến thiên hạ ai nấy đều khiếp sợ – ông còn dám đối mặt và làm nhục giữa
triều. Nhưng ông nhẫn nhịn Liêm Pha vì một lý do lớn hơn: vận mệnh của nước Triệu.
Tần quốc không dám đánh Triệu là vì nể sợ tài năng của cả hai người: Lạn Tương
Như và Liêm Pha. Nếu hai vị đại thần mâu thuẫn nhau như “hai con hổ tranh nhau”,
ắt sẽ gây rối loạn, Tần sẽ nhân cơ hội đánh chiếm Triệu. Vì thế, Tương Như chấp
nhận chịu nhục, coi việc nước là trọng, thù riêng là nhẹ.
Bọn
gia nhân nghe xong bèn quỳ xuống xin lỗi, bái phục tấm lòng vì đại cục của
Tương Như.
Khi câu chuyện đến tai Liêm Pha, ông vô cùng hổ thẹn. Ông tự nhận mình kém Tương Như xa và quyết định đích thân đến xin lỗi. Liêm Pha mang roi đến, quỳ trước mặt Tương Như, xin được tạ tội. Tương Như cảm động, đỡ ông đứng dậy, hai người nắm tay nhau mà khóc, từ đó trở thành đôi bạn thân chí cốt, sống chết có nhau.
3. Tôi thắng không kịp
Một
buổi chiều nọ, ngồi trong tiệm sửa xe đạp, tôi có dịp quan sát khung cảnh náo
nhiệt của một đoạn đường trong thành phố. Bỗng một chiếc Honda của một thanh
niên từ trong hẻm lao thẳng ra và tông vào xe của một thiếu nữ. Rất may, cả hai
người đều không bị thương tích; nhưng chiếc quai giỏ bên tay xe của chị bị đứt.
Trước mặt họ, những trái hồng văng tung toé. Hối hận vì hành động của mình, anh
thanh niên vội bước đến xin lỗi và nhặt những trái hồng lên cho chị. Với thái độ
điềm tĩnh, chị mỉm cười nói: “Xin lỗi anh, tôi thắng không kịp."
Quả
là điều thật dễ thương trong cuộc sống, khi con người biết biểu lộ tình thương,
sự hiền lành và khiêm nhường của chính Chúa Giêsu, vị Thầy của chúng ta. Thật dễ
thương nhưng chẳng dễ thực hiện, bởi dư luận vẫn cho rằng hiền lành là ngu xuẩn
và khiêm nhường là nhu nhược.
Lạy
Chúa, xin giúp con can đảm sống tinh thần của Chúa, dù có phải đi ngược lại những
quan điểm của thế gian, hay bị người đời xử tệ.
4. Để sống khiêm nhường
Thầy
Đô-đi-kê nổi tiếng thánh thiện nhất trong dòng và hay làm phép lạ. Tin đồn rằng
bất cứ điều gì Thầy xin đều được Chúa nhận lời.
Một
hôm dân làng kéo đến xin Thầy cầu nguyện cho trời mưa. Nhưng thay vì trời mưa
thì lại nắng lâu hơn nữa.
Một
người mẹ đến xin Thầy cầu nguyện cho đứa con đang đau được chữa lành. Nhưng đứa
con đã chết sau đó vài ngày.
Vài
người khác đến xin Thầy làm phép lạ cho đá thành bánh. Nhưng đá vẫn trơ ra đấy.
Sau
những lần thử thách mà không được gì cả, dân làng nổi giận đuổi Thầy ra khỏi phạm
vi của làng, cấm không cho Thầy trở về tu viện nữa.
Thầy
đành phải đi tìm một hang đá trong sườn núi để ẩn mình, rồi than thở với Chúa:
- Lạy
Chúa, con không hiểu tại sao lại xảy ra như vậy. Con cầu xin Chúa cho mưa xuống
thì Chúa lại làm cho nắng hạn lâu hơn. Con cầu xin cho đứa trẻ mau lành bệnh
thì Chúa lại cho nó chết. Con xin Chúa cho dân làng bánh ăn thì Chúa cứ để những
viên đá trơ trơ ra đó. Vì thế Chúa xem đây, con bị mọi người xua đuổi, coi con
như một kẻ tội lỗi ghê gớm nhất.
Nói
xong, thầy nghe có tiếng từ trời phán:
- Hỡi
con, bởi vì Ta đã cho điều con cầu xin lúc trước rồi đó.
Thầy
Đô-đi-kê không còn nhớ thầy đã xin gì trước đó nữa nên mới hỏi lại:
-
Nhưng lạy Chúa, con đã xin Chúa điều gì?
Tiếng
lạ đáp:
-
Trước đây con đã chẳng cầu xin Ta cho con được dịp sống khiêm nhường đó sao?
5. Tin yêu mạnh hơn cái
chết
Sinh
năm 1984, Chiara Corbella lớn lên trong một gia đình Kitô hữu, công dân nước Ý.
Chiara (tiếng Anh là Clare) nghĩa là trong sáng; Corbella là con tim tốt đẹp,
tâm hồn mỹ miều. Từ thuở ấu thơ, mấy chị em cô đã được giáo dục về đức tin thuần
thành. Trong hồi ức viết vào tháng Giêng 2011, Chiara kể rằng chính mẹ cô đã
xây đắp hành trình đức tin cho các con:
“Hành
trình đó góp phần cho tôi lớn lên, dạy tôi biết cầu nguyện, và hướng về Đức
Giêsu đơn thuần như một người bạn, là người tôi có thể thổ lộ hết mọi phiền muộn
âu lo cũng như những nghi nan ngờ vực. Chính hành trình đức tin đó còn dạy tôi
biết cách sẻ chia đức tin với các anh chị em đang đồng hành cùng tôi trên con
đường ấy.”
Năm
2002, cô gái xuân xanh phơi phới này tao ngộ anh Enrico Petrillo tại thánh địa
Mễ Du (Medjugorje, trước kia thuộc nước Nam Tư, nay thuộc nước Bosnia và
Herzegovina). Chiara kể:
“Mười
tám tuổi, trong một lần hành hương, tôi gặp Enrico và vài tháng sau chúng tôi
đính hôn. Thời gian đính hôn dài gần sáu năm. Trong thời gian đó Chúa thử thách
đức tin của tôi và những giá trị tôi tin tưởng. Sau bốn năm, cuộc đính hôn bắt
đầu lung lay để rồi tan vỡ. Những lúc ấy lòng tôi khổ đau và tôi phản kháng lại
Chúa vì nghĩ rằng Chúa không lắng nghe những lời tôi cầu nguyện; rồi tôi tham dự
một khóa học về ơn gọi (a vocational course) tại Assisi [thuộc tỉnh Perugia, nước
Ý]. Tại đó tôi tìm thấy sức mạnh để khởi đầu khôi phục lòng tin Chúa. Tôi cũng
bắt đầu nối lại những lần hò hẹn với Enrico và cả hai chúng tôi đều được một vị
giám đốc linh hướng giúp đỡ.”
Chiara
diễn bày hành trình khôi phục đức tin Chúa như sau:
“Cuộc
đính hôn không có kết quả tốt đẹp cho tới khi tôi ngộ ra Chúa chẳng tước đoạt của
tôi bất kỳ điều gì, mà trái lại Chúa đang ban cho tôi mọi thứ và chỉ có Chúa mới
biết ai là người để tôi sẻ chia cuộc sống đời tôi. Trước lúc ngộ ra như thế,
tôi mờ mịt chẳng hiểu chi hết! Sau cùng, khi đã giải thoát khỏi những ước vọng
tự gây tạo cho bản thân, bằng nhãn quan mới mẻ, tôi có thể nhìn thấy những gì
Chúa muốn dành cho tôi. Không lâu sau đó, mặc kệ những điều từng ước vọng, vượt
qua những sợ hãi, chúng tôi quyết định cưới nhau.”
Ngày
21.9.2008, Chiara hai mươi bốn tuổi trở thành “bà Chiara Corbella Petrillo.”
Sau lễ cưới không lâu, Chiara mang thai. Bất hạnh thay, ngay trong lần siêu âm
đầu tiên, thầy thuốc chẩn đoán bé Maria bị dị tật khuyết não (anencephaly)! Hai
vợ chồng trẻ dũng cảm chấp nhận giữ lại đứa con đầu lòng bạc phước để rồi khoảng
hơn kém nửa giờ sau khi con gái chào đời, họ đọc kinh đưa tiễn linh hồn bé nhỏ
trở về với Chúa.
Mấy
tháng sau, Chiara mang thai lần thứ hai. Kết quả siêu âm lần này cũng chẳng có
gì tốt đẹp: Bé trai thiếu đôi chân! Nhưng Enrico và Chiara vẫn cam lòng vác
thánh giá thêm lần nữa. Họa vô đơn chí! Khi thai nhi được khoảng bảy tháng, kết
quả siêu âm cho thấy cháu bị các dị tật về phủ tạng (visceral malformations) do
thiếu hai chân và sẽ không có nhiều khả năng sống sót. Mặc kệ, hai vợ chồng trẻ
vẫn kiên quyết giữ lại thai nhi. Ngày Davide lọt lòng cũng chính là ngày cháu lập
tức rời khỏi bố mẹ vĩnh viễn, để nối gót Maria tìm về Nước Chúa.
