LỜI CHÚA TUẦN 26 THƯỜNG NIÊN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNTN 26A - LÀM THEO Ý CHA (còn nữa)
CNTN 26B - DỨT
KHOÁT VỚI TỘI LỖI
LỄ THÁNH TÊRÊXA HÀI ĐỒNG GIÊSU
THỨ HAI – NGƯỜI
CAO TRỌNG NHẤT
THỨ BA - CON
NGƯỜI ĐẾN ĐỂ CỨU CHỮA
THỨ TƯ - ĐIỀU
KIỆN THEO CHÚA GIÊSU
THỨ NĂM - SAI BẢY
MƯƠI HAI NGƯỜI RAO GIẢNG
THỨ SÁU - LẮNG
NGHE VÀ SÁM HỐI
CNTN 26A - LÀM
THEO Ý CHA
Lời Chúa: Mt 21, 226-32
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng
tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người
con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: "Này con, hôm nay con hãy đi làm
vườn nho cho cha!" Nó thưa lại rằng: "Con không đi." Nhưng sau
nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa
lại rằng: "Thưa cha, vâng, con đi." Nhưng nó lại không đi. Ai trong
hai người con đã làm theo ý cha mình?" Họ đáp: "Người con thứ nhất."
Chúa Giêsu bảo họ: "Tôi bảo thật
các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.
Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài;
nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài.
Còn các ông, sau khi xem thấy điều
đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài."
TRUYỆN
KỂ
1.
Thanh kiếm của Quý Tử
Năm xưa, Quí Tử đi sứ nước Tấn có
mang thanh bảo kiếm, qua thăm vua nước Từ.
Vua nước Từ ngó hoài thanh kiếm ra
dáng yêu thích lắm, lòng tuy muốn xin mà miệng chẳng tiện nói ra….
Qúi Tử vì còn phải đi sứ thượng quốc,
tuy chưa tặng vua Từ thanh kiếm được, nhưng trong lòng đã thầm hứa cho, khi đi
sứ xong!
Sau khi xong việc, về thăm vua nước
Từ thì vua Từ đã mất!!! Quí Tử liền tháo thanh kiếm đưa cho sứ quân vua Từ. Các
người hầu ngăn lại:
- Bảo kiếm này là Báu Vật của nước
nhà, không phải là món quà có thể tặng được!!! Mong tướng quân suy xét kỹ việc
này….
- Lần ghé trước đây, vua Từ xem kiếm
của ta, tuy chưa nói ra, nhưng lòng dường như rất yêu thích. Ta vì còn phải đi
sứ thượng quốc, chưa dâng được. Tuy vậy trong lòng ta đã hứa cho. Vua Từ nay đã
mất, ta vẫn giữ lời hứa mình vì nếu không, ta đã tự dối tâm mình. Tiếc kiếm mà
thất hứa, dối tâm… người liêm không bao giờ làm!!!
Nói xong, Quí Tử tháo thanh kiếm đưa
cho sứ quân của Từ Vương!
Sứ quân nói: “Vua tôi không có dặn
việc này, tôi thiệt không dám nhận kiếm.”
Quí Tử bèn treo kiếm vào cành cây ở
mộ vua Từ, rồi đi.
Người nước Từ ai cũng khen Quí Tử đã
không quên lời hứa, ngay cả với người đã mất!!
2.
Bản án đánh đòn
Vào năm 1992, tại tiểu bang Georgia
- Hoa Kỳ. Xảy ra một câu chuyện có thể gọi được là “cười ra nước mắt."
Một bà mẹ 73 tuổi bị chính đứa con
trai của mình kiện vì bà không trả cho anh ta tiền công sửa chiếc xe tải của
bà. Sau đó, bà mẹ đã đệ đơn tố cáo ngược lại con mình với lời đề nghị là anh ta
phải bị đánh đòn vì lúc anh ta còn nhỏ bà đã không áp dụng câu tục ngữ: “Thương
con cho roi cho vọt."
Vào ngày 6 tháng 7 năm 1992, anh thợ
sửa xe ô tô tên là Kê-nêt Ar-gut đã đệ đơn tại tòa sơ thẩm để thưa mẹ anh và
đòi tòa ra lệnh cho bà thanh toán hóa đơn 2,613 đô la tiền sửa xe mà bà đã từ
chối không chịu trả cho anh.
Trả lời cho đơn người con trai kiện
mình, bà An-sen Ar-gut đã viết như sau: “Nguyên cáo đã mắc nợ bị cáo 40 năm phục
dịch của một bà mẹ, một người giữ em, một người giúp việc nhà, nấu ăn, giặt
giũ, y tá, một nhà tâm lý để cố vấn, khuyên nhủ, an ủi, v.v… Tất cả những dịch
vụ trên, nguyên cáo đã không trả tiền công bị cáo." Bà Ar-gut còn viết tiếp:
“Như một bà mẹ, nếu luật pháp cho
phép, tôi sẽ công khai đánh đòn con tôi, những cú roi rất cần thiết cho nó mà
tôi đã thất bại không cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho phép mẹ
đánh con thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa trị con
tôi."
Đó là nỗi đau của một bà mẹ bị con
khước từ. Nó đã không còn nhận bà là mẹ. Nó đòi bà phải trả tiền như bao khách
hàng khác. Chính trong nỗi đau đó, Bà mẹ Argus hối tiếc vì đã không dạy con từ
nhỏ nên mới lãnh lấy hậu quả hôm nay.
3.
Ngôn hành bất nhất
Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc,
đòi đi theo. Mẹ bảo:
- Con ở nhà rồi mẹ về làm thịt lợn
cho con ăn!
Lúc vợ về, thầy Tăng Tử đi bắt lợn
làm thịt. Vợ nói:
- Tôi nói đùa nó đấy mà!
Thầy Tăng Tử bảo:
- Nói đùa thế nào? Đừng khinh trẻ
thơ không biết gì. Cha mẹ làm gì nó thường hay bắt chước. Nay mình nói dối nó,
chẳng là mình dạy nó nói dối ư?
Tăng Tử nói xong làm thịt lợn cho
con ăn.
4.
Nói và làm
Vào cuối thập niên 260 của thế kỷ
trước, có một chính khách đã viết nhiều bài báo nói về “đổi mới tư duy”, Ông
thường ký tên NVL. Nhiều người nghĩ đơn giãn đó là 3 chữ viết tắt tên của ông,
(tên của ông nếu viết tắt thì đúng là 3 mẫu tự đó), như nhiều tác giả thường
làm như vậy, nhưng khi được hỏi vì sao ông không ký tên trọn vẹn mà lại chỉ viết
tắt, ông nói bút hiệu NVL của ông nó có nghĩa là “nói và làm."
Đọc những bài báo đó, không biết
chúng có thay đổi được gì thực tế xã hội không, nhưng chúng phản ánh một xã hội
mà nhiều người đang có trách nhiệm trực tiếp trong guồng máy xây dựng xã hội thời
điểm đó đang lâm cơn bệnh “nói nhiều làm ít”, thậm chí “nói mà không làm”, và
còn hơn thế nữa, “nói một đàng làm một nẻo."
“Nói nhiều làm ít” là thứ bệnh phóng
đại, phô trương.
“Nói mà không làm” là thứ bệnh nói dốc,
nói láo.
“Nói một đàng làm một nẻo” là thứ bệnh
lường gạt, thủ đoạn, thâm độc.
Cách sống “nói và làm” kiểu đó sẽ
đưa đến một xã hội phi đạo đức, vì đạo đức không thể cùng tồn tại với giả hình
và bịp bợm.
Một con người chân chính bao giờ
cũng coi trọng Việc làm hơn Lời nói. Bởi chỉ bằng những hành động thực tế mới
chứng tỏ được mình suy nghĩ có đúng không, có ý chí thể hiện những suy nghĩ tâm
huyết thành hành động thực tế hay không. Và chính điều đó cho biết anh là ai,
là người có đáng tin cậy hay không. (…)
5.
Lấy của ban ngày
Nước Tấn có kẻ hiếu lợi, một hôm ra
chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói rằng: “Cái này tôi ăn được, cái này tôi mặc
được, cái này tôi tiêu được, cái này tôi dùng được." Lấy rồi đem đi. Người
ta theo đòi tiền. Anh ta nói:
“Lửa tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt.
Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ tưởng của tôi cả, không còn trông thấy gì nữa.
Thôi, các ngươi cứ cho tôi, sau này tôi có giàu, tôi sẽ đem tiền trả lại."
Người coi chợ thấy càn dở, đánh cho
mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:
“Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn
ta, thường dụng thiên phương, bách kế ngấm ngầm lấy của người. Ta đây tuy thế,
song lấy giữa ban ngày so với những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười
ta là các ngươi chưa nghĩ kỹ!” (Long Môn Tử).
6.
Ao ước của ĐTC Benedict 16
Ngày 15 tháng 9 năm 2011, nhà xuất bản
Vatican, Giuseppe Costa đã tổ chức triển lãm 600 tác phẩm của Đức Hồng Y Joseph
Ratzinger, sau này là Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI.
Cuộc triển lãm được trình bầy cho Đức
Thánh Cha tại Castel Gandolfo, nhưng cũng đã được mở ra cho các du khách tại
Vatican và ngày 24 tháng 9 tại trụ sở của nhà xuất bản Herder tại Freiburg.
Trong dịp này, Đức Thánh Cha đã nói:
“Tôi rất cảm động và khá ngạc nhiên được thấy số lượng các sách vở tôi đã viết.
Hy vọng của tôi là những lời tôi viết trong đó không chỉ đến và đi, nhưng giúp
cho các độc giả nam và nữ tìm được hướng đi của họ.”
7.
Augustino và ý Chúa
Thánh Augustinô, sinh năm 534, tại
Targas, xứ Algêrie, Phi Châu, trong một gia đình giàu có, nhưng thiếu đạo đức.
Mẹ là bà thánh Mônica, một gương mẫu các bà mẹ công giáo về việc sống đạo và việc
giáo dục con cái bằng đời sống và bằng cầu nguyện nữa…
Từ nhỏ, Augustinô có tư chất thông
minh khác người, đã được theo học khoa hùng biện tại Carthage; nhưng tại đây
ngài đã lây nhiễm các thói hư tật xấu ở đời. Lời dạy dổ của Mẹ, giáo lý đã học
đuợc từ nhỏ, Augustinô đã bỏ ngoài tai. Augustinô hầu như đã mất đức tin, ngài
còn theo lạc thuyết Manê nữa. Ngài hầu như đã trả lời không khi được Chúa gọi
vào làm vuờn nho cho Chúa. Vì sống trong tội lỗi, tâm hồn của ngài luôn bị dày
vò, không hề được sự bình an…
Sau đó ngài được mời sang Rôma để
làm giáo sư khoa hùng biện. Đây cũng là ý Chúa, nhờ đó ngài đuợc giao tiếp thường
xuyên với thánh Giám mục Ambrosiô, và cũng từ đây ngài đã trở lại với niềm tin
và đã chấp nhận đi vào làm trong vườn nho của Chúa, mặc dù một khoảng thời gian
dài ngài đã từ chối lời mời gọi của Chúa.
8.
Theo Chúa hết lòng
Anh Rmah Nguc, là người làng
Plei-ia-ba, huyện Đức Cơ, bộ tộc Jrai, sinh năm 1966, được rửa tội từ nhỏ. Cha
anh cũng là công giáo gốc, từng là người đi giúp đồng đạo thời Đức Cha Kim Paul
Seizt…
Sau năm 1975, tôn giáo và ngay cả những
nét văn hóa như tiếng coòng chiêng, cũng bị kết tội là mê tín. Cha anh vì quá sợ
hải nên… bỏ chuyện đạo qua một bên. Rmah Nguc lớn lên và hòa nhập nhanh vào đời
sống xã hội. Các người lãnh đạo chú ý đến vì sự thông minh và hoạt bát của anh.
Học xong lớp 9, R. Nguc được đưa đi học sơ cấp sư phạm để về làm hiệu truởng
trường tiểu học của cả huyện. Chỉ mới 20 tuổi, anh đã được kết nạp đảng. Một vị
lãnh đạo cho biết: “Thằng R. Nguc đã được đưa vào kế hoạch đào tạo để làm bí
thư đảng ủy xã." Là hiệu trưởng, anh đã sống hết mình cho học sinh.
Năm 1990, cha anh mất, anh quyết tâm
trở lại với Chúa. Dần dần cấp lãnh đạo biết anh là người công giáo, họ gọi anh
lên cảnh cáo, đe dọa đủ cách, nhưng anh trả lời: “tôi theo đạo từ nhỏ, nên tôi
phải giữ.” Thế là tự nhiên anh bị cho nghỉ việc, mất cả lương bổng, kể cả thâm
niên…Anh bị người ta đuổi việc. Lúc đầu dĩ nhiên anh phải buồn…nhưng nhờ vậy,
anh có nhiều giờ học giáo lý, đọc Thánh kinh… Ngày hôm nay (2002), nhà anh là
là nơi giáo dân Jrai lui tới cầu nguyện. Có những buổi học giáo lý dành cho các
ami (các bà mẹ), các ama (ông bố) và Lắc-ai (ca đoàn)…
Rõ ràng anh Rmah Nguc, không vâng giữ
lời Chúa chỉ bằng môi miệng; anh còn đem nó ra thực hành nữa…
9.
Thức tỉnh trở về
Trên đường tu đức, ai cũng ham đọc
sách của Thomas Merton. Cha đã khai sáng một lối suy tư mới để cân bằng, cảnh tỉnh
và thăng tiến đời nội tâm. Trong tác phẩm “Ngọn núi bẩy tầng” (The Seven Story
Mountian) Thomas Merton đã diễn tả ơn trở về đặc biệt của chính bản thân.
Lúc 20 tuổi, Merton gia nhập đảng cộng
sản và du lịch Âu châu. “Bỗng một đêm ở Paris, tôi nhận ra cái tình trạng tồi tệ,
khốn quẫn và man dại của mình trong cơn ác mộng. Tôi bị quỉ dữ săn đuổi và cố
chạy trốn! Càng chạy càng mắc và càng lâm nguy. Thức giấc trong kinh hoàng và ướt
đẵm, tôi quì xuống khẩn cầu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi tha thiết nguyện
xin. Những mong Thiên Chúa giải cứu khỏi sự dữ đang kìm kẹp và đe doạ tôi.
Thiên Chúa đã ra tay thị uy và tạo cơ hội cho tôi trở về." Khi 23 tuổi,
Merton đã tin nhân và suy phục Chúa. Anh làm phóng viên cho tờ Nữu Ước Thời
Báo. Và lúc tròn 26, anh giã từ nghề nghiệp, bố thí gia sản, rồi dồn những đồ
tùy thân vào một túi vải, gõ cửa xin gia nhập dòng Trapist tại Kentuckty. Chúa
đã chuyển hóa một thanh niên hoang đàng thành một thầy dòng khổ tu. Thật lạ
lùng!
Không hài lòng với bản thân, nổi loạn
với cha mẹ, chống cưỡng quyền bính, và tranh đấu cho công bằng xã hội, chúng ta
thường có hai phản ứng tương khắc. Một là dấn thân xây dựng cơ cấu và thế hệ mới,
cải tiến gia đình, học đường và xã hội. Đây là con đường đoan chính và thánh
thiện mà lịch sử Giáo Hội còn ghi đậm những nết son đặc thù của một Phaolô,
Augustinô, Inhaxiô, Phanxicô. Hai là bất mãn, chống đối, làm loạn, thủ tiêu và
trả thù theo thuyết “thần học giải phóng." Thuyết này đã được phái vô thần
áp dụng tuyệt mức. Họ cấy thù hận vào tâm não; dùng tra tấn, đàn áp và tù tội
làm chính sách; lấy thủ tiêu, bỏ đói và tra tấn làm phương tiện. Kết quả là có
nhiều tâm hồn thất vọng, chán chường.
Sống bất an và bất hạnh, Merton quyết
tung cánh chim tìm về tổ ấm và ra khỏi ngõ cụt của văn hoá sự chết. Merton được
cải tử hoàn sinh qua ba giai đoạn. Một là ý thức quá khứ lỗi lầm và hướng thiện.
Hai là cương quyết thăng tiến và thay đổi. Ba là dấn thân sống lý tưởng và hành
hiệp trượng nghĩa. Đây là ba chặng chuyển hướng quan trọng, phải theo đúng nếu
muốn cải tử hoàn sinh. Merton, Phaolô, Mai Đệ Liên, Augustinô… đã thành công và
trở thành những “tín hữu thật” theo quan niệm của Soren Kierkegaard “Chưa có một
tín hữu thật sự trên đời, mà chỉ có tiến trình trở thành một tín hữu." Quả
vậy tâm tình “ngại núi e sông” đang trói chặt chúng ta. Vì thế chúng ta còn tiếc
xót đời tiện nghi, ấm cúng, hạnh phúc, chưa đeo nổi túi vải lên vai và vui bước
lên đường.10. Hữu dũng vô mưa
Một lần nọ, người chủ ruộng dẫn con
trâu đến mảnh đất để cày, con trâu và người chủ làm việc suốt buổi sáng. Đến
trưa người chủ thả trâu cho nghỉ ngơi và ăn cỏ, còn người chủ cũng ăn uống lấy
sức.
Con trâu đang nằm nhơi cỏ, thì bỗng
đâu có con cọp xuất hiện làm cho trâu hốt hoảng, nhưng cọp trấn an trâu và nói:
thân mi to lớn, với sức khoẻ phi thường, tại sao mi phải lệ thuộc con người yếu
đuối và chịu sự điều khiển như thế?
Con trâu trả lời: con người tuy nhỏ
bé, yếu đuối, nhưng họ có trí khôn, nên sức mạnh không làm gì được trí khôn của
họ. Cọp mới hỏi trâu trí khôn là gì mà ghê thế? Trâu bảo cọp hãy đến hỏi con
người.
Cọp mới đến gần con người xin cho
xem trí khôn. Con người bảo là để quên ở nhà, anh bảo cọp chờ anh ta về nhà lấy
cho nó xem. Nhưng anh ta chợt suy nghĩ và bảo cọp. Mi hãy để ta trói mi lại, chứ
nhở khi về lấy trí khôn cho mi xem, mi sợ và bỏ trốn thì sao?
Cọp bị chạm tự ái, nên để cho người
trói lại. Vừa trói xong, anh ta lấy một cây to đến bên cọp và đánh cho đến khi
cọp không còn sức vùng vẫy nữa, anh ta bảo: trí khôn của ta đây nầy. Con trâu
nhìn thấy thế và mỉm cười cho cọp.
10.
Nghe và làm
Một tân linh mục giảng một bài thật
hay. Chúa nhật kế tiếp, cộng đoàn tín hữu đông đảo chờ đợi nhưng họ ngạc nhiên
khi vị linh mục lặp lại bài giảng Chúa nhật trước. Chúa nhật sau đó, ngài cũng
lặp lại cùng một bài giảng. Khi tín hữu tỏ ý thắc mắc, ngài bảo họ: “Tôi lặp lại
bài giảng cho đến khi thấy anh chị em thực hiện được một gì đó trong bài giảng.”
Cái gì ngăn cản tôi không quan tâm đến
Lời Chúa?
Người ta không thể băng qua biển khi
chỉ đứng nhìn mặt nước (R. Tagore).
11.
Tuân theo ý Chúa
Có một ông công chức, khi về hưu, đã
mua mấy mẫu đất ở miền quê để làm một thửa vườn rộng. Thế nhưng, ông thấy mình
không thể đảm đương hết mọi công việc, nên ông đã đi thuê người giúp việc.
Đầu tiên, một chàng thanh niên tới
và ông đã hỏi:
- Anh có biết gì về nghề làm vườn
hay không?
Anh trả lời:
- Tôi có biết chút ít.
Ông ta chỉ dẫn cho anh:
- Anh hãy lấy những hạt giống này,
ngâm vào nước âm ấm cho qua một đêm, rồi mới đem gieo trồng.
Thế nhưng anh đã phản đối và cho rằng
đó không phải là một cách thức tốt.
Sáng hôm sau, một chàng thanh niên
khác đến xin việc, ông ta cũng hỏi:
- Anh có biết gì về nghề làm vườn
hay không?
Anh trả lời:
- Tôi không biết nhưng rất vui lòng
được học.
Ông ta cũng chỉ cho anh cách ươm cây
và anh đã vâng theo làm như vậy. Cuối cùng ông ta cắt nghĩa:
- Đây là giống bạch đàn không dễ
gieo trồng. Nếu không ngâm vào nước ấm trong một đêm thì hạt sẽ khó mà nẩy mầm.
Và chàng thanh niên đã thú nhận:
- Tôi không biết lý do nhưng tôi
nghĩ rằng ông có kinh nghiệm hơn tôi nên ông bảo sao thì tôi làm như vậy.
Từ câu chuyện trên chúng ta thấy: Một
số người có quyền và có bổn phận bảo cho người khác điều phải làm. Chẳng hạn
người cha trong dụ ngôn chúng ta vừa nghe, có quyền và có bổn phận đó. Còn hai
người con của ông tiêu biểu cho chúng ta, là những người có bổn phận phải làm,
phải thi hành, phải vâng theo.
12.
Có và không
Một linh mục phó xứ quyết định mở
khoá học Thánh Kinh vào mỗi buổi tối Chúa nhật. Sau thánh lễ 26 giờ sáng, ngài
yêu cầu giáo dân ở lại để trình bày ý tưởng về nhóm học Thánh Kinh. Sau khi cắt
nghĩa chương trình, ngài hỏi, “Quý ông bà anh chị em có nghĩ rằng chúng ta nên
mở khoá học Thánh Kinh trong họ đạo vào mỗi tối Chúa nhật không?” Có tất cả 54
người giơ tay đồng ý, tán thành ý tưởng đạo đức này.
Sau đó, trở về nhà xứ, ngài trình
bày với cha xứ về sự hưởng ứng nhiệt liệt của giáo dân đối với dự tính của
ngài. Cha xứ đã lắng nghe, rồi nhẹ nhàng nói: “Có lẽ cha nên đặt lại câu hỏi."
Sáng Chúa nhật tuần sau, cũng sau
thánh lễ, ngài xin giáo dân ý kiến, và đặt lại câu hỏi: “Có bao nhiêu người sẽ
dự buổi học Thánh Kinh tối nay?” Thật tuyệt vọng, cha phó đã đếm được bốn người
giơ tay.
13.
Sức mạnh siêu phàm của một cô gái điếm
Một hôm nghe tin về một cô gái điếm
tuy tội lỗi, nhưng lại có một quyền năng siêu phàm, vua Ashoka đã triệu vời cô
ta tới và yêu cầu cô thi thố tài năng để có dịp tận mắt chứng kiến và biết rõ
thực hư ra sao.
Trước mặt nhà vua cùng các quần thần,
các đạo sĩ và đám đông dân chúng tụ tập bên bờ sông Hằng, cô gái điếm kia đã
thi thố tài năng: cô có thể ra lệnh cho dòng sông đang cuồn cuộn chảy phải thay
đổi chảy ngược lại, gây ra những tiếng động ầm ầm giống như long trời lở đất.
Đang khi đo, các vị đạo sĩ tuy đã dày công tu luyện nhiều năm và rất am tường
Phật pháp lại đành chịu bất lực trước nạn lụt hằng năm, nước sông dâng lên tràn
bờ đê, gây ra cảnh lụt lội lớn lao, làm cho nhân dân dọc theo hai bên dòng sông
ngày một lầm than đói khổ!
Nhà vua không thể tin đươc một cô
gái điếm, thuộc hạng tiện dân và tội lỗi lại có sức mạnh siêu phàm như thế. Bấy
giờ vua hỏi cô gái rằng: “Do đâu mà một kẻ tội lỗi ti tiện như ngươi lại có thể
làm được việc lớn lao phi thường như thế?” Cô gái đáp:”Tâu Đức vua, đó là nhờ đức
hạnh của tiện nữ!"
Đức vua lại cười khẩy và vặn hỏi:”Thế
đức hạnh của ngươi ra sao?" Cô đáp: “Tâu đức vua, đức hạnh của tiên nữ
chính là do cách cư xử công chính đối với mọi người. Khi tiếp chuyện với bất cứ
ai, dù họ là bậc quân vương, quý tộc hay đám thường dân, tiện nữ đây cũng hết
lòng tôn trọng và luôn đối xử vẹn tình trọn nghĩa. Tuyệt đối không dám khinh
thường hoặc gian dối với bất cứ người nào cả!"
Như vậy, theo lời cô gái trong câu
chuyện trên: Muốn có sức mạnh làm được những việc phi thường, thì người ta phải
ăn ở công chính, nghĩa là đối xử công minh chính trực với mọi người. Trong Tin
Mừng hôm nay Đức Giêsu đã nêu tên Gio-an Tẩy giả và đòi những ai muốn được ơn cứu
độ phải tin ông Gio-an và đi theo đường công chính của ông như sau: “Vì ông
Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy.
Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy
vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy” (c 32).
14.
Hối hận
Có một tâm sự như sau: Lúc tôi còn
là một chàng thanh niên nhà nghèo từ miền quê lên thành phố học tập, mẹ tôi đã
phải gồng gánh, chắt chiu từng đồng gửi cho tôi ăn học. Mỗi lần có dịp về thăm
nhà, tôi thấy ngôi nhà ẩm thấp, nóng nảy ngày xưa vẫn không hề thay đổi. Trời tối
nóng bức, mẹ tôi phải phe phẩy chiếc quạt nan cũ kỹ cả đêm. Tôi nói với mẹ:
Tháng lương đầu tiên, con sẽ mua tặng mẹ cái quạt điện cho mát.
Thời gian trôi qua, tôi cũng đã có
việc làm, nhưng dường như tôi đã quên hẳn lời hứa với mẹ về tháng lương đầu
tiên. Cuộc sống ở thành phố cứ cuốn tôi vào với dòng chảy của nó, bạn bè ngày
càng nhiều hơn, các bữa tiệc ngoại giao ngày càng thường xuyên hơn, có những bữa
tiệc tiêu tốn đến vài triệu.
Rồi một ngày, nhận được tin mẹ mất,
tôi vội vã trở về với mẹ. Vẫn ngôi nhà đơn sơ năm xưa, mẹ tôi nằm đó, trên
gương mặt còn đậm nét khắc khổ. Buổi chiều hôm ấy, khi người ta đặt mẹ vào quan
tài, những người phục vụ đã không quên bỏ vào quan tài của mẹ chiếc quạt nan cũ
kỹ năm xưa. Nhìn thấy chiếc quạt, tim tôi thắt lại, giật mình nhớ lại lời hứa về
tháng lương đầu tiên sẽ mua tặng mẹ chiếc quạt điện.
Tôi vô cùng hối hận vì đã không thực
hiện được một lời hứa nhỏ bé dành cho mẹ. Kể từ đó, mỗi khi ngồi cạnh chiếc quạt
điện tại văn phòng, tôi lại nhớ lời hứa năm xưa với mẹ mà lòng đau đớn.
15.
Ai là người đắc đạo?
Tôi có người bạn thân, trí thức. Anh
học giáo lý rất chăm chỉ nhiều năm. Tuy nhiên mỗi lần đề nghị anh trở lại đạo,
chịu bí tích thanh tẩy (rửa tội) anh từ chối ngay. Gạn hỏi, anh kể cho tôi câu
chuyện như sau:
Ở Tích Lan, có một nhà sư nổi tiếng.
Thiện nam tín nữ đến nghe ông thuyết pháp rất đông. Chuyện đến tai nhà vua, vua
cho vời sư ông tới giảng giải giáo lý nhà Phật cho bá quan văn võ. Chính vua
cũng không vắng mặt buổi nào. Sau đó vì ban ngày bận việc triều đình nên nhà
vua thường lẻn khỏi hoàng cung ban đêm để tìm nghe nhà sư thuyết giảng. Hai người
đưa nhau lên mỏm núi cao ngồi.
Một hôm, khi đang nghe Phật pháp bỗng
trông thấy hoàng cung bốc cháy. Nhà vua vẫn bình tĩnh ngồi nghe không tỏ vẻ
quan tâm chút nào. Khi chấm dứt bài giáo lý, sư ông hỏi: “Lúc nãy hoàng cung
cháy bệ hạ không lưu ý sao?” Nhà vua trả lời: “Cháy đền này, ta xây cái khác.
Còn chuyện đạo pháp không như thế được."
Đêm hôm sau, hai người lại trông thấy
ngôi chùa, nơi nhà sư tạm trú, bốc cháy. Nhà sư bồn chồn lo lắng đứng ngồi
không yên. Đức vua hỏi duyên cớ làm sao? Sư ông trả lời: “Hạ thần còn để quên
cái khố ở trong chùa.” Nhà vua đắc đạo, sư ông thì không. Đây là lý do tại sao
tôi không dám vào đạo. Sợ rằng sau đó cũng như nhà sư thôi.
Nói xong anh bạn nhắm mắt, rùng
mình. Tôi hiểu nỗi lo lắng của anh.
16.
Lòng quảng đại phải cụ thể
Tại một giáo xứ nọ, cứ mỗi năm có một
chủ đề sống. Chủ đề năm ấy là “Mau mắn quảng đại chia sẻ cho người nghèo."
Vào cuối dịp tĩnh tâm đầu năm, Cha xứ muốn mỗi người nói lên quyết tâm của mình
trong ngày đầu năm, Ngài hỏi:
- Ông Hai! Ông có sẵn sàng sống bác
ái chia sẻ theo chủ đề của Giáo xứ không?
- Vâng! Con nhất trí ạ!
- Vậy, nếu ông có hai con bò, ông sẽ
góp quỹ tặng cho người nghèo một con chứ?
Ông Hai hiên ngang trả lời trước Cha
xứ và cộng đoàn:
- Đương nhiên rồi thưa Cha!
- Nếu ông có hai căn nhà, ông hứa
dâng một căn nhé!
- Bảo đảm trăm phần trăm với Cha.
- Nếu ông có hai con gà, ông sẽ nhường
lại cho người nghèo một con gà, phải không?
- Ồ, không được, thưa Cha.
Cha xứ ngạc nhiên hỏi:
- Sao vậy? Tôi không hiểu. Sao nãy
giờ, ông luôn nói đồng ý mà bây giờ, ông lại nói không?
Ông Hai thành thực thú nhận:
- Những thứ trước, Cha hỏi, nhà con
không có, còn gà, nhà con có nhiều ạ!
17.
Tình yêu cốt ở việc làm
Thánh Têrêxa HĐGS nói: "Lòng
yêu mến không cốt ở những tình cảm, nhưng cốt ở việc làm"
Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của
một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:
- Bằng vào dấu chỉ nào các người
khác nhận ra các con là người Công giáo?
Không có tiếng trả lời. Rõ ràng
không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại
thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự
tòng một câu trả lời đúng. Bất. chợt một ứng viên trả lời:
- Đó là "Tình yêu."
Vị Giám mục rất nhạc nhiên! Khi ngài
sắp mở miệng nói "Sai ", ngài bỗng kịp thời ngậm miệng lại
18.
Hối cải sinh kết quả tốt đẹp
Một thương gia trong một thị trấn nhỏ
nọ có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của
cha mình. Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng đó. Mọi việc đều êm đẹp
cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất. Người em đã để tờ giấy bạc
đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh quay lại, tờ giấy
bạc đã biến mất. Người em hỏi người anh:
- Anh có thấy tờ giấy bạc đâu không?
- Không - người anh đáp.
Tuy thế. Người em vẫn không ngưng
tìm kiếm và gạn hỏi.
- Anh không thể không đụng đến nó. Tờ
giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó!
Sự buộc tội phảng phất trong giọng
nói của người em. Căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Sự oán giận
cũng theo đấy mà len vào. Không lâu sau một hố ngăn cách gay gắt và sâu thắm đã
chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào. Cuối cùng
họ quyết định không làm chung với nhau và một bức tường ngăn cách đã được xây
ngay giữa cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau
đó, lan đến cả gia đình của họ. Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước
của hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng:
- Anh đã ở đây bao lâu rồi?
Người bán hàng đáp rằng anh đã ở đây
cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp:
- Tôi phải nói với anh điều này. 20
năm trước tôi đang đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc đó tôi đã không ăn gì
suốt ba ngày. Khi tôi đến đây bằng cửa sau và thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền,
tôi đã bỏ vào túi mình rồi ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó.
Tôi biết nó không phải là món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh
thứ lỗi.
Người đàn ông lạ mặt ngạc nhiên khi
thấy những giọt nước mắt lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên
này.
- Ông có vui lòng sang cửa hàng bên
và kể lại chuyện này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không? - anh ta đề
nghị.
Rồi người đàn ông lạ càng ngạc nhiên
hơn khi thấy hai người đàn ông trung niên, trông rất giống nhau, ôm nhau khóc
ngay trước cửa hàng. Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường thù
hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ. ( Loren Fischer )
Đó chúng con thấy sự hối cải đã đem
lại kết quả đẹp đẽ như thế nào!
19.
Phô trương
Platon hồi ấy là người yêu nghệ thuật. Nhà ở của
ông được trang trí bằng nhiều bức thảm qúi đẹp. Một hôm, DIOGENE, - người chủ
trương sống màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ -, tới thăm Platon. Tới nơi, mặt
đỏ gay, con mắt trợn trừng, ông ta vừa đạp thình thịch lên tấm thảm qúi của
Platon, vừa nghiến răng nói:
- Ta chà đạp dưới chân tính phô trương kiêu
hãnh của nhà ngươi.
Ông Platon bình tĩnh trả lới:
- Phải, và với một sự phô trương kiêu hãnh sâu
rộng hơn nhiều.
Thì ra đời sống bên ngoài đầy quảng cáo của
Diogène không đi đôi với đời sống bên trong. Nhà quân tử cũng mắc phải chứng bệnh
phô trương như ai.
20.
Nhà ái quốc Aristogiton.
Aristogiton hồi ấy lúc thanh bình, là một nhà
ái quốc thượng thặng. Thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn
cảnh để cổ võ những đức tính anh hùng kiêu hùng của người chiến sĩ yêu nước.
Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến với tất cả các
cường quốc trên thế giới.
Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch,
người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng
bó, trông thảm não vô cùng.
Biết rõ những bí ẩn của chàng, ông Photion trợn
mắt nói:”Aristogiton đã làm một người què lại còn hèn nhát."
21.
Lòng sám hối đi trước
Có hai phụ nữ đến gặp vị ẩn sĩ. Một
người tự nhận mình tội lỗi nặng nề vì đã phản bội chồng, trái lại, người phụ nữ
kia thì yên tâm thấy mình không phạm một tội nặng nào.
Sau khi nghe hai phụ nữ kể tâm trạng
mình, vị ẩn sĩ nói với người thứ nhất: “Hỡi nữ tì của Thiên Chúa, con hãy ra
ngoài tìm một tảng đá nặng và mang về đây cho ta”; với người thứ hai thì ông
nói: “Phần con không phạm tội gì nặng, con hãy mang về một túi những hòn đá nhỏ
thôi.”
Hai bà vâng lời ra đi, một lát sau họ
trở lại. Người đầu khệ nệ bê một tảng đá nặng, còn người kia xách một túi những
hòn đá nhỏ. Bấy giờ, vị ẩn sĩ mới bảo họ hãy đem tảng đá cũng như những hòn đá
nhỏ đặt trở lại đúng chỗ mình đã thấy lúc nãy, rồi trở lại gặp ngài.
Người đầu dễ dàng đặt tảng đá vào chỗ
cũ, còn người kia không sao nhớ nổi chỗ của từng hòn đá. Cả hai trở về và kể lại
cho vị ẩn sĩ nghe việc làm của mình. Ông nói với người thứ nhất: “Con đặt được
tảng đá vào chỗ cũ dễ dàng vì con biết rõ nó ở đâu”; và nói với người kia: “Cái
khó của con là không nhận ra được chỗ của chúng.”
Lòng thống hối là điểm bắt đầu cho
việc đón nhận Tin Mừng
22.
Lời hứa
Nhạc sĩ Vũ Thành An trong nhạc phẩm
“Bài không tên cuối cùng” đã có lời viết: “Biết bao lần em đã hứa. Hứa cho nhiều
rồi lại quên.”
“Hứa.” Vâng, tự điển tiếng Việt phổ
thông định nghĩa: hứa là nói với ai đó, với ý thức tự ràng buộc mình, sẽ làm điều
gì đó theo yều cầu mà người đó đang quan tâm.
“Hứa cho nhiều rồi lại quên” nghĩa
là gì? Xin thưa, chính là hứa mà không làm! Là hứa mà không làm điều đã hứa…
Hứa mà không làm điều đã hứa còn được
gọi là “hứa cuội.” Hứa mà không làm điều đã hứa còn được gán cho nhiều từ ngữ
khác như “hứa lèo… hứa hão… hứa hươu hứa vượn.”
Kinh Thánh có câu rằng: “Kẻ to miệng
hứa… mà không giữ lời hứa chẳng khác nào có mây, có gió mà chẳng có mưa” (Cn
25,14).
Vâng, đó cũng là điều Đức Giêsu mạnh
mẽ lên án qua dụ ngôn “hai người con.”
23.
Cái đinh sám hối
Một người kia trở nên nghiện rượu,
ông cũng xa rời Thiên Chúa và gia đình. Một hôm, trong khi đi dạo, ông hối hận
vì cuộc sống hiện tại của mình khi ông chợt trông thấy một chiếc đinh bị rỉ và
cong queo. Chiếc đinh đó nhắc nhớ ông về bản thân và cuộc đời ông. Vì vậy, ông
nhặt nó lên và đem về nhà. Ông đặt nó lên đe, gò cho thẳng và lau sạch rỉ sét.
Một giờ sau, chiếc đinh hầu như mới lại. Cũng thế, ông cũng có thể uốn nắn và
thanh tẩy cuộc đời của ông. Suy nghĩ đó đã đem lại cho ông một sự biến đổi: Ông
bỏ rượu và trở về với Thiên Chúa và gia đình. Hiện nay ông vẫn giữ chiếc đinh
đã được gò thẳng và lau sạch ấy trong ví của mình.
Đã có bao giờ tôi hầu như giống chiếc
đinh cong queo và rỉ sét đó chưa? Điều đó đã làm tôi thay đổi?
Ai thống hối tội lỗi thì đã được sạch
tội. (Seneca)
24.
Trách nhiệm vời việc làm
O. Henry nổi tiếng vì cách kết thúc
câu truyện gây ngạc nhiên của ông. Có một câu truyện liên hệ đến một đứa trẻ
thiếu thốn về mặt tình cảm. Nó luôn hỏi cha nó xem liệu nó có thể ngồi vào lòng
ông được không. Nhưng người cha luôn gạt đi và bảo nó ra ngoài chơi. Điều không
thể tránh khỏi đã xảy ra: cô bé lớn lên và chấp nhận tình yêu thương từ bất cứ
ai, cô trở thành một gái điếm. Khi cô chết, thánh Phêrô thưa với Chúa Giêsu:
“Hôm nay có một người xấu xa tội lỗi đến.” Và đây là kết luận gây ngạc nhiên
khi Chúa Giêsu nói với thánh Phêrô: “Lúc cô ấy đến, hãy cho cô vào thiên đàng,
còn khi người cha của cô đến, hãy bắt ông chịu trách nhiệm về cuộc đời của cô.”
Tôi có cảnh giác để không làm điều
gì khiến cho người khác, đặc biệt là trẻ nhỏ mất niềm tin vào Chúa Giêsu không?
Người lớn là tấm gương để trẻ nhỏ
soi vào.
CNTN 26B - DỨT
KHOÁT VỚI TỘI LỖI
Lời Chúa: Mc 9, 37-42. 44. 46-47
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, Gioan thưa cùng Chúa Giêsu rằng:
"Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không
theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y.”
Nhưng Chúa Giêsu phán: "Ðừng
ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại
nói xấu Thầy.
Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ
các con. Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng
Kitô, Thầy bảo thật các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ
nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt
cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.
"Nếu tay con nên dịp tội cho
con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là
có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm
dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống,
còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội
cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn
là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề
chết và lửa không hề tắt.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Chặt tay bạn đi
Ngày xửa, ngày xưa, một đoàn thám hiểm
từ lục địa Châu Âu đi tìm đất mới. Bạn biết gì về hòn đảo Ireland ngày nay –
Nhà lãnh đạo của họ là một người phiêu lưu với số mệnh. Ông tuyên bố: Ai đều
tiên ở trên đảo, sẽ là chủ toàn thể lãnh thổ.
Một người trong nhóm tên là O’Neil
quyết tâm dành được đất mới. Ông rán sức chèo, nhưng một chiếc thuyền đối thủ
rượt theo ông, bắt kịp ông rồi qua mặt ông. Ông có thể làm gì? Người đàn ông
tinh thần mạnh mẽ, ý chí sắt đá này buông mái chèo, cầm lấy búa và chặt bàn tay
trái liệng lên bờ. Như thế ông là người đầu tiên đụng vào đất mới, và nó là của
ông.
2.
Óc ganh tị bè phái... vì danh Chúa!
Những bài Sách Thánh mà phụng vụ tuyển
đọc trong Thánh Lễ hôm nay đề cập tới một tính xấu, đó là Óc ganh tị bè phái vì
danh Chúa. Tính xấu đó như thế nào, chút nữa chúng ta sẽ phân tích. Bây giờ trước
hết chúng ta hãy xem lại những bài đọc nói gì.
- Bài đọc I kể một câu chuyện xảy ra
từ thời ông Môsê đang dẫn dân Chúa đi lang thang trong sa mạc, nghĩa là lâu lắm
rồi, khoảng năm 1250 trước Chúa Giáng sinh, nghĩa là cách nay đến hơn 3000 năm.
Khi ấy Chúa bảo Môsê chọn trong dân ra 72 người để Chúa đổ ơn Chúa Thánh Thần
xuống trên họ và nhờ đó họ được ơn nói tiên tri. Môsê đã chọn 72 người, Chúa đã
ban cho họ ơn nói tiên tri. Nhưng mà có 2 người khác không ở trong danh sách 72
người kia cũng nói tiên tri. Một đứa bé thấy vậy chạy về báo cáo cho Môsê và
người phụ tá của ông là Giôsuê hay sự việc. Giôsuê liền đề nghị ông Môsê ra lệnh
ngăn cấm 2 người đó, lý do là vì họ không thuộc danh sách 72 người được chọn.
Xin nhắc lại rằng câu chuyện này xảy ra từ thời Cựu Ước, cách đây khoảng 3000
năm lận. Nghĩa là từ thuở rất xa xưa, mà người ta đã có tính ganh tị rồi.
- Cái tính xấu này vẫn còn cho tới
thời Tân ước. Bài Tin Mừng kể: Khi ấy có một số người không thuộc nhóm 12 tông
đồ. Họ thấy Ðức Giêsu làm nhiều phép lạ, rồi họ thấy các tông đồ tuy không phải
là Chúa nhưng nhờ danh Chúa mà cũng làm phép lạ được. Thế là họ cũng nhân danh
Ðức Giêsu và họ cũng làm được một số phép lạ. Thấy vậy, tông đồ Gioan bực tức,
đã ngăn cấm họ và báo cáo lại cho Ðức Giêsu biết. Gioan tưởng cấm như vậy là
đúng, bởi vì những người đó không phải là tông đồ Chúa cho nên họ không có quyền
nhân danh Chúa mà làm phép lạ. Nhưng Ðức Giêsu bảo đừng ngăn cấm họ. Và Ðức
Giêsu còn nói "Ai không chống lại ta thì thuộc về ta.”
3.
Ba cấp ganh tị
Cấp thứ nhất là Ganh tị: đó là thói
xấu khiến cho người ta khó chịu bực bội khi thấy người khác cũng làm được một
việc hay việc tốt như mình hoặc còn hay hơn, tốt hơn mình nữa.
Cấp thứ hai là Ganh tị bè phái: là
Ganh tị với người không thuộc phe nhóm của mình.
