LỜI
CHÚA TUẦN 2 MÙA CHAY
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
CNMC 2A - Chúa Giêsu hiển dung
CNMC 2C - CHÚA GIÊSU HIỂN
DUNG
THỨ NĂM - NGƯỜI GIẦU CÓ
VÀ LADARÔ
THỨ SÁU - DỤ NGÔN TÁ ĐIỀN
VƯỜN NHO
LỄ KÍNH – GIUSE - NGƯỜI
CÔNG CHÍNH
CNMC
2A - Chúa Giêsu hiển dung
Lời Chúa: Mt 17, 1-9
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này,
và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt
các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết.
Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông
Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt
lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một
cho Êlia.”
Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài,
và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Ðây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta,
các ngươi hãy nghe lời Người.” Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết
sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng
dậy, đừng sợ.” Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa
Giêsu.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các
ông rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người
từ cõi chết sống lại.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Thiên Chúa vẫn còn hiển dung
Trong cuốn sách The Golden String, văn sĩ người Anh Bede
Griffiths mô tả lại một khám phá diệu kỳ của ông khi còn là một cậu học sinh.
Một buổi chiều hè, Bede Griffiths ung dung thư thái dạo chơi ở
bìa rừng. Trong lúc thơ thẩn một mình bỗng dưng cậu nhận ra tiếng hót líu lo của
đàn chim trên tàng cây mới tuyệt vời làm sao! Cậu rất ngạc nhiên vì từ hồi nào
đến giờ chưa bao giờ được nghe chúng hót hay đến thế.
Đang lúc tiếp tục bước tới, cậu gặp thấy những đoá hoa của những
bụi táo gai như đang mỉm cười niềm nở chào đón cậu trông dễ thương lạ lùng và
đang toả hương trong gió. Bede cũng rất ngạc nhiên vì từ trước tới nay cậu đã từng
thấy những bông hoa như thế nở rộ cả trăm lần mà không hề nhận ra vẻ đẹp tinh
khôi và hương thơm dịu dàng của chúng.
Sau cùng cậu tìm đến một nơi yên tĩnh, đứng tựa vào thân cây, lặng
ngắm vầng kim ô đang dần dần chìm xuống sau rặng núi lam cuối chân trời. Bỗng
chốc cậu cảm thấy trời đất vô cùng huyền diệu và bất giác cậu nghiêng mình quì
gối xuống biểu lộ một niềm cảm xúc rất thánh thiêng: cậu vừa trải nghiệm được sự
hiện diện rất nhiệm mầu của Thiên Chúa trong tạo vật của Ngài.
2.
Khi chúng ta hiển dung
Jiddu Krishnamurti, người Ấn-độ (1895- 1986) là một tác giả và
nhà diễn thuyết nổi tiếng về các vấn đề triết học và tinh thần, cho rằng, trong
mỗi con người có ba “nhân vật” đang chung sống:
* Một là “tôi-là.” Đây là con người thật của tôi, chân tướng của
tôi. Ví dụ: bản chất tôi (tôi-là) là người tham lam, ích kỷ, lười biếng…)
* Hai là “Tôi-muốn-là.” Đây không phải là bản chất con người
tôi, nhưng là con người mà tôi mong muốn trở thành. Ví dụ: Tôi hiện là người
tham lam, ích kỷ, lười biếng nhưng tôi muốn sống như là người quảng đại, vị
tha, năng động…
* Ba là “Tôi-tưởng-tôi-là.” Đây cũng không phải là bản chất con
người tôi, nhưng là ảo tưởng tôi có về mình. Ví dụ: Một số kinh sư và
Pha-ri-sêu thời Chúa Giêsu thực chất là người tham lam dối trá, nhưng cứ tưởng
mình là người công chính đạo đức.
3.
Hãy biết mình
Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất kiêu ngạo,
vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ. Sư tử thường mắng thỏ và doạ nạt
thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới nghĩ ra cách báo thù.
Một lần kia nó nói với sư tử rằng:
- Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông giống anh lắm.
Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám đối mặt với
nó.” Thằng cha này không coi ai ra gì cả!
Sư tử tức giận và bảo rằng:
- “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”
Thỏ trả lời:
- Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng lộng lên và
bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.
Sư tử càng tức điên người lên và hỏi:
- Nó ở đâu? dẫn tao đến ngay.
Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở đàng xa và
bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!
Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy giếng. Quả
thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng nhìn nó.
Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù lông cổ lên
tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên kia cũng hăm dọa
lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống giếng để cho thằng
khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt đời mình dưới giếng
sâu…
4.
Đường về đỉnh vinh quang
Đây là một câu chuyện xưa có tên “Người kế vị”, nội dung như thế
này: Ở ngôi chùa kia có vị cao tăng với nhiều đồ đệ đông đến hàng trăm người.
Cũng như mọi người bình thường, vị cao tăng biết rõ ràng quy luật “sinh, tử” của
Tạo Hóa là không có ngoại lệ. Nay tuổi cao, sức yếu, vị cao tăng muốn tìm một
người kế vị mình. Ngặt nỗi, người kế vị chỉ có một, còn đồ đệ thì rất nhiều. Vị
cao tăng nghĩ là một kế và tiến hành lựa chọn người kế vị.
Cứ khoảng vài ba ngày, vị cao tăng tự đem giấu một món đồ vật và
phàn nàn với đồ đệ rằng nơi đây có trộm cắp.
Ít lâu sau, vị cao tăng bỗng la lên: Trộm! Trộm! Có kẻ trộm!
Nghe tiếng thầy kêu, dù đang ngon giấc, các đồ đệ đều bật dậy, vội
chạy tới. A là một đồ đệ rất siêng năng, nhanh nhẹn, tháo vát, luôn quí trọng
thầy, thương yêu sẵn sàng giúp đỡ bạn, có uy tín vào bậc nhất trong các đồ đệ của
vị cao tăng. A chạy đến trước tiên, hy vọng sẽ giúp thầy tìm bắt kẻ trộm, bảo vệ
tài sản.
Thấy A, vị cao tăng vội túm lấy áo của A và nói lớn: Bắt được kẻ
trộm rồi.
Trước đông đảo các môn đệ, vị cao tăng tuyên bố:
A là kẻ trộm vừa bắt được và đuổi A đi.
Bị thầy đuổi, không một lời thanh minh, không một lời oán thán,
A nhẫn nhục ra đi.
Ba ngày sau, A trở lại Chùa, quỳ trước vị cao tăng và nói: “Thưa
thầy, con ngộ (giác ngộ - nhận thức) được rồi.”
Vị cao tăng đỡ A dậy, trong lòng cảm thấy rất vui vì đã lựa chọn
được người kế vị xứng đáng đúng như lòng muốn.
5.
Biến hình
Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của
ông như sau: Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi
luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi
thế giới này.”
Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà
tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của
tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong
gia đình của con.”
Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu
ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: “Lạy
Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”
Và ông kết luận: “Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày
còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.”
6.
Dõi theo bước Chúa - R. Veritas
Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu Chai-san đã được
bố cho đi theo một đoàn lữ hành phải vượt cao nguyên trùng điệp với những đỉnh
đồi, những ngọn núi vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đêm đến đoàn lữ hành trú ngụ
trong những chiếc lều vải thô sơ. Một đêm nọ cậu bé Chai-san cảm thấy có một sức
mạnh từ bên trong thúc đầy cậu trốn ra khỏi lều. Và kìa, giữa miền núi cao, bầu
trời đầy trăng sao lấp lánh như bao trùm lấy cậu. Một cảm giác hạnh phúc nhẹ
nhàng xâm chiếm tâm hồn Chai-san. Cậu có cảm tưởng như cả vũ trụ xinh đẹp này
đã được tạo dựng để ban tặng cho cậu, và nó đang nâng tâm hồn cậu lên với Đấng
Tạo Hóa.
Bỗng chốc bầu khí yên tĩnh và an bình bị xáo trộn vì tiếng gọi của
người cha: “Chai-san, mày trốn đi đâu rồi? Trở vào lều đi.” Chai-san miễn cưỡng
trở vào lều và tiếc nuối nói với cha: “Bố ơi, bầu trời trăng sao đẹp quá chừng!”
7.
Chúa tỏ hiện vinh quang
Nếu có xuống Bà Rịa, đi ngang qua nghĩa địa ở làng Phước đến gần
nhà thờ các Thánh Tử Đạo, hãy vào thăm một ngôi mộ, đây là ngôi mộ của một tu
sĩ tên là Lazarô Phiền.
Tên của nhân vật có thể gợi lên cả cuộc đời của vị tu sĩ này là
một chuỗi những ngày khổ đau, những phiền muộn. Mẹ ông qua đời vì bệnh dịch tả
năm ông mới được ba tuổi. Năm ông lên mười hai tuổi, cùng với ba trăm tín hữu
công giáo khác, cha của cậu bé Phiền đã bị Văn Thân thiêu sống trong ngục, còn
cậu bé thì tay chân bị phỏng nặng nhưng cậu bé đã cố lết ra ngoài và được cứu
thoát. Một sĩ quan Pháp thương tình đưa cậu bé Phiền lên Sàigòn và giới thiệu
cho một gia đình Việt Nam giàu có. Cùng với người con trai trong gia đình này,
Lazarô Phiền đã được cho ăn học đến nơi đến chốn. Sau khi đã thành tài, được bổ
nhiệm đi làm thông ngôn, hai người thương nhau như là anh em ruột thịt. Tình
nghĩa giữa hai người bạn lại càng thắm thiết hơn khi chính gia đình của người bạn
này đã đứng ra lo chuyện gia đình cho Lazarô Phiền, nhưng niềm vui của cuộc sống
hôn nhân không được trọn vẹn, bởi vì có một người đàn bà khác vì yêu Thầy
Lazarô Phiền nhưng không được đáp trả nên đã tìm cách hãm hại Thầy.
Qua hai lá thư giả mạo của người đàn bà này, Lazarô Phiền nghi
ngờ người vợ của mình có tư tình với người bạn thân của mình, cho nên không làm
chủ được cơn ghen, ông đã lập mưu giết người bạn thân và dùng thuốc độc để sát
hại vợ mình. Hai cuộc mưu sát đã được tính toán một cách tài tình, cho nên kẻ
sát nhân đã tránh được lưới của pháp luật. Thế nhưng về phần mình, Lazarô Phiền
ngày đêm bị tòa án của lương tâm cắn rứt. Cuối cùng ông xin vào tu trong một tu
viện ở Sàigòn. Sau sáu năm tu luyện, Lazarô Phiền được thực sự trở thành một tu
sĩ, mọi người trong tu viện đều thầm khâm phục sự thánh thiện của thầy, nhưng
riêng thầy vì không bao giờ xưng thú hành động sát nhân của mình, cho nên đêm
ngày không bao giờ được sự bình an trong tâm hồn. Phải cho đến lúc lâm bệnh nặng
và ngày trước khi qua đời, thầy mới xin phép nhà Dòng cho về thăm quê hương ở
Bà Rịa, tìm đến vị linh mục chánh xứ để xưng tội. Chỉ sau khi cảm nhận được ơn
tha thứ của Chúa, thầy mới nhắm mắt lìa đời và ra đi trong bình an.
8.
Khuôn mặt ngời sáng
Một vị ẩn sĩ nọ suy niệm và chay tịnh đến độ suốt ngày không động
đến thức ăn, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban ngày, đó là dấu
hiệu trời cao chấp nhận lễ hy sinh của ông.
Ngày nọ, vị ẩn sĩ quyết định leo lên núi cao. Ông muốn vươn lên
cao hơn trong sự khổ chế. Vừa lúc ông đang leo núi, thì một cô bé trong làng chạy
tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho cô bé đi cùng. Họ
ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi lúc một chói
chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn cố gắng khắc
phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô bé hãy uống nước. Vị ẩn sĩ không
uống nước vì lời thề của mình, còn cô gái không nỡ uống một mình.
Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Đến một lúc vị ẩn sĩ không nỡ
nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Ông đành lỗi lời thề.
Ông cầm lấy nước đưa lên miệng và cô bé cũng mỉm cười uống nước với ông.
Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời cao nữa.
Ông cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự khổ chế
của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, khi ông ngước mắt nhìn lên đỉnh
núi. Ngạc nhiên biết chừng nào, hai vì sao đang chiếu sáng như mỉm cười với
ông.
Sau khi đã chay tịnh nhiều ngày và chấp nhận vươn lên cao trong
sự khổ chế, vị ẩn sĩ đã được trời cao chứng giám bằng cách cho một vì sao ngời
sáng giữa ban ngày.
9.
Gọi điện thoại trong địa phương
Một người cao cấp trong ngành kinh tế Hoa-Kỳ sang thăm Canađa và
đã gọi một cú điện thoại viễn liên (long distance) từ nơi ông ở Toronto sang tận
Montreal. Sau khi nói chuyện xong, ông đã hỏi giá và được cho biết là cú điện
thoại viễn liên ấy tốn mười bốn đồng, năm mươi xu tiền Mỹ-kim. Vị kinh tế gia ấy
nổi sùng lên và nói: “Sao đắt quá vậy? Ở xứ tôi ở, tôi gọi đến hỏa ngục hay gọi
từ đó cũng chỉ mất có mười bốn đồng năm mươi xu!” Nhân viên tổng đài điện thoại
trả lời: “Đúng vậy thưa ông, nơi ông ở và chỗ ông gọi đó cùng trong vùng mà
thôi!”
Có những lúc trong cuộc sống, chúng ta cảm thấy Chúa Toàn Năng
là Đấng quá xa vời với chúng ta. Tuy nhiên, cũng có đôi lúc ta lại cảm thấy
Thiên Đàng lại rất gần với chúng ta. Bài Tin Mừng hôm nay mô tả lại một mối cảm
nghiệm chót đỉnh trong cuộc sống của Chúa Giêsu và ba vị Tông Đồ.
10.
Hãy vâng nghe lời Người - Jude Siciliano
Một người bạn đã kể với nhóm chúng tôi về một doanh gia mà ông
quen biết. Doanh gia này thường xuyên di chuyển bằng máy bay để tham dự các buổi
hội họp làm ăn. Ông nói: “Tôi là khách hàng quen thuộc của một hãng máy bay, đến
nỗi tôi nghĩ họ phải cho tôi một cổ phần của hãng.” Ông ta thuộc lòng các đường
bay. Trước khi lên máy bay, ông mua một tờ thời báo kinh tế, một ly cà phê và rồi
ở trên máy bay ông kéo hành lý của mình đến ghế dành riêng, cột dây an toàn, uống
cà phê và đọc tin tức. Gần đến nơi ông coi lại các ghi chép về nội dung buổi họp
sắp tới. Người nữ tiếp viên xuất hiện chỉ dẫn cách thức đề phòng các sự cố bất
ngờ. Ông ta làm ngơ không để ý tới, bởi đã quá quen thuộc những thủ tục ấy. Ông
lẩm bẩm với hành khách bên cạnh: “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi.”
Ngoại trừ lần gần đây, máy bay đã tới sát phi trường, nhưng lúng
túng không đáp được. Giọng nói hồi hộp của phi công từ buồng lái vọng ra: “Thưa
quý hành khách, chúng ta đang gặp rắc rối, các bánh xe hạ cánh không hoạt động.
Chúng ta cần lượn quanh vài vòng để xả bớt nguyên liệu, tránh may bay bốc cháy,
khi đáp không bánh xe lăn.” Cô tiếp viên lại xuất hiện, cặn kẽ chỉ dẫn an toàn
cho hành khách lúc gặp nguy hiểm vì đáp khẩn cấp. Người ta phải ngồi hướng về đằng
trước, hai tay ôm đầu gối phía cẳng dưới. Ông thương gia kể tiếp: “Lúc ấy tôi
dương to cả hai tai nghe cho tỏ. Vị trí của các cửa thoát hiểm ở đâu? Đèn báo
đi ra cửa như thế nào? Dây nịt an toàn ra sao và ngồi đúng tư thế đã chỉ định,
không sót chi tiết nào. Tôi tái mặt chờ đợi điều khủng khiếp sắp xảy ra. Rồi
tôi lờ mờ nhìn thấy ánh sáng của các xe cứu hộ sẵn sàng hai bên đường băng và
tôi ý thức ra tầm quan trọng của lời cô tiếp viên chỉ dẫn. Nó nằm giữa sự sống
và cái chết. Tôi lâm râm cầu khẩn Chúa liên tục. May quá cuối cùng các bánh xe
hoạt động trở lại và chuyến đáp an toàn. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Đó là một
kinh nghiệm để đời không thể quên.”… Quý vị có lẽ đã mường tượng ra sứ điệp của
câu truyện. Nó cho chúng ta hay tầm quan trọng của việc lắng nghe và làm theo
những chỉ dẫn của tiếng nói định mệnh trong lúc nguy hiểm. Những lời hướng dẫn
rất trọng yếu. Nó là sự sinh tử của một đời người. Nó ban cho người ta ý nghĩa
để sống hay chỉ là những giây phút qua đi vô hồn hời hợt, không có mục tiêu nào
cả và như thế là một kiểu chết chóc vậy.
11.
Mầu nhiệm ấy phải lôi cuốn ta
Vậy biến cố Đức Giêsu biến đổi hình dạng (17,1-9) là để giúp các
môn đệ thấy rõ hơn Ngài là ai theo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ta được đặt đối diện
với vực thẳm của mầu nhiệm Thiên Chúa nơi Đức Giêsu - mầu nhiệm ấy phải đánh động
ta, lôi cuốn ta, khiến ta say mê! Nhưng chìa khoá để mở cho ta thấy mầu nhiệm lại
do chính Đức Giêsu nắm giữ! Một câu chuyện nhỏ có thể giúp ta nhận ra vấn đề vừa
nêu.
Tác giả cuốn “Bảy Thói Quen của Những Người Thành Đạt” (The
Seven Habits of Highly Effective People. Fireside. New York 1989) là ông Trần
Cao Vọng (Stephen R. Covey).
Sáng Chúa Nhật hôm ấy, ông Vọng bước vào toa xe điện ngầm ở Nữu
Ước. Ông đặt mình vào bầu khí yên lặng, trong đó người thì đọc báo, người trầm
ngâm suy nghĩ, người trầm ngâm suy nghĩ, người lim dim ngủ. Thật là một cảnh an
bình.
Bỗng một người đàn ông và các con ông bước vào toa tầu. Bọn trẻ ồn
ào, khó bảo, làm cho không khí trong toa tầu thay đổi hẳn.
Ông Vọng kể lại: “Người đàn ông ngồi xuống cạnh tôi, nhắm mắt,
hình như không chú ý đến những gì đang xảy ra. Bọn trẻ la hét, ném đồ vật, vồ cả
mấy tờ báo của người khác. Chúng quấy phá quá sức, nhưng người đàn ông ngồi cạnh
tôi vẫn không làm gì.
Thật khó mà không nổi cáu. Tôi không thể tin rằng ông ta vô tâm
đến thế, để cho bọn trẻ chạy loạn lên mà không làm gì cả, choi như không có
trách nhiệm. Dễ nhìn thấy những người khác trong toa cũng đều nổi giận. Sau
cùng, không thể chịu đựng được nữa, tôi quay sang ông ta và nói: “Thưa ông, bọn
trẻ nhà ông quấy đảo quá, ông không bảo chúng được một câu hay sao?”
Người đàn ông ngước mắt như lần đầu tiên biết được tình hình này
và nhẹ nhàng nói: “Vâng, thưa ông, ông nói phải. Tôi nghĩ rằng tôi phải làm một
cái gì. Vâng, chúng tôi vừa ở bệnh viện ra, mẹ các cháu vừa mất cách đây khoảng
một giờ. Tôi không biết nghĩ như thế nào. Tôi cho rằng chúng cũng không biết xử
trí ra sao.”
Ông Vọng nói tiếp: “Bỗng tôi nhìn sự vật một cách khác và bởi vì
tôi nhìn khác nên tôi cũng nghĩ khác, cảm thấy khác, hành động khác. Cơn giận của
tôi biến mất. Tôi không phải lo kiểm soát thái độ hay hành vi của tôi; con tim
tôi tràn đầy nỗi đau của người đàn ông ấy. Một thiện cảm và lòng thương dâng
lên trong tôi: “Vợ ông mới mất ư? Ồ, xin lỗi! Ông có thể cho tôi biết chuyện được
không? Tôi giúp gì được ông đây?” Mọi cái đã thay đổi trong chốc lát.” (ibd.,
trang 30-31)
12.
Chọn lựa là từ bỏ
Nguyễn Công Trứ là một vị quan văn võ song toàn, quê ở Hà Tĩnh.
Từ thuở hàn vi, ông đã có chí lớn giúp đời, lập công danh, sự nghiệp: “Làm trai
đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.”
Năm 42 tuổi ông đỗ Giải Nguyên, và bắt đầu bước vào quan trường,
hoạt động trong nhiều lãnh vực, từ quân sự đến kinh tế, thi ca.
Bởi bao thành tích trổi vượt trong nhiều lãnh vực, ông đã được
thăng đến chức thượng thư, tổng đốc. Nhưng sự đời “vinh liền nhục”, “khóc trước
cười”, năm 63 tuổi ông bị kết án trảm quyết rồi lại được tha, năm 65 tuổi bị
cách làm lính thú… rồi mất ở nhà quê năm 80 tuổi.
Chua chát cuộc đời vẫn không làm ông mất đi cái khí phách quân tử,
trong bài thơ gẫm cuộc đời thăng trầm: “Ngồi buồn mà trách ông xanh: Khi vui muốn
khóc, buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa
trời mà reo.” (Vịnh cây thông)
13.
Tự nhiên phải nhường chỗ cho siêu nhiên,
Sáng ngày 02.3.2011, ông Shahbaz Bhatti, bộ trưởng Công giáo duy
nhất của Pakistan về người thiểu số đã bị một nhóm vũ trang sát hại. Tất cả đeo
mặt nạ, chặn xe ông Shahbaz Bhatti lại, lôi ông ra khỏi xe và bắn thẳng vào người
ông, rồi trốn chạy bằng một chiếc xe. Những kẻ giết người để lại hiện trường một
bức thư ngắn, nội dung là nhóm TTP (Tehrik-e-Taliban Pakistan) nhận trách nhiệm
về vụ ám sát ông, vì ông đã lên tiếng chống lại luật phỉ báng.
Shahbaz Bhatti đã đứng ra bảo vệ Asia Bibi, một Kitô hữu chịu những
cáo buộc sai trái và bị kết án tử hình vì tội phỉ báng. Khi bảo vệ Asia Bibi,
ông đã trở nên mục tiêu hàng đầu của những kẻ cực đoan.
Trước đó ông đã nhận được những lời đe dọa. Một người bạn của
ông, Robinson Asghar, đã khuyên ông rời khỏi Pakistan một thời gian do bị đe dọa,
nhưng ông đã từ chối.
ĐHY Jean Louis Tauran đã thú nhận trên Radio Vatican: “Tôi đã cảm
động sâu xa khi đọc di chúc thiêng liêng mà - theo tôi - ngang tầm một bản văn
của một trong những giáo phụ,” và gọi ông là một “vị tử đạo thực sự.”
ĐHY đọc di chúc của ông: “Tôi không còn sợ hãi nào nữa, tôi hiến
dâng mạng sống tôi cho Chúa Giêsu. Tôi không tìm kiếm danh tiếng, tôi không muốn
những vị trí quyền lực. Tôi chỉ muốn một chỗ ở chân Chúa Giêsu.” và kết luận:
Shahbaz Bhatti đã “không bao giờ có một lời hận thù. Ông đã đồng
hóa Tin Mừng cách tuyệt vời. Chúng ta hết thảy đều bé nhỏ khi đối diện với một
mẫu gương cao cả này. Một con người 42 tuổi - rất trẻ - đã sống như một hiến tế.”
14.
Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình
Một vị truyền giáo kể lại: Phải qua nhiều thủ tục tôi mới
được phép vào thăm một tử tù. Khi đến phòng giam, tôi thấy anh đang quì, hai
tay ghì chặt cây Thánh Giá mà khóc. Tôi yên lặng ngồi cạnh anh như muốn nói lên
sự đồng cảm. Khi nỗi xúc động lắng xuống, người tử tù nói:
- Thưa Cha, con khóc không phải vì sợ chết, nhưng vì 40 năm qua,
con đã bỏ Chúa để chạy theo những đam mê và đám bạn bè. Hôm nay sợ liên lụy,
chúng làm như không hề biết con. Gia đình cũng không muốn nhìn mặt, vì phải nhục
nhã và xấu hổ do những tội ác con đã làm. Giờ đây con rất hối hận và chỉ biết
hoàn toàn trông cậy vào Đấng đã chết trên thập giá để tẩy xóa tội con.
Kể đến đây, vị linh mục ấy nói:
- Tôi tin rằng ơn Chúa đã biến đổi tâm hồn người tử tội và anh sẽ
được hưởng lòng thương xót của Chúa như người trộm lành năm xưa.
Chúng ta không có khả năng biến đổi dung nhan và y phục như Đức
Giêsu, nhưng nhờ Người và ơn Chúa Thánh Thần, cùng với quyết tâm đổi mới, chúng
ta sẽ nên hoàn thiện mỗi ngày đang khi trông đợi trời mới, đất mới xuất hiện.
15.
Ánh sáng tỏa lan
Trong tác phẩm “Một điều tốt đẹp cho Chúa” (Something beautiful
for God), ông Malcolm Muggeridge đã viết về Mẹ Têrêxa: “Được sống một vài ngày
với Mẹ, tôi vô cùng cảm kích trước sự vui tươi của các nữ tu, họ làm những công
việc mà người ngoài cuộc cho là khổ sở và khó khăn không thể làm được.”
Mẹ Têrêxa có thể làm ‘một điều tốt đẹp cho Chúa’ vì Chúa đã chiếu
giãi ánh sáng của đức tin vào cuộc sống Mẹ. Ánh sáng đó lôi kéo Mẹ đến một sự
thay đổi triệt để trong cuộc sống, trong cái nhìn, trong cách đánh giá, theo sự
khôn ngoan của thập giá Đức Kitô.
Ánh sáng đó thay thế bóng tối đời này bằng niềm vui đến từ sự
khôn ngoan Nước Trời, vì “những đau khổ hiện thời chẳng thấm vào đâu so với
vinh quang sắp tới sẽ được giãi bày cho chúng ta” (Rm 8,18).
Mẹ Têrêxa giải thích: “Đó là tinh thần hội dòng chúng tôi, hoàn
toàn phó thác, cậy trông và vui tươi. Chúng tôi phải giãi toả niềm vui Đức Kitô
qua việc làm của chúng tôi. Nếu việc chúng tôi làm chỉ là những hoạt động hữu
ích mà không đem lại niềm vui cho tha nhân thì những người nghèo khổ của chúng
tôi sẽ chẳng bao giờ đáp ứng lời mời mà chúng tôi muốn họ nghe theo, lời mời
hãy đến cùng Thiên Chúa.”
Điểm mấu chốt là ở đó! Thiên Chúa là hạnh phúc thật của tôi. Nếu
tôi để đức tin biến đổi cuộc đời, đức tin sẽ đưa tôi đến gần Thiên Chúa. Khi đó
dù ở đâu, hạnh phúc cũng ở bên tôi, và tôi sẽ thốt lên: “chúng con ở đây, thật
là hay.”
CNMC
2B
Lời Chúa: Mc 9, 1-9 (Hl 2-10)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người
lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi,
trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến
thế. Rồi Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu. Bấy giờ Phêrô lên tiếng
thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Chúng con
xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia.” Phêrô không rõ
mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó có một đám mây bao phủ các Ngài,
và từ đám mây có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy
nghe lời Người.” Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn
một mình Chúa Giêsu với các ông. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu
ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi
Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi
nhau: “Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?” Đó là lời Chúa.
TRUYỆN
KỂ
1.
“Hãy vâng nghe lời Người”
Một hôm nhà vua triệu tập các cận thần. Vua đưa cho quan Tể Tướng
một viên ngọc trai lóng lánh và hỏi:
- Ông hãy nói viên ngọc này đáng giá bao nhiêu?
- Muôn tâu, nó đáng giá còn hơn số lượng vàng khối mà 100 con lừa
có thể chở.
- Ông hãy đập vỡ nó ra!
- Muôn tâu Bệ Hạ, làm sao hạ thần có thể phung phá một báu vật
như thế ạ!
Nhà vua thưởng cho quan Tể Tướng một chiếc áo danh dự và lấy lại
viên ngọc.
Kế đó vua đưa viên ngọc cho quan Thị Vệ, cũng hỏi:
- Theo ông, nó đáng giá bao nhiêu?
- Bằng nửa vương quốc.
- Hãy đập vỡ nó ra!
- Đập vỡ viên ngọc này ư? Muôn tâu Bệ Hạ, tay thần không thể nào
làm được việc đó.
Nhà vua cũng thưởng cho ông này một chiếc áo danh dự, lại còn
tăng lương cho ông.
Sau cùng nhà vua đưa viên ngọc cho Abdul:
- Ngươi có biết viên ngọc này đẹp đến mức nào không?
- Muôn tâu, đẹp không thể nói được.
- Hãy đập nát nó đi.
Lập tức Abdul lấy hai viên đá đập vỡ viên ngọc ra và nghiền nó
thành bụi. Quần thần thét lên sợ hãi vì sự táo bạo của Abdul. Họ hỏi:
- Tại sao nhà ngươi dám làm thế chứ?
Abdul bình tỉnh đáp:
- Lệnh của Hoàng Thượng đáng giá hơn bất kỳ viên ngọc quý nào.
Tôi tôn kính Hoàng Thượng chứ không tôn kính viên ngọc.
Nhà vua khen ngợi thái độ của Abdul và thưởng chàng trọng hậu
hơn cả hai vị quan kia.
Câu chuyện giúp chúng ta hiểu tại sao khi Đức Giêsu biến hình,
tiếng Chúa Cha từ trời đã phán: “Đây là Con Ta yêu dấu. Hãy vâng lời Ngài.”
2.
Từ Tabor đến Golgotha
Một Linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm
và cũng rất sâu sắc như sau:
Có một đôi vợ chồng trẻ rất xinh đẹp và sống với nhau cũng rất
khéo. Đúng là một cặp “trai tài gái sắc.” Có lẽ chính nét trẻ trung xinh xắn của
vợ chồng đã cho họ một mùa xuân cuộc đời thật nồng cháy tình yêu và hạnh phúc.