Chiara
vẫn không nguôi khao khát làm mẹ. Chị mang thai lần thứ ba, siêu âm xác định
thai nhi bình thường, bé Francesco sẽ sinh ra khỏe mạnh... Trớ trêu thay! Cái
tin rất vui đó không có nghĩa là hai vợ chồng trẻ không còn phải vác thánh giá
thêm lần nữa. Bởi lẽ, khi Chiara mang thai được năm tháng, các thầy thuốc phát
hiện chị bị tổn thương ở lưỡi, chính là bệnh ung thư biểu bì (carcinoma).
Bất
chấp tất cả sự thật phũ phàng, Chiara và Enrico chỉ muốn bảo vệ con trẻ lành lặn.
Để không gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe thai nhi, Chiara kiên quyết không chữa
bệnh cho bản thân, đồng nghĩa với việc tự đặt tính mạng chị vào sự nguy hiểm.
Muốn phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị cho Chiara, thì phải đợi sau khi Francesco
đã lọt lòng mẹ an toàn.
Qua
hồi ức tháng Giêng 2011, Chiara tâm sự:
“Trong
đời sống hôn nhân chúng tôi, Chúa ban cho vợ chồng tôi hai đứa con rất đặc biệt:
Maria Grazia Letizia và Davide Giovanni. Chúa yêu cầu chúng tôi đồng hành cùng
hai bé chỉ cho tới lúc hai bé chào đời mà thôi: Chúng tôi đã được ôm ấp hai bé,
làm phép rửa cho hai bé và phó thác hai bé vào đôi tay của Cha với lòng an lạc
lạ thường. Giờ đây Chúa tin tưởng giao phó cho chúng tôi đứa con trai thứ ba là
Francesco, khỏe mạnh và cháu sẽ chào đời. Đồng thời Chúa yêu cầu chúng tôi hãy
tiếp tục tin cậy Chúa bất chấp căn bệnh ung thư vừa phát hiện ở tôi cách đây
vài tuần. Bệnh ung thư này đang cố làm cho chúng tôi sợ hãi tương lai, nhưng
chúng tôi tiếp tục tin rằng lần này Chúa cũng sẽ làm những điều kỳ diệu.”
Cả
ba lần mang thánh giá liên tiếp như vậy, hai vợ chồng trẻ đều giữ nụ cười tin
tưởng, nhẫn nại phó thác cuộc sống của họ vào sự quan phòng của Chúa. Họ chấp nhận
mọi chén đắng Chúa đã trao ban, tin tưởng rằng không có cái gì là ngẫu nhiên,
là tình cờ xảy ra trong đời mình. Hàng ngày họ lần chuỗi mân côi, đọc kinh cầu
nguyện Đức Mẹ Maria, và hiến dâng các bé Maria, Davide và Francesco lên Đức Mẹ...
Vì
hy sinh cho sinh mệnh con trai, thể xác Chiara không ngừng bị căn bệnh ung thư
hủy hoại. Chị nói chuyện rất khó khăn, chẳng những thị lực sa sút mà còn hỏng cả
mắt phải. Nhưng chị không hề đánh mất nụ cười của mình.
Một
hôm, Chiara ngồi trên xe lăn, đang trìu mến ngắm tượng Chúa thì Enrico lấy hết
can đảm để hỏi vợ một câu mà bấy lâu anh chẳng dám hở môi. Nhớ đến lời Chúa
chép trong Kinh Thánh (Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng - Mt 11,30), thế
nên anh hỏi: “Cái ách này, thánh giá này, có thật sự êm ái như Đức Giêsu bảo
không, hở em?”
Với
nụ cười vừa nở trên miệng, Chiara quay lại nhìn chồng và nói khẽ: “Có đấy, anh
Enrico à, rất êm ái.”
Hai
mươi tám tuổi, Chiara qua đời ngày 13.6.2012, trong nhà mình, với gia đình và
người thân vây quanh, để lại bé trai Francesco một tuổi. Cuộc đời chị được hai
bạn thân là Simone Troisi và Cristiana Paccini viết thành sách (tiếng Ý), rồi
Charlotte Fasi dịch sách sang tiếng Anh (Nxb Sophia Institute, dày 184 trang).
Chính chồng chị là Enrico Petrillo viết lời Tựa. Tháng 9.2015 sách phát hành;
đông đảo bạn đọc đón nhận, thương cảm và ngưỡng mộ Chiara. Theo CNA, Sophia
Institute, và nhiều trích dẫn trên Internet, có vị hồng y đã gọi Chiara là “một
vị Thánh cho thời đại chúng ta / a Saint for our times.”
Huệ
Khải
6. Êm ái và thích hợp
Ách
là một bộ cương bằng gỗ được dùng để nối cổ hai con bò lại, nhờ đó chúng có thể
kéo chung một xe. Người thợ mộc chuốc những cái ách sao cho thích hợp với mỗi
con vật để nó khỏi bị đau. Một truyền thuyết kể lại rằng Chúa Giêsu làm những
cái ách ở xưởng mộc Nazaeth. Vì vậy, Ngài biết rõ mình nói gì khi tuyên bố “Ách
tôi êm ái.” Từ “êm ái” có thể dịch là “rất thích hợp.” Nói khác đi, Chúa Giêsu
muốn nói rằng: “Hãy tin tôi và trao ách của anh em cho tôi. Khi hợp tác với
nhau, chúng ta có thể kéo bất cứ gánh nặng nào.”
Điều
gì ngăn cản tôi tin tưởng? Tôi và Chúa có thể cùng kéo gánh nặng nào?
Chúng
ta định hướng cách an toàn qua mọi cơn bão, miễn là trái tim ta tốt, ý định
hăng say và niềm tin kết hợp ta với Chúa cách vững bền (Francis de Sales).
7. Sức mạnh của thiên
nhiên và con người
Nhiều
ngày sau khi chiếc tàu Titanic chìm ở Bắc Đại Tây Dương, một tờ báo đưa ra hai
tấm hình trái ngược nhau. Bức đầu tiên chỉ phần con tàu bị đập thủng bởi tảng
băng to lớn, với lời chú giải: “Sự yếu đuối của con người và sức mạnh của thiên
nhiên.” Bức thứ hai là hình ảnh hành khách nhường chỗ trên tàu cứu nạn cho một
phụ nữ với đứa con trên tay, kèm theo lời chú giải: “Sự yếu đuối của thiên
nhiên và sức mạnh của con người.”
Có
lẽ tôi không hát bài ca ngợi Chúa, vì tôi có khuynh hướng tập trung nhiều vào bức
ảnh đầu tiên về chiếc tàu Titanic (sức mạnh của thiên nhiên), và không quan tâm
đủ đến bức ảnh thứ hai (sức mạnh của con người được tăng tiến nhờ ơn Chúa)
chăng?
“Ơn
của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu
đuối.” (2Cr 12,9)
8. Đời là bể khổ
Hai
vợ chồng nhà nọ nuôi một con trâu và một con chó. Con chó được ở trong nhà còn
con trâu phải ở riêng ngoài chuồng. Mỗi ngày trâu ra đồng cày bừa từ sáng sớm đến
chạng vạng tối mới về, còn chó chỉ việc nằm ở cổng rào canh chừng cửa.
Một
hôm nọ trâu đi làm về, thấy chó nằm trước cửa nhà phe phẩy cái đuôi trông thật
sướng, đang lúc mệt nhoài nó nổi cáu bảo:
-
Không có ai sung sướng bằng mày, chỉ ăn rồi nằm. Thật là đồ vô tích sự!
Con
chó nghe con trâu hậm hực nặng nhẹ mình thì buồn bã trong lòng, nghĩ trâu tuy
to xác nhưng không có trí. Nó bèn nói với trâu:
-
Anh trâu không hiểu đâu, tôi nào có sung sướng như anh tưởng. Anh tuy làm lụng
nặng nhọc ngoài đồng nhưng có giờ có giấc, sáng ra đồng, chiều lại về, tối còn
được nghỉ ngơi, cứ lăn ra mà ngủ. Còn tôi, tuy nằm canh cửa giữ nhà trông có vẻ
nhàn hạ hơn anh, nhưng thật sự thì mệt cầm canh đâu có ai biết. Nằm lim dim mà
lòng không yên, phải để tâm canh giữ cửa nhà, không dám lơ là công việc.
Nếu
ngủ quên hoặc bất cẩn để xảy ra mất trộm thì tôi khó mà sống được. Đêm đêm
trong khi mọi người ngon giấc, tôi có được nghỉ ngơi đâu, tôi phải lắng tai
nghe ngóng, đưa mắt nhìn trông, hễ nghe có động tĩnh gì thì phải sủa to để cảnh
báo.
Lúc
chủ nhà vui thì tôi còn được ăn no, chứ khi họ có chuyện buồn bực trong lòng
thì bỏ mặc tôi đói khát, không ai để mắt quan tâm. Những lúc sân si nổi lên họ
còn trút giận lên đầu tôi không thương tiếc, họ đánh họ đá, xua đuổi, chửi mắng
tôi. Mỗi khi bạn bè, người thân của họ đến chơi mà tôi không biết, tôi sủa tôi
vồ thì họ đánh tôi, chửi tôi là đồ ngu. Bạn bè họ đến chơi thì không sao, còn bạn
bè tôi đến chơi thì bị họ đuổi đi, ném đá đến toạc đầu đổ máu. Ngẫm lại coi,
anh và tôi ai sướng hơn ai chứ?