Cấp thứ ba là Ganh tị bè phái vì
danh Chúa: nghĩa là những người tín hữu Chúa, những người có đạo ganh tị với những
người không có đạo khi những người không có đạo này làm được những điều hay điều
tốt.
4.
Bẫy khỉ
Người ta đồn thổi rằng: Ăn thịt khỉ,
nhất là óc khỉ sẽ trị được bệnh phong thấp. Nên họ tìm cách đánh bẫy khỉ.
Họ lấy trái dừa bổ làm đôi, nhét vào
trong đó một trái cam thơm ngon, rồi khoét một lỗ nhỏ vừa bằng nắm tay khỉ,
xong cột trái dừa lại như trước. Sau đó đem cột chặt trên cây.
Ngửi thấy mùi thơm của cam, khỉ sẽ
chạy đến, leo lên cây, thọt tay vào trái dừa, nắm chặt lấy trái cam và lôi ra.
Thọt tay vào thì dễ, nhưng rút ra
thì không được vì bàn tay khỉ bây giờ đã quá lớn so với lỗ dừa. Có một điều rất
trớ trêu, là không bao giờ khỉ chịu buông trái cam ra để bàn tay được tự do. Ðã
nắm được của ăn rồi thì cứ khư khư giữ lấy. Biết mình bị mắc bẫy nhưng cứ nắm
chặt trái cam, dẫy dụa, kêu la chí choé. Và người thợ săn cứ ung dung đến bắt lấy
con khỉ dại khờ đáng thương.
"Nếu tay con nên dịp tội cho
con, hãy chặt tay nó đi" (Mc.9,43).
5.
Cha Béc-na Vô-gan
Trên một chuyến xe lửa, cha Béc-na
Vo-gan gặp một hành khách ăn nói rất tự do và thô tục. Ông ta nói những chuyện
đồi bại, lấy làm thích thú và cười khói trá. Mọi thái độ khôn ngoan và lịch sự
nhắc ông ta để ông ta im lặng đều không hiệu quả.
Xe đến ga, người hành khách ấy xuống.
Cha Vo-gan thò đâu ra cửa xe gọi theo: “Này ông, ông còn quên cái gì đây này.”
Người đó vội lên toa, nhìn quanh và hỏi: “Quên cái gì đâu"? Cha Vo-gan nói
với giọng tử tế nhưng cứng rắn: “Ông để lại một ấn tượng xấu cho hành khách
trong toa.” Người ấy xấu hổ đi xuống ngay.
6.
Thuê tài xế lái xe.
Có một người giầu có rất yêu mến mẹ
già. Một hôm ông muốn đi thuê một người tài xế chở bà mẹ già đi chơi mỗi buổi
chiều. Có ba người đến xin chân tài xế đó.
Người giầu nói: “Tôi không muốn có một
tai nạn nào xẩy ra trong khi các ông mang mẹ tôi đi chơi cả. Tôi sẽ thử cả ba
ông xem các ông lái xe giỏi đến mức nào. Tôi muốn xem các ông lái sát hào bao
nhiêu mà không bị rơi xuống.”
Người tài xế thứ nhất tự nhủ: “Cái
đó thì dễ ợt.” Ông ngồi bẻ tay lái và chạy vù xuống đường, cách cái hào một tấc.
Người thứ hai thầm bảo: “Mình lái
ngon hơn hẳn là cái chắc.” Ông này cũng lái vèo xuống đường và chỉ cách cái hào
có nửa tấc.
Trong khi đó, người thứ ba suy nghĩ
rất hung, kết quả ông lái cách hào những một mét.
Hai người tài xế trước thấy thế cười
đắc chí, nhưng người giầu lại bảo bác tài xế thứ ba rằng: “Tôi xin nhận bác làm
tài xế cho mẹ tôi. Tôi cần người tài xế có bảo đảm, mà một người lái có bảo đảm
thì không bao giờ lái sát hào quá.”
7.
Thế nào là người tốt lành
Một buổi sáng, khi vừa thức dậy, một
số thiền sinh phát hiện mình bị mất cắp một vài vật dụng cá nhân. Họ bảo nhau
cùng để ý rình rập, và họ đã bắt được quả tang một chú thiền sinh mới đến đang
lấy cắp đồ dùng của họ. Họ liền ập vào bắt giữ, giải lên cho thầy viện trương.
Thầy im lặng, và cho chú thiền sinh nọ trở về phòng.
Ít lâu sau đó, chú thiền sinh tại bị
phát giác đang ăn trộm lần thứ hai, và lại bị dẫn đến viện trưởng. Lần này cũng
như lần trước, thầy vẫn im lặng, không nói năng gì, chỉ đưa tay ra hiệu cho
phép chú trở về phòng. Mọi người đều thấy tấm tức bực bội về thái độ xử lý quá
rộng lượng của thầy mình...Đến lần thứ ba, chú thiền sinh có tật ăn cắp kia lại
tái phạm. Tất cả các môn sinh đều tập trung lại, đòi thầy phải có thái độ trừng
phạt xứng đáng. Họ đưa ra yêu sách:
- Thưa thầy, hoặc là tất cả chúng
con, thầy phải lựa chọn, nếu không chúng con sẽ rời bỏ nơi này ngay lập tức!
Im lặng một lát, thầy viện trưởng điềm
đạm trả lời:
- Tất cả các con đều đã sống tốt
lành với nhau, còn chú này thì chưa được như thế vậy, thầy muốn chú ấy sẽ ở lại
với thầy để thiền định tập tành cho được tốt hơn. Các con thì không cần phải
làm như thế nữa, các con có thể chia tay với thầy được rồi đấy !
Mọi người đều chưng hửng, cúi đầu, lần
lượt từng người không dám nói gì nữa, lặng lẽ ai về phòng nấy.
Riêng chú thiền sinh tội lỗi kia vẫn
quì đấy, đôi giòng lệ lăn dài trên gò má.
8.
Làm cớ vấp phạm
O. Henry, nhà văn Mỹ lừng danh về
truyện ngắn đã sáng tác câu truyện về một em bé gái mồ côi mẹ như thế này. Cha
cô bé có thói quen mỗi khi đi làm về là ngồi ngay xuống ghế, mở cặp, lôi giấy tờ
ra, đốt ống điếu và gác chân lên ngăn kệ đặt gần lò sưởi. Một lần kia con ông
là một bé gái mở cửa bước vào. Em xin ông chơi đùa với em một lát vì em cảm thấy
rất cô đơn. Lần này cũng như những lần trước ông luôn bảo ông rất mệt, hãy để
cho ông yên. Và ông bảo con ông hãy ra đường mà chơi. Thế là cô bé đi ra chơi ở
ngoài đường, và truyện không tránh được đã xảy ra là sau những ngày tháng chơi ở
ngoài đường, em đã trở thành một cô gái đứng đường. Thời gian trôi qua, ông bố
chết và cô cũng chết. Linh hồn cô được đưa lên đến Thiên Đàng. Thánh Phêrô vừa
trông thấy cô liền thưa với Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, đây là cô gái thật xấu
nết. Con nghĩ phải đưa thẳng cô ta xuống hỏa ngục.
Nhưng Chúa Giêsu ôn tồn đáp:
- Không, hãy cho cô ấy vào.
Rồi đôi mắt ngài trở nên nghiêm nghị:
- Và con hãy đi tìm người cha đã từ
chối không chịu chơi đùa với con gái nhỏ của mình, đuổi nó ra thiên đường, và
đưa hắn xuống hỏa ngục.
9.
Đứng về điều thiện
Cha Anthony De Mello, một linh mục Ấn
Độ, Dòng Tên, đã kể câu chuyện “Chúa Giêsu đi xem bóng đá” trong tập truyện
“Bài ca của loài chim” (The Song of Bird) như sau:
“Nghe Đức Giêsu than phiền là Ngài
chưa một lần nào được xem một trận bóng đá, chúng tôi liền đưa Ngài đến xem một
trận đấu rất gay go giữa hai đội tuyển Tin Lành và Công Giáo. Khi đội Công Giáo
làm bàn trước 1- 0, Đức Giêsu hoan hô vang dội và tung cả mũ lên trời.
Vài phút sau, trong một đợt phản
công đẹp mắt, đội Tin Lành đã gỡ một đều (1-1), Đức Giêsu cũng reo hò và tung
mũ lên trời. Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm khó chịu về thái độ của Chúa
Giêsu, ông ta hỏi Ngài:
- Này ông bạn, ông ủng hộ bên nào?
Chúa Giêsu trả lời: “Tôi à? tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây là để thưởng
thức trận đấu mà thôi.”
Người khán giả tỏ vẻ khó chịu về
thái độ của Chúa Giêsu lại càng bực hội hơn. Ông quay sang người bên cạnh và
nói nhỏ: “Hắn ta là một tên vô thần!”
Trên đường về nhà, chúng tôi nói với
Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, những người có tôn giáo thật là buồn cười, họ tưởng rằng
Chúa chỉ đứng về phía họ và chống lại tất cả những ai không thuộc về tôn giáo của
họ.”
Chúa Giêsu gật đầu tỏ ý đồng tình. Ngài
bảo: “Đó là lý do tại sao Thầy không ủng hộ đội tuyển Tin Lành hay đội tuyển
Công Giáo, mà chỉ ủng họ các cầu thủ thôi, dù họ thuộc bất cứ đội tuyển nào.”
“Ai không chống chúng ta là ủng
hộ chúng ta.”
10.
Mở biên giới lòng mình
Trong trận thế chiến II, ba vị tuyên
úy của Công giáo, Tin lành và Do thái trở thành bạn thân của nhau. Họ thề hứa với
nhau nếu một người trong nhóm bị chết, thì những người còn sống phải báo tin
cho gia đình của người qua đời và lo việc chôn cất.
Sau đó vị tuyên úy Do thái bị chết.
Hai người còn lại không sao tìm thấy một Rab-bi hay một hội đường Do thái nào.
Cuối cùng, trong một làng ở nước Pháp, họ tìm thấy một nhà thờ Công giáo với một
nghĩa trang được chăm sóc cẩn thận. Vị tuyên úy Công giáo đề nghị: “Chúng ta
hãy đi gặp linh mục chánh xứ, may ra ông ấy có thể giúp chúng ta.” Cha xứ ngỏ ý
muốn giúp họ. Nhưng ngài lại không thể tự ý quyết định làm điều trái với quy định
nên nói: “Ngày mai, xin các ông trở lại đây. Tôi sẽ tìm xem có luật nào cho
phép chôn một người không phải Ki-tô hữu trong một nghĩa trang Công giáo hay
không.” Cha xứ đã tìm kiếm suốt đêm đó, nhưng không kết quả. Hôm sau khi gặp họ,
ngài nói với họ như sau: “Hãy chôn ông ấy bên ngoài nghĩa trang sát bên hàng
rào. Tôi hứa sẽ chăm sóc cho ngôi mộ của ông ấy.”
Khi chiến tranh kết thúc, hai vị
tuyên uý quay lại thăm viếng ngôi mộ của người bạn, nhưng họ không sao tìm ra
ngôi mộ nào nằm bên ngoài hàng rào nghĩa trang. Họ liền đi tìm cha xứ hỏi thăm.
Cha xứ mỉm cười nói: “Tôi thấy ngôi mộ bạn các ông nằm bên ngoài nghĩa trang cô
độc quá, nên tôi đã tìm ra cách giải quyết.” Họ liền hỏi: “Cha đã tìm thấy điều
luật cho phép dời ngôi mộ người ngoại giáo từ ngoài vào phía trong hàng rào
nghĩa trang hay sao?” Cha xứ trả lời: “Tôi không thấy có điều luật nào như thế.
Nhưng tôi cũng không thấy có luật nào cấm di dời hàng rào nghĩa trang ra phía
ngoài ngôi mộ kia, nên tôi đã quyết định làm như thế.”
11.
Mọi người là anh em
Một trong những tình bạn đẹp mà Linh
mục Cao Vĩnh Phan (1924 - 2011) có được với các Đại đức và Thượng tọa phải kể đến
tình bạn giữa Đại đức Thích Thiện Hiền và Thích Huệ Tánh. Đại đức Thích Thiện
Hiền trụ trì tại chùa Phú Sơn gần nhà thờ giáo xứ Thánh Mẫu, nơi Lm Cao Vĩnh
Phan làm Cha xứ từ 1975 đến 1991. Hai người đã kết nghĩa anh em với nhau; Lm
Phan là anh và Đại đức là em, bởi vì ngài lớn tuổi hơn. Hai anh em thường gặp
nhau, động viên nhau, chia sẻ niềm vui nỗi buồn và giúp đỡ nhau trong mọi hoàn
cảnh. Lúc Đại đức đau ốm, Lm Phan đến thăm nom săn sóc, và ngược lại. Thân nhau
đến nỗi nhiều lần Đại Đức đã nhờ Lm Phan cạo đầu cho mình.
Giữ lời đã nói với Đại đức: “Thầy tịch
trước tôi không quên, thầy tịch sau tôi nhớ mãi.” Lm Phan thường đến thăm viếng
Đại đức Thích Thiện Hiền trong thời gian bệnh nặng và có mặt lúc lâm chung cũng
như đã tham dự đám tang. Tiếp theo sau nghi thức tôn giáo nhà Phật, Lm Phan
cũng đọc Điếu văn phân ưu và một lời nguyện theo đức tin Công giáo.
Sau lễ an táng của Đại đức nhiều người
nói với nhau rằng: “Đám tang của Thầy Hiền là đặc biệt hơn cả, vì có Linh mục
và bổn đạo giáo xứ Thánh Mẫu tham dự một cách tích cực và có lời phân ưu nồng
nhiệt chân tình chưa từng có.” Bà con họ hàng của Đại đức Thiện Hiền cũng đến
giáo xứ Thánh Mẫu để cám ơn Cha xứ. Có mấy người ôm lấy ngài và khóc. Họ nghẹn
ngào nói: “Như vậy là Thầy chúng tôi đã viên tịch, Cha không còn có dịp mà đến
với chúng tôi nữa, nhưng chúng tôi luôn coi Cha như người thân thay thế Đại đức
Thích Thiện Hiền. Xin Cha thương chấp nhận lời khẩn cầu nầy!”
Từ ngày ngài bị bệnh phải nghỉ hưu tại
Viện Dưỡng Lão Chí Hòa (cuối năm 1992), nhiều Đại đức, Thượng tọa và đạo hữu Phật
giáo vùng Phan Thiết và Mũi Né thường xuyên vào thăm ngài. Có nhiều khi họ đi cả
phái đoàn vài ba chục người. Dịp lễ Giáng Sinh năm 1993 có mấy Đại Đức đã đưa
các đệ tử và đạo hữu vào thăm cha Phan. Họ nói rằng: “Muốn vào thăm Cha vào dịp
lễ Noel vì từ khi Cha đi không còn ai mời đi dự lễ Noel nữa.” Hiểu được nguyện
vọng của họ, sau khi trò chuyện thăm hỏi, Lm Phan mời họ vào nhà nguyện viếng
hang đá. Sau một lúc quì cầu nguyện, ngài giải thích cho họ về ý nghĩa lễ Giáng
Sinh, dựa vào câu Kinh Thánh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế
cho người thiện tâm.”
Kết thúc buổi gặp gỡ thăm viếng,
ngài bộc phát nguyện: “Lạy Chúa, đây là những vị Tăng Ni Phật tử thân thương từ
Phan Thiết vào thăm con tại nhà hưu dưỡng nầy. Các vị thật là những “người thiện
tâm”, các ngài muốn nghe Chúa nói. Vậy con tha thiết cầu xin Chúa nói cho các
ngài hiểu biết về Chúa. Con muốn nói và nói nhiều lắm, nhưng con không đủ sức,
và các ngài cũng không đủ thì giờ, vì phải về. Con tin Chúa thiêng liêng quyền
phép. Xin Chúa hãy tỏ mình ra cho các vị như xưa Chúa đã tỏ mình ra cho ba Vua
và các mục đồng. Con xin dâng tất cả các vị cho Chúa. Xin Chúa chúc lành cho
các vị đi về bằng yên. Con xin Chúa ở với các vị luôn mãi và ban ơn cho các vị
và gia quyến để chúng con cùng được làm con Chúa như nhau. Con cầu xin như vậy
nhân danh Chúa Giêsu là Chúa của chúng con. Amen!” (Lm Phêrô Đan-Minh, Lm GBT
Cao Vĩnh Phan Với Định Hướng Truyền Giáo Mới)
12.
Hãy yêu như Giêsu
Có một câu truyện ngụ ngôn của Ấn độ
kể rằng: Một hôm thần Krisna muốn thử lòng các vua trên trần thế.
Trước tiên thần cho gọi Duriana, một
ông vua nổi tiếng tàn ác, đến: "Ta muốn ngươi đi khắp thế giới tìm cho ta
một con người có lòng tốt.” Duriana đi khắp thế giới một thời gian rồi trở về
tâu: "Lạy Ngài, con không thể gặp được một người nào như thế cả, vì mọi
người đều ích kỷ, đê hèn.”
Thần gọi tiếp một ông vua khác nổi
tiếng quảng đại, tên là Damanatra và ra lệnh ngược lại: "Ngươi hãy đi tìm
cho ta một người thực sự xấu xa.” Một thời gian sau, Damanatra trở về buồn bã
báo cáo: "Lạy Ngài, con xin chịu tội, con đã gặp rất nhiều người hẹp hòi,
ích kỷ, gian tham, trộm cắp... nhưng người thực sự xấu xa thì con không gặp.
Cho dù có vấp ngã, mọi người đều có lòng tốt.”
Xem ra nhận xét về một con người tùy
thuộc vào tình cảm của người nhận xét nhiều hơn là về bản thân của người được
nhận xét.
13.
Gương tốt khơi dậy gương tốt
Một thanh niên bị án tử hình vì tội
sát nhân. Trước khi thi hành án, anh xin nhà vua hoãn lại cho anh hai ngày và
cho anh về nhà sắp đặt mọi việc. Nhà vua sợ anh trốn luôn nên nói với dân chúng
có mặt ở đó, “Trẩm sẽ cho người thanh niên này về nhà, nếu có ai trong các
ngươi dám bảo lãnh, và nếu người thanh niên này không trở lại thì kẻ đó phải chết
thay.”
Nhà vua nghĩ là không ai dám bảo
lãnh như thế, nhưng có người dám đứng ra bảo lãnh. Mọi người đều cho rằng người
này phải chết thay cho người thanh niên đó, vì chắc chắn hắn sẽ trốn luôn.
Nhưng đúng hai ngày, người thanh
niên đó đến phủ phục trước mặt vua, “Tâu bệ hạ, tôi đã làm xong mọi việc, hôm
nay tôi xin đến để chịu án tử.”
“Thế là ngươi không trốn luôn à?”
“Thưa tôi không muốn thất tín, để
cho không ai nói được sự tín trung đã bến mất khỏi thế giới con người.”
Quay sang người bảo lãnh, nhà vua hỏi,
“Còn ngươi, sao ngươi dám bảo lãnh cho người xa lạ này?”
“Tâu bệ hạ, vì tôi muốn chứng tỏ
lòng nhân hậu và can đảm hy sinh cho kẻ khác vẫn còn trong xã hội loài người.”
Và từ trong đám đông, người con của kẻ bị chàng thanh niên giết chết tiến ra phủ
phục trước măt vua và nói: “Tâu bệ hạ, giờ đây tôi xin bệ hạ tha cho chàng
thanh niên bị án tử hình này. Tôi và gia đình đã tha cho anh ta rồi, vì tôi muốn
chứng minh trong xã hội con người còn có kẻ biết tha thứ cho nhau.”
14.
Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
Có sáu người đi lạc giữa đêm giá lạnh
miền Bắc cực. Họ xúm xích nhau bên đống lửa để đỡ giá lạnh như cắt da xé thịt.
Nhưng điều lạ là đống lửa sắp tàn, và mỗi người đang cầm một thanh củi trên
tay, mà không ai bỏ vào lửa cho nó tiếp tục cháy.
Người thứ nhất là một quả phụ. Bà thấy
người ngồi bên cạnh là một thanh niên da đen. Bà tự nhủ, “Tại sao mình phải hy
sinh thanh củi này để sưởi ấm ngoại kiều?”
Người thứ hai nhìn thấy người gần
bên là một kẻ thuộc phe đối lập nên nghĩ, “Tại sao mình phải hy sinh khúc củi
này sưởi ấm kẻ thù?”
Người thứ ba là một người nghèo khổ
đói rách, nhìn thấy bên mình là một người giàu có sang trọng. Anh tự nhủ, “Tại
sao mình phải hy sinh miếng củi của mình để sưởi ấm cho hạng giàu sang ích kỷ?”
Người thứ tư chính là kẻ giàu sang
đó. Anh ta thấy kẻ nghèo khó bên cạnh thì nghĩ, “Dại gì mình bỏ thanh củi của
mình ra, để sưởi ấm cho hạng cùng đinh mạt kiếp và lười biếng đó.”
Người thứ năm chính là anh thanh
niên da đen. Anh nghĩ người da trắng đã khinh dễ hà hiếp người da màu. Anh dứt
khoát không bỏ thanh củi của mình vào đống lửa để trả thù bọn da trắng.
Người sau cùng thuộc thành phần du
đãng, không tin ai cũng chẳng làm việc gì cho ai nếu không có lợi. Hắn tự nhủ,
“Nhất định mình không bỏ khúc củi của mình vào đống lửa để cho bọn đó sưởi ấm.”
Như thế, tất cả sáu người đều sưởi ấm
nhờ đống lửa đang tàn lụi, nhưng không ai muốn bỏ thanh củi của mình vào cho nó
tiếp tục sưởi ấm cho mình và cho những người cùng lạnh lẽo như mình. Cuối cùng
sáu người đều chết cóng vì giá lạnh, không chỉ giá lạnh bên ngoài mà vì sự giá
lạnh của tâm hồn ích kỷ, hẹp hòi, phe phái.
15.
Lời cảnh báo
“Này đây, hỡi những người giàu có,
các ngươi hãy than khóc kêu la, vì các tai hoạ sắp giáng xuống trên các ngươi”
“Các ngươi đã tích trữ cho các ngươi
cơn thịnh nộ trong ngày sau hết.”
“Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời
này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại. Các ngươi đã lên
án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự lại các ngươi” (x. Gc
5, 1-6)
16.
Nhỏ mà to
Có những điều tưởng nhỏ mà hóa to,
có những điều tưởng to mà lại nhỏ. Như tục ngữ Việt Nam nói: “Lỗ nhỏ làm đắm
thuyền.” To hoặc nhỏ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng, tiêu cực và tích cực.
Chuyện nhỏ và to giống như vòng lẩn quẩn, có cái khôi hài mà “thấm thía.”
Trong cộng đồng mạng, người ta có luận
về “chuyện nhỏ – to” như thế này: “Đất nước NHỎ có thủ đô TO, thủ đô TO có những
con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có… có…” (*). Đúng
là cười ra nước mắt, cười mà đau, cười mà chẳng vui chút nào! Sao thế nhỉ? Chỉ
khổ cho đám “dân đen”, kêu chẳng ai thèm nghe!
Chu kỳ “nhỏ-to” như vậy không chỉ
nói tới xã hội, đừng vội cười người kẻo bị người cười, vì trong đó cũng thấy
“thấp thoáng” bóng dáng những người có chức vị trong tôn giáo. Dù to hay nhỏ,
dù rộng hay hẹp, loại “ô dù” nào cũng đáng sợ. Kiểu nào thì cũng chỉ khổ đám
dân đen thấp cổ bé miệng mà thôi!
Tuy nhiên, sự thật mãi mãi là sự thật,
và sự thật thường làm chúng ta đau lòng, ngại đối mặt, thế nhưng ai dám đối mặt
với sự thật thì mới khả dĩ “nên khôn”, vì chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta
(x. Ga 8:32) – Thầy chí thánh Giêsu đã bảo thế.
17.
Cội rễ sự ác
Giàu sang, lắm của và nhiều tiền, đó
không là tội. Nhưng tiền bạc có ma lực khó cưỡng lại, vì thế mà Thánh Phaolô đã
xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo
lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau
xâu xé” (1 Tm 6:10).
Đất nước NHỎ có thủ đô TO, thủ đô TO
có những con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có cô vợ
NHỎ, cô vợ nhỏ dành cho ông quan TO, ông quan TO mang chiếc cặp nhỏ, chiếc cặp
NHỎ có những dự án TO, dự án TO nhưng hiệu quả NHỎ, hiệu quả NHỎ nhưng thất
thoát TO, thất thoát TO nhưng lỗi lại NHỎ… Trong đất nước NHỎ có những ông lãnh
đạo TO, những ông lãnh đạo TO có cái đầu NHỎ, cái đầu NHỎ nhưng túi tham TO,
túi tham TO bởi vì đầu óc NHỎ, đầu óc NHỎ nên tác hại TO, tác hại TO mà trách
nhiệm NHỎ, trách nhiệm NHỎ nhưng quát tháo TO, quát tháo TO vì trí tuệ NHỎ, trí
tuệ NHỎ nhưng lợi nhuận TO, lợi nhuận TO nhưng số người chia chác lại NHỎ, số
người tuy NHỎ nhưng tổn thất TO, tổn thất TO nhưng báo cáo là NHỎ, báo cáo NHỎ
nhưng thành tích thật vẫn TO. Và… cán bộ TO đi xe NHỎ (xe riêng), cán bộ NHỎ lại
đi xe TO (xe đò), ông quan TO thường ở với vợ NHỎ (vợ bé), ông quan NHỎ phải ở
với vợ TO (vợ cả) và ở nhà TO (nhà tập thể)…
Đừng tưởng rằng những người đi tu mà
“quên” tiền bạc, thậm chí có người còn tệ hơn giáo dân.
Ví dụ: Gm Tebartz-van Elst “nổi tiếng”
là xa hoa hào nhoáng ở Đức, đã chi hơn 31 triệu euro để tu sửa dinh cơ của ông.
ĐGH Phanxicô đã cho mãn nhiệm hồi tháng 10-2014. Lm Gioan Baotixita Võ Hồng
Khanh vì lem nhem tiền bạc đã bị tước năng quyền cử hành phụng vụ tại bất kỳ cơ
sở nào của TGP Los Angeles (Hoa Kỳ) từ ngày 25-6-2015. Lm Ng. của TGP Saigon,
còn trẻ nhưng đã bị nghỉ hưu non vài tháng qua vì lem nhem tiền bạc, quyên góp
tiền cách bất chính để dùng cho mục đích cá nhân ông. Và rồi các dịp đặc biệt
(lễ, tết,…), Việt Nam cũng có giám mục được người ta đến chúc mừng bằng vật chất
“béo bở” (không chỉ “phong bì dày” mà “vàng thật”). Thảo nào người ta bảo “tiền
là tiên, là Phật,….” Có nên đặt “dấu hỏi LỚN” hay không? Quả thật, đáng quan ngại
biết bao!
18.
Gương xấu nguy hại
Thánh Âu Tinh đã nói đến tác hại của
gương mù gương xấu, nhất là trong trường hợp gây ra bởi các vị mục tử như sau:
“Vị mục tử sống một đời sống tội lỗi trước dân chúng là người sát hại chiên do
các vị chăm sóc.Vị mục tử này đừng có tự lừa dối mình khi thấy chiên không chết,
vì dù nó vẫn sống thật, vị ấy cũng trở thành một kẻ sát nhân – giống hệt như
người đàn ông nhục dục nhìn người đàn bà một cách thèm thuồng, thì hắn đã phạm
tội ngoại tình dù cho người đàn bà đó có còn trong sạch… Hắn không lên giường với
nàng, nhưng hắn đã chiếm đoạt nàng trong phòng ngủ của lòng mình rồi. Bởi thế,
kẻ nào sống đời sống tội lỗi trước mặt những ai thuộc quyền chăm sóc của mình
là những kẻ sát hại bởi chính họ cho dù những người ấy khỏe mạnh. Những ai bắt
chước họ thì chết; ai không thì sống. Nhưng đối với chính họ, họ đã sát hại cả
hai…” (Bài Giảng về Các Vị Mục Tử, sermo 46, 9: CCL 41, 535-536 – dịch theo cuốn
The Office of Reading, Saint Paul Edition, 1983, trang 1077).
19.
Một ly nước lã
Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng
rong để kiếm tiền ăn học. Một ngày nọ, cậu bé chỉ còn một hào trong túi, mà bụng
thì đang đói, cậu ta đi đến nhà bên cạnh để xin ăn. Một phụ nữ trẻ đẹp ra mở cửa,
nhìn thấy cậu bé. Cô ta đoán là cậu đang đói bèn mang cho cậu một ly sữa lớn. Cậu
chầm chậm nhấp từng ngụm sữa rồi hỏi: Cháu phải trả cô bao nhiêu ạ? Người phụ nữ
trả lời: Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả
cho lòng tốt. Cậu bé cảm kích đáp: Cháu sẽ biết ơn cô từ sâu thẳm trái tim
cháu. Khi ra đi, cậu cảm thấy khỏe khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người
càng mãnh liệt hơn. Trước đó, cậu như muốn đầu hàng với số phận.
Nhiều năm sau, người phụ nữ bị ốm nặng.
Các bác sĩ địa phương không chữa khỏi. Họ chuyển bà đến thành phố lớn để các
chuyên gia nghiên cứu căn bệnh lạ lùng này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời đến
tham vấn. Ngay lập tức, ông khoác áo choàng và đi đến phòng bệnh của người phụ
nữ nọ. Ông nhận ra ngay người ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng hội chuẩn,
ông quyết định sẽ dốc hết sức lực để cứu sống bệnh nhân này.
Sau đó, tiến sĩ Howard Kelly đề nghị
phòng y vụ chuyển cho ông hóa đơn viện phí của ân nhân để xem lại. Ông viết vài
chữ và chuyển nó đến người phụ nữ. Bà nhìn tờ hóa đơn thầm nghĩ rằng, bà phải
thanh toán nó cho đến hết đời cũng chưa xong. Bỗng nhiên, có gì đó khác thường
khi bà nhìn thấy ngay dòng chữ: “ Trị giá hóa đơn = một ly sữa.” (Trích câu
chuyện tiến sỹ Howard Kelly).
20.
Sự ghen tị của ông Joshua:
Khi thấy những điều này xảy ra, một
người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Moses rằng: "Ông Endad và ông
Medad đang phát ngôn trong trại!"
(1) Phản ứng của ông Joshua: Ông
Joshua con ông Nun, từng theo hầu ông Moses từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với
ông Moses: "Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!"
(2) Phản ứng của ông Moses: Ông
Moses hiểu Thánh Thần, cũng giống như Thiên Chúa, hoạt động và điều khiển mọi
người trong mọi nơi, chứ không phải chỉ trên những người Moses đã chọn; nên ông
trả lời ông Joshua: "Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thánh Thần
trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!"
Chúng ta thường có khuynh hướng giới
hạn hoạt động của Thiên Chúa hay của Thánh Thần nơi một số người hay chỉ trong
Giáo Hội; nhưng hoạt động của Thiên Chúa cũng như của Thánh Thần bao trùm cả vũ
trụ này. Kinh Thánh nhiều lần chứng minh quyền lực Thiên Chúa hoạt động trên
các vua Dân Ngoại như Ai-cập, Assyria, Babylon, và Ba-tư... khiến họ phải thi
hành thánh ý Ngài; và Thánh Thần hoạt động trên những người Dân Ngoại chưa chịu
Phép Rửa, như gia đình Cornelius, viên sĩ quan người Rôma (Acts 10).
21.
Đại hội cái búa
Có câu chuyện ngụ ngôn “Đại hội cái
búa” kể về nỗi lo sợ của các loại cây trong rừng, từ cây cổ thụ cho đến những
cây nhỏ đều sợ Cái Búa của người đốn cây. Hễ búa đi đến đâu là là cây cối đều
ngã rạp đến đó.
Một hôm, cây cối họp đại hội, bàn
cách đối phó với Cái Búa. Để chứng tỏ rằng việc làm của tất cả cây rừng là công
khai, và Búa cũng được mời tham dự Đại hội này.
Sau một lúc bàn bạc sôi nổi, Đại hội
đi đến kết luận: Cương quyết không cho Búa bất kỳ một khúc gỗ nào để làm cán cả.
Búa mà không có cán thì làm được việc gì bây giờ. Tất cả cây rừng từ nhỏ đến lớn
đều hoan hỉ về quyết định này. Dù một khúc gỗ cũng không cho!
Bấy giờ, Búa đưa tay xin phát biểu với
giọng nài nỉ đáng thương: Xin quý vị niệm tình, thân tôi mà không có cán như
người tật nguyền không tay chân, xin hãy cho tôi một lần này nữa thôi, tôi sẽ
chỉ dùng Búa vào những việc tốt, tôi chỉ chặt những gai góc làm vướng chân quý
vị mà thôi!
Trước lời thỉnh cầu tội nghiệp của
Búa, cả Đại hội liền có sự chia rẽ vì khác quan điểm. Hội nghị phải đi đến việc
biểu quyết lại. Kết quả là đa số bằng lòng cấp cho Búa một khúc gỗ duy nhất làm
cán. Nhưng hỡi ôi! Khi Búa đã có cán rồi, nó bèn lần lượt đốn hết những cây
trong rừng, từ cây non cho đến cây cổ thụ.
Bạn chỉ cần cho tội ác một cơ hội
thôi, là bạn sẽ hối tiếc cả cuộc đời!
22.
Cái giá người môn đệ phải trả
"Người môn đệ phải sẵn lòng chấp
nhận mọi hy sinh vì nước trời…"
Cuốn phim "A man for all
seasons" (Người thích ứng mọi mùa) được xây dựng dựa theo cuộc đời thánh
Thomas More.
Khi Kha Luân Bố khám phá ra Mỹ Châu,
Thomas More mới là một thiếu niên mười mấy tuổi tại Anh Quốc. Chàng theo học tại
Đại học Oxford. Sau khi tốt nghiệp Đại học, chàng dấn thân vào cuộc đời chính
trị. Là một viên chức của triều đình, chàng được thăng quan tiến chức rất mau lẹ,
năm 1529, vua Henri thứ VIII đã phong chàng lên chức Đại pháp quan của Anh Quốc.
Nhưng thảm kịch đã xảy đến cho
Thomas More. Khi vua Henri VIII ly dị với hoàng hậu và tái kết hôn không đúng
theo luật lệ. Để chống lại bất cứ ai phản đối cuộc hôn này, Henri ra lệnh cho một
số quan chức triều đình ký vào một văn bản tuyên thệ rằng sự tái hôn của ông là
hợp pháp. Ông truyền cho các vị chức sắc này là nếu họ từ chối không chịu ký
vào văn bản ấy họ sẽ bị hạ ngục vì tội phản loạn. Và rồi thảm kịch đã xảy ra
khi ngài Norfold mang văn bản ấy đến cho Thomas More. Ông này chẳng chịu ký bất
chấp biết bao lời thuyết phục khuyên ông thay đổi ý. Cuối cùng, Norfolk không
còn kiên nhẫn được nữa, ông nói với bạn:
"Tôi không biết cuộc kết hôn có
hợp pháp hay không, nhưng thây kệ nó! Thomas ơi, ông hãy nhìn vào tất cả những
kẻ đã ký vào đây! Ông biết rõ những người này mà! Tại sao ông không thể làm như
chúng tôi, nhân danh tình bạn của chúng ta?" Thomas More vẫn từ chối. Ông
không muốn tuyên thệ điều gì mà tận thâm tâm ông biết là sai trái. Cuối cùng,
Thomas More bị tống giam. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1535 ngài đã bị hành hình vì tội
phản loạn.
23.
Cuộc chiến nội tâm của Thomas More
Thomas More là một vị thánh nên ngài
đã tự hiến dâng đời sống một cách dễ dàng. Chúng ta hãy lắng nghe những lời
trong lá thư ngài viết cho cô con gái của ngài ít lâu sau khi ngài bị giam, những
lời này sẽ cho ta biết cuộc đấu tranh khủng khiếp xảy ra bên trong tâm hồn ngài
như thế nào:
"Meg thân yêu, Bố sẽ không bất
tín với Chúa, dù bố cảm thấy yếu đuối khi sắp phải đương đầu với nỗi sợ hãi. Bố
nhớ lại sự kiện thánh Phêrô bắt đầu chìm xuống nước vì thiếu đức tin, khi thấy
gió thổi mạnh, bố sẽ bắt chước ông kêu cầu Chúa Kitô nài xin Chúa giúp đỡ Bố. Bố
tin rằng Chúa sẽ đặt đôi tay thánh thiện lên Bố và ngay trong cơn bão biển Chúa
sẽ giữ cho bố khỏi bị chìm xuống… vì thế hỡi con gái yêu của bố, con đừng bối rối
âu lo về bất cứ điều gì sẽ xảy đến cho bố trong cuộc sống dương trần này, không
điều gì xảy ra ngoài ý Chúa, Bố rất xác tín rằng bất cứ điều gì tồi tệ xảy ra,
thì chắc hẳn đó là điều tốt nhất đấy.”
24.
Ai không chống lại chúng ta là thuận với chúng ta
Một ni cô nọ có một tượng Phật bọc
vàng, cô quý pho tượng lắm, đi đâu cũng mang theo. Trong ngôi chùa cô tu hành
có nhiều tượng Phật, cô dọn riêng cho pho tượng của mình một bàn thờ đặc biệt.
Lúc đốt hương trước tượng Phật của mình, ni cô không muốn làn hương bay sang
các tượng khác, cộ xoay trở làm sao cho làn khói hương bay thẳng vào mũi pho tượng
vàng của mình. Lâu ngày, pho tượng vàng của ni cô vì đón nhận khói hương mỗi
ngày nên mũi tượng trở nên đen thùi xấu xí.
Đôi khi lòng nhiệt tình đến mức ích
kỷ, cũng trở nên nhỏ mọn khó coi.
Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy
Chúa Giêsu không hài lòng về thái độ hẹp hòi của các Tông đồ. Chúa vừa bảo các
ông khiêm tốn, phải nên tôi tớ mọi người, phải phục vụ mọi người, chứ không phải
chỉ riêng với người đồng đạo, người Công giáo.
25.
Nhẫn thật
Ngụ ngôn phương Đông có câu chuyện
như sau: Người kia có một chiếc nhẫn bích ngọc rất lạ. Hễ ai đeo nhẫn ấy vào
thì tính tình trở nên hiền hậu, chân thực khiến mọi người đều yêu mến. Chiếc nhẫn
là một thứ phép màu. Nó được truyền từ đời cha sang đời con luôn luôn linh nghiệm.
Thời gian trôi qua, chiếc nhẫn được truyền đến một người có ba con trai, mà đứa
nào ông cũng yêu quý cả.
Khi biết mình sắp chết, ông ta băn
khoăn sẽ để lại chiếc nhẫn lại cho đứa nào đây? Ông đã liều thuê thợ bạc làm
thêm hai chiếc khác, y hệt như chiếc nhẫn thật, đến nỗi chẳng ai phân biệt được
chiếc nào là chiếc thật, chiếc nào là giả. Lúc hấp hối, ông gọi riêng từng đứa
con trối trăn riêng với từng người, sau đó ông cho riêng mỗi người một chiếc nhẫn
mà người kia không biết. Nhưng về sau, cả ba người đều khám phá ra rằng mỗi người
đều được nhẫn, thế là một cuộc tranh cãi dữ dội đã bùng nổ xem ai được chiếc nhẫn
có thể đem lại nhiều điều có lợi cho chủ nó.
Nội vụ được đưa đến một quan tòa
khôn ngoan xét xử. Quan tòa xem xét thật kỹ các chiếc nhẫn rồi nói “ta không biếc
chiếc nhẫn nào là chiếc nhẫn thật, nhưng chính các người có thể chứng nghiệm điều
đó.” Ba người con ngạc nhiên hỏi “chúng tôi à?” Quan tòa bảo “phải, và nếu chiếc
nhẫn thật tạo cho người đeo nó một bản chất dịu hiền thật bởi đời sống thiện hảo
của người ấy. Cho nên, các anh hãy về đi, sống cho tử tế, trung thực, dũng cảm
ngay thẳng trong mối liên hệ với mọi người, và ai làm như thế chính là người được
chiếc nhẫn thật.”
Vấn đề phải chứng nghiệm bằng đời sống.
Không ai lên án được một giáo lý đã khiến một người xấu trở nên tốt. Nếu chúng
ta nhớ được điều ấy, có thể giảm bớt sự thiếu khoan dung.
26.
Hình phạt cho gương xấu
Tại Palestine có hai loại cối: cối
đá xay bằng tay mà phụ nữ dùng trong nhà và loại cối đá lớn đến nỗi phải cột một
con lừa mới kéo nổi. Loại cối đá nói ở đây là loại lớn. Bị ném xuống biển với một
thớt cối như thế cột vào người, chắc chắn không hy vọng trở về. Thật ra, đây là
cách xử tử cả tai Roma lẫn tại Palestine.
Sử gia Josephus kể rằng, lúc một số
người Galilê thành công trong một cuộc nổi dậy, “họ bắt được những người thuộc
đảng Hêrôđê và ném xuống biển hồ.” Suetonius, sử gia Roma kể lại về Augustus rằng
“vì ông thầy dạy học và bọn người hầu hạ hoàng tử là Gaius lợi dụng căn bệnh của
chủ để lạm quyền và tham nhũng trong tỉnh, nên hoàng đế truyền cột vật nặng vào
cổ và ném họ xuống sông.”
27.
Một chén nước
Bà giáo vừa dậy các học sinh cấp 1
người Phi châu về việc nhân danh Chúa Giêsu cho người ta một chén nước lạnh.
Hôm ấy, bà đang ngồi trước nhà, thấy một đám phu khuân vác người bản xứ đi vào
làng. Họ vác những kiện hàng thật nặng. Ai nấy đều mỏi mệt, khát nước và ngồi bệt
xuống đất để nghỉ ngơi.
Họ là người thuộc bộ tộc khác và nếu
họ xin nước nơi những thường dân không theo Kitô giáo, sẽ được bảo: hãy tự đi
tìm lấy mà uống, vì có một bức tường ngăn cách ở giữa họ. Nhưng đang khi số người
mệt mỏi kia ngồi đó và bà đang nhìn họ thì một đám trẻ gái người Phi Châu từ
trường học đi ra, mỗi em đội trên đầu một vò nước. Cả bọn rụt rè, sợ sệt tiến đến
gần những người khuân vác đang mỏi mệt và quỳ xuống, đưa các vò nước cho họ. Những
người khuân vác ngạc nhiên, tiếp lấy rồi uống ngon lành và trả vò lại. Các bé
gái vội vàng chạy nhanh đến với bà giáo, và nói “chúng cháu vừa nhân danh Chúa
Giêsu cho những người khát uống nước.” Các bé gái đã tiếp nhận lời dạy dỗ ấy
theo nghĩa đen của nó. Ước gì cũng có nhiều người làm vậy.
Chính những việc làm đơn sơ với tấm
lòng tử tế là những việc hết sức cần thiết. Mahomet đã nói “Đặt người lạc lối
vào đúng con đường, cho một nguơì khát uống nước, mỉm cười với anh em mình, đó
là đức ái.”
28.
Óc bè phái.
Có một vị linh mục, ngày kia đã giảng
một bài rất cảm động, khiến cho mọi người đều rơi lệ. Thế nhưng, có một người
ngồi ngay ở hàng ghế đầu lại chẳng hề tỏ ra chút xúc động nào cả. Khi thánh lễ
kết thúc người ta đã hỏi: Ông có nghe bài giảng đấy chứ. Người đàn ông trả lời:
Dĩ nhiên là có và tôi đã nghe rõ lắm. Vậy thì ông nghĩ sao? Bài giảng thật cảm
động đến nỗi tôi rưng rưng như muốn khóc. Xin lỗi ông nhé, thế tại sao ông lại
không khóc. Người đàn ông trả lời: Đơn giản thôi, vì tôi không thuộc giáo xứ
này.