Một ngày nọ, người vợ ăn một nửa trái táo, rồi tặng chồng phần
kia. Người chồng vui vẻ đón nhận:
- Ôi nửa trái táo ân tình, công chúa của lòng anh!
Hai mươi năm sau. Cũng đôi vợ chồng ấy, cộng thêm những nét tàn
tạ của thời gian. Cũng một trái táo, vợ ăn một nửa, mời chồng phần còn lại.
Nhưng người chồng nhăn mặt:
- Sao lại cho nửa trái táo ăn thừa?
Tất cả nguyên trạng chỉ khác có nhan sắc. Cũng nửa trái táo dâng
tặng nhưng hai mươi năm trước nhận từ tay “người đẹp” là trái táo ân tình. Hai
mươi năm sau từ tay “nàng già”là trái táo ăn thừa. Nên chỉ dựa vào nhan sắc người
ta sẽ mất hết tất cả với thời gian.
3.
Niềm đau tượng hình.
Du khách đến Roma thường đi thăm ngôi thánh đường cổ tên là
Dominus sub aquis, vì phía trên bàn thờ, có một tượng thánh giá rất đặc biệt: bất
cứ ai đến qùi trước tượng thánh giá và cầu nguyện với tất cả lòng thành đều được
sức mạnh và an ủi thâm sâu.
Người ta kể rằng tác giả của thánh giá bằng tượng cẩm thạch này
đã mất nhiều năm mới hoàn thành được tác phẩm. Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng
lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập bỏ, vì ông cho rằng tác phẩm vẫn
chưa diễn đạt được điều ông muốn.
Khi ông bắt tay vào công trình lần thứ ba thì cũng là lúc ông gặp
nhiều thử thách nhất. Nhiều người ganh tị nên tìm cách hạ uy tín ông. Vợ con
ông qua đời trong những hoàn cảnh thật đau thương.
Ai cũng tưởng rằng cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc. Trái lại,
ông càng miệt mài chú tâm vào công trình. Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của
mình lên khuôn mặt của Đức Kitô. Bức tượng của Chúa Giêsu trên thập giá không
còn là một phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm
hồn. Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người
nghệ sĩ muốn tháp nhập vào.
4.
Hai khuôn mặt một tình yêu.
Tại nước Mêhicô, người ta thường tổ chức những cuộc đấu võ rất
ác liệt. Đó là một loại võ tự do, nên các võ sĩ có thể phục sức tuỳ sở thích và
có thể mang cả mặt nạ trong khi đấu võ.
Một linh mục tên là Gaêtanô đang làm công tác xã hội để giúp
nuôi các trẻ em nghèo và mồ côi. Để có thêm tiền cho mục đích này, cha Gaêtanô
liền nghĩ đến chuyện ghi danh tham dự các trận đấu.
Với một thân bình to lớn, thông thạo võ thuật và đầy lòng dũng cảm,
mỗi khi lên võ đài, cha Gaêtanô mang một chiếc mặt nạ màu vàng để che dấu tung
tích của mình. Ngài thường đấu với những đối thủ hung hãn nhất. Tất cả tiền thưởng
hoặc thù lao nhận được, cha đều dành cho quĩ cứu trợ các trẻ em nghèo và mồi
côi. Từ đó, chiếc mặt nạ vàng trở thành biểu tượng cho tấm lòng vàng của cha
Gaêtanô.
Hai khuôn mặt, một tình yêu: Trên võ đài cha Gaêtanô là một võ
sĩ mang mặt nạ vàng, ở giữa đàn con cô nhi của cha. Cha là một linh mục sống
hoàn toàn cho người khác, phản ảnh tình yêu cuả Thiên Chúa, một tình yêu cho đi
mà không tính toán, không so đo, không sợ thương tích.
5.
Cảm nghiệm về sự hiện diện của Chúa
Maya Angelu, một thi sĩ và tác giả người Mỹ, là một người phụ nữ
khôn ngoan và cũng có đời sống thiêng liêng. Chị kể là vào một ngày kia, chị đã
được thức tỉnh về mặt tôn giáo. Điều này xảy ra theo một cách thức rất đơn giản.
Chị ngoài 20 tuổi, và vừa mới di chuyển đến San Francisco. Chị nói rằng lúc đó,
chị là một người tích cực theo thuyết bất khả tri. Điều này không có nghĩa là
chị không còn tin tưởng nơi Thiên Chúa nữa, mà chỉ là dường như Thiên Chúa
không còn ở nơi những người sống chung quanh mà chị thường hay giao du với.
Thế rồi có một giáo viên giới thiệu với chị một cuốn sách tựa đề
là Những Bài Học về Chân Lý. Chị kể rằng vào một ngày kia, người giáo viên đó
yêu cầu chị đọc cuốn sách đó cho ông ấy. Tôi lên 24 tuổi có học thức và cũng rất
trần tục. Thầy giáo của tôi yêu cầu tôi đọc một phần trang sách chấm dứt bằng
câu “Thiên Chúa yêu thương tôi.” Tôi đã đọc đến đây rồi gấp sách lại, nhưng thầy
giáo bảo tôi “Cứ đọc lại đi.” Tôi mở sách ra, và đọc một cách mỉa mai “Thiên
Chúa yêu thương tôi.” Ông bảo “Đọc nữa đi.” Sau đến 7 lần đọc đi đọc lại tôi bắt
đầu cảm thấy rằng câu nói đó có thật, và có thể Thiên Chúa đã thực sự yêu
thương tôi. Vâng, Người yêu thương tôi, Maya Angelu.
Đột nhiên, tôi bắt đầu khóc to. Tôi biết rằng nếu Thiên Chúa yêu
thương tôi, thì tôi có thể làm được những điều kỳ diệu, tôi có thể làm được những
điều vĩ đại, học hỏi, hoàn tất được bất cứ thứ gì. Bởi vì cái gì có thể chống lại
tôi, nếu Thiên Chúa ở với tôi, bởi vì bất cứ người nào ở với Thiên Chúa, thì đều
tạo được ưu thế.
6.
Thuận theo ý Chúa
Các bài đọc Chúa nhật này bảo chúng ta hãy nghe tiếng Chúa, biết
hy sinh thuận theo ý Chúa. Chúng ta không phải vất vả tìm kiếm đâu xa những dịp
hy sinh thuận theo ý Chúa. Mỗi ngày sống của ta luôn luôn có những cơ hội để ta
biết vâng theo ý Chúa, hãy lợi dụng những cơ hội đó, để đền đáp quảng đại, lòng
thương vô biên của Chúa đã ban con một người cho ta.
Thánh Alphongsô khi bị Đức Giáo Hoàng lên án oan uổng, vì những
lời gièm pha tố cáo bất công, và sau khi ngài đã phải hoàn toàn rút lui khỏi
chính dòng mà ngài đã thiết lập, ngài không hề buồn sầu, không phàn nàn, không
kêu ca, không nói một lời oán trách; ngài chỉ thổ lộ mấy lời anh hùng sau đây:
“Đã sáu tháng nay, tôi luôn đọc lời cầu nguyện này: “Lậy Chúa, Chúa muốn sao,
con cũng muốn vậy.” và ngài đã can tâm chịu đựng cho tới lúc tắt thở. Ngài
không hề oán trách người đã làm khổ ngài, chinh ngài đã viết cho người cáo gian
ngài: “Tôi vui mừng vì Đức Thánh Cha đã ban cho Cha nhiều đặc ân. Xin cha cứ
cho tôi biết những gì may mắn, Cha nhận được để tôi cám ơn Chúa. Tôi xin Chúa
yêu Cha nhiều hơn, phát triển các nhà của Cha, chúc lành cho Cha, và sứ mệnh của
Cha.” (Coi Le Saint Abondon của Dom Vital Lehodey p.258 - 259)
Thánh Gioan thánh giá, đã sang tác cuốn Nhã Ca thật giá trị.
Nhưng cuốn này được viết ra đúng vào lúc ngài bị mọi người cười chê, khinh miệt,
tâm hồn bị nhiều đau khổ. Giữa lúc đó, thánh nhân coi những đau khổ, những sỉ nhục
phải chịu là xứng đáng. Ngài nghĩ, ngài là người đầy tội lỗi, đầy khuyết điểm,
phải chịu đựng như thế, vẫn còn là quá nhẹ nhàng. (Le saint Abandon p. 259).
7.
Tìm kiếm điều cốt yếu
Các học giả thường hỏi Đức Giê-su đưa ba môn đệ lên núi nào để cầu
nguyện? Núi Tabor (cao 300m) theo truyền thống, hay núi Hermon (cao 3000m) theo
học giả W. Barclay? Thật ra, ngọn núi ở đây nhắm đến ý nghĩa thần học hơn là địa
lý, núi theo Kinh Thánh là khung cảnh cho những mạc khải của Thiên Chúa. Vậy
thì trên ngọn núi Si-nai mới ấy, Thiên Chúa muốn đặc biệt nói với ta điều gì? Đức
Giê-su biến hình sáng láng trước mặt các môn đệ, Ngài cho các ông thấy vinh
quang của một vị Thiên Chúa làm người, vinh quang mà Ngài lại sẽ chiếu tỏa vào
ngày phục sinh vinh hiển. Hôm nay Ngài dứt khoát chọn con đường thập giá đau khổ
để cứu độ nhân loại. Còn tuần lễ sau, Ngài bước đi trên con đường thập giá ấy
cho đến giọt máu cuối cùng.
“Ai không kiếm tìm thập giá Chúa Ki-tô cũng không kiếm tìm vinh
quang của Ngài” (Th. Gioan Thánh Giá). Đức Giê-su được biến hình sáng chói sau
khi chọn thập giá đau khổ theo ý của Chúa Cha, và phục sinh khải hoàn sau khi
hoàn thành thập giá đau khổ ấy. Cũng vậy, tâm hồn bạn cũng được biến hình rực rỡ,
khuôn mặt bạn rạng rỡ hơn sau mỗi nghĩa cử hy sinh quên mình vì Tin Mừng Nước
Trời.
8.
Con Ta rất yêu dấu
Mẫn Tử Khiên mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Mẹ kế của Mẫn Tử Khiên sinh
được hai người con trai. Bà chỉ thương con ruột mà ghét Tử Khiên.
Vào mùa đông giá rét, mẹ kế không cho Tử Khiên mặc áo mền bông,
chỉ cho mặc áo mền hoa lau. Bị rét mướt, nhưng Tử Khiên không kêu than một lời.
Ngày nọ, Tử Khiên bị cha đánh đòn, vô tình làm áo rách, bật hoa
lau ra. Người cha thấy thế căm giận người vợ kế độc ác đã bạc đãi con mình,
toan đánh đuổi đi. Tử Khiên khóc lóc van xin cha rằng: “Dì con còn ở lại, thì
chỉ mình con chịu rét. Dì con bị đuổi đi, thì ai sẽ may vá cho chúng con? Có lẽ
cả ba anh em chúng con phải chịu rét cả.”
Người cha nghe con nói thấy xúc động trong lòng, thôi không đuổi
vợ kế đi nữa. Và cũng từ đó, người “mẹ ghẻ” cũng yêu thương Mẫn Tử Khiên như
con ruột vậy.
Để diễn tả việc mẹ ghẻ ghét bỏ con chồng, ca dao có câu:
Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.
Tuy vậy, Mẫn Tử Khiên đã yêu thương và bênh vực cho người mẹ ghẻ
đã từng đối xử tệ bạc với mình. Mẫn Tử Khiên đã được người đời ca tụng là người
con chí hiếu.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng theo thánh Marcô, Chúa Giêsu đã được
chính Thiên Chúa Cha làm chứng và khen ngợi là người Con Chí Ái: “Đây là Con Ta
rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người.”
9.
Biến hình bởi tình yêu
Nhờ vâng lời Chúa, chúng ta cũng được biến hình như Ngài: với cuộc
đời hy sinh khổ ải đời này, chúng ta được biến đổi trong vinh quang sáng ngời
mai sau.
Vào năm 1984, đạo diễn Trần Văn Thủy đã thực hiện một cuốn phim
tài liệu gây xôn xao cả nước Việt Nam. Cuốn phim tài liệu đó mang tựa đề “Tử tế”
Trong cuốn phim, tác giả đã đi tìm những mẫu người tử tế hiếm hoi trong xã hội.
Một trong những cảnh gây xúc động cho người xem nhất là hình ảnh một người đàn
bà phong hủi, bị xã hội xua đuổi, nhưng đêm đêm vẫn lần mò về làng và bằng hai
bàn tay cùi cụt co quắp, không đủ ngón, đã đóng được 18.000 viên gạch để xây
nhà cho con. Trong bóng tối của cuộc đời bất hạnh, tấm lòng của người mẹ vẫn
mãi mãi sáng ngời trong lòng những người con cái.
Đó không phải chỉ là câu chuyện của một người tử tế, mà còn là
câu chuyện cao cả của tình mẫu tử. Đối với người mẹ ấy, những người con luôn
luôn là cái gì rất quý giá và dấu yêu.
10.
Bình an của Đức Kitô
Một vị vua treo giải thưởng cho hoạ sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp
nhất về sự bình an. Có nhiều bức tranh được đem đến dự thi. Số các bức tranh đi
vào vòng trong ngày càng ít đi. Sau nhiều chọn lựa, cuối cùng chỉ còn hai bức
bước vào vòng chung kết. Nhà vua cân nhắc rất kỹ để chọn một trong hai. Bức thứ
nhất vẽ hồ nước yên ả, mặt hồ là tấm gương phản chiếu thật đẹp những ngọn núi
bao quanh, bên trên là một bầu trời xanh với vài đám mây trắng nhẹ nhàng bay.
Ai cũng có cảm tình với bức tranh đó. Nhưng cuối cùng, nhà vua lại
chọn bức thứ hai, một bức tranh vẽ những ngọn núi trần trụi, lởm chởm đá, với một
dòng thác ầm ầm đổ làm tung bụi trắng xoá, bầu trời bên trên toàn mây đen u ám
với nhiều sấm chớp báo hiệu một trận mưa lớn.
Khi ngắm kỹ bức tranh thứ hai, người ta mới hiểu cái lý của nhà
vua: Đằng sau dòng thác có một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá.
Trong bụi cây, một con chim mẹ đậu trên mép tổ mớm cho mấy chú chim non. Bình
an giữa giông tố!
Ở trên đời, phải sống giữa vạn vật thay đổi luôn luôn, như giông
như bão, người ta thấy rõ cái sự mỏng manh, sớm nở tối tàn của phận người. Nay
còn mai mất nên câu chúc bình an luôn nằm trên môi mỗi khi gặp nhau. Nhưng người
ta có thể tìm kiếm bình an ở đâu?
Có bình an của thế gian và có bình an của Đức Kitô.
Những người không tin vào Thiên Chúa thì bám vào sự bình an giả
tạo của thế gian, của quyền lực và tài sản. Đó là bình an của người hưởng thụ
hơn là gieo vãi, sẵn sàng đầu hàng hơn là hy sinh, chiến đấu…; bình an của người
rất ngại nói đến phục vụ, dấn thân, quên mình.
11.
Muốn được tôn vinh
Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần
nhau, nhưng sư tử rất kiêu ngạo, vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ.
Sư tử thường mắng thỏ và doạ nạt thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới
nghĩ ra cách báo thù.
Một lần kia nó nói với sư tử rằng:
- Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông giống anh lắm.
Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám đối mặt với
nó.” Thằng cha này không coi ai ra gì cả!
Sư tử tức giận và bảo rằng: “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”
- Thỏ trả lời: Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng
lộng lên và bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.
Sư tử càng tức điên người lên và hỏi: Nó ở đâu? dẫn tao đến
ngay.
Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở đàng xa và
bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!
Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy giếng. Quả
thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng nhìn nó.
Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù lông cổ lên
tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên kia cũng hăm dọa
lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống giếng để cho thằng
khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt đời mình dưới giếng
sâu…
Thất bại của sư tử là không nhận ra mình nên đã lao vào cắn xé
chính hình ảnh của mình. Sư tử chỉ muốn nhất. Sư tử chỉ muốn làm bá chủ nên sẵn
sàng loại trừ tất cả các đối thủ có nguy cơ nguy hại đến vị trí số 1 của mình.
Con người là hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đáng tiếc là nhiều người
đã không nhận ra điều đó. Họ không nhận ra hình ảnh mình nơi tha nhân để có thể
yêu mến tha nhân như chính mình. Họ đòi được tôn vinh, được bá chủ nên sẵn sàng
cắn xé chính đồng loại của mình.
12.
Mồ chôn kẻ dại khờ
Một nhà đại phú hộ người Pháp, suốt đời chỉ lo hưởng thụ mọi
vinh hoa phú quí, dinh thự nguy nga đồ sộ, đầy tớ tấp nập, ra vào hầu hạ, yến
tiệc xa hoa với mọi lạc thú trần gian… Rồi bỗng nhiên, một hôm ông ngã bệnh nặng,
hết bác sĩ này đến danh y khác được mời đến điều trị bệnh tật cho ông với lời hứa,
nếu cứu ông khỏi chết sẽ được hậu tạ, dầu phải chấp nhận bất cứ điều kiện nào…
Nhưng sau khi chẩn mạch, khám nghiệm và gắng sức chữa chạy, tất cả các bác sĩ,
danh y đều bó tay vì bệnh trạng của ông đã đến hồi vô phương cứu chữa.
Khi biết mình không thể sống nổi, nhà đại phú hộ rất buồn bã thất
vọng, gọi vợ con đến trăng trối: “Khi ta chết rồi, hãy khắc vào một bia đá đặt
trên mộ ta lời rất bỡ ngỡ nhưng chân thật này: “Đây là mồ chôn một kẻ khờ dại!”
13.
Lên núi cầu nguyện
Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, rất hợp tính và cùng có
một mơ ước cao đẹp là sẽ sống một cuộc đời hết sức thánh thiện. Lớn lên, người
anh cưới vợ, sinh con, chăm chỉ làm ăn và cũng không quên những bổn phận đạo đức
hằng ngày. Còn người em thì đi tu, thành một thầy dòng, ngày ngày đi khắp nơi
giảng đạo và giúp đỡ những người nghèo.
Mười năm sau, người em làm thầy dòng trở về quê thăm lại anh
mình. Hai anh em nói chuyện với nhau thật nhiều về cuộc sống và tâm tư của
mình. Người anh khám phá ra rằng ngày xưa hai anh em tâm đầu ý hợp như thế, mà
sao bây giờ lại khác nhau quá xa: người em thì vẫn thích thánh thiện như xưa và
còn thánh thiện hơn xưa nữa, còn mình thì sao quá tầm thường không còn chút mơ
ước nào về lý tưởng thánh thiện ngày xưa nữa.
Người anh tìm đến một vị ẩn sĩ để hỏi cho biết nguyên do sự khác
biệt ấy. Vị ẩn sĩ không trả lời thẳng mà dùng những hình ảnh thiên nhiên để giải
thích cho anh ta.
* Trước tiên là đám mây trên trời: thường thường bầu trời ngày
nào cũng có những đám mây, nhưng không có đám mây ngày nào giống đám mây ngày
trước. Cũng là mây, nhưng mây ngày nay khác mây ngày hôm qua.
* Kế đến là một cái cây xanh: nó vẫn luôn luôn là cây thông xanh
rì, nhưng năm trước nó nhỏ hơn, năm nay nó đã lớn hơn và cao hơn một tí, năm
sau nó sẽ lớn và cao hơn tí nữa. Có nhiều cái lá của năm trước mà năm nay không
còn, và có nhiều chiếc lá của năm nay sẽ rụng vào năm tới để thay bằng những
chiếc lá khác.
* Và sau cùng chính là thân xác con người: các tế bào trong thân
xác con người luôn luôn thay đổi, có cái chết đi và có cái sinh ra thêm. Khoa học
tính rằng cứ sau 7 năm thì thân xác ta hoàn toàn đổi mới không còn một tế bào
nào của 7 năm trước đây nữa. Sợi tóc, móng tay, làn da của ta năm nay hoàn toàn
không chứa một tế bào nào của sợi tóc, móng tay và làn da của 7 năm trước.
Vị ẩn sĩ mới kết luận: tâm hồn con người cũng thế. Muốn lớn lên,
muốn tươi trẻ mãi, muốn hăng say sinh động thì mỗi ngày cũng phải biết từ bỏ những
thói quen xấu, những cám dỗ đam mê và đồng thời biết nổ lực luyện tập những nhân
đức tốt. Không đào thải đi và không thu nhận vào thì nó sẽ chết khô như một
thân cây chết đứng, chứ không còn là một thân cây tươi tốt sống động vươn mỗi
ngày.
Sở dĩ người anh trở nên tầm thường, khô cằn vì suốt 10 năm qua
anh ta luôn tự mãn với những cái mình đang có, không muốn bỏ đi cái xấu nào và
cũng không nổ lực tập một nhân đức nào. Tức anh ta không chịu “lên núi” trong đời
sống hằng ngày để cầu nguyện, để gặp Chúa, để được biến đổi.
14.
Món quà thập giá
Có một câu chuyện kể rằng: một người đàn bà giàu có đang hấp hối
trên giường bệnh, trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân
thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà, tuyệt nhiên bà không hề đá động đến cô
gái nghèo và trung thành hầu hạ bà bấy lâu nay, quà tặng duy nhất mà bà để lại
cho cô là một thánh giá làm bằng thạch cao.
Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng đầy cay đắng buồn phiền, cô tự
nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được một món quà
không ra gì, không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt đắng cay, cô đã kéo
thập giá xuống khỏi tường và ném mạnh trên nền nhà, cây thập giá vỡ tung, và
kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch
cao đều là những viên kim cương óng ánh. Cô gái chỉ có thể hiểu được lòng tốt của
người chủ khi cô nhận ra giá trị của món quà.
Lắm khi Thiên Chúa cũng gửi đến cho chúng ta những món quà được
bao bọc bằng hình thù của thập giá, sự sần sùi và dáng vẻ thê thảm của thập giá
làm chúng ta không thể hiểu được lòng tốt của Thiên Chúa, Ngài yêu thương chúng
ta, Ngài không bao giờ muốn điều dữ cho chúng ta, bởi vì tất cả mọi sự xảy đến
cho chúng ta đều nhằm dẫn đưa chúng ta đến hạnh phúc cao cả hơn.
Quả thực, ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có thập giá, đã mang tiếng
khóc vào đời, con người tiến bước trong cuộc sống với tất cả gánh nặng của thập
giá. Tại sao Thiên Chúa đã để cho con người phải đau khổ? Mãi mãi dường như con
người sẽ không bao giờ tìm được câu giải đáp cho vấn đề đau khổ, Chúa Giêsu
không bao giờ đặt vấn đề và cũng không bao giờ đem lại một giải đáp cho vấn đề,
trong thinh lặng, Ngài đã vác lấy thập giá, và khi sống lại, Ngài cho chúng ta
thấy rằng thập giá là con đường dẫn đến sự sống.
15.
Giây phút tột đỉnh
Nhà tâm lý học Abraham Maslow kể lại câu chuyện một người mẹ trẻ
tuổi như sau: “Vào một buổi sáng nọ, cô sửa soạn bữa sáng cho gia đình của cô.
Nhà bếp tràn đầy những ánh sáng, những đứa con của cô đang cười đùa và nói năng
vui vẻ, và chồng cô đang đùa giỡn với đứa con út. Trong khi cô đang trét bơ
trên bánh mì và rót nước cam, ngay lúc đó, cô cảm thấy tràn trề niềm vui sướng
và yêu thương trong gia đình của cô. Rưng rưng nước mắt, cô đã cảm động đến nỗi
không thể nào nói được.”
Maslow gọi lúc đó là giây phút tột đỉnh. Nó là những giây phút
ngắn ngủi quí báu chúng ta nhìn thấy những biến cố thông thường cách siêu thường.
Nó là giây phút giống như là Thiên Chúa chiếu ánh sáng của Ngài vào những sự vật
chung quanh chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy mình đang nhìn thấy một thế
giới khác.
Ý tưởng về giây phút tột đỉnh giúp chúng ta thấu hiểu những gì
mà Phêrô, Giacôbê và Gioan đã cảm nghiệm mà bài Phúc Âm hôm nay tả lại. Họ đã cảm
nghiệm được những giây phút tột đỉnh.
16.
Thiên thần cũng có thể biến thành ác quỉ:
Một hôm, một họa sĩ người Ý khá nổi tiếng đang đi bách bộ để tìm
hứng sáng tác. Khi đến một khúc cua, ông chợt thấy một bé trai có khuôn mặt hồn
nhiên dễ mến. Tự nhiên ông muốn vẽ lại vẻ mặt thiên thần của em. Ông nói với cậu
bé rằng: “Này em, em có muốn tôi vẽ chân dung của em không?” Cậu bé gật đầu đồng
ý và theo họa sĩ về xưởng vẽ của ông. Mấy giờ sau, cậu ta rất ngạc nhiên và vui
mừng nhìn thấy khuôn mặt của em rạng rỡ trong bức tranh. Họa sĩ đặt tên cho bức
tranh này là: “Tuổi thơ trong trắng.” Ông treo nó nơi phòng khách, và mỗi khi gặp
điều gì bực mình, ông lại nhìn lên bức tranh kia và lập tức lấy lại bình an. Một
số người muốn mua bức tranh với giá cao, nhưng dù gặp khó khăn về tài chính mà
họa sĩ vẫn không bán.
Hai mươi năm sau. Một hôm họa sĩ cũng đang đi dạo để tìm hứng vẽ
tranh. Khi tới gần khu nhà ổ chuột, tình cờ ông nhìn thấy một gã ăn xin, áo quần
lôi thôi rách nát và có khuôn mặt chai lì gian ác, trông như một tên quỉ sứ.
Ông suy nghĩ: “Sao trên đời này lại có người mang bộ mặt gian ác xấu xa đến thế
nhỉ? Phải chi ta vẽ được gương mặt quỉ sứ này để so sánh với gương mặt thiên thần
trong bức “Tuổi thơ trong trắng” trong phòng khách nhà ta thì hay biết mấy!”
Bấy giờ gã ăn mày đã chìa tay xin bố thí. Họa sĩ yêu cầu gã làm
người mẫu cho ông vẽ và hứa sẽ cho gã một số tiền khá. Gã ăn xin lập tức đồng
ý. Khi bức tranh đã vẽ xong, gã nhận tiền và ra về. Nhưng khi đi ngang phòng
khách, gã trông thấy bức tranh “Tuổi thơ trong trắng” đang treo trên tường, gã
liền dừng lại nhìn một lúc, rồi hai dòng lệ từ từ lăn trên gò má. Sau đó gã chỉ
lên bức tranh và nói với họa sĩ rằng: “Thưa ông, đây chính là khuôn mặt của tôi
hồi còn bé mà tôi nhớ có lần đã ngồi làm mẫu cho ông vẽ. Hôm nay ông lại vẽ
khuôn mặt của tôi sau khi nó đã biến dạng!” Rồi gã thuật lại cuộc đời bất hạnh
của gã như sau:
“Tôi vốn là một đứa con trai, lại là con một, nên được cha mẹ rất
mực cưng chiều. Nhưng cũng vì thế mà tôi sinh ra hư hỏng. Khi cha mẹ tôi lần lượt
qua đời, tôi đã bán tất cả gia sản và lao mình vào các thú vui trác táng… Chỉ
sau một thời gian ngắn, tôi đã phung phí hết tiền bạc của cha mẹ và phải nhập bọn
với lũ bạn đi trộm cắp. Rồi tôi bị bắt và thụ án mười năm. Trong thời gian ở
tù, tôi đã trải qua rất nhiều gian khổ tủi nhục: Bị đánh đập, ứng hiếp và bị
bóc lột tàn nhẫn. Nhưng rồi tôi cũng quen dần với cuộc sống đó. Cuối cùng chính
tôi lại trở thành kẻ bóc lột hành hạ các tù nhân mới nhập trại và các bạn tù
khác nhỏ yếu hơn tôi. Bây giờ sau khi vừa mãn hạn tù, tôi đang trong tình trạng
không một đồng xu dính túi, lại còn mang thêm bệnh lao phổi sang thời kỳ thứ
ba. Tôi chẳng biết làm gì hơn là phải đi ăn xin như ông thấy đó.”
Trước tâm sự của một người đã phung phí trót cả tuổi thanh xuân
của mình, họa sĩ rất xúc động. Nhưng ông cũng chỉ biết khuyên bảo gã ăn xin hãy
cố ăn ở lương thiện. Ít lâu sau, ông được tin gã đã nằm chết cô đơn tại một góc
phố. Họa sĩ đã treo bức tranh “Ác quỉ” mà ông mới vẽ bên cạnh bức “Tuổi thơ
trong trắng.” Ông cũng thường giải thích cho bạn bè và những ai thắc mắc về hai
bức tranh như sau: “Hai khuôn mặt trong hai bức tranh này thực ra chỉ là một
con người. Và sự khác biệt giữa hai khuôn mặt thiên thần và ác quỉ chỉ cách
nhau 20 năm phóng đãng mà thôi!”
17.
Luôn có niềm hy vọng cho con người
Chí Phèo (truyện ngắn của Nam Cao) là đứa con hoang, được mô tả
là một người dị dạng, một tên lưu manh, nát rượu chuyên rạch mặt ăn vạ và sẵn
sàng sinh sự với mọi người. Chí Phèo là kẻ trên không sợ Trời, dưới không sợ
người. Người ta tránh Chí Phèo hơn tránh ôn dịch. Chí Phèo đem lòng yêu Thị Nở.
Thị Nở là một cô gái xuất thân từ một nhà có mả hủi, tuổi đời ngoài 30, dở hơi,
nghèo và rất xấu. Xấu ma chê quỷ hờn. Xấu đến nỗi người ta tránh thị như tránh
một con vật rất ghê tởm.
Ấy vậy mà cả hai con người ấy vẫn nhận ra bản chất tốt đẹp của
nhau. Thị Nở thấy Chí Phèo là một người hiền lành. Hiền như đất. Vẫn thường cho
Thị xin lửa và có lần con cho Thị xin rượu về bóp chân. Ngược lại, Chí Phèo
cũng thấy Thị Nở là một người có duyên. Thị Nở đã biết nấu cháo hành nóng cho
Chí Phèo ăn, giúp cho Chí Phèo tỉnh cơn say và làm sống lại nơi Chí Phèo ý thức
về sự lương thiện của bản thân mình.
Cuộc sống con người luôn phức tạp. Phức tạp đến nỗi khó lòng
đánh giá nhau từ bên ngoài. Thực tế, vẫn có những người thân phận chẳng ra gì
như Chí Phèo và Thị Nở, bị coi là cặn bã và thậm chí là quái thai của xã hội.