Con
trâu nghe nói mới hiểu tình cảm của con chó, nghĩ mà thương nên an ủi:
-
Đúng là mày cũng không sung sướng gì. Tao với mày ở chung nhà mà chưa một lần
trò chuyện với nhau nên không hiểu nhau. Bây giờ tao đã hiểu nỗi khổ của mày,
mày cho tao xin lỗi. Nghe mày nói tao mới biết cả hai chúng ta đều khổ cả.
Đang
nói con trâu bỗng nghe tiếng chim ríu rít trên cành cây cao, nó nhìn nên rồi
than thở:
- Bọn
chim trời cá nước sung sướng làm sao! Chúng có thể tự do tự tại bên ngoài,
không bị ai giam cầm quản thúc, không phải làm việc nặng nhọc vất vả, không phải
chịu nỗi khổ của kiếp tôi đòi. Giá mà chúng ta có được cuộc sống vui vẻ như thế.
Khi
ấy một chú chim nghe thấy lời trâu, bèn đáp lên lưng trâu nói:
-
Anh trâu ơi, anh không biết đâu, tôi cũng không sung sướng hơn các anh đâu. Tuy
loài chim chúng tôi không phải giữ nhà, không phải đi cày ruộng, không phải chịu
cảnh tù túng bó buộc, nhưng chúng tôi cũng có nỗi khổ của mình.
Hiểm
họa luôn rình rập chúng tôi, những kẻ thợ săn có thể bắn chết chúng tôi bất cứ
lúc nào. Tổ của chúng tôi làm khó khăn vất vả biết bao, chưa chắc ở được lâu vì
sự phá hại của con người. Trứng chúng tôi sinh ra chưa kịp nở con thì đã bị con
người lấy mất. Loài người biết thương con của mình nhưng nào biết thương con của
kẻ khác. Các anh chỉ bị hành hạ, còn tôi bị cướp đi mạng sống của mình, chết rồi
còn bị nhổ lông, xẻ thịt,nấu nướng, thân thể không vẹn toàn. Loài người ỷ mạnh
hiếp yếu, nào biết tôn trọng sự sống muôn loài.
Các
anh có cái khổ của các anh, chúng tôi cũng có cái khổ của chúng tôi, không có
ai sung sướng cả.
Bày
cá đang ở dưới mé nước nghe trâu nói mình sướng cũng không đồng tình:
-
Còn loài cá chúng tôi cũng không sung sướng đâu. Nhà cá chúng tôi thường bị
loài người đánh bắt, mỗi lần bị sát hại chết đến cả bầy đàn. Không nơi nào là
nơi để chúng tôi yên tâm mà sống, đâu đâu cũng có lưới bủa câu giăng, đâu đâu
cũng có bàn tay con người truy bắt.
Trâu
nghe chim và cá nói thì ngao ngán thở dài não nuột:
-
Hóa ra tụi mày cũng khổ. Hiểu biết của tao hạn hẹp quá nên không biết còn nhiều
nỗi khổ trên đời này.
Nói
như thế rồi trâu buồn bã đi vào chuồng, nó nằm mông lung suy nghĩ về thân phận
của nó và bạn bè. Nó nghĩ, loài nào cũng bị con người hiếp đáp, làm hại. Cuộc đời
thật bất công, loài người đối xử tệ bạc với các loài khác mà lại được sung sướng,
không phải chịu sự khổ sở nào.
Đang
lúc đó bỗng trâu nghe tiếng quăng bát ném đĩa trong nhà vọng ra. Nó lắng tai
nghe kỹ mới biết ông bà chủ đang gây gổ. Tiếng ông chủ gào lên:
-
Sao tôi khổ đến thế này, không bằng con trâu con chó nữa! Con trâu đi cày còn
được nghỉ, còn tôi suốt tháng quanh năm phải bận bịu với nhà cửa, vợ con, cơm
áo gạo tiền, làm quần quật đêm ngày không lúc nào rảnh rỗi. Tôi khổ sở như vậy
là vì ai? Vậy mà bà vẫn không để cho tôi yên, hễ thấy mặt là hạch sách, càm
ràm, đay nghiến. Vừa phải thôi, làm quá tôi cho cả nhà ra chuồng trâu mà ở!
Nghe
chủ nhà nói thế trâu bỗng giật mình, bất giác than rằng:
-
Hóa ra sống ở trên đời đâu có ai không khổ!
9. Ơn Ta đủ cho con
Bod
Richards là nhà vô địch môn nhảy sào thế vận hội Mỹ. Một kỉ niệm đáng nhớ của
ông về những ngày thế vận hội, đó là Fred Hansen, một vận động viên nhảy sào
người Mỹ khác. Fred rất căng thẳng và lo lắng, vì không đạt thứ hạng cao trong
môn nhảy sào. Fred ngừng lại “trong cuộc tranh đua gay cấn” để đọc bức thư
trong đó cha của anh nhắc nhở rằng anh có thể được chắp vào đôi cánh đại bàng.
Được khích lệ bởi những người trích dẫn sách ngôn sứ Isaia của cha anh, Fred đã
nhảy qua được mức xà tiếp theo.
Tôi
có nhớ lần nào Thiên Chúa có dùng người khác để đổ tràn ân sủng vào cuộc đời
tôi không?
Thiên
Chúa đến với mỗi người bằng một con đường riêng (Ralph Waldo Emerson).
10. Thiên Chúa ở ngay
bên
Roger
Bolduc chết ở Waterville, Maine, sau một căn bệnh ung thư kéo dài. Cho đến lúc
chết ông vẫn xem căn bệnh của ông như là một món quà của Thiên Chúa. Ngay trước
đó, ông viết: “Nhiều thứ trước đây tôi cho là quan trọng, thì bây giờ chỉ là vụn
vặt, Thiên Chúa đã trở nên quá hiện thực. Tôi đã luôn cảm nhận và giờ đây còn cảm
nhận hơn nữa sức mạnh và sự gần gũi của Thiên Chúa. Tôi cảm thấy mình được yêu
thương.”
Khi
nào tôi cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa nhất: Khi thịnh vượng hay lúc
rủi ro? Tôi giải thích điều này ra sao?
Vào
giữa mùa đông cuối cùng tôi nhận ra rằng trong tôi có một mùa hè không thể nào
dập tắt được. (Albert Camus).
11. Sức mạnh của lòng
nhân hậu
Những
tác phẩm của Thomas Merton vẫn còn tác động mạnh đến suy nghĩ của thế giới. Một
ngày nọ, khi ông đang ngồi ngoài trời, một con bướm bay đến đậu trên tay ông.
Ông viết: “Chú bướm không bay đi, cho đến lúc cần đến bàn tay, tôi thổi nhẹ (và
nó tung cánh bay về khu rừng). Hình ảnh này có một điều gì đẹp đẽ, diu dàng. Đó
là điều mà có lẽ Chúa Giê su đã làm.
Sự
dịu hiền của Chúa Giêsu khiến tôi tự nhìn lại cuộc sống của mình. Tôi đã đối xử
với người khác và với thiên nhiên ra sao?
Chúa
phán: “Ta sẽ đổ đầy thần khí Ta trên tôi tớ Ta. Ngài sẽ không bẻ gãy cây lau bị
dập, cũng không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,1-3)
12. Võ công thượng thừa
Các
bậc võ sư công phu đã đạt tới mức thượng thừa bao giờ cũng có những ngón đòn ruột,
những thế võ bí truyền mà các vị chỉ dạy cho những môn đệ thân tín nhất, những
người trung thành và có khả năng kế thừa sự nghiệp của mình. Ngón bí truyền mà
Thầy Giê-su dạy chúng ta “hãy học với Chúa” không phải là khả năng làm phép lạ
chữa bệnh hay trừ quỉ, càng không phải là tài giảng thuyết hùng biện hấp dẫn.
Đó là những đòn tuyệt chiêu đem lại chiến thắng trước kẻ thù hung hãn nhất là
ma quỉ.
· Đòn số Một: Hiền Lành, đòn này có thể khuất
phục tất cả mọi thứ bạo lực.
·
Đòn số Hai: Khiêm Nhường, liên hoàn với đòn số một, có khả năng hoá giải được cả
nọc độc kiêu căng của ma quỉ.
Lắm
khi chúng ta tưởng lầm rằng hiền lành và khiêm nhường là dấu hiệu của sự yếu đuối,
khiếp nhược hèn hạ. Xin bạn nhớ cho rằng nhờ hiền lành và khiêm nhường mà Thầy
Giê-su đã tiêu diệt được tội lỗi và sự chết. Cứ chiêm ngắm cuộc đời và nhất là
cuộc thương khó của Ngài thì rõ.
13. Biết Chúa hết khổ
Có
một đề thi dành cho các thí sinh đau khổ thuộc mọi lứa tuổi như sau: “Bạn hãy
chứng minh bạn khổ.”
Thí
sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh: Tôi lớn lên trong
một gia đình nông dân nghèo. Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng
cho trời’. Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh.
Nghĩ mà tủi thân!