29.
Lợi và hại trong mắt người ghen tị
Trong triều đình có hai viên sĩ quan
nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tị, một người thì tham
lam.
Để chữa trị những tính xấu ấy, vua
cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình. Vua thông báo sẽ tưởng thưởng
hai viên sĩ quan vì những phục vụ của họ trong thời gian qua. Họ có thể xin gì
được nấy, tuy nhiên, người mở miệng xin đầu tiên chỉ được những gì mình muốn,
còn người thứ hai sẽ được gấp đôi.
Cả hai viên sĩ quan đều đứng thinh lặng
trước mặt mọi người. Người tham lam nghĩ trong lòng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ
được ít hơn người kia. Còn người ganh tị thì lý luận: thà tôi không được gì còn
hơn là mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi... Cứ thế, cả hai đều suy
nghĩ trong lòng và không ai muốn lên tiếng trước. Cuối cùng, vua mới quyết định
yêu cầu người ganh tị nói trước. Người này lại tiếp tục suy nghĩ: thà không được
gì còn hơn để tên tham lam kia được gấp đôi. Nghĩ như thế, hắn mới dõng dạc
tuyên bố: "Tôi xin được móc một con mắt...!” Hắn cảm thấy sung sướng với ý
nghĩ là người tham lam sẽ bị móc hai con mắt.
30.
Báo oán dĩ đức
Tống Tựu làm quan Doãn một huyện gần
biên thùy nước Lương, chỗ giáp với nước Sở. Người đình trưởng ở biên thùy nước
Lương và người đình trưởng ở biên thùy nước Sở, cả hai cùng trồng dưa.
Người bên nước Lương chăm làm, tưới
luôn, nên dưa tốt. Còn người bên nước Sở, biếng làm, và tưới ít nên dưa xấu.
Quan Doãn ở ngay biên thùy nước Sở,
thấy dưa bên Lương tốt, bên mình xấu, lấy làm tức giận. Người đình trưởng nước
Sở thấy dưa bên Lương tốt hơn bên mình, cũng sinh ra ghen ghét, đêm đêm cứ lẻn
sang cào vò dưa bên Lương, đến nỗi dưa bên ấy phải héo, chết một ít.
Được ít lâu, người đình trưởng nước
Lương biết việc đó, ông ta ngỏ ý với người trưởng trong huyện, định tâm sang
cào vò dưa bên Sở, để trả thù. Người trưởng này đem truyện ấy nói với Tống Tựu,
hiện đang làm quan Doãn gần biên thùy nước Lương. Tống Tựu bảo: “Ôi sao lại thế!
Thế chỉ là gây thù oán, chuốc tai họa thôi. Này ta bảo ngươi, chớ sang cào dưa
của người ta, cứ đêm đêm lẻn sang tưới dưa cho người ta, mà đừng để cho người
ta biết.”
Người đình trưởng nước Lương cứ theo
thế mà làm. Sau dưa bên Sở mỗi ngày một tốt. Người đình trưởng nước Sở lấy làm
lạ, xét mãi ra mới biết người đình trưởng nước Lương không trả thù, mà còn làm
giúp.
Quan Doãn nước Sở biết rõ việc ấy, lấy
làm vui lòng, tâu lên vua Sở. Vua Sở biết truyện, buồn và có ý thẹn nghĩ rằng:
ngoài cái tội đi cào dưa của người ta, chắc còn có nhiều việc khác đáng tội với
người ta nữa. Vua Sở bèn lấy nhiều của dưa sang tạ tội với Lương và xin giao hiếu.
Vua Lương cũng vui lòng, thành hai nước giao hòa với nhau được lâu. Lão Tử có
nói: “Báo oán dĩ đức.” nghĩa là hãy đem đức để báo oán. Câu truyện trên đây xẩy
ra mãi đời chiến quốc, nhưng cái ý nghĩa của nó cũng rập theo tinh thần Tin Mừng
và thích hợp cho muôn đời.
31.
Lòng tốt kết trái tốt
Maria Goretti sinh ngày 16 tháng 10
năm 1890 tại Ancona. Cha mẹ Maria Goretti là những người nhà quê thất học. Vì
hoàn cảnh nghèo túng, năm 1899, gia đình Maria Goretti rời về sống trong một
nông trại ở làng Anziô, gần Nettunô. Gia đình phải sống chung với một gia đình
khác, vỡ dất trồng trọt để nuôi tám miệng ăn.
Gia đình can đảm và đầm ấm này, đã bị
giao động khi người cha bất ngờ qua đời, bà góa phụ Assunta phải tự quyết định,
tiếp nối công việc nặng nhọc của cả gia đình. Bà giao việc săn sóc các con nhỏ,
cho trưởng nữ Maria Goretti lúc đó mới lên mười. Maria Goretti tỏ ra là người nội
trợ đảm đương. Thánh nữ là nguồn an ủi cho mẹ nàng. Gia đình Serenelli, hàng
xóm của bà, có tinh thần đạo đức và phục vụ, nhưng cậu con trai Alessandrô thì
hung tợn, thiếu tư cách, vì giao tiếp với bạn bè xấu và đọc nhiều sách vở dâm
ô. Nhiều lần Alessandrô giúp đỡ Maria Goretti, trong những việc nặng nhọc, người
ta ngờ là Alessandrô đã sửa đổi tính nết. Maria Goretti thì chỉ biết ơn, và còn
quá trong trắng để hoài nghi và dè đặt trước cử chỉ của Alessandrô. Nhưng
Alessandrô đã không ngần ngại tỏ ý muốn phạm tội với Maria Goretti. Anh lại còn
đe dọa cô, không được nói với ai. Maria Goretti đã nói tất cả với mẹ. Bà
Assunta đã dậy con phải xa lánh tội lỗi, giữ mình trong sạch, và đề phòng cô
không rơi vào cạm bẫy của Alessandrô. Maria Goretti hứa sẽ luôn luôn làm đúng lời
mẹ chỉ dậy.
Alessandrô đã thúc bách, nhưng người
thiếu nữ đã giữ gìn và cương quyết chống cự. Ngày 5 tháng 7 năm 1902: Sáng hôm
đó, khi mọi người vắng nhà, Alessandrô tới gần cô gái, cầm dùi trong tay, va đe
dọa: “Nếu cô không chịu, tôi sẽ giết cô.”
Maria Goretti liền la lớn: “Không!
Đó là tội lỗi, Chúa đã cấm. Anh sẽ phải vào địa ngục.” Không cầm hãm được thú
tính, Alessandrô lao vào cô gái, đâm cô tới 14 nhát …
Bà Assunta đưa Maria Goretti hấp hối
vào nhà thương ở Nettunô, dọc đường Maria Goretti còn cố nói với mẹ: “Mẹ ơi,
anh muốn con phạm tội với anh, con đã cự tuyệt.”
Khi Maria Goretti sắp lìa đời: Một
linh mục tới đầu giường, nhắc lại cho cô cuộc tử nạn của Chúa trên thập giá, và
hỏi cô có sẵn sàng tha thứ cho Alessandrô không, thì Maria Goretti đã trả lời:
“Vì yêu Chúa Giêsu, con tha, chớ gì anh được lên thiên đàng với con.”
Alessandrô bị kết án 30 năm khổ sai.
Tuy đã vào nhà giam, nhưng tính hung bạo của anh càng tăng, và làm các bạn tù
khiếp sợ.
Nhưng rồi qua 8 năm, bỗng nhiên, tâm
tính anh đổi hẳn, và sự thay đổi này, theo lời anh, thì do một đêm: Anh mơ thấy
Maria Goretti sáng chói, giữa vườn đầy hoa huệ và hái trao cho anh một bông.
Sau đêm đó anh đã viết lời thú tội gửi Đức Giám Mục, và kể lại cho ngài biết giấc
mơ. Anh thành thực hối hận, trở thành con người gương mẫu và được phóng thích
năm 1929. Để biểu lộ lòng thành thực và thống hối, anh đã xin vào sống trong một
tu viện.
Maria Goretti được phong hiển thánh
ngày 24 tháng 6 năm 1950: Trong buổi lễ này người ta thấy có sự hiện diện của mẹ
cô là bà Assunta, lúc đó đã 87 tuổi, và cũng có sự hiện diện của… tu sỹ
Alessandro.
32.
Vợ Bành Tổ khóc chồng
Trong kho tàng truyện cổ Trung Hoa
có câu truyện Vợ Bành Tổ Khóc Chồng như sau:
Ngày kia, Ngãi Tử ra khỏi nhà thấy một
bà lão tóc bạc phơ đang khóc bên đường. Ngãi Tử hỏi:
- Tại sao bà khóc thương tâm như thế?
- Tôi khóc vì chồng tôi mới qua đời.
Bà lão trả lời.
- Tôi hỏi khí không phải: chồng bà
là ai vậy? Ngãi Tử hỏi.
- Chồng tôi là Bành Tổ!
- Này bà, chồng bà là Bành Tổ thọ
800 tuổi mới qua đời. 800 tuổi chẳng phải là thọ lắm sao? Cớ gì bà phải tiếc nuối
như thế?
Bà cụ trả lời:
- Tôi khóc không vì tiếc nuối. Tôi
khóc vì phiền muộn bởi thế gian này còn có người sống tới 900 năm! Như thế an
tâm sao được!
33.
Tội con phạm mà chẳng hay
ĐHY Fulton Sheen kể chuyện:
"Tại Nam Tư, trong một lần giúp
lễ, một chú bé đã vô ý sẩy tay đánh rơi chiếc lọ nước. Vị linh mục đang dâng lễ
tức giận tát cậu và quát mắng: "Cút xéo ngay và đừng bao giờ quay lại đây
nữa!” Và quả thật, cậu bé tủi thân và uất ức đó không bao giờ quay trở lại nữa.
Lớn lên cậu bé trở thành vị lãnh tụ độc tài vô thần Tito của đất nước Nam Tư.
“Còn về phần mình, tôi nhớ khi còn
là một chú bé giúp lễ 7 tuổi ở nhà thờ Chính Toà của Đức Cha. Một lần nọ tôi
cũng đánh rơi chiếc lọ đựng rượu lễ. Tôi sợ hãi tưởng như chết đi được vì biết
rõ tính khí của Đức Cha rất nghiêm khắc đối với những chuyện vô ý vô tứ như thế…
“Thế nhưng sau thánh lễ ngài gọi tôi
và hỏi: "Lớn lên con dự tính học ở trường nào? Rồi ngài tiếp: "Đã bao
giờ con nghe nói tới Louvain chưa?” Tôi rụt rè trả lời, lòng đã bớt sợ:
"Thưa Đức Cha, chưa ạ.”
“Ngài dõi mắt nhìn xa xăm, miệng tủm
tỉm cười: "Vậy con hãy về thưa với mẹ con rằng lớn lên con sẽ vào học tại
đại học Louvain nhé!”
“Không ngờ lớn lên, từ một chú giúp
lễ, tôi đã xin Đức Cha cho đi tu, và hai năm sau khi chịu chức linh mục tôi đã
được Đức Cha chỉ định đi học tại đại học Louvain. Cũng một sự kiện, một lỗi lầm
như nhau, nhưng tôi đi về hướng này, còn ông Titô thì đi về hướng ngược lại…”
Lạy Chúa, nào ai thấy rõ các lầm lỗi
của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay.
34.
Phòng tránh dịp tội
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta
đặt lại câu hỏi này: chúng ta có biết phòng tránh tội lỗi để đạt nước trời không?
Chúng ta có biết canh chừng đối với bất cứ điều gì có thể khiến chúng ta đánh mất
nước trời không?
Trong một lá thư của mình, một vị
thánh danh tiếng người Pháp, Francis de Sales, đã nói về vấn đề cám dỗ và việc
canh phòng chống lại tội lỗi như sau;
"Mặc cho quân thù gào thét ở
ngoài cửa, mặc cho nó gõ, nó la, nó gào, nó làm bậy làm bạ. chúng ta biết chắc
rằng nó không thể đi vào nhà trừ khi chúng ta bằng lòng mở cửa cho nó.” Vậy
chúng ta cần tỉnh thức đề phòng tội lỗi. Khi cơn cám dỗ xảy đến; và chắc chắn
nó sẽ đến chúng ta hãy nhớ lại những lời thánh Thomas More đã viết cho Meg con
gái ngài: "Bố sẽ nhớ lại sự kiện thánh Phêrô bắt đầu chìm xuống vì thiếu đức
tin khi thấy gío mạnh thổi lên, và bố cũng sẽ bắt chước ngài kêu lên với Chúa
Kitô và khẩn cầu Ngài giúp đỡ. Bấy giờ bố tin rằng Chúa sẽ đặt tay lên người bố
và giữ bố khỏi chìm xuống giữa cơn bão biển.”
CNTN 26C –
GIÀU VÀ NGHÈO
Lời Chúa: Lc 16, 19-31
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những
người biệt phái rằng: “Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày
ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng
nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để
ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người
ấy.
Nhưng xảy ra là người hành khất đó
chết và được các Thiên Thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng
chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt
lên thì thấy đàng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu
la rằng: “Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay
vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này'.
Abraham nói lại: 'Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp
toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn
khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những
kẻ muốn từ đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ bên đó qua đây
được'.
“Người đó lại nói: 'Đã vậy, tôi nài
xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo
họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này'. Abraham đáp rằng: 'Chúng đã có
Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các ngài'. Người đó thưa: 'Không đâu, lạy
cha Abraham, nhưng nếu có ai trong cõi chết hiện về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải'.
Nhưng Abraham bảo người ấy: 'Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri,
thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu'.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Có một vực thẳm
Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế
giới còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.
Bill Gates giàu hơn 100 triệu người
Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo
dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian
dài.
Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà
giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới. Hố sâu ngăn
cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn. Có
800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được
chăm sóc.
Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày,
vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống. Ông nhà giàu trong dụ ngôn có
thấy, có biết Ladarô, nhưng thấy mà như không thấy có Ladarô trên đời. Tiện
nghi vật chất đã thành bức tường kín. Ông sống an toàn mãn nguyện trong khoảng
không gian riêng. Chính ông đã tạo ra một vực thẳm ngăn cách.
Không cần Chúa, cũng chẳng cần biết
đến anh em. Có thể nói vực thẳm đó lớn dần và kéo dài mãi đến đời sau.
2.
Phú hộ và Ladarô
Ngày 03/07/1980, Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đến viếng thăm mục vụ ở Sao Pôlô nước Brazil, Ngài đã áp dụng dụ ngôn
này vào thế giới hiện đại.
Ngài nói: Hàng ngàn làn sóng người
di dân chen chúc nhau trong những nơi ổ chuột ở thành phố. Cuộc sống đầy thất vọng
và tới tận cùng khốn khổ. Những trẻ em, thiếu niên, thanh niên không tìm được
khoảng không gian sinh hoạt để phát triển mạnh mẽ những nghị lực vật lý và tinh
thần, đành phải sống lang thang trên hè phố, giữa cảnh xe cộ ồn ào náo nhiệt và
những cao ốc bao quanh san sát … Bên cạnh cuộc sống tiện nghi hiện đại, lại tồn
tại những con người quá thiếu thốn … Sự phát triển hiện đại thường biến thành một
phó bản kỳ lạ của bài dụ ngôn Phú hộ và Ladarô. Sự cọ sát giữa xa hoa và khốn
cùng gây ra nỗi xúc động đầy thất vọng đau đớn ….”
Thật đúng với cảnh dụ ngôn mà Đức
Giêsu đã nói. Trong thế gian này luôn có hai hạng giầu và nghèo sống cọ sát với
nhau, rất khó thông cảm, dễ gây đối đầu, đối địch nhau.
Hạng giầu sang ăn chơi phung phí, hạng
nghèo khổ đói rách bệnh tật.
3.
Tình yêu có tính cá vị
Ngày Xưa, bên Tàu có một ông vua tự
cho mình là người yêu nước thương dân, nhưng lại chẳng bao giờ để ý đến cảnh khổ
của dân chúng. Trái lại, ông chỉ biết đến yến tiệc linh đình, trang hoàng cung
điện, xây cất dinh thự, sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để mong được nở mày nở mặt
với lân quốc.
Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi
chùa trong nước có một loại hoa hồng quí hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao
phủ cả một khu vườn. Nhà vua báo tin cho vị sư trụ trì là ông sẽ đến thăm để biết
thứ hoa hồng quí lạ. Khi được tin báo và được biết giờ vua sẽ đến, vị sư liền cắt
tất cả những đoá hồng xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một bông duy nhất đang
thắm nở.
Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ vì
thực tế khác hắn với tin đồn. Khi biết được sự việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao
làm như thế. Vị sư từ tốn trả lời:
- Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các
hoa nở rộ trên cành, bệ hạ sẽ không thưởng thức được vẻ đẹp của từng bông hoa.
Vì thần biết bệ hạ chỉ có thói quen nhìn đám đông chứ không để ý đến từng cá
nhân.
4.
Cậy dựa vào Thiên Chúa hay tiền của?
Người phú hộ phải tống xuống biển lửa
không phải vì ông đã làm ra nhiều của cải, nhưng vì ông đã quá cậy dựa vào tiền
của, trong khi người nghèo khó chỉ biết cậy dựa vào Chúa; Ladarô có nghĩa là
"Thiên Chúa giúp đỡ.”
Vậy tội của người phú hộ chính là tội
làm ngơ, tội phớt lờ, tội không nhìn, không nghe, không thấy những Ladarô đang
van xin cứu giúp trong cơn túng quẫn cùng cực. Tội của người phú hộ chính là tội
thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho một ai đó đang cần
trợ giúp.
Bác sĩ Albert Schweitzer, người đã
bán hết gia tài kếch xù của ông, xây một bệnh viện và dấn thân cứu giúp những
con người cùng khổ nhất Châu Phi đã đặt ra câu hỏi cho chính mình: "Làm
sao chúng ta có thể sống hạnh phúc trong khi có biết bao người đang đau khổ?”
5.
Những thế giới khác nhau
Một ngày mùa hè, một người đàn ông
ngồi trong văn phòng có gắn máy điều hòa. Nhìn qua cửa sổ, ông thấy bên ngoài có
một thanh niên đang lao động. Anh này làm việc một cách rất uể oải và chậm chạp,
chốc chốc lại buông tay ngồi nghỉ. Ông thầm nghĩ: cái anh chàng này lười biếng
quá. Ông mở cửa bước ra xem. Vừa ra ngoài ông đụng ngay cái nóng hừng hực của
mùa hè. Sức nóng làm mồ hôi ông toát ra và khiến mọi năng lực của ông như tan
biến đâu mất. Ông cảm thấy rất uể oải. Lúc đó ông mới hối hận vì đã vội nghĩ xấu
cho người thanh niên nọ: nếu ông cũng phải lao động ngoài trời dưới cái nóng
như thế thì chắc chắn ông cũng không làm gì hơn người thanh niên đó được.
Người đàn ông và người thanh niên
trên ở rất gần nhau, chỉ cách nhau một cánh cửa, thế nhưng họ thuộc hai thế giới
khác hẳn nhau. Vì thuộc hai thế giới khác nhau nên người đàn ông không hiểu được
và không thông cảm được với người thanh niên. Chỉ khi ông bước ra khỏi thế giới
mình đề đi vào thế giới của người thanh niên thì ông mới hiểu và mới cảm thông.
Người phú hộ và Ladarô trong dụ ngôn
hôm nay cũng thế. Họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau.
6.
Sự giàu có thật và sự nghèo nàn thật
Một người nhà giàu lái một chiếc xe
Mercedes bóng láng đến bãi đậu xe. Một cậu bé khoảng 11 tuổi ngắm nhìn chiếc xe
bằng một ánh mắt ngạc nhiên và thèm muốn. Câu chuyện bắt đầu:
- Thưa ông, chiếc xe này của ông hả?
- Phải.
- Chà, nó đẹp quá. Ông mua bao nhiêu
vậy?
- Chẳng dấu gì cháu, tôi không có
mua. Anh tôi tặng tôi đó.
- Nghĩa là ông không phải tốn một xu
nào hết mà có được chiếc xe này?
- Đúng vậy.
Cậu bé trầm ngâm một lúc rồi nói
"Ước gì cháu..."
Câu nói bỏ lửng. Người nhà giàu cố
đoán phần sau của câu nói. Ông đoán cậu bé định nói "Ước gì cháu cũng có một
người anh như thế.” Nhưng thật bất ngờ, cậu bé nói "Ước gì cháu sẽ là một
người anh như thế.”
Rồi người nhà giàu suy nghĩ: Tuy
mình có một chiếc xe sang trọng, có một người anh giàu có, nhưng lòng mình thì
quá nghèo nàn. Còn cậu bé tuy ăn mặc tầm thường nhưng tấm lòng cậu ấy giàu hơn
mình nhiều, bởi cậu bé chỉ nghĩ đến việc cho đi.
Người giàu thật là người biết cho;
người nghèo thật là người chỉ biết nhận.
Người giàu thật là người có rất ít
nhu cầu nên luôn cảm thấy đủ; người nghèo thật là người có quá nhiều nhu cầu
nên luôn cảm thấy thiếu.
Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn;
sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng.
Bởi vậy cái giàu vật chất hay đi đôi
với cái nghèo tâm hồn. Và đó cũng chính là cái nguy hiểm của vật chất:
Nó khiến ta quá chú ý đến cái
"có" mà quên xây dựng cái "là" của mình.
Mà những cái "có" ấy chỉ
là vật chất và ngoại tại, nên chúng dễ khiến ta lơ là với những giá trị tinh thần
và cuộc sống nội tâm.
Quá quan tâm đến vật chất, chúng ta
còn có thể bị chúng che mờ cặp mắt không còn nhìn thấy tha nhân và Thiên Chúa.
7.
Bắt đầu từ đâu?
Một người nhà giàu nằm mơ thấy một
đám rất đông những người nghèo và những người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh
tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm sẽ đi tìm để giúp những người ấy.
Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa
ra khỏi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định
dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết thêm. Chiếc xe chạy qua những
con đường, những khu chợ, những quãng trường... Càng đi ông càng thấy những người
nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều dự án để cứu giúp rất
nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Đến chiều,
ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế ấy
và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng
kêu xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà
từ chính người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra: phải bắt đầu từ
chính người ăn mày ấy.
Mẹ Têrêsa Calcutta nói: "Tôi
luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu
xóm, đến thành phố... Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương
những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi
không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân:
muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người
đó.”
Mẹ Têrêsa còn kể: "Lần kia tôi
đi dự một hội nghị ở Bombay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội,
tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết,
chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn
luận về nạn đói và về vấn đề lương thực: làm thế nào để có lương thực, để có
cái này, để có cái kia... Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm, thì người
này phải chết vì đói.” Mẹ nói tiếp: "Tôi không bao giờ nhìn những đám đông
như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi
chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa
một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không
đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong
đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một
giọt.”
8.
Giầu có tâm hồn.
Một tu sĩ đi lang thang đến một ngôi
làng. Ông đang định nghỉ qua đêm dưới một gốc cây thì một dân làng chạy đến gặp
ông và nói: ”Xin thầy cho con viên ngọc quý.”
Anh định nói về viên ngọc nào”? Người
tu sĩ hỏi.
“Tối hôm qua con có một giấc mơ: nếu
con đi ra bên ngoài làng lúc chạng vạng tối, con sẽ gặp được một tu sĩ và vị
này sẽ cho con một viên đá quý, làm con trở nên giầu có mãi.”
Tu sĩ lục lọi trong túi xách, tìm thấy
một viên ngọc và lấy ra.”Đây có lẽ là viên ngọc mà anh nói đến” ông nói và đưa
cho người dân làng. “Tôi tìm thấy nó trong rừng, cách đây mấy ngày. Anh hãy nhận
lấy nó.”
Người dân làng cầm viên ngọc và ngắm
nghía với vẻ thán phục. Nó là một viên kim cương, viên lớn nhất mà anh ta chưa
bao giờ thấy. Anh ta đem nó về nhà. Nhưng suốt đêm, anh ta trằn trọc trên giường,
không thể ngủ được. Sáng sớm hôm sau anh ta trở lại gặp vị tu sĩ và nói: ”Suốt
đêm qua, con đã suy nghĩ nhiều. Thầy hãy lấy lại viên kim cương này. Thay vào
đó, hãy cho con sự giầu có nào làm thầy cho đi viên kim cương ấy dễ dàng đến thế.”
Người giầu có sống bằng đời sống
tinh thần bên trong, người bình thường sống bằng đời sống bên ngòai – điều mà
người kém cỏi lại thấy cần và mong muốn (McCarthy).
Theo sự suy tư của cha Flor McCarthy
ta có thể nói:
Sự giầu có thật được đo không phải bởi
những thứ người ta thu tích, mà bởi những thứ người ta cho đi.
Sự giầu đáng giá nhất là giầu trong
tâm hồn.
Khi ta đóng cửa lòng mình lại là lúc
ta bắt đầu chết,
Khi ta mở cửa lòng ra là lúc ta bắt
đầu sống.
9.
Bà già đón Chúa.
Chúa hứa với một bà là Ngài sẽ đến
thăm bà vào ngày đó. Bà rất hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh
bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Bà ngồi và đợi Chúa đến.
Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy
ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: ”Không, hôm nay
tôi không giúp anh, vì Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến,
không thể giúp anh điều gì.” Bà đuổi anh và đóng cửa lại.
Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà
mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi
Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ các ông.” Rồi bà ta đóng sầm cửa lại.
Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà
mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh xin ăn và nghỉ qua đêm. “Ồ, hãy
để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến, Tôi không thể tiếp anh.” Người ăn xin ra đi
và bà tiếp tục ngồi chờ.
Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông
xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài
ở đâu.
Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ.
Bà ngủ quên và mơ thấy Chúa đến với bà và nói: ”Hôm nay Ta đã đến với con 3 lần
và 3 lần con đều đuổi Ta”
10.
Chúa muốn dạy gì qua câu chuyện này?
Chúa muốn nhắn nhủ mọi người còn sống
hai điều:
+ Bên kia cái chết, nhân cách và ý
thức con người vẫn còn tồn tại
Bên kia lằn mức của sự chết cả người
giầu có và Lagiarô người nghèo khó vẫn còn tồn tại và vẫn còn nhận ra nhau.
+ Cuộc sống trên đất và cuộc sống sống
ở thế giới bên kia có một sự liên hệ gắn bó mật thiết chặt chẽ với nhau. Sự chết
dù có ác nghiệt cách mấy đi nữa cũng không hủy diệt được mối giây liên hệ đó.
Và kết quả là chúng ta thấy:
- Người giầu có sau cái chết đã bước
vào thế giới bên kia như một kẻ ăn xin:
- Còn Lagiarô người nghèo khó thì được
các thiên thần đưa lên đến tận lòng của tổ phụ Abraham... như một kẻ chiến thắng.
Như vậy vấn đề mấu chốt còn lại mà
chúng ta phải suy nghĩ hôm nay là phải sống làm sao để cuộc sống mai sau sẽ trở
thành một cuộc cuộc chiến thắng chứ không bao giờ trở thành chiến bại. Mỗi người
chỉ có một cuộc đời. Thành công thì sẽ có tất cả. Còn thất bại...chắc là không
ai trong chúng ta mong muốn.
Đàng sau làn mức của sự chết thì mọi
sự sẽ trở thành vĩnh cửu, không còn có thể thay đổi được bất cứ một sự gì. Đó
là một sự thật đáng sợ mà mọi người không được phép coi thường hay không nghĩ tới.
Dửng dưng trước những nỗi khốn cùng
của người khác là một tội trước mặt Chúa.
11.
Tội dửng dưng
Vào một ngày mùa đông lạnh buốt, ông
thị trưởng đầu tiên của Thành phố New- York nổi tiếng là giầu có phải chủ tọa một
phiên tòa.
Người ta điệu đến trước mặt ông một
ông lão quần áo tả tơi. Người đàn người này bị tố cáo là đã ăn cắp một mẩu bánh
mì. Lời tự biện hộ duy nhất mà người đàn ông khốn khổ đưa ra là: “gia đình tôi
đang chết đói.”
Nghe xong lời cáo buộc của cử tọa
cũng như lời biện bạch của ông lão, viên thị trưởng đưa ra phán quyết như sau:
“Luật pháp không dung thứ cho bất kỳ một hành động xấu nào. Tôi thấy cần phải
trừng phạt ông, và hình phạt cho tội ăn cắp là ông phải đóng phạt 10 đôla” Vừa
công bố bản án, ông thị trưởng rút trong ví tiền của mình ra 10 dollars và trao
cho người đàn ông lo đáng thương kia để ông nộp phạt theo phán quyết của toà.
Sau đó ông quay xuống cử tọa và nói tiếp:
- Ông lão này đã bồi thường vì tội
ăn cắp của ông. Còn phần quí vị, tôi yêu cầu mỗi người phải đóng 50 xu tiền phạt
vì sống dửng dưng đến độ để cho trong thành phố giàu có của chúng ta còn có một
người nghèo phải đi ăn cắp.
Nói xong, ông ra lệnh cho viên cho
viện biện lý đi thu tiền và trao tất cả cho ông lão. Khi chiếc mũ đã được chuyền
một vòng tòa án và trở về tay mình ông lão đếm được tất cả 47dollars 50xu.
Dửng dưng trước nỗi khổ của người
khác không là thái độ vô thưởng vô phạt, mà là một hành động tội ác. Ông thị
trưởng thành phố New York trong câu chuyện trên đây quả thực đã thấy được tội
ác của chính ông và thị dân của ông đối với lão ông ăn cắp bánh mì, họ đã sám hối
bằng những việc làm rất cụ thể. Xin Chúa cũng cho chúng ta sống được như thế.
12.
Quy luật của sự sống
Tội của lão phú hộ là tội gì? Xem
ra, lão chẳng làm gì nên tội. Lão chẳng trộm cắp, cướp giật của ai; lão chẳng
đánh đập hay chửi mắng La-da-rô…
Vậy tại sao lão lại sa vào chốn cực
hình? Hay là vì lão quá giàu? Giàu đâu phải là tội!
Thật ra, lão phú hộ phải sa hoả ngục
không phải vì lão giàu có, không phải vì lão đánh đập hay chửi mắng La-da-rô,
mà chỉ vì lão là người vô cảm và ích kỷ, chỉ chăm lo bản thân mình mà không
quan tâm đến người khác, chỉ biết thu tích cho riêng mình mà không biết chia sớt
cho tha nhân. Tội của lão là tội ích kỷ và chính sự ích kỷ nầy là nguyên nhân
khiến lão phải chịu đau thương khốn đốn trong chốn cực hình.
Quy luật của sự sống là có nhận có
trao. Ngừng nhận và ngừng trao thì phải chết. Quy luật sống trong xã hội là
mình sống cho mọi người và mọi người sống cho mình. Nếu ai đi ra ngoài quy luật
đó là tự hại mình và chuốc lấy cái chết.
Trước hết, ta thử xem quy luật nầy
được áp dụng trong phạm vi nhỏ là cơ thể. Để duy trì sự sống cho thân thể, tất cả
mọi thành phần trong thân mình đều phải vận hành theo quy luật nhận và trao.
Quả tim sau khi đã nhận được máu thì
liền bơm máu cho khắp châu thân, nhờ đó toàn thân được sống và lớn mạnh. Nếu có
ngày nào quả tim tỏ ra “ích kỷ”, không chuyển máu nuôi toàn thân mà chỉ giữ lại
cho riêng mình, thì đó là ngày tận cùng của nó và cũng là ngày hấp hối của toàn
thân.
Hai lá phổi của chúng ta cũng thế.
Phổi liên tục tiếp nhận dưỡng khí và liên tục trao ban. Ngày nào phổi “tham
lam” cứ giữ khư khư số lượng dưỡng khí đã nhận được mà không chịu phát ban, đó
là ngày tận số.
Nói chung, các cơ quan trong cơ thể
muốn tồn tại và phát triển thì chúng phải tuân theo quy luật của sự sống là biết
nhận và biết trao.
Trên bình diện rộng lớn hơn, mỗi cá
nhân là một thành phần trong một thân thể lớn lao là nhân loại. Vì thế, nếu mỗi
chúng ta không trao ban chia sớt những gì mình nhận được cho cộng đồng xã hội,
thì số phận chúng ta như số phận của “quả tim ích kỷ”, của “lá phổi tham lam” đề
cập trên đây. Có nhận, có trao là sống. Ngừng nhận, ngừng trao là chết.
13.
Cho thì có phúc
Có một cậu bé thuộc dòng dõi quí tộc
đang đi dạo với người giám hộ dọc theo một bờ ruộng, bên cạnh đó, một người tá
điền đang cày ruộng cho cha cậu. Người tá điền cởi đôi ủng để trên bờ ruộng, cậu
bé tinh nghịch muốn dấu đôi ủng ấy để chọc giận người nông dân, nhưng người
giám hộ nói với cậu rằng: "Con chớ làm cho người tá điền nghèo khổ này buồn
phiền, hãy làm cho ông ta vui lên thì tốt hơn. Ta khuyên con hãy bỏ tiền vào mỗi
chiếc ủng, chúng ta sẽ núp ở đằng sau, và xem thử ông ta sẽ làm gì?"
Cậu bé đã làm như lời dạy của thầy
mình. Chờ cho người nông dân không để ý, cậu đã mon men đến gần đôi ủng và bỏ
vào mỗi chiếc một đồng bạc.
Một lát sau, người nông dân đã trở lại
với đôi ủng của mình. Vừa khám phá ra tiền trong đó ông đã vội qùy xuống và ngước
mắt lên trời để cảm tạ Chúa đã cứu giúp ông trong lúc túng cực. Ông cũng xin
Chúa chúc lành và trả công cho vị ân nhân vô danh.
Nhìn được tất cả những gì người nông
dân đã cầu nguyện, cậu bé cảm động muốn khóc. Đó là ngày đầu tiên cậu cảm thấy
hạnh phúc nhất đời mình.
14.
Chia sẻ
Nhà Vua kia không có con nối dòng,
đã niêm yết mời những bạn trẻ điền đơn dự xét để được nhận làm con nuôi trong
hoàng tộc. Hai phẩm chất cần có là mến Chúa và yêu tha nhân.
Có một cậu bé nhà nghèo muốn điền
đơn, nhưng cậu không có thể, vì cậu ăn mặc rách rưới nghèo nàn. Được tin, cậu
đã cố gắng làm việc chăm chỉ kiếm tiền mua bộ đồ mới và vội vã lên đường tìm dịp
may để được nhận nuôi trong gia đình của vua. Tuy nhiên, đi dọc đường, khi gặp
một người nghèo bên vệ đường đang chết lạnh.
Anh bạn trẻ tỏ lòng cảm thương và
tráo đổi bộ quần áo cho lão ăn xin. Thật khó khăn cho anh bạn trẻ này để được
diện kiến nhà vua, vì bây giờ anh chỉ có bộ quần áo rách tả tơi. Vì đã đi được
quãng xa, anh nghĩ phải cố gắng hoàn thành được hành trình. Khi anh tới dinh thự
của nhà Vua, mặc dầu bị khinh rẻ và cười chê bởi các cận thần của vua. Cuối
cùng anh được diện kiến Vua.
Anh thật ngạc nhiên thấy vua chính
là người ăn xin bên vệ đường và đang mặc bộ quần áo mà anh đã tặng cho ông. Nhà
Vua bước xuống khỏi ngai vàng, ôm lấy anh bạn trẻ và nói: Chào đón, hỡi con của
ta.
15.
Trao tặng điều mình khao khát
Tờ tin điện tử vnexpress số ra ngày
Thứ Ba, 21/9/2010, đăng tải câu chuyện rất ấn tượng về một nữ triệu phú gốc Việt
có tên là Suzanne Hook. Đã từng là một trong số hàng trăm đứa trẻ bị bỏ rơi
trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Suzanne Hook may mắn được một cảnh sát tìm
thấy và đưa đến trại trẻ mồ côi ở Sài Gòn năm 1969 và được đặt tên là Thị Hiền.
Khi đó, Thị Hiền yếu đến mức không thể cử động được. Các y tá người Anh chăm
sóc cô và đưa cô rời khỏi Việt Nam năm 1972. Suzanne trở thành con nuôi của một
gia đình ở phía tây London. Năm 18 tuổi, cô xa gia đình và đi học ngành ăn uống
rồi thành bếp trưởng trên tàu và nhà hàng. Từ năm 2002, cô tạo dựng dịch vụ làm
móng mang tên Couture Nail và trở thành người phụ nữ rất thành công trong ngành
làm đẹp.
Nhưng rồi cô đã quyết định bán tất cả
những gì mà cô đang có để về Việt Nam lo cho trẻ mồ côi. Tài sản bao gồm ngôi
nhà trị giá gần 780.000 USD, chiếc xe Mercedes thể thao, đồ đạc, quần áo và bộ
sưu tập giày gồm khoảng 300 đôi. Cô đã từ giã cuộc sống ở Anh để toàn tâm cho
nhà trẻ mồ côi Allambie ở Saigon.
Cô nói: "Toàn bộ cuộc sống của
tôi đang được rao bán. Tôi chuẩn bị chia tay bạn bè để chăm sóc các trẻ em mồ
côi trong phần cuối đời mình. Tôi muốn cho chúng tương lai và giúp chúng học đến
đại học, hoặc tìm được việc làm để có thể tự đứng vững trên đôi chân mình,
nhưng tôi cũng muốn chúng cảm nhận được tình yêu thương, điều mà tôi không có
được khi còn bé.”
16.
Phúc thay ai có lòng thương xót
Có một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm
sinh, hằng ngày đi học, cậu thường bị chúng bạn chế nhạo, bắt nạt, đó là điều
khiến cậu trở nên lạnh lùng và khép kín. Một hôm cha cậu nhặt được một con chó
sắp chết rét từ trong đống tuyết… con chó được đặt nằm xuống gần chân cậu bé,
nó run cầm cập. Cậu bé không thích con chó dơ dáy này, cậu dùng chiếc nạng của
mình đuổi nó đi, nó không biết đi đâu, nên nằm ngoài cửa kêu ăng ẳng thảm thiết.
Cha cậu nghe tiếng chó kêu thì biết
chuyện. Vì thế, ông đến phòng để trò chuyện với cậu bé. Khi nghe cậu bé kể ở
trường cậu thường bị bạn bè bắt nạt, ông nói: “Tại sao những đứa trẻ ấy lại bắt
nạt con?” Cậu bé nói: “Bởi vì chân con có tật, con không thể chơi lại chúng nên
chúng mới bắt nạt con.” Người cha lúc đó mới ôn tồn nói: “Chúng khỏe mạnh, còn
con yếu, cho nên chúng bắt nạt con. Còn bây giờ thì con rất mạnh, con chó lại rất
yếu, vậy tại sao con lại không biết thương cảm nó?” Nghe xong, cậu bé ngân ngấn
nước mắt, một lúc sau cậu ẵm con chó vào đặt cạnh lò sưởi và vuốt ve nó… Sau
này cậu bé trở thành vị bác sĩ nổi tiếng nhân hậu, được mọi người yêu thương và
kính trọng.
Câu chuyện cho thấy người cha ở đây
đã thật khéo léo để biết cách dạy con mình trở thành người biết yêu thương và
nhờ đó người con đã thành nhân và được mọi người quí mến.
Quả thực tình yêu thương, lòng trắc ẩn
là những đức tính làm cho chúng ta trở thành con người đúng nghĩa. Khi tâm hồn
thiếu vắng tình yêu thì phải thấy rằng chúng ta đang tụt hậu. Còn ai biết sống
yêu thương thì lại là những người đang cùng nhau tiến nhanh trên hành trình của
ơn cứu độ. Đây chính là những người mà Chúa Giêsu nói đến trong bài giảng trên
núi: “Phúc thay ai có lòng thương xót vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.”
17.
Tình yêu không sợ bị lừa
Có một bạn sinh viên đã tâm sự trên
Tuổi Trẻ Online như sau: “Dưới cái nắng của buổi trưa tháng 3, tôi đang vội vã
đi bộ từ trường Đại học Nhân văn ra Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia.
Trên đường, một cô bé chừng 16-17 tuổi
kéo tôi lại với bịch tăm tre nhỏ xíu và nói: “Đây là sản phẩm của các em khuyết
tật trường Chu Văn An, mời chị mua ủng hộ.” Chẳng cần suy nghĩ, tôi khoát tay từ
chối và vội bước đi, tự nhủ: “Mình lạ gì mấy trò này nữa, chủ yếu là xin tiền
chứ mua bán gì.” Tôi đã không ít lần bị lừa ở phòng trọ, cũng như được bạn bè cảnh
báo về mấy người “giả mạo” này.
Nhưng đi rồi, tôi vẫn cố ngoái lại
nhìn xem cô bé đó còn ở đó không? Nắng giữa trưa, tôi bịt hai lớp khăn che mặt
vẫn còn thấy rát, vậy mà cô bé tiếp tục đứng đầu trần và mời một bạn sinh viên
khác và người ấy đã mua. Tôi thấy mình xấu hổ. Tôi nhớ thầy tôi từng nói: “Biết
có thể bị lừa vì những người giả bộ bị móc túi, lỡ đường để xin tiền nhưng thầy
vẫn cho. Biết đâu gặp người cần giúp đỡ, có vậy lòng mình mới thanh thản….” Tôi
định quay lại mua cho cô bé bịch tăm nhưng lại ngại, đành tiếp tục đi, lòng suy
nghĩ bứt rứt.
Chắc cô bé là học sinh tình nguyện
hay đang là tình nguyện viên cho mái trường ấy. Vậy mà tôi…”
18.
Cần đến nhau
Một câu chuyện kể rằng, có một em
thiếu nhi con nhà giàu, học giỏi và đạo đức đến cầu nguyện với Chúa rằng, con
chúc tụng và tạ ơn Chúa đã cho con sinh ra trong một gia đình đạo đức và hạnh
phúc. Nhưng tại sao Chúa lại cho người bạn thân của con phải cực khổ, gia đình
nghèo khó, bố hắn là lao động chính trong gia đình nay bị đau nặng. Mấy anh chị
em vừa phải bán vé số, bán báo vừa đi học nay phải nghỉ vì không đóng học phí.
Chúa không thưởng bạn của con sao?
Chúa trả lời: Con thật là một thiếu
nhi ngoan, một người bạn tốt biết quan tâm đến người khác, biết nghĩ đến người
bạn kém may mắn hơn mình. Nhưng này con, con hãy nhớ rõ điều này là chính vì Ta
thương nó mà Ta đã dựng nên con và cho nó kết bạn với con.
Đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố: “Người
nghèo khó thì luôn luôn ở với các ngươi.” Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa
ra dụ ngôn về người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khó là một thực tế của cuộc
sống trong xã hội trần gian, và đó cũng là phần nào hệ quả của Nước Trời mai
sau.
19.
Nghèo mà giàu lòng quảng đại
Một hôm, được tin có một gia đình đang
lâm cảnh cùng quẫn, đến nỗi không còn một chút lương thực cho đàn con đang đói
lả; Mẹ Têrêxa Calcutta và một số chị em Dòng Bác Ái tới thăm viếng và đem cho
gia đình này một bao gạo. Khi vừa nhận được bao gạo các Nữ Tu tặng, bà mẹ của
gia đình này đã vội chia ra làm hai và đem đi một phần, chỉ để lại cho gia đình
một phần.
Mẹ Têrêxa rất lấy làm bỡ ngỡ hỏi:
"Bà đem đi đâu vậy?" Bà mẹ này trả lời: "Con đem đến cho một gia
đình nghèo cũng như gia đình con ở gần đây đang bị đói lả. Con nghĩ cần phải
chia sẻ với họ trong hoàn cảnh túng cực này.”