Thế nhưng, ngay cả nơi những con người ấy bản chất tốt đẹp mà Thiên Chúa đã
trao ban cho họ vẫn không hư đi, khả năng nhận ra những điều tốt đẹp nơi người
khác của họ cũng không mất đi. Vì thế, không gì có thể khiến chúng ta tuyệt vọng
về con người.
18.
Khuôn mặt tỏa sáng
Trong quyển “Những điều tốt đẹp dành cho Chúa” Malcolm
Muggeridge kể lại ấn tượng mà mẹ Têrêsa đã tạo ra nơi một cử tọa như sau: “Mọi
gương mặt đều chăm chú theo dõi, không phải vỉ lời nói… mà vì chính con người của
mẹ. Có một cái gì tốt đẹp bao phủ trên lời nói thu hút người nghe. Dường như có
một nguồn sáng chan hòa hội trường xuyên thấu mọi tâm trí và mọi con tim.”
Câu chuyện Chúa Giêsu biến hình trên núi và câu chuyện của mẹ
Têrêsa gợi nhớ những người đã gây ấn tượng sâu đậm trong đời tôi. Ai là người
trong số đó?
Thánh nhân là những người có thể làm cho người khác dễ tin vào
Chúa hơn. (Nathan Soderblum)
19.
Chứng kiến khổ hình và vinh quang
Có một liên hệ giữa biến cố xảy ra trên núi Thabor và biến cố
khác ở núi cây dầu. Trên núi Thabor, Phêrô, Giacôbê và Gioan thấy Chúa Giêsu biến
hình khi thần tính Ngài biểu lộ một cách đặc biệt. Trên núi cây dầu, cũng chính
ba môn đệ đó đã chứng kiến Chúa Giêsu hấp hối trong đó nhân tính Ngài được tỏ lộ
một cách đặc biệt. Hai biến cố này bổ túc cho nhau theo nghĩa chúng cho thấy
Chúa Giêsu toàn diện: Thiên Chúa thật và con người thật.
Tôi có khuynh hướng liên hệ với Chúa Giêsu trong đời sống cầu
nguyện về phương diện thần tính hay nhân tính nhiều hơn?
Xin hãy là ánh lửa soi sáng con, là ngôi sao dẫn lối con, là con
đường bằng phẳng dưới chân con. Và xin hãy là mục tử dẫn dắt con, hôm nay, đêm
nay, và mãi mãi. (Thánh Columba)
CNMC
2C - CHÚA GIÊSU HIỂN DUNG
Lời Chúa: Lc 9, 28b-36
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện.
Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và áo Người trở nên
trắng tinh sáng láng. Bỗng có hai vị đàm đạo với Người, đó là Môsê và Êlia, hiện
đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem.
Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang
của Chúa và hai vị đang đứng với Người. Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa
cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; chúng
con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia.” Khi nói thế,
Phêrô không rõ mình nói gì. Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các
Ngài và thấy các ngài biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng. Bấy giờ
từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe
lời Người.” Và khi tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu.
Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với ai những điều
mình đã chứng kiến.
TRUYỆN
KỂ
1.
Biến hình và đổi đời
Michel Ange và Raphael là hai kiến trúc sư thiên tài, còn là họa
sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất thế giới, đã được Đức Giáo Hoàng Juliô II
trao cho nhiệm vụ thiết kế xây cất và trang trí Đại Thánh đường Thánh Phêrô và
địện Vatican ở Rôma.
Suy về đề tài Chúa Biến Hình, Raphael đã thực hiện một bức họa
có 3 cấp: Cấp trên là Đức Giêsu đứng giữa cụm mây sáng láng, cấp giữa là Thánh
Phêrô, Gioan và Giacôbê, cấp cuối là nhóm các môn đệ và dân chúng vây quanh một
thiếu nhi bệnh họan đang nằm chờ chết bên cạnh có 2 môn đệ: một môn đệ đang chỉ
tay lên Đức Giêsu, môn đệ kia đang chỉ tay vào bệnh nhân” (ĐGM. Althur Tone). Bức
họa đã lột được hết ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay là chỉ có Đức Giêsu mới biến
đổi những kẻ bệnh hoạn nên lành thánh. Tin Mừng hôm nay đã giới thiệu Đức Giêsu
lên núi cầu nguyện, đang lúc Người cầu nguyện dung nhan Người bỗng biến đổi
sáng láng, chói lòa trong vinh quang. Người cầu nguyện để biến đổi ý mình trọn
vẹn theo Thánh ý Chúa Cha, Người cầu nguyện cho cuộc tử nạn của Người sẽ phải
hoàn tất tốt đẹp tại Giêrusalem và biến cuộc sống ta nên vinh hiển. Người cầu
nguyện cho ánh sáng tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần soi sáng
cho khắp nhân loại, từ Adam Eva đến Abraham, Maisen, Êlia, từ Phêrô, Gioan,
Giacôbê đến những người đang đứng chờ dưới chân núi được sống lại trong vinh
quang nước Chúa. Người cầu nguyện nhất là cho các môn đệ và chúng ta biến thành
đồng dạng với Con Chúa Cha và biết vâng lời Người: “Đây là Con Ta, Người đã được
Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người.”
Phải vâng lời Người để “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta,
nên giống thân thể vinh hiển của Người.”
2.
Một thoáng vinh quang
Trên núi Tabor, ánh vinh quang của Thiên Chúa đã tỏa chiếu từ
thân xác Chúa Giêsu, và Ngài được biến hình. Các môn đệ đã ngây ngất trước vẻ đẹp
và sự sáng ngời ấy. Đó không phải chỉ là vẻ bề ngoài, mà là vinh quang thật từ
bên trong thoáng tỏ lộ ra. Nói tắt một lời: Đó là chính Thiên Chúa ở trong Chúa
Giêsu.
Chúng ta cũng có vinh quang thần linh ở trong chúng ta, bởi vì
chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta cũng có những
thoáng biến hình. Van Gogh nói: "Một người tiều phu hay một người thợ mỏ
nghèo nhất cũng có thể có những thoáng cảm hứng khiến anh ta cảm thấy gần như
đang ở thiên đàng.”
Một người nghèo sống trong khu nhà dành cho những kẻ vô gia cư
đã kể câu chuyện sau đây. Một hôm ông đi dạo trên phố và tình cờ vào một ngôi
nhà thờ lúc nào không hay. Ông không nhớ là lúc đó ông có cầu nguyện không,
nhưng ông nhớ là cảm thấy tâm hồn mình chìm ngập trong ánh sáng. Mọi buồn chán
đều tan biến hết, chỉ có bình an. Ông cảm thấy mình rất gần Chúa và được Chúa
yêu thương. Cảm nghiệm này rất sâu đậm mặc dù chỉ thoáng qua trong phút chốc.
Ông nói rằng ông sẵn sàng đánh đổi cả đời để có được một thoáng cảm nghiệm ấy.
Khi ông rời nhà thờ, cảm nghiệm ấy tan loãng dần. Về sau, ông trở lại nhà thờ
nhiều lần để mong có lại cảm nghiệm tuyệt vời ấy, nhưng không được.
Điều sai lầm của người vô gia cư trên là muốn bám cứng vào một cảm
nghiệm thoáng qua. Nói cách khác, ông muốn đi lùi chứ không đi tới. Nói rõ hơn
nữa: lẽ ra ông phải biết dùng cái cảm nghiệm thoáng qua ấy để soi sáng cuộc đời
tăm tối của mình, và nhờ đó mà can đảm tiến bước trong hy vọng.
Phêrô cũng sai lầm như thế. Ông muốn ở lại mãi trên núi. Ông muốn
bám cứng vào cảm nghiệm vinh quang hạnh phúc. Ông không muốn xuống núi tiếp tục
cuộc sống thường ngày. Nhưng Chúa Giêsu đã giục ông xuống núi để đối diện với
tương lai. Ngài không muốn cảm nghiệm trên núi ấy trở thành chỗ cho Phêrô ẩn trốn
khỏi cuộc chiến đấu đang đợi chờ phía trước. Một thoáng ánh sáng Ngài ban cho
ông là để giúp ông trực diện với giờ tăm tối sắp đến.
Nghe lời Chúa, Phêrô đã xuống núi. Nhưng lạ thay, cảm nghiệm
thoáng qua hôm ấy vẫn còn sáng mãi trong lòng ông. Nhiều năm sau ông còn viết:
"Chúng ta đã được chứng kiến vinh quang của Ngài trên núi... Khi ấy có tiếng
phán từ trời rằng: Đây là Con yêu quý của Ta, Ta hài lòng về Ngài" (1 Pr
1,17-18).
3.
Ngắm trời nhưng đừng quên chuyện dưới đất
Truyện ngụ ngôn kể về một nhà thiên văn có thói quen mỗi buổi tối
lại nhìn lên các ngôi sao, nghiên cứu các vì tinh tú đang xoay vần, chuyển đổi
trong vũ trụ bao la.
Một lần kia, đang đi dạo mát quanh vùng, mải mê suy nghĩ những
chuyện trên trời, ông ta vô ý ngã xuống giếng cạn. Tiếng kêu cứu thất thanh,
khiến một người đi ngang qua đó nghe được. Ông vội vàng chạy đến miệng giếng,
liền đoán được việc gì đã xay ra, bèn nói với nhà thiên văn: "Này ông, ông
cứ muốn biết những việc xảy ra trên trời, còn những việc sờ sờ dưới đất sao ông
không thấy?"
4.
Biến đổi
Một người bán gỗ cho xưởng mộc. Anh thường thủ lợi bằng cách đo
gỗ thiếu. Ngày kia, có tin đồn đến xưởng là anh ta nhập đạo. Nghe thấy thế, mọi
người bán tín bán nghi rồi bàn thảo mỗi người mỗi ý. Có một người lặng lẽ ra
kho gỗ, một lúc sau trở vào dõng dạc tuyên bố:
- Đúng, anh ta nhập đạo thật.
- Sao anh biết?
- Tôi vừa xem lại số gỗ anh ta chở tới hôm qua. Tôi thấy là đúng
với qui cách ta đặt, không thiếu nữa.
Người nào tiếp nhận đức Kitô cũng phải thay đổi cuộc đời và sống
ngay chính.
5.
Văn hào André Froissard.
Văn hào André Froissard thuộc Hàn lâm viện Pháp đã được ơn “trở
lại” lạ thường. Ôâng đã thuật lại trong cuốn sách thời danh “Có Thiên Chúa và
tôi đã gặp Ngài.” Thân phụ ông, Tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp, đã từng tuyên bố:
”Nếu có Thiên Chúa, thì tôi khuyên “ông ấy” lo rút lui vì không ai thích ông.”
Nhưng chính con ông lại được gặp gỡ Chúa và khẳng định: ”Khi người ta may mắn
được gặp Thiên Chúa thì mọi sự khác chỉ là trò hề. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng
không làm cho tôi thất vọng kể từ một buổi sáng năm ấy, 1935” (Phỏng vấn của
Paris Match 8.4.1988)
6.
Con sâu thành con bướm.
Có một con sâu nhỏ bò mãi, cho đến thời điểm cuối của cuộc đời
thì tới thiên đàng. Nó gõ cửa, một giọng nói phát ra từ bên trong:
– Không có sâu bọ nào được phép vào đây. Ta thấy ngươi quá vội
vã đấy.
– Lạy Chúa, xin dạy cho con biết phải làm gì bây giờ?
– Chịu đựng hơn một chút nữa, chiến đấu một chút nữa, và hãy biến
thành bướm đi.
Thế là con sâu quay lại trần gian bắt đầu lại cuộc hành trình bò
lên thiên đàng. Nó bò nhanh hơn, cố gắng nhiều hơn. Mồ hôi vã ra như tắm. Mồ
hôi càng đổ ra, sức lực nó càng tiêu hao, nó càng cảm thấy nhẹ nhàng để bò
nhanh hơn. Gần tới cửa thiên đàng rồi nhưng nhìn lại nó vẫn là con sâu xấu xí,
khốn khổ. Nhưng nó vội xua nỗi buồn bằng sự cố gắng chính mình, nó rướn người
lên và cảm thấy tàn hơi, kiệt sức. Chính lúc nó cúi đầu tuyệt vọng lại là lúc
nó chợt cảm thấy thân hình nó nhẹ nhàng lạ thường. Nó đã hóa thành chú bướm
xinh xắn bay vào khung cửa thiên đàng đang rộng mở. Nó đã biến hình trọn vẹn.
Con sâu biểu tượng mỗi con người chúng ta trong cuộc lữ hành đức
tin đời mình. Chúng ta khao khát bò lên cao trên đường thánh đức với bao nỗi nhọc
nhằn, vất vả. Vì phải chiến đấu chống lại những chước cám dỗ nội tâm để đáp trả
tiếng nói của chân lý, hay phải đối diện với những cám dỗ thế gian đang phơi bầy
trước mắt, khiến chúng ta thường có tư tưởng buông xuôi.
Tội lỗi, yếu đuối và sự nhát đảm như chiếc vỏ bọc gồ ghề
vây hãm chúng ta. Đó là lớp vỏ chúng ta cần thoát ra để trở thành con người
hoàn hảo, tỏa sáng như Đức Kitô trên núi thánh nhờ vào thái độ quy phục thánh ý
Cha trên trời, “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời
Người.”
7.
Hãy tự giúp mình trước.
Người ta kể rằng: một bác tiều phu kia đi lấy được một xe bò củi
chất đầy. Nhưng khi đi tới một khúc đường sình lầy thì đôi bò dừng lại. Xe bò sụn
lún xuống bùn. Bác ta ngồi khóc than. Khóc một hồi, bác ta nhớ ra có một vị thần
và bắt đầu van xin. Vị thần hiện ra phán bảo: ”Thay vì ngồi khóc thì ngươi hãy
ghé vai vào xe thử đẩy đi và ta sẽ giúp.” Bác tiều phu làm theo lời vị thần, cố
gắng mọi cách, cuối cùng chiếc xe bò đã vượt qua khúc đường sình lầy.
Đó là ngụ ngôn dạy chúng ta phải cộng tác với một sức mạnh hơn để
làm việc, để giải quyết mọi việc. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta còn biết
nhờ vả vào những người khỏe mạnh hơn, thì tại sao chúng ta lại không cậy nhờ
Chúa, là Đấng toàn năng và hay cứu giúp. Ngài sẽ giúp chúng ta vượt thắng đau
khổ nếu chúng ta tin tưởng, cậy trông và kêu xin Ngài.
8.
Bốc cát cọ mình.
Người ta thuật lại rằng cả một khu đất kia chỉ có một gia quyến
người da đen ở. Gia quyến đó gồm có một bà vợ, một người chồng và một đứa con
trai 9 tuổi, Cậu bé đi học, nhưng giữa bọn trẻ da trắng, riêng mình đen thủi
đen thui, nên lắm phen bị chê cười, chế nhạo. Cậu luôn bị chọc ghẹo nên khó chịu,
giống như một tấm lòng non nớt bị một vết thương sâu. Sau cùng, cậu tự hỏi mình
có thể thay đổi nước da chăng, rồi nhất định làm theo ý nghĩ đó.
Bữa nọ, thầy giáo thấy cậu vắng mặt, bèn hỏi đám học sinh về cậu.
Một trò thưa rằng thấy cậu đi đàng sau trường, giữa khu rừng nhỏ có rạch chảy
qua. Thầy giáo ra công tìm kiếm và thấy cậu ở sát bờ rạch, đang dùng cát ướt kỳ
cọ hai cánh tay đen. Thỉnh thoảng cậu dừng tay, rửa cát dính vào da, rồi nhìn
xem màu da đen mất chưa. Chao ôi! Mầu đen quá sậm cậu mất công toi.
Vài phút sau thầy giáo gọi cậu:
– Này em làm gì vậy?
Cậu giật mình thưa:
– Con cố sức kỳ cọ hết màu da đen để nên người da trắng, song
không sao được. (Ms Lê văn Thái, Những tia sáng, tập 2, tr 94-95)
9.
Lời có sức biến đổi
Câu chuyện xẩy ra vào năm 300 trước Chúa Giáng sinh. Vào một
sáng kia lúc nhà hiền triết Bolena đang chơi giải trí với các sinh viên trước
hàn lâm viện thành Athène, thủ đô Hylạp, thì có một người đàn ông đến. Ông tự
giới thiệu mình là một thày tướng thời danh. Các sinh viên nghe thế nên mới đề
nghị ông xem cho thày mình là hiền triết Bolena một quẻ.
Ông thày tướng nhìn nhà hiền triết Bolena một lát, rồi nói:
“Giáo sư của các anh chỉ là một con người “Mũi dòm miệng”, tức là con người ưa
nhậu nhẹt, say xỉn. Nghe thế các sinh viên giận sôi ruột lên, định xông vào cho
ông thày tướng dám nói ẩu một trận. Thế nhưng nhà hiền triết Bolena đã kịp can
ngăn. Rồi sau đó ông chậm rãi giải thích cho các học trò của mình như thế này:
“Này các trò, ông thày tướng này rất giỏi, ông đã coi tướng thày rất trúng; khi
còn trẻ, chính thày là một thanh niên “mũi dòm miệng.” Một lần kia, sau khi đã
nhậu nhoẹt say sỉn, thày đã đến Hàn Lâm Viện này, để nhạo báng các sinh viên bằng
những cử chỉ và lời nói rất ư là thiếu lễ độ. Bấy giờ giáo sư của thầy là nhà
hiền triết Socrate bình tĩnh, bỏ ngay vấn đề đang nói, mà bàn ngay tới vấn đề đức
tính và tiết độ, làm cho con người có giá trị, đáng được trọng kính. Nhưng lời
giảng dạy trên đây, đã giáo dục thày, đã làm cho thày bỏ được tính mê nết xấu,
và luyện tập đức tính nên ngày nay, thày mới trở nên con người ích lợi cho xã hội
và đất nước như thế này.
10.
Chọn sống hay chọn chết
Ngày xưa, có một vị hiền triết sống trên đỉnh ngọn núi cao. Dân
làng dưới chân núi mỗi khi gặp khó khăn thường tìm đến vị hiền triết này để xin
lời khuyên.
Ngày nọ, một chàng trai được xem là khá thành đạt, đang băn
khoăn cho chặng đường sắp tới của mình. Chàng quyết định lên núi gặp vị hiền
triết.
- Điều gì có thể giúp con thành một người thực sự vĩ đại? Chàng
trai hỏi.
Vị hiền triết nhìn thẳng vào mắt anh và hỏi:
- Con có chắc là con muốn biết điều đó không?
- Vâng! Con thực sự rất muốn biết. - Chàng trai quả quyết trả lời
- Được! - vị hiền triết đáp. - Ngươi hãy tự tìm cho mình câu trả
lời qua câu chuyện ta kể sau đây: "Thuở xưa có một chàng thanh niên ở đất
nước Hy Lạp mắc bệnh hiểm nghèo. Biết mình không còn sống được bao lâu nữa, anh
xung phong gia nhập quân đội lúc đó đang bước vào trận chiến khốc liệt với kẻ
thù. Với hy vọng được hy sinh anh dũng trên chiến trường, anh đã chiến đấu hết
mình, không ngại phơi mình trước làn tên mũi đạn của kẻ thù và không mảy may lo
cho mạng sống của mình. Cuối cùng, khi kẻ thù bị đánh bại, anh vẫn còn sống! Vô
cùng cảm phục trước lòng dũng cảm, can trường của người lính nọ vì đã góp phần
không nhỏ tạo nên chiến thắng ấy, vị tướng quyết định thăng chức và trao tặng
cho anh huân chương danh dự cao quý nhất cho lòng dũng cảm.
Song, lạ thay đến ngày được trao huân chương, trông anh rất u buồn.
Ngạc nhiên, vị tướng hỏi lý do thì được biết anh đang phải gánh chịu một căn bệnh
nguy hiểm. Làm sao ông lại có thể để cho người lính dũng cảm của mình phải chết!
Vị tướng đã cho tìm vị lương y giỏi nhất nước về trị bệnh cho anh. Căn bệnh chết
người cuối cùng đã được chữa khỏi.
Nhưng từ đó trở đi người ta thấy người lính can-trường-một-thời
đã không còn xuất hiện nơi tuyến đầu vất vả hiểm nguy nữa! Anh luôn né tránh mọi
khó khăn và cố gắng bằng mọi cách để bảo vệ mạng sống của mình thay vì đương đầu
với thử thách.
Về sau có dịp gặp lại, vị tướng đã nói với người lính nọ một
câu: "Giờ đây anh mới thực là người đã chết hoàn toàn." (First news -
Theo Internet)
11.
Vâng lời trọng hơn của lễ
Có một nhà vua kia, một hôm cho triệu tập các cận thần lại. Vua
đưa cho quan Tể Tướng một viên ngọc trai lóng lánh và hỏi:
- Ông hãy nói viên ngọc này đáng giá bao nhiêu?
- Muôn tâu, nó đáng giá còn hơn số lượng vàng khối mà 100 con lừa
có thể chở.
- Ông hãy đẫp vỡ nó ra cho ta!
- Muôn tâu Bệ Hạ, làm sao hạ thần có thể đang tâm phung phí phá
đi một báu vật như thế ạ!
Nhà vua thưởng cho quan Tể Tướng một chiếc áo danh dự và lấy lại
viên ngọc.
Kế đó vua đưa viên ngọc cho quan Thị Vệ, và cũng hỏi:
- Theo ông, nó đáng giá bao nhiêu?
- Bằng nửa vương quốc.
- Hãy đập vỡ nó vỡ ra cho ta!
- Đập vỡ viên ngọc này ư? Muôn tâu Bệ Hạ, tay thần không thể nào
làm được việc đó.
Nhà vua cũng thưởng cho ông này một chiếc áo danh dự, lại còn
tăng lương cho ông.
Sau cùng nhà vua đưa viên ngọc cho Abdul một tên cận vệ tầm thường.
- Ngươi có biết viên ngọc này đẹp đến mức nào không?
- Muôn tâu, đẹp không thể nói được.
- Hãy đập nát nó ra cho ta.
Lập tức Abdul lấy hai viên đá đập vỡ viên ngọc ra và nghiền nó
thành bụi. Quần thần thét lên sợ hãi vì sự táo bạo của Abdul.
Họ hỏi:
- Tại sao nhà ngươi dám làm thế chứ?
Abdul bình tỉnh đáp:
- Lệnh của Hoàng Thượng đáng giá hơn bất kỳ viên ngọc quý nào.
Tôi tôn kính Hoàng Thượng chứ không tôn kính viên ngọc.
Nhà vua khen ngợi thái độ của Abdul và thưởng chàng trọng hậu
hơn cả hai vị quan kia.
12.
Thực lòng theo đạo
Tân là một thanh niên chuyên bán thịt bò tại một cửa hàng thịt
trong chợ AĐ. Anh nổi tiếng là người bán hàng gian dối khi thỉnh thoảng lại bán
thịt heo giả làm thịt bò và còn thường hay cân thiếu cho khách hàng.
Một ngày nọ, có người thấy anh theo học khóa giáo lý dự tòng để
chuẩn bị kết hôn với một cô gái công giáo và sáu tháng sau anh đã được lãnh ba
bí tích khai tâm gia nhập đạo. Nghe tin anh theo đạo, nhiều người quen biết tỏ
vẻ không tin vì cho rằng anh chỉ giả bộ theo đạo để lấy vợ như câu người đời
thường mỉa mai: “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi. Cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ!”
Nhưng sau nhiều ngày thấy anh cùng vợ thường xuyên dự lễ Chúa Nhật
và tỏ ra vui vẻ thân thiện với mọi người, nhất là sau khi kiểm tra thấy việc
buôn bán của anh không còn cảnh cân thiếu hay lừa đảo như trước thì họ mới tin
anh thực tâm tin theo Chúa.
13.
Được ơn chữa lành nhờ cây Thánh Giá:
Năm 1982, các nữ tu Dòng Con Đức Bà Phù Hộ ở Cáp bên Haiti, muốn
thuê nhà điêu khắc Pêrikhêt làm một cây Thánh Giá lớn để đặt trong nhà thờ mới.
Nhưng lúc đó, ông Pêrikhêt đã bị ung thư nặng. Bác sĩ trực nói với chị nữ tu tới
gặp:
"Lẽ ra chị phải đến đây sớm hơn. Rất tiếc là bây giờ căn bệnh
ung thư của ông Pêrikhêt đã quá nặng rồi."
Vài ngày sau, một nữ tu lại đến gặp ông và năn nỉ. Bác sĩ nói với
nhà điêu khắc:
"Ông Pêrikhêt à, các nữ tu ở nhà thờ mới tại Cáp mong muốn
ông làm cho các chị ấy một cây thánh giá thật đẹp, dài 2m.”
Nhà điêu khắc trầm ngâm suy nghĩ và cầu nguyện, rồi ông bình thản
nói với chị nữ tu:
"Tôi xin nhận lời. Cây thánh giá này sẽ là tác phẩm cuối
cùng, tôi sẽ làm cây thánh giá nầy để chuẩn bị chết, và xin Chúa thương xót
tôi.”
Thế là nhà điêu khắc bắt tay vào công việc với tất cả tâm hồn của
một người mong gặp được Chúa Giêsu. Đây thật là một công việc nặng nhọc vì bệnh
tình của ông. Nhưng ông cảm thấy một điều thật lạ lùng là mỗi nhát búa đập trên
thanh sắt nóng đỏ, thay vì làm cho ông mệt mỏi, thì ông lại cảm thấy như được
tăng sinh lực. Ông tiếp tục làm việc ngày qua ngày, và khi ông hoàn thành thì
đó là cây thánh giá rất đẹp và ông cảm thấy như khoẻ hẳn. Chúa Giêsu đã giải
thoát ông khỏi căn bệnh quái ác.
Ngày nay, cây Thánh Giá này vẫn còn được treo ở nhà thờ thành phố
Cáp Haiti và thu hút nhiều tín hữu tới kính viếng.
Chúng ta xác tín rằng một khi ta biết thông phần vào sự Thương
khó của Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ được thông phần vào vinh quang Phục sinh của
Chúa. Amen.
14.
Tạo vật mới của Chúa
Trong một nhà giam các tù nhân trọng án, có một tù nhân
khét tiếng hung ác tên là SITA ĐÊLI (Starr Daily). Anh ta vào tù ra khám
nhiều lần vì tội say sỉn đánh lộn làm mất an ninh trật tự xã hội.
Trong lần tuyên án thứ năm, quan tòa đã tuyên bố: “Chúng tôi biết rằng
có bắt anh ở tù thêm cũng chẳng có kết quả. Phải nói thật là:
chúng tôi hoàn toàn thất vọng về anh! Nhưng chúng tôi không thể không
tuyên án cho anh. Lần này anh bị phạt tù giam 10 năm.”
Sau khi vào nhà tù, Đêli vẫn tỏ thái độ ngoan cố và còn coi
thường kỷ luật nhà tù hơn trước. Anh thường hay đánh đập các bạn tù
và phản đối lại cai tù, đến nỗi anh bị biệt giam trong một căn hầm
tối dơ bẩn đầy gián hôi và lũ chuột cống… Một hôm, khi đang nằm ngủ
trên nền gạch lạnh giá, đột nhiên Đêli nghe có tiếng nói như sau: “Hỡi
Đêli, tại sao mi lại bị nhốt riêng trong căn hầm khủng khiếp này? Tại
sao mọi người đều thù ghét mi? Tại sao mi không dùng sức khỏe để phục
vụ mà cứ tiếp tục làm điều ác chống lại kẻ khác như thế? ”… Tư tưởng
này đã đánh động tâm hồn khiến Đêli nhiều phen suy nghĩ. Rồi một đêm
kia Đêli đã gặp được Đức Giêsu trong giấc mơ, Đấng mà anh đã xua đuổi
ra khỏi cuộc đời anh từ khi mười hai tuổi. Cũng từ đây, hình ảnh của
Đức Giêsu thường xuyên xuất hiện trong tâm trí anh. Anh mơ thấy Người
đến bên âu yếm nhìn và nói với anh những lời mà anh đã từng thuộc
lòng khi còn bé: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng”, “Hãy yêu
thương kẻ khác như yêu chính mình ngươi”… Anh cảm thấy tâm hồn được
bình an mà từ trước đến nay chưa khi nào được hưởng. Rồi khuôn mặt
của những kẻ đã từng bị anh hãm hại lần lượt xuất hiện trong tâm
trí khiến anh rất hối hận. Lần đầu tiên, anh đã mở miệng cầu nguyện:
“Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13).
Cảm nghiệm ấy đã biến Đêli từ một người hung ác gian
tham và thù hận, trở thành một người đầy độ lượng nhân ái! Sự biến
đổi nội tâm khiến Đêli không còn la hét đập phá như trước, Các nhân
viên cai ngục đã nhận ra có sự thay đổi rõ rệt xảy ra nơi anh, họ cho
phép anh được trở lại trại giam thường phạm. Tại đây anh bắt đầu đối
xử tốt với các bạn tù: Anh luôn bênh vực những người mới đến, nên
dần dần anh được mọi người trong trại quý mến. Rồi anh được giảm án
tù từ mười xuống còn 5 năm. Mãn hạn tù, anh gia nhập vào “Nhóm cải
thiện chế độ lao tù.” Cùng với cha tuyên úy và các bạn, Đêli đi thăm
và động viên các tù nhân còn bị giam và khuyên họ hãy học tập cải tạo
tốt. Nhờ đó nhiều bạn tù đã sớm được về đoàn tụ với gia đình. Linh
mục Pitơ Mácsôn (Peter Marshall) đã bình luận về sự hóan cải của Đêli
như sau: “Đây là một bằng chứng sống động cho thấy: Sita Đêli không chỉ
là một người cũ được tân trang lại, nhưng chính là một tạo vật hoàn
toàn mới của Thiên Chúa!”
15.
Khu ổ chuột ở Ấn Độ
Một đêm nọ, ký giả Trey Ketler đi bách bộ xuyên qua một khu ổ
chuột tại thành phố Calcutta, Ấn Độ. Thình lình ông nghe một âm thanh kỳ lạ.
Ông quay lại và thấy một cậu bé ăn xin tàn tật đang lết về phía ông. Người ký
giả lấy tiền lẻ trong túi và trao cho cậu bé. Không đầy một phút sau, ông lại
nghe một cuộc chửi rủa inh ỏi. Ông quay lại, thấy cậu bé ăn xin tàn tật bị đám
ăn xin tàn tật khác trấn lột!
