TINH THẦN
TRUYỀN GIÁO
Điều đáng sợ không phải là hoàn cảnh
khắc nghiệt, mà là chính mình không đủ chí bền mà vượt qua những khắc nghiệt ấy.
ĐGM Vũ Duy Thống
“Không biết khi Con Người đến, liệu còn
gặp thấy niềm tin trên mặt đất nữa không?”. Trang Tin Mừng hôm nay được kết
thúc như thế.
Có thể đó là câu hỏi một thoáng bâng
khuâng Chúa Giêsu thốt lên cho riêng mình Người. Cũng có thể đó là câu hỏi dự
báo một tình huống không vui Chúa Giêsu cảnh giác cho các môn đệ. Có khi câu hỏi
đó đợi chờ một lời đáp tích cực mở ra cho lối sống đức tin lạc quan. Và biết
đâu, câu hỏi đó lại chẳng tố giác một thực trạng tiêu cực đang dần dà bào mòn
niềm tin tôn giáo?
Nhưng đặt trong bối cảnh của Chúa Nhật cầu
cho việc truyền giáo, theo tinh thần của các bài đọc, câu hỏi ấy đã ẩn chứa một
lời giải đáp. Đó là: để lòng tin còn mãi trên mặt đất, mọi thành phần của Dân
Chúa cần phải sống tinh thần truyền giáo.
1) Tinh thần truyền giáo ấy được nuôi dưỡng
bằng sự dung hòa giữa cầu nguyện và hoạt động.
Nói đến truyền giáo người ta thường nghĩ
là phải dấn thân làm việc truyền giáo, và ai càng làm được nhiều, người ấy lại
càng được xem là nhà truyền giáo lớn. Thực ra, quan niệm ấy cũng đúng, nhưng
không đủ, bởi dù không phủ nhận những kết quả lớn lao trong lịch sử Giáo Hội do
hoạt động truyền giáo mang lại, nhưng bao giờ cũng thế, bên trong những hoạt động
ấy còn là cả một tinh thần cầu nguyện tích cực của bản thân các nhà truyền giáo
cũng như của mọi thành phần Dân Chúa.
Thiếu cầu nguyện, hoạt động sẽ không kết
quả, hoặc sẽ lái kết quả sang một hướng khác có nguy cơ “sáng danh tôi, tối
Danh Chúa”. Vắng cầu nguyện, hoạt động có thể trở thành nguy hại, nó đồng nghĩa
với náo động nếu không muốn nói là khua động ầm ĩ hoặc khuấy động ồn ào. Quên cầu
nguyện, hoạt động chỉ là hời hợt mang tính phong trào bùng lên đó nhưng rồi
cũng lịm tắt đó. Bạo phát bạo tàn, mau xộp mau xẹp! Bỏ cầu nguyện, hoạt động
coi chừng chỉ còn là một việc cá nhân, dẫu bỏ ra nhiều công sức, nhưng vẫn
không phải là hoạt động của Hội Thánh vốn luôn được nuôi dưỡng phong phú bởi
nguồn ơn Chúa Thánh Thần.
Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động
truyền giáo. Nó đem đến cho những hoạt động một sức sống kín múc tận nguồn sứ mạng.
Bài đọc thứ nhất kể lại một hình ảnh sống
động cho thấy mối tương liên không thể tách rời giữa việc Môsê giơ tay cầu nguyện
và việc Giosuê đánh bại quân Amalếch. Khi Môsê hạ tay xuống, sức mạnh của ông
Giosuê không còn nữa, nhưng khi ông giơ tay lên, phần thắng đã nghiêng về phía
Giosuê. Chiến thắng ấy không riêng của Môsê hay riêng của Giosuê, mà là của
Môsê cùng với Giosuê, là dung hòa của cầu nguyện và hoạt động, là tổng hợp của
ơn thánh Chúa và nỗ lực con người.
Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã được mừng
kính vào đầu tháng mười này cũng là một hình ảnh khác minh họa cho sự dung hòa
giữa cầu nguyện và hoạt động truyền giáo. Chín năm khuôn mình trong nhà kín
Lisieux, chưa hề làm việc truyền giáo bên ngoài, thế nhưng chỉ bằng hy sinh cầu
nguyện cho các vị thừa sai và cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, thánh nữ đã được
Giáo Hội đặt làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô
Xaviê một đời bươn chải giảng giải đạo Chúa đến tận miền xa Châu Á.
Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo,
nên có thể nói được rằng không bao giờ Giáo Hội thôi truyền giáo. Bốn phần năm
dân số địa cầu chưa biết Chúa, nên Giáo Hội phải truyền giáo đã đành, nhưng
ngay cả một phần năm đã biết Chúa, Giáo Hội cũng phải tái truyền giáo nữa. Xem
như thế, truyền giáo vừa là sứ mạng, vừa là số mạng, tức là sự sống còn của
Giáo Hội. Và tinh thần truyền giáo ấy một khi được hun đúc đều đặn bằng cầu
nguyện và hoạt động, ta có quyền hy vọng khi Chúa Kitô đến, Người vẫn thấy niềm
tin trên mặt đất.
2) Tinh thần truyền giáo ấy được thể hiện
khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện.
Được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện dung hòa
với hoạt động cây truyền giáo nhất định sẽ vươn lên, nhưng không thể không biết
đến yếu tố thời tiết, mưa thuận gió hòa, hoặc nắng hạn mưa giông. “Nhất nước
nhì phân tam cần tứ giống,” đó là kinh nghiệm trồng cây. Song một cây lành như
cây truyền giáo phải biết chứng minh bằng phẩm chất của mình. Nói khác đi, tinh
thần truyền giáo cũng phải được chứng minh bằng chí bền sứ mạng, nghĩa là vừa
kiên tâm thực hiện những điều tốt, vừa kiên gan chịu đựng ngay cả những điều xấu
nữa (thánh Augustinô), phải bền chí khi thuận tiện cũng như khi không thuận tiện.
Khi thuận tiện là khi chí bền truyền
giáo giúp ta tỉnh táo đừng để mất mình trong hoạt động đến nỗi quên đi cầu nguyện,
giúp ta phân biệt rõ ràng đâu là đóng góp nhỏ nhoi của mình và đâu là ơn ban vô
cùng to lớn của Thiên Chúa, và còn mãi giúp ta không chạy theo những thành công
trước mắt để sau này khỏi phải trả giá đắng cay trắng tay thất vọng. Trong một
chừng mực nào đó, biết đâu lối sống của ông thẩm phán bạo ngược “chẳng kính sợ
Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì” trong bài Phúc Âm lại chẳng có vài tương
đồng với quan niệm háo thắng hoặc đắc thắng của cách truyền giáo thời Trung cổ,
vốn xem Kitô giới như một xã hội lý tưởng, nên cố mà đưa người ta vào bằng
chinh phục (truyền giáo) hoặc gắng mà ép người ta về bằng cả chinh phạt nữa (thập
tự chinh)?
Xem ra kiên tâm thực hiện những điều tốt
trong truyền giáo vào thời thuận tiện cũng không ít vấn đề.
Khi không thuận tiện là khi chí bền truyền
giáo không chỉ giúp ta chịu đựng những khắc nghiệt thường xuyên, mà còn giúp ta
biết tận dụng hoàn cảnh để mà thanh luyện tâm hồn. Nếu những hoạt động phải chấp
nhận giới hạn ngoài ý muốn, thì chí bền như một mạch điện tự động “kiểm soát lợi
suất” sẽ bù lại những giới hạn ấy bằng một thao thức phong phú của lời nguyện cầu.
Và nếu như hoàn cảnh cụ thể không cho phép có một hoạt động bên ngoài nào nữa,
thì vẫn còn đó mênh mông một phương tiện truyền giáo bằng gương sáng tình mến,
bằng chứng tá đức tin và bằng cách sống tốt đẹp đời Kitô của mình.
Điều đáng sợ không phải là hoàn cảnh khắc
nghiệt, mà là chính mình không đủ chí bền mà vượt qua những khắc nghiệt ấy. Trong
ý tưởng này, có lẽ rất thích hợp khi đặt hình ảnh người đàn bà góa bụa của bài
Phúc Âm, nhiều lần đến quấy rầy ông thẩm phán mong được minh xét minh định minh
oan, ở đây như một cổ võ sống động cho chí kiên bền.
Và dầu hoàn cảnh thuận tiện hay không
(bài đọc thứ hai), chí truyền giáo thiết tưởng cũng là biểu tỏ của niềm hy vọng,
là tình mến khởi đi từ một đức tin sống động vào Thiên Chúa là Cha nhân ái luôn
muốn sự tốt lành trong ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Được như thế, chắc chắn
khi Chúa Kitô trở lại vẫn thấy niềm tin còn trên mặt đất trong chí bền của Giáo
Hội là thân mình Người.
Ước mong rằng suy nghĩ trên sẽ trở nên ý
lực cho cuộc sống và trở nên ý nguyện trong Ngày Thế Giới Truyền Giáo hôm nay.
ĐGM Vũ Duy Thống