Mẹ Têrêxa và các Nữ Tu của Mẹ cảm động
đến rơi lệ, trước nghĩa cử bác ái và tấm lòng quảng đại của bà mẹ nghèo trong
gia đình túng quẫn này.
20.
Thắp một ngọn đèn
Barbara Varenhorst trong cuốn sách
nhan đề là Real Friends (Những người bạn chân thật) có viết về một phụ nữ tên
Erma như sau.
Hôm đó, một người đàn bà tên là Erma
có việc đi Chicago bằng phi cơ. Cô đến phi trường khoảng nửa tiếng trước khi
máy bay cất cánh. Làm thủ tục xong, Erma ngồi chờ nơi phòng đợi. Trong lòng cô
còn đang bực mình vì những chuyện không vui tuần vừa rồi. Cô lấy một cuốn sách
hay ra đọc.
Nhưng rồi bỗng Erma nghe tiếng một
người đàn bà khác đã có tuổi ngồi bên cạnh nói:
- Tôi đoán rằng tại Chicago trời lạnh
lắm.
Erma mắt không rời cuốn sách, đáp lại
cách lơ đễnh:
- Có thể lắm.
Người đàn bà có tuổi kia tiếp tục
nói. Erma tiếp tục trả lời lại bằng những câu cụt ngủn lạnh lùng.
Thế rồi bà ta nói ra một tin động trời.
- Tôi hiện đi theo xác chồng tôi đem
về Chicago. Anh ấy đã chết đột ngột sau 53 năm hôn phối.
Đến đây, quả tim Erma nhảy lên, đập
nhanh đập mạnh. Cô nhận thức được rằng người đàn bà đang ngồi bên cạnh mình là
người đau khổ, cần một người khác biết lắng tai nghe, biết cảm thông, hầu bà có
thể thổ lộ tâm tình, cho vơi sự đau khổ đang đè nặng tâm hồn bà. Bà ấy không
van xin một lời khuyên nhủ. Không van xin bạc tiền. Bà chỉ đi tìm một người biết
lắng tai nghe. Thế mà Erma đã vô tình, làm người hoàn toàn xa lạ.
Bây giờ cô xếp sách lại, bỏ xuống ghế,
đưa hai tay cầm lấy tay bà kia, và lắng tai nghe bà kể lể nỗi niềm đau thương của
bà.
Trong khi lắng tai nghe bà kia kể lể,
Erma quên hết các vấn đề khó khăn của mình. Cô bỗng cảm thấy tươi trẻ lại, can
đảm hơn, mạnh mẽ hơn.
Khi tiếng người nhân viên hàng không
vang lên trong máy phóng thanh, báo tin đã đến giời đi Chicago, Erma khoác tay
bà kia lên máy bay. Tới nơi, họ chia tay nhau, tới chỗ ngồi của mình. Họ ngồi
cách nhau vài ba hàng ghế.
Khi Erma đang đứng bỏ chiếc áo quàng
lên hộp đựng hành lý phía trên đầu, Erma nghe bà kia nói với người hành khách
bên cạnh bà y như đã nói với cô trước đây..
“Tôi đoán rằng ở Chicago trời lạnh lắm...”
Nghe vậy, Erma tự nhiên thốt lên một
lời cầu nguyện: Lạy Chúa, xin Chúa ban cho người hành khách kia ơn biết nhẫn nại
và lắng tai nghe với tất cả tấm lòng thương yêu.
21.
Ông Schweitzer và người nghèo
Vào năm 1950, một ủy ban gồm đại diện
của 17 quốc gia đã chọn ông Albert Schweitzer là "người của thế kỷ.” Hai
năm sau, 1952, ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình.
Ông Schweitzer được cả thế giới ca tụng
là một thiên tài đa dạng. Ông là một triết gia lỗi lạc, một thần học gia sáng
giá, một sử gia đáng kính nể, một nhạc sĩ độc tấu, và là một bác sĩ truyền
giáo.
Nhưng điều đáng kể là đức tin Kitô
Giáo thật sâu đậm của ông. Chính đức tin này đã ảnh hưởng đến từng góc cạnh của
đời ông.
Khi 21 tuổi, Schweitzer tự nhủ là
ông sẽ vui hưởng nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi. Sau đó ông sẽ dành
cuộc đời còn lại để làm việc cho những người nghèo dưới hình thức phục vụ trực
tiếp nào đó.
Và vì thế vào ngày sinh nhật thứ 30,
ngày 13-10-1905, ông bỏ vào thùng thư ở Ba Lê một vài lá thư.
Đó là thư gửi cho cha mẹ và các bạn
thân, ông báo cho họ biết là ông sẽ theo học về y khoa. Sau đó ông sẽ sang Phi
Châu để làm việc cho các người nghèo với công việc của một bác sĩ.
Ngay lập tức các lá thư ấy đã tạo
nên một chấn động. Ông kể lại trong cuốn Out of My Life and Thought:
"Thân nhân và bạn hữu của tôi tất
cả đều thành khẩn đưa ra các nhận định của họ về quyết định điên rồ của tôi. Họ
nói, tôi đang chôn vùi các tài năng thiên phú... Một bà thật hăng say thuyết phục
rằng tôi có thể đạt được nhiều kết quả cho việc giúp đỡ người nghèo qua các bài
diễn giảng hơn là hành động trực tiếp mà tôi đang ấp ủ."
Tuy nhiên, ông Schweitzer không thay
đổi ý định.
Vào năm 38 tuổi, ông là một bác sĩ đầy
đủ bản lĩnh. Vào năm 43 tuổi, ông sang Phi Châu để mở một bệnh xá ở cạnh bìa rừng
mà sau này được gọi là Equatorial Africa. Ông từ trần ở đây năm 1965 khi được
90 tuổi.
Động lực nào đã khiến ông Schweitzer
dám gạt bỏ danh vọng và tiền tài để làm việc cho người nghèo ở Phi Châu?
Ông cho biết, một trong những ảnh hưởng
là khi ông suy niệm về đoạn phúc âm mà chúng ta vừa nghe hôm nay về người giầu
và ông Lagiarô. Ông nói:
"Thật không thể hiểu nổi khi
tôi tự cho phép mình sống một cuộc đời sung sướng, trong khi quá nhiều người
chung quanh tôi đang vật lộn với sự đau khổ."
22.
Tiền
Cách đây mấy năm, một nguyệt san xuất
bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết
độc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được trọng thưởng. Toà soạn đã nhận
được hàng ngàn câu định nghĩa khác nhau và đây là câu định nghĩa đã trúng giải
nhất: Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ
nơi đâu trên thế giới này ngoại trừ lên thiên đàng là không được. Với nó, chúng
ta có thể mua sắm mọi sự, trừ hạnh phúc là không thể được.
Thật là một câu định nghĩa chí lý,
nó diễn tả một sự thật mà chúng ta thường quên, hay biết mà giả điếc làm ngơ
không muốn nghĩ tới và cũng không muốn nghe nói tới. Nó cũng giúp giải thích lý
do tại sao người giàu tiền bạc và của cải vật chất lại khó được ơn cứu độ hay
thường đánh mất đi ơn cứu độ của mình.
Từ câu định nghĩa trên, chúng ta đi
vào đoạn Tin Mừng hôm nay và chúng ta nhận thấy: Ladarô không phải vì nghèo mà
được vào thiên đàng, còn ông phú hộ không phải vì giàu mà bị sa hoả ngục. Đúng
thế, Ladarô được hạnh phúc chắc hẳn là vì anh đã không oán trách và mất đi niềm
tin của mình vào Thiên Chúa, dù phải sống trong cảnh khốn cùng. Còn ông phú hộ
đã đánh mất ơn cứu độ chỉ vì ông ta đã sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình và
ăn chơi hưởng thụ đến độ không còn nhìn thấy hay giả bộ không nhìn thấy để khỏi
phải trợ giúp cho Ladarô.
23.
Chuẩn bị cho tương lai
Ông chủ một thửa vườn chôm chôm nọ,
sáng hôm ấy thấy hai em nhỏ đứng ngoài cổng, đưa mắt nhìn vào những trái chôm
chôm chín đỏ mà thèm thuồng. Ông là một người yêu thích trẻ nhỏ, nên cho gọi
hai em lại và bảo: Hai em cứ việc vô vườn mà ăn, nhưng không được đem trái nào
đi. Trước khi hai em ấy về, ông đã khám qua các túi và hài lòng vì không thấy một
trái chôm chôm nào. Nhưng sau đó ông lấy làm lạ vì thấy hai em cứ đi dọc theo
hàng rào, rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống lượm một cái gì đó. Đoán được cái mẹo
vặt của hai em, ông cho gọi hai em lại và vặn hỏi. Hai em đành phải thú nhận rằng
mình có ném mấy quả ra ngoài hàng rào, để rồi sau đó sẽ lượm và đem về cho em.
Ông chủ khen hai em đã hành động khôn ngoan và cho phép hai em được mang những
quả chôm chôm ấy đi.
Hai em nhỏ là mỗi người chúng ta.
Ông chủ là Thiên Chúa. Còn thửa vườn là thế gian, nơi chúng ta đang sống. Những
trái chôm chôm là những sự tốt lành chúng ta có được, chẳng hạn như tiền bạc,
cơm gạo, áo quần. Những sự tốt lành ấy chúng ta không thể đem theo khi giã từ
cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta có một phương cách hành động, để ném vào đời sau
những cái chúng ta đang có, đó là chúng ta hãy biết chia sẻ phần tiền bạc vật
chất ấy cho những người nghèo khổ và giúp đỡ cho những người túng thiếu...
LỄ CÁC TỔNG
LÃNH THIÊN THẦN
* Chúng ta mừng các vị tổng
lãnh thiên thần, nhưng đồng thời cũng mừng tất cả các thiên sứ được nhắc tới từ
sách Sáng Thế cho tới sách Khải Huyền. Các vị hiện diện cách vô hình để hướng dẫn
dòng lịch sử cứu độ.
Tuy các vị là những sứ giả của
Chúa, có nhiệm vụ bộc lộ cho con người biết các kế hoạch của Chúa và mang tới lệnh
Người truyền, nhưng trước hết các vị là cộng đoàn đông đảo những vị thờ lạy
Thiên Chúa hằng sống.
Lời Chúa: Ga 1, 47-51
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy Nathanael đi
tới Mình, thì nói về ông rằng: "Ðây thật là người Israel, nơi ông không có
gì gian dối". Nathanaen đáp: "Sao Ngài biết tôi?" Chúa Giêsu trả
lời rằng: "Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi còn ở dưới cây vả, thì
Ta đã thấy ngươi". Nathanael thưa lại rằng: "Lạy Thầy, Thầy là Con
Thiên Chúa, là Vua Israel".
Chúa Giêsu trả lời: "Vì Ta đã
nói với ngươi rằng: Ta đã thấy ngươi dưới cây vả, nên ngươi tin. Ngươi sẽ thấy
việc cao trọng hơn thế nữa".
Và Người nói với ông: "Thật, Ta
nói thật với các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần Chúa
lên xuống trên Con Người".
TRUYỆN
KỂ
1.
Thừa hành ý muốn của Chúa
Tại Tây phương, nhiều cuộc hiển linh
của Tổng lãnh Thiên thần Micae càng làm cho việc sùng kính khởi sắc hơn, như tại
núi Gargano miền Nam nước Ý, dưới thời Đức Gelase (192 - 196).
Tại Pháp, Tổng lãnh Thiên thần Micae
cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám mục
thành Arranche và Ðức Giám mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức
Micae tại Mont Saint Michel. Từ đó, nơi đây đã trở nên một vị trí hành hương lớn.
Theo thánh nữ Gioanne d’Arc, Tổng lãnh Thiên thần Micae đã thúc giục bà đi gặp
vua Charles VII để lên đường đi cứu nước.
2.
Lịch sử lễ kính
Thuật ngữ Thánh Kinh dùng để gọi các
thiên thần đều có nghĩa là “sứ giả”. Theo thư Do Thái 1,14, các thiên thần là
những thần linh phục vụ cho Thiên Chúa, và Thiên Chúa sai họ đến với những người
cần được cứu giúp.
Cựu Ước cũng gọi họ là “Các Thánh”
hay là “những người con của Thiên Chúa”. Nổi bật nhất giữa các thiên thần là
các đấng Michael, Kêrubim và Sêraphim.
Michael, có nghĩa: “Ai ví bằng Thiên
Chúa”
Gabriel, có nghĩa: “Sức Mạnh của
Thiên Chúa” hay là “Anh hùng của Thiên Chúa”
Rafael, có nghĩa: “Thiên Chúa cứu
giúp”
Thánh lễ hôm nay bắt nguồn từ lễ
thánh hiến Đền thờ Michael trên đường Via Salaria ở Rôma. Ngày hôm nay cùng với
Tổng lãnh thiên thần Michael, Hội Thánh cũng mừng chung hai tổng lãnh thiên thần
Gabriel và Rafael. Theo lịch xưa, các ngài được mừng vào những ngày 24.3 và
24.10. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
3.
“Thầy thuốc của Thiên Chúa
Một tu sĩ sống cuộc đời hạnh phúc và
an vui trong bốn bức tường của Tu viện. Đời sống tu trì đã biến đổi cuộc đời và
tâm hồn của ông trở nên tốt lành, đến nỗi mọi người đều gọi ngài là ông thánh
nhỏ.
Ngày nọ, đang lúc ngài đang bắt tay
vào rửa chén dĩa, thì một Thiên thần hiện ra và nói:
- Thiên Chúa sai ta đến là để báo
cho ngươi là giờ ngươi lìa đời đã đến.
Tu sĩ vẫn điềm nhiên và vui vẻ trả lời:
- Tạ ơn Chúa đã thương nghĩ đến tôi,
nhưng như ngài thấy đó, tôi còn phải rửa hàng chồng chén dĩa, tôi không muốn tỏ
ra vô ơn với Thiên Chúa, nhưng liệu giờ tôi được hưởng nhan thánh của Người có
thể hoãn lại sau khi làm xong bổn phận rửa chén dĩa này không?.
Nói xong, Thiên thần biến đi. Tu sĩ
trở lại công việc bổn phận một cách hăng say như quên hẳn việc gặp gỡ Thiên thần.
Bẵng đi một thời gian, trong lúc vị
tu sĩ đang làm cỏ ngoài vườn, Thiên thần hiện ra. Như đoán trước ý nghĩ của
Thiên thần, vị tu sĩ giơ tay chỉ mảnh đất trong vườn và nói:
- Đây ngài xem, cỏ dại mọc đẩy vườn,
liệu giờ tôi vào cõi đời đời có thể hoãn lại cho đến khi tôi làm xong cỏ
không?.
Cũng như lần trước, Thiên thần chỉ mỉm
cười rồi biến mất.
Một ngày nọ, trong lúc vị tu sĩ đang
chăm sóc các bệnh nhân, thì Thiên thần hiện ra. Lần này vị tu sĩ không nói một
lời, nhưng chỉ giơ tay chỉ vào các bệnh nhân nằm trên giường. Thiên thần biến
đi không nói một lời nào. Chiều đến, vị tu sĩ trở lại căn phòng nhỏ bé đơn sơ của
mình, bỗng chốc, ông cảm thấy mình đã già nua, mệt mỏi; ông thốt lên lời cầu
nguyện:
- Lạy Chúa, xin sai Thiên thần Chúa
đến, con sẽ sẵn sàng theo Ngài
Lời cầu nguyện vừa dứt, Thiên thần
Chúa hiện đến; vị tu sĩ mừng rỡ:
- Lần này, nếu Thiên thần mang tôi
đi, tôi sẵn sàng theo ngài về thiên quốc.
Thiên thần nhìn tu sĩ với tất cả âu
yếm và nói:
- Này ông thánh nhỏ ơi, sao còn mơ ước
về thiên quốc, những ngày tháng vừa qua, ông nghĩ là mình đã ở đâu?
4.
Chết lành – chết dữ
Từ nhỏ tôi rất ấn tượng về bức tranh “chết
lành” Trong bức tranh đó: Kẻ hấp hối là một người chồng đang âu yếm nhìn vào
thánh giá Chúa. Có linh mục đang ban các bí tích sau hết. Có vợ con bên cạnh.
Có Chúa ngự trên cao đang chờ đón. Đặc biệt, có các thiên thần. Một thiên thần
đang ở bên cạnh giường để an ủi. Một thiên thần đang xua đuổi ma quỷ. Còn bức
tranh “chết dữ”: Kẻ hấp hối cũng là một người chồng. Ông không nhìn thánh giá,
không chịu lắng nghe linh mục khuyên bảo, không để ý đến người vợ yêu quý của
mình. Ông chỉ nhìn vào bức hình của một cô gái đang còn trong tay ma quỷ (có lẽ
là người tình). Vợ khóc lóc. Ma quỷ vây xung quanh giường, rắn rết, lửa hoả ngục
… Còn thiên thần đang khóc và bỏ đi.
Sứ điệp của hai bức tranh đó mời gọi
chúng ta: Hãy nghe theo sự hướng dẫn, thúc giục của các thiên thần. Hãy liên kết
với các thiên thần, nhất là tổng lãnh thiên thần Micaen để đẩy lùi quỹ dữ dưới
mọi hình thức đang vây bủa chúng ta: Vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử
gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé (x.1Pr 5,8). Hãy xin thiên thần Gabrien giúp
chúng ta biết mau mắn thưa xin vâng những sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến
trong cuộc sống hằng ngày. Hãy xin thiên thần Raphaen đồng hành với chúng ta,
nhắc nhở chúng ta làm nhiều việc thiện. Xin Ngài dâng lên trước toà Chúa tất cả
các việc lành chúng ta làm.
Ước gì, chúng ta luôn biết cộng tác
với các thiên thần sống lành để được chết lành, đừng để thiên thần phải khóc
khi nhìn thấy chúng ta sa hoả ngục như trong bức tranh “chết dữ” kia. Amen.
5.
Tình yêu của Thiên Chúa trong sự hiện diện của các thiên thần
Vào tháng 12 năm 1993, một cuộc thăm
dò được tờ báo Time và đài truyền hình thực hiện, cho thấy rằng có đến 69% người
dân Mỹ tin sự hiện hữu của các Thiên Thần. Một cuộc thăm dò khác được thực hiện
trước đó cũng tìm thấy rằng, 75% dân Mỹ tin có thiên thần.
Ðầu thập niên 1970, một nhà giảng
thuyết nổi tiếng của Hoa Kỳ được tạp chí Time cho vào danh sách một trong
20,000 những tư tưởng nổi bật nhất của thế kỷ XX đã viết một cuốn sách có tựa đề:
"Các Thiên Thần và Nhân Viên Mật Vụ của Thiên Chúa". Trong cuốn sách
được xem là bán chạy nhất này, tác giả đã viết: "Các Thiên Thần là một chủ
đề mang lại niềm an ủi và phấn khởi lớn lao cho những người tin Chúa, đồng thời
cũng là một thách đố để cho những người không tin phải tin".
Thật thế, nếu Thiên Chúa mạc khải
cho chúng ta sự hiện hữu và hoạt động của các thiên thần, hẳn Ngài cũng muốn
cho chúng ta cảm nghiệm hơn về mầu nhiệm tình yêu của Ngài. Dù chúng ta có thấy
các thiên thần hay không, dù các ngài có đến với chúng ta như thần linh hay dưới
hình bóng người phàm, thì lời cầu xin của chúng ta luôn được đáp trả.
6.
Tổng Lãnh Michael và đời sống con người
Hằng năm ngày 29.09. Giáo Hội mừng lễ
kính Tổng lãnh Thiên Thần Michael cùng với hai vị Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel
và Raphael.
Tổng lãnh Thiên Thần Michael là ai
và có liên quan gì với đời sống đức tin và con người?
Quis ut Deus?
Tổng lãnh Thiên Thần Michael được
xưng tụng với danh xưng bằng tiếng Latinh: Quis ut Deus? – Ai bằng Thiên Chúa?.
Theo tương truyền:
- Thiên Thần Michael được liệt vào
hàng Thiên Thần quân đội chiến đấu đã đánh thắng Thiên Thần quỉ dữ Lucifer.
- Thiên Thần Michael đã vâng lệnh
Thiên Chúa cầm gươm đuổi Ông Bà nguyên tổ Adong-Evà ra khỏi vườn địa đàng, sau
khi Ông bà phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa.
– Thiên Thần Michael cũng là vị
Thiên Thần thổi kèn Posaune đánh thức gọi những người đã qua đời sống lại ra khỏi
mồ.
Hình ảnh cùng tượng Thiên Thần
Michael được vẽ phác họa hay khắc chạm là một người mặc quân phục thời cổ Lamã
có hai cánh bay sau lưng với bắp thịt gân cốt dũng mãnh, một tay cầm gươm như
vũ khí, một tay cầm chiếc lá chắn, và chân đứng đạp trên con khủng long hình ảnh
của qủi dữ.
Hình ảnh chiếc gươm trên tay Tổng
lãnh Thiên Thần Michael là hình ảnh nói lên sức mạnh của tình yêu trong ý nghĩa
cánh tay của Thiên Chúa được dương ra. Tổng lãnh Thiên Thần Michael giúp đỡ chỉ
cho chúng ta tìm lại nẻo chính đường ngay, khi tầm nhìn con mắt chúng ta lạc mất
hướng về trời cao.
7.
Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa
Trong bức tranh vẽ trên trần nhà, tường
vách thánh đường kính các Thiên Thần ở Palermo có hình cùng tên và chức vị của
bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần:
1. Michael - Victoriosus - Người chiến
thắng
2. Gabriel – Nuntius - Sứ gỉa
3. Raphael – Medicus - Thầy thuốc
4. Uriel – Fortis Socius – Người đồng
hành mạnh mẽ
5. Jehudiel – Remunerator - Người
làm ơn
6. Barachiel – Adjutor - Người trợ
giúp
7. Sealthiel – Oarator - Người bầu cử
8.
Tổng lãnh thiên thần
Thiên thần là loài thiêng liêng, nên
không có đơn vị, không có tên riêng. Thiên thần mang tên sứ mệnh của mình, thần
nào thi hành sứ mệnh quan trọng thì gọi là Tổng Lãnh, thần nào làm việc không
quan trọng thì gọi là Thiên thần, ví dụ Thiên thần bản mệnh.
- Tổng lãnh Thiên thần Micael: Có
nghĩa là sức mạnh của Thiên Chúa (x Dn 10,13-21). Nói kiểu xã hội loài người là
Tổng Tư Lệnh của Triều Đình Thiên Quốc.
- Tổng lãnh Thiên thần Gabriel: Có
nghĩa là đưa tin (x Lc 1, 26). Nói kiểu loài người là Tổng Trưởng Bộ Thông Tin.
- Tổng lãnh Thiên thần Sêraphim: Có
nghĩa là sốt mến (x Is 6,2t). Nói kiểu loài người là Tổng Giám Đốc Cục Chất Đốt.
- Tổng lãnh Thiên thần Raphael: Có
nghĩa là linh dược của Thiên Chúa (x Tb 3,7). Nói kiểu loài người là Tổng Trưởng
Bộ Y Tế.
Như thế,ai muốn được Chúa chữa lành
bệnh (tha tội) thì cần Tổng Lãnh Thiên thần Raphael; ai muốn có sức mạnh của
Thiên Chúa thì cần Tổng Lãnh Thiên thần Micael; ai muốn yêu mến Thiên Chúa nồng
nhiệt như lửa thì cần Tổng Lãnh Thiên thần Sêraphim; ai muốn đón nhận được Lời
Chúa phải cần Tổng Lãnh Thiên thần Gabriel.
Mà ai đã được Lời Chúa cư ngụ, thì
được ơn tha tội (Raphael), được lòng yêu mến Chúa và tha nhân (Sêraphim), được
sức mạnh của Thiên Chúa để thắng mọi sự dữ, làm nhiều việc lành kỳ diệu như Đức
Giêsu và còn làm nhiều việc lạ lùng hơn thế nữa (x Ga 14,12). Do đó chúng ta
cùng lớn tiếng tung hô: “Chúc tụng Chúa đi, toàn thể thiên binh hằng hầu cận và
tuân hành thánh ý” (Tv 103/102,21: Tung Hô Tin Mừng).
9.
Tổng Lãnh Thiên Thần Micaen, Raphaen, Gabrien
Micaen - Ai bằng Thiên Chúa?
Micaen tiếng Hy Bá có nghĩa là
"Ai bằng Thiên Chúa". Thánh Micaen đã chống lại thần dữ để bênh vực
quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micaen như Ðấng bảo trợ và
tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Tổng Lãnh
Thiên Thần Micaen cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện
ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy
nga để kính dâng Ðức Micaen tại Mont Saint Michel.
Raphaen - Thầy thuốc của Thiên Chúa
Raphaen có nghĩa là "Thầy thuốc
của Thiên Chúa". Chúng ta biết danh hiệu của Tổng Lãnh Thiên Thần này qua
những trang sách Tôbia. Chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình
ông trong cơn hoạn nạn. Ngài đã giúp ông đòi được nợ, chữa ông khỏi mù và lo
cho con ông được yên bề gia thất.
Gabrien - Uy lực của Thiên Chúa
Gabrien có nghĩa là "Uy lực của
Thiên Chúa" cũng còn gọi là "Sứ Thần truyền tin". Ngài luôn can
thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính ngài đã
báo cho tiên tri Ðaniel thời đại xuất hiện của Ðấng Cứu Thế và là sứ giả được
phái đến cùng với Trinh Nữ Maria để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng
chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse.
Chúng ta cũng một lòng hiệp cùng Ðức
Micaen để luôn bảo vệ Giáo Hội, hiệp ý với Ðức Gabrien mỗi khi đọc kinh
"Kính Mừng" để tỏ lòng sùng kính Ðức Mẹ, và xin cùng Ðức thánh
Raphaen thương chữa bệnh phần xác và ban ơn cứu rỗi phần hồn cho chúng ta.
10.
Các thiên thần với Thánh Thể
“Thật, tôi bảo thật các anh, các anh
sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên
Con Người.” (Ga 1,51)
Khi rước lễ, ta được lãnh nhận “bánh
của các thiên thần.”
Mừng lễ các tổng lãnh thiên thần là
dịp để suy niệm về vai trò của các ngài trong phụng vụ, cách riêng trong thánh
lễ. Khi Giáo Hội cử hành thánh lễ, không chỉ loài người chúng ta mà cả triều thần
thiên quốc cùng tham dự vào hiến tế này: “Vì thế, hiệp với toàn thể thiên thần
và các thánh, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng Chúa…” (Lời cuối các
kinh tiền tụng). Ngay đầu lễ, chúng ta xin các thiên thần chuyển cầu cho chúng
ta: “Vì vậy, tôi xin… các thiên thần… khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa…”
(Kinh Tôi Thú Nhận). Các thiên thần đem của lễ chúng ta dâng “lên bàn thờ thiên
quốc, trước tôn nhan uy linh cao cả Chúa…” (Kinh nguyện tạ ơn II). Khi rước lễ,
ta được lãnh nhận “bánh của các thiên thần.”
Hiến tế Thánh Thể cao cả, vì là cử
hành của toàn thể Giáo Hội nơi trần thế cũng như trên thiên quốc và cả trong
luyện ngục. Nếu bạn ý thức điều đó, hẳn là bạn sẽ phấn khởi khi tham dự thánh lễ,
bởi vì mình chẳng là gì, thế mà được mời “đến dự tiệc vui, dự đại hội giữa các
con đầu lòng của Thiên Chúa” (Dt 12,23).
LỄ THÁNH
TÊRÊXA HÀI ĐỒNG GIÊSU
Lời Chúa: Mt 18, 1-4
Khi ấy, các môn đệ đến bên Chúa
Giêsu mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời?"
Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt
nó giữa các ông mà phán rằng: "Thật, Thầy bảo các con: nếu các con không
hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống
như trẻ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời. Còn ai tiếp đón một em nhỏ
như thế này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Bí mật của Thánh Têrêsa Hài Đồng--dongcatminh.org
Bạn đã bao giờ nghe về Thánh Thérèse
hay Thánh Têrêsa Hài Đồng và những bí mật về thánh nữ? Bạn có biết tại sao có rất
nhiều người chọn ngài làm thánh quan thầy, và là người bạn gần gũi nhất của
mình không?
Câu chuyện của Thérèse Martin
Thérèse Martin sinh ra trong một thị
trấn thuộc Alencon, Pháp vào ngày mùng 2 tháng 1 năm 1873. Chị là con gái út
trong gia đình gồm 5 chị em gái. Khi chị còn rất nhỏ, mẹ của chị mắc căn bệnh
ung thư. Vào thời đó, họ không có thuốc và sự điều trị tốt như ngày nay. Các
bác sĩ đã cố gắng hết sức nhưng căn bệnh của bà Martin vẫn ngày càng nặng thêm.
Bà đã mất khi Thérèse mới chỉ 4 tuổi.
Đó là khi bố của Thérèse quyết định
tốt hơn nên chuyển nhà đến Lisieux, một thị trấn khác, nơi có nhiều người thân
sinh sống. Ở đó có tu viện Carmelite, một tu hội dòng kín, nơi các thiếu nữ làm
một công viêc đặc biệt đó là cầu nguyện cho toàn thế giới. Khi Thérèse được 10
tuổi, một chị gái của chị là Pauline đã xin nhập dòng Carmelite ở Lisieux. Điều
đó thật khó khăn cho Thérèse vì chị Pauline giống như người mẹ thứ hai của
Thérèse, chăm sóc và dạy dỗ chị ân cần như mẹ đã từng làm. Thérèse nhớ chị
Pauline đến phát ốm. Suốt cả tuần sau đó chị vẫn chưa khỏi, các bác sĩ không biết
chị đã gặp vấn đề gì. Bố và 4 chị gái của Thérèse đã cầu xin Thiên Chúa giúp. Một
ngày sau, tượng Đức Mẹ trong phòng ngủ của Thérèse bỗng dưng mỉm cười với
Thérèse và chị hoàn toàn bình phục!
Một lần khác, Thérèse nghe tin về một
người đàn ông đã gây ra ba vụ giết người và thậm chí còn không biêt hối lỗi. Chị
quyết định cầu nguyện và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho ông ấy (như từ
bỏ một cái gì đó mình thích, hay làm một việc nào đó mà mình không thích). Chị
cầu xin Chúa thay đổi tâm hồn người đàn ông ấy. Trước khi người đàn ông đó chết,
ông ta hỏi về cây thánh giá và hôn lên hình Chúa Giêsu. Thérèse cảm thấy rất hạnh
phúc, chị biết rằng ông ta đã tin vào Chúa và đón nhận ơn sám hối.
Thérèse rất yêu mến Chúa Giêsu. Chị
muốn dâng hết cả con người mình cho Chúa. Chị muốn gia nhập dòng Camelô để có
thể dâng hiến đời mình để làm việc và cầu nguyện cho mọi người, nhất là cho những
người còn chưa biết đến lòng thương xót Chúa. Nhưng Thérèse gặp một trắc trở:
chị còn quá trẻ, cần phải cầu nguyện và chờ đợi thêm. Cuối cùng thì chị cũng được
15 tuổi, được phép gia nhập vào tu viện.
Chị Thérèse đã làm gì trong thời
gian ở tu viện? Không gì đặc biệt cả. Bí mật của chị ấy là: YÊU MẾN. Có một lần
Thérèse nói rằng: “Thiên Chúa không muốn chúng ta phải làm điều này điều kia
cho Ngài, mà Ngài muốn chúng ta yêu Ngài là đủ.” Vì thế, Thérèse đã ước muốn và
thực hành đời sống yêu mến Chúa. Chị tập kiên nhẫn và ân cần với mọi người, điều
đó thật không dễ chút nào. Trong thời ấy, lúc các chị đang giặt quần áo bằng
tay (lúc đó máy giặt chưa được phát minh), có một chị luôn làm bắn tóe nước bẩn
vào mặt Thérèse. Nhưng Thérèse chẳng bao giờ tỏ ra bực bội. Thérèse thường hay
giúp đỡ một chị lớn tuổi có tính cáu gắt và luôn phàn nàn về mọi thứ, bởi vì
Thérèse không cảm thấy thích việc đó. Thérèse muốn đối xử với chị ấy như với
chính Chúa Giêsu. Chị biết rằng khi mình yêu những người khác tức là mình đang
yêu chính Chúa Giêsu. Tình yêu khiến Thérèse trở nên hạnh phúc.
Thérèse chỉ sống đời tu 9 năm. Căn bệnh
lao đã xảy đến với chị, nó khiến chị phải chịu rất nhiều đau đớn. Không có sự
điều trị đối với căn bệnh ấy, các bác sĩ cũng không thể giúp được nhiều cho chị.
Thérèse qua đời khi mới chỉ 24 tuổi. Nhưng trước khi chết, chị đã hứa sẽ không
từ bỏ điều bí mật của mình. Chị hứa sẽ luôn yêu thương và giúp đỡ mọi người khi
về quê trời. Trước khi mất, Thérèse đã nói: “Tôi sẽ gửi mưa ơn lành từ trời xuống
mặt đất.” Và chị ấy đã làm được điều đó! Tất cả mọi người trên thế giới, những
người đã nhờ thánh Thérèse Lisieux cầu xin đến Thiên Chúa đều nhận được sự đáp
trả qua lời cầu nguyện của họ.
Bí mật của Thánh Têrêsa Hài Đồng
Thérèse đã khám phá ra “con đường nhỏ”
để đến với Thiên Chúa: Thérèse muốn nên Thánh. Ngài biết Thiên Chúa rất muốn
giúp đỡ mình và đặt hết mọi tin tưởng nơi Thiên Chúa và yêu Chúa hết cả tấm
lòng, sau đó ngài quan tâm, đối xử tốt với mọi người xung quanh, từ những việc
đơn giản nhất. “Con đường nhỏ” của Thérèse là làm mọi việc bạn có thể làm cho
người khác vì yêu mến Chúa. Đó chắc chắn là cách để bạn có thể nên thánh.
2.
Gắn bó vào Ðức Giêsu như trẻ thơ
Một cậu bé gõ cửa nhà một bà già và
hỏi xem bà có mua những trái trứng cá chín mọng cậu vừa hái được hay không. Bà
trả lời: “Có, bà sẽ xách xô của cháu vào bếp và đong 2 lít.”
Cậu bé đứng ngoài đùa với con chó.
Bà nói: “Sao cháu không vào xem bà đong có đúng không? Nhỡ bà lường gạt cháu
thì sao?”
- Cháu không sợ, vì làm thế bà sẽ nhận
được điều xấu nhất.
- Cháu muốn nói gì?
- Vì cháu chỉ mất vài trái nhỏ,
nhưng bà tự biến mình thành kẻ trộm.
3.
Với tình yêu, càng thua thiệt càng có giá trị
Mùa hè 1987 khi Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II đến thăm tiểu bang California Hoa Kỳ. Trong buổi gặp gỡ với dân chúng
đón tiếp Ngài người ta đã được chứng kiến một sự kiện vô cùng đẹp đó là khi từ
trên lễ đài nhìn xuống, Ngài thấy một người thanh niên tàn tật đang ôm một cây
đàn và hát. Hôm ấy nhiều người đã được chứng kiến và thật không bao giờ có thể
quên được khi Đức Giáo Hoàng từ trên cao Đức Giáo Hoàng bước xuống để ôm và hôn
một người thanh niên đang hát với tiếng đàng ghi ta đó. Điều gì đã làm cho cảnh
ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy trở nên luyến nhớ cho nhiều người? Thưa rằng
bởi vì người thanh niên ấy đã chơi đàn ghi ta bằng những ngón chân của mình!
Tony Belade là hiện thân của niềm hy
vọng. Anh đã chào đời không có hai cánh tay, nhưng anh đã biết tận dụng các
ngón chân của mình để học đàn ghi ta. Không những thế, anh còn dùng chân trong
nhiều công việc khác nữa như: gấp quần áo, vắt một ly nước chanh... Anh đã biết
biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục. Ngạc nhiên
trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh:
- Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những
chấp nhận mình để sống bình thường, mà còn sử dụng ghi ta một cách tuyệt diệu
như thế?
Người thanh niên tàn tật trả lời:
- Tôi đã cầu nguyện với Chúa: “Lạy
Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo Thánh ý Chúa.” Tôi đã tự hiến cho Chúa
như một của lễ sống động và Chúa đã nhận lời tôi.
4.
Những câu nói nổi tiếng của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu
Dưới đây là những câu nói nổi bật của
thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu
- Đức Tin của chúng ta thật hiển
hách! Thay vì giới hạn các con tim, như thế gian mong muốn, Đức Tin lại nâng
các con tim lên và gia tăng khả năng yêu thương của chúng.
- Xin nhớ rằng không có điều gì là
nhỏ bé dưới mắt Thiên Chúa. Hãy làm mọi việc với tình yêu.
- Vẻ rực rỡ của bông hồng và màu trắng
của bông huệ không tước mất hương thơm của bông hoa tím hay lấy đi vẻ hấp dẫn mộc
mạc của bông cúc dại. Nếu mỗi bông hoa nhỏ cứ muốn làm một bông hồng, mùa xuân
hẳn sẽ mất vẻ yêu kiều.
- Hẳn là bạn cũng biết rằng Chúa
chúng ta không quan tâm nhiều đến vẻ lớn lao hay sự khó khăn của các hành vi
chúng ta làm, nhưng là tình yêu chúng ta có khi làm.
- Không có tình yêu, các hành vi, dù
sáng chói nhất, cũng không đáng kể gì.
- Tin tưởng và chỉ tin tưởng mới dẫn
chúng ta đến tình yêu.
- Không nên bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào
mà không làm một hy sinh nhỏ, ở đây bằng gương mặt tươi cười, ở kia bằng một lời
khả ái, luôn luôn làm việc đúng đắn dù nhỏ bé nhất và làm vì tình yêu.
- Đối với em, cầu nguyện là một sự
trào dâng của con tim; cầu nguyện đơn giản là một cái nhìn hướng về trời, là một
tiếng kêu nhận biết và yêu thương, ôm lấy cả thử thách lẫn niềm vui.
- Một lời nói hay một nụ cười thường
cũng đủ để đưa sự sống tươi mát vào trong một tâm hồn thất vọng.
- Bây giờ em biết rằng bác ái chân
thật hệ tại gánh lấy tất cả những khuyết điểm của người thân cận – không ngạc
nhiên trước sự yếu đuối của họ, nhưng vui sướng về những nhân đức nhỏ nhất của
họ.
- Niềm vui ấy ta không tìm được nơi
các sự vật bao quanh ta, nhưng chỉ ở trong tâm hồn; và ta có thể sở hữu nó dễ
dàng khi ở trong một nhà tù tăm tối cũng như khi ở trong dinh thự của một vị
Vua.
- Con cầm lấy quyển Kinh Thánh. Thế
là mọi sự dường như sáng ra với con; chỉ một chữ thôi cũng mở ra cho con những
chân trời vô biên, sự hoàn thiện tỏ ra đơn giản với con.
- Nếu em không chỉ sống từ khoảnh khắc
này sang khoảnh khắc khác, hẳn là em đã không thể kiên nhẫn; nhưng em chỉ nhìn
đến hiện tại, em quên đi quá khứ, và em quan tâm không chặn trước tương lai.
- Đừng sợ nói với Đức Giêsu rằng bạn
yêu thương Người; cho dù không cảm thấy gì, đó là cách để buộc Người giúp đỡ bạn,
và bồng lấy bạn như một em nhỏ quá yếu không thể bước đi.
- Sứ mạng của con – làm cho Thiên
Chúa được yêu mến – sẽ bắt đầu sau khi con chết. Con sẽ sống trên trời mà làm
điều thiện dưới đất. Con sẽ gửi đến một trận mưa hoa hồng.
- Đức Giêsu không cần sách vở hoặc
các Tiến sĩ thần học để dạy dỗ các tâm hồn; là Tiến sĩ của các tiến sĩ, Người dạy
dỗ không cần nói năng ồn ào.
- Điều duy nhất con thực sự ước muốn…
là yêu cho đến chết vì yêu.
5.
Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng
Một hôm nhà đạo sĩ Beroca cùng với người
môn đệ là Elia bước ra khỏi trại, nhà đạo sĩ đưa mắt nhìn ra đám đông người, giữa
khu phố ồn ào náo nhiệt, rồi lên tiếng hỏi môn đệ: Con nghĩ sao giữa những người
bon chen nơi phố chợ này? Sẽ có ai được hưởng hạnh phúc đời đời trên thiên đàng
không?
Thoạt đầu Elia lắc đầu bi quan trả lời
là: không có ai cả. Một lúc sau người môn đệ đưa tay chỉ về phía hai người đang
đứng đó và nói: thưa thầy, con nghĩ rằng hai người này thế nào cũng sẽ được
chia sẻ phần hạnh phúc đời đời.
Nhà đạo sĩ cho gọi hai người ấy đến
và hỏi xem họ làm nghề gì?
Họ thưa: thưa thầy, chúng con chỉ biết
làm nghề mua vui cho người ta thôi. Khi thấy ai buồn sầu, chúng con tới làm cho
họ vui lên. Khi họ gây lộn cãi vã nhau, chúng con tìm mọi cách giúp họ làm hòa
và sống an bình với nhau hơn. Chúng con không biết làm gì hơn ngoài những việc
nhỏ mọn như thế thôi.
Nhà đạo sĩ trả lời: các anh nói rất
đúng, vì những việc các anh làm tuy bé nhỏ nhưng thực sự lại rất lớn lao, bởi
vì chính Chúa Giêsu đã nói: "Ai không trở nên đơn sơ bé nhỏ sẽ không được
vào Nước Trời.”
6.
Sự vĩ đại đến từ Chúa
Thế nhưng, sự vĩ đại của một vị
thánh đâu hệ ở những biến cố hay những công trạng vang dội, song cốt ở việc họ
thuộc về Chúa[4] đến mức nào mà thôi. Chị Têrêsa Nhỏ đã minh chứng cho chân lý ấy
cách mạnh mẽ và đầy hồn nhiên bằng những dòng nhật ký của mình.
Chị viết xuống ước mơ của chị:
“Phần con, con vẫn một lòng quả cảm
muốn làm đại thánh. Con không cậy công con, có đâu mà cậy; con hoàn toàn cậy
trông ở Chúa là sức mạnh, là chính sự thánh thiện. Những cố gắng nhỏ nhặt của
con cũng làm Chúa vui lòng. Người sẽ nâng đỡ con lên tới Người, Người sẽ lấy
công nghiệp cực trọng Người mà bù đắp cho con. Người sẽ làm con nên thánh.”[5]
7.
Đĩa rau trộn
Không chỉ mơ mộng suông, Têrêsa còn
sống lý tưởng kia trong đời thực bằng những hy sinh, tập rèn nhân đức. Có bận,
khi đang giặt đồ, một Soeur cứ làm bắn nước bẩn vào mặt Têrêsa. Têrêsa vô cùng
khó chịu. Chị muốn lùi ngay ra, lau mặt như để “giằng mặt” Soeur ấy. Nhưng rồi
chị cố nén mình, không tỏ vẻ khó chịu gì hết, và cứ để nước bẩn ấy bắn lên mặt.
Chị giải thích nguyên do như sau: “Con là một linh hồn rất nhỏ mọn, chỉ biết
dâng lên Chúa những việc rất nhỏ mọn thế thôi. Thật là việc hèn mọn chẳng đáng
gì, song đã mang lại cho con được bình an vui vẻ trong lòng.”[6] Một lần khác,
khi đang là phụ tá giáo tập, Têrêsa đã “được” các chị em nhà Tập “góp ý” cách
thẳng thắn về những khuyết điểm cũng như những điều các chị em ấy không ưa
không thích nơi Têrêsa. Têrêsa đã đau khổ gọi nó là “một đĩa rau trộn, trộn rất
nhiều giấm và thêm thắt nhiều vị đắng chát… đĩa rau trộn chẳng thiếu gì, chỉ
thiếu chất dầu, một chất không có không thành rau trộn, chỉ thành một món chưa
có tên gọi.”[7] Đối mặt với “đĩa rau trộn” này, chị Têrêsa lại coi đó như là
“cách thức Chúa chăm sóc gìn giữ chị. Chúa chỉ muốn chị phải nén lòng bên
trong, phải khiêm nhượng thật trong linh hồn.”