Thí
sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: Tôi là người kém sức khoẻ. Từ nhỏ đã
hay đau yếu. Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt. Rất khó chịu!
Thí
sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: Tôi
chẳng có tài cán gì. Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát. Mấy đứa bạn cứ
trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò. Bực tức và chán ghê!
Thí
sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại. Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất
căng thẳng. Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.
Kết
quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết. Còn
thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy
trắng.
Trong
giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung:
-
Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được tư duy sâu sắc.
Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời. Ai cũng làm
được như thế. Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó
quá hẹp.
Rồi
giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:
- Tại
sao bạn để giấy trắng?
-
Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn
kia. Nhưng tôi chợt giật mình…
-
Sao bạn lại giật mình?
- Dạ,
xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.
Thế
rồi cậu khập khiễng bước lên trên. Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười
thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen. Cậu nói:
- Hồi
tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà. Một
hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà. Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây
giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt. Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời. Một buổi tôi đi
học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ. Cách đây ít
năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến
chân tôi bị tật từ hồi đó. Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá
đau. Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì
làm sao xứng với người ta được!
Trong
phòng lúc ấy có nhiều người. Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí
lặng im đến lạ thường.
-
Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi?
- Dạ
không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi
trong nhà thờ hôm Chúa Nhật. Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em
thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ. Rồi tôi nhận ra: để chứng minh
tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh
phúc.
Mọi
người càng chăm chú. Vị giáo sư lên tiếng:
-
Hay! Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó
của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?
- Dạ
thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu. Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được
thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang
nghe. Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17) Thưa
giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống
của tôi. Tôi có mẹ có chị. Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm
bọc nhau ấm áp. Tôi có trái tim biết rung động. Tôi có lòng quảng đại. Tôi có
lương tâm. Tôi có bạn bè nói chuyện. Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi. Tôi
được đi học. Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong
nghịch cảnh có ân sủng. Ví dụ: Vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết
cảm thương với người nghèo hơn. Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi
đau của tha nhân. Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn.
À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe
Lời Chúa. Vui lắm!
Bạn
thân mến, nếu bạn cùng chia sẻ cách nhìn cuộc đời của thí sinh thứ tư này, mời
bạn trở lại với lời của Thầy Giêsu khi Thầy nói các môn đệ thật diễm phúc. Tụi
mình đây, so với các môn đệ hồi đó, không chừng còn có phúc hơn các ngài vì tụi
mình nghe và nhìn thấy nhiều điều hơn. Trong những điều diễm phúc thí sinh này
nêu lên, mình muốn dừng lại thêm một chút ở diễm phúc được biết Chúa và nghe Lời
Chúa. Tuy tuổi đời còn non trẻ, mình đã được cơ hội nghe nhiều người, đặc biệt
những ai đã từng trải qua đau khổ, tâm sự rằng: “Không có Chúa hiện diện, tôi
không biết mình sẽ ra sao khi gặp bế tắc. Không có Lời Người hướng dẫn, tôi
không biết sẽ làm gì khi gánh đời trĩu nặng, khi cô đơn lạc lõng, khi vất vả
chán chường…. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, tôi nhận ra rằng điều may mắn
nhất của tôi trên đời này là được biết Chúa.”
THỨ NĂM - GIOAN TẨY GIẢ ĐƯỢC CHÚA KHEN
Lời
Chúa: Mt 11, 11-15
Khi
ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Ta bảo thật các ngươi, trong các
con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả,
nhưng người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ông.
Từ
thời ông Gioan Tẩy Giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và
những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Tất cả các tiên tri và lề luật đã
tuyên sấm cho đến Gioan và nếu các ngươi muốn hiểu, thì chính Gioan là Elia, kẻ
phải đến.
Ai
có tai, thì hãy nghe!"
TRUYỆN KỂ
1. Ai có tai thì hãy
nghe
Lustiger
là người Do Thái đã từng chứng kiến cảnh phân biệt chủng tộc và việc Đức quốc
xã tiêu diệt người Do Thái. Là người Do Thái, nhưng có bạn là người Công giáo,
một hôm theo bạn đến nhà thờ và từ đó muốn trở lại Công giáo. Anh muốn thuộc về
Chúa và dâng hiến cuộc đời cho Chúa. Mặc dù ông bố không chấp thuận, nhưng anh
nhất quyết đi tu để phục vụ người nghèo khổ, yếu đuối.
Năm
1954, thụ phong linh mục. Năm 1964 được chọn làm Giám mục và được đề cử về làm
Tổng Giám mục Paris. Bị một số người bất bình phản đối, nhưng ngài vẫn kiên vững
trong đức tin và quan tâm phục vụ mọi người.
Bài
Tin Mừng hôm nay nói đến một con người đặc biệt, có sứ mệnh chuẩn bị tâm hồn
người Do Thái đón nhận Chúa, con người ấy là Gioan Tẩy giả. Kể từ khi gặp Chúa
Giêsu, nhất là từ khi bị Hêrôđê tống ngục, cố gắng quan trọng của Gioan là làm
sao cho môn đệ của ông nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai.
2. Muốn vào hàng trai
tráng.
Trong
nhiều bộ lạc Da Đỏ Mỹ Châu, họ hay có nghi thức huấn luyện và thu nhận thiếu
niên vào hàng ngũ trai tráng trong làng. Người ta tổ chức như sau: Khi mặt trời
sắp lặn, người bố sẽ dắt đứa con của mình vào sâu trong một cánh rừng. Đứa bé
được trao cho một cây lao với lời nhắn nhủ: “con sẽ ở một mình trong rừng đêm
nay." Sau đó người bố rút lui.
Màn
đêm buông xuống rất nhanh. Không gian chập chờn với bao tiếng gầm rú rợn rùng.
Người ta dễ có cảm tưởng đang bị thú dữ rình chờ tấn công. Thỉnh thoảng, vài tiếng
vỗ cánh của con chim ăn đêm cũng có thể làm cho người yếu vía giật mình. Thời
gian chậm chạp trôi qua. Mỗi giây phút là cả một khoảng dài vô định.
Nhưng
cuối cùng, màn đêm cũng rút lui. Bầu trời từ từ bừng sáng. Nỗi sợ hãi của đứa
bé cũng phai mờ theo. Từ trong một lùm cây, một bóng người xuất hiện: cha của đứa
bé. Đứa bé nhận ra và vui mừng chạy đến ôm chầm lấy bố, reo lên: “Bố đã trở lại."
Người cha sẽ hãnh diện khi thấy con mình trải qua đêm đen như một người trưởng
thành. Đứa bé không hề biết rằng suốt đêm qua cha nó không ngừng trông chừng
nó.
3. Ai mạnh sức thì chiếm
được
Nhà
giam chìm ngập trong khói lửa. Gió xô rạp những cành cây khẳng khiu, ngập ngụa
trong khói đen dầy đặc. Bọn quan, lính chạy lăng xăng canh giữ mọi cửa nhà
giam. Làng xóm lịm đi trước cuộc tàn sát dã man. Ba trăm giáo dân xứ Thơm tỉnh
Bà Rịa bị thiêu đốt trong lửa đỏ. Họ đã chiến thắng và chiếm lĩnh Nước Trời bằng
chính mạng sống mình.
Có
những lúc tôi đã không dám làm dấu thánh một cách nghiêm túc trước bữa ăn ở nơi
có đông người. Tôi vẫn thường yếu đuối như thế khi phải tuyên xưng lòng tin,
lòng cậy trông nơi Chúa của mình.
4. Hy sinh vì sứ mạng.
Một
nông dân đi xe ngựa ra phố. Đến một cửa tiệm, ông dừng xe vào mua đồ. Ông vừa tới
cửa thì con ngựa hí lên và bỏ chạy. Ông vội vàng chạy ra xiết chặt dây cương.
Con
ngựa càng hoảng sợ hơn và chạy tứ tung trên đường, kéo theo người nông dân tội
nghiệp. Dân chúng đổ xô ra, đến khi ghìm được ngựa thì người nông dân bê bết
máu và thoi thóp thở. Một người nói:
-
Sao mà ông dại dột hy sinh đời mình vì con ngựa và chiếc xe như thế?
Ông
thều thào:
- Cứ
nhìn vào trong xe thì biết!
Họ
nhìn vào và thấy đứa con nhỏ của ông còn đang ngủ.
Người
nông dân hy sinh vì đứa con. Gioan Tẩy Giả hy sinh vì sứ mạng.
5. Gieo và gặt
Một
mùa xuân, anh nông dân đứng bên cạnh thửa ruộng, đưa mắt nhìn những luống cày
thân yêu đang phơi mình dưới ánh sáng và tự hỏi:
-
Năm nay, hỡi mảnh ruộng của ta, mi có đem lại cho ta cái gì chăng?
Những
mảnh ruộng kia lại trả lời bằng một câu hỏi khác:
-
Nhưng thưa ông, trước hết ông hãy cho tôi biết ông định cho tôi cái gì đã?
Người
bạn trẻ cũng dừng bước trước cánh cửa nhiệm mầu của đời sống và cũng hỏi một lời
tương tự:
- Hỡi
đời sống, mi có dành cho ta cái gì không? Cái gì sẽ chờ đợi ta từ năm này sang
năm khác?