Ngày nọ, một người nữ khác cũng đến khu ổ chuột đó. Bà thấy cảnh
quá nghèo khổ của khu này, bà dốc hết những gì bà có biến đổi khu này. Đầu
tiên, bà chỉ cất được một phòng học cho trẻ. Tấm bảng là nền nhà, bàn ghếcũng
là nền nhà. Ít năm sau tức là năm 1997, khi bà qua đời, khu ổ chuột đã có 100
trường học trang bị đầy đủ: 750 phòng phát thuốc miễn phí, 150 nhà dành cho những
kẻ bị bỏ rơi, và trên 40 ngàn thiện nguyện từ khắp nơi đến trợ giúp. Người nữ
đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.
Phải chăng đó là một cuộc biến hình Chúa dùng con cái Người thực
hiện.
Mùa Chay Chúa muốn chúng ta thực hiện nhiều cuộc biến hình như
thế.
16.
Nhận lỗi để biến đổi
Liszt là một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng khắp nước Hungary vào
cuối thế kỷ 19. Nhưng càng nổi danh ông càng bị người ta mạo danh.
Một hôm tại một thành phố bên Đức, một thiếu nữ quảng cáo buổi độc
tấu dương cầm và cô ta là học trò của nhạc sĩ Liszt. Nhưng một ngày trước khi
biểu diễn, cô hoảng hốt hay tin nhạc sĩ đại tài đó đến thành phố. Như thế sự mạo
danh của cô sẽ bị khám phá và tương lai cô sẽ tiêu tan. Nhưng thay vì bỏ cuộc,
cô đã can đảm đến gặp nhạc sĩ và thú nhận việc mạo danh của cô. Nhạc sĩ ôn tồn
lắng nghe cô và dịu dàng nói:
- Cháu đã phạm một lỗi lầm. Nhưng trong đời không ai tránh được
lầm lỗi. Cháu đã biết lỗi và hối hận. Điều đó tốt lắm rồi. Bây giờ cháu hãy biểu
diễn thử cho bác nghe.
Cô liền ngồi lên dương cầm, biểu diễn cho ông ta nghe. Nghe
xong, ông ta sửa lại những sai sót rồi nói:
- Dù bác dạy cho cháu rất ít, nhưng cháu cũng là học trò của
bác. Ngày mai cháu cứ đi trình diễn và loan báo: Bác sẽ trình tấu bản cuối cùng.
Cách cư xử của nhạc sĩ Liszt trên đây nhắc chúng ta cách đối xử
của Chúa đối với chúng ta. Những vấp váp lỗi lầm của chúng ta luôn được Chúa
tha thứ sửa đổi lại cho tốt đẹp. Tất cả những thất bại khổ đau và ngay cả những
vấp ngã của chúng ta cũng được Người biến đổi thành những cơ may để mời gọi
chúng ta tiến bước theo Người, cùng vác thánh giá theo Người để được cùng Người
sống lại vinh quang.
Mùa Chay chính là thời gian đặc biệt để chúng ta thực hiện điều
đó.
17.
Ý thức mình là con Thiên Chúa để vươn lên
Một người thợ săn bắt gặp một ổ trứng phượng hoàng trong khu rừng
nguyên sinh. Anh đem ổ trứng ấy về nhà, trộn chung vào ổ trứng của gà mẹ đang ấp.
Mấy tuần sau, một chú phượng hoàng con xinh đẹp chào đời và được gà mẹ dẫn đi
ăn chung với đàn gà con bé nhỏ.
Phượng hoàng con lớn lên bên cạnh những con gà khác, luôn nghĩ rằng
mình cũng thuộc nòi giống gà như những con gà cùng lứa, cùng cào bới đống rác,
đống phân… để kiếm ăn như những con gà kia.
Thế rồi, vào ngày định mệnh ấy, một con phượng hoàng oai phong từ
trên cao thình lình đáp xuống khiến cả đàn gà hoảng hốt chạy tán loạn. Phượng
hoàng tiến đến gần chú phượng hoàng con, chỉ cho nó biết nó không phải là chú
gà tầm thường, nhưng thuộc giống nòi phượng hoàng oai phong lẫm liệt.
Thế là từ hôm đó, phượng hoàng con ngẩng cao đầu, vươn cao cổ, bắt
đầu xoè cánh tập bay và chẳng bao lâu, nó xoải rộng đôi cánh, phóng mình vút
lên, bay lượn giữa khung trời cao xanh lộng gió, trông thật oai hùng.
18.
Ai nô lệ, ai tự do?
Épictète là một triết gia-nô lệ tại xứ Syracuse. Vua của
Syracuse rất độc tài, nhưng khi đọc sách của Épictète, nhà vua thấy hay quá nên
mới ra quyết định giải thoát cho Épictète, không bắt ông làm nô lệ nữa. Thế mà
Épictète lại bảo nhà vua:
- Vua hãy tự giải thoát chính mình đi.
- Nhưng ta là vua mà?, ông vua độc tài ngạc nhiên.
- Một nhà độc tài là kẻ phải làm nô lệ cho các dục vọng của
mình, còn một người nô lệ làm chủ được các dục vọng của mình mới là một người tự
do. Hỡi Đức Vua, hãy tự giải thoát chính mình đi.
Câu trả lời thâm thúy của Épictète cho thấy không dễ mà phân biệt
giữa nô lệ và tự do. Có khi ta tưởng mình được tự do, được làm theo ý riêng mà
đâu ngờ rằng mình lại đang tự buộc mình vào con đường dẫn đến cái chết của tâm
hồn; ngược lại, có những người bước vào con đường thoạt trông là đau khổ mà lại
tìm được sự tự do và hạnh phúc thật.
Khi loan báo Tin Mừng, kêu gọi mọi người theo mình với lời hứa về
sự sống đời đời và hạnh phúc thật, Chúa lại luôn đòi hỏi cái điều kiện hết sức
khó nghe đó, là ai muốn theo Chúa phải từ bỏ chính mình, vác thập giá - hình phạt
dành cho dân nô lệ - mà theo. Tại sao vậy?
19.
Ánh sáng Nước Trời
Trong quyển “Những điều tốt đẹp dành cho Chúa” Malcolm
Muggeridge kể lại ấn tượng mà mẹ Têrêsa đã tạo ra nơi một cử tọa như sau: “Mọi
gương mặt đều chăm chú theo dõi, không phải vỉ lời nói… mà vì chính con người của
mẹ. Có một cái gì tốt đẹp bao phủ trên lời nói thu hút người nghe. Dường như có
một nguồn sáng chan hòa hội trường xuyên thấu mọi tâm trí và mọi con tim.”
Câu chuyện Chúa Giêsu biến hình trên núi và câu chuyện của mẹ
Têrêsa gợi nhớ những người đã gây ấn tượng sâu đậm trong đời tôi. Ai là người
trong số đó?
Thánh nhân là những người có thể làm cho người khác dễ tin vào
Chúa hơn. (Nathan Soderblum)
20.
Thiên Chúa làm người để nâng con người lên
Có một liên hệ giữa biến cố xảy ra trên núi Thabor và biến cố
khác ở núi cây dầu. Trên núi Thabor, Phêrô, Giacôbê và Gioan thấy Chúa Giêsu biến
hình khi thần tính Ngài biểu lộ một cách đặc biệt. Trên núi cây dầu, cũng chính
ba môn đệ đó đã chứng kiến Chúa Giêsu hấp hối trong đó nhân tính Ngài được tỏ lộ
một cách đặc biệt. Hai biến cố này bổ túc cho nhau theo nghĩa chúng cho thấy
Chúa Giêsu toàn diện: Thiên Chúa thật và con người thật.
Tôi có khuynh hướng liên hệ với Chúa Giêsu trong đời sống cầu
nguyện về phương diện thần tính hay nhân tính nhiều hơn?
Xin hãy là ánh lửa soi sáng con, là ngôi sao dẫn lối con, là con
đường bằng phẳng dưới chân con. Và xin hãy là mục tử dẫn dắt con, hôm nay, đêm
nay, và mãi mãi. (Thánh Columba)
21.
Giây phút ân sủng
Các tác giả thiêng liêng đôi khi đề cập đến “giây phút ân sủng”,
trong đó biên giới giữa trời và đất xem ra biến mất trong một giây phút ngắn ngủi.
Đó là giây phút sự hiện diện của Thiên Chúa thực sự chạm đến cuộc đời ta. Đó là
giây phút chúng ta được chúc phúc vì nhìn thấy sự bất diệt và vinh quang của
Thiên Chúa. Đó là giây phút Phêrô, Giacôbê, và Gioan có được, như được đề cập đến
trong bài đọc hôm nay. Giây phút đó không bao giờ diễn ra sau đó y như vậy nữa.
Tôi có nhớ “giây phút ân sủng” hay một cái gì tương tự diễn ra
trong đời tôi không? Do đâu tôi có được giây phút đó? Do tình yêu hay do lời cầu
nguyện?
Thiên Chúa vẫn đứng trong bóng tối, âm thầm quan sát ta (James
Russell Lowell)
THỨ
HAI – HÃY SỐNG NHÂN TỪ
Lời Chúa: Lc 6, 36-38
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy ở
nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán thì các con khỏi bị xét
đoán; đừng kết án thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được
tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn,
đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con.
Vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng được đong trả lại bằng đấu
ấy!”
TRUYỆN
KỂ
1.
Hãy sống nhân từ.
Mahatma Ganhdi, một nhà ái quốc Ấn Độ, lúc còn trẻ, ông sang Anh
quốc học nghề luật sư và nhờ đó có dịp tiếp xúc với Kitô giáo. Ông đọc Phúc âm
thường xuyên và rất say mê Chúa Kitô, đặc biệt ông thán phục bản Hiến chương
Tám Mối Phúc Thật và lấy đó làm nguồn cảm hứng cho đường lối bất bạo động của
ông trong việc dành lại độc lập cho dân tộc mình.
Tuy nhiên, có lần ông đã tâm sự với một người thân cận rằng: dù
thán phục giáo lý của Chúa Kitô, nhưng ông không thể trở thành Kitô hữu, vì ông
thấy nhiều Kitô hữu không sống Tám Mối Phúc Thật của Chúa. Ông nói: “Tôi yêu mến
Chúa Kitô, nhưng tôi ghét người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô. Nếu họ
giống Chúa Kitô thì dân Ấn Độ chúng tôi đã trở lại thành Kitô hữu cả rồi.”
Nhận xét của Mahatma Ganhdi trên đây phải cảnh tỉnh chúng ta về
ơn gọi và trách nhiệm của chúng ta
2.
Cha anh em là Đấng nhân từ
Xénophon, nhà triết lý Hy Lạp sống vào giữa thế kỷ thứ V trước
Công nguyên đã kể câu chuyện ngụ ngôn về xét đoán:
“Thượng Đế đặt trên vai con người hai cái bị (túi): Một cái đằng
trước và một cái đằng sau. Cái bị đằng sau chứa đựng tất cả cái xấu của chính
con người mình, còn cái bị đằng trước thì đầy rẫy những cái xấu của người khác.
Do đó, con người khó mà thấy được những thiếu sót của mình, nhưng lại dễ dàng
nhìn thấy những khuyết điểm của người khác.”
3.
Hãy biết cho đi.
Một người nọ thật giầu, muốn gì cũng có. Tuy vậy ông không thấy
hạnh phúc vì ông chỉ nhận được những cái nhìn soi bói, coi thường và khinh miệt
của người khác. Ông tìm đến hỏi một người nổi tiếng khôn ngoan:
- Tại sao người ta lại coi thường và khinh miệt tôi là kẻ keo kiệt
bủn xỉn? Người ta đâu biết rằng sau khi chết, tôi sẽ hiến tất cả gia tài của
tôi cho người nghèo và cho công việc từ thiện?
Để trả lời, nhà khôn ngoan kể cho ông một câu truyện nhỏ sau
đây: Một chú heo than thở cùng chị bò cái:
- Tôi cũng như chị, chúng ta cống hiến thịt mình cho loài người.
Thế mà tại sao họ thân thiện với chị mà xa lánh tôi?
Ngẫm nghĩ giây lát, chị bò trả lời:
- Thịt chúng ta chỉ công hiến cho loài người khi chúng ta chết.
Còn bây giờ họ quí mến tôi hơn có lẽ tại tôi hiến cho họ sữa lúc tôi còn sống đấy
chăng?
4.
Tình yêu phải ở thì hiện tại
Một người nọ thật giàu muốn gì cũng có. Tuy vậy ông không thấy hạnh
phúc vì ông chỉ nhận được những cái nhìn soi bói, coi thường và khinh miệt của
người khác. Ông tìm đến hỏi một người nổi tiếng khôn ngoan: “Tại sao người ta lại
coi thường và khinh miệt tôi cho tôi là kẻ keo kiệt bủn xỉn? Người ta đâu biết
rằng sau khi chết, tôi sẽ hiến tất cả gia tài của tôi cho người nghèo và cho
công việc từ thiện.”
Để trả lời, nhà khôn ngoan kể cho ông một câu chuyện nhỏ như
sau: một chú heo than thở cùng chị bò cái: “Tôi cũng như chị, chúng ta cống hiến
thịt mình cho loài người. Thế mà tại sao họ thân thiện với chị mà xa lánh tôi?”
Ngẫm nghĩ giây lát, chị bò cái trả lời: “Thịt chúng ta chỉ cống
hiến cho loài người khi chúng ta chết. Còn bây giờ họ quý mến tôi hơn có lẽ tại
tôi hiến cho họ sữa lúc tôi còn sống đấy chăng.”
5.
Cho thì có phúc (hài hước)
Thầy giáo: “Tâm, bây giờ thầy nói cho em ghi nhớ phương châm
này: Cho có phúc hơn nhận.”
- Em đã biết điều đó, vì là phương châm trong nghề của Ba em.
- Ồ, thật tuyệt vời! Ông ấy làm nghề gì?
- Võ sĩ.
6.
Cái nhìn hẹp hòi
Đang đi dạo, tôi ngạc nhiên nhìn thấy một người ngồi trên ghế mà
cuốc vườn. Tôi nghĩ: “Quá lười biếng!” Nhưng đột nhiên tôi thấy đôi nạng dựa ở
ghế của anh. Thì ra anh vẫn làm việc dù bị tật nguyền.
Bài học tôi học được về sự phán đoán nông nổi vẫn khắc ghi trong
tôi cho đến hôm nay: thánh giá của người khác đôi khi là do cái nhìn hạn hẹp của
ta.
7.
Biết cho đi.
Mẹ Têrêsa kể: “Có người hỏi một người đàn ông Hindu: “Kitô hữu
là gì?” Ông trả lời: “Kitô hữu là người biết cho đi.”
Hãy mở lòng, để Thiên Chúa làm thấm nhuần tấm lòng bạn bằng tình
yêu thương. Chúa yêu thương bạn với tình yêu dịu hiền. Những gì Chúa ban tặng
không phải để bạn giữ lấy và khoá kỹ, nhưng để bạn cho đi.
Bạn càng dành dụm, bạn càng ít khả năng trao tặng, bạn càng có
ít, càng biết rõ bạn phải cho đi bao nhiêu. Nếu có xin gì, chúng ta hãy xin
Ngài giúp chúng ta sống quảng đại.
8.
Hơn giải Nobel
Mẹ Teresa kể chuyện: Tại Ấn Độ, nếu ai cho người nghèo một ít gạo,
họ sẽ vui vẻ mãn nguyện khi nhận quà. Tại Âu Châu, người nghèo không nhận mình
nghèo, nên với nhiều người, thái độ này đã làm nảy sinh nỗi thất vọng.
Chiều muộn (khoảng 10 giờ đêm), nghe chuông reo, tôi ra mở cửa
và gặp một người đàn ông đang run rẩy vì lạnh.
“Thưa mẹ Têrêsa, con nghe mẹ vừa nhận một giải thưởng lớn. Khi
hay tin này, con quyết định cũng tặng Mẹ món quà gì đó. Đây mẹ nhận đi. Đó là
những gì con quyên được hôm nay.”
Chỉ là một chút thôi, nhưng trong hoàn cảnh của anh, đó là tất cả.
Tôi cảm động trước “giải thưởng” của anh hơn là lúc nhận giải
Nobel.
9.
Món quà giá trị
Có ngày, một đôi vợ chồng trẻ đến nhà chúng tôi và xin gặp tôi.
Họ tặng tôi một món tiền lớn, tôi hỏi: “Các bạn kiếm được số tiền
lớn này ở đâu?” Họ trả lời: “Chúng con mới cưới nhau hai ngày. Trước khi cưới,
chúng con đã quyết định không tổ chức đám cưới, không sắm áo cưới, không làm tiệc
cưới, chẳng đi trăng mật. Chúng con muốn tặng mẹ số tiền chúng con dành dụm được.”
Tôi hiểu hết ý nghĩa của quyết định đó, nhất là đối với một gia
đình Hindu. Do đó tôi hỏi: “Các bạn nghĩ thế nào về chuyện đó?”
“Chúng con yêu nhau nhiều, nên chúng con muốn chung chia
niềm vui về tình yêu của chúng con với những người mẹ đang phục vụ.
10.
Biết tha thứ là dấu hiệu của lòng sám hối
Liền sau thế chiến thứ II chấm dứt, bà Koritainbun một con người
còn mang đầy những vết sẹo trên thân thể. Đó là những tàn tích của những khổ
hình mà bà phải chịu trong trại tập trung của Đức quốc xã. Bà đã đi khắp Âu
Châu rao giảng về sự tha thứ cho những kẻ đã làm hại mình.
Thế nhưng, vào một Chúa Nhật nọ, sau khi kêu gọi mọi người tha
thứ cho nhau trong nhà thờ của thành phố Munich, bước ra ngoài, bất ngờ bà phải
đối diện với một gương mặt rất quen thuộc, đó là dung mạo của người lính đã
hành hạ làm khổ bà cũng như hàng ngàn nữ tù nhân khác trong trại tập trung. Từ
thâm tâm, bà cảm thấy những tiếng than khóc, những cảnh tra tấn, và những tiếng
kêu thét đòi trả thù nổi lên mạnh mẽ.
Ngay lúc đó, người đàn ông này tiến lại khiêm tốn đưa tay ra, vừa
muốn bắt tay bà vừa muốn nói:
- Thưa bà, tôi rất cảm ơn những lời tốt đẹp của bà kêu gọi sự
tha thứ, xin bà tha thứ cho tôi.
Bà Koritainbun như chết điếng người, vì trước đây bà đã cầu nguyện
và nhất quyết tha thứ thật sự, nhưng giờ đây đối diện với con người cụ thể đã từng
tra tấn mình, bà đứng lặng im, tay không tài nào đưa ra để bắt tay người đến
xin bà tha thứ.
Sau này vào năm 1971, khi kể lại biến cố trong tập sách “Nơi ẩn
trốn”, bà đã cho biết: Trong những giây phút thinh lặng đó, tôi đã cố gắng dâng
lên Chúa lời cầu nguyện “Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ cho con người
đã làm khổ con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa để có thể tha
thứ như Chúa.”
Và chính trong lúc đó, bà đã hiểu rằng, con người chỉ có thể tha
thứ cho nhau khi họ được nhận tình thương yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa.
11.
Tưởng mình hay
Trước tượng Chúa chịu đóng đinh thày Cébastien quỳ cầu nguyện:
“Lạy Chúa, chớ gì con được phúc lên thế chỗ của Ngài trên thập giá, để con được
chia sẻ cực hình Chúa phải chịu!”
Chúa nói với thày: Được, nhưng Cha chỉ đòi con một điều là con
phải im lặng, dù nhìn thấy những điều chướng tai gai mắt!
Thày thưa: Dạ được, con hứa sẽ không nói gì, điều ấy quá dễ đối
với con.
Thế là Chúa biến khỏi thập giá, nhường chỗ cho thày Cébastien.
Trên thập giá thày nhìn xuống thấy một anh thanh niên chạy vào
Nhà Thờ cầu nguyện, khi anh ra về có để lại một gói gì lớn, thấy thế thày định
gọi anh ta lại vì nghĩ anh để quên, nhưng chợt nhớ đã hứa với Chúa, nên thày
đành im lặng!
Một lát sau có một phụ nữ vào Nhà Thờ vừa khóc vừa cầu nguyện, bỗng
bà quay sang nhìn thấy một gói ở bên, bà mừng rỡ cầm giấu vào áo rồi vội ra về!
Thày Sê-bát-ti thấy vậy cũng định gọi bà ta lại, vì nghĩ nó không phải của bà,
mà là của anh chàng kia! Nhưng thày đành im lặng, vì đã hứa với Chúa!
Lát sau, lại có một cô gái vào Nhà Thờ cầu nguyện, rồi ra về, cô
vừa đến cửa Nhà Thờ thì bị công an ập đến bắt vì cho rằng cô đã giật túi tiền của
một người đàn bà. Thày Cébastien nhìn thấy thế chịu không được, vì nghĩ cô này
chắc chắn bị oan, bèn lên tiếng nói:
- Tôi xin làm chứng chị này không phải là người xấu, chị không
phải là người đã lấy túi đồ của người đàn bà kia!
Thế là cô gái ấy được trả tự do! Chúa Giêsu liền xuất hiện đuổi
thày xuống khỏi thập giá, vì đã không giữ đúng lời đã hứa. Thày liền khiếu nại:
- Lạy Chúa, con thấy sự thật trước mắt, đành phải lên tiếng bênh
vực.
Chúa liền bảo:
- Con chỉ nhìn bề ngoài, còn Ta mới nhìn thấu tâm hồn của họ:
* Anh chàng thứ nhất, đúng là kẻ ăn cắp, khi hắn giật gói tiền của
bà nọ, bà la toáng lên. Hắn hoảng sợ chạy vào Nhà Thờ giả vờ cầu nguyện, để
tránh sự truy đuổi của công an, hắn để túi tiền lại, hy vọng sẽ quay lại lấy!
* Còn người thứ hai, người đàn bà vào Nhà Thờ vừa khóc vừa cầu
nguyện và bà vui mừng khi nhìn thấy gói tiền, đó chính là người đã bị tên cướp
giật trước đó!
* Cô gái là nhân vật thứ ba vừa được thả ra, vì cô đang có ý định
đi vượt biên, cô vào Nhà Thờ cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, nếu chuyến đi không
tốt thì xin Chúa cho một ngăn trở, nên cô bị công an bắt sau đó! Nếu con không
lên tiếng can thiệp, thì cô gái ấy đã bị công ăn bắt tạm giam để điều tra, nên
cô đã không thể có mặt trong chuyến vượt biển đầy nguy hiểm! Nhưng vì lời chứng
của con mà cô gái ấy đã đi… và đã bị đắm tàu chết đuối!?
Vậy con không thể lên thế chỗ của Ta trên thập giá được, hãy nhớ
rằng: “Nghe thì lanh lẹ, nhưng đừng vội nói và khoan giận!” (Gc 1,19). Bởi thế
hãy cầu nguyện: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,biết cả khi con đứng
con ngồi, con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi Chúa đều
xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả, miệng lưỡi con chưa thốt nên
lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết!” (Tv 139/138,1-4).
12.
Chớ xét đoán
Có một Linh mục mới chịu chức đã được làm cha Sở, bà cố chỉ sợ
cô nào đến rủ rê, nên bà đích thân đến ở với cha con, phục vụ như người giúp việc:
dọn nhà, nấu cơm, giặt quần áo…, không để “con xẽo” nào động vào. Buổi sáng nọ,
cha con bất thường phải đi làm Lễ sớm, bà vội thức dậy chạy xuống bếp pha cho
con ly sữa. Vì vội, nên bà đi chân đất. Bà đang pha sữa, thì một cậu giúp lễ chạy
xuống nói:
- Thưa cố, con thấy có đôi dép cô nào trước cửa phòng cha.
Bà cố hối hả chạy lên, xông xáo mọi nơi trong phòng tìm cho ra
“con nào” lúc bà vắng dám lẻn vào đây? Tìm mãi không thấy, bà gọi cha con lại hỏi
- Mẹ vừa xuống bếp con nào lẻn vào đây, dép nó đây, còn nó đâu?
Cha con ôn tồn nói:
- Thưa má, má nhìn xuống chân má xem, có phải là dép của má để
quên hay không!?
Bà cố tẽn tò…..
Bởi thế, chúng ta phải thực hành lời thánh Phaolô dạy: Anh em đừng
mắc nợ nhau điều gì trừ ra tình yêu mến (Rm 13,8).
Thực vậy, khi ta biết sống yêu, thì tình yêu vọng lại ta, trái lại,
ta ghét người thì tai họa sẽ ập đến. Bạn cứ thử vào giữa những rặng núi cao mà
hô lên: Tôi yêu, tất yếu sẽ nghe vọng lại: yêu… yêu…. yêu …! Nếu bạn thét lên:
Tao ghét, thì chắc chắn bạn lại nghe tiếng vọng: ghét…ghét…ghét…!
13.
Lòng nhân hậu qua đời sống
Chiều ngày 16-3-2025, một phụ nữ có chuyện buồn gia đình lái ô
tô Mercedes đến ngã tư Thủ Đức và trong tình trạng có nồng độ cồn đã chạy vào
làn đường dành cho xe máy, rồi mất kiểm soát tay lái và chân ga, gây tai nạn
cho 10 xe máy đang dừng chờ đèn đỏ.
Vụ tai nạn làm 5 người bị thương, nhiều phương tiện hư hỏng nằm
la liệt trên đường. Đến sáng ngày 17/3, nạn nhân Hoàng Thị Trang Thảo (28 tuổi,
quê Đồng Nai) đã không qua khỏi.
Trước sự ra đi đột ngột của nạn nhân, không chỉ gia đình và người
thân bàng hoàng mà nhiều bạn bè thân thiết lẫn cộng đồng mạng đều thương tiếc
cô gái trẻ. Bạn bè, đồng nghiệp và những người quen biết chị đã để lại nhiều lời
chia buồn xúc động.
Được biết, trước khi gặp tai nạn thương tâm, chị Trang Thảo là
thành viên tích cực của cộng đồng các bạn phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu. Được
biết, suốt nhiều năm qua, không chỉ học về ngôn ngữ kí hiệu mà Trang Thảo còn
giảng dạy và hỗ trợ những người khiếm thính, giúp họ kết nối với thế giới xung
quanh.
Những ai từng làm việc cùng chị Trang Thảo đều nhớ về một cô gái
luôn nở nụ cười ấm áp, tận tâm với nghề và hết lòng vì cộng đồng. Bạn bè trong
giới phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu không khỏi xót xa khi nghe tin dữ.
Anh Lê Đình Hiếu, Nhà sáng lập DNXH Hear Us Now (HUN) chia sẻ nỗi
mất mát trước sự ra đi của chị T. trên trang cá nhân: “Em học ngôn ngữ ký hiệu
gần 7 năm và cống hiến cả tuổi trẻ của mình vào việc hỗ trợ phiên dịch cho người
Điếc/Khiếm thính, nguyện hết mình vì sự nghiệp vì công việc này làm cho em hạnh
phúc hơn là kiếm tiền.”
Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã
dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào,
thì cũng được đong trả lại bằng đấu ấy!”
THỨ
BA – BIỆT PHÁI GIẢ HÌNH
Lời Chúa: Mt 23, 1-12
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: “Các
Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các
ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà
không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại
không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy,
vì thế họ nới rộng thẻ Kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc
và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta
xưng hô là “thầy.” Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là thầy,
vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi đều là anh em với nhau.
Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha, vì các ngươi chỉ
có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là người
chỉ đạo, vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Ðức Kitô.
Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi.
Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng
lên.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Biệt Phái giả hình
Một luật sư mới ra trường thuê một căn nhà sang trọng để làm văn
phòng. Nhằm gây ấn tượng nơi các thân chủ tương lai, ông cho gắn một ống điện
thoại loại đắt tiền trên bàn làm việc. Ngày khai trương, ông ăn mặc chải chuốt
và ngồi chờ đợi trong một tư thế rất tự tin.
Có tiếng chuông reo, ông ra mời thân chủ đầu tiên vào văn phòng
và để người đó chờ hơn một khắc đồng hồ, trong khi đó ông làm như đang nghe điện
thoại. Người thân chủ cười thầm khi nghe cuộc nói chuyện tưởng tượng của ông với
một Giám đốc của một cơ quan rất quan trọng trong thành phố.
Chấm dứt cuộc nói chuyện tưởng tượng, ông luật sư quay sang hỏi
thân chủ: “Thưa ông, tôi có thể làm gì để giúp ông?”
Người thân chủ đầu tiên trả lời: “Thưa ông, tôi là nhân viên của
sở viễn thông thành phố, tôi được gửi đến để nối đường dây điện thoại cho ông.”
2.
Mạnh miệng yếu lòng
Aristogiton lúc thanh bình, là một nhà ái quốc thượng thặng. Thở
ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn cảnh để cổ vũ những đức
tính anh hùng của người chiến sĩ yêu nước. Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng
như chàng đang tuyên chiến với các cường quốc trên thế giới.
Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch, người ta thấy chàng
đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não
vô cùng. Biết rõ những bí ẩn của chàng, Photion trợn mắt nói: “Aristogiton đã
làm một người què lại còn hèn nhát.”
3.
Bé cái lầm.
Có một người đi dạo đến nơi hành hương. Vì quá mệt nhọc, ông ngồi
nghỉ chân trên một bệ đá. Ông hết sức ngạc nhiên và rồi tỏ ra hãnh diện sung sướng
khi thấy nhiều người đi qua trước mặt ông, họ đã ngả mũ cúi chào.
Trong khi còn đang nghĩ ngợi, thắc mắc, thì cũng có một bà già đến
trước mặt ông. Sau khi cúi chào, bà đã ngước nhìn lên và miệng lâm râm nhiều lời
mà ông không thể nghe rõ.
Thế rồi bà ta tiếp tục đi như những người khác. Lúc ấy ông mới
quay lưng lại và nhìn lên theo hướng bà kia đã nhìn. Ông nhận ra ngay sau lưng
và phía trên đầu ông có một cây Thánh giá đã được dựng lên ở đó. Và ông xấu hổ
bỏ đi nơi khác.
4.
Giấc mơ khủng khiếp
Tôi thấy mình đứng trước một biệt thự nguy nga. Bước vào trong
tôi thấy hai hành lang với hai hàng chữ ”Bên phải dành cho người công giáo; bên
trái dành cho kẻ ngoại.”