Với những tập rèn nho nhỏ ấy suốt 8
năm ròng trong tu viện, Têrêsa đã có thói quen “mỉm cười trước và trong đau khổ.”
Thế nên, trong những ngày tháng cuối đời trên giường bệnh, dù liên tục ho ra
máu, dù đau đầu như thể không làm chủ được mình, chị thánh vẫn hằng giữ được nụ
cười trên môi. Bởi tận sâu trong thâm tâm mình, chị xác tín một điều rằng: “Một
trinh nữ muốn hy sinh cho Tình Ái mà còn ghê sợ chút quà Bạn Thánh gởi cho sao?
Lúc nào chịu nổi ngần nào, Bạn Thánh gởi cho ngần ấy, không bao giờ phải lo
quá, giả như chốc nữa Người gởi thêm đau đớn, Người cũng sẽ gởi thêm sức chịu đựng.
Tuy nhiên, chẳng khi nào con dám xin Chúa gởi cho đau khổ cả thể, vì sức con
hèn yếu lắm. Con mà xin như thế, những đau khổ ấy sẽ thuộc về con và riêng sức
con phải gánh lấy; nhưng sức riêng con có làm nên trò trống gì bao giờ?”[8]
8.
Ta khát
“Một Chúa nhật kia, khi nhìn ảnh tượng
Chúa Giêsu trên Thánh Giá, Têrêxa xúc động như thể máu đang chảy từ vết thương
của mình. Têrêxa cảm thấy vang dội trong con tim tiếng kêu của chính Chúa Giêsu
trên Thánh Giá: ‘Ta khát’.
Têrêxa kể lại: ‘Những lời ấy khơi
lên trong con một sự nồng nhiệt mãnh liệt chưa từng thấy… Con muốn cho Đấng con
yêu mến được giải khát và con cảm thấy chính mình đang bị dằn vặt vì niềm khao
khát các linh hồn. Bấy giờ con chưa bị thu hút vì linh hồn của các linh mục,
nhưng là linh hồn của những người đại tội lỗi.’ Và Têrêxa quyết định vào dòng
kín Camêlô, nơi Chúa Giêsu lôi kéo chị.
Chính trong nhà dòng kín đó mà chiều
kích tông đồ của chị được phát triển đặc biệt. Chị giúp việc đào tạo các tập
sinh trong nhà dòng và đồng thời đảm trách việc hỗ trợ tinh thần cho hai thừa
sai. Sự cởi mở đó thật phù hợp với sự quan phòng của Chúa: đó là dịp để Têrêxa
khám phá và biểu lộ sứ mạng tông đồ của chị trong Giáo Hội.
Ngày 18 tháng 8 năm 1890, chị
Pauline của Têrêxa hỏi: ‘Vậy em có muốn lập công không?’. Têrêxa mau lẹ đáp:
‘Có chứ, nhưng không phải cho em, mà là cho những người tội lỗi đáng thương,
cho các nhu cầu của Giáo Hội’. Thái độ dâng hiến cho Tình Yêu Từ Bi thật là rõ
ràng: ‘Con không muốn tích trữ công đức cho mình để được lên trời, con muốn làm
việc cho Chúa là Tình Yêu duy nhất… Con muốn nhận được từ Tình Yêu Chúa phần
thưởng đời đời là chính Chúa’ (Sách Giáo Lý Công Giáo, n. 2011).”
9.
Con đường của thánh Têrêxa
Têrêxa Hài Đồng là bậc thầy tu đức
được noi gương nhiều nhất, không những trong các chủng viện và dòng tu, nhưng cả
trong các nhóm, phong trào và hội đoàn giáo dân, cũng như trong các gia đình.
Tác phẩm của thánh nữ thuộc vào loại được đọc nhiều nhất thời nay, và trở thành
một vị hướng đạo cho hàng triệu người. Ấn bản đầu tiên của cuốn Truyện một tâm
hồn, xuất bản năm 1898 đã được dịch ra, ấn hành và tái bản trong hơn 50 ngôn ngữ
với hàng triệu bản.
ĐHY Dionigi Tettamanzi, TGM giáo phận
Milano, đã từng nói với các nữ đan sĩ dòng kín Cát Minh ở Genova: “Nơi thánh nữ
Têrêxa tôi thấy được sự dịu hiền từ ái vô biên của Thiên Chúa. Lời Chúa phán
qua Sứ ngôn Isaia đã trở thành kinh nghiệm hằng ngày của Thánh Nữ: “… Những người
con nhỏ của Chúa sẽ được bồng ẵm trên tay, chúng được vuốt ve trên đầu gối của
Người. Như một người mẹ an ủi con mình, Ta cũng sẽ an ủi các con như vậy” (Is
66,12-13). Sứ điệp này quả thực có tính chất thời sự dường nào! Con người ngày
nay đang cần tình thương, cần được quan tâm, cần có những quan hệ tình người đầy
ý nghĩa, cần phải làm sao để họ gặp được những chứng nhân đích thực về sự dịu
hiền từ ái của Chúa. Có lẽ cũng vì thế, con đường của thánh Têrêxa cũng là con
đường trở về được chuẩn bị cho những người đã rời xa Thiên Chúa.” (Báo
Avvenire, 14-10-1997).
10.
Đau khổ trong tâm hồn
Có kẻ bảo rằng chị thánh Tê-rê-sa chịu
đau đớn trên thân xác nhưng những đau khổ trong tâm hồn mới gọi là đau khổ.
Phải. Anh chàng đau răng nói nhức
răng mới gọi là đau. Cô dâu nói chỉ có bị mẹ chồng hành mới gọi là khổ.Nhưng
đau đớn trên thân xác hay đau khổ trong tâm hồn chị thánh Tê-rê-sa đều có cả.
Trong Đan viện, chị phải đau khổ vì
Mẹ Bề trên, một bà khó tánh. Mỗi lần gặp bà là mỗi lần chị phải hôn đất, chị
nói thế. Còn Mẹ Giáo tập thì tốt nhưng lại phải cái tánh “nói trước quên sau”,
nên nhiều lần chị vâng lời rồi lại bị khiển trách. Rồi cộng đoàn chị em nữa,
nhiều khi cũng nói ra, nói vào. Chỉ vì trong cộng đoàn 18 người mà dòng họ
Martin đóng góp đến 5. Bà Bề trên, chẳng hạn, có lần đã nói: “Cái chị Tê-rê-sa
được hết mọi chuyện, chỉ trừ một chuyện là có đến 4 chị em trong nhà này.” Trời
ơi! Người ta rủ nhau đi tu mà cũng nói! Có lần nghĩ đến chuyện ấy, chị Tê-rê-sa
nói: “Những bước đầu tiên của tôi vào đan viện đã đạp phải gai, gai hoa hồng.”
11.
Nước Trời dành cho trẻ thơ
Trong một thị kiến tôi thấy: Một
đoàn người đứng trước cửa Trời, ai cũng mong được vào trước, nhưng những kẻ thấp
cổ bé miệng thì không dám dành với những người có chức quyền. Khi Thánh Phêrô mở
cửa Trời, Chúa từ trong Cung Điện bước ra, Ngài gặp một vị mặc áo cẩm bào, đội
mũ cà cuống, cầm gậy rồng đứng trước, Chúa hỏi:
- Ngươi là ai?
- Dạ, thưa con là Giáo hoàng.
- Đứng ra một bên, đợi đã.
Người khác tiến đến, mặc áo
vét-tông, thắt cà-vạt, Chúa hỏi:
- Ngươi là ai?
- Dạ con là Tổng thống.
- Đứng bên cạnh chờ.
…………
Một cụ già lụ khụ chống gậy đến,
Chúa hỏi:
- Ngươi là ai?
- Dạ, con là con nít ạ.
- Vô, vô con, lẹ lên!
12.
Đức công bằng của Chúa yên ủi ta
Ngày 9 tháng 5 năm 1897, thánh
Têrêsa có gửi Cha Rouland, đang giảng đạo bên Trung Quốc, một bức thư, trong đó
thánh nhân có nói về đức công bằng của Chúa. Ngày 16 tháng 7 năm 1897, Têrêsa
có nói với chị ngài là Mẹ Agnès de Jésus: “Mẹ ạ, trong tập viết của con (cuốn tự
thuật, truyện một linh hồn) con mới chỉ nói vài lời về đức công bằng của Chúa.
Nhưng nếu mẹ muốn biết rõ, mẹ sẽ thấy tất cả tư tưởng của con trong bức thư gửi
Cha Rouland. Con đã diễn tả rất rõ.”
Sở dĩ trong bức thư gửi Cha Rouland,
thánh nữ có đề cập tới đức công bằng của Chúa, vì ngày 24 tháng 2 năm 1897, Cha
Rouland có gửi cho thánh nữ một bức thư, trong đó có câu:
“Sau cùng, chúng tôi phó thác nơi
Chúa, nếu tôi bị cướp giết, mà không được vào thiên đàng ngay, thì chị cố kéo
tôi ra khỏi luyện tội, và tôi sẽ chờ chị trên thiên đàng.”
Thánh nữ có viết thư trả lời như
sau:
“Thưa cha, con không hiểu được, sao
cha coi như hoài nghi không được vào thiên đàng ngay, nếu như cha bị giết. Tuy
con biết, phải rất trong sạch mới được ra trước mặt Chúa, đấng đầy thánh thiện,
nhưng con cũng biết rằng, Chúa cũng công bằng, và đức công bằng này tuy làm cho
biết bao linh hồn run sợ, thì lại làm cho con vui sướng, và đầy trông cậy. Công
bằng không phải là chỉ thi hành sự nghiêm thẳng, để phạt tội nhân, mà công bằng
còn phải biết đến chủ ý thẳng thắn mà ân thưởng nhân đức. Con hy vọng vào đức
công bằng cũng như hy vọng vào lòng từ ái của Chúa; cũng chỉ vì Chúa công bằng,
nên thánh vịnh 103 từ câu 8 tới 14 mới ghi:
Chúa đầy trắc ẩn và từ bi,
khoan dung và giầu ơn nghĩa,
Người không hạch tội luôn luôn,
Người không oán hờn mãi mãi
Người không xử với ta xứng tội của
ta,
Người không trả cho ta xứng lỗi ta
làm
Ví như trời cao hơn đất thế nào,
thì ơn người cũng cao vời trên những
ai kích sợ người.
Đông, đoàn cách nhau bao nhiêu,
thì người cũng cất lỗi phạm của ta
ra xa ta chừng ấy.
Như cha xót thương, con mình thế
nào,
thì Chúa cũng xót thương những ai
kính sợ người như vậy.
Người biết hình hài ta ra sao,
Người nhớ lắm: ta là bụi đất.
(Tv.103,8-14)
13.
Câu chuyện của thánh Têrêsa (Gm Bùi Tuần)
Thánh nữ đưa ra một chuyện biến
ngôn. Có một vị lãnh chúa muốn xây một thánh đường nguy nga dâng kính Thiên
Chúa. Ông ra sắc lệnh, kêu gọi những ai có của phải góp phần vào. Từ khắp nơi,
đoàn ngựa kế tiếp nhau chở vật tư đến nơi xây cất. Các chủ vật tư đều là những
người giàu có. Đang khi đó, một người đàn bà rất nghèo cũng muốn dâng cúng.
Nhưng bà chỉ đủ tiền mua một sọt cỏ. Bà đưa cỏ cho mấy con ngựa chở vật tư ăn.
Khi thánh đường được xây cất xong, vị lãnh chúa truyền ghi trên tấm bảng tên của
mình và của các ân nhân, được gắn vào tường thánh đường. Nhưng, qua một đêm,
trên tấm bảng đó các tên đã ghi đều bị xoá, và thay vào đó là tên một người đàn
bà vô danh. Vị lãnh chúa phẫn nộ, truyền làm lại tấm bảng. Nhưng đêm sau, các
tên trên bảng lại bị xoá, và lại ghi tên một người đàn bà vô danh. Ông liền điều
tra. Sau cùng, ông được gặp người đàn bà nghèo đó. Bà nói thật bà chỉ cho ngựa
ăn mớ cỏ, mà bà đã bỏ hết tiền của bà ra để mua. Vị lãnh chúa hiểu trước mặt
Chúa bà là người có nhiều công nhất.
Từ chuyện biến ngôn trên đây, thánh nữ Têrêsa
nghĩ về chính mình. Trong việc xây dựng Hội Thánh, ngài sẽ chỉ làm những việc
bé nhỏ, âm thầm, nhưng tin chắc Chúa sẽ căn cứ vào tình yêu hơn là việc làm.
Bài học trên đây rất dễ hiểu. Tôi áp dụng cho
tôi. Tôi sẽ chỉ đủ sức làm những việc nhỏ. Nhưng tôi đem tất cả tình yêu của
tôi vào những việc nhỏ đó. Chúa sẽ thương nhận, để góp phần xây dựng Hội Thánh,
và cứu các linh hồn. Xin hết lòng tạ ơn Chúa đã ban cho tôi một trái tim biết
yêu thương.
14.
Yêu thương các linh hồn
Về việc cứu các linh hồn, thì thánh
nữ Têrêsa đã là một bài học dễ hiểu. Có lần ngài đã nói với các em đệ tử của
ngài: “Nếu chị phải ở luyện tội cho đến tận thế, để cầu nguyện, chỉ để cứu lấy
một linh hồn mà thôi, thì hãy để mặc chị.”
Qua lời nói trên đây, thánh nữ cho thấy ngài rất
quên mình để cứu các linh hồn. Yêu thương và hy sinh chịu đau khổ, để cứu các
linh hồn, đó là niềm vui ngài muốn dâng lên Chúa.
Một nữ tu trẻ dòng Kín có được một khao khát cứu
các linh hồn như thế, quả là một tiếng Chúa đánh thức lương tâm tôi. Tôi có nhiều
cách để tránh né tiếng gọi đó. Nhưng nếu làm thế, tôi sẽ chỉ chuốc khổ vào
thân. Tôi sẽ chẳng cứu được ai, và cũng chẳng cứu được chính mình. Tôi cảm tạ
Chúa đã cho tôi nghị lực để dấn thân cứu các linh hồn bằng cầu nguyện và hy
sinh âm thầm trong chính hoàn cảnh già yếu hiện giờ của tôi.
15.
Lược sử
"Tôi thích sự buồn tẻ của việc
hy sinh âm thầm hơn là những trạng thái xuất thần. Nhặt một cây kim vì tình yêu
cũng có thể hoán cải một linh hồn." Đó là những lời của Thánh Têrêsa Hài Đồng
Giêsu, một nữ tu dòng Camêlô thường được gọi là "Bông Hoa Nhỏ," người
đã sống một đời âm thầm trong tu viện ở Lisieux, nước Pháp. Và quả thật, những
hy sinh âm thầm của ngài đã hoán cải các linh hồn. Không mấy vị thánh của Thiên
Chúa nổi tiếng như vị thánh trẻ trung này. Cuốn tự truyện của ngài, Chuyện Một
Linh Hồn, được cả thế giới đọc và yêu chuộng. Tên thật của ngài là Thérèse
Martin, gia nhập tu viện năm 15 tuổi và từ trần năm 1897 lúc 24 tuổi.
Đời sống tu viện dòng kín Camelô thật
buồn tẻ và phần lớn chỉ gồm sự cầu nguyện và làm các công việc trong nhà. Nhưng
Thánh Têrêsa có được sự hiểu biết sâu sắc thánh thiện để chuộc lại quãng thời
gian ấy, bất kể có nhàm chán đến đâu. Ngài nhìn thấy sự đau khổ cứu chuộc trong
sự đau khổ âm thầm, sự đau khổ là đời sống tông đồ của ngài.
Vào ngày 19-10-1997, Đức Giáo Hoàng
Gioan Phao-lô II tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh, là người phụ nữ thứ ba
trong Giáo Hội được công nhận về sự thánh thiện và về ảnh hưởng tinh thần của
những gì ngài viết.
16.
Với Chúa Thánh Thần
Thánh nữ Têrêxa muốn vào dòng tu kín
năm 15 tuổi. Trở ngại đầu tiên ngài phải lướt thắng là trình bày với cha ngài để
cha ưng thuận, vì hai chị của ngài cũng mới từ giã cha để vào dòng kín. Ngài là
con út, cha ngài lại rất yêu thương ngài, coi ngài là nguồn an ủi đặc biệt của
tuổi già. Ngài có viết trong tập “Tự Thuật” (Truyện Một Linh Hồn):
“Con chẳng biết liệu cách nào mà
trình bày với cha được, cha vừa mới phải hy sinh hai con cho Chúa, nỗi thương
nhớ còn đầy lòng, bây giờ lại nói đến chuyện phải lìa xa đứa con út của cha sao
đành! Vả nữa năm ấy chúng con thấy cha phải chứng bệnh bại thân đau lắm, tuy đã
chóng khỏi thật, nhưng cũng còn phải lo ngại cho sau này.
“Con đã chọn ngày lễ Hiện Xuống để
thưa cha việc quan trọng này, cả ngày ấy con những cầu xin Chúa Thánh Thần ban
ơn soi sáng, kêu van các thánh tông đồ nguyện giúp cầu thay để con được biết mà
nói cho cha vui lòng…”
Kết quả việc cầu xin cùng Chúa Thánh
Thần là: cha ngài đã ưng thuận…
17.
Ách êm ái và gánh nhẹ nhàng
Ngày kia, chị thánh Têrêxa đố các chị
em trong dòng:
- Các chị có biết ngày lễ vui mừng của
em là ngày nào không?
Vừa hỏi xong, chị thánh đã mau mắn
trả lời ngay:
- Đó là ngày Chúa thử thách em nhiều
nhất. Đó là ngày Chúa để cho em chịu nhiều đau khổ nhất.
Một hôm kia, bà bề trên hỏi chị:
- Sáng nay, sao em vui thế?
Chị thành thật thưa lại:
- Dạ, con vừa làm được hai việc hy
sinh.
Chị thánh Têrêxa thú nhận là chị đã
tập được một thói quen rất anh hùng, đó là luôn mỉm cười. Chị nói:
- Tôi đã tập được thói quen mỉm cười
trong mọi lúc, trong mọi nơi, trong mọi trường hợp, trong mọi hoàn cảnh.
18.
Niềm tin trong nghịch cảnh
Năm 23 tuổi, Têrêxa bị thổ huyết lần
đầu vào Thứ Sáu Tuần Thánh, sau đó sức khoẻ chị dần dần phục hồi. Nhưng năm
sau, bệnh lao phổi tái phát nặng nề vào Mùa Chay. Trong những ngày sau hết, khi
sức cùng lực kiệt, chị lại được tin thân phụ vừa phải đưa vào điều trị chung với
những người điên, chịu người đời khinh miệt.
Cuối cùng, ngày 30.9.1897, chị đã
qua đời trong cơn khát nước và ngạt thở do bệnh lao phổi và loét ruột. Giờ hấp
hối, chị đã thốt lên trong nhọc mệt: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa nỡ bỏ con?”
Tiếng kêu của nỗi đau! Kêu than
nhưng vẫn cậy trông, bám víu vào Chúa, như chị nói: “Sự điên khùng của tôi
chính là hy vọng.”
Chị tự nhận mình là hy vọng một cách
điên khùng vì thấy mình chỉ bám víu vào Chúa, một điều không thể hiểu được nếu
không có niềm tin. Nhưng nếu không có niềm hy vọng đó thì chị đã phát điên lên
trước bao nghịch cảnh của cuộc đời, như chị đã viết trong nhật ký: “Nếu không
có đức tin thì tôi đã tự sát, không do dự một phút nào!”
LỄ CÁC THIÊN
THẦN HỘ THỦ
Lời Chúa: Mt 18, 1-5. 10
Khi ấy, các môn đệ đến bên Chúa
Giêsu mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời?"
Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông mà phán rằng: "Thật,
Thầy bảo thật các con: nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không
được vào Nước Trời.
Vậy ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ
này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời. Và kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ
như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy. Các con hãy coi chừng, đừng
khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này, vì Thầy bảo các con, thiên thần của
chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời."
TRUYỆN
KỂ
1.
Kẻ bé mọn trong cộng đoàn
Bài Tin Mừng hôm nay vừa nói đến trẻ
nhỏ, vừa nói đến những kẻ bé mọn trong cộng đoàn. Ai là những kẻ bé mọn trong cộng
đoàn?
Đó là những người tin vào Đức Giêsu
(Mt 18, 6), nhưng đức tin của họ còn non yếu, mong manh. Đức Giêsu đã nặng lời
với ai làm cho một kẻ bé mọn sa ngã. “Thà cột cối đá lớn vào cổ và ném nó dưới
biển còn hơn.” Rõ ràng Đức Giêsu quý những kẻ bé mọntrong cộng đoàn.
Ngài không muốn họ bị tổn thương vì
gương mù gương xấu. Câu cuối của bài Tin Mừng là một lời nhắc nhở nữa. “Anh em
chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này” (c. 10). Lý do Đức Giêsu đưa ra khá
đặc biệt: “Vì các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng thấy khuôn mặt của
Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”
2.
Người nhỏ nhất
Phá kỷ lục là ước mơ của các vận động
viên. Làm sao phá kỷ lục của quốc gia, của vùng, của châu lục và thế giới?
Để phá kỷ lục cần có thành tích vượt
hơn người đang giữ nó. Chỉ cần chạy nhanh hơn một phần ngàn giây, nhảy cao hơn
hay xa hơn một centimét, cũng đủ để làm một kỷ lục đứng vững nhiều năm bị phá đổ.
Nhưng không phải chỉ các vận động
viên mới thích phá kỷ lục. Các nước cũng tranh nhau xem ai là cường quốc về một
lãnh vực nào đó. Có vẻ cả nhân loại đều ở trong một cuộc đua tranh xem ai đứng
đầu.
Có những cuộc đua tranh lành mạnh,
thúc đẩy tiến bộ. Nhưng cũng có những cuộc đua tranh dẫn đến chiến tranh và hủy
diệt.
3.
Thiên Thần Bản Mệnh giữ gìn tôi
Một vị linh mục kể lại một chứng từ:
“Khi đó ngài làm cha sở ở một xứ đạo hẻo lánh miền quê bên Pháp, vào một đêm được
tin một người đau nặng đang hấp hối, muốn xin ngài tới xức dầu. Trời về khuya,
với bổn phận mục tử ngài ra đi làm phận sự của mình. Từ nhà xứ tới nhà người
đau, ngài phải băng qua khu rừng vắng. Khi tới khu rừng, trời đã rất tối, ngài
ngập ngừng, nhưng nghĩ lại và nhớ tới Thiên Thần Bản Mệnh, ngài cầu nguyện để Thiên
Thần cùng đi với mình. Ngài mạnh dạn và đã tới xức dầu cho người bệnh kịp thời
giờ hấp hối...
Mười năm sau, ngài được người ta
báo: Có người tử tù sắp bị hành quyết, anh ta rất khó tính và không chịu nghe bất
cứ một ai khuyên bảo. Nghe tin, ngài đã tới thăm vì lòng nhân từ mục tử. Vừa thấy
ngài, người tử tù đã muốn phản ứng xua đuổi, không muốn gặp, nhưng khi nhìn trực
diện ngài, bỗng anh ta ngừng lại và nói với ngài: “Có phải cha là cha sở họ X
không?" Ngài ngạc nhiên trả lời: “Trước đây 10 năm tôi làm cha sở ở đó,
nhưng bây giờ tôi đã đi nơi khác...
Thì ra cách đây 10 năm, người tử tù lúc đó là
tên ăn cướp giết người, đang lẩn trốn ở khu rừng mà tôi đi qua và hắn định bất
cứ gặp thấy ai, hắn sẽ giết chết để lấy quần áo của khổ chủ mà hóa trang, đánh
lừa lưới của pháp luật. Người tử tù kể lại: “Lúc đó y muốn giết tôi, nhưng thấy
bên cạnh có người thanh niên lực lưỡng, thấy không thể thắng nổi, nên y đã để
cho tôi và người thanh niên ấy đi bình an, vô sự."
Nghe người tử tù thuật lại, tôi ngạc
nhiên và sực nhớ lại lúc đó tôi dừng lại để cầu nguyện xin Thiên Thần Bản Mệnh
giúp đỡ. Như vậy, người thanh niên mà người tử tù thấy chính là Thiên Thần Bản
Mệnh của tôi, đã giữ gìn tôi."
4.
Các thiên thần hộ thủ
Mỗi người Chúa dựng nên đều có một
thiên thần giữ mình, điều đó Chúa Giê-su đã khẳng định: “Anh em hãy coi chừng,
chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn nầy; quả thật, Thầy nói cho anh em biết;
các thiên thần của họ không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”
(Mt. 18, 10).
Và thánh Bê-na-đô minh chứng: “Chúa
đã sai các thiên thần đến phục vụ các con, cắt đặt các ngài gìn giữ các con, và
cho các ngài làm quản giáo cho các con." Thánh Giê-gô-ri-ô nói: “Phẩm giá
các linh hồn cao quý biết bao, vì mỗi linh hồn đều được Thiên Chúa ban cho một
thiên thần chăm sóc." Và thánh Ghê-rô-ni-mô viết: “Chúa biết ác tâm của ma
quỷ, chúng luôn tìm cách ngăn cản không cho ai vào chỗ chúng đã mất trên thiên
đàng, nên ban cho mỗi người một thiên thần hộ thủ, để chống trả kẻ thù của phần
rỗi chúng ta."
“Ma quỷ đông đúc và độc dữ như sư tử,
ngày đêm rình chực hãm hại con người, thì Chúa cũng ban cho họ vô số thiên thần
quyền phép hơn gìn giữ bảo hộ. Ngay lúc mới sinh ra, mỗi người đều có một thiên
thần giữ mình. Dù lương hay giáo, dù lành hay dữ, ai ai cũng được Chúa thương
cho thiên thần che chở. Chẳng những Chúa cho thiên thần bảo vệ từng người, mà
còn cho các ngài gìn giữ các xã hội, các cộng đoàn, các gia đình, mọi nước, mọi
thành, mọi nơi chốn có con người trú ngụ. Như lời thánh Tô-ma tiến sĩ nói: “Có
thiên thần bảo hộ các quốc gia, dân tộc, thành thị, cộng đoàn cũng như mỗi người."
“Thiên thần hộ thủ có trách nhiệm
che chở chúng ta khỏi mọi sự dữ và gian nan khốn khó, cứu giúp chúng ta khỏi sa
ngã phạm tội, giúp chúng ta làm lành lánh dữ, nâng đỡ chúng ta trong lúc yếu đuối,
tăng thêm lòng can đảm mạnh mẽ, an ủi chúng ta trong những lúc sầu buồn đau khổ."
“Các ngài còn giúp sức chúng ta lướt
thắng các chước cám dỗ của ma quỷ, xác thịt thế gian. Và nếu chúng ta có lỡ lầm
sa ngã, các ngài nâng đỡ chúng ta ăn năn hối cải."
“Ngoài ra, các thiên thần hộ thủ
dâng lên trước tòa Chúa các việc lành phúc đức và lời cầu nguyện hằng ngày của
chúng ta, cầu thay nguyện giúp cho chúng ta được ơn lành của Chúa. Các ngài an ủi
soi sáng chúng ta trong cơn bệnh hoạn chết chóc, và bênh đỡ chúng ta trong ngày
phán xét."
“Tắt một lời, Chúa cho thiên thần hộ
thủ gìn giữ che chở chúng ta trên khắp nẻo đường và suốt đời, như thánh
Bê-na-đô nói, và bảo chúng ta hãy cám ơn Chúa, vì Người đã thương chúng ta, đồng
thời phải kính sợ, thương mến, tin tưởng thiên thần giữ mình: “Người truyền cho
thiên sứ gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. Họ hãy cảm tạ Chúa vì tình thương Người,
vì những kỳ công Người đã làm cho con cái loài người…”
“Người truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn
trên khắp nẻo đường. Lời nầy phải mang lại cho bạn bao niềm kính sợ, tôn kính
và tin tưởng: Kính sợ trước sự hiện diện, tôn kính trước lòng nhân hậu, tin tưởng
trước sự phù trợ của các ngài."
5.
Bạn đồng hành yêu thương
“Này Ta sai thiên sứ đi trước con, để
giữ gìn con khi đi đường và đưa con vào nơi Ta đã dọn sẵn!"
A. Maclaren nhận định, “Nếu Chúa sai
bạn đi trên những con đường đầy đá, Ngài sẽ cung cấp những đôi giày bền bỉ! Sai
bạn đến một nơi xa lạ, Ngài sẽ chuẩn bị một người bạn đồng hành yêu thương! Và
nếu muốn cứu độ chúng ta đời đời, Ngài ban Con Một!"
Lời Chúa ngày lễ Thiên Thần Bản Mệnh
cho thấy tình yêu của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta bao la như trời bể.
Giáo lý Hội Thánh dạy, để canh giữ hồn xác chúng ta từ khi chào đời cho đến
ngày tắt hơi, Chúa Cha ban cho mỗi người chúng ta một người ‘bạn đồng hành yêu
thương’ như một vệ sĩ vô hình.
6.
Kẻ bé mọn trong cộng đoàn
Bài Tin Mừng hôm nay vừa nói đến trẻ
nhỏ, vừa nói đến những kẻ bé mọn trong cộng đoàn. Ai là những kẻ bé mọn trong cộng
đoàn?
Đó là những người tin vào Đức Giêsu
(Mt 18, 6), nhưng đức tin của họ còn non yếu, mong manh. Đức Giêsu đã nặng lời
với ai làm cho một kẻ bé mọn sa ngã. “Thà cột cối đá lớn vào cổ và ném nó dưới
biển còn hơn.”
Rõ ràng Đức Giêsu quý những kẻ bé mọn
trong cộng đoàn. Ngài không muốn họ bị tổn thương vì gương mù gương xấu. Câu cuối
của bài Tin Mừng là một lời nhắc nhở nữa.
“Anh em chớ khinh một ai trong những
kẻ bé mọn này” (c. 10). Lý do Đức Giêsu đưa ra khá đặc biệt: “Vì các thiên thần
của họ ở trên trời không ngừng thấy khuôn mặt của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”
Như thế ngay cả những người bé mọn
cũng có thiên thần riêng. Người bé mọn có thể lầm lạc, sa ngã, nhưng không vì
thế mà họ bị coi thường hay khinh miệt.
Thiên thần của họ vẫn ở gần Thiên
Chúa để chuyển cầu cho họ. Thật thú vị khi người Kitô hữu tin mình có một thiên
thần hộ thủ. Thánh Basiliô viết: “Mỗi tín hữu đều có một thiên thần hộ thủ, để
bảo trợ và hướng dẫn đến sự sống đời đời.”
Vị thiên thần này vừa được phúc
chiêm ngưỡng Thiên Chúa, vừa đồng hành suốt đời với từng người cho đến nơi quê
thật. Thiên thần hộ thủ là một quà tặng của lòng nhân hậu Chúa.
Là sứ giả được Chúa sai, thiên thần
là sự hiện diện của Chúa với từng người chúng ta. Thiên thần đã bảo vệ ông Lót
(St 19), đã cứu Agar và con của bà (St 21, 17), đã giữ tay Abraham không cho cụ
giết con (St 22, 11).
Một vị thiên thần ban đêm đã cứu
Phêrô khỏi tù ngục (Cv 12, 15). Như thế thiên thần là bạn đường bảo vệ chúng ta
khỏi sự dữ. Khi sống trong một bầu khí vắng bóng Thiên Chúa, con người khó tin
vào những thực tại vô hình.
7.
Thiên Thần Bản Mệnh giữ gìn tôi
Một Cha sở miền quê bên Pháp thuật lại
công chuyện này:
Khi đó ngài đang ở một xứ đạo hẻo
lánh. Một đêm kia được tin một người đau nặng, đang hấp hối, muốn xin Ngài tới
xức dầu. Trời về khuya, với bổn phận mục tử Ngài ra đi làm phận sự của mình. Từ
nhà xứ tới nhà người đau, Ngài phải băng qua khu rừng vắng. Khi tới khu rừng,
trời đã rất tối, Ngài ngập ngừng, nhưng nghĩ lại và nhớ tới Thiên thần Hộ Thủ,
Ngài cầu nguyện để Thiên Thần cùng đi với Ngài. Ngài mạnh dạn và đã tới xức dầu
cho người bệnh kịp thời giờ hấp hối.
Câu chuyện đã qua 10 năm rồi, nếu
không có biến cố mới này thì nó đã rơi vào quên lãng:
Một tử tù sắp bị hành quyết, anh ta
rất khó tính và không chịu nghe bất cử một ai. Người ta báo tin cho ngài: có người
tử tù sắp bị hành quyết. Vì là Cha sở địa phương, ngài đến nhà tù thăm viếng.
Nhưng vừa thấy bóng linh mục, người tử tù phản ứng và từ chối không muốn gặp
ngài, nhưng bỗng anh ta ngừng lại và nói với ngài: " Có phải cha là cha sở
họ X không?” Vị linh mục ngạc nhiên trả lời: "Trước đây 10 năm tôi làm Cha
sở ở họ đó, nhưng bây giờ tôi đã đi nơi khác.”
Thì ra cách đây 10 năm, người tử tù
lúc đó là tên ăn cướp giết người bị tầm nã, đang lẩn trốn ở khu rừng mà ngài đi
qua. Hắn dự định sẽ giết chết bất cứ khách bộ hành nào băng qua đoạn đường đó,
để lấy quần áo của khổ chủ mà hóa trang, và đánh lừa lưới của pháp luật. Người
tử tù kể lại: "Lúc đó y muốn giết vị linh mục, nhưng bên cạnh ngài có một
thanh niên lực lưỡng. Thấy không thể thắng nổi, nên y đã để cho ngài và người
thanh niên ấy đi bình an, vô sự.”
Vị linh mục kết luận: "Nghe người
tử tù thuật lại, tôi ngạc nhiên hết sức. Nhưng tôi chợt nhớ ra rằng, lúc đó,
tôi có dừng lại một lúc để cầu nguyện xin Thiên thần Hộ Thủ giúp đỡ. Và như vậy,
người thanh niên mà người tử tù thấy chính là Thiên thần Hộ Thủ của tôi, đã giữ
gìn, bảo vệ tôi qua cơn nguy hiểm.”
8.
Lịch sử lễ kính các thiên thần hộ thủ
Lễ nhớ các Thiên Thần Hộ Thủ bắt nguồn
từ năm 1411: một lễ được lập vào ngày này ở Valencia (Tây Ban Nha) để tôn kính
vị thiên thần bảo vệ của thành phố.
Năm 1590, Đức Giáo Hoàng Sixte V phê
chuẩn cho Bồ Đào Nha một bản kinh phụng vụ riêng để kính các thiên thần hộ thủ,
và năm 1608, Đức Giáo Hoàng Phaolô V qui định lễ này trong lịch Rôma phổ quát,
mừng vào ngày đầu tiên không có lễ nào sau lễ thánh Micae.
Vì thế lễ nhớ các thiên thần hộ thủ
ngày nay mang ý nghĩa mở rộng lễ kính Tổng lãnh thiên thần Micae.
9.
Những Câu Chuyện Thực Tế Về Thiên Thần Hộ Mệnh
Trong cuộc sống, có rất nhiều câu
chuyện kỳ diệu về sự xuất hiện và tác động của Thiên Thần Hộ Mệnh. Những câu
chuyện này không chỉ giúp chúng ta tin vào sự hiện diện của các sinh linh vô
hình mà còn truyền cảm hứng, niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Dưới đây là một số câu chuyện thực tế về Thiên Thần Hộ Mệnh mà nhiều người đã
trải qua:
- Câu chuyện về người phụ nữ thoát
khỏi tai nạn giao thông: Một người phụ nữ kể lại rằng, trong một lần lái xe
trên đường cao tốc, cô bất ngờ gặp phải sự cố khi xe bị mất lái. Tuy nhiên,
ngay khi chiếc xe chuẩn bị lao vào rào chắn, cô cảm thấy có một lực vô hình kéo
chiếc xe trở lại đúng quỹ đạo, giúp cô tránh khỏi tai nạn nghiêm trọng. Cô tin
rằng đó chính là sự bảo vệ của Thiên Thần Hộ Mệnh.
- Câu chuyện về sự xuất hiện của
Thiên Thần trong giấc mơ: Một người đàn ông chia sẻ rằng sau khi mất đi người
thân, anh thường cảm thấy rất buồn và mất phương hướng. Vào một đêm, anh mơ thấy
người thân đã khuất, người này nói rằng anh sẽ không bao giờ cô đơn và luôn có
một Thiên Thần Hộ Mệnh bảo vệ anh. Từ giấc mơ đó, anh cảm nhận được sự an ủi và
niềm tin vào những điều tốt đẹp sẽ đến.
- Câu chuyện về sự thay đổi trong cuộc
sống: Một cô gái trẻ chia sẻ rằng sau khi cầu nguyện và tìm sự giúp đỡ từ Thiên
Thần Hộ Mệnh, cuộc sống của cô đã thay đổi hoàn toàn. Cô nhận thấy những cơ hội
công việc mới đến với mình, các mối quan hệ gia đình trở nên tốt đẹp hơn, và cô
cảm nhận được sự hỗ trợ vô hình trong mỗi quyết định quan trọng của mình.
- Câu chuyện về sự cứu rỗi trong tai
nạn: Một người đàn ông đã kể lại câu chuyện khi anh bị tai nạn giao thông
nghiêm trọng. Khi chiếc xe lật nhào và anh bất tỉnh, anh cảm nhận như có ai đó
nâng anh lên và bảo vệ anh khỏi những chấn thương nghiêm trọng. Sau khi tỉnh dậy
tại bệnh viện, anh tin chắc rằng Thiên Thần Hộ Mệnh đã cứu anh trong giây phút
nguy hiểm đó.
Những câu chuyện này chỉ là một
trong vô vàn những câu chuyện mà người ta kể lại về sự hiện diện của Thiên Thần
Hộ Mệnh trong cuộc sống. Mỗi người đều có những trải nghiệm riêng, nhưng điểm
chung là sự an lành, bảo vệ và yêu thương mà Thiên Thần mang đến. Những câu
chuyện này giúp chúng ta tin tưởng hơn vào sự kỳ diệu và ý nghĩa sâu sắc của cuộc
sống.
LỄ KÍNH - LỄ
ĐỨC MẸ MÂN CÔI
Lời Chúa: Lc 1, 26-38
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Luca.
Khi ấy, Thiên Thần Gabriel được Chúa
sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn
với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên
thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào Trinh Nữ đầy ơn phước,
Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ." Nghe lời đó, Trinh Nữ bối rối và tự hỏi lời
chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn
nghĩa với Chúa. Này Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là
Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ
ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà
Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận.
Nhưng Maria thưa với thiên thần:
"Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?"
Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần
sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Đấng
trinh nữ sinh ra sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave
chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang
thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà
Chúa không làm được."
Maria liền thưa: "Này tôi là
tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền." Và thiên thần cáo biệt
trinh nữ. Đó là lời Chúa.
TRUYỆN
KỂ
1.
Gốc tích kinh Mân Côi
Căn cứ vào các nguồn tài liệu đáng
tin nhất của Thánh Louis Marie Grignion de Monfort, trong cuốn “Bí Mật Kinh Mân
Côi”, thì chính Đức Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy Kinh Mân Côi cho thánh
Đaminh. Vào thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi
thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà
thuyết Anbi, thuyết cho rằng đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện
và Ác.
Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu
anh dũng chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường,
đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ bảo
thánh Đa-Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác. Từ đó, thánh
Đaminh đã là sứ giả của Đức Mẹ và là tông đồ tiên khởi truyền bá Kinh Mân Côi từ
năm 1214.
Và sự kiện cuối cùng, ngày Chúa nhật
07/10/1571, hải quân Công Giáo thắng hải quân Thổ nhĩ kỳ một trận thủy chiến
oanh liệt ở vịnh Lepante. Tin chiến thắng được báo về Rô-ma vào Chúa nhật đầu
tháng Mười, giữa lúc các hội viên Mân Côi đang rước kiệu trong thành phố. Để tạ
ơn Đức Mẹ đã nghe lời cầu khẩn của các tín hữu, Đức Giáo Hoàng Pi-ô V, ngày
5.3.1572 truyền mỗi năm phải làm một lễ kính Đức Bà chiến thắng.
Ngày 1.4.1573, Đức Giáo Hoàng
Ghê-go-ri-ô XIII đặt tên cho lễ này là lễ Mân Côi và truyền phải cử hành trong
các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi vào Chúa nhật đầu tháng Mười.
Năm 1716, Đức Giáo Hoàng Clément XI truyền cho toàn thể Hội thánh phải long trọng
mừng lễ này. Đến năm 1913, Đức Thánh Piô X ấn định mừng lễ Mẹ Mân Côi vào ngày
mồng 7 tháng 10.
Rồi năm 1917, trong cả sáu lần hiện
ra tại Fatima với ba em thiếu nhi Lucia, Phanxicô và Giaxinta, Đức Mẹ đã kêu gọi
các em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày. Trong lần hiện ra cuối cùng Mẹ đã tự xưng
“Ta là Đức Mẹ Mân Côi."
2.
Trọng lượng của kinh Mân Côi
Alphonso từ ngày được tôn lên làm
vua nước Galicia, đã tỏ ra rất oai phong lẫm liệt. Nhà vua đi đâu cũng có các
quan văn võ tả hữu theo hầu. Thần dân của vua hầu hết là những người công giáo
ngoan hiền đạo hạnh. Biết thế nên muốn lấy lòng dân, vua luôn tỏ ra mình là người
đạo đức, có lòng kính mến Đức Mẹ Mân Côi, để triều đình và thần dân bắt chước.
Cho nên dụng ý nhà vua là làm thế nào cho thần dân biết mình là người năng lần
chuỗi Mân Côi. Vua cho đặt một cỗ tràng hạt thật dài để quấn vào thắt lưng, mỗi
khi vua đi ra ngoài. Dân chúng ai cũng trầm trồ khen ngợi nhà vua rất ngoan đạo.
Cho nên để lấy lòng vua, các quan cũng như thần dân, ai cũng mang tràng hạt, và
cũng bắt chước vua năng lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ. Nhưng than ôi, thực tế
phũ phàng thay! Vua chỉ giả hình vậy thôi, chứ chẳng bao giờ ông đọc kinh cầu
nguyện gì cả, chỉ lo ăn chơi trác táng.
Một ngày kia, vua lâm bệnh nặng,
trong một thị kiến vua thấy mình bị đưa đến toà phán xét. Ma quỷ vây chung
quanh tố cáo vua các tội tầy đình, và chúng chực sẵn để đầy vua xuống hoả ngục.
Đang lúc Chúa Giêsu Đấng Thẩm Phán Tối Cao, sắp sửa luận phạt vua, thì Đức Mẹ
xuất hiện biện hộ cho vua. Mẹ nói với Chúa Giêsu: Con hãy thư thả để Mẹ xem xét
lại vụ này.
Đức Mẹ liền truyền cho các thiên thần
đem các tội vua đã phạm khi còn sống để trên một bàn cân, và cỗ tràng hạt vua
luôn luôn đeo bên mình, cùng các kinh Mân Côi đã được đọc do gương sáng đeo
tràng hạt của vua, trên một bàn cân khác. Kết quả là cỗ tràng hạt nặng hơn các
tội vua đã phạm.
