THÁNH MARTINÔ PORRES:
BẠN THÂN CỦA NGƯỜI NGHÈO KHỔ
VÀ CỦA LOÀI VẬT VÔ TRI
Martinô
Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu. Trong sổ
Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh.” Thật ra cha của
cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị trưởng tại Panama. Ông
không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu. Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải
sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da
đen. Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu
đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất
đời của cậu.
Mẹ con cậu Martinô tuy nghèo, nhưng lại
rộng lòng bác ái với những người cùng cảnh ngộ. Một hôm bà mẹ gọi hai anh em
Martinô và Gioanna, trao cho mấy đồng xu và sai chúng ra chợ mua rau. Bà đã cặn
kẽ bảo em giữ tiền cẩn thận đi thẳng đến chợ, không nên nhìn hai bên đường. Vì
bà nghĩ nếu con mình thấy kẻ nghèo khó thì sẽ thương mà tặng cho họ những đồng
tiền mẹ con đang cần cho bữa tối nay. Hai anh em vâng dạ và mau mắn ra đi. Ðang
đi, mắt cô em đã bắt gặp người ăn xin mặc đồ rách rưới bên kia đường. Ý nghĩ là
sẽ không nói, nhưng tự nhiên cô bé bật miệng kêu “Kìa!” Thế là Martinô
nhìn theo em.
Nghĩ đến lời mẹ căn dặn, hai anh em
đã cố gắng đi tiếp. Nhưng cậu lại nghĩ chắc mẹ cũng không nỡ để người hành khất
này chết đói. Thế là hai anh em quay lại bên người hành khất, cậu lấy tiền ra
và nói: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi,
ông hãy cầm lấy số tiền này!” Ông nhận quà, miệng rối rít cám ơn và xin
Chúa chúc lành cho hai em. Thế là hết tiền, hai anh em đâm lo, không biết phải
nói với mẹ làm sao. Vừa tới ngang nhà thờ chính tòa thành Lima, hai anh em liền
vào, lên tận bao lơn cung thánh. Quỳ ở đó, Martinô đã cất lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, xin ban của ăn cho
chúng con. Con mới cho người hành khất số tiền duy nhất của mẹ con rồi. Chúng
con không còn gì cho bữa tối nay. Xin Chúa đừng để mẹ con buồn giận chúng con.
Cám ơn Chúa!” Em Gioanna thưa: “Amen.”
Martinô và Gioanna đứng dậy, bái Chúa
rồi ra về, lòng đầy tin cậy Chúa biết rõ những gì gia đình các em cần. Vừa thấy
hai con, bà không thấy chúng cầm gì thì biết ngay chúng đã gặp ai và hành động
thế nào rồi. Bà cũng suy nghĩ có đánh, có la mắng chúng lúc này cũng chẳng ích
gì. Vả lại, bà cũng từng bảo các con phải thương giúp người nghèo. Bà quay vào
và liên tưởng đến người chồng, với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho ba tụi nhỏ
sớm nghĩ lại, để chúng con có của nuôi thân, và có thể làm phúc cho cả những
người nghèo nữa!”
Khi Martinô được 8 tuổi, tức năm
1587, ông Gioan Porres, một sĩ quan Tây Ban Nha, đã hồi tâm và trở về chăm sóc
mẹ con bà Anna Velasquez. Ông đã đem hai con gửi trọ học ở nhà ông chú tên là
Giacôbê tại Equador. Ở đây các em được chú thương yêu và thuê người giám hộ tốt
để dạy về chữ nghĩa và đức tính. Martinô là cậu học sinh ngoan và thông minh. Sau
hai năm, cha cậu để Gioanna ở lại tiếp tục học, còn Martinô, ông bắt về ở bên mẹ
tại Lima. Ông căn dặn Martinô: “Con phải
học nghề hớt tóc. Cha hy vọng con sẽ cố gắng học, và cố gắng trở nên người Công
giáo tốt.” Martinô đã vâng lời cha và cố gắng học cũng như sống đạo tốt.