Tôi đi theo hàng lang bên phải. Đi được một lúc tôi tới ngã rẽ
khác, lần này tôi đọc thấy bảng chỉ dẫn như sau ”Bên phải dành cho người có đức
tin vững mạnh, bên trái dành cho kẻ có đức tin yếu kém.”
Tôi lại đi theo bên phải. Đến một ngã rẽ khác, tôi loại thấy bảng
chỉ dẫn ”Bên phải dành cho những người có lòng bác ái, bên trái dành cho những
kẻ ích kỷ.”
Tôi lại chạy qua bên phải. Cuối cùng tôi gặp bảng chỉ dẫn ”Bên
phải dành cho những ai có đời sống thánh thiện, bên trái dành cho những kẻ tội lỗi.”
Một lần nữa, tôi chọn bên phải. Tôi đang hân hoan rảo bước thì bỗng
một cảnh tượng hãi hùng khủng khiếp hiện ra ở cuối hành lang ấy: cảnh hoả ngục
với muôn vàn hình khổ không lời nào tả xiết. Tôi hoảng hốt kêu rú lên và giật
mình thức dậy.
Sau một phút, tôi tự hỏi: “Phải chăng cuộc sống đạo của tôi toàn
là giả hình như giấc mơ hãi hùng ấy?”
5.
Nói mà không làm
Trong kho tàng giai thoại văn chương thế giới, có câu chuyện
này. Chuyện xảy ra vào thời Hoàng đế Néron ở Rôma. Néron nổi tiếng là ông vua
tàn bạo, rất thích phạt tội nhân bằng cách cho sư tử xé xác họ ra.
Cứ mỗi lần xử, Néron lại cùng hoàng hậu và các quan văn võ lên
khán đài chứng kiến. Dĩ nhiên là quần chúng cũng được phép đến xem.
Một hôm, có tên tử tội bị xử theo kiểu này. Anh ta bị đẩy ra giữa
hí trường và người ta thả sư tử ra. Con sư tử gầm gừ nhảy ra. Ai nấy đều phập
phồng kinh hãi cho phút thụ hình của anh ta.
Nhưng lạ thay, lần này con sư tử hung dữ thay vì cắn xé tử tội
thì nó chỉ nhảy chồm lên… rồi đến trước tội nhân lấy mũi hít hít vài cái rồi
thôi.
Quân lính làm thế nào nó cũng mặc. Đoạn nó cúi đầu chào tội nhân
rồi ngoắt đuôi lủi thủi đi vào với vẻ mặt buồn rầu như bị một cái gì đe dọa.
Theo luật, nếu sư tử không ăn thịt thì tội nhân được tha bổng.
Néron lấy làm lạ, nên trước khi tha về, ông ta gọi tội nhân đến
mà hỏi:
- Nhà ngươi làm cách nào mà con sư tử của trẫm không dám đụng đến.
Phải nói cho trẫm biết, trẫm sẽ thưởng tiền để về làm ăn.
Tội nhân đáp:
- Tâu bệ hạ, thần không làm gì mà cũng không có bùa phép chi cả,
mà chỉ khẽ bảo nó một câu.
- Câu gì? Néron hỏi gấp
Anh ta thưa:
- Muôn tâu bệ hạ, thần chỉ bảo: Mày muốn ăn tao, cứ việc. Nhưng
tao cho mày hay ăn xong, thế nào nhà vua cũng bắt mày đọc diễn văn bày tỏ cảm
tưởng và cám ơn. Vậy nếu mày muốn ăn tao, hãy lo thảo diễn văn trước đi. Muôn
tâu bệ hạ, ấy thế là nó hoảng hồn bỏ đi ngay.
Câu chuyện trên đây là do nhà văn Gilbert Chesterton đặt ra chế
nhạo cái phong trào đọc diễn văn của vua quan và những người quý phái ở nước
Anh vào thời ông, mà dân chúng đã quá nhàm.
6.
Thời gian chứng thực giá trị
Một công chúa Ả Rập quyết định cưới một trong những nô lệ của cô
làm chồng. Nhà vua nói và làm đủ cách để khuyên can con gái, nhưng không thành
công. Không một cố vấn nào của nhà vua có thể nghĩ ra cách nào để giúp ông. Cuối
cùng, một quan tể tướng nổi tiếng khôn ngoan xuất hiện tại triều đình. Sau khi
nghe câu chuyện của nhà vua, viên quan này nói:
- Bệ hạ đã được cố vấn một cách sai lầm rồi. Vì nếu bệ hạ cấm
công chúa điều đó, công chúa sẽ oán trách bệ hạ và càng gắn bó hơn với anh
chàng nô lệ kia.
- Vậy nhà ngươi hãy cho biết ta phải làm gì?
Quan tể tướng đề xuất một kế hoạch hành động. Nhà vua không tin
tưởng lắm vào kế hoạch này, nhưng cũng quyết định thử xem sao. Ông cho gọi con
gái đến và nói:
- Ta sẽ kiểm tra tình yêu của con đối với anh chàng kia. Con sẽ
bị giam trong một căn phòng nhỏ với anh ta trong ba mươi ngày đêm. Nếu sau đó,
con vẫn muốn cưới anh ta, ta sẽ hoàn toàn chấp thuận.
Công chúa vui mừng ôm chầm lấy thân phụ mình và chấp nhận bài kiểm
tra nói trên.
Mọi sự đều trôi chảy tốt đẹp trong những ngày đầu. Nhưng chẳng
bao lâu, tất cả trở nên chán chường. Chỉ sau một tuần, cô trở nên dị ứng với mọi
hành vi, cử chỉ, lời nói của chàng - và ước gì mình có một sự bầu bạn khác. Sau
hai tuần, cô chán anh ta đến nỗi cô thường xuyên la hét và đập vào cánh cửa. Cuối
cùng khi được giải phóng, công chúa ôm chầm lấy vua cha, rối rít cám ơn cha
mình đã cứu mình khỏi người đàn ông mà bây giờ cô không muốn gặp nữa.
7.
Vàng thật không sợ lửa
Vào thời đệ nhị thế chiến, nhà bác học lừng danh của thế kỷ 20
là Einstein, người gốc Do Thái, ông từ nước Đức sang lánh nạn ở Mỹ, mới đến đất
Mỹ, bạn bè phê bình ông không mặc y phục xứng với nhà trí thức, mà cứ trong bộ
quần áo bình dân?!
Ông Einstein đáp: “Để làm gì? Có ai biết tôi là nhà bác học đâu?”
Thời gian sau, những chương trình nghiên cứu khoa học của ông đã
nổi tiếng khắp nước Mỹ, bạn bè vẫn thấy ông trong bộ quần áo cũ, người ta lại gạn
hỏi: “Sao ông cứ mặc y phục ấy vậy?”
Ông Einstein trả lời: “Có sao đâu, vì ai ai cũng biết tôi là nhà
bác học rồi mà!”
Như thế ông Einstein đã sống Lời Đức Giêsu dạy: “Sự khôn ngoan của
con người được minh chứng bằng công việc mình làm!” (Mt 11, 19b).
8.
Được gọi để toả sáng
Irving Stone, người nghiên cứu “sự vĩ đại”, dành cả cuộc đời để
viết tiểu sử, tiểu thuyết về các thiên tài. Ông từng được hỏi, “Liệu có một mẫu
số chung nào cho tất cả các nhân vật này?” Ông nói, “Tôi viết về những con người
mà một lúc nào đó trong đời, họ đã có một tầm nhìn, một ước mơ phải hoàn thành.
Và họ đã nỗ lực!”; “Họ bị đánh vào đầu, bị gièm pha… và trong nhiều năm, chẳng
đi đến đâu! Nhưng mỗi khi bị đánh gục, họ khiêm tốn đứng lên. Không ai có thể
tiêu diệt họ! Và cuối cùng, họ toả rạng một khi đã khiêm tốn hoàn thành ‘một phần’
điều họ đặt ra. Vì lẽ, họ ‘được gọi để toả sáng!’.”
“Có những con người đã ngã gục, nhưng khiêm tốn đứng lên;
và cuối cùng, họ toả sáng!” Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí
quyết để mỗi người có thể làm được điều đó, “Ai hạ mình xuống, sẽ được nâng
lên!”; nó có tên “Khiêm Nhường!”
THỨ
TƯ - PHỤC VỤ ĐÍCH THỰC
Lời Chúa: Mt 20, 17-28
Khi ấy, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, đem riêng mười hai môn đệ
đi theo. Dọc đường, Người nói với họ: “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người
sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ
nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập
giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại.”
Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người.
Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: “Bà muốn
gì.” Bà ta thưa lại: “Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa
bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài.” Chúa Giêsu đáp lại: “Các ngươi
không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp
uống chăng?” Họ nói với Người: “Thưa được.” Người bảo họ: “Vậy các ngươi sẽ uống
chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban,
nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được.”
Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em.
Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: “Các con biết thủ lãnh của các dân
tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các
con thì không được thế.
Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai
muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con.
Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ,
nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Phục vụ đích thực
Alexandre Thompson năm nay 74 tuổi, hiện đang sống tại Thuỵ Sĩ.
Mới đây ông đã viết thư cho toà đô chính Copenhagen để báo tin ông sẵn sàng tặng
thành phố 40 triệu Mỹ kim để làm bất cứ dự án nào, với điều kiện tên tuổi ông
phải được đặt cho một con đường ở thủ đô nơi ông đã sinh trưởng. Nhưng đề nghị
của ông đã bị từ chối và dĩ nhiên số tiền ông hứa tặng vẫn còn giữ chặt trong
tay ông.
2.
Con Người đến để phục vụ
Một hôm Đức Hồng y Roncalli vừa trên xe bước xuống. Ngài mới đi
xa về. Phái đoàn Tòa Giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng y
có vướng mấy cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng cười xòa vui vẻ, nhưng mấy
nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện.
Chiếc xe của Đức Hồng y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua
vùng đồng ruộng. Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức
đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích. Đức Hồng y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô
ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.
Những cọng rơm trên vai Đức Hồng y đối với ngài chỉ cười xòa cho
qua. Nhưng thực sự tỏ rõ cho chúng ta thấy một Hồng y không quản ngại khó khăn
hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng.
Sau này khi lên ngôi Giáo hoàng - Đức Gioan XXIII vẫn tiếp tục nếp
sống bình dị phục vụ.
3.
Một sự hy sinh tuyệt vời.
Có hai nhà doanh nghiệp du lịch vòng quanh thế giới. Họ xem được
nhiều danh lam thắng cảnh, biết được nhiều lối sống của nhiều dân tộc, thấy được
bao điều mới lạ. Nhưng họ nói tại Triều Tiên đã có một hình ảnh đánh động họ nhất,
làm họ ghi nhớ mãi.
Một buổi sáng nọ, họ đi dạo trên đường làng, họ thấy cảnh một
ông già đang kéo cầy thay trâu, đi sau cầy là một cậu bé. Họ đứng lại xem, bộ mặt
ông già không có gì là buồn khổ cả. Họ xúc động, lấy máy ảnh chụp cảnh ấy. Sau
đó họ đến thăm một nhà thờ và chìa bức ảnh trên cho cha sở xem. Sau khi nhìn bức
ảnh cha nói:
- Vâng, đối với các ông đây là một chuyện lạ. Nhưng tôi biết rõ
cha con ông ấy. Họ rất nghèo, và khi nhà thờ này khởi công xây dựng, họ muốn
đóng góp vào việc xây cất. Nhưng họ không có tiền, không có lúa để bán, và mùa
đông lại sắp tới họ bèn bán con bò duy nhất để lấy tiền giúp nhà thờ. Bây giờ
hai cha con phải thay bò kéo cầy làm đất.
Hai người khách nhìn nhau một lát rồi một người nói:
- Thật là một sự hy sinh ngoài trí tưởng tượng! Sao cha cho phép
họ làm thế?
Cha đáp:
- Họ xem đó là chuyện bình thường. Tôi đã can ngăn, nhưng họ xem
việc hy sinh con bò là dâng một lễ vật cho Chúa.
4.
Chết thay cho người
Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của
người môn đệ Chúa: Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung
Oswiccim của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào.
Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ
một người kêu ré lên ”Ôi vợ và các con tôi.”
Hàng trăm dãy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa
phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dãy tù nhân bên trái, một người
gầy guộc rời hàng bước về phía viên trưởng trại. Mọi người nín thở: chuyện chưa
từng có! Viên trưởng trại đặt tay lên súng:
- Anh muốn gì?
- Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.
Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không,
người kia thực sự xin được chết thay cho kẻ có vợ và các con đang đợi ở nhà.
Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp nhận lời yêu cầu. Kẻ
tình nguyện đó là Maximilien Kolbe, một linh mục công giáo. Cha đã được Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982 tại Rôma.
5.
Phục vụ và hy sinh
Thánh Antôn, là giám mục của vùng Firenze nước Ý vào khoảng thế
kỷ thứ 15, có kể lại một câu chuyện mà ngài đã tận mắt chứng kiến trong đời mục
vụ tông đồ:
Một hôm, ngài đang đi trên đường thì Thiên Chúa cho ngài thấy có
một thiên thần cứ bay lượn bên trên một ngôi nhà nghèo nàn lụp xụp. Ngài ghé
vào hỏi thăm cha sở vùng này thì được biết, gia đình ấy tuy rất nghèo nhưng rất
đạo đức và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Thánh Antôn động lòng
thương, hiểu ra ý Chúa muốn soi sáng cho mình, ngài bèn trích quỹ từ thiện, kín
đáo trợ cấp hàng tháng cho gia đình đó một số tiền vừa đủ để có vốn liếng mà
chí thú làm ăn cho đỡ nghèo khổ.
Bẵng đi một thời gian, ngài lại có việc đi qua vùng ấy. Ngài chợt
giật mình trông thấy một tên quỉ xấu xa đang bay lượn trên mái một ngôi nhà
khang trang đẹp đẽ nhất vùng. Ngài lại ghé vào cha sở để hỏi thăm, thì hóa ra
đó chính là ngôi nhà của gia đình mà ngài đã từng trợ cấp lâu nay. Ngài biết họ
đã cố gắng ăn nên làm ra, nhưng dần dần, vì tham lam, họ đã học đòi những thủ
đoạn mánh khóe bất lương để làm giàu nhanh chóng, đời sống họ hoàn toàn vô đạo
đức, trở nên ích kỷ và độc ác. Hiện tại họ lại còn thói ăn chơi trụy lạc.
Vâng! Khi có tiền có bạc con người ta dễ sinh ra ích kỷ, chỉ
nghĩ đến mình chứ không để ý đến người khác.
6.
Sống vì người khác
Trong căn nhà nhỏ ở một vùng ngoại ô, có hai vợ chồng nọ đã luống
tuổi. Họ từng trải qua những ngày tháng bên nhau đầy yêu thương và yên bình. Niềm
vui chung của họ là cùng chăm sóc một vườn dưa chuột xanh tốt sau nhà.
Ông cụ chăm sóc vườn dưa rất cẩn thận, hết dậy sớm tưới nước lại
bỏ công bắt sâu, nhổ cỏ. Những trái dưa chuột ngon nhất sẽ được hái để bà cụ muối
dưa - bởi đó là thói quen của bà từ rất lâu. Mùa đông tới, khi vụ thu hoạch dưa
chuột đã hết, ông cụ lại nghiên cứu các bảng danh sách giới thiệu hạt giống để
đặt mua loại tốt nhất. Xuân về, các con của ông bà sống gần đấy giúp họ xới đất,
gieo hạt.
Bà cụ lại tìm đọc các sách nấu ăn để học hỏi thêm những bí quyết
làm dưa chuột muối. Trong mắt mọi người, ông bà là một cặp vợ chồng hạnh phúc.
Họ sống thân thiện, gần gũi với những người chung quanh. Bất cứ vị khách nào đến
chơi cũng được ông bà tặng một bình dưa chuột muối mang về.
Nhưng một ngày kia, ông cụ qua đời. Mùa xuân năm đó, tất cả con
cái tụ họp bên mẹ mình và nói:
- Chúng con biết mẹ rất thích làm dưa chuột muối, nên chúng con
sẽ thay cha tiếp tục đặt mua hạt giống, sẽ trồng và chăm sóc dưa chuột cho mẹ.
Người mẹ mỉm cười:
- Cảm ơn các con, các con không cần trồng dưa nữa đâu. Thật ra
thì mẹ không thích ăn dưa muối nhưng vì bố các con thích trồng dưa chuột nên mẹ
muối thôi.
Những người con ngỡ ngàng. Trước khi cha mất, ông từng kể với họ
rằng ông không hề thích trồng dưa chuột. Ông làm điều đó chỉ vì bà thích trổ
tài muối dưa mà thôi.
Vì muốn đẹp lòng người bạn đời của mình, họ chấp nhận làm những
điều mình không hề thích. Họ sống vì người khác, đến mức quên cả sở thích riêng
của mình.
7.
Khôn và dại
Ngày kia, hai ông Phêrô và Gioan theo Chúa lên núi, Chúa bảo các
ông: Mỗi người chúng con lượm hai cục đá mang theo. Nghe thế, ông Phêrô cầm hai
cục đá nhỏ bằng hòn bi; còn ông Gioan lấy hai khối đá lớn vác trên hai vai. Đi
được một lúc, ông Phêrô trông dáng bạn mình mệt mỏi vì mang hai cục đá lớn, liền
chế nhạo:
- Coi tớ này, cũng mang đá mà có vất vả gì đâu, ai bảo cậu vác
hai cục to thế mà chuốc khổ vào thân? Thầy chỉ nói mỗi người lấy hai cục đá
mang theo thôi mà!
Ông Gioan trả lời:
- Ôi tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi! (x 2Cr 5, 14).
Đi một quãng xa, cả hai môn đệ cùng thưa với Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, chúng con đói và khát quá, chúng ta ngồi nghỉ chân
một lát rồi kiếm gì ăn cho đỡ dạ!
Chúa Giêsu bảo:
- Vậy chúng ta đến gốc cây kia ngồi nghỉ mệt!
Khi Thầy trò đã dừng chân dưới gốc cây, Thầy nói:
- Bây giờ chúng con đặt hai cục đá của mình trước mặt.
Hai ông mau mắn tuân lệnh Thầy. Chúa giơ tay làm phép tức khắc
đá của mỗi người: một cục biến thành bánh và cục kia hóa ra bình đầy nước!
Phêrô cầm mẩu bánh bỏ vào miệng nuốt chửng, và uống miếng nước chỉ đủ ướt cổ họng.
Lúc đó ông Phêrô nói với ông Gioan:
- Cho tớ ăn uống ké với cậu, tớ còn đói qúa! Chắc không đủ sức
theo Thầy được!
Ông Gioan vui vẻ đáp:
- Ủa, anh đã quên là khi nãy anh nhạo tôi là thằng dại mang theo
hai cục đá bự làm gì cho khổ thân? Thế tại sao bây giờ anh lại ngửa tay xin “thằng
dại dột” này?!
Chúa Giêsu nhìn ông Phêrô đáng thương nên bảo ông Gioan:
- Thôi mà con, con chia cho bạn đi!
Lúc đó ông Phêrô mới hiểu Lời Thầy đã dạy: “Ai muốn đi sau Ta
thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta. Vì kẻ
nào muốn cứu lấy sự sống mình, thì sẽ mất; còn kẻ nào liều mất sự sống mình vì
Ta, và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu nó” (Mc 8, 34-35).
8.
Tội xa và tội gần
Một cựu chiến binh Mỹ từ Việt nam trở về đã nói: “Khi tôi ngồi
trên phi cơ oanh tạc Việt nam, tôi nghe người ta tuyên bố chống lại hiện tượng
gái điếm ở các thành phố Việt Nam. Giờ đây, khi trở về Mỹ và chứng kiến hiện tượng
này ở các thành phố Mỹ, tôi lại nghe người ta chống lại việc ném bom Việt Nam.”
Người cựu chiến binh đưa ra một ý tưởng đáng suy nghĩ: chống lại
những tội ở xa thì an toàn và ít liều lĩnh hơn chống lại những tội ở gần. Đó là
điều đã khiến Giêrêmia không được lòng dân, vì đã dám lên tiếng chống lại những
tội ở trước mắt.
Tôi chỉ trích “tội ở xa” của kẻ khác hơn là “tội ở gần” của
chính tôi như thế nào?
[Chúa nói:] “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ
thấy rõ để lấy các rác trong con mắt người anh em.” (Lc 6,42)
9.
Lễ đăng quang của tình yêu
Một chính khách quốc tế được xem là một vị khách danh dự trong lễ
đăng quang của vua Eduard II tại Anh quốc vào năm 1901. Khi về nước, người ta hỏi
cảnh tượng nào để lại ấn tượng nhất cho ông. Ông đã làm cho người hỏi ngạc
nhiên khi trả lời: “Một buổi tối nọ, trên đường về khách sạn, tôi thấy một cậu
bé nằm ở xó cửa với cô em nhỏ của cậu. Trời lạnh, cậu bé cởi áo khoác đắp lên
mình em nó cho ấm. Cảnh tượng đó gây ấn tượng hơn cả lễ đăng quang.”
Tại sao người rất trẻ thường sống vị tha cách tuyệt vời?
Cuộc đời bắt đầu như cuộc tìm kiếm của đứa trẻ mong thành người
lớn, và kết thúc như cuộc hành trình của người lớn tái khám phá mình là trẻ nhỏ.
(Laurens Van Der Post).
10.
Tìm một lối vào
Thế kỷ 17, Oliver Cromwell, lãnh chúa nước Anh, kết án tử hình một
người lính trọng tội. Giờ hành quyết dự liệu sẽ diễn ra lúc chuông giới nghiêm
đổ. Nhưng đêm ấy, chuông không đổ! Vị hôn thê của người lính đã tìm một lối vào
trại binh; cô leo lên tháp, bám vào chiếc chuông, ngăn nó ngân lên. Lãnh chúa
triệu tập cô, buộc cô giải trình. Cô khóc và chìa cho ông hai bàn tay rách bươm
đầy máu. Phép lạ đã xảy ra! Trái tim vị lãnh chúa thổn thức; ông nói, “Tình yêu
của cô sẽ tồn tại. Chuông không đổ, và máu cũng không!”
“Chuông không đổ, và máu cũng không!”; bởi lẽ, vị hôn thê
của người lính đã ‘tìm một lối vào’ khiến cho một con tim thổn thức để tình yêu
được tồn tại! Cả hai bài đọc hôm nay cũng nói đến một lối vào và tình yêu của
Thiên Chúa mãi tồn tại. Lối vào đó mang tên “Khổ Đau”; trên đó, Giêrêmia của Cựu
Ước và Giêsu của Tân Ước sẽ phải bước đi.
Bị dân mình tẩy chay, Giêrêmia kêu cầu Chúa, “Lạy Chúa, xin nghe
những kẻ tố cáo con nói đó!”; “Chúng đào hố nhằm làm con mất mạng!” - bài đọc một.
Thánh Vịnh đáp ca cũng đồng tình, “Lạy Chúa, xin lấy tình thương mà cứu độ
con!” Xem ra vị ngôn sứ nài van Chúa cất khỏi ông con đường “Khổ Đau”, và dường
như Giêrêmia đang ‘tìm một lối ra’.
Chúa Giêsu thì ngược lại, Tin Mừng tường thuật chuyến đi lên
Giêrusalem của Thầy trò Ngài. Ngài không ‘tìm lối ra’, nhưng ‘tìm một lối vào’.
Tuy nhiên, dù đang ‘đi lên’ với Thầy, các môn đệ xem ra chỉ muốn ‘đi xuống!’. Bằng
chứng là cuộc đối thoại không đáng có của ‘môn đệ mười ba’, bà Zêbêđê; và điều
này đã khiến “mười môn đệ kia tức tối với hai anh em.” Xót xa thay! Đang khi Thầy
ngưỡng chuyện trên trời, trò lại vọng chuyện dưới đất; Thầy lo chuyện bị nộp,
trò tính chuyện trị vì; Thầy tìm vui lòng Cha, trò muốn thoả dạ mẹ. Rõ ràng, Thầy
trò lệch pha! Thầy ‘tìm một lối vào’, trò ‘tìm một lối ra!’.
THỨ
NĂM - NGƯỜI GIẦU CÓ VÀ LADARÔ
Lời Chúa: Lc 16, 19-31
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái rằng: “Có một
nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một
người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước
được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm
cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy.
Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần
đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong
hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có
Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng: “Lạy Cha
Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm
mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này. Abraham nói lại: “Hỡi
con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy
bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa
các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây
qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được.”
Người đó lại nói: “Ðã vậy, tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà
cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa
vào chốn cực hình này.” Abraham đáp rằng: “Chúng đã có Môsê và các tiên tri,
chúng hãy nghe các Ngài.” Người đó thưa: “Không đâu, lạy Cha Abraham! Nhưng nếu
có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải.” Nhưng Abraham bảo người ấy:
“Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi
nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Có một vực thẳm
Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới còn lớn hơn tài sản của
48 nước kém phát triển.
Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ
đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch
và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.
Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy
bức tranh hiện thực của thế giới. Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa
đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn. Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng
cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. Vẫn có bao người chết đói
mỗi ngày, vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống.
2.
Tội dửng dưng
Mẹ Têrêxa Calcutta kể lại rằng một lần nọ đặt chân đến Ethiopi,
Mẹ đã ngỏ ý với một vị Bộ trưởng để xin một khu đất xây bệnh viện cho những người
cùng khốn nhất. Ông Bộ trưởng trả lời: “Thưa bà, việc săn sóc bệnh nhân và người
nghèo là trách nhiệm của chính phủ, không một cá nhân hay đoàn thể nào có thể
gánh được công việc này.” Mẹ liền nói: “Nhưng tôi thấy chính phủ các ông đã
không chu toàn được trách nhiệm ấy; vả, việc săn sóc người nghèo khổ là trách
nhiệm của mỗi người.” Và ông Bộ trưởng đã phải chấp nhận đề nghị của Mẹ.
Câu trả lời và việc làm của Mẹ Têrêxa là một minh hoạ cho giáo
huấn của Chúa Giêsu về người giầu có và Ladarô nghèo khổ. Quan tâm đến người
anh em, nhất là những người cùng khổ là một bổn phận, một bổn phận mà Chúa
Giêsu cũng khẳng định trong diễn từ về ngày chung thẩm. Nhiều người ngỡ ngàng
khi nhận ra rằng số phận mai hậu của họ gắn liền với một bát nước lã, một chén
cơm họ chia sẻ cho một kẻ vô danh.
Dửng dưng trước khổ đau của người khác là một tội. Đó là điều
Chúa Giêsu muốn nêu bật qua hình ảnh người giầu có trong Tin mừng hôm nay.
3.
Món quà cưới đặc biệt
Mẹ Têrêxa Calcutta kể lại một câu chuyện thật ấn tượng rằng: có
hai bạn trẻ nghe biết các sơ trong dòng của mẹ hàng ngày nấu ăn cho 7 ngàn người,
và cung cấp thực phẩm cho khoảng 9 ngàn người. Vì thế, họ đã tặng cho mẹ một số
tiền lớn để giúp người nghèo. Khi được hỏi về nguồn gốc số tiền lớn mà các em
dâng tặng, các em trả lời:
“Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Trước ngày cưới, chúng
con đã suy nghĩ nhiều. Sau cùng, chúng con quyết định không may đồ cưới, cũng
không tổ chức yến tiệc linh đình, và chúng con muốn dùng khoản tiền chi phí cho
đám cưới và mua tặng phẩm để cho những người không được may mắn như chúng con.”
Khi thấy thế, mẹ phân vân! Hai bạn nói tiếp:
“Vì chúng con yêu nhau, chúng con muốn có cái gì đặc biệt, đẹp đẽ
cho nhau. Vì thế, chúng con muốn tặng cho nhau một món quà cưới thật đặc biệt.
Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống của mình bằng một hy sinh mà cả hai đều
dự phần vào.”
Ôi một nghĩa cử anh hùng! Vì ở bên Ấn Độ, đám cưới mà không có
quần áo cưới cũng như tiệc cưới là một điều nhục nhã và gây tủi hổ cho cả hai
gia đình, đàng trai cũng như đàng gái.
4.
Xa lạ với văn hóa vị tha
Vào buổi sáng ngày 10.8.2012, tại ngã tư đường Tân Hoa giao với
đường Tây Hoài Hải ở thành phố Thượng Hải, một cụ ông được phát hiện nằm ngất xỉu
trên đường, đầu chảy nhiều máu do va đập sau cú ngã. Một vài người chứng kiến đầu
tiên bấm số 120 để gọi xe cấp cứu… rồi thôi. Khi chưa có xe đến kịp để đưa ông
cụ đi, người qua lại trên đường chỉ dửng dưng nhìn rồi bỏ mặc hoặc dừng lại chỉ
trỏ. Họ tuyệt nhiên không có một động tác sơ cứu nào, thậm chí đến đỡ ông cụ dậy.
Một người phụ nữ nước ngoài đi ngang thấy sự việc trên. Ngạc
nhiên trước thái độ vô cảm của những người chứng kiến, cô chạy đến nâng đầu ông
cụ lên đặt trên một tấm khăn mềm, vừa khóc vừa khẩn nài mọi người xung quanh
mau gọi xe cứu thương đến. Sự việc chỉ kết thúc khi cô này đưa tiền và thúc họ
gọi xe cứu thương lần nữa. Nửa tiếng sau, ông cụ mới được đưa đến bệnh viện gần
đó.
…Ông cụ bị nạn họ Tiền, 87 tuổi, được bệnh viện chẩn đoán thuyên
tắc mạch máu não đột ngột khiến ông chóng mặt và ngã khuỵu trên đường. May mắn
được cấp cứu kịp nên ông đã phục hồi… (Theo Tuổi trẻ Mobile)
5.
Chúa đến thăm bà lão.
Chúa hứa với một bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bà rất
hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi
thứ sẵn sàng. Bà ngồi và đợi Chúa đến.
Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy
một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: “Không, hôm nay tôi không giúp anh, vì
Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều
gì.” Bà đuổi anh và đóng cửa lại.
Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy
gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi
không thể giúp đỡ ông.” Rồi bà đóng sầm cửa lại.
Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn
xin rách rưới. Anh xin ăn và ngủ qua đêm. “Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa
đến. Tôi không thể tiếp anh.” Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.
Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy
dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.
Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Bà ngủ quên và mơ thấy
Chúa đến với bà và nói: “Hôm nay ta đến với con 3 lần và cả ba lần con đều đuổi
Ta”
6.