Rồi Đức Mẹ nhìn vua một cách trìu mến
và nói: để tưởng thưởng một chút công của con đã dành cho Mẹ, bằng cách đeo
tràng hạt Mân Côi, Mẹ đã xin Con Mẹ cho con được ơn rất lớn lao là khỏi sa hỏa
ngục. Con sẽ được sống thêm mấy năm nữa để làm việc đền tội. Nhà vua tỉnh lại
kêu lên: “Ngợi khen chuỗi hạt Mân Côi của ĐứcTrinh Nữ Maria! Nhờ đó trẫm được
giải thoát khỏi sa hoả ngục." Sau khi bình phục, nhà vua đã sốt sắng truyền
bá kinh Mân Côi, và lần chuỗi Mân Côi suốt ngày.
3.
Thần lực kinh Mân Côi
Ngoài những ơn lạ Đức Mẹ ban nhờ thần
lực của kinh Mân côi về phần hồn cũng như phần xác, * Mẹ Maria phán dạy Chân
phước Alanô: “Bất cứ ai trung thành đọc kinh Mân côi và suy ngắm những mầu nhiệm
sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong
giờ họ chết. Điều đó rất dễ đối với Mẹ, vì Mẹ là Mẹ Vua Trời và Người gọi Mẹ là
Đấng đầy ơn. Và vì đầy ơn, Mẹ có thể ban phát ơn phúc cho các con cái dấu yêu của
Mẹ."
- Thánh Đaminh: Sau thánh lễ và kinh
Phụng vụ, không có sự tôn kính nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người bằng sốt
sắng đọc kinh Mân côi.
- Chân phúc Alanô: Kinh Kính mừng là
một cầu vòng trên trời, là một dấu chỉ lòng thương xót và ân sủng Thiên Chúa
ban cho thế giới. Mẹ muốn dân chúng có lòng sùng kính kinh Mân côi được ơn
thánh và phúc lành của Con Mẹ torng cuộc sống và trong giờ họ chết. Mẹ muốn họ
thoát khỏi mọi ràng buộc, để họ nên giống các vua đội triều thiên, cầm phủ việt
và hưởng phúc vinh quang vĩnh cửu.
- Thánh Anphong: Nhờ kinh Mân côi,
biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trong nẻo trọn
lành. Biết bao người nhờ kinh Mân côi đã được ơn chết lành và hưởng phúc trường
sinh.
- Đức Gioan XXIII: Chớ gì kinh Mân
côi gia đình là một hương thơm sự an bình cho gia đình các con. Ước chi con cái
của các con chạy đến với Mẹ maria để gìn giữ sự trong trắng thơ ngây. Ước chi
các bạn thanh thiếu niên học được nơi Đức Mẹ sự phấn khởi làm việc thiện và bảo
đảm sự thanh khiết của họ. Ước chi người đau khổ hy vọng được niềm an ủi nơi Đức
Nữ Trinh.
- Đức Phaolô VI: Kinh Mân côi đạo đức
và phổ cập hiện ra như một chuỗi cứu độ treo trên cánh tay Chúa Cứu Thế và Mẹ
Thánh Người, và do đó phát ra mọi ơn lành cho chúng ta và mọi niềm hy vọng đến
với chúng ta.
- Đức Gioan Phaolô II: Trong những
chục kinh Mân côi, tấm lòng chúng ta có thể hái lượm được những sự kiện làm
thành đời sống cá nhân, gia đình, dân tộc, giáo hội và thế giới. Đó là những vấn
đề cá nhân hay người thân cận, người thân quyến chúng ta. Như vậy, kinh Mân côi
hoà nhịp đời sống con người.
4.
Đến với Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria
Dưới thời Hitler, Đức quốc xã đã bắt
không biết bao nhiêu giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và giáo dân tập trung vào các trại,
mà người ta gọi là “lò sát sinh." Linh mục Tito Brandsma, dòng Camêlô cũng
bị bắt tập trung taị trại Dachau, gần Muechen, Tây Đức. Ngài đã bị án hành quyết
ngày 26/7/1942. Biết mình sắp chết, do một cô y tá Đức quốc xã, chuyên môn làm
cai nghề độc ác là chích thuốc độc cho tử tội. Cha đã chuẩn bị sẵn, lợi dụng
lúc cô đang chích thuốc độc cho mình, thì ngài đưa cho cô xâu chuỗi Mân Côi, mà
cha đã làm trong tù để kỷ niệm, hoặc sau này, nhờ cô là nhân chứng, để đem chuỗi
hạt gửi lại cho người thân trong gia đình..
Cha nói với cô y tá: cô hãy dùng xâu
chuỗi này để cầu nguyện. Cô ta đáp: “Tôi không cần, vì tôi không biết cầu nguyện.”
Cha nói: “Cô cứ thử xem đi. Ít là cô hãy đọc câu: “Cầu cho chúng tôi là kẻ có tội
khi nay và trong giờ lâm tử.” Đó là những lời cuối cùng của Linh Mục Brandsma
trước khi chết. Dù vậy, cô cũng cứ cầm lấy chuỗi hạt Mân Côi mà vị tử tù cho để
làm kỷ niệm.
Sau khi chế độ Đức quốc xã sụp đổ,
cô ý tá phải đổi tên, đổi họ, đi sinh sống tại một vùng xa xôi hẻo lánh khác, để
khỏi bị cảnh sát quốc tế lùng bắt, vì cô đã góp phần sát hại hàng ngàn tù nhân
dưới chế độ Đức quốc xã. Chính nhờ xâu chuỗi Mân Côi của linh mục Brandsma, mà
cô ý tá tìm lại được đức tin.
Năm 1955, khi Tòa Thánh lập hồ sơ
phong Chân Phước cho cha Brandsma, cô cảm thấy hối hận, và quá cảm động, cô đã
tự ý ra trình diện với chính quyền sở tại, thuật lại tất cả những gì đã xảy ra
10 ngày cuối cùng của cha Bradsma, để bổ túc vào hồ sơ phong Chân Phước.
5.
Kinh Mân Côi, lời kinh của nhà bác học
Trên một chuyến xe lửa về Paris, một
sinh viên trẻ tuổi ngồi bên một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển
bánh, cụ già rút trong túi áo ra một chuỗi tràng hạt và từ từ chìm đắm trong cầu
nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi
lâu, xem chừng như không còn đủ kiên nhẫn nữa, anh ta mới lên tiếng:
- Thưa ông, nếu tôi không lầm thì
ông vẫn còn tin những chuyện nhảm nhí ấy chứ?
Cụ già điềm nhiên trả lời?
- Đúng thế, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu
không tin sao?
Người sinh viên cười một cách ngạo mạn
và quả quyết:
- Lúc nhỏ tôi tin, nhưng bây giờ làm
sao tôi có thể tin những chuyện ấy nữa. Khoa học đã thực sự mở mắt cho tôi. Ông
cứ tin tôi đi, hạy quăng chuỗi tràng hạt ấy đi, và hãy học hỏi những khám phá mới.
Ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến giờ đều là mê tín dị đoan cả.
Cụ gia bình tĩnh hỏi người sinh
viên:
- Cậu vừa nói về những khám phá mới
của khoa học. Cậu có cách nào giúp tôi hiểu được điều nầy không?
Người sinh viên hăng hái đề nghị:
- Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi
đến cho ông một quyển sách. Ông sẽ tha hồ đi vào thế giới của khoa học.
Cụ già từ từ rút trong túi áo ra một
thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng
xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy
có ghi: “Louis Pasteur viện nghiên cứu khoa học Paris."
6.
Phương thuốc cho cả xác lẫn hồn
Cha Patrick Joseph Gillard-Peyton là
vị Linh Mục tông đồ của Tràng Chuỗi Mân Côi. Cha chào đời ngày 9-1-1909 tại
County Mayo trong gia đình Công giáo nghèo bên nước Ái-nhĩ-lan. Năm 18 tuổi,
Patrick cùng với bào huynh Tom sang Hoa Kỳ tìm kế sinh nhai. Nhưng rồi Chúa gọi,
Patrick từ giã anh, gia nhập chủng viện.
Lúc gần chịu chức Linh mục, thầy
Patrick bỗng lâm bệnh lao phổi trầm trọng. Các bác sĩ cho biết vô phương cứu chữa!
Giấc mơ Linh mục trong phút chốc tan thành mây khói.. Thầy Patrick chán nản
buông tay bỏ cuộc. Một vị Linh Mục lão thành bất ngờ đến thăm và nói với Thầy:
Hãy kêu xin Đức Mẹ MARIA chữa lành bệnh. Đức Mẹ là nguồn sự sống. Hãy tin tưởng
nơi Đức Mẹ và yêu mến Đức Mẹ như Người Mẹ thật. Hãy kiên trì van nài và tin chắc
chắn Đức Mẹ sẽ chữa lành. Đức Mẹ sẽ tỏ ra vô cùng nhân hậu với Thầy. Chính vì
chúng ta tin tưởng quá ít nơi Đức Mẹ nên Đức Mẹ không ban cho chúng ta nhiều
ơn!
Nghe vị Linh mục lão thành nói thế,
Thầy Patrick bỗng nhớ lại chuỗi ngày niên thiếu nơi quê hương Ái-nhĩ-lan thân
yêu. Thầy cũng nhớ đến “liều thuốc thần” hiền mẫu Thầy vẫn dùng trong cơn gian
nan khốn khó. Đó là Tràng Chuỗi Mân Côi. Cứ chiều đến, cả gia đình tụ họp và
cùng nhau sốt sắng lần hạt Mân Côi.
Giờ đây, vì hết hy vọng nơi các
phương thuốc chữa trị trần gian, Thầy Patrick hướng về Trời Cao và kêu van Hiền
Mẫu MARIA Thiên Quốc qua Kinh mân côi. Và Thầy được lành bệnh thật.
Năm 1941 - 32 tuổi - Thầy Patrick
Peyton hân hoan lãnh thiên chức Linh mục trong dòng Thánh Giá. Từ đó Cha xác
tín rằng: Thế giới cầu nguyện là thế giới hòa bình. Gia đình cầu nguyện là gia
đình hiệp nhất. Nếu mỗi người, mỗi gia đình dành ít thời gian trong ngày để đọc
Kinh mân côi thì các tổ ấm sẽ trở thành vườn địa đàng.
7.
Sự tích kinh Mân Côi
Trong cuốn Bí Mật Kinh Mân Côi,
Thánh Luy Maria Mongpho thuật lại sự tích Kinh Mân Côi như sau:
Vào cuối thế kỷ 12, bè rối Albigensê
đang lan tràn và đời sống các tín hữu bị sa sút trầm trọng. Một lần Cha Thánh
Đaminh đến một khu rừng gần thành phố Toulouse để ăn chay, đánh tội, than khóc
và cầu nguyện liên lỉ trong ba ngày để xin Chúa cho các tội nhân ơn sám hối và
cho những người theo bè rối Albigensê trở lại với đức tin chân thật. Thánh nhân
đã bị ngất đi vì kiệt sức. Lúc ấy Đức Mẹ cùng với ba thiên thần đã hiện ra với
ngài và nói:
- Đaminh yêu dấu, con có biết Chúa
Ba Ngôi Chí Thánh muốn dùng khí giới nào để canh tân thế giới không?
Thánh Đaminh đáp:
- Thưa Mẹ, Mẹ biết rõ hơn con, vì liền
sau Chúa Giêsu Con Mẹ, Mẹ luôn là khí cụ chính yếu cho phần rỗi chúng con.
Đức Mẹ bấy giờ dạy Thánh Đaminh:
- Mẹ muốn cho con biết rằng trong cuộc
chiến này, khí giới phải dùng đến là Ca Vịnh Thiên Thần, viên đá nền tảng của
Tân Ước. Vì vậy, nếu con muốn thuyết giảng cho các linh hồn cứng lòng để đem họ
về với Chúa, con hãy rao giảng Ca Vịnh này của Mẹ.
Thánh nhân vui mừng chỗi dậy lòng đầy
nhiệt thành muốn hoán cải dân chúng vùng ấy. Ngài liền đi thẳng đến Vương Cung
Thánh Đường. Ngay lúc ấy, các thiên thần vô hình đã đổ chuông nhà thờ mời gọi
dân chúng đến để nghe thánh nhân giảng.
Khi thánh nhân vừa lên tiếng giảng dạy,
một cơn bão lớn xảy ra, đất chuyển rung, trời tối lại, sấm chớp nổ ầm ầm làm
kinh thiên động địa. Dân chúng thấy bức ảnh Đức Mẹ treo ở một nơi tôn nghiêm
giơ tay lên trời ba lần như kêu mời Chúa báo oán nếu họ không biết hối cải và
tìm đến nương tựa nơi Mẹ Thiên Chúa. Thánh Mongpho cho rằng Chúa đã cho những
hiện tượng này xảy ra khi Thánh Đaminh bắt đầu rao giảng về Kinh Mân Côi tương
tự như khi Chúa ban Thập Điều cho Môisen năm xưa, để chứng thực tính cách quan
trọng của Kinh Mân Côi trong chương trình cứu độ nhân loại.
8.
Lời kinh của tuổi thơ
Mừng lễ Mẹ Mân côi, chúng ta cùng
nhau tìm hiểu về những tình cảm Mẹ đã dành cho tuổi thơ. Trước hết chúng ta sẽ
đưa ra một vài sự kiện lịch sử.
Sự kiện thứ nhất, đó là biến cố Lộ Đức.
Tại đây Mẹ đã hiện ra với một cô bé
mười bốn tuổi, tên là Bernadette. Mẹ bảo cô bé lần hạt và Mẹ cùng đọc với cô bé
kinh Lạy Cha và kinh Sáng Danh. Đồng thời, Mẹ còn tỏ cho chúng ta thấy Mẹ là Đấng
Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Sự kiện thứ hai, đó là biến cố
Phatima.
Tại đây Mẹ đã hiện ra với ba em nhỏ:
Lucia mười tuổi, Giaxinta bảy tuổi và Phanxicô bảy tuổi. Đồng thời, qua ba em
nhỏ này, Mẹ đã gửi đến mỗi người chúng ta ba mệnh lệnh: Hãy tôn sùng trái tim Mẹ,
hãy cải thiện đời sống và hãy siêng năng lần hạt Mân côi.
Nếu ngày xưa Chúa đã yêu thương các
trẻ nhỏ, bởi vì các em vừa đơn sơ và trong trắng, lại vừa tin tưởng và phó
thác, thì bây giờ Mẹ cũng đã dành cho các em một tình yêu thương đậm đà, bởi vì
các em đã mau mắn và quảng đại đáp trả lời khuyên nhủ của Mẹ.
Bernadette đã lần hạt với Mẹ và sau
này vào tu trong một nhà dòng, sống một cuộc đời đạo đức và thánh thiện. Còn ba
em nhỏ ở Phatima cũng thế.
Mẹ bảo:
- Phanxicô sẽ được lên thiên đàng
nhưng phải lần hạt nhiều trước đã.
Và Phanxicô đã thưa lên:
- Lạy Mẹ, Mẹ muốn con lần hạt bao
nhiêu cũng được.
Từ đó, không những lần hạt với hai
em kia, mà cậu bé còn lần hạt riêng một mình nữa.
Lắm khi đang chơi với bạn, cậu bé lẻn
đi lần hạt. Được hỏi tại sao thì cậu bé trả lời:
- Đức Mẹ bảo em phải lần hạt nhiều
cơ mà.
Còn Giaxintha cũng vậy. Sau khi được
Đức Mẹ hiện ra, em đã về nhà và nói với má:
- Má à, hôm nay con đã được nhìn thấy
Đức Mẹ.
Bà mẹ bảo:
- Con đã là thánh đâu mà được nhìn
thấy Đức Mẹ.
Rồi em xin phép má đi lần hạt với
anh Phanxicô, bởi vì Đức Mẹ bảo:
- Chúng con phải lần hạt mỗi ngày.
Nhất là Lucia, em thường đứng lên lần
hạt mỗi khi Đức Mẹ hiện ra. Sau khi được ơn nhìn thấy Đức Mẹ, em gia nhập phong
trào Phatima để cùng với mọi người chống lại với những kẻ ghét đạo. Em cũng thường
lần hạt chung với mọi người để suy gẫm về Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Sau cùng, em
đã dâng hiến trọn cuộc đời mình trong dòng kín.
9.
Mẹ thắng con rồi
Giovanni Tomasi là một người vô thần,
cực đoan và quá khích với lòng sùng kính Đức Mẹ nơi mấy người đồng hương nước
Ý.
Khi biết mình bị ung thư nan y, anh
rơi vào khủng hoảng đến tuyệt vọng. Một người bạn thân rủ anh qua Lộ đức hành
hương xin ơn Đức Mẹ. Vì nể bạn nên anh cũng đi dù chẳng tin một chút nào.
Anh trở về chẳng hề thuyên giảm,
càng về sau lại càng đau đớn. Người bạn nói anh hãy thành tâm xin ơn Đức Mẹ.
Anh đành nhận lời nhưng lại đến Lộ đức với một ý đồ khác. Sau nhiều lần uống nước
ở chiếc giếng nơi hang đá Đức Mẹ mà chỉ thấy bệnh nặng ra, đau đớn hơn, Tomasi
rơi vào tình trạng phẫn uất bởi tuyệt vọng.
Ngày 14.11.1987, anh mua một khẩu
súng lục mới toanh, lắp đầy ổ đạn, đến trước hang Lộ đức, hét to lên một lời
thách thức để ai cũng phải nghe thấy: “Nếu bà muốn tôi tin vào Thiên Chúa của
bà, bà hãy làm phép lạ chữa lành căn bệnh ung thư của tôi. Bằng không, tôi sẽ
dùng khẩu súng này để tự sát ngay tại đây, để cho cả thế giới đều biết bà chẳng
có quyền năng gì, rằng đây chỉ là một trò bịp.”
Thinh lặng… căng thẳng, ai cũng thấy
sợ và có người cầu nguyện cho anh.
Anh đưa súng vào màng tang và bóp
cò. Đạn không nổ! Anh kinh ngạc tháo ổ đạn ra, thấy mọi sự bình thường. Sao lại
không nổ vậy?
Rồi anh lại lên đạn và đưa súng lên
bóp cò một lần nữa. Một tiếng cạch khô khốc, đạn vẫn không nổ. Lúc đó anh không
còn tự chủ được nữa, hai chân quỵ xuống, bàn tay buông rơi khẩu súng. Anh ngước
nhìn lên Mẹ, thổn thức hét lớn: “Mẹ ơi, Mẹ đã thắng con rồi!”
Tomasi mang căn bệnh trở về nhà
nhưng với một tâm hồn đầy sức sống mới. Rồi anh đi khắp nơi để diễn thuyết, viết
thư cho những người trong cảnh tuyệt vọng như mình để khích lệ, ủi an và mời gọi
họ tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria.
Tình yêu của Đức Mẹ đã chiến thắng
và đem lại niềm vui và bình an cho một tâm hồn. Tình yêu đó cũng không thể ngồi
yên nhìn cả thế giới hôm nay ngụp lặn trong hận thù, máu lửa, bóng tối của tội
lỗi.
10.
Lời kinh chiến thắng sợ hãi
Đức Cha Dupanloup, một viện sĩ thời
danh của Pháp, tác giả cuốn ‘Lettres sur l’éducation des filles’, thường hay nhắc
lại câu chuyện này:
Khi mới làm linh mục, ngài thường dạy
các em nhỏ chuẩn bị rước lễ lần đầu là nếu mỗi ngày đọc ba kinh Kính Mừng dâng
mình cho Đức Mẹ, và giữ cho đến chết, thì Đức Mẹ sẽ không bỏ rơi trong giờ phút
sau cùng.
Sau này khi ngài làm Giám mục thì có
cô con gái duy nhất của một vị tướng bị mắc bịnh ung thư lúc còn trẻ. Cô đã
phát bệnh sau khi sinh đứa con đầu lòng, năm 20 tuổi. Cả gia đình không biết phải
báo tin này như thế nào cho cô nên mới nhờ Đức Cha báo tin và giúp cô dọn mình
chết lành. Ngài nhận lời nhưng cũng thấy bối rối vì không biết phải bắt đầu như
thế nào. Bước vào phòng bệnh nhân, ngài hỏi:
- Chúa định cho con phải đau đớn quá
nhỉ?!
Nhưng bệnh nhân tươi cười và hỏi lại:
- Đức Cha có tin chắc con được lên
thiên đàng không?
Đức Cha trả lời:
- Cha hy vọng Chúa sẽ cho con lên
thiên đàng.
Bệnh nhân lại nói:
- Đức Cha thì hy vọng, còn con thì
tin chắc là con sẽ được lên thiên đàng.
- Làm sao mà con lại dám tin chắc là
con được lên thiên đàng?”
- Thì chính Đức Cha đã dạy con mà.
Đức Cha ngạc nhiên:
- Cha đã dạy con khi nào?
Cô trả lời:
- Khi con học lớp giáo lý chuẩn bị
xưng tội rước lễ lần đầu, Đức Cha đã dạy chúng con nếu mỗi ngày đọc ba kinh
Kính Mừng, và dâng mình cho Đức Mẹ và giữ thói quen này cho đến chết thì chắc
chắn là Đức Mẹ sẽ không bao giờ bỏ chúng con.
Con đã giữ thói quen đọc ba kinh
Kính Mừng mỗi ngày; đặc biệt, từ ngày lập gia đình, con còn đọc thêm mỗi ngày
năm chục kinh. Mỗi ngày con nói với Đức Mẹ năm mươi lần ‘Thánh Maria, Đức Mẹ
Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử’ thì làm
sao mà Đức Mẹ bỏ con được?
Và Đức Giám mục Dupanloup kết luận:
- Thay vì tôi yên ủi cô thì cô lại
yên ủi tôi.
Đúng thế, khi đọc kinh Mân côi, tôi
còn gì phải lo âu khi ở bên tôi có ‘Đấng toàn năng bởi lời cầu nguyện’.
11.
Lời kinh chữa lành tâm hồn
Ở nước Tây Ban Nha, có một người phạm
tội như uống nước lã! Không kể tội rối đạo, tội nào cũng là môn sở trường của
ông. Tệ hơn cả, ông lại thích phạm những tội mà ông biết rõ là làm đau lòng
Chúa nhất!
Ðến tuổi già lụ khụ, ông lâm trọng bệnh,
nhưng tuyệt nhiên không hề có một ý nghĩ nào trở lại cùng Chúa….
Trong một đêm thức trắng, ông thấy Ðức
Nữ Vương trên trời hiện ra gần giường ông, nhìn ông bằng đôi mắt thùy mị, nhân
từ và thương xót, rồi biến đi mà không nói nửa lời.
Lúc đó, bệnh nhân mới nhớ cuộc đời đầy
tội lỗi của mình. Nhìn về dĩ vãng đen tối, ông phiền sầu lo lắng nước mắt trào
ra, nếu không vì yếu liệt, ông đã hối hả chạy đi gặp linh mục để xưng tội.
Sáng hôm sau, ông vội cho người đi mời
linh mục. Chính cha Nieremberg, linh mục Dòng Tên, là tác giả chuyện này, đã được
cử đến giúp ông. Tội nhân đã xưng thú một cách rõ ràng tỉ mỉ hết mọi tội lâu tới
3 giờ. Cha giải tội phải sửng sốt vì linh hồn ông được ơn soi sáng và lòng thống
hối tuyệt vời như vậy.
Xưng tội xong, ông khấn hứa với Chúa
trước mặt cha:
- Nếu Chúa cho con bình phục, con sẽ
đi tu dòng để đền tội.
Nhưng ông lại thêm: “Nếu Chúa muốn
cho con ra khỏi đời này, thì xin cha cầu nguyện cho con được làm trọn ý Chúa.”
Thánh ý Chúa đã được thực hiện. Năm
ngày sau đó, đầy tâm tình thống hối và yêu mến, ông đã từ trần giữa những
thương tiếc cũng như hoan hỉ của mọi người chứng kiến.
Trước khi chết cha Nieremberg có hỏi
ông:
- Ông có quen làm việc để tôn kính Ðức
Mẹ không?
Ông trả lời:
- Thưa cha con chỉ làm một việc rất
nhỏ: hằng ngày đọc một kinh Kính Mừng. Hôm nay, con xin cha một điều là, để làm
vinh danh Mẹ Thiên Chúa, xin cha hãy rao giảng mọi nơi về tình thương đặc biệt
Ðức Mẹ đã đoái thương đến một kẻ rất tội lỗi, khốn nạn là con đây.
12.
Lời kinh nâng đỡ
Nhớ lại hơn ba trăm năm, khi các
Kitô hữu cha ông chúng ta bị ngược đãi và bách hại vì đức tin, có
rất nhiều người trong số họ một chữ bẻ đôi cũng không biết, họ cũng
chẳng thuộc được một đoạn Kinh Thánh, nhưng nhờ tràng chuỗi mân côi,
lời kinh của niềm hy vọng, họ đã có được sức mạnh để trung kiên với
đức tin cho đến hơi thở cuối cùng.
Một vị linh mục đến thăm người
đàn ông bị bại liệt đã hơn ba năm. Giữa những lời trao đổi, ngài hỏi
người bệnh:
- Không đi lại được, nằm một
chỗ, ông có buồn không?
- Thưa Cha, nhiều lúc buồn lắm!
- Vậy ông làm gì những lúc
rảnh để vơi nỗi buồn?
- Thưa cha, đây là niềm hy vọng
và sức mạnh của con, vừa nói ông vừa cầm xâu chuỗi đưa lên trước mặt
ngài.
Đau ốm, thất bại, yếu đuối và
lỗi lầm trong cuộc sống dễ làm cho chúng ta chán nản buông xuôi. Nhưng
là người tín hữu Công Giáo, chúng ta được nâng đỡ nhờ dòng suối ân
sủng là các bí tích, ánh sáng của Lời Chúa, giáo huấn của Hội
Thánh và phương thức đạo đức bình dân là kinh mân côi. Trong Tông Thư
Kinh Mân Côi ở số 1, Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng quả
quyết với chúng ta: “Qua kinh mân côi các tín hữu lãnh nhận vô vàn ơn
thiêng, hầu như qua chính đôi tay của Mẹ Đấng Cứu Thế.”
Năm 1917, khi hiện ra tại Fatima,
một trong những lời Đức Mẹ căn dặn là: “Hãy siêng năng lần hạt mân
côi."
13.
Lời kinh của gia đình
Trong cuốn “Năm chiếc bánh và hai
con cá”, Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận kể: “Mẹ tôi đã đổ vào tim tôi lòng kính
mến Đức Mẹ từ tuổi ấu thơ. Bà nội tôi, mỗi buổi tối, lúc gia đình đọc kinh xong
rồi, bà còn ngồi lần thêm một tràng hạt. Tôi hỏi, bà trả lởi:
- Mệ lần một chuỗi cầu nguyện cho
các cha.
Bà tôi không biết đọc biết viết,
nhưng chính những người bà, người mẹ như thế, đã vun trồng hạt giống ơn thiên
triệu trong lòng chúng tôi.”
Thấy rõ tầm quan trọng của việc lần
chuỗi Mân Côi và giờ kinh trong các gia đình, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II,
trong Tông thư Kinh Mân Côi đã nhắc nhở và khẩn thiết mời gọi: “Là lời kinh cầu
cho hoà bình, Kinh Mân Côi cũng là và luôn luôn là lời kinh của gia đình và cho
gia đình. Lời kinh này đã một thời hết sức thân thiết với các gia đình Kitô
giáo, và hẳn đã làm cho các gia đình xích lại gần nhau hơn. Điều quan trọng là
đừng đánh mất gia sản quý báu đó. Chúng ta cần phải quay lại với thói quen cầu
nguyện trong gia đình và cầu nguyện cho gia đình, khi tiếp tục sử dụng Kinh Mân
Côi.” (số 41)
14.
Chuỗi kinh ơn lành
Hoàng hậu Blanche xứ Castille nước
Pháp đã phải đau buồn cùng cực vì bà thành hôn mười hai năm rồi mà vẫn không có
con. Khi đến thăm thánh Đaminh, Ngài khuyên hoàng hậu đọc kinh Mân Côi hàng
ngày để xin Thiên Chúa ban diễm phúc được làm mẹ. Hoàng hậu trung thành theo lời
khuyên của thánh nhân. Năm 1213 hoàng hậu hạ sinh hoàng nam đầu lòng. Đó là
hoàng tử Philip. Nhưng con trẻ chết ngay khi còn trong trứng nước.
Trước nỗi bất hạnh này, hoàng hậu vẫn
không ngã lòng, không chút nao núng niềm tin. Trái lại, bà tha thiết van xin Đức
Mẹ cứu giúp. Hoàng hậu cũng phân phát nhiều tràng hạt Mân Côi cho các triều thần
cùng dân chúng trong cả nước, và xin tiếp lời cầu nguyện cho bà.
Năm 1215, qua sự bầu cử của Đức Mẹ,
Chúa đã nhận lời cầu xin của bà, một vị hoàng tử chào đời. Hoàng tử này đã trở
thành vinh quang cho nước Pháp, và là gương mẫu cho tất cả các hoàng đế Công
giáo. Vị hoàng đế này sau đã trở thành một vị thánh. Đó là vua thánh Louis.
Kể sao cho hết những ơn lành Mẹ
Maria đã ban xuống cho nhân loại qua kinh Kính Mừng. Bởi vì kinh Kính Mừng là
kinh mà Chúa Giêsu và Đức Mẹ rất ưa thích.
15.
Hai bức tranh
Có thể nói với bài Tin Mừng hôm nay,
thánh sử Luca đã trình bày cho chúng ta hai bức tranh khác hẳn nhau về Đức
Maria:
1. Bức tranh thứ nhất: Một Đức Maria
tầm thường.
- Maria chỉ là một thiếu nữ nhà quê.
Chắc chắn là cuộc sống chẳng có gì nổi bật. Ngay cái tên Maria cũng chỉ là một
tên gọi bình dân mà rất nhiều người có. Trong Tân Ước chúng ta thấy ít nhất đã
có 4 người mang tên đó: Maria Mẹ của Đức Giêsu, Maria, Mẹ của Giacôbê và Giuse,
Maria Mađalêna và Maria chị của Matta và Ladarô.
- Nagiareth, nơi Maria sinh sống
cũng chỉ là một thị trấn nhỏ bé, một thị trấn hầu như vô danh. Cựu Ước không lần
nào nhắc tới và trong Tân Ước có lần người ta đã nhắc tới nhưng nhắc tới với một
thái độ chẳng mấy thiện cảm: “Ở Nagiareth làm gì mà có những điều hay ở đó”(Ga
1,40).
Đó là bức tranh thứ nhất.
2. Bức tranh thứ hai: Một Đức Maria cao sang.
- Thiên sứ gọi Đức Maria bằng những
tước hiệu rất cao sang: Bà đầy ơn sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà là người đẹp
lòng Thiên Chúa.
- Con của Bà sẽ sinh ra là Đấng Cao
cả: Ngài là Con Đấng tối cao, Con Thiên Chúa, Ngài sẽ trị vì trong nhà Giacob đến
muôn đời, triều đại Người vô cùng vô tận...
Toàn là những lời mà một người nhà
quê như Đức Mẹ khó mà có thể tưởng tượng được. Thế nhưng đó lại là sự thật.
Do đâu mà một thiếu nữ nhà quê tầm
thường như thế bỗng trở nên cao trọng như vậy?
Câu trả lời: Do sự khiêm tốn của Đức
Mẹ.
Khi Đức Mẹ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của
Chúa. Xin cứ làm cho tôi như lời thiên sứ nói”(Lc 1,38) thì Đức Mẹ đã ngoan
ngoãn để cho Thiên Chúa “làm” mọi sự nơi ngài rồi. Đức Mẹ hiến dâng cuộc đời của
mình cho Thiên Chúa, không cản trở, không đòi Thiên Chúa phải làm bất cứ một điều
gì theo ý riêng của mình nữa.
Đối với một Thiên Chúa Toàn năng: “Đối
với Người, không có gì là không thể làm được”(Lc 1,37), Đức Mẹ không còn một
chút sợ hãi nào nữa. Tin tưởng phó thác tất cả đời mình trong bàn tay của Thiên
Chúa: Đó là một quyết định dứt khoát và trọn cả cuộc đời.
Và đó cũng là con đường làm nên sự
cao cả của Đức Mẹ.
16.
Giá trị của tiếng xin vâng
Vào một ngày đẹp trời, các phóng
viên thiên thần được diện kiến “người nữ có phúc hơn mọi người nữ” là Đức
Maria. Các ngài làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng:
- Chào Bà! Bà đã từng làm người.Vậy
theo Bà, sứ mệnh của nhân loại là gì?
- Là sống cho Chúa.
- Người nữ “chân yếu tay mềm” phải
làm gì để có thể hoàn tất vai trò của mình trong gia đình, xã hội và Giáo hội?
- Hãy trung thành với ơn gọi cao cả
mà Thiên Chúa trao ban qua nữ tính của họ”
- Nhưng càng nhu mì, càng hiền dịu
càng bị đối xử bất công, làm sao tìm được bình đẳng mà không đánh mất nữ tính?
- Mỗi người có một bản sắc riêng.
Hãy thể hiện trọn vẹn nét độc đáo ấy.
- Như vậy là sẽ không có sự bình đẳng
tuyệt đối?
- Chỉ có sự bình đẳng hoàn hảo nhất.
Đó là sự bình đẳng trước mặt Thiên Chúa!
Và Đức Maria đã minh chứng điều này
qua sự cộng tác của Mẹ vào công cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu với bí quyết rất nữ
tính: “Xin vâng”
Thông qua hai tiếng “Xin Vâng” Mẹ
như thầm nhắn nhủ: Hạnh phúc và sự bình đẳng của phận người tùy thuộc vào sự
đáp trả của mỗi người trước tiếng gọi của Thiên Chúa chứ không phải là những khả
năng của phái tính mà mỗi người mang trong mình. Biết nhận ra và đáp trả lời mời
gọi của Ngài trong từng giây phút của cuộc sống như Mẹ Maria. Đó là cách tốt nhất
để sống ơn gọi làm người và cũng là cách tốt nhất để làm nên sự cao cả cho cuộc
sống của mình.
17.
Sự tích Kinh Mân Côi
Vào cuối thế kỷ 12, bè rối Albigensê
đang lan tràn và đời sống các tín hữu bị sa sút trầm trọng. Một lần Cha Thánh
Đaminh đến một khu rừng gần thành phố Toulouse để ăn chay, đánh tội, than khóc
và cầu nguyện liên lỉ trong ba ngày để xin Chúa cho các tội nhân ơn sám hối và
cho những người theo bè rối Albigensê trở lại với đức tin chân thật. Thánh nhân
đã bị ngất đi vì kiệt sức. Lúc ấy Đức Mẹ cùng với ba thiên thần đã hiện ra với
ngài và nói:
- Đaminh yêu dấu, con có biết Chúa
Ba Ngôi Chí Thánh muốn dùng khí giới nào để canh tân thế giới không?
Thánh Đaminh đáp:
- Thưa Mẹ, Mẹ biết rõ hơn con, vì liền
sau Chúa Giêsu Con Mẹ, Mẹ luôn là khí cụ chính yếu cho phần rỗi chúng con.
Đức Mẹ bấy giờ dạy Thánh Đaminh:
- Mẹ muốn cho con biết rằng trong cuộc
chiến này, khí giới phải dùng đến là Ca Vịnh Thiên Thần, viên đá nền tảng của
Tân Ước. Vì vậy, nếu con muốn thuyết giảng cho các linh hồn cứng lòng để đem họ
về với Chúa, con hãy rao giảng Ca Vịnh này của Mẹ.
Thánh nhân vui mừng chỗi dậy lòng đầy
nhiệt thành muốn hoán cải dân chúng vùng ấy. Ngài liền đi thẳng đến Vương Cung
Thánh Đường. Ngay lúc ấy, các thiên thần vô hình đã đổ chuông nhà thờ mời gọi
dân chúng đến để nghe thánh nhân giảng.
Khi thánh nhân vừa lên tiếng giảng dạy,
một cơn bão lớn xảy ra, đất chuyển rung, trời tối lại, sấm chớp nổ ầm ầm làm
kinh thiên động địa. Dân chúng thấy bức ảnh Đức Mẹ treo ở một nơi tôn nghiêm
giơ tay lên trời ba lần như kêu mời Chúa báo oán nếu họ không biết hối cải và
tìm đến nương tựa nơi Mẹ Thiên Chúa. Thánh Mongpho cho rằng Chúa đã cho những
hiện tượng này xảy ra khi Thánh Đaminh bắt đầu rao giảng về Kinh Mân Côi tương
tự như khi Chúa ban Thập Điều cho Môisen năm xưa, để chứng thực tính cách quan
trọng của Kinh Mân Côi trong chương trình cứu độ nhân loại.
THỨ HAI –
NGƯỜI CAO TRỌNG NHẤT
Lời Chúa: Lc 9, 46-50
Khi ấy, các mộn đệ nghĩ ngợi trong
lòng rằng ai trong các ông sẽ là người cao trọng nhất. Chúa Giêsu thấu biết tư
tưởng trong lòng các ông, Người liền dẫn một trẻ nhỏ tới, để đứng bên cạnh Người,
và bảo các ông rằng: “Hễ ai đón nhận trẻ nhỏ này vì danh Thầy, tức là đón nhận
Thầy: mà hễ ai đón nhận Thầy, tức là đón nhận Đấng đã sai Thầy. Vì kẻ nào bé nhỏ
nhất trong tất cả các con, đó là người cao trọng nhất.”
Gioan lên tiếng thưa Người rằng: “Lạy
Thầy, chúng con thấy một người kia lấy danh Thầy mà trừ quỷ, và chúng con đã
ngăn cản nó, vì nó không theo Thầy cùng với chúng con.” Chúa Giêsu bảo ông rằng:
“Các con chớ ngăn cản, vì ai không chống nghịch các con, tức là thuận với các
con.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Một chữ ký của Picasso
Một hôm, họa sĩ Picasso đến một xưởng
mộc làm một cái tủ. Ông lấy bút phác họa hình thù và kích thước cái tủ rồi trao
cho người thợ mộc và hỏi giá cả. Người thợ mộc cầm lấy tờ giấy một cách trân trọng
và trả lời: "Ngài không phải trả gì cả, chúng tôi chỉ xin Ngài ký tên vào
giấy này là đủ rồi.”
“Lạy Thầy, chúng con thấy một người
kia lấy danh Thầy mà trừ quỷ”
2.
Nhân Danh Chúa Giêsu
Tên tuổi có một ý nghĩa và sức mạnh
đặc biệt trong cuộc sống con người. Người ta thường kể về tên tuổi Alexandre Ðại
Ðế của Hy Lạp giai thoại như sau:
Trong quân đội của ông có một binh
sĩ rất nhát đảm, cứ mỗi lần nguy ngập anh đều tìm cách thoái lui. Alexandre cảm
thấy bị xúc phạm về hành vi của người binh sĩ này vì anh ta cũng mang tên
Alexandre như ông. Một hôm, ông gọi anh ta lại và bảo: "Ta cho nhà ngươi một
chọn lựa: hoặc là chấm dứt thái độ nhát đảm hoặc là đổi tên đi.”
3.
Nước Trời thuộc về trẻ em
Nhà kỹ nghệ công giáo danh tiếng,
Léon Harmel, thuật lại câu chuyện sau:
Một bà mẹ đánh thức con dậy. Bà thấy
dưới gối con có một cục gỗ.
- Con làm gì thế?
- Thưa mẹ, khi đi học giáo lý, con
nghe dạy rằng mình phải hãm mình để cho kẻ có tội được trở lại. Con chọn cách
hãm mình này. Con trông cậy Chúa nhận lời con.
Đó là gương một em bé trong sạch, biết
đền tội thay cho những kẻ có tội mà không chịu đền tội.
4.
Phục vụ trong khiêm tốn.
Sau đệ nhị thế chiến, những người
dân ly tán khắp nơi còn sống sót đều trở về làng quê cũ, họ gạt nước mắt và sẵn
sàng đổ mồ hôi để nỗ lực hàn gắn lại những vết thương chiến tranh và xây dựng lại
cuộc sống trong hòa bình.
Tại một thị trấn nọ, tất cả nhà cửa,
phố xá, ruộng vườn đều đã tan hoang đổ nát. Một nhóm bạn trẻ bước vào ngôi nhà
thờ thân yêu ngày xưa, nay chỉ còn lại bốn vách tường và mái ngói tương đối là
đứng vững, còn bên trong là những gạch vữa, gỗ đá vỡ vụn. Họ tìm thấy pho tượng
Chúa Giêsu nằm sõng suợt dưới đất, chỉ còn có thân mình là nguyên vẹn.
Tuy thế, họ vẫn dọn dẹp sạch sẽ gian
cung thánh, rồi họ đặt bức tượng trên một chiếc bàn con, ở ngay trung tâm của
những buổi cử hành phụng vụ và cầu nguyện của giáo xứ. Và người ta đã ghi lại
được một lời cầu nguyện bộc phát rất cảm động của một chị thiếu nữ như sau:
“Lạy Chúa, xin cho chúng con trở thành đôi mắt
của Chúa, để chúng con diễn tả được tình yêu thương của Chúa. Xin biến chúng
con trở thành đôi tay của Chúa, để chúng con nâng đỡ phục vụ anh chị em. Xin
cho chúng con trở thành đôi chân của Chúa, để chúng con sẵn sàng đến với tha
nhân. Xin biến chúng con trở thành con tim của Chúa, để chúng con biết thực sự
yêu thương hết thảy mọi người.”
5.
Tuổi nhỏ mà lòng lớn
Tôi đang loay hoay tìm kiếm mấy con ốc
bị thất lạc khi sửa cái máy cassette thì thằng cháu mon men lại gần:
- Cậu ơi, cậu làm gì thế? Cho cháu
làm với.
- Con nít chỉ biết nghịch phá chứ biết
làm cái gì. Đi chỗ khác chơi! Tôi quát lớn.
- Nhưng cháu muốn ở lại nói chuyện với
cậu, cho cậu đỡ buồn.
Câu nói ngây thơ của đứa trẻ lên bốn
chứa đựng cả một tấm lòng nhân hậu làm tôi phải xét lại thái độ của mình. Những
người lớn hay coi thường trẻ thơ bởi chúng là những trẻ nhỏ chưa có địa vị hay
chỗ đứng trong xã hội. Thế nhưng những suy nghĩ tưởng chừng là bé nhỏ của chúng
lại chất chứa cả một tâm hồn vĩ đại.
Lạy Chúa, xin cho những người lớn
chúng con biết khiêm tốn lắng nghe và khám phá ra thế giới trẻ thơ; để qua trẻ
thơ, mỗi người chúng con sẽ hoàn thiện chính mình (Hosanna).
6.
Ai lớn, ai nhỏ?
Năm thành viên của một gia đình nọ
đang nghỉ ngơi và vui đùa ở một bãi biển. Các đứa bé tắm và nghịch ngợm xây những
lâu đài bằng cát, khi cách đó không xa, xuất hiện một bà già gầy còm, đầu tóc rối
bung trong gió và áo quần thì rách rưới, bẩn thỉu. Bà vừa đi vừa lảm nhảm điều
gì đó trong miệng và cúi xuống nhặt các vật trên bãi cát, bỏ vào một cái bị.
Bố mẹ vội kêu các con lại bên họ và
bảo chúng đứng tránh xa bà già kia ra. Khi đi ngang qua họ, bà cúi xuống nhặt
bên trái, bên phải các vật trên cát, rồi bà nhìn và cùng mỉm cười với cả gia
đình họ. Song thái độ thân thiện của bà ta không được đáp trả.
Nhiều tuần sau, họ biết được rằng,
người đàn bà già yếu rách rưới đó đã bỏ những tháng ngày ròng rã để nhặt những
mảnh vụn chai, sắt, thiếc trên bãi biển hầu các em nhỏ có thể nô đùa mà không bị
thương tổn.
7.