Nhưng
đời sống sẽ đáp lại chàng trẻ tuổi:
- Hỡi
anh, điều đó còn tùy ở những gì anh cho tôi, phần của anh sẽ được xứng với công
việc của anh. Anh sẽ hái quả của hạt giống anh gieo.
6. Nước Trời thuộc về
người có sức mạnh
Vào
thời kỳ cấm đạo đẫm máu trong thế kỷ thứ nhất của đạo Thiên Chúa, một người dân
quê tên là Barlaam bị bắt và bị dẫn ra trước tượng thần Jupiter.
Người
ta giục anh: "Hãy bỏ hương vào lửa rồi dâng cúng cho Thần Linh chúng ta
đi!"
-
"Không"! Anh trả lời.
Người
ta bắt đầu hành hạ anh, nhưng anh vẫn đứng im. Người ta nâng tay anh lên trên
ngọn lửa, người ta nhét hương vào bàn tay anh và bảo anh chỉ có việc bỏ rơi
hương xuống lửa:
-
Hãy bỏ hương xuống, mày sẽ được tự do!
-
Không.
Barlaam,
người dân quê đó vẫn trả lời như thế. Anh vẫn đứng im, tay giơ lên... ngọn lửa
bốc mạnh liếm hẳn vào bàn tay anh, hương bắt đầu bén khói, nhưng anh vẫn không
động đậy...
Bàn
tay anh bị cháy xém với hương, nhưng Barlaam thà chịu chết vì Đạo còn hơn chối
Chúa.
7. Mang một dòng máu
Chắc
nhiều người Việt còn nhớ vào năm 1972 chuyện tổng thống Bokassa người Phi Châu.
Thời gian ở Việt Nam, Bokassa có yêu và làm đám cưới với cô Nguyễn Thị Huệ. Việc
lấy được một người lính lê dương làm chồng đã giúp bà Huệ có một cuộc sống khá
thoải mái. Tuy nhiên, khi Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định
đình chiến ngày 20/7/1954, rồi rút quân đội về nước, thì Bokassa lúc này cũng
phải theo đoàn quân thua trận của Pháp lên tàu về nước, để lại cái thai trong bụng
bà Huệ, không biết là gái hay trai!
Sau
khi chồng về nước, bà Huệ phải một thân một mình tự bươn chải, sống một cuộc sống
nghèo khổ. Martine lớn lên cũng chỉ biết mặt bố mình qua một số bức ảnh kỷ niệm
mà bà Huệ còn giữ lại. Vào thời điểm ngay trước khi có thông tin Tổng thống
Bokassa đi tìm người con rơi ở Sài Gòn thì Martine đang làm… bốc vác cho nhà
máy xi măng Hà Tiên, gần Thủ Đức. Những lúc rảnh thì lại đi làm… phu thợ hồ để
kiếm thêm thu nhập!
Khi
lên làm Hoàng đế Bokassa của nước Trung Phi, và bằng con đường ngoại giao ông
nhờ tìm đứa con lạc loài, đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, một người đàn ông
có đạo đức, khiến cho mọi người xúc động, cảm kích. Lúc ấy, có rất nhiều bà dẫn
con đến tòa Đại sứ Trung Phi nhận là vợ - con ông Bokassa. Nhưng nhờ khoa học
người ta đã xác định ai là con thật của vị Hoàng đế này. Đó là bà Huệ và cô con
gái Martine ở Tân Thuận Đông. Thế là mẹ con bà từ kiếp sống bần cùng, xã hội
không ai quan tâm, nghiễm nhiên trở thành hoàng hậu và công chúa. Khi cô
Martine được đón sang Trung Phi, thời gian sau được người giàu có đến cầu hôn,
trong đám cưới ấy, VN phải cử đại diện sang chúc mừng.
8. Ơn gọi chứng nhân
Cha
của một cậu bé 4 tuổi nằm mơ thấy con mình hiện giờ là một thiếu niên. Cậu đi bộ
xuống đường và đột nhiên rẽ vào một con đường tối. Khi cậu biến mất trong sương
mù, cậu la lên: “Cha chẳng bao giờ dạy cho con nẻo đường ngay thẳng.” Giấc mơ sống
động đến mức làm ông thức dậy. Cảm thấy bối rối, ông đánh thức vợ và kể cho bà
nghe sự kiện này. Trước khi ngủ lại, họ quỳ gối cầu nguyện cho đứa con trai của
họ và quyết định dạy con nẻo đường ngay thẳng.
Tôi
xác tín thế nào việc Thiên Chúa đã chọn tôi để hướng dẫn người khác, nhất là những
người trẻ?
Trẻ
con không bao giờ muốn nghe, nhưng lại luôn bắt chước người lớn (James Baldwin)
THỨ SÁU - CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN
Lời
Chúa: Mt 11, 16-19
Khi
ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Ta sẽ so sánh thế hệ này với ai?
Họ giống như bọn trẻ ngồi nơi phố chợ, gọi lũ trẻ khác mà rằng: "Chúng tôi
thổi sáo, sao các bạn không múa nhảy; chúng tôi than vãn, sao các bạn không
khóc lên!" "Vì Gioan đến, không ăn không uống, thì họ nói: "Ông
ta phải quỷ ám!"
Con
Người đến, ăn uống giống như thường, thì họ nói: "Ðó là người mê ăn mê uống,
là bạn của quân thu thuế và những kẻ tội lỗi."
Nhưng
sự khôn ngoan được biện minh bằng các công việc của mình."
TRUYỆN KỂ
1. Phiến diện và chủ
quan
Âu
dương tử, một học giả Trung hoa có viết câu chuyện sau:
Giáp
hỏi Ất: Lấy đồng đúc thành chuông, đẽo gỗ làm cái dùi, lấy dùi đánh vào chuông,
thì tiếng kêu phát ra đó do gỗ hay do đồng?
Ất
đáp: Lấy dùi gõ vào tường vách thì không kêu, mà gõ vào chuông lại kêu, vậy tiếng
kêu do bởi đồng.
Giáp
lại hỏi: Lấy dùi gõ vào đồng tiền bằng đồng thì không kêu, vậy có chắc tiếng
kêu là do đồng chăng?
Ất
đáp: Đồng tiền đặc, cái chuông rỗng, vậy tiếng kêu phát ra là do các vật mỏng.
Giáp
hỏi tiếp: Lấy gỗ, lấy đất sét khoét làm chuông, đánh lên đâu có boong boong, thế
thì có chắc gì tiếng kêu phát ra là do đồ vật rỗng?
Cuộc
tranh luận nếu cứ đà ấy sẽ kéo dài lẩn quẩn và chẳng có câu giải đáp nào thỏa
đáng, nếu họ chỉ nhìn vấn đề một cách chủ quan, phiến diện, chỉ giải quyết vấn
đề từng góc cạnh riêng rẽ.
2. Trò chơi có của trẻ
Do Thái
Chúa
lấy trò chơi của trẻ em Do thái để nói lên ý của Ngài: Các em thường được chia
làm hai phe, một bên xướng câu tiểu khúc điệu vui hoặc điệu buồn, rồi bên kia đáp
lại: Nếu xướng điệu ca buồn giả làm đám ma, thì bè bên kia than khóc, đấm ngục
rên xiết. Nếu bè bên này xướng ca vui giả vờ làm đám cưới thì phe bên kia vui
hát nhảy múa hòa nhịp. Nếu hai bên xướng đáp hòa hợp như vậy thì trò chơi rất
vui.
Nhưng
nhiều khi gặp những kẻ khó nết lì lợm, hay theo ý riêng, không hòa hợp thì làm
cho trò chơi mất vui: vì “chúng tôi thổi sáo mà các anh không nhảy múa.”.. !
3. Lấy mình làm chuẩn mực
Trong
một lá thư gửi các chủng sinh, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết như sau: ”Đời
sống tập thể không chỉ cần thái độ quảng đại, bao dung và chịu đựng lẫn nhau,
nhưng điều quan trọng là làm cho nhau được thêm phong phú, đến độ mỗi người có
thể đóng góp năng khiếu riêng của mình cho tập thể, trong khi tất cả đều phục vụ
cùng một Giáo hội, cùng một Chúa."
Hôm
nay, Đức Giêsu phê phán những người Do thái vì thái độ tự cho mình là chuẩn mực
và bắt người khác phải làm theo ý mình, lấy mình làm khuôn vàng thước ngọc bắt
người khác noi theo. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa trao cho mỗi chúng ta
những “nén bạc” khác nhau (x. Lc 19,13). Chắc chắn rằng, mỗi người sẽ đáp lại hồng
ân ấy theo những cách thức khác nhau, tùy theo khả năng Chúa ban.
4. Giá trị không theo
dáng vẻ
Một
hôm, hoàng tử gọi vào đền vua một người lái buôn chuyên nghề bán ngựa. Ông ta dẫn
đến trước mặt hoàng tử hai con ngựa bạch đã được huấn luyện rất kỹ đề hoàng tử
kén chọn. Bề ngoài, hai con ngựa trông giống hệt nhau, nhưng con này gấp đôi
giá con kia. Hoàng tử liền gọi các quan cận thần đến mà bảo:
-
Ta có thể tặng hai con ngựa này cho ai giải thích cho ta biết tại sao con ngựa
này giá gấp đôi giá con ngựa kia?