Chiếc vòng có phép lạ
Một ngày nọ, vua Salomon bỗng nảy ra ý muốn, muốn làm bẽ mặt
Benaiah, một cận thần thân tín của mình trước mặt mọi người. Vua nói:
- Này Benaiah, trong vòng 6 tháng, ta muốn khanh mang về cho ta
một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ hội.
Benaiah trả lời:
- Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thì thưa đức vua,
thần sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì
đặc biệt?
Nhà vua bảo:
- Nó phải có sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ
thấy buồn. Và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui.
Vua Salomon thừa biết sẽ chẳng đời nào có một chiếc vòng như thế
tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một
chút bẽ bàng.
Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn không thể tìm ra
được một chiếc vòng nào như thế. Rồi chính vào đêm trước ngày lễ hội, ông lang
thang đến một nơi nghèo nhất của Jêrusalem. Ông đi ngang qua chỗ người bán hàng
lạc xoong với những món hàng đang được bày trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng
chân hỏi:
- Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người
hạnh phúc đeo nó vào thì quên đi niềm vui sướng, và người đau khổ đeo nó vào
thì quên đi nỗi buồn không?
Người bán hàng lấy từ trên tấm bạt cũ lên một chiếc vòng giản dị
có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ, khuôn mặt ông rạng rỡ lên một nụ
cười. Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội. Vua hỏi:
- Nào ông bạn của ta, ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?
Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và chính vua Salomon cũng cười.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói:
- Dạ nó đây, thưa đức vua!
Khi vua Salomon đọc xong dòng chữ, người ta thấy khuôn mặt của
nhà vua biến sắc. Trên chiếc vòng đó người ta khắc dòng chữ này: “Mọi sự rốt cuộc
rồi cũng qua đi.”
Chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng: tất cả những sự
khôn ngoan, vương giả, quyền uy và giàu có của ông rồi sẽ qua đi. Cả ông cũng
thế. Ông cũng chỉ là một thứ phù du bởi vì một ngày nào đó, ông cũng sẽ phải trở
về với cát bụi.
7.
Thủ tướng Gladstone
Ở London, thủ đô nước Anh có một ngôi thánh đường rất nổi tiếng.
Đó là nhà thờ Saint Paul. Nhà thờ này có một lối kiến trúc rất độc đáo làm cho
những âm thanh vang đi rất xa. Nếu áp tai vào tường, người ta có thể nghe được
một người nói từ phía bên kia mái vòm tròn, dầu chỉ là giọng nói thì thầm tâm sự.
Có một đôi thanh niên nam nữ đã mượn nơi nhà thờ này làm điểm hẹn
hò: Chàng trai vốn là một người làm nghề thợ đóng giày than thở với người yêu rằng:
- Anh chưa thể tiến hành hôn lễ vì đang thất nghiệp, không có tiền
để mua da và các vật liệu làm giày, thì đào đâu ra tiền để làm lễ cưới?
Nghe tin chẳng lành ấy, cô gái chỉ biết sụt sùi khóc và cầu nguyện:
- Lạy Chúa, xin giúp chúng con có tiền để làm lễ thành hôn!
Tình cờ, một người đi ngang qua hành lang phía bên kia nghe được
câu chuyện và lời cầu nguyện của họ, ông ta quyết định giúp đỡ đôi thanh niên
nam nữ này. Vì thế khi họ thất thểu ra về, ông khách cũng âm thầm theo sau để
dò cho biết nhà chàng trai ở đâu, rồi lập tức ông cho người mang tặng anh ấy một
số da và vật liệu để làm giày. Nhờ được giúp đỡ như vậy, nên người thanh niên bắt
tay ngay vào việc và chẳng bao lâu anh trở nên phái đạt và anh sung sướng cử
hành hôn lễ.
Mãi mấy năm sau, hai vợ chồng này mới biết được vị ân nhân của
mình là ai khi ông trở thành vị thủ tướng nổi tiếng của nước Anh. Người đó
chính là ngài William Ewart Gladstone (1809-1998).
8.
Nô lệ thời hiện đại
Tội của người nhà giàu ở chỗ ông thấy những đau khổ túng cực của
người khác mà không một chút mảy may thương xót quan tâm.
Mẹ Têrêsa nói: “Người nào luôn sống lệ thuộc vào đồng tiền, lúc
nào cũng cũng băn khoăn lo lắng về của cải của mình, thì người đó là người thực
sự nghèo khó. Ngược lại, những người biết trao ban của cải để giúp đỡ người
khác, người đó mới là người thực sự giàu có thực sự. Lòng tốt làm biến đổi con
người nhiều hơn là những nghiên cứu khoa học và tài hùng biện. Một khi đã nhìn
thấy hình ảnh của những người anh em trong nhau, bạn nghĩ rằng chúng ta có còn
cần đến xe tăng và tướng lĩnh nữa không?”
9.
Tình yêu là một liên đới cụ thể
Ngày xưa, bên Tàu có một ông vua tự cho mình là người yêu nước
thương dân, nhưng lại chẳng bao giờ để ý đến cảnh khổ của dân chúng. Trái lại,
ông chỉ biết đến yến tiệc linh đình, trang hoàng cung điện, xây cất dinh thự,
sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để mong được nở mày nở mặt với lân quốc.
Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi chùa trong nước có một loại
hoa hồng quí hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao phủ cả một khu vườn. Nhà
vua báo tin cho vị sư trụ trì là ông sẽ đến thăm để biết thứ hoa hồng quí lạ.
Khi được tin báo và được biết giờ vua sẽ đến, vị sư liền cắt tất cả những đóa hồng
xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một bông duy nhất đang thắm nở.
Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ vì thực tế khác hẳn với tin đồn.
Khi biết được sự việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao làm như thế. Vị sư từ tốn trả
lời:
- Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các hoa nở rộ trên cành, bệ hạ
sẽ không thưởng thức được vẻ đẹp của từng bông hoa. Vì thần biết bệ hạ chỉ có
thói quen nhìn đám đông chứ không để ý đến từng cá nhân.
Thiên Chúa của chúng ta không có thói quen chỉ nhìn đám đông,
nhưng Người quan tâm đến từng con người.
10.
Người giàu lấy trộm của kẻ nghèo
Lời giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong chuyến viếng
thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên ngày 2.10.1979 đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Chúng ta
không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của chúng ta nếu bất cứ ở vùng nào
đó, người nghèo khó Ladarô của thế kỷ 20 vẫn còn đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa…
Các bạn đừng bao giờ bằng lòng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi
bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo lắng cho đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi
chứ đừng tìm cách sống cho sung túc dư dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những
người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hãy đối xử với họ như những thực khách
trong gia đình các bạn.”
Lạy Chúa, thánh Tôma Aquinô đã dạy: “Những người giàu có đã đánh
cắp của người nghèo khó khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa.” Xin
cho chúng con biết san sẻ cho nhau, để trái đất này trở nên sung túc và yêu
thương, vì giàu có thật là yêu thương và nghèo nàn thật là ích kỷ.
11.
Lời Chúa cần được thi hành
Một tân linh mục giảng một bài thật hay. Chúa nhật kế tiếp, cộng
đoàn tín hữu đông đảo chờ đợi nhưng họ ngạc nhiên khi vị linh mục lặp lại bài
giảng Chúa nhật trước. Chúa nhật sau đó, ngài cũng lặp lại cùng một bài giảng.
Khi tín hữu tỏ ý thắc mắc, ngài bảo họ: “Tôi lặp lại bài giảng cho đến khi thấy
anh chị em thực hiện được một gì đó trong bài giảng.”
Cái gì ngăn cản tôi không quan tâm đến Lời Chúa?
Người ta không thể băng qua biển khi chỉ đứng nhìn mặt nước (R.
Tagore).
12.
Tội đáng sợ nhất
Tháng 9/2007, ông Nguyễn Đăng Trúc, giáo sư thần học ở
Strassbourg, Pháp, có một bài viết đăng trên trang web của đài BBC kể lại một
vài hồi ức về ĐHY Nguyễn văn Thuận, khi ông còn là chủng sinh.
Ông kể: “Tôi vào Tiểu chủng viện Phú xuân khoá 1959, còn linh mục
Thuận đến đây thay cho linh mục Nghĩa vào đầu niên khoá 1960-61, và tôi là một
trong những chủng sinh chọn ngài làm cha linh hướng…
Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, ngài kêu riêng và nhắn nhủ “tu
cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng, nhưng con nên nhớ điều này trong đời
mình: điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội
lỗi.”
Vâng, tội lỗi có nặng nề đến đâu cũng không đáng sợ bằng sự mất
ý thức về tội. Mất ý thức về tội là đánh mất chiều kích tâm linh trong đời sống
con người.
13.
Tình yêu cần bắt đầu từ nhà mình
Mẹ Têrêxa nói: “Tôi luôn luôn nói rằng yêu thương bắt đầu từ nhà
mình: trước hết ở nhà bạn rồi đến thị trấn hoặc thành phố của bạn. Yêu thương một
người ở xa thì dễ, nhưng không dễ khi yêu thương những người sống với chúng ta
hoặc ở gần chúng ta. Tôi không đồng ý với cách thức to lớn để thực hiện các
công việc – yêu thương bắt đầu với một cá nhân. Để yêu thương một người, bạn phải
tiếp xúc và trở nên gần gũi với người ấy. Bạn phải đến tiếp xúc với người
nghèo. Khi bạn làm điều đó, bạn vượt qua con nước to lớn ấy. Không còn những
“triệu” người ấy mà một vài người bạn hiện đang tiếp xúc, gần gũi.”
Mẹ Têrêxa kể lại câu chuyện sau đây: “Một lần nọ ở Bombay có một
hội nghị lớn về tình trạng nghèo khổ. Khi tôi đến nơi, ngay trước cửa của địa
điểm trong đó hàng trăm người đang nói về lương thực và cái đói, tôi thấy một
người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà chúng tôi dành cho người hấp hối.
Người ấy chết ở đó. Người ấy chết vì đói. Trong lúc những người ở bên trong nói
về việc làm thế nào để trong mười lăm năm, chúng ta sẽ có thật nhiều lương thực
và thế này thế kia – còn người đàn ông đó thì đã chết.
“Tôi không bao giờ coi các đám đông là trách nhiệm của tôi. Tôi
nhìn vào cá nhân. Tôi chỉ có thể yêu thương một người ở mỗi lúc. Tôi chỉ có thể
nuôi sống một người ở mỗi lúc. Tôi nhặt một người. Có lẽ nếu tôi không nhặt một
người, tôi sẽ không thể nhặt đến 42.000 người. Toàn bộ công việc chỉ là một giọt
nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không đặt giọt nước ấy vào, hẳn đại dương sẽ
ít đi một giọt. Đối với bạn, cũng giống thế. Trong gia đình bạn, cũng giống thế.”
14.
Người tu sĩ giàu có
Một tu sĩ lang thang đến một ngôi làng. Ông đang định nghỉ qua
đêm dưới một gốc cây thì một dân làng chạy đến gặp ông và nói: “Xin thầy cho
con viên ngọc quý.”
- Anh định nói về viên ngọc nào? Người tu sĩ khẽ hỏi.
- Tối qua con có một giấc mơ: nếu con đi ra bên ngoài làng lúc
chạng vạng tối, con sẽ gặp được một tu sĩ và vị này sẽ cho con một viên đá quý,
làm con trở nên giàu có mãi.”
Tu sĩ lục lọi trong túi xách, tìm thấy một viên ngọc và lấy ra.
“Đây có lẽ là viên ngọc mà anh nói đến”, ông nói và đưa nó cho người dân làng.
“Tôi tìm thấy nó trong rừng, cách đây mấy ngày. Anh hãy nhận lấy nó.”
Người đàn ông cầm viên ngọc và ngắm nghía với vẻ thán phục. Nó
là một viên kim cương, viên lớn nhất mà anh ta chưa bao giờ thấy. Anh ta đem nó
về nhà. Nhưng suốt đêm, anh ta trằn trọc trên giường, không thể ngủ được. Sáng
sớm hôm sau anh ta trở lại gặp vị tu sĩ và nói: “Suốt đêm qua, con đã suy nghĩ
nhiều. Thầy hãy lấy lại viên kim cương này. Thay vào đó, hãy cho con sự giàu có
nào làm thầy cho đi viên kim cương ấy dễ dàng đến thế.”
Người giàu có sống bằng đời sống tinh thần bên trong, người bình
thường sống bằng đời sống bên ngoài – điều mà người kém cỏi lại thấy cần và
mong muốn.
15.
Giá mà chết đi được thì hơn
Hai con lừa chở hàng về nhà, con đi trước to khỏe hơn mà chỉ phải
mang một bao hàng, con kia nhỏ và yếu hơn mà phải mang tới hai bao. Đường núi
quanh co, gập ghềnh khó đi. Con mang nặng đi sau nài nỉ con đi trước: “Tôi mệt
quá. Anh mang đỡ giùm tôi một bao nhỏ này nhé.” Con đi trước lên mặt: “Đừng có
lười, phần ai nấy mang.” Con đi sau càng đi càng mệt, nhưng vẫn rán lết đi, nó
dần dần chậm hẳn lại, bước chân xiêu vẹo, mà con đi trước vẫn không đoái hoài đến.
Rồi con đi sau gục xuống mà chết… Người quản gia lúc đó bắt con
đi trước mang hết số hàng hoá, lại thêm xác con lừa kia nữa. Một gánh nặng bất
ngờ đè lên lưng nó. Nó muốn tắt thở vì quá sức nhọc mệt: “Giá mà chết đi được
thì hơn!”
Ước mong được chết mà chi khi thể xác tuy còn sống nhưng tâm hồn
thì đã chết từ lâu rồi?!
Vâng, tình yêu chân thực là tình yêu sẵn lòng hy sinh vì người
mình yêu. Khi đó tình yêu là sự sống và sức mạnh của con người. Khi yêu nhau
người ta sẵn lòng chịu khổ vì nhau mà không hề thấy ngần ngại, vì ngay cả cái
khổ đó cũng đáng yêu.
16.
Mù lòa trong tâm hồn
Tác phẩm ‘Inspirational stories’ đã trình bày về một cách bẫy khỉ
rất thú vị được dùng tại châu Phi để bắt sống những con khỉ không một chút
thương tích mà chuyển đến các sở thú ở Hoa kỳ: Người ta cho một nắm quả hạch
thơm lừng vào trong những chai thủy tinh rất nặng, có cổ dài và hẹp, rồi bỏ những
chai đó lăn lóc trong rừng. Sáng hôm sau, họ trở lại để bắt từng chú khỉ đang kẹt
cứng tay trong những cái chai.
Quả hạch có mùi thơm rất hấp dẫn lũ khỉ, chúng đến gần dò dẫm và
thò tay vào lòng chai nắm chặt những quả hạch thơm nức. Mùi thơm của những quả
hạch làm cho chúng cứ nắm chặt tay và đành chịu bị bắt.
Bọn khỉ thật là ngốc nghếch, nhưng Lời Chúa cho thấy người ta
không kém phần khờ khạo khi tự dính chặt mình vào những sự thiện hảo thế tục mà
quên đi hạnh phúc đời sau: “Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng,
nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ” (Am 6,6).
Đó không phải là những gì xa lạ, mà là sự mù tối, mê muội trong
cách đánh giá, trong từng chọn lựa cụ thể trong sinh hoạt hằng ngày của con người:
“Ngươi đã thấy nhiều mà vẫn chẳng lưu tâm, đã mở tai mà vẫn không nghe gì” (Is
42,20).
17.
Lựa chọn sau cùng
Cha Anthony de Mello có kể một câu chuyện về một con trai biển
chưa có ngọc đang vui hưởng một cuộc sống nhàn hạ, thảnh thơi thì thấy một viên
ngọc lóng lánh kẹt trong một khe đá dưới lòng biển. Biết rằng con người rất
thích ngọc quí nên nó xoay trở tìm cách nhặt viên ngọc lên và đặt nó ngay trên
một chiếc lá mỏng bên cạnh mình, hy vọng rằng người ta sẽ nhặt viên ngọc mà tha
mạng nó. Sau đó ít lâu, khi một anh thợ lặn tìm ngọc trai bơi đến gần.
Thật không ngờ là anh ta chỉ thấy con trai mà không màng chi đến
viên ngọc! Anh ta bắt con trai bỏ vào giỏ, nước giao động làm cho viên ngọc lại
lăn xuống khe đá.
Biết bao lần tôi đã hành xử như thế khi bỏ qua những viên ngọc
quí để nhặt lấy một niềm vui chóng qua, hay sự an toàn đặt nơi tiền của.
Với kinh nghiệm về sự mù tối luôn nằm sẵn trong hành trình đức
tin, lựa chọn sau cùng của mọi chọn lựa là điều được thánh Phaolô đặc biệt lưu
tâm: “Anh hãy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp vì đức tin, giành cho được sự
sống đời đời.” (1Tm 6,12).
Tôi đang làm việc tông đồ, nhưng Thiên Chúa có phải là điều cuối
cùng tôi tìm kiếm không?
18.
Sức mạnh của tình yêu
Do các công việc từ thiện bác ái, Mẹ Têrêsa đã nhận
được nhiều giải thưởng của chính phủ Ấn Độ, chẳng hạn giải Padna
Shri (Hoa Huệ Tuyệt Vời) năm 1963. Cũng năm đó, chính phủ Philippine
tặng mẹ giải thưởng Magsaysay (giải thưởng dành riêng cho vùng Đông Nam
Á về các công việc xã hội.)
Năm 1971 mẹ Têrêsa lại được giải thưởng “Hòa Bình” của
Đức Gioan XXIII (do chính tay Đức Phao lô VI trao tặng tại Rôma.)
Tháng 10 năm 1979, Mẹ Têrêsa lại được nhận giải thưởng
Hòa Bình Nobel là giải thưởng lớn nhất và thuộc loại cao quý nhất
trên thế giới.
Có một lần vị sư Phật Giáo đã nói với Mẹ:
“Tôi biết và yêu mến Đức Kitô, nhưng tôi ác cảm với Hội
Thánh của Ngài. Nếu các chị làm điều các chị nói, có lẽ các chị
sẽ trở lên nơi hội ngộ để chúng tôi có thể gặp gỡ Hội Thánh của
Đức Kitô”
Sau một năm có dịp cùng làm việc với Mẹ Têrêsa, vị sư
đó đã phát biểu:
“Tôi đã quan sát chị, bây giờ tôi thực sự tin rằng các
chị đã làm việc chỉ nhằm mục đích giúp những người nghèo khổ, xấu
số. Chúng tôi sẽ hiến các chị một ngôi nhà trong khuôn viên chùa
chúng tôi để làm bệnh xá miễn phí ”
Tối ngày 17/3/2025, mạng xã hội xôn xao trước bài đăng tìm vàng
của một người đàn ông tên Trương Văn Sừng - 34 tuổi, trú thôn Thâm Khê, xã Hải
Khê (Hải Lăng, Quảng Trị).
Theo nội dung chia sẻ thì vợ chồng anh Sừng có mượn người thân 1
cây vàng, tính đem ra tiệm vàng ở thị trấn Hải Lăng bán để góp vốn làm ăn.
Thế nhưng khi hai vợ chồng lên tới thị trấn thì tiệm vàng chưa mở
vì còn quá sớm. Trong quãng thời gian chờ, vợ chồng anh Sừng cầm theo vàng rồi
đi xem đua thuyền mừng ngày kỷ niệm 50 năm giải phóng huyện Hải Lăng ở khu vực
bờ hồ thuộc thị trấn.
Trong lúc xem, họ bất cẩn đánh rơi cây vàng lúc nào không hay.
Hai vợ chồng sau đó cố gắng chạy đi tìm xung quanh, rồi đăng thông tin lên mạng
xã hội với hy vọng có thể tìm kiếm được tài sản.
Không lâu sau bài đăng tải tìm vàng của anh Sừng, một người phụ
nữ có chia sẻ việc con mình nhặt được vàng và thông báo tìm người bị mất trên
trang cá nhân.
Đến chiều tối ngày 19/3, thông tin trên báo chí, Công an xã Hải
Khê cho biết đã liên lạc về nhà anh Sừng xác minh thông tin mất vàng để làm thủ
tục trao trả. Cũng theo thông tin từ Công an xã Hải Khê, người nhặt được số
vàng là một học sinh lớp 4 Trường tiểu học Hải Khê.
THỨ
SÁU - DỤ NGÔN TÁ ĐIỀN VƯỜN NHO
Lời Chúa: Mt 21, 33-43. 45-46
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong
dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn
nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá
điền thuê, rồi đi phương xa.
Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi.
Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia
và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ
cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì
nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai
ông chủ liền bảo nhau: “Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết
nó đi và chiếm lấy gia tài của nó.” Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết.
Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?
Các ông trả lời: “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người
khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi.” Chúa Giêsu phán: “Các ông chưa
bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh sao:
“Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc
Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?” Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước
Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh
hoa trái.”
Các Thượng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ
về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều
tôn Người là Tiên tri.
TRUYỆN
KỂ
1.
Sám hối để được cứu độ
Trong Kinh Thánh Cựu Ước có kể câu chuyện của vua thánh Đavít
như sau: khi vua Đavít đã thỏa mãn nhục dục với Bathsêba, vợ của vị tướng Uria.
Không dừng lại ở đó, ông đã tìm cách để phủ lấp chuyện đồi bại của mình bằng
cách đẩy Uria ra mặt trận ác liệt, ở đó, vị tướng này chắc chắn sẽ tử trận, và
sự việc đúng như kế hoạch thâm độc mà nhà vua đã hoạch định.
Khi nghe biết sự tàn ác của vua Đavít như thế, tiên tri Nathan đến
kể cho vua một câu chuyện nhằm cảnh báo nhà vua, ngài kể: một anh nhà giàu kia
có rất nhiều chiên, nhưng khi có khách, thì lại truyền lệnh cho quân lính sang
nhà hàng xóm bắt con dê của họ để làm thịt ăn mừng. Điều đáng nói là người hàng
xóm này chỉ có duy nhất một con dê là tài sản của anh ta.
Nghe đến đây, Vua Đavít tức giận và tuyên bố một câu xanh rờn:
thằng đó phải chết! Nghe thấy thế, tiên tri Nathanel chỉ thẳng vào mặt vua và
nói: “Thằng đó chính là vua!” Đến đây, nhà vua mới giật mình nhận ra tội lỗi của
ông và ăn năn sám hối.
2.
Không biết chia sẻ của Chúa ban.
Một người nghèo nọ được thần tài gõ cửa, nên không mấy chốc căn
nhà của anh bỗng rộn lên tiếng cười của vợ con, họ hàng và láng giềng. Một cuộc
sống xứng với nhân phẩm hơn đó là điều mà con người may mắn này đã cảm nhận được.
Tuy nhiên, may mắn nào cũng kéo theo những đòi hỏi, mà đòi hỏi
thách thức nhất của người nghèo bỗng trở thành giầu có là: hãy chia sẻ với người
khác. Không mấy chốc, bà con họ hàng từ các nơi đổ xô về căn nhà nghèo nàn của
anh để xin giúp đỡ, trước là nhận họ sau là nhận hàng, đó là thói thường của
người đời.
Kẻ trúng số hiểu được các tâm lý thông thường ấy, lúc đầu được
thúc đẩy bởi lòng quảng đại, ông không ngần ngại chia sớt cho mọi người. Nhưng
dần dà con số người đến xin giúp đỡ ngày càng gia tăng, cho đến một lúc cuộc sống
riêng tư và êm ấm của gia đình hầu như bị xáo trộn triền miên. Người đàn ông
không còn đủ kiên nhẫn nữa.
Một hôm, ông đề nghị với vợ:
- Hay là ta dọn đi một nơi khác.
Người vợ lắc đầu bảo:
- Mình có đi đâu thì thiên hạ cũng tìm tới.
Nhưng người chồng giải thích:
- Mình sẽ đi đến một chỗ không ai biết, mình sẽ đổi tên đổi họ,
cũng không cho ai biết mình đi đâu, và sẽ cố gắng sống một cách đơn giản để
không ai để ý đến mình nữa, ngay cả mấy đứa nhỏ cũng không cho biết mình đã
trúng số.
Người vợ thắc mắc:
- Còn tiền bạc thì mình để đâu?
Chồng trả lời dứt khoát:
- Mình sẽ đem chôn giấu, mình sẽ sống như thể không hề trung số,
chỉ đem ra dùng khi nào cần thiết mà thôi.
Thế là cả gia đình dọn đến một nơi khác như dự kiến: họ lén lút
ra đi không ai biết, tiền bạc đem chôn cất, con cái còn quá nhỏ nên không biết
việc gì đã xẩy ra, họ sống nghèo nàn trong một khu ổ chuột. Ngày qua ngày,
chính họ cũng quên rằng mình đã có lần trúng số, và khi họ chết thì tất cả mọi
tài sản đều mất hết. Họ quên cả việc viết chúc thư cho con cái để trao lại tài
sản cho chúng.
3.
Tảng đá Balebon tại tiểu bang California.
Ngày nọ, có một người dân làm đơn khiếu nại sở Kiều lộ. Người
này báo động rằng vì nạn đất chùi, tảng đá này có thể đổ xuống làm hư nhà cửa của
họ; và thế là với hai chiếc trực thăng yểm trợ cho hai xe cẩu loại lớn, người
ta đã đưa tảng đá lên xa lộ.
Theo dõi câu chuyện trên đài truyền hình, một người Úc nọ đã đến
xin mua tảng đá ấy. Sở Kiều lộ của thành phố đã bán tảng đá này với giá 100 Mỹ
kim. Những người có trách nhiệm của thành phố đã mừng thầm vì cảm thấy ít ra
cũng có người giúp họ di chuyển cái “của nợ” ấy đi. Sau đó, người Úc kia đã bỏ
ra 20.000 Mỹ kim nữa để thuê xe chuyên chở tảng đá ấy về nhà, và sau bốn tháng
miệt mài làm việc, anh đã tạc được chân dung của một tài tử nổi tiếng chuyên
đóng phim cao bồi. Đó là món quà quí nhất mà người này dành cho tài tử yêu quí
trước khi nhắm mắt lìa đời. Không bao lâu sau đó, tác phẩm ấy đã được bán cho một
người chuyên sưu tầm tượng ảnh với giá một triệu Mỹ kim.
Tảng đá Balebon trên đây đã bị nhiều người xem là một “của nợ”,
nhưng một người Úc đã nhìn ra những giá trị tiềm ẩn trong đó. Nó đã trở thành một
thách đố để thực hiện một công trình vĩ đại. Và cuối cùng, công trình đã được
hoàn thành. Từ một tảng đá đáng bỏ đi nó đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật
và giá trị của nó không thể ngờ được.
Trước Công nghị Do Thái, thánh Phêrô đã giải thích về cái chết của
Chúa Giêsu, với câu nói thời danh: “Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ đã
trở thành viên đá góc tường” (Cv 4,11).
4.
Hãy nhìn vào tấm gương đó để chúng ta bắt chước.
Thời Xuân Thu chiến Quốc, nước Sở và nước Lương có chung biên giới
và dân cư của hai nước sống ở gần biên giới đều trồng dưa. Người bên nước
Lương, vì chịu khó vun xới chăm bón cho nên dưa tốt, quả nhiều. Còn người bên
nước Sở thì vừa lười vừa làm biếng, chẳng chịu chăm sóc tưới bón nên dưa xấu,
quả ít. Quan huyện sở tại bên nước Sở thấy vậy thì tức giận lắm. Những người trồng
dưa bên Sở thấy vậy cũng đem lòng ghen ghét, nên cứ tối tối, lẻn sang nhổ cây,
bứt lá làm cho dưa bên nước Lương đang tốt tươi bỗng trở nên héo hon, xơ xác.
Những người trồng dưa bên nước Lương rình biết, bèn trình báo
lên quan sở tại của mình và cũng định rắp tâm sang phá dưa bên nước Sở để trả
thù. Nhưng quan sở tại của nước Lương là người thâm trầm, mưu cao liền can ngăn
và bảo:
- Nếu lấy ác mà xử ác thì chỉ gây thù chuốc oán, gieo mầm loạn lạc
binh đao. Thay vì trả thù, ta cứ lẳng lặng sang tưới dưa cho họ, đó mới là thiện
chí.
Nói là làm. Một thời gian sau, dưa bên nước Sở xanh tốt, quả nhiều.
Dân nước Sở lấy làm lạ, cũng để ý rình rập, sau mới hay người bên nước Lương
sang tưới dưa cho mình. Quan bản địa bên nước Sở thấy vậy lấy làm hổ thẹn. Sự
việc đến tai vua nước Sở. Vua nước Sở cũng lấy làm xấu hổ và nghĩ rằng, ngoài
cái tội phá dưa của người ta ra, còn thêm một tội khác nữa là gây ra thù oán.
Vua nước Sở bèn xuống chiếu trách cứ quan huyện, khuyến cáo dân chúng nước Sở,
rồi viết thư sai sứ giả sang nước Lương xin lỗi, tỏ lòng hiếu hòa bang giao.
Thế là hai nước giữ được sự yên bình lâu dài và dân cư thái
bình.
5.
Đứa con thừa tự kia rồi
Tháng 8/1963 Martin Luther King dẹp qua một bên bài diễn thuyết
được soạn sẵn, để nói thẳng với hàng trăm ngàn người nghe ông: “Hôm nay, tôi mơ
ước rằng một ngày nào đó người da đen sẽ nắm tay người da trắng và cùng nhau
sánh bước như anh em.”
Khi ông nói như thế, một số người đã nhạo báng: “Nào chúng ta giết
hắn đi… để xem những ước mơ của hắn sẽ ra sao?”
6. Tiêu diệt kẻ thù
Một hoàng đế Trung Hoa muốn chiếm đất của kẻ thù và tiêu diệt họ.
Nhưng ít lâu sau, thần dân thấy nhà vua đi lại, ăn uống với kẻ thù trước kia.
- Chẳng phải ngài đã từng nói là sẽ tiêu diệt hết kẻ thù?
- Đúng, ta đã tiêu diệt hết kẻ thù, vì ta đã biến họ thành bạn
bè của ta.
8.
Tình thương kiên nhẫn
Một số người giải thích dụ ngôn thế này: Vườn nho biểu hiện dân
Israel. Chủ vườn nho là Thiên Chúa. Tá điền là những người lãnh đạo dân Israel.