Tiêu diệt kẻ thù
Tổng thống Abraham Lincoln của Hoa Kỳ
có thói quen áp dụng một phương pháp bất thường để kết bạn. Một lần kia, ông đã
dùng những lời hay ý đẹp để nói về những chính trị gia đối lập với mình. Nghe
thế một phụ nữ thắc mắc:
- Tại sao ông lại ca ngợi những địch
thủ của mình mà không phê bình, chỉ trích và tiêu diệt họ?
Tổng thống Abraham Lincoln đã trả lời
bằng một câu hỏi:
- Biến kẻ thù thành bạn hữu, không
phải là tôi đã tiêu diệt kẻ thù hay sao?
Một hoàng đế Trung Hoa nói:
- Một khi chinh phục quốc gia ấy rồi,
ta sẽ tiêu diệt tất cả các địch thù của ta!
Ông đã chinh phục các nước ấy và cả
đình thần của ông đều chờ đợi một cuộc thảm sát địch quân. Họ mong những địch
thù đó sau khi bị hành hình thì đem chém đầu. Nhưng họ rất bỡ ngỡ khi thấy tất
cả bọn địch thù cùng ngồi ăn với vua và lại nói cười vui vẻ nữa. Họ tâu vua:
- Muôn tâu Hoàng Thượng, ngài đã nói
sau khi thắng trận sẽ tiêu diệt tất cả địch thù kia mà!
Hoàng đế trả lời:
- Ta đã tiêu diệt tất cả bọn họ rồi
đó, tiêu diệt bằng cách tha thứ cho họ và biến họ thành những người bạn của ta!
8.
Tinh thần trẻ thơ
Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, tuần nào
cũng kiếm giờ về thăm mẹ. Mẹ con bên nhau hàn huyên cả tiếng đồng hồ. Có lần mẹ
lên tiếng hỏi: “Con quá nhiều việc bận rộn trong Hội Thánh, sao không để thời
giờ lo việc Chúa cho chu đáo hơn?” Nhưng Đức Giáo hoàng thưa lại: “Được ngồi
bên mẹ để nghe mẹ dạy bảo, đó là hạnh phúc trong đời con không bao giờ quên.”
9.
Tinh thần trẻ thơ của ông Gióp
“Một ngày kia, các con trai con gái
ông đang ăn tiệc uống rượu ở nhà người anh cả của họ,thì một người đưa tin đến
nói với ông Gióp: "Trong lúc bò của ông cày ruộng và lừa cái ăn cỏ bên cạnh,
dân Sơ-va đã xông vào cướp lấy; còn các đầy tớ, chúng dùng gươm giết chết, chỉ
có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay.”Người ấy còn đang nói thì một người
khác về thưa: "Lửa của Thiên Chúa từ trời giáng xuống đã đốt cháy chiên dê
và đầy tớ; lửa đã thiêu rụi hết, chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông
hay.”Người này còn đang nói thì một người khác về thưa: "Người Can-đê chia
thành ba toán ập vào cướp lấy lạc đà; còn các đầy tớ, chúng dùng gươm giết chết,
chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay.”Người ấy còn đang nói, thì một
người khác về thưa: "Con trai con gái ông đang ăn tiệc uống rượu trong nhà
người anh cả của họ, thì một trận cuồng phong từ bên kia sa mạc thổi thốc vào bốn
góc nhà; nhà sập xuống đè trên đám trẻ; họ chết hết, chỉ có mình tôi thoát nạn
về báo cho ông hay.”
Bấy giờ ông Gióp chỗi dậy, xé áo
mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: "Thân trần truồng
sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Ngài lại lấy
đi: xin chúc tụng danh Chúa! "
10.
Coi trọng người bé nhỏ
Trong buổi yết triều một ngày tháng
11/2013, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã âu yếm ôm hôn và cầu nguyện cho một bệnh
nhân bị u sợi thần kinh. Người mắc bệnh này thường bị khinh bỉ, ghê tởm vì thân
thể bị biến dạng rất kì dị, không còn ra hình dáng một con người.
Trước đó vào buổi chiều thứ Năm Tuần
Thánh 2013 trong nhà nguyện nhỏ tại nhà tù Casal del Marmo ở Rô-ma, ngài đã cúi
xuống hôn và rửa chân cho 12 phạm nhân thiếu niên ở đây. Những hình ảnh này đã
gây xúc động mạnh trên toàn thế giới về vị Giáo hoàng đương thời.
Phong cách Đức Thánh Cha sống đơn
sơ, nghèo khó và quan tâm đến những người nghèo khổ đã minh hoạ cách sống động
tinh thần phục vụ Chúa Giê-su đã dạy: “Hãy phục vụ tất cả mọi người, nhất là những
người nghèo, những người yếu thế và những người dễ bị tổn thương.”
11.
Thiên Chúa ở gần
“Rừng Emerald” là một bộ phim về một
cậu bé bị lạc đường trong rừng nhiệt đới Nam Mỹ. Gia đình cậu không ngừng đi
tìm kiếm, và cuối cùng họ gặp cậu đang sống với một bộ tộc thổ dân. Bộ phim tạo
nên một dụ ngôn thích hợp về sự quan tâm của Thiên Chúa đối với dân Israel. Họ
đã phạm tội và bị đưa xa khỏi Giêrusalem và Đền thờ. Trong nỗi thất vọng ê chề
của họ, tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ rõ nét nhất. Ngài đến để cứu thoát
họ.
Tôi có nhớ đã khi nào tôi cảm thấy bị
Thiên Chúa bỏ rơi hoặc ngay cả quên lãng không? Người ta nói rằng đó là lúc
Thiên Chúa gần ta nhất. Tại sao?
Trái tim chúng ta có một khoảng trống
mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy.
12.
Tình yêu là đáp án
Một nhóm học sinh đang xén cỏ trên
con đường mòn mà một cặp vợ chồng luống tuổi thường đi qua. Ban đầu, điều này
khiến cho cặp vợ chồng cảm thấy bực mình và còn khiến họ giận dữ nữa. Họ biết rằng
mình phải làm một cái gì đó, bởi vì tình trạng này đang phá đi sự bình an trong
tâm hồn họ. Cách giải quyết của cặp vợ chồng thật đẹp: họ lát đá con đường, trồng
hoa hai bên và đặt một chiếc Ghế đá gần đó. Rồi vào những ngày đẹp trời, họ ngồi
trên ghế và chào đón bọn trẻ. Phản ứng của bọn trẻ cũng thật tuyệt vời: chúng
cám ơn họ vì con đường lát đá và ngồi nói chuyện với họ một vài phút.
Tình huống nào đe dọa sự thanh thản
trong tâm trí tôi? Tôi có giải quyết nó với tinh thần sáng tạo như cặp vợ chồng
kia đã làm không?
Lạy Chúa, xin giúp con giải quyết những
tình huống xấu theo một cách thức đẹp đẽ.
13.
Nghịch lý thập giá
Đức Cha Ph.X. Nguyễn Quang Sách,
nguyên giám mục giáo phận Đà Nẵng vừa từ trần hồi đầu tháng 7/2013, có viết
trong di chúc rằng: “Suốt cả đời tôi, công phúc chẳng có gì, mà tội lỗi, thiếu
sót thì vô số...”
Sống một cuộc đời giản dị, hiếu
khách và thánh thiện với châm ngôn “để phục vụ,” ngài muốn trở nên một người
“nhỏ nhất” trong giáo phận và giữa anh chị em mình, để phục vụ mọi người như Thầy
Giêsu. Phải, chỉ khi nào nhận ra tương quan đích thực giữa “tôi” với “mọi người”,
tôi mới có thể phục vụ họ một cách chính đáng: “họ” phải lớn lên, còn “tôi” phải
nhỏ lại, thậm chí “nhỏ” đến mức độ của “người tôi tớ.”
Tuy nhiên, lý tưởng này luôn luôn là
một thách đố lớn lao cho người môn đệ của Đức Kitô.
14.
Quyền lực của công dân Nước Trời
Nữ thủ tướng Đức Markel vừa được tạp
chí Forbes bình chọn là người phụ nữ quyền lực nhất trong năm 2011
(25/08/2011).
Người đời luôn quan tâm đến những
người nam nữ quyền lực nhất, ảnh hưởng nhất, giầu có nhất… Các tông đồ cũng
không tránh khỏi não trạng này khi suy nghĩ và thậm chí có lúc tranh luận với
nhau xem ai là người lớn nhất. Đã là môn đệ Đức Giêsu - Đấng khai mở Nước Trời
- và là công dân của Nước Trời ấy, nhưng xem ra các ông chưa hiểu gì về Nước Trời.
Điều được tìm kiếm trong Nước Trời
là tình thương, công lý và an bình, làm gì có chuyện lớn nhất với nhỏ nhất, quyền
lực nhất với hèn mọn nhất, vì ai ai cũng là con cái Thiên Chúa, là anh em với
nhau, là em của Anh Cả Giêsu.
Là công dân của Nước Trời đồng nghĩa
với việc bạn phải từ bỏ bản ngã, hạ thấp cái tôi bành trướng.
THỨ BA - CON NGƯỜI
ĐẾN ĐỂ CỨU CHỮA
Lời Chúa: Lc 9, 51-56
Vì gần tới thời gian Chúa Giêsu phải
cất khỏi đời này, Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem, và sai những người
đưa tin đi trước Người.
Những người này lên đường vào một
làng Samaria để chuẩn bị mọi sự cho Người. Nhưng ở đó người ta không đón tiếp
Người, bởi Người đi lên Giêrusalem. Thấy vậy, hai môn đệ Giacôbê và Gioan thưa
Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy muốn chúng con khiến lửa bởi trời xuống thiêu huỷ
chúng không?”
Nhưng Người quay lại, quở trách các
ông rằng: “Các con không biết thần trí nào xúi giục mình. Con Người đến không
phải để giết, nhưng để cứu chữa người ta." Và các Ngài đi tới một làng
khác.
TRUYỆN
KỂ
1.
Tấm lòng nhân ái tuyệt vời.
Nhiều năm về trước – một ủy viên chấp
hành khá cao tuổi của một tập đoàn dầu lửa Rochefeller ở Mỹ - đã đưa ra một quyết
định sai lầm làm công ty thiệt hại hơn hai triệu đôla. John D. Rochefeller lúc
đó là người đứng đầu công ty.
Bedford được Rochefeller mời lên văn
phòng. Bedford đến rất đúng giờ và sẵn sàng để nghe những lời chỉ trích có thể
nặng nề của Rochefeller.
Khi Bedford bước vào phòng, ông vua
dầu hỏa đang ngồi cạnh bàn, chăm chú viết bằng bút chì lên một tờ giấy. Bedford
đứng yên lặng, không muốn phá ngang. Sau vài phút, Rochefeller ngẩng lên.
- A, anh đấy à, Bedford –
Rochefeller nói rất chậm rải – Anh đã nghe tin những tổn thất của công ty chúng
ta rồi chứ?
Bedford đáp rằng tôi đã biết rồi.
- Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều
này, - Rochefeller nói,- Và trước khi nói chuyện với anh, tôi đã ghi ra đây vài
dòng.
Sau này, Bedford kể lại cuộc nói
chuyện của ông với Rochefeller như sau: Tôi thấy rõ dòng đầu tiên của tờ giấy
mà ông chủ đã “ghi vài dòng” là “những ưu điểm cùa Bedford." Sau đó là một
loạt những đức tính của tôi, kèm theo là miêu tả vắn tắt rằng tôi đã giúp công
ty, đưa ra quyết định đúng đắn được ba lần, giúp công ty kiếm được gấp nhiều lần
số tiền tổn thất lần này.
Bedford không bao giờ quên bài học ấy.
Ông đã ghi khắc những điều đó trong lòng và đem ra áp dụng trong những ngày làm
việc còn lại của ông.
2.
Để bớt đổ vỡ
Một Cha sở già kia có nhiều kinh
nghiệm thường khuyên các đôi tân hôn như sau: “Khi các con thấy trong nhà sắp xảy
ra cãi vã, các con hãy nói với nhau: “Để sáng mai rồi hãy gây gỗ." Sáng
hôm sau các con sẽ thấy rằng việc hôm qua thật là nhỏ nhoi không đáng gây gỗ
chút nào.
"Khi các con sắp có chuyện cãi
vã, chúng con hãy ngậm hoài một ngụm nước lạnh cho đến khi ngụm nước nóng lên.
Rồi cứ tiếp tục ngậm ngụm nước khác. Làm như thế các con sẽ bớt được những xô
xát đổ vỡ trong gia đình.
3.
Chạy ba vòng
Ở Tây Tạng xưa kia có một người tên
là Ái Địa Ba, mỗi khi tức giận tranh chấp với người khác, anh đều chạy về nhà với
tốc độ rất nhanh, chạy xung quanh ngôi nhà và mảnh đất của mình ba vòng, sau đó
ngồi xuống bờ ruộng thở dốc.
Ái Địa Ba làm việc vô cùng siêng
năng. Nhà của anh ta càng ngày càng to, đất đai của anh ta càng ngày càng rộng
lớn, nhưng cho dù nhà có to và đất có rộng bao nhiêu đi nữa, thì nhưng khi tức
giận với một người nào đó, anh vẫn chạy quanh nhà và mảnh đất của mình ba vòng.
Tại sao Ái Địa Ba mỗi lần tức giận đều
chạy quanh nhà và mảnh đất ba vòng? Tất cả những người quen biết anh đều cảm thấy
nghi hoặc, nhưng cho dù hỏi gì, anh đều không muốn giải thích.
Cho đến một ngày nọ, Ái Địa Ba đã trở
thành một ông cụ rất già, ngôi nhà và mảnh đất của ông bây giờ cũng đã quá rộng
lớn, khi tức giận, ông vẫn chống gậy vất vả đi xung quanh ngôi nhà và mảnh đất
của mình, sau khi hoàn thành ba vòng một cách khó khăn, mặt trời cũng đã lặn xuống
núi, Ái Địa Ba một mình ngồi trên bờ ruộng thở dốc, cháu ông đến bên cạnh nài nỉ:
- Ông ơi, tuổi ông đã cao, những người
hàng xóm quanh đây cũng không có ai có đất đai rộng lớn bằng ông, ông không thể
giống như lúc trước được, mỗi khi tức giận đều chạy quanh mảnh đất! Ồng có thể
nói cho cháu biết bí mật này không, tại sao mỗi khi tức giận ông đều chạy quanh
mảnh đất ba vòng?
Trước sự nài nỉ của đứa cháu, Ái Địa
Ba cuối cùng cũng phải nói ra bí mật trong lòng mình suốt nhiều năm nay:
- Khi trẻ, mỗi khi ông cãi cọ, tranh
luận, tức giận một ai đó ông đều chạy ba vòng quanh mảnh đất của mình, vừa chạy
vừa suy nghĩ, ngôi nhà của mình nhỏ như vậy, đất đai của mình nhỏ như vậy, mình
làm gì có thời gian và tư cách để tức giận mọi người. Khi nghĩ đến đây, bao nhiều
tức giận đều tan biến hết, ông dành tất cả thời gian nỗ lực làm việc.
Đứa cháu hỏi:
- Ông à, vậy bây giờ ông đã lớn tuổi
rồi, cũng đã trở thành một người giàu có, tại sao ông vẫn còn chạy như thế?
Ái Địa Ba cười nói:
- Phải. Bây giờ, tuy ta đã già nhưng
nhiều khi vẫn có thể tức giận, khi tức giận thì chạy ba vòng, vừa chạy vừa suy
nghĩ, nhà của ta thật to, đất đai của ta thật rộng lớn, ta hà tất tính toán với
người khác làm gì cho mệt? Nghĩ đến đây, bao nhiêu tức giận đều tan biến cả.
4.
Lý do người Samari không đón tiếp Chúa
Sở dĩ dân Samari không đón tiếp Đức
Giêsu và các môn đệ, cũng có nghĩa là họ không muốn theo Đức Giêsu đi dâng Lễ ở
Giêrusalem, vì mối thù truyền kiếp khai mào từ thời lưu đày bên Babylon:
- Năm 721 trước Công nguyên, vua
Assur bắt dân Israel ở Samari đi lưu đày, và cho dân ngoại đến Samari sinh sống.
Những người Do Thái còn lại, họ đã xây Đền Thờ kính Chúa ở núi Garizim trong miền
Samari. Như thế là chống lại truyền thống cha ông họ xưa nay vẫn tôn thờ Thiên
Chúa ở Giêrusalem! Lúc đó đền thờ Giêrusalem vẫn còn, mãi đến 134 năm sau, tức
là vào năm 587 trước Công nguyên, đền thờ Giêrusalem mới bị phá (x Is 40-55).
- Năm 539 trước Công nguyên, những
người Do Thái lưu đày từ Babylon được vua Cyros cho họ hồi hương tái thiết Đền
Thờ Giêrusalem (x Is 45), thì lại bị dân ở Samari gây khó dễ, vì họ chỉ muốn mọi
người thờ Chúa ở Garizim.
- Năm 200 trước Công nguyên, những
người thờ Chúa ở Giêrusalem lại kéo đến Garizim đập phá Đền Thờ của người Do
Thái ở Samari!
Đó là lý do khi những người Do Thái ở
Samari thấy Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài muốn ghé lại Samari, rồi mới tiếp
tục lên Giêrusalem dự Lễ, thì dân vùng này không đón tiếp!
5.
Ăn miếng trả miếng
Một cô gái lên tàu, nhìn thấy chỗ của
mình đã bị một chàng trai ngồi, cô gái kiểm tra lại vé của mình thêm một lần nữa,
rất lễ phép nói với chàng trai:
- Thưa anh, anh đã ngồi nhầm vị trí
rồi ạ!
Chàng trai giơ tờ vé ra:
Nhìn kỹ đi, đây là chỗ của tôi, cô mù à!
Cô gái nhìn kỹ tờ vé của chàng trai,
im lặng không nói, lặng lẽ đứng bên cạnh chàng trai.
Một lát sau đoàn tàu bắt đầu từ từ rời
ga, cô gái cúi đầu nhẹ nhàng nói với chàng trai
- Thưa anh, ghế anh ngồi không sai,
nhưng anh ngồi nhầm tàu rồi ạ!
6.
Thế giới cần chứng nhân
Một tư tế đạo Bà la môn nói với một
vị thừa sai Kitô giáo ở Ấn độ rằng: “Nếu như các Kitô hữu giống như cuốn Kinh
thánh của Ngài, thì Ngài có thể chinh phục Ấn độ trong năm năm.” Nói khác đi, nếu
chúng ta sống những điều Kinh thánh dạy, chúng ta sẽ hoán cải người Ấn một cách
nhanh chóng. Đó là chứng từ mà Thiên Chúa nói đến trong bài đọc hôm nay. Đó
cũng là chứng từ khiến người ta phải nói với chúng ta “Chúng tôi muốn biết nhiều
hơn về Thiên Chúa của các bạn.”
Bài đọc hôm nay mời gọi tôi xin được
sửa chữa bất cứ gì ngăn cản tôi là người khác đến với tôi: “Chúng tôi muốn biết
nhiều hơn về Thiên Chúa của bạn.”
Có hai cách truyền ánh sáng, đó là
ánh nến và gương phản chiếu ánh sáng đó (Edith Wharton).
7.
Nóng giận là làm nô lệ
Phản ứng nóng nảy của Giacôbê và
Gioan trong bài đọc hôm nay, chứng tỏ các ông chưa quán triệt lời này của Chúa
Giêsu: “Hãy học cùng Thầy vì thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,
29).
Có bao giờ tôi đã đáp trả cách bực tức
khi bị người khác xử tệ chưa? Lúc này, tôi giải quyết cách xử tệ đó ra sao?
Khi chúng ta ghét bỏ kẻ thù, chúng
ta cho họ được quyền trên chúng ta: quyền trên giấc ngủ, quyền trên sức khỏe và
quyền trên sự bình an của tâm trí chúng ta. Chắc hẳn kẻ thù sẽ nhảy mừng nếu họ
biết rằng sự thù ghét đang giết dần giết mòn chúng ta, nhưng chẳng hề làm
thương tổn họ.
8.
Giận mất khôn
Một con rắn bò vào một cửa hàng bán
đồ làm mộc và bò đến góc nhà. Khi bò ngang qua một cái cưa, nó vô tình bị lưỡi
cưa làm bị thương. Lập tức, nó quay lại và cắn cái cưa. Càng cắn, nó lại càng bị
thương ở miệng.
Sau đó, không hiểu chuyện gì đã xảy
ra, nghĩ rằng cái cưa đang tấn công mình, nó quyết định quấn lấy cái cưa với ý
định làm cho cái cưa ngạt thở với toàn bộ sức mạnh của mình. Thật không may,
con rắn cuối cùng bị chết bởi một cái cưa vô tri vô giác.
Đôi khi, chúng ta phản ứng với sự giận
dữ với ý định sẽ làm tổn thương những người đã đối xử tệ với mình nhưng thực ra
chúng ta đã làm tổn thương chính bản thân mình.
Trong cuộc sống, có những lúc tốt
hơn là mặc kệ sự việc có tồi tệ ra sao, là con người đừng nghĩ đến thù hận và sự
đáp trả. Bởi vì hậu quả khi đã xảy ra là không thể đảo ngược và thảm khốc. Tốt
hơn là luôn ứng xử với họ bằng thái độ ôn hoà, và tình yêu thương nhân hậu mặc
dù phải nỗ lực rất nhiều...!
Hãy làm chủ cảm xúc của mình, đừng để
bản thân chỉ vì một tình huống, chỉ một câu nói của người khác mà làm hỏng tâm
tình, hỏng việc của mình. Một phút nóng giận, ân hận cả đời.
9.
Mãnh hổ và chó điên
Một con hổ nhìn thấy một con chó
điên, nó vội vã tránh ra thật xa. Hổ con nói với bố: "Bố ơi, bố dám đấu với
sư tử, dám tranh hùng với báo săn, vậy mà lại phải tránh một con chó điên, thật
mất mặt quá!"
Hổ bố hỏi: "Theo con, đánh bại
một con chó điên có vinh quang không?"
Hổ con lắc đầu.
"Để con chó điên cắn phải một
nhát, có đen đủi không?"
Hổ con gật gật đầu.
"Đã như vậy, chúng ta việc gì
phải động chạm đến một con chó điên? – Không phải người nào cũng có thể coi làm
đối thủ của con, không nên tranh biện với những người không có tố chất, cứ mỉm
cười một cái rồi tránh thật xa, đừng để họ cắn được con.
Điều này nhất định con phải nhìn cho
thấu đáo, bởi lẽ trong thực tế cuộc sống này, vẫn có rất nhiều người đang đấu với
chó điên mà không ý thức được vấn đề."
Tôi cũng thế nếu tôi dị ứng với đức
mến được thánh Phalô trình bày hết sức rõ ràng: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính,
không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự
gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất
cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13,4-7)
10.
Tự sát vì dục vọng
Người Eskimo ở bắc cực nghĩ ra một
cách bẫy chó sói rất độc đáo để lấy bộ da chúng làm y phục.
Người ta dùng một con dao cực bén và
nhúng lưỡi dao ấy vào máu súc vật, rồi đem dang ra ngoài trời tuyết lạnh cho
máu đông lại chung quanh. Họ lặp lại động tác đó nhiều lần cho đến khi con dao
được bọc quanh bằng khối máu đông, lớn như quả xoài.
Đợi đến khi trời tối, thợ săn đem
con dao bọc máu đó ra cắm giữa đồng hoang. Với tài đánh hơi bén nhạy, loài sói
khát máu sẽ nhanh chóng phát hiện mùi máu tươi và sẽ chạy đến đua nhau liếm
tới tấp vào cục máu đông đó cho đến khi lưỡi dao lộ ra cứa đứt lưỡi chúng. Một
khi lưỡi của bầy sói bị cứa đứt nhiều đường, máu từ lưỡi ứa ra và chúng tiếp tục
liếm cách điên cuồng hơn chính dòng máu của chính mình chảy ra mà không hay
biết. Càng liếm hăng, lưỡi chúng càng bị cứa sâu hơn và nhiều hơn khiến máu chảy
thành dòng… kết thúc cuộc đời lũ sói tham ăn.
THỨ TƯ - ĐIỀU
KIỆN THEO CHÚA GIÊSU
Lời Chúa: Lc 9, 57-62
Khi ấy, đang lúc Chúa Giêsu và các
môn đệ đi đường, thì có kẻ thưa người rằng: "Dù Thầy đi đâu, tôi cũng sẽ
theo Thầy." Chúa Giêsu bảo người ấy rằng: "Con chồn có hang, chim trời
có tổ, Con Người không có nơi gối đầu."
Người bảo một kẻ khác rằng:
"Hãy theo Ta." Người ấy thưa: "Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi
trước đã." Nhưng Người đáp: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; phần con,
hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa."
Một người khác thưa Người rằng:
"Lạy Thầy, tôi sẽ theo Thầy, nhưng cho phép tôi về từ giã gia đình trước
đã." Nhưng Chúa Giêsu đáp: "Ai đã tra tay vào cày mà còn ngó lại sau
lưng thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa."
TRUYỆN
KỂ
1.
Ðiều kiện theo Chúa
Một linh sư Ấn đang ngồi tịnh niệm
bên bờ sông, có một người đàn ông nọ muốn xin làm đệ tử. Ông rón rén đến bên vị
linh sư và đặt dưới chân vị tu hành hai viên ngọc quí nhất như của lễ ra mắt. Vị
linh sư mở mắt ra, nhưng ông không để lộ một chút thích thú nào; không cần nhìn
kỹ vào món quà quí giá ấy, vị linh sư cầm lấy một viên và ném xuống dòng sông.
Tiếc của, người đàn ông giầu có liền
nhảy xuống sông để cố tìm lại viên ngọc, nhưng mất một ngày mà ông không tài
nào tìm lại được. Chiều đến, mệt mỏi, chán nản, người đàn ông đến vị linh sư
xin chỉ rõ nơi đã ném viên ngọc quí. Vị linh sư cầm viên ngọc còn lại ném xuống
dòng sông và nói: "Ta đã ném vào chỗ đó, ngươi hãy lặn xuống mà tìm lại."
Chúa Giêsu cũng đòi hỏi môn đệ Ngài
một thái độ từ bỏ và dứt khoát như thế. Thánh Luca trình bày cuộc đời Chúa
Giêsu là một hành trình lên Giêrusalem mà đích điểm là cái chết trên thập giá.
2.
Đường đến hạnh phúc
Theo truyện thần thoại của Hy Lạp,
Hercule là một vị thần, một lần đứng giữa ngã ba đường và tự hỏi xem mình nên
đi về đâu. Có hai người chỉ cho ông.
Một người nói: “Hãy theo tôi, đây là
con đường thoải mái, hạnh phúc và lối đi dễ dàng."
Người thứ hai nói: “Đây là con đường
cố gắng, nỗ lực, khó khăn. Tuy là đường khó khăn, nhưng đưa tới hạnh
phúc."
Hercule đã chọn con đường khó khăn
và quả thực ông khôn ngoan, ông đã thành công.
3.
Phải dứt khoát từ bỏ.
Một nhà buôn ở Francfurt muốn tìm một
em bé trai để lo việc giao hàng. Có một người anh trưởng trong một gia đình gồm
07 người anh em 16 tuổi đến xin việc. Nhân viên tiếp tân ở phòng khách gật đầu
nói: ”Cậu không có nhiều may mắn lắm đâu. Trước cậu đã có 52 người đến xin việc
rồi. Tuy nhiên, cậu có thể thử thời vận."
Nhân viên này dẫn cậu vào phòng ông
chủ. Ông chủ tiếp chuyện thân mật với ứng viên, đặt nhiều câu hỏi với chàng
trai.
- Mời cậu một điếu.
- Cám ơn ông, nhưng cháu không hút
thuốc.
- Thế nào? Cậu không hút thuốc ư?
Nhưng anh bạn của tôi ơi, để làm một người lớn, cần phải biết hút thuốc. Đừng rồ
dại nữa!
- Không. Cháu cám ơn bác. Cho đến
nay cháu vẫn không hút thuốc và cháu cũng không muốn bắt đầu.
Thế rồi ông chủ chìa tay ra cho anh.
- Tôi nhận cậu vào làm việc. Cậu là
người thứ 53 đến gặp tôi xin việc, nhưng cậu lại là người đầu tiên không nhận
điếu thuốc. Cậu thích hợp với tôi.
Và ném điếu thuốc đi, ông nói thêm:
- Tôi cũng vậy, tôi không hút thuốc.
Sau đó, chàng trai được biết rằng
người làm công trước đã bị sa thải vì anh ta hút thuốc quá nhiều và đã thâm hụt
thụt quỹ để mua thuốc.
4.
Cả nhà đi tu
Hai vợ chồng nhà báo người Hà Lan
tên là Val Der Meer de Walcheren đã cùng xin chịu Bí tích Thánh tẩy vào năm
1911 để gia nhập Giáo Hội Công giáo. Sau đó, ông bà đã lần lượt khuyên các con
cùng theo đạo, rồi lại cùng lần lượt theo đuổi ơn gọi Tận Hiến của các dòng tu.
Người con trai lớn sau này trở thành một linh mục dòng Biển đức Nam
(Bénédictin), người con gái kế làm nữ tu trong đan viện Biển đức nữ
(Bénédictine).
Năm 1933, nhờ lòng khao khát tuyệt đối
và ý chí tận hiến cho Chúa, Tòa Thánh đã chấp thuận đơn xin của hai ông bà để
được phép chia tay nhau trong lòng mến đích thật. Ông xin được vào dòng Biển đức
nam, nơi người con trai linh mục vừa sớm lìa đời, còn bà thì xin vào dòng Biển
đức nữ chung với người con gái.
Trong thời kỳ tập tu, Bề Trên cả hai
dòng chỉ định cho ông bà phải tiếp tục thường xuyên thư từ cho nhau. Sau hai
năm, cả hai ông bà vẫn đầy thiện chí, sẵn sàng hy sinh dâng mình cho Chúa. Thế
nhưng, Bề Trên của hai bên đều nhận thấy mối duyên tình của ông bà còn quá
khăng khít, nên đã khuyên cả hai trở về với đời sống gia đình. Ông bà vâng lời
trở về, tiếp tục sống hạnh phúc bên nhau, chan hòa lòng yêu thương bác ái đối với
tha nhân, nhất là với những người nghèo khổ.
Đến năm 1954 thì bà Val Der Meer de
Walcheren qua đời. Nối lại ý hướng từ 20 năm về trước, cụ ông 74 tuổi đã xin trở
lại tu viện. Và vào ngày 22.12.1956, cụ được thụ phong linh mục tại nhà nguyện
tu viện Đức Mẹ nơi người con gái của cụ vẫn đang sống cuộc đời đan tu gương mẫu
đã hơn 40 năm qua.
5.
Một bước thay đổi cuộc đời
Vào một ngày đẹp trời, ở một thôn nhỏ
trên cao nguyên hẻo lánh, bỗng xuất hiện một chiếc xe con bóng nhoáng. Đây là
chuyện hiếm thấy đối với một thôn nhỏ chưa từng nghe thấy tiếng động cơ ôtô. Hầu
hết những người dân trong thôn đều chạy ra khỏi nhà, xúm quanh chiếc xe để xem
có chuyện gì lạ xảy ra.
Khi cánh cửa xe được mở ra, có vài
người bước xuống. Một người đàn ông trung niên đầu cắt trọc, mặc một bộ quần áo
rằn ri cất tiếng hỏi:
- Có ai muốn đóng phim không? Ai muốn
đóng phim thì lại đây đăng ký.
Tuy mỗi người dân trong thôn đều đã
xem phim, nhưng đóng phim như thế nào thì họ biết rất ít. Tại sao lại đến nơi hẻo
lánh này quay phim chứ? Đóng phim là đóng như thế nào? Rất nhiều người đều hỏi
những người xung quanh hoặc tự lẩm bẩm một mình.
Người đàn ông trung niên ấy hỏi lại
mấy lần, nhưng không có ai lên tiếng. Lúc đó, một cô bé khoảng mười ba tuổi bước
lên trước một bước và nói: - Cháu muốn đóng phim.
Đó là một cô gái bình thường với đôi
mắt nhỏ, một mí, cặp má đỏ au nhưng ánh mắt và gương mặt của cô toát lên vẻ hiền
hậu và quả cảm của những đứa trẻ vùng sơn cước.
Người đàn ông trung niên hỏi cô: -
Cháu có biết hát không?
Cô gái trả lời gãy gọn, dứt khoát: -
Có biết.
- Vậy cháu hãy hát một bài cho chúng
tôi nghe đi!
- Hát thì hát? - Cô bé không hề tỏ
ra sợ sệt, cô vừa hát vừa nhảy – Đất nước chúng ta là một vườn hoa, những bông
hoa trong vườn hoa thật đẹp.
Những người dân trong thôn không nhịn
được cười, bởi vì giọng hát của cô thật khó nghe, không những sai nhạc, mà đến
giữa chừng cô còn quên mất lời bài hát.
Nào ngờ, người đàn ông trung niên
giơ tay chỉ vào cô: - Được rồi, chúng tôi chọn cháu.
Người đàn ông trung niên ấy chính là
nhà đạo diễn điện ảnh lừng danh Trương Nghệ Mưu, còn cô gái dũng cảm bước về
phía trước một bước ấy là Ngụy Mẫn Chi, nữ diễn viên chính trong bộ phim “Một
người cũng không thể thiếu."
Tuy Ngụy Mẫn Chi chỉ bước lên phía
trước một bước, nhưng bước chân ấy đã thay đổi cuộc đời của cô.
6.
Chọn là chọn
Trong thần thoại Hy Lạp có kể truyện
về thần Orpheus bị đày xuống trần, được các thần tặng cho cây đàn bảy dây. Tiếng
đàn làm nước ngừng chảy, đá vỡ ra, thú dữ biến thành chiên…
Orpheus cưới được cô vợ rất xinh đẹp
tên là Eurydice, ngày kia nàng bị rắn cắn chết, hồn nàng xuống âm phủ! Orpheus
thương nhớ vợ nên đem đàn xuống âm phủ gảy để đưa hồn vợ về. Các thần căn dặn
Orpheus: Phải đi sau nàng mà gảy đàn, và các thần cũng dặn dò nàng: Khi nghe tiếng
đàn thì cứ đi thẳng đừng ngó lui đằng sau. Nhưng đi được một đoạn, nàng ngó lại
xem chồng có theo nàng về không, thế là hồn nàng bị chết muôn đời! Orpheus mãi
mãi mất vợ!
Thánh Clémenté đã áp dụng truyện này
vào việc Tông Đồ:
- Orpheus là Chúa Giêsu.
- Đàn bảy dây: Bầu đàn là Lời Chúa,
bảy dây là bảy Bí tích sẽ biến tội ra ơn, dữ ra lành, chết ra sống.
- Eurydice bị rắn cắn: con người bị
quỷ làm hại
- Chàng đem đàn đến cứu vợ, nhưng vì
nàng không nghe lời căn dặn đã quay lại, nên chàng mất vợ: Chúa Giêsu ban Lời
và lập Bí tích để cứu ta, nhưng ta không dứt khoát theo Chúa. Chúa khóc vì ta bị
diệt (x Ga 11,35: Lc 19,41).
7.
Thầy Giêsu và tôi
Tôi nổi giận thì Thầy lại bảo: Hãy
nhịn nhục và thứ tha.
Tôi run sợ thì Thầy lại bảo: Hãy can
đảm.
Tôi hoài nghi thì Thầy lại bảo: Hãy
tín thác.
Tôi bồn chồn không ngơi thì Thầy lại
bảo: Hãy tĩnh lặng đi.
Tôi thích đi con đường riêng mình
thì Thầy lại bảo: Hãy theo Ta.
Tôi muốn lập kế hoạch riêng cho mình
thì Thầy lại bảo: Hãy quên đi.
Tôi nhắm tìm của cải vật chất thì Thầy
lại bảo: Hãy bỏ lại đằng sau.
Tôi muốn được bảo đảm ở đời này thì
Thầy bảo: Phần Ta, Ta chẳng hứa hẹn gì đâu.
Tôi thích sống cuộc đời riêng của
mình thì Thầy bảo: Hãy từ bỏ chính mình đi.
Tôi nghĩ rằng mình tốt lành thì Thầy
bảo: Tốt lành thôi thì chưa đủ đâu con.
Tôi thích làm ông chủ thì Thầy bảo:
Hãy quỳ xuống mà phục vụ lẫn nhau.
Tôi muốn ra lệnh cho người khác thì
Thầy bảo: Thôi, hãy vâng lời đi.
Tôi đi kiếm tìm tri thức thì Thầy bảo:
Hãy tin.
Tôi thích sự rõ ràng thì Thầy lại dạy
tôi bằng ngụ ngôn.
Tôi thích thi ca mơ mộng thì Thầy lại
nói toàn chuyện hiện thực.
Tôi yêu sự yên tĩnh của mình thì Thầy
lại muốn tôi bị quấy rầy.
Tôi thích bạo lực thì Thầy lại bảo:
Bình an ở cùng các con.
Tôi rút gươm ra thì Thầy bảo: Vứt nó
ngay lập tức.
Tôi nghĩ chuyện trả thù thì Thầy bảo:
Đưa má bên kia cho người ta đánh luôn đi con.
Tôi nói về một trật tự thì Thầy bảo:
Ta đến đem gươm giáo.
Tôi căm ghét thì Thầy bảo: Thôi, hãy
yêu thương cả kẻ thù nhé.
Tôi muốn gieo sự hòa hợp thì Thầy
nói: Ta đem lửa xuống thế gian.
Tôi muốn làm người lớn thì Thầy nói:
Hãy trở nên trẻ nhỏ.
Tôi muốn ẩn thân, Thầy bảo: Ánh sáng
thì phải chiếu rọi.
Tôi đi tìm chỗ nhất trong hội đường,
Thầy lại bảo: Xuống chỗ chót hết mà ngồi.
Tôi thích được quan tâm, Thầy nói:
Đóng cửa lại mà cầu nguyện.
Không, tôi không thể hiểu nổi ông Thầy
Giêsu này, Ông khiêu khích tôi, ông làm tôi bối rối.
Cũng giống như nhiều học trò khác,
tôi rất muốn đi theo Thầy Giêsu này, Thế nhưng, khổ quá, chắc là phải đi tìm
ông thầy khác thì sẽ khá hơn, Ít đòi hỏi hơn và lại có nhiều quyền lợi hơn.
Nhưng cuối cùng, tôi đã cảm nhận như
anh trưởng Phêrô đã thốt lên: "Tôi không biết ai khác lại có được Lời ban
Sự Sống đời đời như Thầy Giêsu của tôi." Amen.
8.
Ở cùng Chúa luôn
Một cách cầu nguyện mà thánh Têrêsa
Avila sử dụng, đó là chỉ đứng một cách cung kính và thinh lặng trước mặt Thiên
Chúa. Khi đề nghị cách thức cầu cầu nguyện này cho người khác, thánh nữ viết:
“Hãy tưởng tượng như Thiên Chúa ở bên bạn. Hãy ở cùng người bạn này càng lâu
càng tốt… Bạn chẳng cần phải quan tâm đến việc trò chuyện.”
Cách thức này hiệu quả ra sao đối với
tôi?
Hãy năng nghĩ đến Thiên Chúa, ngày
và đêm, trong công việc và ngay cả lúc giải trí. Thiên Chúa luôn ở gần và ở với
bạn, bạn đừng để Ngài một mình. Thật bất lịch sự khi để người đến thăm bạn lẻ
loi một mình. (Lawrence)
9.
Đừng ngoái lại sau lưng
Vào năm 1954, sau khi Roger
Bannister của Anh quốc phá được kỷ lục bốn phút một dặm, thì John Landy của Úc
cũng phá được kỷ lục như thế. Điều này buộc hai đấu thủ phải thực hiện một cuộc
chạy đua ở Canada. Khi hai đấu thủ cố sức ở cự li cuối cùng. Landy chợt nhìn lại
sau một chút để xem Bannister gần mình đến đâu. Bắt được cơ hội ngàn vàng này,
Bannister đã bứt phá và vượt qua Landy để dành chiến thắng.
Đã bao giờ tâm trí tôi đặt câu hỏi
hoặc do dự trong quyết định theo Chúa gần gũi hơn chưa? Khi nào? Tại sao?
Thiên Chúa không kêu gọi tôi thành
công, nhưng Ngài kêu gọi tôi tin tưởng. (Mẹ Têrêsa)
10.
Không chỗ tựa đầu
Nhà thơ Bàng Bá Lân đã thi vị hóa cảnh
nhà dột như sau: “Bốn bề gió lạnh vào thăm, Ba gian mưa uớt biết nằm nơi nao? Dế
ngâm thơ ở khe nào, Bảo cho ta biết ta vào trú mưa.” Dù vậy, có một mảnh đất, cất
một mái nhà nho nhỏ vẫn là mơ uớc ngoài tầm tay của rất nhiều người, nhất là những
anh chị em nhập cư ở các thành phố lớn. Quyền được có nhà ở là một quyền cơ bản
của con người như con thú có hang, con chim có tổ. Đức Giêsu đã từ khước quyền
lợi ấy và chia sẻ kiếp người cùng đinh nhất: chỗ tựa đầu của Ngài lúc chào đời
là máng cỏ dành cho súc vật; khi rao giảng Tin Mừng là khoang thuyền của ngư
dân nghèo; lúc lìa đời là thập giá của tử tội. Ngài cũng muốn có một mái nhà để
“an cư lạc nghiệp” chứ! Thế nhưng, Ngài từ khước nhu cầu cơ bản ấy vì mục tiêu
cao cả hơn: để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
Đi đạo hay theo Chúa Giesu là chấp
nhận đi theo bước chân, con đường Ngài đã đi. Vì thế, khi nào bạn sẵn sàng đón
nhận những mạo hiểm, bấp bênh, giảm bớt những chỗ tựa đầu để có thể sống Lời
Chúa, bạn đang thật sự là môn đệ chân truyền của Ngài.
Xem xét chỗ tựa đầu nào đang trói buộc,
không cho tôi tích cực sống những giá trị của Tin Mừng (những thói quen hưởng
thụ, những tiện nghi không thực sự cần thiết...) và từ bỏ để loan báo Tin Mừng
cách tích cực hơn.
11.
Theo Chúa phải dứt khoát
Trong thần thoại Hy Lạp có kể truyện
về thần Ôrơphê bị đày xuống trần, được các thần tặng cho cây đàn bảy dây. Tiếng
đàn làm nước ngừng chảy, đá vỡ ra, thú dữ biến thành chiên…
Ôrơphê cưới được cô vợ rất xinh đẹp
tên là Ôriđisê, ngày kia nàng bị rắn cắn chết, hồn nàng xuống âm phủ!
Ôrơphê thương nhớ vợ nên đem đàn xuống
âm phủ gảy để đưa hồn vợ về. Các thần căn dặn Ôrơphê: Phải đi sau nàng mà gảy
đàn, và các thần cũng dặn dò nàng: Khi nghe tiếng đàn thì cứ đi thẳng đừng ngó
lui đằng sau. Nhưng đi được một đoạn, nàng ngó lại xem chồng có theo nàng về
không, thế là hồn nàng bị chết muôn đời!
Ôrơphê mãi mãi mất vợ!
Thánh Clémenté đã áp dụng truyện này
vào việc Tông Đồ:
- Ôrơphê là Chúa Giêsu.
- Đàn bảy dây: Bầu đàn là Lời Chúa,
bảy dây là bảy Bí tích sẽ biến tội ra ơn, dữ ra lành, chết ra sống.
- Ôriđisê bị rắn cắn: con người bị
quỷ làm hại
- Chàng đem đàn đến cứu vợ, nhưng vì nàng không
nghe lời căn dặn đã quay lại, nên chàng mất vợ: Chúa Giêsu ban Lời và lập Bí
tích để cứu ta, nhưng ta không dứt khoát theo Chúa. Chúa khóc vì ta bị diệt (x
Ga 11,35; Lc 19,41).