Các
quan cận thần đến gần hai con ngựa và quan sát thật kỹ, nhưng không một ai nhận
ra có điều gì khác biệt. Thấy vậy, hoàng tử cho gọi hai người lính hầu đến và
sai họ cưỡi lên hai con ngựa, hy vọng rằng các quan cận thần sẽ nhận ra giá trị
của mỗi con. Sau mấy vòng phóng ngựa chung quanh sân, không ai trong các quan
nhận ra sự khác biệt về giá trị của hai con ngựa. Cuối cùng, hoàng tử phải lên
tiếng giải thích cho họ:
-
Chắc các ngươi đã nhận ra rằng: trong khi ngựa chạy quanh sân, con ngựa thứ nhất
không để lại dấu vết gì đằng sau, nó chạy cách nhẹ nhàng như bay. Trái lại, con
ngựa thứ hai để lại lớp bụi bay ngợp trời, chính vì lý do đó mà con ngựa thứ nhất
có giá trị gấp đôi con ngựa thứ hai.
5. Theo Chúa
Đại
văn hào Rabbindranath Tagore mặc dù không phải là người Công giáo nhưng ông rất
yêu mến Chúa Giêsu. Đây là câu chuyện ông viết ra để cho người ta biết khi theo
Chúa thì người ta phải sống như thế nào.
"Sáng
hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng. Con cứ thắc mắc mãi: ở
nhà quê thì có cái gì vui đâu mà lại đi tổ chức... du lịch?
Vậy
mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cày đằng
sau con trâu gầy còm của một bác nông dân. Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ
vào một mảnh ruộng khác đang khô nước. Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong
khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa... Con cũng đành phải làm
theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những
vất vả cực nhọc! Rõ khổ!
Đến
quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cày chất phác và vui tính sau khi uống
một bát nước vối họ mời. Chúa quay lại bảo con: "Nào, chúng mình về một
khu ngoại thành đi!" Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành
cho khách du lịch để nghỉ ngơi...
Vậy
mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại ghé vào, xắn
tay áo xin cùng làm với họ. Chúa cũng xúc đá, cũng gánh sọt cát trên vai hoặc
lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường với họ... Cứ thế, Chúa vừa
làm vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm cả lưng
áo. Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ
mệt. Hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.
Sập
tối, Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc, sau khi rít một điếu thuốc
rê với họ. Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó. Con cứ ngỡ
phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối.... Đói bụng lắm
rồi còn gì.
Thế
mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng
phong. Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm, đổ
thuốc, lau mặt, thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên
mùi hôi tanh ghê sợ. Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp
hối sau cả một đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng với những nỗi tủi nhục vì bị
con cháu và xã hội xua đuổi. Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ
giúp giặt khăn, rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa mà thôi.
Mãi
đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt
cho cụ già vừa qua đời.
Về
lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây,
khổ quá đi mất! Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện. Biết
vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vật vã như thế này.
Thế
rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con:
"Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé" Con thở phào yên tâm. Nhưng tối
khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào? Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn
nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Ngài:
"Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho
các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những
người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha... " (Lc 10,21)
Đến
lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả... để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật
lên lời tâm nguyện:
"Con cố gắng cúi mình khiêm nhu,
xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại
nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi,
vẫn không sao chạm được... " (Thơ R. Tagore)
6. Dần người khác theo
Chúa
Cha
của một cậu bé 4 tuổi nằm mơ thấy con mình hiện giờ là một thiếu niên. Cậu đi bộ
xuống đường và đột nhiên rẽ vào một con đường tối. Khi cậu biến mất trong sương
mù, cậu la lên: “Cha chẳng bao giờ dạy cho con nẻo đường ngay thẳng.” Giấc mơ sống
động đến mức làm ông thức dậy. Cảm thấy bối rối, ông đánh thức vợ và kể cho bà
nghe sự kiện này. Trước khi ngủ lại, họ quỳ gối cầu nguyện cho đứa con trai của
họ và quyết định dạy con nẻo đường ngay thẳng.
Tôi
xác tín thế nào việc Thiên Chúa đã chọn tôi để hướng dẫn người khác, nhất là những
người trẻ?
Trẻ
con không bao giờ muốn nghe, nhưng lại luôn bắt chước người lớn (James Baldwin)
7. Lúc nào cũng đúng
Một
bộ phim hoạt hình cho thấy một người thợ săn Châu Âu khoác lác về tài thiện xạ
của mình với nhóm thổ dân trên một hòn đảo. Ngay lúc đó một con chim bay trên đầu,
anh ta khoác lác la lên: “Nhìn đây!” Anh ta bóp cò súng, nhưng con chim vẫn
bay. Anh ta sợ hãi nói: “Này các bạn, các bạn đang chứng kiến một cảnh hiếm có:
con chim vẫn bay, dù đã chết.”
Nhận
định của thiên hạ đối với Chúa Giêsu và người thợ săn đối với nhóm thổ dân cho thấy
điều gì đã xảy ra khi chúng ta khép kín trước thực tế: chúng ta không thấy được
bản chất đích thực của sự việc. Điều gì gợi lên câu hỏi: có thể có lúc nào
trong đời, tôi khép kín trước thực tế không?
Trái
tim có cách để mách bảo lý trí những gì nó muốn.
8. Tùng xẻo Thiên Chúa
Thần
thoại Hy lạp có kể câu chuyện một tên tướng cướp biệt danh là Procrustes. Hắn
ta tính tình cổ quái, cướp của ai rồi, trước khi giết, hắn bắt người ấy nằm
trên một cái giường; nếu người đó ngắn hơn, thì hắn kéo giãn ra cho vừa; còn nếu
dài hơn, hắn chặt bỏ khúc dư. Không chỉ trong thần thoại Hy Lạp mà nơi những
người đương thời với Chúa Giêsu cũng có cung cách tương tự khi Ngài sánh ví họ
với đám trẻ nô đùa ngoài chợ: có những đứa bỗng dưng “nổi chướng” bắt các bạn
phải khóc phải cười theo ý thích không giống ai của chúng.
Quả
thật kiểu áp đặt thô bạo này vẫn có thể tồn tại ở mọi nơi và với mọi người. Lắm
khi chúng ta thích lấy ý riêng mình làm khuôn mẫu bắt mọi người phải theo, và
thậm chí còn áp đặt cả Thiên Chúa cũng phải nằm lên “cái giường của
Procrustes” đó: đó là khi chúng ta bắt Thiên Chúa phải chiều theo lối giữ đạo
“thời vụ” của mình, khi chúng ta lý luận, gia giảm, châm chước, “lách” luật
Chúa cho phù hợp với nhu cầu của mình (chẳng hạn “lách” luật “giữ ngày Chúa Nhật”).
Coi chừng bạn đang “tùng xẻo” cả Thiên Chúa đấy! Để có thể gạt bỏ mọi định kiến,
và mọi áp đặt ý Chúa, trước tiên bạn hãy hồi tâm tìm lại sự bình an và sẵn sàng
lắng nghe tiếng Chúa; và rồi mời bạn suy niệm Lời Chúa nói, chiêm ngắm cách
Chúa làm. Lúc đó bạn sẽ thấy được ý Chúa.
THỨ BẢY - GIOAN TẨY GIẢ LÀ ELIA
Lời
Chúa: Mt
17, 10-13
Khi
xuống núi, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu rằng: "Tại sao các luật sĩ lại nói
Elia phải đến trước đã?"
Chúa
Giêsu trả lời: "Thật Elia phải đến để chấn hưng mọi sự. Và Thầy bảo các
con, Elia đã đến rồi, và họ không nhận biết ông, nhưng đã đối xử với ông như ý
họ. Cũng vậy, Con Người sẽ phải đau khổ bởi họ."
Bấy
giờ các môn đệ hiểu Chúa Giêsu nói với họ về Gioan Tẩy Giả.
TRUYỆN KỂ
1. Êlia đã đến rồi
Các nhà thông luật, dựa trên ngôn sứ Malakhi, nói rằng
Êlia phải đến trước để dọn đường cho Chúa (c. 10), để “đưa tâm hồn cha ông trở
lại với con cháu, và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông” (Ml 3, 1. 24).
Đức Giêsu nhất trí với họ, nhưng nhấn mạnh: “Êlia đã
đến rồi, và họ đã không nhìn nhận ông, nhưng đã xử với ông theo ý họ muốn” (c.
12a).
Theo Đức Giêsu, chẳng cần phải đợi Êlia nữa. Gioan Tẩy
giả chính là Êlia (c. 13).
2. Xe ủi mở đường
Mỗi khi muốn làm đường, người ta cho xe ủi đi trước
để san lấp, tạo mặt bằng tốt. Xe ủi thật mạnh mẽ. Nó càn lướt qua các chướng ngại.
Nó bạt núi san đồi. Đi đến đâu xe ủi làm cho mặt đất bằng phẳng đến đấy. Không
một chướng ngại nào có thể ngăn chặn xe ủi. Ê-li-a và Gio-an Tẩy giả là những
chiếc xe ủi mở đường cho Chúa Cứu Thế đến.
Như chiếc xe ủi các ngài có một đời sống mãnh liệt.