Các tôi tớ chính là các ngôn sứ. Con trai chủ vườn là Chúa Giêsu. Điểm nổi bật
trong dụ ngôn là sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Ngài cho tá điền ba cơ hội để sửa
đổi lối sống, ngay cả trước sự độc ác của họ.
Tôi biết ơn vì sự kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với tôi như thế
nào? Đưa ra vài thí dụ.
Biết lấy chi đến đáp Chúa bây giờ, Vì mọi ơn lành Ngài đã ban
cho? (Tv 115,1)
9.
Tôi có phải là tá điền không?
Dụ ngôn này tóm lược truyện trong Kinh thánh. Vườn nho biểu hiện
dân Israel. Chủ vườn nho là Thiên Chúa. Tá điền là những người lãnh đạo Israel.
Các tôi tớ là các ngôn sứ. Con trai chủ vườn là Chúa Giêsu. Các tá điền mới là
các Tông đồ của Chúa Giêsu.
Xét về mặt nào đó, tôi có giống tá điền ban đầu của vườn nho
không?
“Những sự việc này xảy ra cho họ để làm bài học, và đã được chép
lại để răn dạy chúng ta, là những người đang sống trong thời sau hết này.” (1Cr
10,11)
10.
Vị thiên thần dễ tính
Có một câu chuyện ngụ ngôn, với tựa đề là “vị thiên thần dễ
tính” kể lại như sau: Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham
dự vào quyền vạn năng của Thiên Chúa. Vị thiên thần đồng ý. Người thứ nhất xin
cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận,
nhưng lại ra điều kiện: “Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công.
Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”. Chàng ta đọc được ý
nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau
chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng. Chàng ta rất
hài lòng với những thành công đã đạt được. Nhưng chẳng bao lâu, từng người một,
các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại.
Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối
lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khoẻ cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc
nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được
để phục hồi sức khoẻ ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.
Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tới những
việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm: “Thiên Chúa sẽ không
cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành những việc phi thường đâu”.
Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời của mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu
toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thuỷ, một người
cha hiền tận tuỵ với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại,
hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh
phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình
cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân
sâu thẳm.
Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc
sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên
Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi
dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên
Chúa và phục vụ tha nhân.
THỨ
BẢY
Lời Chúa: Lc 15, 1-3. 11-32
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần
Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm
bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng.” Bấy
giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:
“Người kia có hai con trai. Ðứa em đến thưa cha rằng: “Thưa cha,
xin cha cho con phần gia tài thuộc về con.” Người cha liền chia gia tài cho các
con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở
đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn
đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một
người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn
cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho.
Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: “Biết bao người làm công ở
nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra
đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời
và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như
một người làm công của cha.” Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở
đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng
lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: “Lạy cha, con đã
lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa.” Nhưng
người cha bảo các đầy tớ: “Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo
nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để
chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy.”
Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng
đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ
nói: “Ðó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở
về mạnh khoẻ.” Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin
anh vào, nhưng anh trả lời: “Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề
trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để
ăn mừng với chúng bạn; còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản
của cha với bọn điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng
nó.” Nhưng người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều
là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã
mất nay lại tìm thấy.”
TRUYỆN
KỂ
1.
Chỗ dựa cho tội nhân
Văn hào Nga Dostoievki khi biết mình không còn sống bao lâu nữa,
đã gọi các con đến bên giường bệnh và yêu cầu vợ đọc cho chúng nghe dụ ngôn người
con hoang đàng. Khi bà vợ vừa dứt lời, Dostoievki nói như để lại di chúc riêng
của ông như sau:
“Các con yêu dấu, các con đừng quên những gì các con vừa nghe đọc.
Hãy tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, đừng bao giờ thất vọng về sự tha thứ của
Ngài. Cha thương các con vô cùng, nhưng tình thương của cha không thể sánh được
với tình yêu Thiên Chúa dành cho những ai Ngài đã tạo dựng.
“Cho dù các con có phạm tội ác, các con đừng bao giờ thất vọng về
Thiên Chúa. Các con là con cái Ngài, hãy khiêm tốn đến trước mặt Ngài. Hãy xin
Ngài tha thứ và Ngài sẽ vui mừng vì sự sám hối của các con, như người Cha đã
vui mừng khi người con hoang trở về.”
2.
Ký thác cuộc đời cho long Chúa xót thương
Danh họa Rembrandt, người Hà Lan, vào thế kỷ thứ XVII là một
thanh niên kiêu hãnh, tự hào về tài năng. Anh làm ra nhiều tiền, nhưng cũng
phung phí nhiều và cuối cùng mất hết tất cả.
Tiếp theo giai đoạn thành công và giàu có ngắn ngủi ấy là một
chuỗi những thất bại, tai họa và phiền muộn: Năm 1635, người con trai của ông
tên là Prubertus qua đời; ba năm sau đến lượt người con gái đầu tiên của ông là
Cornelia cũng ra đi, hai năm sau đó, chính người vợ của ông cũng từ giã cõi đời.
Ông phải sống cảnh gà trống nuôi con với một đứa con trai là Titô vừa mới được
chín tháng tuổi.
Sau khi vợ chết, ông toàn gặp khổ đau và thử thách, cuộc tình bất
hạnh với bà vú nuôi của Titô đã để lại cho ông thêm hai đứa con khác.
Trong những năm sau đó, mặc dù các nhà sưu tầm và giới phê bình
nghệ thuật nhìn nhận tài năng của ông, nhưng tiếng tăm của ông đã bắt đầu đi xuống.
Ông đã nhìn lại bản thân và cuộc đời để rồi ký thác cái nhìn về cuộc sống đầy
sóng gió của mình trong bức tranh nổi tiếng “Người con hoang đàng.”
3.
Chúa quên hết rồi.
Một bà già thường đến gõ cửa phòng cha xứ, kể cho ngài nghe rằng
đêm qua Chúa mới hiện ra với bà. Để làm bà nản lòng đừng đến nữa, Cha xứ bảo:
- Lần sau, nếu Chúa có hiện ra, bà hãy hỏi Ngài “Cha xứ con có tội
gì nặng nhất sau đó tới kể cho tôi nghe.”
Mấy ngày sau, bà già không đến nữa. Cha xứ mừng thầm vì bà đã
trúng kế của ngài. Nhưng một tuần sau đó, bà già trở lại.
- Thưa cha, tối hôm qua Chúa lại hiện ra với con.
- Thế bà có hỏi Ngài không?
Cha xứ bắt đầu hồi hộp:
- Bà hỏi thế nào?
- Thì con hỏi y như cha đã bảo: “Cha xứ con có tội gì nặng nhất”?
Cha xứ càng hồi hộp thêm:
- Vậy Chúa có trả lời không?
- Có chứ.
Bây giờ thì cha xứ lo lắng thật sự:
- Chúa nói sao?
- Chúa nói: “Ta đã quên hết rồi”
Cha xứ thở phào nhẹ nhõm (Kể theo ĐHY Nguyễn Văn Thuận).
4.
Lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa
Nhà truyền giáo T.R. Stevenson ở Thượng hải kể: một thương gia
giầu có ở Quảng đông có hai con trai, người con lớn thường kết bè tụ đảng với bọn
bất lương phá phách làng xóm. Một lần, quá túng, hắn dẫn cả một băng về cướp
ngay tại nhà mình.
Khi tội hắn bị lộ, người cha cho người đến nói với hắn: nếu biết
đường cải tà qui chánh thì sẽ được tha. Người nhắn còn bảo đây là lần gia ân cuối
cùng của ông chủ. Hắn chầm chậm đứng lên và quay về nhà cha. Một bữa tiệc đón
tiếp xem ra cũng vui vẻ, nhưng trong dĩa thức ăn của hắn có bỏ thuốc độc.
Hắn chết ngay đêm đó, nhưng người cha không bị ra toà vì theo luật
Trung hoa, cha có quyền giết con. Từ câu chuyện này, các nhà truyền giáo thường
đem đối chiếu với đoạn 15 Tin Mừng thánh Luca.
5.
Sống như Chúa đầy yêu thương và nhân từ
Trong một tuyển tập ngụ ngôn, tác giả người Ý, ông Yacob
Basavalti có kể câu chuyện như sau: Một tên cướp nọ muốn trút bỏ gánh nặng tội
lỗi đang đè nặng trên lương tâm, nên đã tìm đến với một linh mục. Nhưng vừa
nghe xong những lời thẳng thắn của linh mục, anh ta liền nổi giận, tuốt gươm
chém chết vị linh mục.
Một thời gian sau, cảm thấy hối hận, anh ta lại tìm đến một vị
linh mục khác, lần này vị linh mục cho biết để được ơn tha thứ của Chúa, anh phải
đến Tòa Thánh. Cũng thấy bị xúc phạm, anh ta liền tuốt gươm kết thúc cuộc đời vị
linh mục thứ hai.
Vị linh mục thứ ba mà tên cướp tìm đến xưng tội sẵn sàng ban
phép giải tội cho anh, nhưng về việc đền tội, ngài yêu cầu anh hãy đi chôn cất
tất cả những người chết mà anh gặp, đồng thời hãy khóc lóc như thể họ chính là
người thân của anh. Vị linh mục trao cho anh một cái chai nhỏ để hứng nước mắt.
Tên cướp ra về và nghe bất cứ nơi nào có đám tang, anh cũng tìm
đến, nhưng mắt anh vẫn luôn khô ráo, anh không thể nhỏ được một giọt nước mắt
nào. Cho đến một hôm tình cờ anh được đối diện với Chúa Giêsu đang khóc trên một
cây Thập Giá, anh nhìn lên và than thở với Chúa về nỗi khổ đau không hề biết
khóc là gì. Chính lúc đó, tự nhiên nước mắt anh trào ra.
Anh lấy chai đã nhận được từ tay vị linh mục trao cho để hứng lấy
và từ lúc đó anh đã hiểu được thế nào là sám hối. Sau đó anh đã tìm vào sa mạc
để sống những ngày còn lại.
6.
Luật công bình của tình yêu
Một ngày nọ, Thiên Chúa đi vào Thiên Đàng, và ngài ngạc nhiên
khi khám phá ra tất cả mọi người đều được vào đó cả. Thế là ngài dừng lại suy
nghĩ: “Phải chăng Ta không phải là Đấng công bình vô cùng.”
Ngài liền cho gọi sứ thần Gabriel:
- Ngươi hãy tập trung mọi người lại trước mặt Ta và đọc cho họ
nghe 10 giới răn của Ta.
Tất cả mọi người đều đến trình diện trước tòa Chúa. Sứ thần
Gabriel đọc giới răn thứ nhất, và Chúa phán:
- Tất cả những ai đã phạm giới răn thứ nhất hãy xéo khỏi mặt Ta,
và đi vào hỏa ngục.
Một số người từ từ ra khỏi đám đông, buồn bã đi vào hỏa ngục.
Sứ thần tiếp tục đọc các giới răn khác, và cứ sau mỗi giới răn
thì có một số người lặng lẽ đi vào hỏa ngục như trên.
Sau khi sứ thần Gabriel đọc giới răn thứ 6, thì cả đám đông đều
tự động đi vào hỏa ngục, chỉ còn lại vị ẩn sĩ già, đầu hói, “béo mập.”
Thiên Chúa đưa mắt nhìn sứ thần rồi hỏi:
- Phải chăng chỉ có người này được vào Thiên Đàng thôi sao? Nếu
vậy thì hắn phải cô độc lẻ loi lắm.
Nói xong, Thiên Chúa truyền lệnh cho sứ thần gọi đám đông lại và
cho họ được trở lại Thiên Đàng. Nhìn thấy đám người tội lỗi xấu xa bỗng nhiên
có được sự tha thứ, vị ẩn sĩ già bèn nổi giận và hằn học nói:
- Chúa không phải là Đấng công bình. Tại sao Chúa không cho con
biết trước điều đó.
Đây quả là hình ảnh của người anh trong dụ ngôn: Rất hẹp hòi với
anh em mình.
7.
Tình yêu và tự do
Ông Voltaire, một nhà triết học nổi tiếng đã lạm dụng quyền tự
do Chúa ban để chối Chúa và xúi người khác bắt chước ông qua câu chuyện ông tự
dựng nên:
Thần Jupiter tự phong mình là Đấng tạo dựng vũ trụ. Ngày kia ông
cho gọi Ores đến trình diện và tra hỏi:
- Này Ores, ngươi có biết Ta là ai không?
Ores khinh khỉnh:
- Ông định nói ông là Chúa của tôi chứ gì? Tôi nói cho ông hay:
ông là Chúa của ai mặc ông. Nhưng tôi cấm ông không được tự cho mình là Chúa của
tôi!
Thần Jupiter thịnh nộ:
- Tên khốn kiếp kia, Ta không phải là Chúa của ngươi, thì ai đã
dựng nên ngươi!?
Ores cười sặc sụa:
- Ừ, thì cứ tạm cho là ông đã dựng nên tôi vậy. Nhưng ông ngu lắm
không! Ông dựng nên tôi mà sơ hở để cho tôi có tự do. Vì thế tôi được tự do chối
ông: Ông không phải là Chúa của tôi!?
Vậy ai không biết dùng quyền tự do để “nhận biết Thiên Chúa, thì
tự bản chất nó là đứa ngu đần” (x Kn 13, 1), và kẻ nào “không yêu mến Thiên
Chúa, nó là đồ khốn kiếp” (1Cr 16, 22 - Bản dịch CGKPV). Do đó “ai không đếm xỉa
đến việc nhận biết Thiên Chúa, Ngài để cho trí não nó ngông cuồng làm điều bất
xứng” (Rm 1, 28). Bởi đó, muốn thanh tẩy tội mình, chỉ có cách là kết hợp với
Chúa Giêsu, đi chung đường phục vụ với Ngài (x 1Ga 2, 6). Đó mới thực là Đức
Ái, và nhờ Đức Ái, tội lỗi ta được phủ lấp (x 1Pr 4, 8).
Chúa đã ban tự do cho con người thì không bao giờ Ngài rút lại,
dù Ngài biết ta chọn lầm, Ngài cũng không cưỡng bách ta phải chọn và thi hành
điều đúng. Đan cử như môn đệ Giuđa phản Thầy, nhiều lần Đức Giêsu khuyên hắn bỏ
ý định nộp Thầy, nhưng rồi Ngài cũng để cho hắn tự do hành động theo ý riêng,
chỉ vì chọn 30$ hơn mạng sống Thầy! Trừ khi ta biết cầu nguyện với Ngài. Do đó
ông Phaolô đã ba lần xin Chúa rút cái dằm khỏi ông, đừng để Satan đâm vào thân
xác (ông ở trong tình trạng tội lỗi), nhưng Chúa bảo: “Ơn Ta đủ cho ngươi, vì
quyền năng của Ta chỉ biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (x 2Cr 12, 7-10). Ông
Phaolô hiểu được mầu nhiệm sự dữ như thế, nên ông nói: “Thiên Chúa đã dồn mọi
người vào hàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dủ lòng thương hết mọi người” (Rm 11,
32).
8.
Tự do Chúa ban để mỗi người cộng tác với ơn Chúa
Bức danh họa Tiệc Ly do ông Leonardo da Vinci vẽ trên tường rộng
lớn tại nhà cơm Tu viện Đaminh Đức Mẹ Giáng Ân, trong thành Milan nước Ý, vào
khoảng năm 1495. Ông Leonardo da Vinci kể lại lịch sử khi ông quyết định vẽ bức
họa này:
Tôi muốn thực hiện bức họa Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, việc khó
nhất của tôi là đi tìm một khuôn mặt nào thật dễ mến, đầy nghị lực, nhất là
toát ra sự thánh thiện để làm mẫu vẽ Chúa Giêsu. Cuối cùng tôi đã tìm được một
thanh niên tên là Pietri Bandielli! Các Tông Đồ của Chúa Giêsu thì rất dễ đối với
tôi, tôi cứ tưởng tượng thế nào thì vẽ như vậy. Trừ có khuôn mặt của Giuđa, tôi
chưa tìm được mẫu người để diễn tả về một kẻ tham tiền, đểu cáng…! Tôi đi khắp
nơi: vào các quán rượu, xuống tận hầm mỏ, và phải mất một thời gian dài, cuối
cùng thì tôi cũng chọn được một người, gặp anh ta là tôi ưng ý ngay. Tôi liền
ngỏ lời: xin ngồi làm mẫu cho tôi vẽ…! Đang khi vẽ, tôi chợt cảm thấy anh này
tôi đã nhìn thấy ở đâu rồi, trông quen quen! Tôi liền hỏi anh:
- Này anh, hình như tôi đã gặp anh ở đâu rồi thì phải.
Người ấy đáp:
- Ông không nhớ tôi sao, cách đây khá lâu, chính ông đã nhờ tôi
làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu, tên tôi là Pietri Bandielli. Sau ngày tôi gặp ông,
tôi đã sa đà vào con đường trụy lạc, vì bị bạn bè lôi kéo, giờ tôi sống rất khổ
sở…!
Lúc đó nhà danh họa nhớ lại Chúa Giêsu đã dạy:
“Khi thần ô uế xuất khỏi một người, nó đi tìm chốn nghỉ ngơi mà
tìm không ra. Bấy giờ nó nói: “Ta sẽ trở về nhà ta nơi ta đã bỏ ra đi, ” khi đến
nơi, nó thấy nhà để trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi, nó liền đi
kéo thêm 7 thần khác dữ tợn hơn nó, và chúng ở đó. Rốt cuộc tình trạng người ấy
lại tệ hơn trước!” (Mt 12, 43-45)
LỄ KÍNH – GIUSE - NGƯỜI CÔNG
CHÍNH
Lời Chúa: Mt 1, 16. 18-21. 24a
Giacóp sinh Giuse là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Ðức
Kitô. Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây:
Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với
nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của bà là người công
chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo.
Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng
ông trong giấc mơ và bảo: "Hỡi Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về
nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ
một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội.”
Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền.
TRUYỆN
KỂ
1.
Thánh Gioan Phaolô II Nói Về Gương Thánh Giuse
Anh chị em rất thân mến,
Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse. Vào trung tâm
của Mùa Chay, Phụng vụ trình bày cho chúng ta vị thánh vĩ đại này như là gương
mẫu để noi theo, và như là Ðấng bảo vệ để chúng ta cầu khẩn.
Trước hết, thánh Giuse là mẫu gương sống Ðức Tin cho chúng ta.
Như Tổ Phụ Abraham, thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác
cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là
khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên "Lời Ngài" đã
phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Ðịnh của Chúa.
Hơn nữa, chúng ta được mời gọi noi gương Ngài, trong việc khiêm
tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi Ngài trong nếp sống
thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất. Trường học Nazareth quý giá biết bao cho
con người thời nay, bị bao vây bởi một nền văn hóa rất thường đề cao vẻ bề
ngoài và sự thành công, đề cao sự độc lập và một quan niệm sai lầm về tự do cá
nhân. Ngược lại, thật là cần thiết biết bao, việc phục hồi lại giá trị của sự
đơn sơ và vâng phục, sự tôn trọng và yêu mến đi tìm thánh ý của Thiên Chúa.
Thánh Giuse đã sống phục vụ cho vị hôn thê của mình và cho Con
Thiên Chúa; và như thế, đối với các tín hữu, thánh Giuse trở thành chứng tá
hùng hồn cho biết phải cai trị hay phục vụ như thế nào. Ðặc biệt, tất cả những
ai, trong gia đình, trong trường học và trong giáo hội, có trách vụ sống làm
cha, làm người hướng dẫn, đều có thể nhìn về thánh Giuse, để được huấn luyện sống
tốt lành. Nhất là tôi nghĩ đến những người cha, mừng lễ của họ vào đúng ngày lễ
dành cho thánh Giuse. Tôi cũng nghĩ đến tất cả những ai mà Thiên Chúa đã thiết
lập trong giáo hội để thực hiện "tình cha thiêng liêng.”
Nguyện xin thánh Giuse, vị thánh mà dân Kitô tin tưởng khẩn cầu,
luôn hướng dẫn những bước tiến của đại gia đình Thiên Chúa. Xin thánh nhân hãy
đặc biệt trợ giúp cho những ai đang chu toàn vai trò làm cha tự nhiên hoặc
thiêng liêng. Xin thánh Giuse hãy cùng đồng hành với những lời khẩn cầu của
chúng ta và xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta, Mẹ là vị hôn thê đồng
trinh của thánh Giuse và là Mẹ của Ðấng Cứu Chuộc.
+ Gioan Phaolô II
(bản dịch của Nguyễn Việt Nam)
2.
Thánh Giuse thinh lặng--GM G.B Bùi Tuần
Đọc Phúc Âm để tìm hiểu thánh Giuse, tôi thấy một bầu khí âm thầm
bao phủ Ngài. Có một chọn lựa khiêm nhường trong bầu khí đó. Khiêm nhường ấy đầy
khó nghèo và khôn ngoan.
Ngắm nhìn các ảnh tượng thánh Giuse, tôi thấy lòng sùng kính các
nơi dành cho thánh Giuse thực rất phong phú và đa dạng.
Nhưng năng lui tới thánh Giuse trong đời sống hằng ngày, nhất là
qua các giờ phút cầu nguyện, gẫm suy, tôi thấy thánh Giuse rất gần gũi, rất sống
động, nhất là rất dễ thương. Có một điểm dễ thương nơi Ngài đã gây ấn tượng sâu
sắc nơi tôi, đó là sự thinh lặng của Ngài.
Sự thinh lặng của Ngài là trường dạy tôi về tu đức, mục vụ và
truyền giáo. Tôi gọi đây là sự thinh lặng thánh. Bởi vì không phải thinh lặng
nào cũng tốt cả. Ai cũng biết có vô số thứ thinh lặng tiêu cực. Như thinh lặng
vì kiêu căng. Thinh lặng vì lập dị. Thinh lặng vì dốt nát. Thinh lặng vì sợ sệt.
Thinh lặng vì bất cần. Thinh lặng vì dửng dưng. Thinh lặng vì hờn giận. Thinh lặng
vì ích kỷ vv… Trái lại, sự thinh lặng của thánh Giuse là một hoạt động thường
xuyên tích cực.
3.
Đi trong đêm đen
Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng
Thánh Giuse vẫn bước đi. Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu.
Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển
ban đêm: “Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh,
làm ánh sáng loé lên chung quanh mình.”
Thánh Giuse đã chiến đấu. Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé
lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.
Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường.
Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với
Chúa.
Trong đêm tối im lặng. Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao
thức, lắng nghe, đón chờ. Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một
phím đàn mỏng. Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung
lên. Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.
Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối. Khiêm
nhường chìm vào quên lãng. Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm. Ngài có
cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ
đi.”
Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó
thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa. Hoàn toàn phó thác cho Chúa. Để Chúa dẫn đường
qua đêm đen mù mịt.
Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen. Xin hãy thắp
lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình
an.
4.
Lễ dính hôn của Maria
Tôi nhớ lại một bức tranh của nhà danh họa Raphael với tựa đề “Lễ
Đính Hôn của Maria.” Năm 1983, UNESCO có khởi xướng mừng kỷ niệm 500 năm ngày
sinh của Họa sĩ Raphael, dịp đó Việt Nam đã cho in một con tem. Trên con tem in
phần trọng tâm của bức họa “Lễ Đính Hôn của Maria”: cảnh Thánh Giuse đang trao
nhẫn cưới cho Đức Maria, trước sự chứng kiến của một thày Tư Tế.
Nếu xem bản gốc của bức tranh, thì thấy hậu cảnh là ngôi đền thờ
hình đa giác, có một sân thật rộng. Cận cảnh là lễ đính hôn. Một thầy tư tế đứng
giữa thánh Giuse và Đức Mẹ. Sau và cạnh thánh Giuse là 5 chàng trai phù rể, đối
diện phía bên kia, sau Đức Mẹ là 5 thiếu nữ phù dâu. Thánh Giuse đang long trọng
xỏ nhẫn cho Đức Mẹ bằng tay phải. Tay trái cầm cây gậy gỗ trổ bông, dấu hiệu của
người đã được tuyển chọn. Chỉ có cây gậy của Thánh Giuse trổ bông, còn những
cây gậy của 5 chàng thanh niên khác thì khô chồi. Hai trong những thanh niên
này, thất vọng, đang bẻ gãy cây gậy của mình.
Theo như bài chú giải về bức tranh, chiếc nhẫn nhỏ bé đó chính
là trọng tâm, nói lên toàn bộ ý nghĩa của bức tranh: Lễ đính hôn của Đức Mẹ và
Thánh Giuse. Hình ảnh chàng thanh niên đang chủ động xỏ chiếc nhẫn đính hôn vào
tay vị hôn thê của mình với khuôn mặt tràn đầy hạnh phúc.
Có lẽ phải trải qua nhiều cố gắng lắm mới Giuse mới đạt được ước
mơ của mình: có được Maria làm vị hôn thê của mình. Vì có nhiều người thanh
niên khác trong làng cũng để ý Maria. Điều này họa sĩ Raphael họa lại thật sống
động qua cảnh 2 chàng thanh niên, vì thất vọng và bực tức, đang bẻ gãy chiếc gậy
của mình.
5.
Thánh Giuse – gia trưởng
Ông Socrate, xưa là một nhà hiền triết Hy Lạp có một bà vợ dữ tợn
và lắm đều, nhưng ông cứ bình tĩnh chịu đựng. Một hôm bà ta xỉa xói ông những
điều thậm tệ, ông im lặng khoác áo ra đi, bà ta còn chạy theo hất một chậu nước
vào ông. Nhà hiền triết quay lại thái độ bình tĩnh nói: Tôi biết mà! Sau cơn
giông tố thì thể nào cũng đổ mưa! Thế rồi ông cứ bình tĩnh bước đi.
Thưa các ông là những người cha gia đình,
Sứ mạng Chúa trao cho các ông thật là cao cả tựa như sứ mạng của
Thánh Giuse, trách nhiệm của các ông cũng rất nặng nề, hoàn cảnh hiện nay cũng
đầy khó khăn phức tạp. Chẳng hạn gia đình túng thiếu, việc làm ăn vất vả đi sớm
về khuya, còn giờ đâu mà dạy dỗ con cái. Đang khi ấy thì bao nhiêu quyến rũ bên
ngoài, bao nhiêu tệ nạn xã hội lôi kéo con cái ta vào con đường hư hỏng: cờ bạc,
trộm cắp, nghiện hút, bạn bè xấu, phim ảnh trụy lạc… Nhiều lúc các ông cảm thấy
khổ tâm và bất lực, các ông lo lắng nhìn con cái và tự hỏi: Sau này chúng sẽ ra
sao? Còn giữ vững đức tin hay bỏ đạo? Còn trung thành với nền nếp gia đình hay
trở nên người hư hỏng
Dù sao chúng ra cũng không thể ngã lòng nản chí, vì quyền năng của
Thiên Chúa thường biểu lộ ra trong sự yếu đuối và bất lực của con người, lúc
chúng ta thấy mình yếu đuối là lúc chúng ta mạnh.
Vậy chúng ta hãy đến cùng Thánh Giuse, xin Người hộ giúp. Xưa
Thánh Giuse cũng sống đời sống gia đình như ta. Người đã làm đầu coi sóc mọi sự
trong nhà Đức Mẹ mà nay người là Đấng mọi nhà phải cậy trông cho được vững
vàng.
Thánh Giuse thấu hiểu hơn ai hết những nỗi khó khăn phức tạp của
đời sống gia đình. Người cũng hiểu hơn ai hết vai trò và trách nhiệm của người
cha gia đình. Do đó, với một tình thông cảm bao la, Thánh Giuse luôn sẵn sàng hộ
giúp các người cha gia đình, khi đến cầu xin Người.
Sau cùng, tôi đề nghị anh chị em, nhất là các bà mẹ, cầu nguyện
nhiều cho các gia đình có một người gia trưởng giống như Thánh Giuse, thì đời sống
gia đình ta sẽ hạnh phúc biết bao. Người ta kể lại: Một người mẹ gia đình đến
xin một luật sư biện hộ cho mình trong dự định ly hôn với ông chồng. Bà nói:
Ông nhà tôi quá thể, tôi không chịu nổi, tối nào về cũng say khướt rồi đánh mắng
vợ con, đập phá đồ đạc om sòm nhà cửa… Luật sư hỏi: Khi ấy thì bà làm gì?- Tất
nhiên tôi phải lên tiếng cãi lại không chịu ngồi yên. Luật sư nói: Tôi nghĩ nhà
bà còn thiếu một cái. Thiếu cái gì? Thiếu một cái ghế quì. Nếu khi ông nhà bà
say sưa, đánh mắng như vậy, bà cứ yên lặng quì cầu nguyện cho ông sửa đổi tính
nết thì sẽ có kết quả hơn nhiều.
Trên đây là một bài học rất khôn ngoan và thâm thúy, mong rằng
chúng ta đem ra áp dụng trong đời sống gia đình khi gặp trường hợp tương tự.
Amen.
6.
Quét lá rừng
Có một người làm công, ngày ngày đi quét lá rừng rụng xuống, gom
lại một nơi rồi hốt đi. Một hôm một đoàn người lên rừng chơi, thấy người quét
lá, họ rất đỗi ngạc nhiên, và họ càng ngẩn ngơ khi biết rằng chính Hội đồng
Thành phố đã thuê với số lương 7000 đồng một tháng.
Sau một hồi vãn cảnh, đoàn người trở về. Một số người tìm đến
ông Chủ tịch Hội đồng thành phố đề nghị hủy bỏ phụ khoản chi tiêu cho việc quét
lá rừng vì quá vô ích. Ông Chủ tịch cũng như Hội đồng chẳng hiểu căn do của phụ
khoản kia, vì họ chỉ làm theo truyền thống, nên cuối cùng quyết định không thuê
người quét lá rừng nữa.
Ngay giữa thành phố có một cái hồ rộng lớn, nước trong xanh, cây
to in bóng mát, người qua lại dập dìu. Mọi người ca tụng nó là viên ngọc trai
điểm trang cho thành phố. Nhưng lạ thay, một tháng sau ngày người quét lá rừng
nghỉ việc, nước hồ trở nên đục ngầu bẩn thỉu, không còn thấy bóng người hóng
gió ngoạn cảnh, quán xá bên bờ hồ vắng tanh... Cả thành phố trở nên buồn tẻ mà
không hiểu tại đâu. Hội đồng Thành phố nhóm ngay phiên họp bất thường để tra
xét hiện tượng trên. Và sau cùng họ tìm ra nguyên nhân: do người phu quét lá rừng
nghỉ việc nên lá rừng rụng xuống, gió đùa lá bay tứ tung trên mặt đường, rồi
rơi xuống hồ nước trong xanh, gây nên tình trạng ô nhiễm...