Thời đó và trong hoàn cảnh sống tại
Lima, thợ hớt tóc đồng thời cũng là “thầy lang.” Họ phải học biết các kiến thức
y học phổ thông, như biết bắt mạch chẩn bệnh, biết băng bó vết thương, biết chữa
các bệnh cảm cúm, sốt rét, biết nắn khớp xương và pha thuốc. Martinô rất thích
nghề này. Cậu thưa với mẹ: “Mẹ ơi, tập
nghề hớt tóc là một nghề cao cả, mẹ ạ. Học nghề này con có thể giúp đỡ những
người nghèo khó được nhiều, mẹ nhỉ!” Mẹ cậu khích lệ con: “Martinô, con là một đứa trẻ tốt. Xin Chúa
chúc lành và luôn gìn giữ con tốt mãi như vậy!” Martinô thưa lại: “Thưa mẹ, đó là điều con hằng cầu nguyện mỗi
sáng trong thánh lễ, và Chúa đã giúp con. Ngài biến đổi con, giúp con học nghề
này cho đạt kết quả tốt.”
Sau hai năm học nghề, lúc 12 tuổi,
Martinô vui vẻ và hăng say hành nghề. Mỗi sáng, cậu tham dự Thánh lễ, có khi
giúp lễ nhiều bao nhiêu có thể, tại nhà thờ Thánh Ladarô. Sau đó, mang đồ nghề
đi rảo quanh khắp xóm dân nghèo, tới đến với những người già yếu, tàn tật để
săn sóc bệnh tật cho họ mà không lấy công. Nhiều đêm cậu cũng phải thức để chăm
sóc các con bệnh đang cần đến cậu. Nhất là những người hấp hối cần cậu ở bên
khích lệ họ tin tưởng vào Chúa, và giúp họ dâng lên Ngài những bệnh tật đau khổ.
Năm lên 15, Martinô xin mẹ dẫn đến tu
viện Mân Côi của các cha Dòng Ðaminh tại Lima để xin đi tu. Tuy mẹ mong muốn
con làm linh mục hay ít là làm thầy dòng nhưng Martinô xin mẹ ưng thuận để cậu
chỉ xin làm người giúp việc trong dòng mà thôi. Bà hỏi con: “Tại sao con không muốn làm linh mục hoặc thầy
dòng, mà lại chỉ muốn làm người giúp việc thôi?” Cậu thưa: “Vì con không muốn trở nên người quan trọng.
Con chỉ muốn chu toàn những việc tầm thường vì yêu mến Chúa. Xin mẹ vui lòng chấp
nhận ước nguyện của con!” Bà quyết định: “Ðược rồi, xin Chúa chúc lành cho con; còn trong tu viện, con muốn ở bậc
nào tùy ý con chọn, mẹ chỉ xin con nhớ cầu nguyện cho mẹ.” Trước đây cha Tu
viện trưởng cũng đã nhiều lần nghe biết về cậu Martinô, nên người đã ưng thuận.
Thế là Martinô được gia nhập tu viện, mang y phục người giúp việc trong Dòng
Ðaminh. Cậu cảm thấy mình đã được thuộc trọn về Chúa và Ðức Mẹ.
Trong bậc giúp việc, Martinô đảm nhận
nhiều công tác, như hớt tóc, coi nhà giặt, phụ trách phòng y tế, Martinô rất
vui trong việc phục vụ tha nhân. Bệnh nhân đầu tiên trong Dòng mà Martinô săn
sóc, đó là cha Phêrô. Một chân cha bị thương và lại bị nhiễm trùng, cần phải giải
phẫu và cưa chân để cứu sinh mạng. Vì quá đau nên cha Phêrô có phần bất nhẫn. Tới
bữa, Martinô dọn một đĩa rau tươi với những trái ôliu thật ngon mang tới cha. Ðến
phòng, Maritnô gõ cửa. Có tiếng từ trong đáp ra: “Ði chỗ khác, để cho tôi yên.” Bất kể tiếng la quát cứng cỏi của
cha, cậu cứ điềm tĩnh đẩy cửa bước vào. Với giọng săn sóc cậu hỏi: “Cha Phêrô ơi, cha có thích dùng chút rau
tươi tuyệt ngon này không?” Cha Phêrô mở to đôi mắt ngạc nhiên: “Sao lại không? Tôi đang thèm rau tươi đây.
Sao cậu đoán được ý tôi?” Cha Phêrô ngồi dậy và dùng một cách ngon lành, “Cảm ơn Martinô nhé!” Cậu mỉm cười thưa:
“Bây giờ để con thay băng cho cha nhé?”
Cha cũng mỉm cười đồng ý.
Thế là vừa thay băng Martinô vừa nói
với cha, “Thưa cha, chắc cha tin rằng
Chúa sẽ chữa lành vết thương của cha chứ?” “Martinô, con hãy cầu nguyện, để
Chúa chữa lành vết thương của cha! Còn cha, dù có chết cha cũng không muốn giải
phẫu!”
Vừa ra khỏi phòng Cha Phêrô, Martinô
lên ngay nhà nguyện, quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm: “Lạy Chúa chí ái, xin chữa lành chân cha Phêrô. Chúa đã từng chữa nhiều
người khác, chẳng có gì mà Chúa không làm được. Con tin Chúa.” Tối hôm đó,
khi Martinô trở lại thăm cha Phêrô, cậu đã thấy cha đang đi đi lại lại trong
phòng! Vừa thấy cậu, cha kêu lên: “Martinô,
Martinô! Con đã chữa lành vết thương của cha rồi! Cha không biết phải cám ơn
con thế nào. Con rời khỏi đây chừng nửa giờ, thì chỗ bị sưng xẹp xuống và cơn
đau cũng biến mất. Con vừa làm một phép lạ đó!” Martinô thưa lại, “Xin cha đừng nói như vậy, con chỉ thay băng
cho cha thôi, chính Chúa mới làm cho vết thương cha lành.” “Ðúng rồi, nhưng nếu
con không cầu nguyện, chắc chắn cha cũng chưa khỏi!”
Không những Martinô hết lòng thương
yêu giúp đỡ mọi người, cậu còn săn sóc và bảo vệ sự sống của các con vật nữa. Các
chú chim đến với cậu để kiếm ăn, các con mèo hoang cũng vậy. Cậu luôn dự trữ sẵn
đồ ăn cho chúng. Một hôm, đàn chuột cắn đồ lễ tại Cung thánh, thầy phụ trách đã
trình cha Bề trên và xin để cậu Martinô diệt chúng, cậu bèn cầu nguyện, rồi đi
lên phòng thánh. Vừa bắt gặp một chú chuột, Martinô gọi nó, nó đã ngoan ngoãn
chạy lại bên cậu, Martinô nói: “Bây giờ
chú hãy nghe cho kỹ... chú và các chuột khác phải rời khỏi phòng thánh này
ngay, vì các chú đã cắn áo lễ. Chúa không hài lòng với các chú về việc này. Vậy
các chú bảo nhau thu dọn ra ở chuồng bò. Tôi sẽ đem đồ ăn đến cho các chú. Hiểu
chưa?”
Con chuột gật đầu rồi chạy mất. Một
lát sau, nó dẫn một đàn chuột theo, nhắm thẳng hướng tay Martinô chỉ ra chuồng
bò. Thầy phụ trách Cung thánh cũng hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến đàn chuột
đang đi theo hướng tay Martinô chỉ. Thầy đã lên trình cha Bề trên về hiện tượng
lạ lùng ấy. Và từ đó, không còn thấy lũ chuột cắn đồ lễ nữa.
Chín năm Martinô ở bậc giúp việc; đến
năm 1603, khi anh đã 24 tuổi, các Bề trên nhận thấy ơn Chúa thương Martinô nhiều.
Anh đã khiêm nhượng xin ở bậc giúp việc chứ không dám xin ở bậc các thầy. Các Bề
trên và tất cả nhà Dòng đều nhận thấy anh sống đời cầu nguyện, khiêm nhượng thống
hối và bác ái gương mẫu nên đã quyết định cho anh lên bậc tu sĩ thực thụ. Bề
trên gọi Martinô và bảo: “Martinô, từ nay
con không còn là người giúp việc nữa. Con sẽ là một Thầy Dòng.” Martinô
thưa lại, “Thưa Cha, con bất xứng!” “Việc
đó Cha chịu trách nhiệm. Con hãy mời mẹ con lên đây dự lễ Mặc áo Dòng!”
Khi được tin, mẹ cậu đã hết sức vui mừng.
Sau ngày Mặc áo Dòng, Martinô đã nhận
thêm những trách vụ mới, như việc săn sóc những người nghèo khó bằng những lời:
“Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành, gia
tăng lương thực này, và xin Người thánh hóa tất cả những ai dùng của ăn này.”
Lời nguyện này luôn luôn thấy hiệu lực. Bất kể người được ít kẻ được nhiều,
không một ai đến xin ăn mà phải về tay không. Ai nấy đều được no đủ và hài lòng
với thầy Martinô.
Một hôm, lúc thầy Martinô đem những ổ
bánh cuối cùng trong kho nhà Dòng phát cho người nghèo, làm ông giúp việc nấu bếp
lo lắng. Ông chạy đến thưa cha Bề trên, nhưng ngài điềm tĩnh đáp: “Ông đừng lo, thầy Martinô không phát hết
đâu, bánh sẽ còn đủ cho cả chúng ta nữa.”
Quả đúng như lời cha Bề trên, vì hằng
ngày, không rõ số bánh thầy Martinô đã cho đi bao nhiêu, nhưng các thầy vẫn
luôn luôn có đủ bánh dùng.
Thầy Martinô luôn làm các việc bình
thường trở nên những việc khác thường bằng tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức,
hết linh hồn” và phục vụ “yêu thương” anh em đồng bào theo giới răn bác ái của
Chúa. Thầy thể hiện hai giới răn này suốt từ khi có trí khôn. Suốt hơn 45 năm sống
đời khiêm hạ và bác ái trong Dòng Thánh Ðaminh tại Lima, Martinô tận tâm phục vụ
Chúa nơi các bệnh nhân, những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi. Thầy sống rất
đẹp lòng Chúa nên Ngài đã làm bao nhiêu điều lạ lùng qua lời cầu nguyện của Thầy:
như các lần thị kiến, xuất thần, đánh tội nhiệm nhặt, ở hai nơi một trật, thông
hiểu thần học, làm phép lạ chữa lành bệnh nhân, cảm thông hiểu biết cũng như
sai khiến được các con vật vô tri.
Thầy sống thật xứng đáng là một tu sĩ
gương mẫu trong đức vâng lời trọn hảo, đức khiêm nhượng thẳm sâu, và lòng
thương yêu đối với các thụ tạo của Thiên Chúa. Vị Thánh hai dòng máu Tây Ban
Nha và Pêru da mầu này đã thể hiện tình yêu thương với mọi người không phân biệt
chủng tộc, màu da hay quốc tịch. Thầy phục vụ Chúa Kitô trong mọi người, vô điều
kiện và vô giới hạn. Trong những đêm dài cầu nguyện và thống hối, Martinô được
đói khát tình yêu Thiên Chúa, và trong những ngày dài Thầy dành để săn sóc các
bệnh nhân, nuôi dưỡng người nghèo, thi hành các công việc lao tác của nhà Dòng
với một lòng khao khát cứu rỗi các linh hồn. Ðời sống thánh thiện của Thầy khiến
cho các Bề trên và cả tu viện coi Thầy như một vị linh hướng gương mẫu của họ. Chính
Thầy đã khiêm nhượng tự xưng mình là “người nô lệ hèn mọn” hoặc là “con chó lai
= Mulatto dog.” Nhưng người đương thời gọi Martinô là “Cha bác ái” và “Cha của
người nghèo.”
Ðầu tháng 11 năm 1639, gần ngày sinh
nhật thứ 60, Thầy ngã lâm trọng bệnh, suốt ba ngày chịu đau khổ cách can đảm. Trong
khi đó, những người từng được Thầy săn sóc giúp đỡ, đã cầu nguyện và khóc
thương Thầy bên ngoài tu viện. Ðến ngày thứ tư, bệnh tình của Thầy có phần
thuyên giảm. Ðức Mẹ và Thánh Ðaminh đã hiện ra để yên ủi Thầy. Martinô đã mời Bề
trên và mọi anh em trong tu viện tới. Họ đến để cầu nguyện cho Thầy trong cơn hấp
hối. Cha Bề trên hỏi: “Thầy Martinô, Thầy
muốn chúng tôi hát bài ca nào để tiễn đưa Thầy?” Thầy đáp lại, “Xin hát kinh Tin Kính.”
Thế là toàn thể anh em cao giọng cất
lên bài ca tuyên xin Ðức Tin. Tới câu “Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo
thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình” thì Thầy nhắm mắt lìa trần, linh
hồn bay về với Ðấng mà các tu sĩ đang tung hô ca ngợi. Hôm đó là ngày 4 tháng
11 năm 1639.
Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã phong
thánh cho Thầy Martinô đe Porres ngày 6 tháng 5 năm 1962, và gọi người là “Martinô Bác Ái.” Lễ kính Thánh nhân
trong toàn thể Giáo Hội được ấn định vào ngày 3 tháng 11 hằng năm
Nguồn: https://tgpsaigon.net