Đó là những cuộc đời rực lửa. Sách Huấn ca miêu tả Ê-li-a là ngọn lửa bừng bừng
nên đã đem lửa thiêu đốt mặt đất. Gio-an Tẩy giả được Chúa khen là ngọn đèn rực
nóng. Ê-li-a có thể đi một mạch 40 đêm ngày đến núi của Thiên Chúa. Gio-an Tẩy
giả từ bỏ thị thành sống trong hoang địa, ăn châu chấu và mật ong rừng, y phục
chỉ là tấm da thú khoác trên mình. Thật là những cuộc đời rực lửa lý tưởng.
3. Êlia sẽ đến lại.
Ngày 10/11/1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã long
trọng công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân
loại, cộng đồng thế giới đã đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền con
người như một nghĩa vụ trường kỳ. Gia nhập Liên hiệp quốc có nghĩa là ký tên
vào bản tuyên ngôn này và đương nhiên cam kết bênh vực quyền con người.
Thật ra, chỉ Thiên Chúa là Đấng có thể ban cho con
người quyền và phẩm giá được làm người mà thôi. Trong tác phẩm: “Bước qua ngưỡng
cửa hy vọng” Đức Gioan Phaolô II đã viết:
“Thật hiển nhiên là quyền con người đã được Đấng
sáng tạo ghi khắc trong trật tự của công cuộc sáng tạo. Như vậy chúng ta không
thể nói đến những ban nhượng từ phía các tổ chức của con người. Những tổ chức
này không làm gì khác hơn là diễn tả những gì chính Thiên Chúa đã ghi khắc
trong trật tự Ngài đã tạo dựng: trong lương tâm hay trong quả tim con người như
Phaolô đã giải thích trong thư Rôma. Tin Mừng là sự khẳng quyết trọn vẹn nhất về
mọi quyền con người. Không có Tin Mừng, chúng ta rất dễ xa lạc với chân lý về
con người. Thật thế, Tin Mừng cho thấy các luật thần linh đang bảo toàn trật tự
luân lý của vũ trụ và củng cố nó, nhất là qua cuộc Nhập thể. Con người là ai mà
Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người. Con người phải là ai nếu Con Thiên
Chúa đã phải trả một giá đắt nhất cho phẩm giá của nó. Mỗi năm, phụng vụ diễn tả
sự thán phục sâu xa của mình khi chiêm ngắm chân lý và mầu nhiệm này trong lễ
Giáng sinh cũng như trong đêm Vọng Phục Sinh. “Ôi tội hồng phúc vì ngươi đã
mang lại cho chúng ta Đấng Cứu chuộc cao cả." Đấng Cứu chuộc khẳng quyết
quyền con người bằng cách tái lập sự toàn ven của phẩm giá mà con người đã lãnh
nhận khi Thiên Chúa tạo dựng nó theo và giống hình ảnh Thiên Chúa.
4. Con Người sẽ phải đau khổ với họ
Trong tác phẩm “Đường Hy vọng”, Đức Hồng y Phanxicô
Xaviê Nguyễn văn Thuận nói: “Thông thường người ta rất quí trọng những người
mang dấu thánh của Chúa, nhưng lại sợ chính mình phải mang những dấu thánh ấy."
Đức Giêsu, dẫu là Con Thiên Chúa, nhưng đã phải trải qua đau khổ và cái chết mới
được đến với vinh quang phục sinh.
Người Kitô hữu không bao giờ tôn sùng đau khổ, nhưng
sẵn sàng đón nhận đau khổ vì tình yêu. Đức Giêsu đã được phục sinh cùng với những
dấu thánh của mình, thì cũng vậy, chúng ta sẽ chỉ được phục sinh, một khi chúng
ta được giương lên cao cùng với thánh giá đời mình. Điều này nhắc nhở mọi người
hãy vác thánh giá cuộc đời trong tâm tình vui vẻ, đồng thời kết hợp với đau khổ
của Đức Giêsu trên Thánh giá năm xưa, hầu đền tội cho mình và cầu nguyện cho mọi
người
5. Muốn gặp Chúa.
Trong kho tàng văn chương Ấn giáo, có một câu truyện
sau đây:
Một đệ tử đến thưa vị linh sư của mình: - Thưa thầy,
con muốn gặp Chúa.
Vị linh sư chỉ đáp trả bằng một cái mỉm cười thinh lặng.
Ngày hôm sau người môn sinh trở lại và bầy tỏ cùng một
ước muốn. Vị linh sư cũng chỉ mỉm cười và tiếp tục giữ thinh lặng.
Rồi một ngày đẹp trời, ông dẫn người đệ tử đến một
dòng sông. Thầy trò cùng dìm mình xuống nước. Chờ cho người đệ tử cảm thấy hoàn
toàn thoải mái trong dòng nước mát. Bất thần vị linh sư mới túm lấy cổ anh và
dìm xuống nước một hồi lâu. Người thanh niên cố gắng vùng vẫy để ngóc đầu lên
khỏi mặt nước.
Bấy giờ vị linh sư mới hỏi anh:
- Khi bị dìm xuống nước như thế, con cảm thấy cần điều
gì nhất?
Không chút suy nghĩ, người đệ tử đáp ngay:
- Thưa, con cần không khí để thở.
Lúc bấy giờ vị linh sư mới giải thích:
- Con có cảm thấy ước ao được gặp Chúa như vậy
không? Nếu con khao khát Chúa như vậy con sẽ gặp được Ngài tức khắc. Ngược lại,
nếu con không có ước muốn ấy, thì cho dù có vận dụng hết cả tài năng và sức lực
con sẽ chẳng bao giờ gặp được Ngài.
6. Gặp Chúa
Đức Giám mục Curtis giáo phận Wilington và Đức Hồng
Y Newman là hai người bạn thân thiết. Cả hai trước kia là Anh giáo, nhưng đã trở
lại công giáo. Một bữa nọ, Đức Giám mục Curtis đến thăm Đức Hồng Y. Trong câu
chuyện, Đức Hồng Y cho biết Ngài đã được đặc ân của Tòa Thánh giữ Mình Thánh
Chúa trong nhà ngài ở.
Ý nghĩ Thiên Chúa ở với các ngài trong cùng một nhà
đã gây xúc động nhiều cho Đức Giám mục Curtis, nhưng khi Đức Hồng Y mời ngài ở
lại đêm với mình, ngài từ chối và nói: "Con sẽ không chợp mắt được tí nào
trong đêm, nếu con nghĩ và biết rằng Chúa đang ở cùng một nhà với con."
Chúa đã đến, nhưng chúng ta đã gặp được Chúa chưa?
7. Không ngờ đã gặp Chúa
Vào buổi sáng nọ, bác thợ giầy thức dậy thật sớm.
Bác quyết định sửa soạn chiếc xưởng nhỏ của bác cho tươm tất rồi vào phòng chờ
cho được vị khách quí. Và người khách đó không ai khác là Chúa, bởi vì tối qua
trong giấc mơ, Ngài đã hiện ra và báo cho bác biết Ngài sẽ đến thăm bác trong
ngày hôm sau.
Người thợ giầy ngồi đợi, tâm hồn tràn ngập hân hoan.
Khi những tia nắng vừa rọi qua khung cửa, bác đã nghe được tiếng gõ cửa. Lòng
bác hồi hộp, sung sướng, hẳn là Chúa đã đến. Bác ra mở cửa. Thế nhưng, người
đang đứng trước mặt bác không phải là Chúa mà là người phát thư.
Sáng hôm đó là ngày cuối đông. Cái lạnh đã khiến mặt
mũi, tay chân người phát thư đỏ như gấc. Người thợ giầy không nỡ để ông run lẩy
bẩy ngoài cửa. Bác mời ông ta vào nhà và pha trà mời khách. Sau khi đã được sưởi
ấm, người phát thư đứng dậy cám ơn và tiếp tục công việc.
Người thợ giày trở vào phòng khách chờ Chúa. Nhìn ra
cửa sổ bác thấy có một em bé đang khóc sướt mướt trước cửa nhà. Bác gọi em bé
đó lại để hỏi cho biết lý do. Nó mếu máo cho biết đã lạc mất mẹ và không biết
đường về nhà. Người thợ giầy lấy tờ giấy viết vài chữ để trên bàn, báo cho người
khách quí biết là mình phải đi ra ngoài.
Nhưng tìm đường dẫn đứa bé về nhà. Mãi đến chiều tối
bác ta mới tìm thấy nhà đứa bé, và khi bác về lại nhà thì phố xá đã lên đèn.
Vừa bước vào nhà bác thấy có người đang đợi, nhưng
không phải là Chúa mà là một người đàn bà với dáng vẻ tiều tụy. Suốt mấy ngày
nay, bà đã không có gì bỏ bụng. Vì bị đói như thế cho nên bà cũng không còn sữa
cho con bú. Bác thợ giầy tận tụy lo lắng cho cả hai mẹ con.
Công việc xong xuôi thì đã quá nửa đêm. Mệt quá bác
để nguyên quần áo và lên giường ngủ.
Thế là một ngày đã qua mà chưa thấy Chúa đến, nhưng
đột nhiên trong giấc ngủ người thợ giày nghe thấy tiếng Chúa nói với bác:
- Cám ơn con đã dọn trà nóng cho Ta uống.
- Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà.
- Cám ơn con đã săn sóc ủi an Ta.
- Cám ơn con đã tiếp đón Ta trong ngày hôm nay.
Giáng Sinh lại sắp về với chúng ta. Chúa đã đến và
Ngài đang đến với mỗi người, đến qua Lời của Ngài, qua những biến cố và qua những
con người. Ai là người sẽ gặp được Chúa? Đó là những con người có một trái tim
quảng đại, đôi bàn tay giang ra, với cặp mắt cảm thông. Ngài cần một tách trà,
một chén cơm, một ly nước, một lời khích lệ, một sự đồng cảm, tha thứ.
8. Dọn đường cho Chúa
Người ta quan sát một đàn ngỗng bay, chúng luôn luôn
bay hình chữ A: đuôi cánh con phía trước là đầu mỏ con kế nó. Lý do chúng bay tạo
hình như vậy là nhờ cánh ngỗng lớn, khi chúng vỗ cánh bay nó tạo ra một sức hút
phía sau cánh, làm cho con bay đằng sau giảm bớt được 71% sức lao động. Do đó
con đầu đàn chỉ bay được một quãng xa là nó lùi về phía sau cho con kế nó tiến
lên đầu đàn, và cứ lần lượt tiếp sức nhau như vậy, những con bay sau vừa bay vừa
reo vang trời để động viên cho con đầu đàn tăng tốc!
Vậy khi sống trong tập thể, ai cũng phải có trách
nhiệm động viên tinh thần người anh em cố vươn lên giống Thiên Chúa, cuộc đời bớt
khổ và sẽ vui hơn. Bởi thế tác giả thư Do Thái nhắc nhở các tín hữu: “Ta hãy
nghĩ đến nhau mà lo đôn đốc lòng mến cùng các việc lành” (Dt 10, 24).
Sống như thế là Chúa đã đến giúp ta chu toàn nhiệm vụ
“dọn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi, hết mọi người phàm
sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3, 4. 6: Tung Hô Tin Mừng).
9. Hãy nên giống Chúa Giêsu
Chuyện đã xảy ra tại thủ đô nước Pháp trong ngày
13/11/2015 thật kinh hoàng! Một số người xông vào nhà hát, sân vận động, cầm
súng bắn xối xả vào đám đông, trong khi một số người khác mang bom đứng bên
ngoài chờ sẵn. Phút chốc, hàng trăm người chết và bị thương. Lời Chúa Giê-su
nói về thái độ của người Do thái đối với các tiên tri có thể dùng để nói về những
tay súng khủng bố nói trên: họ đã xử với đám đông vô tội đó theo ý họ muốn.
Thế nhưng, người Pháp đã bình tĩnh và vượt qua sợ
hãi, trở lại nhịp sống. Những tiên tri của Thiên Chúa cũng vậy, họ không để sự
sợ hãi làm tê liệt vai trò loan báo của mình. Ê-li-a, Gio-an Tẩy Giả chấp nhận
sự bạc đãi của người đồng hương để trung thành với sứ vụ ngôn sứ. Và như Chúa
Giê-su báo trước, Ngài sẽ chịu đau khổ vì người đồng hương như thế, nhưng Ngài
chấp nhận “chén đắng” do người đồng hương gây nên và Ngài chu toàn ý Chúa Cha.
Nhiều lần trong đời, chúng ta quá sợ hãi nên không
dám nói về lòng Chúa thương xót ngay cả cho người trong gia đình. Hoặc đôi khi
chúng ta giải thích một lòng thương xót khác lạ để làm vừa lòng người khác và
tránh phiền phức. Bạn không biết bạn được mời gọi nên giống Chúa Giê-su sao?
10. Đấng Cứu Thế bé nhỏ, khiêm nhường
Các môn đệ loáng thoáng nhận ra sự thực về Thầy
trong vinh quang của biến cố Hiển Dung, họ thắc mắc tại sao các kinh sư lại nói
Ê-li-a phải đến trước! Thật vậy, dầu thông thạo Kinh Thánh, các kinh sư đã
không nhận ra vai trò của Gio-an Tẩy Giả, vì họ chờ một gương mặt khác, theo
trí tưởng tượng của họ. Khi giáp mặt, hai bên đã trở nên xa lạ, và Gio-an Tẩy
Giả đã bị xử theo như ý họ muốn. Với Chúa Giê-su cũng vậy, người Do Thái chờ một
Đấng Ki-tô đến trong uy linh, với binh hùng tướng mạnh để giải thoát họ khỏi những
bế tắc chính trị. Một Đấng Ki-tô bé nhỏ, khiêm nhường, và đau khổ xa lạ với họ
biết bao! Và đôi khi, với chính chúng ta, có phải hình ảnh một Thiên Chúa vĩ đại
vẫn hấp dẫn chúng ta hơn là một vị Thiên Chúa bé nhỏ, nghèo hèn, hạ mình vâng
phục cho đến chết?
Chúa đến với chúng ta cách bất ngờ, không như chúng
ta muốn, không theo cách chúng ta mường tượng. Hãy nhớ lại rằng vua Hê-rô-đê và
cả dân thành Giê-ru-sa-lem bối rối thế nào khi nghe lời báo tin của các đạo sĩ.
Chúng ta cũng dễ rơi vào tình huống như thế, nếu chúng ta cứ vẽ vời theo trí tưởng
tượng của mình mà không sống tinh thần tỉnh thức của Mùa Vọng.
11. Tiếp nối sứ mạng
Trong lịch sử nước Mỹ, có hai vị tổng thống, Lincoln
và Kennedy, giống nhau một cách kỳ lạ từ cuộc sống, sự nghiệp cho đến cái chết.
Người ta liệt kê được hàng chục điểm tương đồng giữa hai bậc danh nhân đó.
Trong lịch sử cứu độ cũng có hai nhân vật như thế: Nói đến Gioan Tẩy Giả lại nhớ
tới ngôn sứ Êlia. Êlia bị truy nã săn đuổi bởi bà hoàng độc ác Ideven (1V
19,1tt). Gioan cùng chung số phận: bị chém đầu do sự xúi xiểm của Hêrôđia, người
phụ nữ lăng loàn (Mt 14,3tt). Gioan không chỉ nối tiếp sứ mạng của “Êlia, người
phải đến." Cuộc sống và cả cái chết của ông còn là một chứng từ cho Đấng
phải đến sau ông: Con Người, tức là Đức Ki-tô, sẽ phải chịu đau khổ giống như
thế.
Hãy Iệt kê những điểm giống nhau không phải để mua
vui, mà để nhận ra điều Đức Kitô muốn gửi gắm cho bạn: sứ mạng của bạn là tiếp
nối sứ mạng của Chúa Kitô, là trở thành chứng nhân trung thành cho Ngài trong
cuộc sống của bạn, sao cho mọi người nhìn vào công việc bạn làm mà nhận ra sự
hiện diện của Ngài.
Tính cách nào của Chúa Giêsu đánh động bạn nhất và bạn
muốn thể hiện trong cuộc sống của bạn nhất?
Trước khi làm một công việc gì, bạn tự hỏi nếu là
Giê-su, Ngài sẽ làm công việc này như thế nào?
12. Êlia đến rồi mà không ai biết
Nhiều người Do thái vẫn đặt một chiếc ghế cho Êlia
hoặc một chiếc tách trên bàn cho ông. Họ hi vọng đây sẽ là năm Êlia trở lại như
tiên báo. Một số người Do thái thời Chúa Giêsu thì nghĩ rằng Chúa Giêsu chính
là Êlia.
Nhưng Chúa Giêsu cho thấy rõ Ngài không phải là
Êlia. Hơn nữa, Ngài còn nói Êlia đã đến nhưng nhiều người không nhận ra ông. “Bấy
giờ các môn đệ hiểu Ngài có ý nói về Gioan Tẩy giả.” (Mt 17,13) là người đã nói
với dân chúng: “Anh em hãy sám hối” (Mt 3,2)
Đâu là tội mà tôi thấy khó sám hối? Tại sao?
Tôi không tin mình có thể thay đổi bất cứ gì trong
thế gian, cho đến khi tôi thay đổi được chính mình trước. (E.C.McKenzie)
13. Chúa bị ruồng bỏ
“Ánh sáng mùa đông” là bộ phim nổi tiếng của Ingmar
Bergman. Một trong những nhân vật của bộ phim là người gác cửa tàn tật của một
nhà thờ. Ông thường xuyên phải chịu đựng đau đớn ở lưng và trong xương. Một
ngày nọ, ông còn phải chịu đựng một nỗi đau đớn tinh thần khi chiêm ngắm cuộc
khổ nạn của Chúa Giêsu. Việc chiêm ngắm này đưa ông đến kết luận rằng nỗi đau đớn
lớn nhất của Chúa Giêsu là nỗi đau đớn về tinh thần. Mặc dù đã yêu thương, đã
thi ân và hiến dâng chính mình, nhưng nhiều người vẫn không biết đến Ngài,
không quan tâm đến Ngài, không đi theo Ngài. Nếu không xét kĩ, thì cuộc đời và
cái chết của Chúa Giêsu xem như vô nghĩa và thât bại.
Cách đối xử của người ta đối với Gioan và với Chúa
Giêsu nói lên điều gì đối với tôi?
[Chúa Giêsu nói:] “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân
xác, mà không giết được linh hồn.” (Mt 10,28)
Lời Chúa Tuần 2 Mùa Vọng
Thường niên V - GS C - PS Ngoại lịch