THỨ NĂM - SAI
BẢY MƯƠI HAI NGƯỜI RAO GIẢNG
Lời Chúa: Lc 10, 1-12
Khi ấy, Chúa chọn thêm bảy mươi hai
người nữa và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các
nơi mà chính Người sẽ tới.
Người bảo các ông rằng: "Lúa
chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt
lúa của Người. Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng.
Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường.
Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: "Bình an cho nhà này." Nếu ở
đấy có con cái sự bình an, thì sự bình an của các con sẽ đến trên người ấy. Bằng
không, sự bình an lại trở về với các con. Các con ở lại trong nhà đó, ăn uống
những thứ họ có, vì thợ đáng được trả công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ.
"Khi vào thành nào mà người ta
tiếp các con, các con hãy ăn những thức người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh
nhân trong thành và nói với họ rằng: "Nước Thiên Chúa đã đến gần các
ngươi." Khi vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì hãy ra
giữa các phố chợ và nói: "Cả đến bụi đất thành các ngươi dính vào chân
chúng tôi, chúng tôi cũng xin phủi trả lại các ngươi. Nhưng các ngươi hãy biết
rõ điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần." Thầy bảo các con, ngày ấy, thành
Sôđôma sẽ được xử khoan dung hơn thành này."
TRUYỆN
KỂ
1.
Tiền của và Hạnh phúc
Có một nhà hiền triết đến nghỉ hè tại
một thành phố nọ; ông vua của đô thị này thường tự hào mình là người giàu có nhất
trần gian. Vốn là người siêu thoát mọi của cải trần thế, nhà hiền triết quyết định
đến gặp cho được con người khoe khoang này. Khi nhà hiền triết vừa đến cung điện,
nhà vua liền đưa ông đi một vòng và cho ông thấy tất cả sự giàu sang của mình.
Nhà vua hỏi một cách huênh hoang:
Nhà ngươi nghĩ gì về tất cả sự giàu
có của ta?
Nhà hiền triết cúi đầu giữ im lặng.
Nhà vua lại hỏi tiếp:
Theo nhà ngươi, thì ai là người hạnh
phúc nhất trần gian này?
Nhà hiền triết suy nghĩ một lúc rồi
kể tên của những người Hy lạp mà có lẽ không ai biết đến, kể cả nhà vua. Nhận
ra thái độ khiêu khích của nhà hiền triết, nhà vua liền nổi giận; ông yêu cầu
nhà hiền triết phải giải thích ngay về thái độ ấy. Lúc bấy giờ, nhà hiền triết
mới thong thả nói:
Thưa ngài, không ai có thể được xem
là hạnh phúc, khi trái tim người đó còn gắn bó với của cải vật chất. Ðiều này
cũng giống như một cuộc hôn phối, của cải vật chất qua đi, người có của sẽ
thành một người góa, mà người góa thì đương nhiên sẽ khóc lóc; hoặc giả như người
có của cải qua đi, người đó cũng chẳng mang theo được một đồng xu nào, lúc đó
cũng chỉ có khóc lóc mà thôi.
2.
Tin vào Thiên Chúa
Tướng Carreau bị thương nặng, sắp chết.
Sau khi được chịu các phép sau hết, ông cầm lấy thánh giá mà vợ ông đã mang vào
cổ ông, nói với các bạn binh sĩ của ông:
“Các bạn hãy can đảm lên! Giữa các sự
cực nhọc và đau khổ của mình, các bạn đừng quên rằng cuộc đời là vắn vỏi và ta
thật vô phúc nếu khi chết, ta thấy rằng ta đã không hiểu biết, đã không thờ lạy
và đã không bênh vực Chúa Giêsu."
3.
Truyền giáo là việc cấp thiết
Thánh Phanxicô Xavier sinh ra tại
Tây Ban Nha chỉ ít lâu sau khi tìm ra Châu Mỹ. Hồi còn là sinh viên ở trường đại
học Pari, ngài nghe được lời mời gọi trở thành linh mục và sau đó ngài đã thành
một nhà truyền giáo ở Ấn Độ. Một trong những lá thư của ngài từ Ấn độ vang vọng
lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Đây là một phần của lá thư: “Nơi đây,
nhiều người không trở nên kitô hữu được chỉ vì một lý do là không có ai sẳn
sàng đảm nhận sứ mạng dạy dỗ cho họ về Chúa. Tôi thường nghĩ đến việc đi tới
trường đại học ở Âu Châu và kêu gọi những người thợ đến thu hoạch vụ mùa ở đây
(Ấn Độ).”
Tôi có thể làm gì để giúp thu hoạch
vụ mùa trong đời tôi?
Lạy Chúa, con đây, Chúa muốn con làm
gì? (Thánh Phanxicô Xavier)
4.
Đôi tay của Chúa.
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu
phục thiện cảm và tin tưởng của người dân trong làng vừa mới được giải phóng khỏi
tay Đức Quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng mình cố gắng lượm lại từng mảnh
vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đã được dựng lên ở ở quảng trường trước ngôi nhà thờ
nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã
gắn lại được gần như toàn bức tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là
không thể nào hàn gắn lại được. Vì các mảnh vụn lớp thì bị bể quá nhỏ, lớp thì
đã bị nát thành như bụi.
Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp
quyết định bỏ dở công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy
hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi viết vào đó một
hàng chữ bất hủ, không những đánh động được tâm hồn những người dân trong làng,
mà còn thu hút được nhiều khách du lịch đến vùng này để được tận mắt xem hàng
chữ đầy ý nghĩa. Các bạn có thể đoán được hàng chữ này không? Đó là “CHÍNH BẠN
LÀ ĐÔI TAY CỦA CHÚA."
5.
Mang và không mang những gì?
Nếu phải thực hiện một chuyến đi
dài, tôi sẽ mang theo thứ gì? Chắc chắn là những gì gọn nhất, nhẹ nhất, cần thiết
nhất. Và hôm nay, trong lênh truyền của Chúa Giêsu tôi đọc được nét nhẹ nhàng
thanh thoát ấy trong bước chân của người môn đệ không giày dép, bao bị, tiền
nong...
Và phải chăng cũng vang động trong
tâm hồn tôi lời mời gọi “ra một cuộc lữ hành”? Nhưng lạy Chúa, khó quá, vì nơi
con: Đã quen rồi bóng râm của tiện nghi, an toàn. Đã quen rồi đôi giày của danh
vọng. Đã quen rồi chiếc đồng hồ kế hoạch. Đã quen rồi bao bị của bằng cấp, bạc
tiền.
Lạy Chúa, trên hành trình tiến về
nhà Chúa, xin giải thoát con khỏi những ràng buộc của bản thân, của lề thói xã
hội, để biết trao ban cho anh em chính Chúa chứ không phải chính con
6.
Truyền giáo cần dấn thân
Một cuộc đánh bom tự sát tại một nhà
thờ Anh Giáo ở Peshawa, Pakistan đã khiến trên 80 tín hữu bị chết khi họ vừa ra
khỏi nhà thờ sau khi dự lễ Chúa Nhật 22/09/2013. Lý do “đơn giản” là, đại diện
nhóm Taliban tổ chức cuộc tấn công đó tuyên bố, vì sự thù địch với Kitô giáo, họ
sẽ tiếp tục tấn công cho đến khi không còn người ngoài Hồi giáo nào trên đất
Pakistan. Các Kitô hữu vẫn tiếp tục bị thù ghét dưới nhiều hình thức: từ việc bị
bách hại, bị xua đuổi “từ thành này sang thành khác” (x. Mt 10,23) đến việc người
ta bịt tai trước lời rao giảng. Chúa Giêsu dạy chúng ta phản ứng lại một cách
nhẹ nhàng là “phủi bụi chân lại” nhưng vẫn phải kiên quyết loan báo Tin Mừng mà
không sợ hãi rằng: “Nước Thiên Chúa đã đến gần.”
Nhiều kitô hữu “ngại” nói đến hai tiếng
“truyền giáo” hoặc cho rằng việc truyền giáo ngày nay là không phù hợp. Bạn nhớ,
bản chất của Giáo hội là truyền giáo (AG 2). Thánh Phaolô cũng đã khuyên
Timothê “hãy rao giảng Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện” (2Tm
4,2).
7.
Truyền giáo cần biết
Theo thống kê thì trên thế giới hiện
nay có khoảng 7 tỷ người, và có khoảng 1,5 tỷ người Công giáo. Tại Việt Nam có
gần 88 triệu người nhưng chỉ có khoảng hơn 6 triệu tín hữu. Một con số quá
chênh lệch mà chính Chúa Giêsu đã nhìn thấy cách đây hơn 2000 năm. “Cánh đồng
lúa” của Chúa thì bao la trong khi “thợ gặt” lại quá ít. Chúa đã sai các môn đệ
ra đi, làm “thợ gặt” cho Chúa. Những “thợ gặt” này trong khi được sai đi như vậy,
phải có bổn phận làm phát sinh nhiều “thợ gặt” khác: “Các con hãy xin chủ ruộng
sai thợ đến gặt lúa của Người." Giáo Hội đang rất cần những thợ gặt nhiệt
thành với sứ mạng rao truyền tình yêu thương của Chúa cho thế giới hôm nay.
Truyền giáo không chỉ là làm thế nào
để rửa tội cho thật nhiều người. “Thợ gặt” muốn có “lúa” để “gặt” thì trước
tiên phải biết gieo giống. Vì thế, bổn phận đầu tiên của “thợ gặt” là làm “những
công việc tốt đẹp” như “ánh sáng chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ” nhờ đó “họ
tôn vinh Thiên Chúa Cha chúng ta, Đấng ngự trên trời” (x. Mt 5,16). Phải có những
hạt giống Tin Mừng đó mới mong trổ sinh một vụ mùa bội thu những người tín hữu
Chúa Kitô.
Sống trong sự thật, yêu thương cả kẻ
thù, tha thứ cho kẻ thù ghét mình, đó là những hạt giống Tin Mừng mà “thợ gặt”
Chúa Kitô phải gieo vào trong cuộc sống hằng ngày.
8.
Hành trang tông đồ
Người đi đường cần phải mang theo
bao bị, túi xách. Đi càng lâu càng xa, bao bị càng lớn, va li càng to. Vậy mà Đức
Giê-su lại căn dặn người môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng không túi tiền giắt
lưng, cũng chẳng bao bị, túi xách, va li. Lỡ hết tiền dọc đường chẳng lẽ ngửa
tay xin? Không có đồ dùng cá nhân thì lấy gì lo cho những nhu cầu tối thiểu? Cần
phải hiểu đúng lời Đức Giê-su: Ngài muốn hành trang người tông đồ phải là hành
trang gọn nhẹ, đơn giản hết sức. Đúng hơn nữa, hành trang ấy phải là lòng yêu mến
Thiên Chúa, tâm tình nhiệt thành đối với các linh hồn, nhất là đối với những
người chưa biết Đức Ki-tô, chưa nghe biết Tin Mừng Nước Trời. Chính lòng yêu mến
Chúa và công cuộc Nước Trời mới là hành trang cho sinh hoạt mỗi ngày của những
ai muốn làm tông đồ.
Hãy ghi nhớ lời Gandhi: “Một vật cứng
rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy,
chính vì ngọn lửa không đủ mạnh.” Bạn sẽ làm gì để lửa yêu mến các linh hồn làm
tan chảy sự dửng dưng của bạn đối với công cuộc truyền giáo và sau đó làm tan
chảy các tâm hồn khác?
9.
Thiên đàng ở đâu
Trong tác phẩm Nhà Giả Kim, Paulo
Coelho đã kể về cậu bé chăn chiên nằm mơ thấy kho báu. Thế là cậu bán hết đàn
chiên, thu góp hành trang để đến xứ Ai Cập xa xôi. Nhờ đi ra, cậu đã học được
nhiều điều về thế giới, về bản thân, và rốt cuộc cậu tìm được kho báu ngay đúng
chỗ trước đây cậu đã nằm mơ. Song bài học lớn nhất là cậu biết đặt niềm tin vào
sức mạnh siêu nhiên-sức mạnh luôn thúc đẩy và nâng đỡ cho những ai luôn khát
khao truy tìm chân lý.
Câu chuyện của Paulo Coelho có thể
cho chúng ta có một cái nhìn rõ hơn về Tin Mừng hôm nay. Các môn đệ cũng được
sai đi với hai bàn tay trắng, phải đối diện với khó khăn như chiên giữa bầy
sói. Thế nhưng, nhờ ra đi hành động cho Chân Lý, các ông đã vượt qua sợ hãi để
tìm được niềm vui. Niềm vui không phải bởi việc đã làm, nhưng vì nhận ra được
giá trị của sự từ bỏ, sức mạnh nội tại của lòng tin và trên hết là cảm nghiệm
Thầy luôn kề bên: Thiên Chúa ở cùng các ông và Bình An của Người lan tỏa nơi
các ông.
Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức
Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi Giáo Hội nói chung và từng Ki-tô hữu nói riêng cần
phải ‘ra đi’ đến những vùng ngoại biên để loan báo Tin Mừng. Bạn nghĩ gì khi
nhiều gia đình trẻ của Giáo Hội Hàn Quốc sẵn sàng đến những vùng xa lạ và nghèo
khổ để sống làm chứng cho Tin Mừng? Bạn có nghĩ và tin rằng: phải đi ra, bạn mới
được biến đổi và tìm được hạnh phúc của mình ngay ở đời này không?
THỨ SÁU - LẮNG
NGHE VÀ SÁM HỐI
Lời Chúa: Lc 10, 13-16
Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng:
"Khốn cho ngươi, hỡi Corozain, khốn cho ngươi, hỡi Bethsaiđa: vì nếu tại
Tyrô và Siđon đã xảy ra những phép lạ thực hiện nơi các ngươi, thì từ lâu, những
nơi đó đã mặc áo vải thô và ngồi trên tro bụi mà sám hối. Cho nên trong ngày thẩm
phán, Tyrô và Siđon sẽ được nhiêu dung hơn các ngươi. "
Còn ngươi nữa, hỡi Capharnaum, phải
chăng ngươi sẽ được nâng cao đến tận trời? Ngươi sẽ phải hạ thấp xuống tới địa
ngục. "Ai nghe các con, tức là nghe Thầy, và ai khinh dể các con, là khinh
dể Thầy. Mà ai khinh dể Thầy là khinh dể Ðấng đã sai Thầy."
TRUYỆN
KỂ
1.
Tin vào Thiên Chúa
Tướng Carreau bị thương nặng, sắp chết.
Sau khi được chịu các phép sau hết, ông cầm lấy thánh giá mà vợ ông đã mang vào
cổ ông, nói với các bạn binh sĩ của ông:
“Các bạn hãy can đảm lên! Giữa các sự
cực nhọc và đau khổ của mình, các bạn đừng quên rằng cuộc đời là vắn vỏi và ta
thật vô phúc nếu khi chết, ta thấy rằng ta đã không hiểu biết, đã không thờ lạy
và đã không bênh vực Chúa Giêsu."
2.
Hai triết gia Jacques Maritain và Raissa.
Jacques Maritain và Raissa là hai
triết gia của nước Pháp vào đầu thế kỷ này. Hồi còn trẻ, hai người đã hết lòng
yêu thương nhau. Nhưng rồi sự vô tín ngưỡng đã đưa họ đến vực thẳm của thất vọng.
Cuộc sống càng ngày càng trở nên nhạt nhẽo, vô nghĩa. Rồi một hôm kia, hai người
dắt nhau đến một công viên ở Paris và thề thốt với nhau rằng, nếu trong vòng 12
tháng mà không tìm ra được một ý nghĩa nào cho cuộc sống thì cả hai sẽ cùng tự
vẫn.
Rất may là sau 12 tháng họ đã tìm ra
cho cuộc sống một ý nghĩa. Ý nghĩa ấy là tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa.
Sau đó cho đến cuối đời, họ đã giành
tất cả cuộc sống của họ để làm chứng cho tình yêu và ân sủng họ đã nhận được.
Trong tác phẩm có tựa đề “Thủ lãnh của
thế gian”, bà Raissa đã viết như sau: “Ma quỉ đã tung ra một mạng lưới ảo tưởng
trên chúng ta. Mạng lưới này tuy vô hình nhưng rất mãnh liệt. Nó làm cho chúng
ta yêu thích giây phút chóng qua hơn cuộc sống vĩnh cửu. Nó khuyến dụ chúng ta
chạy theo sự vô định hơn chân lý. Nó bảo ta rằng, ta chỉ có thể yêu mến tạo vật
bằng cách thờ lạy chúng mà thôi."
3.
Gieronimo – môn đệ Chúa Kitô
Chàng Giêrônimô rất say mê những tác
phẩm bằng tiếng La Tinh của Cicéron, lúc nào trên tay chàng cũng mang cuốn sách
này, trước khi ngủ chàng phải đọc mấy trang cho đến khi rơi vào giấc ngủ. Lần
kia, chàng nằm mơ thấy mình bị điệu đến trước Tòa Chúa để chịu xét xử. Chàng phải
run lên vì thấy Chúa ngồi trên Ngai uy quyền, bên phải Chúa là các Thiên thần cầm
roi; bên trái Chúa là bầy Satan cùng xiềng xích, gươm giáo, gậy gộc. Chúa lên
tiếng hỏi:
- Ngươi là môn đệ của ai? Nếu thành
thật thì án giảm, ngoan cố mà nói dối, thì sẽ bị đòn và trao cho quỷ lôi xuống
Hỏa ngục!
- Dạ, con là môn đệ của Chúa.
- Không đúng, Thiên thần đâu cho tên
này một trận đòn.
Sau trận đòn thứ nhất, Chúa lại cho
Giêrônimô đứng dậy, hỏi
- Ngươi là môn đệ của ai? Nếu còn
ngoan cố nói dối, thì đòn sẽ gia tăng.
- Dạ, con là môn đệ của Chúa Giêsu ạ.
- Không phải, vẫn nói dối, Thiên thần
đâu gia tăng đánh đòn cho Ta.
Sau trận đòn thứ hai, Chúa lại cho
Giêrônimô đứng dậy,và hỏi
- Này Giêrônimô, nếu quá tam ba lần
nói dối, thì Ta sẽ giao cho quỷ lôi ngươi đi. Ngươi là môn đệ của ai?
Nghe được quỷ sẽ lôi đi, Giêrônimô
quá sợ, chàng suy nghĩ một lát, rồi thưa
- Dạ, con là môn đệ của Chúa Giêsu
Kitô ạ.
- Quá láo, ngươi không phải là môn đệ
của Ta, ngươi là môn đệ của Cicéron. Quỷ đâu lôi nó xuống Hỏa ngục!
Vì quá sợ hãi làm chàng bừng tỉnh, nắn
tay chân thấy mình còn sống, mừng quá vì đó chỉ là giấc mơ, chứ nếu là thật thì
hết đường cứu thoát! Chàng quỳ ngay xuống tạ ơn Chúa!
Từ bấy giờ Giêrônimô dẹp bỏ tất cả
các tác phẩm do tay người đời viết, chỉ ôm lấy cuốn Kinh Thánh vào rừng ăn chay
cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa. Thời gian sau chàng trở về xin vào Dòng tu, và
được làm Linh mục, và chính Linh mục Giêrônimô đã dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp
sang tiếng La Tinh, gọi là Bản Phổ Thông (Vulgata), được Hội Thánh dùng đọc
trong Phụng Vụ. Ngài đã viết nhiều tác phẩm chú giải Kinh Thánh gọi là cuốn
Kinh Thánh Bảy Cột, ngài giảng dạy rất xuất sắc. Trong cơn bệnh nguy tử, rất
nhiều tín hữu đứng vây quanh khóc nức nở, vì biết sắp mất một thầy dạy Đức Tin
tuyệt vời! Ngài quay mặt nhìn mọi người với ánh mắt trìu mến và nói: “Ai không
biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô.” Nói đoạn, ngài trút hơi thở!
4.
Ngại thú tội
Trong cuốn “Hương rượu mới”, Keith
Miller nói rằng như một tín hữu Tin lành, ông ngại thú tội với bất cứ ai. Ông
tin rằng việc thú tội chỉ nên diễn ra giữa Thiên Chúa và ông. Tuy nhiên, Keith
nhận thấy rằng cho dù Thiên Chúa có tha thứ cho ông, ông vẫn không thể tha thứ
cho mình được. Ông bị dày vò nhiều tháng trời. Thế rồi một hôm, ông và một người
bạn cùng cầu nguyện. Ông viết: “Trong khi cầu nguyện, tôi thú tội lớn tiếng với
Thiên Chúa trước mặt người bạn, và sau đó không lâu, tôi đã chấp nhận được sự
tha thứ của Thiên Chúa.”
Một tội lỗi hay một hành động nào đối
với Thiên Chúa và tha nhân vẫn còn dày vò tôi? Tôi có thể làm gì được?
Khi ta trung thực với người khác, điều
đó đảm bảo tôi trung thực với Thiên Chúa và với chính mình.
5.
Sự khôn ngoan của Thiên Chúa
Một thi sĩ vô danh viết những vần
thơ cho những ai thắc mắc về sự khôn ngoan của Tiên Chúa: “Bạn là kẻ không làm
chuyển động được một vì sao, không tạo dựng được một ngọn núi, không đưa ra mẫu
của một bông tuyết, không hiểu được mầu nhiệm sinh hạ, không thể thay đổi được
vũ trụ, không thể tạo ra được một mầm chồi hoặc cho mưa rơi hay nắng ấm, không
vẽ nên được ánh hoàng hôn hoặc làm cho bình minh ló rạng, không tạo nên được dù
chỉ một phép lạ. Hỡi con người yếu đuối, làm sao bạn dám nghi ngờ Đấng duy nhất
có thể làm được những điều đó.”
Phải chăng đôi khi tôi thắc mắc về sự
khôn ngoan của Thiên Chúa? Tại sao? làm thế nào tôi giải quyết được thắc mắc
đó?
Nếu công trình của Thiên Chúa dễ hiểu
đối với lý trí con người, thì chúng chẳng còn tuyệt vời và chẳng có gì đáng nói
nữa (Thomas Kempis)
6.
Một người sống đức tin
Một giáo viên bắt đầu lớp học bằng
cách nói về Chúa Giêsu. Cô nói: “Hôm nay, cô muốn kể cho các em về một người mà
ai trong các em cũng muốn gặp. Người này yêu thương các em hơn cả những bạn
thân nhất của các em. Người này tử tế hơn cả những người tử tế nhất mà các em
biết. Người này tha thứ cho các em, dù các em thường hay phạm lỗi đến đâu đi nữa.”
Trong khi tiếp tục, cô giáo chú ý đến một cậu bé ở cuối lớp càng lúc càng trở
nên phấn khích. Đột nhiên, không còn kiềm chế được nữa, cậu hồi hợp thốt lên:
“Em biết rõ người mà cô đang nói tới, ông ta sống ở ở khu phố chúng ta.”
Cuộc sống của tôi phản ánh cuộc sống
của Chúa Giêsu về phương diện nào? Và không phản ánh ở phương diện nào?
Xin hãy tỏ sáng và ở lại trong con,
để mỗi tâm hồn mà con tiếp tục cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong con
(Henry Newman)
7.
Tội cố chấp
Tục ngữ Ả Rập nói rằng: tội có năm
ngón tay, nó dùng hai ngón bịt mắt chúng ta, để chúng ta không thấy được tội lỗi
xấu xa chừng nào. Nó sợ nếu chúng ta biết tội lỗi xúc phạm đến Chúa nặng nề thế
nào, thì chúng ta không dám phạm.
Nó dùng hai ngón khác bịt tai chúng
ta, để chúng ta không còn nghe thấy tiếng Chúa mà ăn năn sám hối. Nó làm như vậy
để giữ chúng ta ở trong tình trạng tội lỗi lâu ngày, lòng chúng ta trở nên chai
đá, và chúng ta không muốn thống hối nữa.
Nó dùng ngón cuối cùng bịt miệng
chúng ta, để chúng ta không đọc lời thống hối, không phàn nàn hối hận vì tội lỗi
đã phạm.
THỨ BẢY - MỪNG
VUI ĐÍCH THỰC
Lời Chúa: Lc 10, 17-24
Khi ấy, bảy mươi hai ông trở về vui
mừng và nói rằng: "Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục
chúng con.” Người bảo: "Ta đã thấy Satan từ trời sa xuống như luồng chớp.
Này Ta đã ban cho các con quyền giày đạp rắn rết, bọ cạp, mọi quyền phép của kẻ
thù, và không có gì có thể làm hại được các con. Dù vậy, các con chớ vui mừng
vì các thần phải vâng phục các con; nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được
ghi trên trời.”
Lúc đó, Chúa Giêsu đầy hoan lạc
trong Chúa Thánh Thần, Người nói: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng
Cha, vì Cha đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều
này, nhưng đã tỏ cho những kẻ đơn sơ. Vâng, lạy Cha, đó là ý Cha đã muốn thế. -
Cha Ta đã trao cho Ta mọi sự. Không ai biết Chúa Con là ai, ngoài Chúa Cha;
cũng không ai biết Chúa Cha là Đấng nào, ngoài Chúa Con, và những người được
Chúa Con muốn tỏ cho biết.” Rồi Chúa Giêsu quay lại phía các môn đệ và phán:
"Hạnh phúc cho những con mắt được xem những điều các con xem thấy, vì
chưng, Thầy bảo các con: Có nhiều tiên tri và vua chúa đã muốn xem những điều
các con thấy, mà chẳng được xem, muốn nghe những điều các con nghe, mà đã chẳng
được nghe.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Niềm vui đích thực
Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai họ
ra đi rao giảng Tin Mừng; họ gặp nhiều chống đối, nhưng cũng gặt hái được nhiều
thành công. Tin Mừng hôm nay thuật lại rằng sau một thời gian ra đi rao giảng,
các ông hớn hở trở về nói lên niềm vui của mình, vì đã nhờ quyền năng của Chúa
mà xua trừ được ma quỉ, nhưng Chúa Giêsu muốn cho các ông thấy rằng Ngài đến là
để giải phóng con người nô lệ và đưa họ tới tự do đích thực.
Giải phóng con người khỏi ách nô lệ
và đưa con người vào tự do đích thực, đó là sứ mệnh mà Giáo Hội tiếp tục thực
thi trong thế giới này. Chúng ta có thể nhận ra sứ mệnh ấy qua diễn văn Ðức
Gioan Phaolô II đọc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc vào ngày 5/10/1995. Ðức Thánh Cha
ghi nhận rằng con người càng ngày càng tìm kiếm tự do và đây chính là điểm nổi
bật của thời đại chúng ta. Sự tìm kiếm tự do ấy đặt nền tảng trên các quyền phổ
quát của con người. Chính vì phản ứng lại những hành vi man rợ đối với phẩm giá
con người, mà chỉ ba năm sau khi thành lập, Liên Hiệp Quốc đã công bố bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Ðây là một gia sản chung của nhân loại, nó bắt nguồn từ
chính bản tính của con người, trong đó có phản ánh những đòi hỏi khách quan và
không thể hủy bỏ được của một luật luân lý phổ quát.
Sống theo những khát vọng cao thượng
nhất của mình, con người có thể làm được những điều xem ra vượt quá khả năng của
nó. Ðó là sứ điệp chúng ta có thể đọc thấy trong Tin Mừng hôm nay: các môn đệ
ra đi với hai bàn tay trắng, họ không có một khí giới nào khác ngoài sự siêu
thoát và niềm tin vào quyền năng của Chúa Giêsu. Vậy mà khi nói về những thành
quả của họ, chính Chúa Giêsu đã thốt lên: "Ta đã thấy Satan như tia chớp từ
trời rơi xuống.” Ðó chính là sức mạnh của những người mà Chúa Giêsu gọi là những
kẻ bé mọn.
2.
Chỉ cần Chúa biết
Bác sĩ Cronin kể câu chuyện của mình
trở lại với Chúa như sau:
Khi làm việc trong một bệnh viện,
ông thấy một cô y tá rất tận tâm, rất yêu người bệnh, hầu như đêm nào cô cũng
thức thật khuya để lo cho bệnh nhân. Dù vậy, ông biết rằng tiền lương của cô rất
ít, chỉ vừa đủ để sống thôi.
Ngày kia, gặp cô y tá này, ông đề
nghị:
- Cô có công nghiệp lắm! Rất đáng được
tăng lương.
- Tiền lương của tôi như vậy cũng đủ
rồi, cô y tá nói.
- Nhưng cô đáng được nhiều hơn nữa.
Chúa biết cô có nhiều công nghiệp, vị bác sĩ khẳng định.
- Nếu Chúa biết… thì tôi còn muốn gì
hơn nữa, cô nói thêm: Tôi chỉ làm vì Chúa!
Và bác sĩ Cronin thú nhận: “Nghe cô
nói như vậy, tôi rất cảm phục. Tôi thấy tâm hồn tôi bừng sáng lên. Tôi thấy cô
y tá này có một tâm hồn quá cao trọng, còn tôi thì quá nghèo nàn. Và nhờ thế,
tôi đã trở lại với Chúa.”
3.
Cùng đích của con người.
Ngày xưa, triết gia Diogenes là một
người sống rất thanh bạch, cái nhà của ông ở chỉ là một cái thùng rỗng. Ông có
kiểu nói làm cho nhiều người phải ngạc nhiên.
Một hôm, ông đến giữa chợ thành
Athènes dựng một căn lều. Trước cửa lều, ông đặt một tấm bảng trên đó có ghi đậm
hàng chữ như sau:
- Tại đây có bán sự khôn ngoan.
Một bậc khoa cử tình cờ đi ngang qua
căn lều đọc được lời rao bán, mới cười thầm trong bụng. Muốn biết đàng sau căn
lều ấy có những gì. Ông mới sai người đầy tớ cầm tiền đến dò la và mua cho được
cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.
Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo
lời căn dặn của chủ, anh đưa cho Diogenes 3 hào và nói rằng, chủ của anh muốn
có sự khôn ngoan. Cầm lấy 3 hào bỏ vào túi, triết gia Diogenes nói với người đấy
tớ một cách trang trọng như sau:
- Anh hãy về đọc lại cho chủ anh
nghe câu này: “Trong tất cả mọi sự hãy nghĩ đến cùng đích của mình.”
Vị khoa cử thành Athènes vô cùng
thích thú vì lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà như khuôn vàng
thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày, và tất cả những ai đi qua trước nhà
ông đều có thể đọc thấy.
4.
Quyền năng Chúa ban cho Đức Mẹ
Đây là câu chuyện đã xảy ra ở Lộ Đức.
Một quả phụ đem đứa con trai duy nhất
của bà lên 10 tuổi đến hang đá Lộ Ðức. Cậu bé bị bất toại từ lúc vừa mới biết
đi vì một tai nạn xe hơi. Dọc đường, bà mẹ không ngừng lập đi lập lại với con
là bất cứ điều gì con cầu xin cùng Chúa Giêsu, nhờ lời bầu cử của Ðức Mẹ sẽ
không bị từ chối.
Tới hang Lộ Ðức, bà mẹ đẩy con ngồi
trên xe lăn nhập hàng rước kiệu cùng với các bệnh nhân khác, và kiên nhẫn chờ đợi
Mình Thánh Chúa đi ngang qua đó, để lãnh nhận phép lành. Vị linh mục cầm Mình
Thánh Chúa trên tay và dừng lại ban phép lành trước mỗi bệnh nhân. Khi ngài đến
trước mặt cậu bé bất toại, cậu bé lớn tiếng cầu nguyện với tất cả lòng tin tưởng.
- Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa không chữa
con lành bệnh con sẽ thưa lại với Mẹ Chúa cho xem.
Nghe vậy, vị linh mục xúc động mạnh,
liền quay trở lại ban phép lành cho cậu một lần nữa. Cậu bé vừa chăm chú nhìn
Mình Thánh Chúa, vừa lớn tiếng thân thưa:
- Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa không chữa
lành bệnh cho con, con nhất định sẽ thưa lại với Mẹ Chúa cho xem.
Mình Thánh Chúa vừa được vẽ xong
hình Thánh Giá trên người em thì như có một sức mạnh nào đó thúc đẩy, cậu bé đứng
thẳng dậy bước khỏi xe lăn, quì gối thờ lạy tạ ơn Chúa trước sự ngạc nhiên của
mọi người, nhất là trước sự xúc động của mẹ em.
5.
Điều quan trọng nhất
Sử gia Plutarque có kể lại câu chuyện
sau đây:
Một ngày nọ, hoàng đế Alexandre thấy
triết gia Diogenes ngồi quan sát rất chăm chú bộ xương người nên hỏi:
- Khanh làm gì mà quan sát bộ xương
đó kỹ càng như vậy ?
Diogenes trả lời:
- Muôn tâu bệ hạ, hạ thần nghiên cứu
rất kỹ mà vẫn không thấy bộ xương của phụ vương bệ hạ khác với bộ xương của người
nô lệ tí nào cả.
Rồi cũng triết gia Diogenes. Một hôm
đến giữa chợ Athène dựng lên một căn lều. Trước cửa lều ông đặt một tấm bảng
trên đó có ghi đậm hàng chữ như sau:
- Tại đây có bán sự khôn ngoan.
Một bậc khoa cử tình cờ đi ngang qua
căn lều đọc được lời rao bán, mới cười thầm trong bụng. Muốn biết đàng sau căn
lều ấy có những gì, ông mới sai người đầy tớ cầm tiền để dò la và mua cho được
cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.
Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo
lời căn dặn của chủ, anh đưa cho Diogenes 3 hào và nói rằng, chủ của anh muốn
có sự khôn ngoan. Cầm lấy ba hào bỏ vào túi, triết gia Diogenes nói với người đầy
tớ một cách trang trọng như sau:
- Anh hãy về đọc lại cho chủ anh
nghe câu này: “Trong tất cả mọi sự hãy nghĩ đến cùng đích của mình.”
Vị khoa cử thành Athène vô cùng
thích thú vì lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà như khuôn vàng
thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày và tất cả những ai đi qua trước nhà
ông đều có thể đọc thấy.
6.
Gặp Chúa là gặp được niềm vui
Charlie bị cáo buộc là đã giết một
viên chức hành chánh tại Đại Học Harverford ở Pennsylvania và phải nhận án tử
hình trên ghế điện. Lúc anh ở tù, một đoàn truyền bá Tin Mừng thuộc Hội Thánh
Tin Lành Alden Union đã đưa anh ta đến với Chúa. Charlie học Kinh Thánh và rất
thích thánh ca. Charlie hay hát bài: “Không ai săn sóc tôi bằng Chúa Giêsu.”
Trước khi bị lên ghế điện, Charlie
xin được nói chuyện với các bạn tù. Nhận được phép, Charlie nói về niềm vui của
anh trong Chúa: Anh bảo rằng, không còn sợ bị hành quyết. Anh rất hối hận về tội
của mình, nhưng đã được Chúa tha thứ và biết rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ được gặp
Chúa trực tiếp.
Cuối giờ nói chuyện, Charlie hát bài
mình thích nhất rồi bước xuống. Một tờ báo tại Philadelphia thuật rằng, khi đi
vào ghế điện, anh hát một lần nữa. Khi người ta trùm đầu Charlie, câu nói cuối
cùng của anh cũng là lời hát: “Một ngày kia tôi sẽ gặp mặt Chúa trong hạnh
phúc.”
7.
Nên người hữu ích
Bill Gates đã thố lộ rằng Melinda, vợ
ông đã giúp ông sử dụng tài sản của một “vua máy tính” cách hữu ích. Vợ chồng
Bill Gates đã lập quỹ từ thiện giúp cho các tổ chức phòng chống bệnh HIV/AIDS,
bệnh lao và mang nhiều phương tiện kỹ thuật đến cho những người thu nhập thấp
hoặc vô gia cư. Đối với họ, người hữu ích còn là người có mối tình thân với tha
nhân, điều thường bị lãng quên trong xã hội đề cao thu nhập này.
Đối với Ki-tô hữu, mối tương quan với
Thiên Chúa quyết định cuộc đời của họ có hữu ích hay không. Những thành công ở
đời này, dù làm cho quỷ thần phải khuất phục, chưa hẳn đã có giá trị trước mắt
của Thiên Chúa, bởi nó có thể được dùng để đánh bóng đương sự, để thu hút vinh
quang cho mình. Điều phải đạt đến là qui hướng mọi sự về với Chúa, về sự trên
trời. Ngay cả một việc đơn sơ nhất, mặc dù yếu đuối hay bị chia trí bởi trăm
công nghìn việc, tay cầm tràng hạt Mân Côi với thiện chí muốn gặp Chúa cũng đã
làm nên điều hữu ích rồi.
Mời Bạn: Ngày hôm nay bạn làm được
điều gì hữu ích không? Hãy kiểm tra “cổng nối kết” của bạn với Chúa trong khi
làm việc thì bạn sẽ có câu trả lời.
8.
Từ chối Chúa là điều xấu nhất
Trong cuốn “Trước sự hiện diện của
Ngài”, Louis Evely nói rằng xấu xa tồi tệ nhất không phải là làm điều xấu, mà
là làm điều xấu rồi chối tội. Ông viết: “Phải làm sao một khi đã phạm lỗi rõ
ràng, không thể chối cãi được, bạn có thể thống hối cách chân tình như bạn đã
phạm lỗi. Nếu bạn đã lỡ yếu đuối phạm tội, thì đừng quá kiêu hãnh để không nhìn
nhận tội lỗi.”
Tôi nghĩ sao về câu nói của Tolstoi:
“Mọi người chỉ nghĩ đến chuyện thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ đến chuyện
thay đổi bản thân mình?”
Đệ tử hỏi: “Thiên Chúa có đón nhận
những người thống hối không?”
Vị thầy trả lời: “Thế con có vứt đồ
dơ đi không?”
Đệ tử nói: “Thưa không.”
Vị thầy tiếp: “Thiên Chúa cũng không
ném con đi.”
9.
Hạnh phúc thật
Trong cuốn “Tìm kiếm Thiên Chúa”,
Louis Savary và Thomas O’ Connor kể câu truyện về một thanh niên có kinh nghiệm
đáng lưu ý về Thiên Chúa. Một ngày nọ, anh quỳ gối cầu nguyện lần đầu tiên sau
hơn 20 năm. Trong quá trình cầu nguyện, anh phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa.
Sau khi làm như thế, anh nghĩ rằng phần đời còn lại của anh sẽ khó khăn vất vả,
ngay cả đau khổ. Nhưng điều ngược lại đã xảy ra: Thiên Chúa chúc phúc cho anh
ngoài sức anh tưởng tượng. Người thanh niên sau đó đã viết: “Từ khi tôi để
Thiên Chúa chiếm hữu đời tôi, Ngài đã chúc phúc cho tôi bằng hàng ngàn cách.”
Đã bao giờ tôi nghĩ đến việc quỳ gối
cầu nguyện và phó thác cuộc đời cho Chúa chưa?
Trong trái tim chúng ta có một khoảng
trống mà chỉ Thiên Chúa mới lắp đầy được.
10.
Thánh Danh uy quyền
Một du khách Mỹ đi xuống một con đường
quê vắng vẻ ở Đức. Tình cờ cô gặp một người chăn cừu đang cho cừu ăn cỏ. Một
con chó đang canh giữ đàn cừu cẩn thận. Cô hỏi tên con chó là gì, người chăn cừu
trả lời: “Tôi sẽ đánh vần tên của nó cho cô. Tôi không thích gọi tên nó, nếu
không có gì sai bảo nó.” Lời giải thích của người chăn cừu nhắc nhở chúng ta rằng
tên của chúng ta thì riêng tư và có sức mạnh ra sao. Những người thời Kinh
Thánh còn gìn giữ danh xưng một cách trân trọng. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên
nếu Danh Thánh Chúa Giêsu đã có một uy lực lớn đối với ma quỷ khi Danh Ngài được
kêu cầu.
Tôi nhận thức thế nào về uy quyền của
Danh Thánh Chúa? Tôi có nói đến Danh Ngài một cách kính trọng không?
Danh Thánh Chúa Giêsu ngọt ngào khi
cảm nếm, êm ái khi nghe và đem lại niềm vui cho tâm hồn (Thánh Bernađô)
11.
Mục đích tốt nhất cho cuộc sống
Michael Vick ngôi sao bóng bầu dục,
27 tuổi, có tên trong số 33 người giàu nhất hành tinh năm 2005 với tài sản ước
tính lên đến hàng 100 triệu USD. Thật đáng mừng, quá mừng nữa là khác! Thế
nhưng hiện nay anh đang lo vì phải đối mặt với án tù từ 12 đến 18 tháng vì liên
quan đến tội cá độ đấu chó bất hợp pháp. Tiền tài và danh tiếng không giúp
Michael Vick vươn lên cao hơn một thú vui nhỏ nhặt.
Chúa Giê-su dạy các tông đồ đừng dừng
lại ở điều đáng mừng tạm thời vì thấy quỷ thần khuất phục họ trong những buổi
thực tập truyền giáo. Trái lại phải nhắm tới giá trị cao hơn, tới mục tiêu tối
hậu là tên mình được ghi trên Nước Trời.
Mời Bạn: Bạn Thuý Hằng, 21 tuổi, bị
ung thư xương ở giai đoạn cuối, đã nói “Điều quan trọng không phải sống được
bao lâu, mà là sống như thế nào” (TT 25/12/06). Tài năng, tiền bạc hay bất cứ sự
vật nào khác tự chúng chưa phải là điều đáng mừng mà còn tuỳ ở cách chúng ta sử
dụng chúng thế nào. Nếu chúng được dùng như phương thế giúp bạn và người khác đạt
được Nước Trời thì đó mới là điều đáng mừng hơn cả.
Tự hỏi: Quan niệm sống của Einstein:
“Chỉ có một cuộc sống, sống cho người khác mới đáng sống” gợi ý gì cho bạn để sống
cuộc sống theo Tin Mừng?
12.
Niềm vui trọn hảo
Một ngày kia, Thánh Phanxicô cùng với
anh Lê-ô đi trên đường sau một ngày dài đi xin ăn. Trời thì lạnh buốt, bụng đói
cồn cào, áo quần rách rưới, và người ta khinh khi, xua đuổi.
Trên đường đi, anh Lê-ô nghe Thánh
nhân nói:
– Này anh Lê-ô, cho dù anh em chúng
ta có được các tu sĩ nổi tiếng là bậc khôn ngoan, thông thái, có khả năng giảng
thuyết đến nỗi muôn người đều ca tụng, thì đó chưa phải là niềm vui trọn hảo.
Họ lại tiếp tục bước đi. Một lúc
sau, Thánh Phanxicô lại nói:
– Cho dù anh em chúng ta có thể làm
cho kẻ què được đi, kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, thì
đó cũng chưa phải là niềm vui trọn hảo.
Anh Lê-ô ngạc nhiên, thưa:
– Thưa cha Phanxicô, vậy niềm vui trọn
hảo là gì?
Thánh nhân đáp:
– Này anh Lê-ô, giả như chúng ta đi
khất thực trở về, vừa mệt vừa đói, mà đến tu viện lại bị các anh em xua đuổi, mắng
chửi, đánh đập, thậm chí bỏ mặc ngoài trời rét buốt… mà chúng ta vẫn vui lòng
chịu đựng, không oán trách, trái lại còn hiền lành khiêm nhường, nhận đó như là
hồng ân của Chúa Kitô, thì đó mới chính là niềm vui trọn hảo.
Ngài kết luận:
– Bởi vì niềm vui trọn hảo không hệ
tại ở thành công hay phép lạ, mà chính là được nên giống Chúa Kitô chịu sỉ nhục,
chịu khổ đau vì tình yêu.
Và hôm ấy, sau khi chịu ngược đãi,
Thánh Phanxicô đã mỉm cười và nói với anh Lê-ô:
– Anh em ạ, hôm nay là ngày vui nhất
của chúng ta.
Lời Chúa Tuần 26 Thường Niên
Thường niên V - GS C - PS Ngoại lịch