Và ngay hôm đó họ tái dụng người phu quét lá với số lương còn
cao hơn xưa.
7.
Cao trọng trong tầm thường
a- Bài học đầu tiên là đừng coi thường những cái tầm thường, những
con người bề ngoài rất tầm thường. Kinh nghiệm mục vụ linh mục của tôi cho thấy,
phần đông những người thánh thiện lại có một cuộc sống rất tầm thường trước mặt
mọi người. Một Gioan XXIII mà Giáo Hội đã phong lên hiển thánh nay mai. Một
Têrêsa Calcutta cũng sắp được Giáo Hội tôn phong lên như thế.
b- Bài học thứ hai là thánh Giuse là tấm gương cho mọi người cha
gia đình cũng như cho mọi người chúng ta: nên thánh trong việc chu toàn bổn phận
tầm thường của mình một cách anh hùng.
Một cô gái kia cuộc đời thật là bất hạnh: bị mồ côi cha từ lúc
6, 7 tuổi, lúc lên 12 tuổi mẹ cô lại qua đời. Từ đó cô thay mẹ chăm sóc cho mấy
đứa em nhỏ của cô. Lúc 16 tuổi cô bị lâm bệnh nặng.
Một bà đến thăm và an ủi cô. Bà này hỏi:
- Cháu có sợ chết không? Đừng sợ cháu à! Chết là được về với
Chúa, đó là điều hạnh phúc nhất đấy cháu ạ.
Cô bé trả lời:
- Thưa bà, cháu không sợ chết. Nhưng cháu không biết là khi gặp
Chúa, cháu sẽ phải nói làm sao vì cháu chưa làm được gì cho Chúa cả. Cháu muốn
phục vụ Chúa, nhưng từ khi mẹ cháu chết, cháu phải lo nuôi mấy đứa em cháu, vì
thế mà cháu chẳng còn thì giờ nào làm được việc gì cho Chúa.
Người đến thăm cô bé, nắm lấy tay cô, bàn tay gầy guộc và nói:
- Khi gặp Chúa, cháu không cần nói gì cả vì Chúa biết rõ lòng của
cháu rồi, cháu đã làm tất cả những gì cháu có thể làm rồi.
Làm tất cả những gì có thể làm, đó chính là điều mà chúng ta phải
cố gắng. Điều quan trọng đối với Chúa, không phải là chúng ta đã làm được những
gì và làm được bao nhiêu nhưng là chúng ta có cố gắng làm những điều mà chúng
ta có thể làm hay không.
Chúa ban cho chúng ta, mỗi người những khả năng khác nhau, trước
mắt loài người, những khả năng đó có thể bị kẻ khác coi là tầm thường, nhưng
trước mặt Chúa thì không có khả năng nào hơn khả năng nào.
Một người dù đã làm hết sức nhưng vẫn không đạt đến những thành
quả được người đời đánh giá cao, thì trước mặt Thiên Chúa người đó đáng được
lãnh phần thưởng trọng hậu rồi.
Trước mắt Chúa tất cả chúng ta chỉ là những người quản lý. Nhiệm
vụ của người quản lý là đem hết khả năng của mình ra để làm cho số vốn đã được
cấp phát sinh lợi ra. Chúa chỉ đòi hỏi chúng ta có thế.
8.
Chọn người
Ogilvy and Mather là một công ty quảng cáo lớn. Khi muốn lập ra
công ty và muốn cho công ty đó hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận, ông David
Ogilvy người sáng lập ra công ty đã nghĩ ra một cách làm như thế này: Ông đã
cho mời các vị lãnh đạo cộng tác với ông lại, tặng cho mỗi người một con búp bê
Nga, bên trong đó có năm tấm hình người theo thứ tự mỗi lúc mỗi nhỏ dần. Trong
tấm hình người bé nhất ông dán vào đó một tờ giấy nhỏ có ghi mấy hàng chữ ”nếu
mỗi người trong chúng ta chọn những cộng sự nhỏ hơn mình, chúng ta sẽ trở nên một
công ty của những người lùn. Nhưng nếu chúng ta chọn những người cộng sự lớn
hơn mình, thì lúc ấy Ogilvy and Mather sẽ trở thành một công ty của những người
khổng lồ”
Và quả thật, Ogilvy and Mather đã trở thành một trong những công
ty quảng cáo lớn nhất và được kính trọng nhất thế giới.
Những nhà lãnh đạo ngày nay cũng thường làm như vậy. Chọn những
con người có trình độ, có năng lực có kinh nghiệm.
9.
Đạo đức cần hơn tài năng
Chúa yêu thích sự công chính đạo đức. Tại sao thế? Chúng ta thừa
biết một xã hội mà thiếu những con người đạo đức công chính thánh thiện thì xã
hội ấy sẽ ra sao.
Vào năm 1729 Ben Franklin một nhà tư tưởng lớn của Mỹ đã nói những
lời như thế này trước một cử tọa đến nghe ông “Nếu chúng ta vẫn chuyên chăm để
trở nên vĩ đại như chuyên chăm trở nên tốt lành thì ta sẽ trở nên vĩ đại thực sự
và con số những người đáng nể phục sẽ tăng lên rất nhiều. Nhưng sẽ là một sai lầm
lớn nếu chúng ta nghĩ rằng mình có thể trở nên vĩ đại mà không cần có sự đạo đức”
rồi như dằn từng tiếng ông khẳng định ”Và tôi khẳng định rằng không bao giờ có
một con người thật sự vĩ đại mà đồng thời lại không thật sự đạo đức.”
Đây là lời của sách Khôn ngoan: “Nếu trên đời này, giàu sang là
báu vật ai ai cũng khao khát, thì còn có gì giàu sang hơn Đức Khôn Ngoan, vì Đức
Khôn Ngoan làm nên tất cả?” (Kn 8,5).
10.
Chúa biết lòng người
Một cô kia cuộc đời thật là bất hạnh: bị mồ côi cha từ lúc 6, 7
tuổi, lúc lên 12 tuổi mẹ cô lại qua đời. Từ đó cô thay mẹ chăm sóc cho mấy đứa
em nhỏ của cô. Lúc 16 tuổi cô bị lâm bệnh nặng.
Một bà đến thăm và an ủi cô. Bà này hỏi: Cháu có sợ chết không?
Đừng sợ cháu à! Chết là được về với Chúa, đó là điều hạnh phúc nhất đấy cháu ạ.
Cô bé trả lời: Thưa bà, cháu không sợ chết. Nhưng cháu không biết
là khi gặp Chúa, cháu sẽ phải nói làm sao vì cháu chưa làm được gì cho Chúa cả.
Cháu muốn phục vụ Chúa, nhưng từ khi mẹ cháu chết, cháu phải lo nuôi mấy đứa em
cháu, vì thế mà cháu chẳng còn thì giờ nào làm được việc gì cho Chúa.
Người đến thăm cô bé, nắm lấy tay cô, bàn tay gầy guộc và nói:
Khi gặp Chúa, cháu không cần nói gì cả vì Chúa biết rõ lòng của cháu rồi, cháu
đã làm tất cả những gì cháu có thể làm rồi.
Vâng Chúa biết rõ lòng của chúng ta. Làm tất cả những gì có thể
làm, đó chính là điều mà chúng ta phải cố gắng. Điều quan trọng đối với Chúa,
không phải là chúng ta đã làm được những gì và làm được bao nhiêu nhưng là
chúng ta có cố gắng làm những điều mà Chúa muốn chúng ta làm hay không. Thánh
Giuse đã làm như thế trong cả cuộc đời của Ngài. Và ngày nay Ngài đã được Chúa
ân thưởng vinh quang trên nước trời.
11.
Giá trị của thinh lặng
Xưa một nhà vua Ấn Độ, muốn thử nhân tài của một nước Chư hầu liền
gửi tới nước này ba pho tượng vàng, giống hệt nhau. Nhà vua Ấn Độ yêu cầu nhà
vua Chư hầu cho biết trong ba pho tượng vàng này, đâu là pho tượng quí giá nhất.
Nhà vua nước Chư hầu cho triệu tập các nhà thông thái tới để
đánh giá ba pho tượng vàng này, tìm ra xem pho tượng nào quí giá nhất. Các nhà
thông thái nghĩ ngay tới giá trị của mỗi pho tượng sẽ căn cứ vào cân nặng nhẹ,
hoặc vào tuổi vàng tốt xấu, hoặc căn cứ vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng
vàng! Nhưng rồi các nhà thông thái đành phải bó tay, vì ba pho tượng này giống
hệt nhau về nghệ thuật, khối lượng và tuổi vàng.
Nhà vua nước Chư hầu rất buồn, vì không biết được giá trị hơn
kém của ba pho tượng. Vua liền cho loan báo khắp nước: Ai tìm được bí mật giá
trị của mỗi pho tượng sẽ được trọng thưởng.
Có một người tù, biết chuyện xin được xem ba pho tượng và nếu
anh ta tìm ra giá trị hơn kém của ba pho tượng này thì anh chỉ xin một điều kiện
là cho anh được tự do. Lập tức nhà vua cho anh xem ba pho tượng. Vừa ngó xong
ba pho tượng, anh ta xin một cọng rơm. Chỉ trong ít phút, anh đã khám phá ra
giá trị hơn kém của ba pho tượng vàng.
Anh lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng
rơm xuyên từ lỗ tai này sang lỗ tai kia, anh bảo: “đây là pho tượng ít giá trị
nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người nghe điều gì, vừa vào tai nọ, đã ra tai
kia, không biết ghi nhớ, không để tâm gì suy nghĩ điều đã nghe.”
Anh ta lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ hai, thì
thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống miệng pho tượng. Anh bảo: “pho tượng này
hơn pho tượng trước là vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ
nhưng mắc khuyết điểm là: vừa nghe được gì đã vội nói ngay, không suy nghĩ xem
điều mình nghe đúng hay sai, nói ra có lợi hay có hại.”
Anh lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ ba, thì thấy
cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống bụng. Anh nói: “pho tượng này quý giá nhất,
vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ, biết để lòng suy nghĩ, biết
ghi vào tâm dạ mình.”
Vua nước lớn nghe được lời giải đáp của thần dân nước nhỏ thì
vô cùng kính nể. Ông về nói với các quan trong triều: “Nước họ có người thông
minh tài giỏi như vậy, hẳn nước họ là nước mạnh mẽ, hưng thịnh, ta nên giao hoà
với họ chứ không nên giao chiến.”
Trong các sách Tin Mừng dù có nhắc tên Thánh Giuse đôi lần,
nhưng không hề thuật lại bất cứ lời nào của thánh Giuse. Có lẽ không phải vì vô
tình mà Thánh Kinh không ghi nhận một lời nào của Thánh Giuse, nhưng muốn đề
cao giá trị của sự thinh lặng.
12.
Thánh quan thầy giáo hội Việt Nam
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh hoàn vũ, chúng ta long trọng
cử hành lễ Thánh Giuse, bạn Đức Trinh Nữ Maria, Cha nuôi Chúa Cứu thế, và được
mệnh danh là ‘Người Công Chính” hay là “Vị quản lý trung tín và không ngoan mà
Chúa đã cắt đặt để trông coi Nhà Chúa” (CNL).
Ngày lễ nầy ra đời vào thế kỷ 15, và kể từ năm 1621 đã được mừng
kính trong khắp cả Giáo Hội. Vào năm 1847, ĐGH Piô IX đã tôn phong Thánh Giuse
làm quan thầy của toàn thể Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ghi tên
Thánh Giuse vào lễ qui Rôma…
Đối với lịch sử Giáo Hội Việt nam, Ngày lễ Thánh Giuse 19. 3 còn
là một cột mốc quan trọng trong cuộc hành trình truyền giáo: vào chính ngày nầy,
19. 3. 1627, phái đoàn truyền giáo của Cha Đắc Lộ đã cập bến Cửa Bạng ở Đàng
Ngoài để đem Tin Mừng cho dân tộc Việt nam. Đó cũng là một lý do để Hội Thánh
Việt nam chọn Thánh Giuse làm quan thầy.
13.
Thánh Giuse, vị thánh tuyệt vời--Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Tôi còn nhớ, một hôm tôi đang ngồi đọc Kinh Nhật Tụng trong
phòng, nhìn ra cửa sổ, tôi thấy một chị Dân tộc vai đeo một đứa con nhỏ và tay
dắt một đứa khác đang đứng ngoài sân Nhà xứ, tôi làm dấu, gấp sách lại và ra gặp
chị, tôi chào và hỏi chị:
- Chị ở đâu tới đó?
Chị chào tôi: ( Niam să Bap – chào Cha ).
Tôi chào chị và nói:
- Chị đi đâu đấy?
- Con xin rửa tội cho con của con ( An dăn Bap rào tis oh ăn dê
).
- Sao chị sinh hai đứa gần nhau thế?
- Chúa, Mẹ và Thánh Giuse cho.
Tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi chị nói tới cả Thánh Giuse và
thán phục về đức tin của chị.
Tôi thầm cám ơn Chúa vì Ngài đã cho những người nhỏ bé, những
người ít học, ít chữ biết Thánh Giuse. Tôi mời chị vào nhà thờ, rồi tôi rửa tội
cho đứa con trai bé của chị mới sinh được hơn một tháng.
Trước ảnh Đức Mẹ Ban Ơn và Thánh Giuse, tôi đã tạ ơn hai Đấng và
nói với chị cám ơn Mẹ và Thánh Giuse. Chị đã cúi đầu rất sốt sắng cầu nguyện tạ
ơn Đức Mẹ và Thánh Giuse. Chị đã trao, đã dâng đứa con trai bé nhỏ cho Thánh
Giuse. Tôi rất cảm động về thái độ, cử chỉ cung kính của chị dân tộc Kơho đối với
Chúa, Mẹ Maria và Thánh Giuse.
Tháng thánh Giuse, người Dân tộc thường có thói quen hái bông rừng
dâng kính Thánh Giuse. Hôm nay, tháng 3 đã đi được một nửa, mùa chay đã về, ngồi
đây, tôi nghĩ lại những tháng ngày ở vùng truyền giáo Dân tộc Kơho. Tập tục,
nhân sinh quan, vũ trụ quan của họ như: Ù dùl kơnắc (đất một cục). Rắc dùl nơm
rơsòn (chim một tổ). Tê kăc kòe (tay suốt lúa). Yơng lot gùng (chân để đi) bơr
rắc Yàng, dơschờ (miệng để cầu nguyện, để hát) vv…giúp tôi càng hiểu người Dân
tộc hơn.
14.
Thánh Giuse, người Cha tuyệt vời
Tác giả người Nga tên Mikhain Vanolov viết một truyện ngắn tựa đề
“Người Cha” như sau:
Trong gia đình chỉ có hai cha con. Người cha và cô con gái. Người
cha rất thương yêu cô con gái của mình. Ông chăm sóc cô thật chu đáo. Nhưng cô
lại rất khó chịu về sự chăm sóc quá tỉ mỉ của người cha già. Cô thường gọi cha
mình là “ông già lẩm cẩm” khi ông nhắc nhở: ra đường nhớ đội mũ nón; đi đường mắc
mưa thì về phải uống thuốc kẻo bệnh. v. v…
Vì làm văn phòng cho một trường trung học nên cô gái thường về
muộn. Dù mọi người đã ra về hết, nhưng cô gái vẫn phải ở lại để sắp xếp giấy tờ
cho ổn định rồi mới ra về.
Hôm ấy, khi cô khóa cửa văn phòng để về thì trời bắt đầu tối.
Khu trường học vắng tanh không một bóng người. Bỗng nhiên, trước mặt cô xuất hiện
ba người đàn ông với bộ mặt hung dữ từ từ bước tới phía cô.
Cô gái sợ hãi hét lên cầu cứu và bỏ chạy ra phía chiếc xe hơi của
cô đậu ở sân trường. Ba người đàn ông lập tức đuổi theo. Cô gái vừa chạy vừa
đưa tay vào túi lấy chìa khóa. Nhưng vì quá run rẩy nên cô làm rớt chìa khóa xuống
đất. Cô cúi xuống tìm kiếm. Nhưng mắt cô hoa lên không nhìn thấy gì cả. Đang
khi đó, ba người đàn ông tiếp tục chạy về phía cô. Cô đành bỏ, không tìm chìa
khóa nữa, chạy tiếp đến chiếc xe. Đến nơi, cô không biết làm gì hơn là đưa tay
vào chiếc ví để tìm kiếm một cái gì đó có thể cứu cô trong lúc nguy hiểm này.
Thật kỳ lạ! trong một ngăn nhỏ của chiếc ví, tay cô chạm vào một
vật bằng kim loại. Cô cầm lấy nó. Ồ! Chiếc chìa khóa! Không kịp suy nghĩ, cô cầm
chìa khóa tra vào lỗ khóa. Cửa xe bật mở, cô lao vào xe và chiếc xe phóng đi.
Ngay lúc ấy ba gã đàn ông phóng tới, nhưng không kịp. Thế là cô thoát nạn!
Về sau, cô gái mới biết: người “cha già lẩm cẩm” của cô đã đặt
làm một chìa khóa khác và âm thầm bỏ vào ví cô, dự phòng lúc cô cần đến. Chiếc
chìa khoá ấy đã cứu cô.
Câu chuyện trên gợi lên hình ảnh của một người cha hết lòng yêu
thương chăm sóc con cái từ những việc nhỏ nhặt đến những việc lớn lao. Hình ảnh
người cha ấy, cũng gợi lên hình ảnh người cha nuôi của Chúa Giêsu, thánh Giuse.
15.
Cha yêu con
Anh Vũ Đức Nghĩa đã viết một câu chuyện thật cảm động, có tựa đề:
Cha tôi.
“Anh con trai đi làm được vài tháng, có dịp ghé thăm nhà. Bữa
cơm chiều, anh cứ nhìn chăm chăm vào chiếc đồng hồ của cha. Người cha thầm
nghĩ: ‘Chắc là con nó cần’. Ăn cơm xong, người cha gọi con trai ra bàn uống nước,
ông bảo: ‘Con mới đi làm, cũng cần biết giờ giấc’. Rồi ông tháo đồng hồ đưa cho
con. Người con trai cầm đồng hồ, bấm lại hai nấc rồi đeo vào tay cha. Rơm rớm
nước mắt, anh nghẹn ngào: ‘Dạo này ba gầy quá, dây đồng hồ tuột cả xuống bàn
tay!’”
Người con đã có được tình thương đối với cha mình vì người cha
luôn thể hiện được tình thương đối với con mình một cách hết sức nhạy bén. Và đấy
là gia tài to lớn nhất mà người cha để lại cho con cái: Không phải là tiền bạc,
mà chính là tình yêu thương và lòng đạo đức mới là quý giá nhất.
16.
Chiếc hộp đựng nụ hôn
“Có một người cha nghèo đã quở phạt đứa con gái 3 tuổi của mình
vì tội lãng phí cả một cuộn giấy gói quà mầu vàng. Tiền bạc eo hẹp, người cha nổi
giận khi đứa bé cắt cuộn giấy quý ra thành từng mảnh nhỏ trang trí một cái hộp.
Sáng sớm hôm sau, đứa con gái nhỏ mang cái hộp đến nói với cha: ‘Hôm nay là
sinh nhật của bố, con không có tiền mua quà cho bố nên con xin tặng bố chiếc hộp
này!’. Người cha cảm thấy hối hận vì cơn giận dữ vô lý của mình tối hôm qua.
Nhưng khi mở cái hộp ra, thấy bên trong trống rỗng, thì cơn giận của ông lại
bùng lên.
Ông mắng đứa con gái xối xả vì đã tặng ông chiếc hộp rỗng… Đứa
con gái nhỏ ngước nhìn cha, nước mắt rưng rưng, nhỏ nhẹ thưa: ‘Bố ơi, đó đâu phải
là cái hộp rỗng, con đã thổi đầy những nụ hôn vào trong hộp để tặng bố mà!’.
Người cha giật thót tim. Ông đã quá hồ đồ, xét đoán lầm đứa con
hiếu thảo. Vòng tay ôm lấy đứa con gái nhỏ, ông cầu xin con tha thứ!
Sau đó không lâu, thiên thần nhỏ của ông đã qua đời trong một vụ
tai nạn. Nhiều năm sau, người cha vẫn giữ khư khư chiếc hộp bên mình. Mỗi khi gặp
khó khăn, buồn bực, ông lại lấy ra một ‘nụ hôn tưởng tượng’ và nghĩ đến tình
yêu nồng ấm mà đứa con gái bé bỏng của ông đã thổi vào chiếc hộp.”
Trong cuộc sống, có biết bao người cha đã nhận được những chiếc
hộp quý giá chứa đầy những nụ hôn chan chứa yêu thương từ con cái. Trên đời
này, không có tài sản nào quý giá hơn những chiếc hộp chứa đầy tình yêu chân
thành như thế!
17.
Người Cha Nhân Hậu
Thánh Giuse đích thực là người cha Nhân Hậu: Trong biến cố lạc mất
Chúa Giêsu trong Đền thờ, Thánh Giuse rất đau khổ và lo lắng. Nhưng khi tìm được
rồi, thánh nhân không một lời trách móc. Ngài chỉ im lặng để lắng nghe Thánh ý
Chúa và thực thi Thánh ý Người.
Noi gương Thánh Giuse, gia trưởng cũng nỗ lực trở nên người cha
Nhân Hậu. Xin kể một câu chuyện về tình cha đến rơi nước mắt: “Con còn tiền lẻ
không?”
“Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm
trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba, rồi ba đích thân lên đưa tiền lên cho tôi.
Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo, không có xe gắn máy, nên ba
phải đi xe đạp. Chiếc xe cũng gầy gò giống như ba!!!
Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba đưa tiền lên. Lần
này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi: ‘Con còn tiền lẻ không?’. Tôi
đáp: ‘Con còn bốn ngàn, ba ạ’. Ba nói: ‘Con cho ba hai ngàn, để lát về, nếu xe
có hư như lần trước thì có tiền mà sửa’. Ba về, tôi đứng trông theo, không cầm
được nước mắt, khóc òa lên!…”
18.
Thánh Giuse, người chồng tốt, người cha hiền
Người ta kể một câu chuyện kỳ lạ về sự trợ giúp của thánh Cả
Giuse như sau:
Tại một giáo xứ miền quê, vào một đêm kia, có ông già lạ mặt đến
gõ cửa nhà xứ xin cha xứ đi xức dầu cho một bệnh nhân là một người đàn ông
trong làng.
Được cụ già dẫn đi, vị Linh mục nhanh chóng đến nhà bệnh nhân.
Khi đến nơi, mọi người trong nhà rất ngạc nhiên vì không có ai trong nhà đi mời
vị linh mục đến xức dầu, vì mọi người đang bận rộn lo cho người bệnh đang hấp hối.
Không kịp tìm hiểu, vị linh mục ban những bí tích cuối cùng cho
bệnh nhân. Thật may mắn, chỉ ít phút sau, người đàn ông ra đi bình an, kịp thời
lãnh nhận các bí tích cuối cùng.
Khi xong xuôi mọi việc, vị linh mục đi tìm ông cụ già lạ mặt để
hỏi cho ra lẽ. Thế nhưng, mọi người tìm kiếm khắp nơi cũng không thấy ông cụ
già bí mật kia đâu. Ngay lúc ấy, vợ người chết chợt nghĩ ra một điều gì đó,
thưa với vị Linh mục: “Thưa cha, con hiểu rồi! Chồng con có lòng yêu mến thánh
Giuse cách đặc biệt, thường cầu khấn thánh Giuse trong những cơn nguy khốn. Con
tin rằng: ông cụ già kia chính là thánh Giuse đến để giúp đỡ chồng con trong
cơn nguy tử.”
Ngay lúc ấy, vị Linh mục giật mình và nhớ lại: ông cụ già kia có
khuôn mặt rất giống thánh Giuse!
19.
Bay trong bão
Khi đứng trước một cơn bão đang đến gần, chim đại bàng thường có
một thái độ rất đặc biệt: nó không chạy trốn đến một vùng trời thanh bình, yên ổn.
Trái lại, theo bản năng, nó sẽ bay lên một đỉnh cao quen thuộc trên núi và chờ
cho gió ào ào thổi đến.
Khi cơn bão đến, chim đại bàng giang rộng đôi cánh, buông mình
vào gió bão. Nó xòe đôi cánh để cho gió nâng nó lên và đưa nó vượt lên trên cơn
bão. Khi cơn bão hoành hành ở dưới, thì đại bàng bình yên ngay ở phía trên. Nó
sử dụng năng lượng của cơn bão để bay thật cao, thật xa.
Thánh Giuse không chạy trốn trước những thử thách và gian truân,
nhưng người đã buông mình vào tình thương và sức mạnh của Thiên Chúa để vươn
lên cao. Chúng ta hãy noi theo gương mẫu của thánh Giuse để luôn vươn lên từ những
khó khăn và vất vả đời thường, trung thành đi theo Chúa trên cuộc hành trình đức
tin của người kitô hữu hôm nay.
20.
Thánh Giuse là đấng bầu chữa cho Giáo Hội
Thánh Giuse còn được gọi là đấng bầu chữa cho cả Giáo Hội:
Thật thế, trải qua dòng lịch sử, ai trong chúng ta cũng có thể
nhận ra sự bầu chữa của thánh nhân. Ngài luôn nâng đỡ những người nghèo khổ,
kém may măn trong cuộc đời và nơi cuộc sống. Hình ảnh thánh Giuse hay làm phép
lạ được truyền tai nhau khắp nơi. Đến nỗi người ta có thể nói rằng: ngài không
quên ai chạy đến để cầu cứu ngài.
Thánh nữ tiến sĩ Têrêsa Avila đã viết: ”Tôi nhớ rõ, chưa bao giờ
tôi cầu xin sự gì cùng thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những
ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi
nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bầu của Vị Thánh vinh phúc
này”; thánh Têrêsa Avila viết tiếp: ”Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các
thánh giúp chúng ta việc này, việc nọ, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh
Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc. Như thế là
Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng, như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế,
đã nhìn nhận Ngài với quyền làm Cha và làm Giám Quản, thì nay ở trên trời, Chúa
cũng sẵn lòng chiều theo ý muốn của Ngài, mà nhận mọi lời Ngài cầu xin. Những
người khác mà tôi khuyên chạy đến cùng Vị Bảo Hộ này, cũng nhận thấy điều ấy
như tôi, do kinh nghiệm.”
21. Mối tình khiết tịnh
Theo tin Đài Chân Lý Á Châu loan đi khắp thế giới ngày
07-03-2012: Mẹ Dolores là một trong số các ngôi sao Holywood, tiến bước trên thảm
đỏ trong buổi lễ trao giải thưởng Oscar vào ngày 26-02-2012. Vì mẹ đã đóng cuốn
phim tài liệu “Chính Chúa là một Elvis lớn lao hơn” (God is bigger Elvis). Năm
nay mẹ Dolores đã 73 tuổi, tu Dòng Kính Đan Viện Biển Đức Regina Laudis ở
Bethlehem thuộc tiểu bang Connecticut, nước Mỹ.
Vào năm 1957, minh tinh Dolores ở tuổi 21,đã đóng nhiều phim nổi
tiếng với vua nhạc rock Elvis Presley, đang ở đỉnh cao danh vọng, vì Dolores là
một ngôi sao tài sắc vẹn toàn, cô đã được mời ký hợp đồng đóng phim lên tới triệu
dollars. Thế mà Dolores bỏ lại những hợp đồng bạc triệu, và từ bỏ hôn ước với một
kiến trúc sư giàu có, trẻ tuổi, tên là Donald John Robinson đã hết lòng yêu
Dolores. Ông Donald là một trong những người thắc mắc nhất trong số những người
ái mộ ngôi sao Dolores, đã theo dõi sự kiện mẹ Dolores bỏ danh vọng đi tu.
Trong độ tuổi thanh xuân phơi phơi một cách dễ dàng không vương vấn, không dấu
hiệu báo trước! Ngay cả vị hôn phu của cô là ông Donald cũng không thể lý giải
tại sao đã năm năm Donald và Dolores hẹn hò với nhau. Ngay sau khi họ vừa làm lễ
Đính hôn, cô lại tỏ ý muốn đi tu! Ông Donald đã không thể tin ở tai của mình,
vì thấy Dolores vẫn tiếp tục đi đóng phim bình thường. Ông không hề ngờ rằng ơn
kêu gọi dành cho Dolores đã bắt đầu từ trước khi cô quen biết ông ở tuổi 21, và
sự nghiệp điện ảnh đang ở vào thời kỳ rực rỡ nhất! Một người bạn của Dolores kể
lại là nghe Dolores than thở rằng đóng phim căng thẳng quá, rồi chỉ sau vài tuần
lễ thì lại đường ai nấy đi. Cô phải chia tay với người bạn mới quen mà cô yêu
quý. Điều này để lại nhiều trống rỗng trong lòng cô gái trẻ đẹp, đơn sơ, dễ mến.
Cô đi đến nhà Dòng Biển Đức để tĩnh tâm và học hỏi lối sống và làm việc của các
nữ tu, là những người cô cho là rất ổn định và đáng khâm phục. Hai năm sau
Dolores đủ điều kiện nhập Dòng vào năm 1960, và đến năm 1970 thì được Khấn trọn
đời, làm cho nhiều kẻ xấu miệng loan báo cô đã có bầu với Elvis, bây giờ họ phải
đấm ngực!
Ông Donald bị Dolores bỏ rơi, vẫn vui lòng chấp nhận ở vậy không
chịu lập gia đình với ai, vì cho rằng không ai có thể thay thế được Dolores
trong tim ông. Suốt thời gian Dolores tu trì, ông Donald hằng năm hai lần vào dịp
lễ Giáng Sinh và Phục Sinh đến nhà Dòng thăm Dolores. Vào tháng 11 năm 2011,
ông Donald qua đời, trước đó vài tháng ông đã để lại Di chúc hiến tất cả tài sản
của ông cho Đan Viện Biển Đức để nhà Dòng có thêm tài lực mà phục vụ công ích.
Ai cũng phải khâm phục mối tình của Dolores và Donald đã hơn nửa
thế kỷ, cả hai đã hiến dâng tình yêu cao quý nhất cho Chúa: một người thì trung
thành với lời Khấn độc thân trọn đời trong bậc tu trì; một người thì chung thủy
với lời đính ước trong mối tình vợ chồng.
Lời Chúa Tuần 2 Mùa Chay
Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch
