Lời Chúa tuần 5 mùa chay - câu truyện minh họa

LỜI CHÚA TUẦN 5 MÙA CHAY
CÂU TRUYỆN MINH HỌA

CNMC 5A

CNMC 5B

CNMC 5C

THỨ HAI

THỨ BA

THỨ TƯ

THỨ NĂM - NIỀM TIN VÀ LÝ TRÍ

THỨ SÁU

THỨ BẢY

 

CNMC 5A

Lời Chúa: Ga 11, 1-45

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt.” Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển.” Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày.

Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa.” Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?" Chúa Giêsu đáp: "Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng.” Người nói thế, rồi lại bảo họ: "Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông.” Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại.” Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: "Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông.” Lúc đó Tôma, cũng có tên là Ðiđimô, nói với đồng bạn: "Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người.”

Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy.” Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại.” Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại.” Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”

Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: "Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em.” Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ.

Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết.” Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: "Ðã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem.”

Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra.” Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày.” Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra.

Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con.” Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi.”

Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.

TRUYỆN KỂ

1. Mở cửa mộ

Tai họa ngày 11 tháng 09 năm 2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.

Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Lagiarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

2. Chúa mang đến điều cao trọng nhất

Chị ấy tuổi gần bốn mươi, có 5 người con, cháu lớn ở độ tuổi 15, gia đình được xếp vào hàng khá giả trong làng. Không may, chị bị bệnh ung thư ở giai đoạn cuối. Có lần một cụ già hàng xóm đến thăm, bất ngờ chị nắm chặt tay vị khách cao tuổi và nói trong nghẹn ngào: “Cụ đổi sự sống cho con, cụ muốn bao nhiêu tiền-vàng, con cũng sẵn sàng.”

Thế mới biết sự sống quí giá là chừng nào! Có tiền muôn bạc vạn cũng chẳng kéo dài cuộc sống thêm được vài giây đồng hồ, chẳng thế mà cổ nhân đã nói: “Mạng sống hơn đống vàng.” Điều mà tiền bạc không mua được thì những ai tin vào Đức Giêsu sẽ được Người ban cho: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” (Ga 11, 24-26)

3. Lazarô đang ngủ

Nhà văn Pháp Charles Perrault đã viết cuốn “Truyện Thần Tiên” (Contes de Fées) rất nổi tiếng. Trong cuốn sách ấy có câu chuyện sau đây:

Ngày xưa, có nàng công chúa xinh đẹp mắc phải lời nguyền của một bà tiên độc ác: ngày nào nàng bị mũi kim quay sợi đâm vào tay, ngày ấy nàng sẽ chết. Nhưng một bà tiên nhân hậu kia vì thương nàng công chúa, đã hóa giải lời nguyền ấy, để nàng không phải chết mà chỉ ngủ một giấc ngủ trăm năm, cho đến khi có một hoàng tử đến đánh thức nàng dậy.

Vua cha liền ra lệnh cấm dân trong nước không được quay sợi, để tránh cho công chúa khỏi chết. Nhưng trớ trêu thay, một hôm công chúa đi thăm một tòa lâu đài cổ. Tại đây có một bà cụ già đang ngồi quay sợi. Vì già nua, lại không đi đến đâu, nên không biết lệnh cấm của nhà vua. Vì tò mò, công chúa thử quay sợi, không may mũi kim đâm vào tay, nàng liền ngã xuống đất và chìm vào giấc ngủ mê man. Công chúa được đặt vào một căn phòng lộng lẫy trong tòa lâu đài. Rồi mọi sự chìm trong quên lãng…

Một trăm năm sau, có vị hoàng tử đi săn ngang qua tòa lâu đài. Nghe biết câu chuyện về nàng công chúa đang ngủ, chàng đã vào lâu đài, cầm tay công chúa để đánh thức nàng dậy. Sau đó, hai người đã kết duyên và sống bên nhau thật hạnh phúc.

Hôm nay, trong bài Tin Mừng theo thánh Gioan, khi nghe tin Lazarô, em của cô Matta và Maria, đang đau nặng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Lazarô đang ngủ, chúng ta đi đánh thức anh dậy.” Thật ra, Lazarô đã chết và Chúa muốn ám chỉ cái chết giống như một “giấc ngủ” mà chính Ngài là người đi “đánh thức” kẻ chết sống lại.

4. Chúa gọi Lazaro

Ngày kia, có bác nông dân từ thôn quê lên thăm người bạn ở thành phố. Người bạn dẫn bác nông dân đi dạo phố. Đang đi, bỗng bác nông dân dừng lại, lắng tai nghe rồi nói với bạn: “Anh có nghe gì không? Có tiếng chim hót đâu đây!” Người bạn phì cười nói với bác nông dân: “Giữa phố phường ồn ào như vậy, làm sao anh nghe được tiếng chim hót?”

Nhưng bác nông dân vẫn quyết tâm tìm cho ra tiếng chim hót từ đâu. Cuối cùng, bác đã dẫn người bạn đến ngôi nhà có bụi kiểng trước cửa và chỉ cho bạn thấy một chú chim nhỏ đang hót trong bụi cây. Người bạn rất phục bác nông dân thính tai. Nhưng bác ta nói: “Không phải tôi thính tai, nhưng vì tôi quen nghe và thích nghe tiếng chim hót nơi đồng quê. Còn các anh thì quen nghe và thích nghe những tiếng động khác.”

Để chứng tỏ điều ấy, bác nông dân lấy ra một đồng xu và ném xuống mặt đường. Tiếng leng keng của đồng xu đã khiến cho nhiều người đi đường quay lại nhìn.

Cúi xuống lượm đồng tiền lên, bác nông dân nói: “Giữa tiếng ồn ào của đường phố, các anh vẫn nghe thấy tiếng đồng xu, vì các anh quen nghe và thích nghe tiếng động của đồng tiền.”

5. Sự sống siêu nhiên

Thời Pháp thuộc, có ông Tổng thanh tra giáo dục Đông Dương đi săn ở Di Linh. Khi đó Di Linh còn là một khu rừng lớn với nhiều thú rừng như cọp, nai, chồn, mễn… và một ít người thuộc sắc tộc K'Ho.

Ông đến gần làng cùi Di Linh do cha Cassaigne (Sanh) thành lập mà không biết. Nghe tiếng súng săn nổ, cha Sanh chạy ra gặp ông tổng thanh tra, và cho ông biết là không ai được lai vãng tại khu vực này. Ông thanh tra rất khó chịu: “Ông lấy quyền nào mà ngăn cấm chúng tôi?” Nghe thế, cha Sanh dẫn ông đến làng cùi do ngài coi sóc.

Vị tổng thanh tra đó vốn có ác cảm với đạo. Tuy được rửa tội ngày còn nhỏ nhưng ông đã bỏ đạo từ lâu. Vừa thấy những người cùi, ông ghê sợ bỏ đi, nhưng trong cơn giận ông đã nói cho cha Sanh biết là ông có quyền giải tán làng cùi đó.

Mấy tuần lễ sau, cha Sanh đột nhiên nhận được một bưu kiện lớn với nhiều thuốc men và dụng cụ y tế, kèm theo một lá thư ký tên vị tổng thanh tra: “Tôi tặng cha món quà này để trả lời cho câu hỏi mà những người cùi Di Linh này luôn đặt ra trong tâm trí tôi.”

Bốn năm sau, ông qua đời tại Nam Vang. Trước đó, ông đã gửi một bức điện cho cha Sanh (lúc đó ngài làm giám mục Sài Gòn) để xin gặp. Khi nhận được bức điện, dù lúc đó đã 10 giờ tối, Đức Cha Sanh cũng lên xe đi thẳng một mạch qua Nam Vang. Tại đó, ngài đã giải tội và ban các phép sau hết cho ông trước khi từ giã cuộc đời.

Câu hỏi mà những người cùi Di Linh luôn đặt ra trong tâm trí ông không chỉ là câu hỏi về những vui buồn, sướng khổ của đời thường, mà là câu hỏi về sự sống siêu nhiên, một sự sống vượt trên cuộc sống bình thường này, một sự sống mà ai cũng thấy là cao quý vì cái giá hy sinh mà cha Sanh và các nữ tu đã bỏ ra vì nó.

6. Mở cửa mồ

Niềm tin bắt đầu cho một sự sống vượt qua mọi cái chết. Sự sống đó là điều Mẹ Têrêxa tìm kiếm khi dành cả cuộc đời chăm sóc cho những thân phận bất hạnh.

Đối với Mẹ Têrêxa, “Sự nghèo khó cùng cực của nhân loại là không biết Đức Kitô… Người ta đói Thiên Chúa, người ta đói tình yêu. Chúng ta có nhận thức về điều này không? Chúng ta có biết, có thấy, có mắt để nhìn đến điều này không? Chúng ta thường nhìn chằm chằm mà không dừng lại ở một điều gì cả… Dường như chúng ta hiện diện ở đây không để làm gì hơn là trôi qua thế giới này. Chúng ta phải mở mắt chúng ta ra, hãy mở mắt chúng ta ra và hãy nhìn.”

Sự sống thần linh là điều thánh Phaolô quan tâm: “Anh em thân mến, những kẻ sống theo xác thịt thì không thể đẹp lòng Chúa. Còn anh em, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em.” (Rm 3,8-9)

Vâng, cuộc sống của tôi là gì nếu mọi ngày suốt đời tôi chỉ là tìm kiếm những điều sẽ phải chôn lấp dưới đáy huyệt thời gian?!

Chúa phán: “Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi.”

7. Phục sinh

Trong kho tàng thơ của đại thi hào Virgil, có lời kể về một vị vua cổ đại, người đã dùng hình phạt một cách tàn ác bất thường theo cách ông ta thường xích một người chết vào một tên tội phạm còn sống. Người khốn khổ đáng thương không thể tách mình ra khỏi gánh nặng ghê tởm của mình. Cái xác bị trói chặt vào người anh ta, tay của nó với tay anh; mặt nó đối mặt với anh ta; toàn bộ cơ thể của người chết với cơ thể sống của anh.

Sau đó, anh ta bị đưa vào ngục tối để chết ngạt bởi khí thải hôi thối của xác chết bị phân hủy. Nhiều người cho rằng chính vì điều này mà Phaolô đã kêu lên: “Khốn nạn cho tôi!”

* Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta quay lưng lại với tội lỗi và đến với Bí tích Hòa giải để phục hồi Sự Sống của Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta được hưởng sự phục sinh vinh hiển mà Chúa Giêsu đã hứa với các tín hữu tại mộ Lazarô .

8. Không sợ chết

Lee Trevino đang ngồi dưới gốc cây khi bị sét đánh. Anh nhớ lại: “Nó trói chặt tay và chân tôi, giật tôi khỏi mặt đất, và giết chết tôi. Tôi biết mình đã chết. Không đau đớn. Mọi thứ chuyển sang một màu cam nhẹ nhàng và ấm áp.

“Tôi thấy hình ảnh mẹ tôi đã chết nhiều năm trước. Tôi nhìn thấy những người khác từ cuộc sống quá khứ của tôi. Như là một bộ phim thời sự đang diễn ra – cuộc sống của tôi trôi qua trước mắt tôi. Nhưng nó thật dễ chịu, thật tuyệt vời, tôi cảm thấy lâng lâng. Tôi nghĩ, cậu bé này chết thật vui! Đó là khi tôi tỉnh dậy trong bệnh viện trong tình trạng bỏng nặng và đau đớn, tôi biết mình đã sống lại vì một lý do nào đó.”

Cuộc sống vĩnh cửu có nghĩa là chúng ta không phải sống trong sợ hãi trước cái chết.

Lee Trevino đã nói sau trải nghiệm của mình, “Không có lý do gì phải sợ chết.” [Willie: Tự truyện. Willie Nelson with Bud Shrake. (New York: Simon & Schuster, 1988), trang 218-219.]

9. Hiến máu

Một cậu bé được yêu cầu truyền máu cho người anh bị thương của mình vì cậu bé có cùng nhóm máu hiếm. Biết rằng anh mình sẽ chết nếu không có loại máu này, cậu đã đồng ý. Khi truyền máu xong, người hiến máu trẻ tuổi hỏi bác sĩ: “Vậy khi nào cháu sẽ chết?”

Chúng ta cảm động trước lòng dũng cảm ngây thơ của một em bé hiến máu mình cho người anh vì nghĩ rằng mình sẽ phải trả giá bằng mạng sống. Tuy nhiên, Chúa chúng ta biết chắc rằng máu cần thiết để cứu nhân loại là sự hiến máu hoàn toàn. Để cho Lazarô và chúng ta được sự sống đời đời, Chúa Giêsu đã phải đổ máu đến chết vì chúng ta theo đúng nghĩa đen.

Để ban sự sống cho chúng ta, Người phải hy sinh mạng sống vì chúng ta.

10. Đang di chuyển

Tôi nhớ đến câu chuyện về ba người bạn đều thiệt mạng trong một vụ tai nạn ô tô và họ ngay lập tức được lên thiên đàng. Tất cả họ đều được đặt câu hỏi: “Khi bạn nằm trong quan tài, bạn bè và gia đình rất thương tiếc bạn, bạn muốn nghe họ nói gì trong đám tang của mình?”

Chàng thứ nhất nói: “Tôi muốn nghe họ nói: ‘Anh ấy là một bác sĩ tài giỏi và một người đàn ông tuyệt vời của gia đình.’” Chàng thứ hai nói: “Tôi rất muốn nghe họ nói: ‘Anh ấy là một người chồng tuyệt vời, một giáo viên tốt của trường và đã tạo ra sự khác biệt to lớn cho con cái chúng ta trong tương lai.’”

Người cuối cùng nói: “Tôi muốn nghe họ nói: ‘Hãy nhìn xem, anh ấy đang di chuyển!’”

* Lazarô đang di chuyển, bởi vì Lazarô đã được sống lại một lần nữa.

11. Trên thiên đàng

John và Jim là những cầu thủ chuyên nghiệp của câu lạc bộ Atlanta Braves, những người đã sống và hít thở bóng chày. Những người này thở, thảo luận, ăn và ngủ với bóng chày.

Một trong những mối quan tâm lớn của họ là liệu có bóng chày trên thiên đàng hay không. Họ yêu bóng chày đến nỗi họ không chắc mình có muốn sống vĩnh viễn trên thiên đàng trừ khi họ có thể chơi bóng chày ở đó. Họ đã thỏa thuận với nhau rằng, nếu một người chết trước sẽ gửi một tin nhắn trở lại trái đất, cho người kia biết liệu có bóng chày ở trên thiên đàng hay không.

Vâng, điều này đã xảy ra. John chết, và Jim rất đau buồn. Anh ấy ưu sầu trong nhiều ngày – vô cùng đau buồn trước cái chết của người bạn John. Khoảng hai tuần trôi qua, và rồi chuyện đã xảy ra. Jim bị đánh thức vào lúc nửa đêm bởi tiếng gọi tên mình: “Jim, Jim, Jim, dậy đi! Đây là John.”

“John, anh đang ở đâu?”

“Tôi đang ở thiên đàng – và tôi có một số tin tốt và tin xấu. Thật thú vị, Jim. Chúng ta có bóng chày trên thiên đàng. Thật tuyệt vời. Chúng ta có thể chơi hàng ngày và có những đội tuyệt vời, và sự cạnh tranh gay gắt, thú vị.”

“Thật tuyệt,” Jim nói. “Nhưng tin xấu là gì?”

John nói: “Chà, bạn được sắp đặt để chơi vào thứ ba tới.”

12. Được mở ra

Robert McAfee Brown là một cha tuyên úy trong Thế chiến II. Ngài đang ở trên một con tàu chở quân với 1500 lính thủy đánh bộ trên đường trở về quê hương sau khi phục vụ tại Nhật Bản. Trước sự ngạc nhiên của ngài, một nhóm người lính đã đến gặp ngài và yêu cầu ngài hướng dẫn một lớp học hỏi Kinh Thánh trong chuyến hải trình.

Một ngày nọ, sau khi cả nhóm nghiên cứu đoạn văn nói về việc Lazarô sống lại, một người lính đã đến gặp cha Brown và nói: “Câu chuyện đó kể về tôi!” Chàng trai trẻ đã gặp rất nhiều rắc rối trước khi nhập ngũ. Anh không thể chịu được ý nghĩ phải đối mặt với gia đình mình.

Câu chuyện về Lazarô đã cho anh hy vọng và can đảm để đối mặt với những hậu quả khi anh trở lại quê nhà. Anh đã được “mở ra, cởi trói.” [William Barclay, The Gospel of John, Revised Edition (Philadelphia: The Westminster Press, 1975), tr. 102-103.]

* Đó là những gì Chúa Kitô làm cho chúng ta. Người ban cho chúng ta sức mạnh để bắt đầu lại, để sống lại. Người bảo Lazarô: “Hỡi Lazarô, hãy ra đây!” Rồi nói với những người có mặt: “Hãy cởi bỏ khăn liệm và để anh ta đi.”

13. Chúa gõ cửa

Có một cô y tá, trước khi nghe nhịp tim của trẻ em, đã cắm ống nghe vào tai chúng và để chúng tự nghe nhịp tim của mình. Một ngày nọ, cô nhét ống nghe vào tai một cậu bé mười tuổi. Sau đó, cô đặt mặt đĩa lên trái tim cậu. Cô ấy nói: “Nghe này, cháu nghĩ đó là gì?” Thình thịch, thịch, thịch.

Cậu nhíu mày khó hiểu và nhìn lên như thể lạc vào điều bí ẩn của tiếng gõ đều đều lạ lùng sâu trong lồng ngực mình. Sau đó, khuôn mặt của cậu ta nở một nụ cười tuyệt vời. Cậu hỏi: “Đó có phải là Chúa Giêsu đang gõ cửa không?”

* Chà, có lẽ vậy. Có thể hôm nay Chúa Giêsu đang gõ cửa lòng bạn. Có thể Chúa Giêsu đang ra lệnh mở cánh cửa ngôi mộ của bạn. “Lazarô, hãy ra đây!”

14. Chuyện ma

Có bài viết về một vị thẩm phán ở Nam Tư bị điện giật khi với tay lên bật công tắc đèn khi đang đứng trong bồn tắm. Ông ta bị cứng đờ và rơi ra khỏi bồn tắm. Vợ ông gọi cho bác sĩ, người tuyên bố ông đã chết.

Theo quy định về sức khỏe của chính phủ, thi thể của thẩm phán ngay lập tức được đặt trong một căn hầm bên dưới một nhà nguyện tại nghĩa trang. Nửa đêm thẩm phán tỉnh lại. Ông không biết mình đang ở đâu hay chuyện gì đã xảy ra. Khi ông thực sự nhận ra mình đang ở đâu, ông chạy đến cánh cửa hầm đã đóng và bắt đầu lắc nó và hét lên để được giúp đỡ. Người bảo vệ ở đó đã vô cùng sợ hãi và bỏ chạy.

May mắn thay, người bảo vệ đã được giúp đỡ, đã quay lại, mở cửa cho thẩm phán mới được hồi sinh. Thẩm phán gọi điện cho vợ ông rằng ông sẽ về nhà. Chị ta hét lên và cúp điện thoại.

Tiếp theo, ông ta cố gắng đến nhà của một số người bạn. Họ nhìn qua ông một cái, tưởng ông là ma và đóng sầm cửa trước mặt ông. Cuối cùng, ông tìm được một người bạn chưa từng nghe tin ông đã chết. Ông thuyết phục người bạn đó làm trung gian. Dần dần, vị thẩm phán đã có thể thuyết phục bạn bè và gia đình rằng ông thực sự còn sống!

* Anh Lazarô từ Tin Mừng Gioan có thể cũng giống với vị thẩm phán đó.

15. Lái xe tang

Một ngày nọ có một anh chàng đi trong một chiếc taxi. Anh ta là người mới đến thành phố và muốn tìm một địa điểm ăn uống ngon, vì vậy anh ấy cúi người về phía trước, vỗ vào vai người lái xe và nói: “Này, Buddy.” Người lái xe hét lên một tiếng thất kinh và mất kiểm soát chiếc taxi. Anh ta suýt đâm vào một chiếc xe buýt, lao vào lề đường và dừng lại chỉ vài mét trước khi lao qua một cửa kính lớn và đâm vào một nhà hàng đông đúc.

Trong vài phút, có một sự im lặng chết người trong xe taxi. Tất cả những gì bạn có thể nghe thấy là hai trái tim đang đập như tiếng trống bass dồn dập trong một cuộc diễu hành nhanh. Tài xế cuối cùng cũng quay lại và nói: “Anh bạn, anh làm tôi sợ chết khiếp.”

Người hành khách mặt vẫn còn trắng như tờ giấy và dương đôi mắt to nói: “Tôi xin lỗi, tôi không biết rằng việc vỗ vào vai bạn sẽ khiến bạn sợ hãi đến vậy.”

Người lái xe nói: “Chà, đó không phải là lỗi của bạn. Đây là ngày đầu tiên tôi lái xe taxi. Bởi vì trong 25 năm qua, tôi chỉ lái một chiếc xe tang.” (Patricia Ridpath, Tiếng cười là liều thuốc tốt nhất, Reader’s Digest).

* Chỉ cần hỏi cô Maria hoặc đám đông. Nếu tôi đang tập trung vào điều gì đó thì không khó để làm tôi giật mình. Nói rằng Maria, Martha, các môn đệ và những người đưa tang tập trung tại mộ Lazarô đã sửng sốt, là nói quá nhẹ.

15. Carpe diem

Trong bộ phim Dead Poets’ Society, Robin Williams đóng vai John Keating, một giáo viên trong một trường tư thục nghiêm khắc và uy tín có tài biến đổi học sinh. Vào ngày đầu tiên của lớp văn học, Keating đưa học sinh của mình xuống sảnh trường, nơi có hộp đựng các huy chương trưng bày những hình ảnh của các lớp tốt nghiệp trước đó.

Keating nói: “Hãy nhìn vào những bức ảnh này, các chàng trai. Những chàng trai trẻ mà bạn nhìn thấy cũng có ngọn lửa trong mắt họ giống như bạn hôm nay vậy. Họ đã lên kế hoạch chiếm lĩnh thế giới bằng sự cuồng nhiệt và tạo nên điều gì đó tuyệt vời cho cuộc sống của họ.

“Đó là hơn 70 năm trước. Bây giờ tất cả họ đang bón phân cho hoa cúc. Nếu bạn chịu lắng nghe, họ có một thông điệp dành cho bạn.”

Khi các sinh viên nhìn chằm chằm vào những bức ảnh của lớp, Keating bắt đầu thì thầm: “Carpe Diem, Carpe Diem” (tiếng La tinh: hãy nắm bắt cơ hội, hãy nắm bắt cơ hội.)

* Cuộc sống là một hồng ân ở đây và bây giờ. Hãy tận hưởng nó như ý Chúa muốn và luôn sẵn sàng chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài.

16. Hồng ân sự sống

Đôi khi phải mất một khoảnh khắc đau thương để đánh thức chúng ta về hồng ân sự sống. Jane Marie Thibault là giáo sư về Y học Gia đình và Cộng đồng tại Đại học Louisville. Jane được cả nước biết đến với công trình nghiên cứu về lão khoa lâm sàng. Trong cuốn sách A Deepening Love Affair, Jane viết: “Tôi bắt đầu thấy cuộc sống là một món quà khi tôi sống sót sau một vụ va chạm với một chiếc xe 18 bánh vào ngày 2 tháng 10 năm 1990.

“Sau khi bò ra khỏi chiếc ô tô nát bươm của mình, tôi lảo đảo quanh một cánh đồng trong một sự đê mê. Điều tôi nhớ nhất là hoàn toàn nhận thức được màu xanh của cỏ, màu xanh của bầu trời, một vài đám mây bồng bềnh trên đầu và vài chú chim hót líu lo trên cây. Tôi đã sống! Thật là một phước lành!

“Mọi thứ vào lúc đó thật là một hồng ân quý giá biết bao!”

17. Niềm tin

Huber Mates, một giáo viên và nhà báo, đã bị bỏ tù vào năm 1959 khi Castro cố gắng tiêu diệt Giáo hội tại Cuba. Trong một lá thư Huber lén lút gửi cho vợ con trong tù có những lời này: “Anh biết rằng mình sẽ chết trong tù. Anh rất buồn khi không gặp lại em. Nhưng anh vẫn cảm thấy bình an. Họ có kiếm, chúng ta có bài hát.”

Những người của biến cố Chúa Phục sinh có những bài hát để hát. Tay chơi gôn chuyên nghiệp Paul Azinger, đã nói như thế này trong khi chiến đấu với căn bệnh ung thư: “Chúng ta không ở vùng đất của người sống mà đến vùng đất của người chết. Chúng ta đang ở vùng đất của người chết đi đến vùng đất của người sống. Có một sự phục sinh cho bạn. Hãy tận hưởng cuộc sống!

“Trong nụ huệ có một bông hoa,/ trong hạt có một cây táo, / trong kén có một kho báu ẩn giấu,/ bướm sẽ sớm được tự do. /Trong tuyết lạnh của mùa đông/ có một mùa xuân đang chờ đợi.”

* Nếu sự hồi sinh vang lên khắp thiên nhiên, lẽ nào không có sự phục sinh cho tôi?

18. Ý nghĩa cuộc sống

Đại học Harvard được coi là một trong những tổ chức học thuật vĩ đại và uy tín nhất ở Mỹ và trên thế giới; học sinh của nó có điểm SAT cao nhất, trí tuệ sáng suốt nhất.

Cách đây vài năm, Hiệu trưởng của Đại học Harvard được hỏi: “Vấn đề lớn nhất mà ngài thấy ở trường đại học của mình là gì?”

Ông nói: “Sự trống rỗng! Người ta không thấy ý nghĩa hay niềm đam mê cho cuộc sống. Nhiều người cảm thấy buồn chán – không thỏa mãn.”

Những chức tước cao sang và bằng cấp uy tín không bảo đảm ngay cả một người có đầu óc thông minh sẽ có một cuộc sống có ý nghĩa, trừ khi họ được kết nối với Thiên Chúa hằng sống. Khi Chúa Giêsu đưa ra lời tuyên bố mạnh mẽ này: “Thầy là sự sống lại và là sự sống”, Người đã kết nối chúng ta với Thiên Chúa hằng sống, bởi vì Người là Thiên Chúa.

Sự tồn tại của chúng ta không được lấp đầy bởi một số kỳ vọng nhất thời, nhưng bởi quyền năng Phục sinh. Chúng ta được kêu gọi để sống.

19. Can đảm

Đại úy quân đội David Roselle bị mất bàn chân phải khi chiếc Humvee mà anh đang lái trúng phải một quả mìn chống tăng ở Iraq. Roselle được trực thăng đưa đến một bệnh viện ở Đức và sau đó đến Walter Reed, nơi ông đã cố gắng tập đi lại một cách chăm chỉ.

Sau khi được nghỉ phép để chung vui sự ra đời của con trai mình ở Colorado, Đại úy David Roselle đã trở lại sở chỉ huy của mình ở Iraq để hoàn thành công việc mà anh đã bắt đầu. Các quân nhân bị thương khác cũng làm như vậy. Họ đang quay trở lại để hoàn thành công việc mà họ đã khởi sự. Hình thức dũng cảm cao nhất thuộc về những người không bỏ cuộc.

Can đảm thực sự có nghĩa là hoàn toàn nhận thức được điều tồi tệ nhất có thể xảy ra, nhưng vẫn làm điều đúng đắn.

* Chúa Giêsu trở lại Giêrusalem. Khi cho Lazarô sống lại từ ngôi mộ, Chúa Giêsu đã bắt đầu việc đóng đinh và chôn cất chính Người. “Từ ngày đó, họ lập mưu giết Người” (Câu 53). Khi hướng mặt về Giêrusalem, Người hướng mặt về thập giá và sự chết. Dietrich Bonhoeffer, mục sư của thế kỷ 20, người đã hy sinh mạng sống của mình để chống lại Adolph Hitler ở Đức, đã mở đầu cuốn sách của mình, Cái giá phải trả của vai trò người môn đệ, với những lời này: “Khi Chúa kêu gọi một người, Ngài bảo người ấy hãy đến và chịu chết.”

20. Giúp đỡ

Leo Buscgalia kể về một đứa trẻ tám tuổi nhà ở gần người hàng xóm lớn tuổi vừa mất vợ. Thấy ông cụ khóc, đứa bé đi tới, trèo vào lòng ông cụ và ngồi đó.

Sau đó, mẹ của cậu bé hỏi: “Con đã nói gì với ông Jones trong lúc ông ấy đau buồn?” Đứa bé trả lời: “Con không nói gì, con chỉ giúp ông khóc thôi.”

Một số điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm là giúp bạn bè của mình khóc trong nỗi buồn của họ. Mỗi khi một trái tim tan vỡ, mỗi khi một ngôi mộ được mở ra, mỗi khi một cuộc ly dị xảy ra, mỗi khi một đứa trẻ đau khổ, mỗi khi nỗi đau đến, Chúa Giêsu đều khóc.

Người khóc vì Người quan tâm. Khi các tòa nhà bị đánh bom, và chiến tranh không ngừng, khi sóng thần quét qua những người vô tội, Chúa Giêsu đều khóc; trái tim của Người xúc động với nỗi đau của chúng ta.

Nhà thờ Công giáo St. Joseph nằm đối diện ngay với địa điểm xảy ra vụ đánh bom ở Thành phố Oklahoma. Chưa đầy một năm sau ngày bi thảm đó, nhà thờ đã dựng lên một bức tượng Chúa Giêsu khóc. Khi nỗi kinh hoàng ập đến, khi sự dữ ngự trị, khi sự sai trái lên ngôi, Chúa Giêsu khóc. Chúa Giêsu vô cùng lo lắng vì sự chết vẫn đang cầm giữ chúng ta.

21. Giữ cái nĩa

Có một phụ nữ trẻ được chẩn đoán mắc bệnh nan y và chỉ còn sống được ba tháng nữa. Vì vậy, chị đã gặp cha xứ của mình để trao đổi về một số công việc trong di nguyện cuối cùng của chị ta. Chị nói với cha xứ những bài hát chị muốn hát trong tang lễ và những bài đọc Kinh Thánh nào chị muốn đọc. Mọi thứ đã ổn thỏa và cha xứ đang chuẩn bị ra về thì người phụ nữ trẻ chợt nhớ ra một điều rất quan trọng đối với mình.

Chị hào hứng nói: “Còn một điều nữa, cái này rất quan trọng; con muốn được chôn với một cái nĩa trong tay phải. Điều đó làm cha rất ngạc nhiên phải không?”

Người phụ nữ trẻ giải thích: “Bà con đã từng kể cho con nghe câu chuyện này và từ đó trở đi, con luôn cố gắng truyền tải thông điệp của nó đến những người con yêu thương và những người đang cần sự động viên.

“Trong tất cả những năm bà tham dự các bữa tiệc giao lưu và ăn tối tại nhà xứ, bà luôn nhớ rằng khi các món ăn chính đã được dọn sạch, chắc chắn ông chánh trương sẽ lưu ý mọi người: ‘Hãy giữ nĩa của bạn.’

“Đó là điều bà thích nhất vì bà biết rằng một cái gì đó ngon hơn đang đến… như bánh sô cô la mềm hoặc bánh táo. Một cái gì đó tuyệt vời, và có chất lượng nhất! Vì vậy, bà chỉ muốn mọi người nhìn thấy bà trong chiếc quan tài của bà với chiếc nĩa trên tay và bà muốn họ tự hỏi ‘Ủa tại sao có cái nĩa?’ Sau đó, bà muốn nói với họ: ‘Hãy giữ lấy chiếc nĩa của bạn… điều tốt nhất vẫn chưa đến.’”

Đôi mắt của cha xứ rưng rưng nước mắt vì vui mừng khi ngài chào tạm biệt người phụ nữ trẻ. Ngài biết rằng người phụ nữ trẻ cảm nhận Thiên đàng tốt hơn ngài. Chị ấy biết “điều gì đó tốt hơn đang đến.”

Tại đám tang, mọi người đi ngang qua quan tài của người phụ nữ trẻ và họ nhìn thấy chiếc váy xinh đẹp mà cô ấy đã mặc, và chiếc nĩa được đặt trên tay phải của chị. Cha xứ lặp đi lặp lại câu hỏi “Ủa tại sao có cái nĩa?” Và hết lần này đến lần khác ngài đều mỉm cười. Trong bài giảng của mình, ngài kể cho mọi người nghe về cuộc trò chuyện của ngài với người phụ nữ trẻ ngay trước khi chị qua đời.

Ngài cũng nói với họ về cái nĩa và ý nghĩa của nó đối với chị ấy. Cha xứ nói với mọi người rằng ngài không ngừng suy nghĩ về cái nĩa và nói với họ rằng có lẽ họ cũng nên nghĩ về nó.

* Cha xứ đã đúng. Vì vậy, lần tới khi bạn bỏ chiếc nĩa của mình xuống, hãy nhớ rằng điều tốt nhất vẫn chưa đến.

CNMC 5B

Lời Chúa: Ga 12, 20-33   

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, trong số những người lên dự lễ, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp Philipphê quê ở Bêtania, xứ Galilêa, và nói với ông rằng: "Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Ðức Giêsu.” Philipphê đi nói với Anrê, rồi Anrê và Philipphê đến thưa Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu đáp: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh.

Quả thật, quả thật, Ta nói với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.

Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó. Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha.”

Lúc đó có tiếng từ trời phán: "Ta đã làm vinh danh Ta và Ta còn làm vinh danh Ta nữa.” Ðám đông đứng đó nghe thấy và nói đó là tiếng sấm. Kẻ khác lại rằng: "Một thiên thần nói với Ngài.” Chúa Giêsu đáp: "Tiếng đó phán ra không phải vì Ta, nhưng vì các ngươi. Chính bây giờ là lúc thế gian bị xét xử, bây giờ là lúc thủ lãnh thế gian bị khai trừ và khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta.” Người nói thế để chỉ Người phải chết cách nào.

TRUYỆN KỂ

1. Nghịch lý của tình yêu

"Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất, mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt"

Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên khi nghe câu trên. Đó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ, nhưng lắm khi tôi thấy khó áp dụng cho mình.

Tại sao tôi phải chết để người khác được sống? Chết để sinh nhiều bông hạt ư? Nhưng nhiều bông hạt có ích gì, khi chính tôi bị tan vỡ?

2. Chết để sống và sống để chết

Mùa Xuân năm ấy, có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong thửa đất màu mỡ. Hạt giống thứ nhất hăng hái nói: “Tôi muốn mọc lên! Tôi muốn cắm rễ sâu xuống lòng đất, và đâm chồi xuyên qua lớp đất cứng bên trên. Tôi muốn vươn lên những búp non mơn mởn như những lá cờ loan báo mùa xuân đã đến… Tôi muốn cảm nhận hơi ấm của mặt trời mơn man trên mặt và hơi nước mát lạnh của sương mai trên những cánh hoa.” Và nó đã mọc lên xanh tốt.

Hạt giống thứ hai tự nhủ: “Mình sợ lắm! Nếu cắm rễ xuống đất, mình chẳng biết sẽ gặp gì trong lòng đất tối tăm. Nếu mình tìm đường xuyên qua lớp đất cứng bên trên, biết đâu những chồi non yếu ớt của mình sẽ bị thương tổn… Làm sao mình có thể cho búp non xòe lá khi một chú sâu đang chờ sẵn để xơi tái đọt lá xanh non? Và nếu mình nở hoa, một em bé có thể nhổ đứt mình lên! Không, tốt hơn mình nên đợi cho đến lúc an toàn hơn.” Và nó tiếp tục đợi chờ… Một sáng đầu xuân, cô gà mái bới đất kiếm ăn đã thấy hạt giống đang nằm chờ đợi. Cô chẳng đợi gì mà không mổ lấy, nuốt ngay.

3. Ông đóng khố cởi trần.

Người ta kể rằng: Tin mừng Chúa được gieo rắc tại Nhật bản từ hồi thế kỷ 16 do các vị thừa sai ngoại quốc đem đến. Giáo hội Nhật tuy còn non trẻ mà đã bị cấm cách giết hại. Các vị thừa sai, vị thì bị giết, vị thì phải trục xuất, không còn một vị thừa sai nào ở lại để tiếp tục dạy giáo lý, củng cố đức tin cho họ.

Ai cũng tưởng rằng Giáo hội Nhật bản đã bị xoá sổ vì suốt trong ba trăm năm không còn ai đến dạy dỗ họ. Nhưng không ngờ, khi các nhà thừa sai được phép truyền giáo lại ở Nhật, có người xưng mình là Kitô hữu. Khi được hỏi về giáo lý thì họ mù tịt, chẳng hiểu biết gì. Nhưng khi được hỏi là họ thờ ai, thì họ đã mạnh dạn thưa: ”Thờ ông đóng khố cởi trần trên thập giá”!

4. Chết đang khi sống

Nhiều người coi sống và chết là hai sự việc nối tiếp nhau: khi không còn sống nữa thì chết. Nghĩ như thế là vì người ta chỉ biết có mỗi một sự sống, là sự sống của thể xác, và cũng chỉ biết có mỗi một sự chết, cũng là sự chết của thể xác.

Thực ra, sống và chết là hai việc đi song song với nhau trong cùng một đời người. Bởi vì có tới hai sự sống và hai sự chết: sự sống chết của con người thể xác và sự sống chết của con người đích thực. Câu nói của Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng này hàm chứa hai sự sống chết đó: "Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” Nói cách khác cho dễ hiểu hơn: ai cố bám víu vào sự sống của con người thể xác thì sẽ đánh mất sự sống của con người đích thực; còn ai dám để cho sự sống của con người thể xác chết đi thì đồng thời bồi dưỡng cho sự sống của con người đích thực.

Bởi đó, có người dám nói: "Chết là một phần của sống. Chúng ta sinh ra là để chết, hầu có thể sống sung mãn hơn.” Thực vậy,

mỗi một hành vi khiêm tốn là một phần tính kiêu ngạo chết đi.

mỗi một hành vi can đảm là một phần tính hèn nhát chết đi.

mỗi một hành vi dịu dàng là một phần tính hung bạo chết đi.

mỗi một hành vi yêu thương là một phần tính ích kỷ chết đi.

Con người tội lỗi chết dần đi thì con người đích thực được dựng nên giống hình ảnh Chúa dần dần sống mạnh. (Viết theo Flor McCarthy)

5. Thánh Maximilien Kolbe.

Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của người môn đệ Chúa: Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung Oswiccim của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào. Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ một người kêu ré lên “Ôi vợ và các con tôi.”

Hàng trăm dẫy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dẫy tù nhân bên trái, một người gầy guộc rời hàng bước về phía viên trại trưởng. Mọi người nín thở: chuyện chưa từng có! Viên trưởng trại đặt tay lên súng:

- Anh muốn gì?

- Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.

Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không, người kia thực sự xin được chết thay cho kẻ có vợ và các con đang đợi ở nhà. Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp nhận lời yêu cầu. Kẻ tình nguyện đo chính là Maximilien Kolbe, một Linh mục công giáo. Cha đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982.

Người tù nhờ Cha Kolbe thoát chết tên là Phăng-xít (Francis Gap Wniczeck) về sau đã kể lại tình trạng nhà tù vào lúc đó như sau: “Sau khi Cha Kolbe tình nguyện chịu chết thay tôi thì tinh thần của các tù nhân trong trại giam biến đổi hẳn. Trước đây họ thường ích kỷ, khép kín, bắt nạt người mới và yếu thế hơn để tranh dành thực phẩm tiếp tế... thì bây giờ họ đã đối xử với nhau trong tình thân ái, nhường cơm xẻ áo cho nhau. Ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị linh muc đã dám hy sinh tính mạng chết thay cho một người không quen biết.

6. Thập giá chỉ đường.

Phi trường quốc tế Pensylvania là một trong những sân bay lớn nhất, hiện đại nhất trong các sân bay của Hoa kỳ. Cách sân bay chỉ khoảng cây số có một ngôi thánh đường nằm đúng vào hướng bay cuối một trong những phi đạo nhộn nhịp đón nhiều chuyến bay nhất.

Sợ tháp chuông có thể gây nguy hiểm cho các máy bay mỗi lần đáp xuống phi đạo, toàn thể giáo dân ở đây đã đồng lòng quyết định sẽ đặt trên đỉûnh tháp chuông một bóng đèn nê-ông lớn bằng hình cây thánh giá. Từ đó, mỗi lần chuẩn bị đáp xuống phi đạo vào ban đêm, các phi công đều dựa vào ánh sáng tỏa ra từ cây thánh giá như thể đó là một ngọn hải đăng chỉ đường cho các con tầu cập bến an toàn.

“Lạy Chúa Giêsu, Thánh giá Chúa là một mầu nhiệm mà lý trí chúng con khó hiểu, và đứng trước mầu nhiệm này, tình cảm chúng con hoảng sợ và khước từ. Xin Chúa ban ánh sáng soi dẫn ý nghĩa cho chúng con. Xin ban cho chúng con nghị lực chấp nhận nó với tất cả những đòi hỏi của nó. Xin ban cho chúng con vui sống mầu nhiệm ấy với Chúa, ngõ hầu Nước Cha trị đến trong chúng con và khắp trần gian đến muôn thuở muôn đời.” Amen.

7. Người có khả năng quản lý

Một đêm giông bão gió thổi mọi hướng, mưa rơi như thác đổ. Một người đàn ông đứng tuổi, cùng bà vợ ghé tới một bàn giấy một khách sạn nhỏ ở Philadephia. Như biện hộ cho mình, ông ta hỏi: “Xin anh làm ơn cho chúng tôi một phòng? Mọi khách sạn lớn đều hết phòng rồi.”

- Thưa ông tất cả các phòng đã có người thuê. Người thư ký trả lời – Nhưng tôi không nỡ để ông bà đi mưa vào lúc một giờ sáng.

- Anh nói chi?

- Ông bà có thể ngủ tại phòng tôi .

- Nhưng anh ngủ ở đâu? Ông khách hỏi.

- Ôi, tôi sẽ tìm được - Người thư ký trả lời, đứng lo lắng về tôi.

Sáng hôm sau khi ông khách trả tiền phòng, ông nói với người thanh niên đã dành phòng cho ông khách: “Anh là một người quản lý có khả năng làm chủ một khách sạn lớn nhất Hoa Kỳ. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ xây một cái cho anh.

Hai năm sau, người thư ký trẻ nhận được một bức thư có kèm một vé khứ hồi đi Newyork và một danh thiếp của người khách trong đêm giông bão khi xưa, mời người thư ký đến gặp ông tại thành phố lớn Newyork. Người khách năm xưa dẫn người thư ký đến góc phố giữa đại lộ số 5 và đường phố số 34. Chỉ ngôi nhà lầu cao, mới, ông nói: “Đây là khách sạn tôi đã xây để anh quan lý.” Không nói nên lời, người thanh niên Gheorge C. Boldt, ấp úng câu cám ơn. Mạnh thường quân của anh là ông William Waldorf Astoria. Khách sạn này là khách sạn chu đáo nhất thời đó, mang tên Waldorf Astoria.

8. Điểm yếu trở thành ưu điểm

Một cậu bé 10 tuổi quyết định học môn võ Judo cho dù cánh tay trái của cậu đã mất trong một tai nạn xe hơi. Cậu theo học judo với một võ sư Nhật. Vì tin rằng mình đã học tập rất chuyên cần và tiến bộ nên cậu vô cùng thắc mắc tại sao sau ba tháng tập luyện mà thầy chỉ dạy cho mình mỗi một thế võ duy nhất.

Cuối cùng, không kiên nhẫn nổi nữa, cậu bé hỏi thầy:

- Thưa thầy, chẳng lẽ con không thể học được các thế võ khác sao?

Ông trả lời:

- Đây là thế võ duy nhất thầy dạy con, và đây cũng chính là thế võ duy nhất mà con cần phải học.

Tuy không hiểu hết lời thầy nhưng tin tưởng ở thầy, cậu bé tiếp tục tập luyện.

Nhiều tháng sau, võ sư dẫn cậu đến tham dự một cuộc thi Judo. Cậu bé rất ngạc nhiên khi thấy mình thắng dễ dàng trong hai trận đầu. Trận thứ ba khó khăn hơn nhưng sau một hồi, đối phương mất kiên nhẫn trong các đòn tấn công, cậu bé đã khéo léo sử dụng thể võ và chiến thắng. Vẫn chưa hết ngạc nhiên vì thành công của mình, cậu tự tin bước vào trận chung kết.

Lần này đối thủ của cậu là một võ sinh cao lớn, to khỏe và dày dạn kinh nghiệm. Vào trận không lâu, cậu bé đã liên tiếp trúng đòn và hoàn toàn bị đối phương áp đảo. Hết hiệp đầu, sợ cậu bé bị thương, trọng tài ra hiệu để kết thúc trận đấu sớm nhưng người thầy của cậu không đồng ý:

- Cứ để cậu bé tiếp tục. - Võ sư yêu cầu.

Ngay sau khi trận đấu bắt đầu lại, đối phương phạm phải sai lầm nghiêm trọng: anh ta coi thường đối thủ và mất cảnh giác. Ngay lập tức cậu bé dùng thể võ duy nhất của mình quật ngã đối phương và khóa chặt anh ta trên sàn. Cậu bé đã đoạt chức vô địch.

Trên đường về, hai thầy trò ôn lại các thế đánh trong từng trận đấu. Lúc này cậu bé mới thu hết can đảm nói ra điều ám ảnh trong đầu mình bấy lâu nay:

- Thưa thầy, làm sao con có thể trở thành vô địch chỉ với một thế võ như thế?

- Con chiến thắng vì hai lý do. - Người thầy trả lời - Lý do thứ nhất, con gần như đã làm chủ được một trong những cú đánh hiểm và hiệu quả nhất của môn võ này. Lý do thứ hai, cách duy nhất mà đối thủ của con phá được thể võ đó là họ phải giữ chặt cánh tay trái của con lại - mà con lại không có tay trái.

Trong cuộc sống đôi khi một điểm yếu của ai đó lại trở thành điểm mạnh vững chãi nhất của họ. Có ưu điểm là một điều tốt nhưng nếu có thể biến khuyết điểm thành lợi thế lại càng là một điều kỳ diệu hơn. Chúa Giêsu đã biết biến thất bại của cây Thập Giá thành chiến thắng vinh quang. Ngài đã nhìn thấy ở nơi cây Thập Giá ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa Cha và Ngài đã đón nhận cây Thập Giá với tất cả tấm lòng của người con thảo để từ đó Ngài mở ra cho Thiên Chúa Cha một dân tộc mới, dân tộc được cứu rỗi.

9. Giá đắt phải trả cho thái độ vô cảm

Người ta kể rằng: Ở bên Trung Quốc, có một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Trên xe, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô tài xế xinh đẹp. Chúng bắt cô dừng xe và muốn "vui vẻ" với cô. Tất nhiên là cô tài xế kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng.

Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay, nhưng ông đã bị chúng đánh đập. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng. Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.

Một giờ sau, ba tên du côn và cô tài xế tơi tả trở về xe để tiếp tục lên đường...

"Này ông kia, ông xuống xe đi!" cô tài xế la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.

Người đàn ông sững sờ, nói:

"Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?"

Cô gái nhăn mặt nói: "Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy."

Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe. Thậm chí một vài hành khách khỏe hơn đã lôi người đàn ông xuống xe.

Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ. Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút.

Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô.

Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô tài xế:

"Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?"

Cô tài xế không nói tiếng nào nhưng xe chạy ngày càng nhanh hơn. Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài, rơi xuống vực như mũi tên bật khỏi cây cung.

Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng "Phục Hổ Sơn.” Một chiếc xe cỡ trung rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.

Trong thành phố, có một người đàn ông đọc bản tin trên báo đã khóc!

10. Con đường hạt lúa của các tín hữu hôm nay.

Để đi được con đường tử nạn và phục sinh này, đòi chúng ta phải được ơn Thánh Thần trợ giúp. Mỗi người chúng ta cần noi gương các Tông đồ năng cầu nguyện ket hiệp với Đức Ma-ri-a để xin ơn Thánh Thần biến đổi.

Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy áp dụng mầu nhiệm cây lúa bằng việc thực hành theo kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” cụ thể như sau:

- Mỗi ngày quyết tâm làm một việc phục vụ tha nhân như: quan tâm giúp đỡ người thân làm việc nhà, để loại trừ thói xấu ích kỷ lười biếng nơi mình.

- Can đảm lên tiếng bênh vực công lý thay vì thái độ im lặng để diệt trừ thói xấu vô cảm hèn nhát trong ta.

- Khiêm tốn năng khen ngợi tha nhân cách thành thật để loại trừ thói xấu kiêu ngạo tự mãn nơi bản thân mình.

- Tập làm luật sư bào chữa lỗi lầm cho tha nhân thay vì làm quan tòa kết án họ, để loại trừ thói xấu ganh ghét đố kỵ những ai hơn mình.

- Tập mỉm cười thân thiện và đi bước trước chào hỏi tha nhân ngay từ khi sáng sớm để loại trừ thói quan liêu cửa quyền, ưa xử dụng bạo lực và nói năng hách dịch làm thất nhân tâm.

- Tập thói quen mở rộng vòng tay thân ái để mỗi ngày một “thêm bạn bớt thù.” Mỗi gia đình công giáo sẽ kết thân với một gia đình lương dân để mở mang Nước Chúa.

11. Tay vị kỷ thua kém tay vị tha

Tôi có hai cánh tay, hai cánh tay cùng thuộc về thân mình tôi nhưng mỗi cánh tay lại có một nếp sống khác nhau, một chủ trương khác nhau. Cánh tay trái của tôi theo chủ nghĩa vị kỷ, còn cánh tay phải theo chủ nghĩa vị tha.

Vì theo chủ nghĩa vị kỷ, luôn luôn quy về mình, nên tay trái của tôi rất ít tham gia vào công việc chung mà cứ để cho tay phải đảm đương mọi việc. Khi ăn cơm, tay trái dành cho tay phải cầm đũa. Khi viết bài, tay trái dành cho tay phải cầm bút. Khi cầm búa đóng đinh hay cầm cây kim may áo, nó chẳng chịu tham gia mà nhường cho tay phải làm hết.

Hậu quả của thói ích kỷ nầy là nó trở nên yếu đuối và thua kém tay phải trong mọi việc. Nếu tổ chức một cuộc thi giữa hai cánh tay thì khi thi viết, tay phải viết nhanh, viết đẹp, viết rõ ràng nên được điểm 10, còn tay trái viết chậm, nguệch ngoạc như mèo cào, như gà bới, nên không được điểm nào.

Khi thi đóng đinh thì tay phải đóng đinh nhanh gọn, chính xác; còn tay trái đóng trật lất. Khi thi may vá thêu thùa thì tay phải may nhanh, thêu đẹp; còn tay trái thì lóng ngóng chẳng làm được việc gì. Nói tóm lại, dù thi bất cứ môn gì, tay phải cũng dành được điểm mười còn tay trái chỉ được số không!

Cả hai cánh tay phải và trái đều thuộc về thân mình tôi, cùng được chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau, thế mà tay trái vì theo thói ích kỷ, chẳng bao giờ muốn hi sinh phục vụ toàn thân, chẳng dấn thân chăm lo cho người khác, nên nó trở nên yếu đuối và thua kém trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, vì tay phải theo chủ nghĩa vị tha, luôn chấp nhận đảm đương mọi công việc nặng nề khó nhọc, lúc nào cũng sẵn sàng hi sinh phục vụ toàn thân và phục vụ nhiều người … nên nó mạnh mẽ hơn, khéo léo hơn, tài giỏi hơn, vượt xa tay trái về mọi mặt.

12. Mất là được

Hôm ấy, có người nông dân mang thóc giống gieo trên thửa ruộng của mình. Đang khi gieo thì trời nổi gió lớn. Có nhiều hạt rơi xuống ruộng bùn nhưng cũng có nhiều hạt bị gió thổi bạt lên vệ đường kề bên.

Bấy giờ những hạt giống nằm trên vệ đường khô ráo cảm thấy phận mình thật là diễm phúc, so với bao nhiêu hạt thóc bạn đang phải ngoi ngóp, ngụp lặn dưới bùn. Chúng tỏ lòng thương hại các hạt thóc bạn dưới sình bằng những lời ngạo mạn: "Thật đáng thương thay thân phận khốn khổ của các anh. Đang khi chúng tôi được ở nơi khô ráo, thì các anh lại phải ngụp lặn trong sình. Đang khi chúng tôi được ngước mắt nhìn ánh dương rực rỡ, được tắm mình dưới nắng, thì các anh lại phải ngụp lặn trong chốn tối tăm. Đang khi chúng tôi được nhìn ngắm bầu trời xanh, nhìn ngắm những bông hoa tươi đẹp bên vệ đường, được ngắm nhìn người qua kẻ lại nói cười vui vẻ, thì chung quanh các anh chỉ là tăm tối và tanh hôi. Cuộc đời chúng tôi đang lên hương, còn cuộc sống các anh đang lụi tàn! Thật bất hạnh thay cho các anh!"

Hạt lúa ấy vừa dứt lời thì bỗng đâu có một bàn chân người dẫm đạp lên mình nó, khiến nó bị gãy thành ba. Sau đó, mấy chiếc xe ào đến, lạnh lùng chà nát nó và những hạt lúa khác thành bụi tro. Những hạt lúa may mắn còn sót lại thì hoá thành mồi ngon cho chim chóc và các loại côn trùng!

Trong khi đó, những hạt lúa tưởng là bất hạnh đang ngụp lặn trong bùn, thì qua vài ngày sau đã ngoi lên thành những chồi non đầy sức sống, rồi thành những cây lúa xanh tươi cứng cáp. Cây lúa lớn dần, nở bụi sum suê. Không đầy ba tháng sau, nó trổ thành những bông lúa, kết thành hàng trăm hạt vàng khoe mình dưới nắng, đem lại sức sống cho bao người.

13. Chết là trở về với cha

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã kể lại một giai thoại như sau. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng có tiếng khóc ngân xa nghe rất não nuột. Đứa bé sợ quá ôm chầm lấy mẹ. Nó hỏi: “Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Câu hỏi đột ngột khiến bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời đứa con như thế nào.

Bà bật dậy, ngồi vào bàn và mở cuốn Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan chương 13 câu 1, bà đọc thấy thánh ký đã viết: “Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết trước giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở trần gian và Người yêu thương họ đến cùng.”Gấp sách lại, bà trở về giường và nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Cha và yêu thương đến cùng.”

Trên giường hấp hối, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói với các chị em trong cộng đoàn: “Em sắp chết, nhưng không phải em chết mà em đang đi về cõi sống.” Sở dĩ thánh nữ có cái nhìn lạc quan như thế khi đối diện trước cái chết vì Ngài đã thâm tín sâu xa và sống triệt để điều mà chị Thánh đã tâm niệm và viết lại trong cuốn nhật ký một tâm hồn: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu vượt thắng mọi thời gian và không gian. Ơn gọi của tôi không là gì khác tình yêu.”

Trong tình yêu, con người sẽ trở thành bất tử. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết sống sung mãn ơn gọi tình yêu để ngày càng đi sâu vào mầu nhiệm tự hủy cùng với Chúa Giêsu.

14. Chết đi để sinh nhiều bông hạt

Vài hôm trước ngày bị hạ sát, Tổng Giám Mục Oscar Romero phát biểu với một phóng viên nhà báo: "Ông có thể nói với dân chúng rằng, nếu họ thành công trong việc ám hại tôi, tôi sẽ tha thứ và ban phép lành cho những ai làm điều ấy. Hy vọng họ sẽ nhận ra rằng họ đã phí uổng thời giờ. Một vị Giám mục sẽ chết, nhưng Giáo Hội của Thiên Chúa, tức là Giáo Hội của dân chúng sẽ chẳng hề bị hủy diệt."

Vào lúc 6 giờ 25 chiều ngày 24/3/1980, tại nguyện đường của Bệnh Viện Chúa Quan Phòng, một bệnh viện dành cho bệnh nhân ung thư, Tổng Giám Mục Romero cử hành Thánh Lễ cầu hồn cho thân mẫu của một ký giả bạn thân, vừa mới qua đời. Đức Cha Romero đọc đoạn Phúc Âm Thánh Gioan: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh... Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”(Gioan 12, 23-24) Đức Cha triển khai chủ đề ấy trong bài giảng ngay sau đó, áp dụng nó vào tình cảnh khốn cùng mà dân nước El Salvador phải cam chịu dưới ách thống trị của độc tài quân phiệt.

Ngài tâm sự với cộng đoàn nhỏ bé đang dự lễ: "Điều quan trọng là đừng yêu mình đến nỗi không dám dính líu vào những việc liều lĩnh, mà lịch sử đòi hỏi nơi chúng ta... Kẻ nào né tránh sự nguy hiểm, kẻ ấy sẽ mất sự sống mình. Nhưng bất cứ ai vì lòng yêu mến Chúa Kitô hiến thân phục vụ tha nhân, kẻ ấy sẽ được sống giống như hạt lúa mì chết, nhưng thật ra chỉ chết về mặt bề ngoài.”Ngài còn nói: "Tôi tin trong sự chết có sự sống lại. Nếu người ta giết tôi, tôi sẽ được sống lại trong dân Salvador của tôi."

Kết thúc bài giảng, Đức Cha Oscar Romero tiến lên giữa bàn thờ chuẩn bị bánh và rượu để dâng hy lễ Chiên Thiên Chúa, thì tiếng súng nổ, một loạt đạn từ dưới cuối nhà nguyện bay vèo lên. Tổng Giám Mục Romero trúng đạn, máu chảy lai láng. Người ta vội đưa ngài đi cấp cứu, nhưng ngài đã tắt thở.

Giết chết Tổng Giám mục Oscar Romero, thế lực quân phiệt, tài phiệt bạo ngược chưa thỏa lòng. Họ còn cho binh lính mai phục trên nóc nhà thờ, đặt chất nổ và xả súng bắn vào đoàn người đang dự lễ an táng Đức Cha, ngay trước tiền đường nhà thờ chánh toà, khiến thêm 37 người nữa bị tử nạn và hàng trăm người bị thương. Nhưng ai là thủ phạm các vụ tàn sát trên thì "chỉ có Chúa biết.” (Theo Romero: A life của James A. Brockman)

15. Thuốc bất tử

Thời Chiến quốc, có một người đem dâng cho vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, đi ngang qua một viên quan canh cửa. Viên quan này hỏi:

- Vị thuốc này có ăn được không?

Người kia đáp:

- Ăn được.

Tức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn. Chuyện đến tai vua. Vua truyền bắt viên quan đem giết.

Viên quan kêu:

- Thần đã hỏi người đem dâng thuốc là có ăn được không. Người ấy bảo: “ăn được”, nên thần mới dám ăn. Như thế là thần vô tội mà lỗi là ở người dâng thuốc. Hơn nữa, người đem dâng thuốc nói là thuốc “ bất tử”, nghĩa là thuốc ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới vừa ăn xong, lại sắp phải chết; vậy là thuốc “tử” chứ đâu phải thuốc “bất tử”? Nhà vua giết thần, thực là oan uổng cho một người vô tội; điều đó có nghĩa là thiên hạ dối lừa nhà vua mà nhà vua vẫn tin.

Nghe nói có lý, nhà vua bèn tha chết cho viên quan.

Phương thuốc bất tử mà Chúa Giêsu muốn mang đến cho con người là: sám hối và tin vào Tin Mừng (Mc 1,15).

Trước tiên, phải sám hối, chịu “thối đi”, chịu “mất mạng sống mình” mới chỉ là những thứ chúng ta phải kiêng khem, phải hy sinh, phải hãm mình như người mắc bệnh tiểu đường phải kiêng ăn ngọt, người cao máu phải kiêng ăn mặn.

Kế tiếp, là tin vào Tin Mừng như lời Chúa đã phán: “Ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta, thì được từ cõi chết mà qua cõi sống.” (Ga. 5,24); hay “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì có sự sống đời đời.” (Ga. 6,55)

Tóm lại, bài thuốc bất tử mà Chúa muốn ban cho chúng ta là Thập gía. Chúa Giêsu đã chấp nhận chết đi để trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại được nhìn lên Ngài và được sống.

16. Sống mãnh liệt

Ngày 30/01/1938, một chuyến xe lửa chạy từ miền bắc xuống miền nam Columbia, bất ngờ bị trật đường rầy, tai nạn đó đã làm cho nhiều người chết và bị thương. Trong số những người quần quại nằm đó, có cha Phênisê thuộc dòng Thánh Gioan. Ngài bị thương nặng, một phần ruột lòi ra ngoài.

Nhận ra cha, các y tá ân cần chăm sóc. Nhưng ngài ra hiệu, hãy lo cứu giúp những nạn nhân khác. Rồi lấy hết sức bình sinh, ngài nhét ruột vào, dùng khăn buộc lại và đi tìm những hành khách bị thương nặng để giải tội cho họ.

Được một lúc ngài ngã xuống. Các y tá chạy lại, ngài thều thào nói trong đau đớn tột cùng: "Cám ơn Chúa đã cho tôi thì giờ để làm điều cần thiết cho anh em. Bây giờ các cô có thể mang xác tôi đi.”

Chiếc xe cứu thương vội chở Cha Phênisê tới bệnh viện gần đó. Nhưng chỉ vài giờ sau ngài trút hơi thở cuối cùng khi tuổi đời mới ba mươi sáu.

Được dựng nên để sống nên chẳng ai muốn chết, nhưng chẳng khi nào người ta sống mãnh liệt hơn khi sẵn lòng chết cho một lẽ sống.

17. Chết cho ý riêng để hồi phục

Câu chuyện bà Catherine Marchall và chị nữ tu truyền giáo:

Vài năm trước đây, bà Catherine Marshall có viết một bài báo nhan đề "Khi Chúng Ta Dám Tin Vào Thiên Chúa.” Bài báo thuật lại rằng bà bị liệt giường suốt 6 tháng không ăn uống được vì một bệnh nhiễm trùng phổi trầm trọng. Mặc dù được điều trị bằng vô số thuốc men và được bao nhiêu người cầu nguyện cho, bà vẫn cảm thấy tuyệt vọng hoàn toàn.

Một hôm có người biếu bà một cuốn sách nhỏ kể chuyện một nữ tu truyền giáo bị một chứng bệnh kỳ lạ. Chị nữ tu này bị cơn bệnh đó dày vò suốt 8 năm trời và chị không thể hiểu nổi tại sao Chúa lại để cho tấm thảm kịch này đến với mình. Ngày nào chị cũng cầu xin cho mình được khoẻ mạnh để chu toàn công việc truyền giáo của mình. Nhưng lời cầu xin của chị vẫn chưa được Chúa nhậm lời. Một ngày kia, thất vọng quá chị khóc lóc với Chúa: "Lạy Chúa, con tuyệt vọng rồi! Nhưng không sao; nếu Chúa muốn con trở thành tàn phế, thì đó là do ý của Chúa!” Thế rồi hai tuần sau, chị nữ tu đó được hoàn toàn bình phục.

Catherine Marshall để cuốn sách đó sang một bên. Câu chuyện kỳ lạ ấy khiến bà bối rối. Bà nói: "Dẫu sao tôi vẫn không quên được câu chuyện ấy!” Thế rồi một buổi sáng nọ, bà Catherine kêu cầu Chúa bằng những lời tương tự như lời cầu nguyện của chị nữ tu ấy: "Con kêu xin Chúa ban sức khoẻ cho con, con đã mỏi mệt quá rồi! Xin Chúa hãy quyết định là Chúa muốn cho con khoẻ mạnh hay bệnh tật đi!” Về sau, Catherine kể lại rằng, vào lúc ấy, sức khoẻ bà bắt đầu hồi phục lại.

Câu chuyện của nữ tu truyền giáo và của bà Catherine Marshall giúp chúng ta hiểu Lời Chúa trong Tim mừng Chúa nhật hôm nay: “Nếu hạt lúa không chết đi, nó chẳng đem lại hoa trái nào.” Nếu chúng ta không chết cho ý riêng mình, chúng ta cũng chẳng sinh được bông trái…”

18. Còn thiếu sự sống

Trong một cuộc triển lãn nghệ thuật, điêu khắc gia Michel Angelos đã mất ngủ để suy nghĩ về câu nói của một nhà phê bình trứ danh, khi ông ngắm nhìn pho tượng đá Môsê: "Pho tượng tuyệt tác, linh động, sắc sảo như người, nhưng thiếu một điều......” Ba đêm trời suy nghĩ không ra, Michel Angelos xin đến gặp nhà phê bình để hỏi cho ra lẽ. Nhà phê bình cười rồi bảo: "Bức tượng đá đẹp, nhưng tiếc một điều là nếu nó có thêm chút sự sống nữa thì toàn vẹn.” Angelos nghe xong lời ấy có vẻ bất mãn, liền nói lên cách tự nhiên: "Sự sống ai mà tạo nên được.”

19. Ham sống

Một trong những chuyện hay của Lã Phụng Tiên có kể: Ngày đó một gã tiều phu già luống tuổi, đang ngồi nghỉ mệt bên lề đường. Ông than cho kiếp con người ông bạc phước, đày đọa kiếp thân tàn, làm ăn cực nhọc cả đời. Ông muốn chết cho xong kiếp sống lầm than. Bỗng thần chết xuất hiện giúp ông thực hiện ý muốn. Vừa trông thấy thần chết cầm hái từ thần, ông nhanh trí đánh trống lảng: "Xin nhờ Thần đưa giúp tôi bó củi lên vai, nghỉ lâu quá rồi.” Bước đi mau chân ông lão không dám ngoái cổ lại nhìn sự thật đàng sau.

20. Lẽ sống – chết

Anh Sundar được sinh ra trong một gia đình theo Ấn giáo. Lớn lên, được nghe biết về Chúa Giêsu, anh đã xin rửa tội theo Kitô giáo, sau đó tình nguyện ở lại Ấn độ làm thừa sai, chứng tá cho niềm tin của mình.

Một chiều kia, Sundar cùng với một tu sĩ Phật giáo phải băng qua vùng núi Himalaya để đi đến một tu viện. Trời lạnh buốt và màn đêm như sắp bao phủ không gian. Sundar và nhà tu kia được báo cho biết họ sẽ bị lạnh và có thể mất mạng nếu không kịp về đến tu viện trước khi trời tối.

Đang lúc đi vào một đoạn đường hiểm trở, với những vách đá cheo leo, thì chợt, họ nghe có tiếng cầu cứu. Một người đàn ông đã trợt chân rơi xuống khe núi từ khi nào. Chân anh ta bị gãy, không thể nào leo lên được, và đang nằm chờ chết.

Người tu sĩ kia lên tiếng nhắc nhở Sundar:

- Chớ dừng lại. Ý trời đã định cho hắn như vậy rồi, ta không nên can dự vào làm chi. Phần chúng ta, phải đi gấp lên nếu như không muốn bỏ mình nơi này.

Sundar đáp lại:

- Theo tôi, ý Trời đã định cho ta đi ngang qua đây để cứu giúp kẻ không may này đấy. Tôi không thể bỏ rơi anh ta.

Nói xong Sundar tìm cách trèo xuống khe núi. Vị tu sĩ kia vội vã tiếp tục cuộc hành trình.

Nơi khe núi, nhìn đôi chân bị gãy, biết nạn nhân không thể tự bước đi được, Sundar phải dùng tấm mền bó anh lại, cõng lên lưng, nặng nhọc lần mò trèo khỏi khe núi, tìm trở lại con đường lúc nãy.

Sau mấy tiếng đồng hồ vất vả, Sundar và nạn nhân đến được lối mòn dẫn về tu viện. Lúc này tuyết rơi mỗi lúc một dày. Trời tối. Cóng lạnh. Sức lực hầu như khô cạn. Đang lúc tưởng chừng không còn bước thêm được nữa thì Sundar chợt thấy có ánh lửa phát ra từ một cánh cửa sổ của tu viện.

Mừng quá! Sinh khí dường như được phục hồi. Sundar hăng hái dấn bước về phía có ánh lửa. Chợt anh vấp té, bổ nhào trên tuyết lạnh.

Không phải anh đuối sức. Nhưng vì vấp phải một vật gì đó nằm chắn ngang đường đi. Sundar quì xuống, lấy tay gạt lớp tuyết phủ bên trên thì nhận ra đấy là xác của người tu sĩ đã cùng đi với mình ban chiều. Thương cho người bạn đồng hành xấu số, Sundar âm thầm dâng lên Chúa một lời nguyện…. Và rồi từ thẳm sâu của tâm hồn, anh chợt nghe vang vọng một câu Phúc Âm: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời.”(Theo lời kể của William Bausch)

21. Giao ước Chúa ký kết với con người

Một anh chàng giật mình khi nghe một giọng nói khàn khàn, run run. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

– Ăn hộ tôi mớ rau…!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người để tới chỗ làm sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh:

– Dạ, con không ăn, bà ạ!

Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi gã quên rất nhanh cái cảm giác ấy.”Mình thương người thì ai thương mình?” – ý nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

– Ăn hộ tôi mớ rau, cô ơi! – Tiếng bà cụ yếu ớt.

– Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn! – Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày, đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

– Rau này bà bán bao nhiêu?

– Hai nghìn một mớ – Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

– Sao chú mua nhiều thế?

– Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy lòng mình vui vui...

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, và gã nghĩ đến bà cụ…

– Nghỉ ngơi thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ rồi.

Chiều Chúa Nhật, gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy, có lẽ gã thích thế. Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang “buôn chuyện.”

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

– Bà bán rau chết rồi.

– Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – chị bán nước khẽ hỏi.

– Tội nghiệp bà cụ! Cách đây mấy tuần, bà cụ giở chứng, cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng bà nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh mà... chết!

Câu chuyện khiến lòng chúng ta chùng xuống, nỗi bâng khuâng rất lạ, rất khó tả. Bà cụ là người chân thật, trọng chữ tín. Mấy mớ rau chẳng đáng gì, nhưng với bà cụ, lời hứa rất đáng giá. Lời hứa nào cũng vô giá – dù lớn hay nhỏ, và phải được thực hiện bằng mọi giá!

Giữa Thiên Chúa và con người cũng có những lời thề hứa, chúng ta gọi là giao ước.

22. Con chưa bị chết hay sao?

Có hai anh em nhà kia, cậu bé trai 8 tuổi và cô em gái của cậu 6 tuổi. Cả hai đều gầy yếu và thường đau ốm luôn. Một hôm cậu bé bị một cơn đau gan cấp tính, được cha mẹ đưa vào cấp cứu tại bệnh viện gần nhà. Sau thời gian hai tuần lễ điều trị, cậu bé đã thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và đang nằm viện thêm ít ngày để hồi sức.

Nhưng sau đó, lại đến lượt cô em gái bị chứng xuất huyết nội và được mang đi cấp cứu tại cùng bệnh viện với anh. Cô bé bị mất máu khá nhiều cần được mau chóng tiếp máu. Thế nhưng bệnh viện lại không có sẵn máu cùng nhóm để truyền.

Rất may là máu của cậu bé cùng nhóm máu với cô em. Khi được hỏi có muốn cho máu để cứu sống em gái không, thì lúc đầu cậu bé hơi ngần ngại và lo lắng một chút. Nhưng ngay sau đó, cậu ta đã lấy lại bình tĩnh và trả lời bác sĩ rằng: “Vâng, con bằng lòng hiến máu cho em con. Xin bác sĩ hãy cố gắng cứu sống nó. Vì con thương em con lắm.“

Sau đó bác sĩ đã lấy máu của cậu truyền cho cô em. Một lúc sau tỉnh dậy, cậu bé đã làm cho mọi người trong phòng ngạc nhiên và buồn cười khi nói: “Ô hay! Con chưa bị chết hay sao? Vậy bác sĩ đã tiếp máu cho em con chưa? Em con bây giờ ra sao rồi?”

Thì ra cậu bé đã tưởng lầm rằng khi bằng lòng hiến máu cho em, là cậu phải cho em tất cả số máu trong con người mình! Nhưng vì quá thương em và không muốn cho em bị chết, nên sau khi ngần ngại một chút, cậu đã quyết định hy sinh chịu chết để cho em gái mình được sống!

23. Yêu thương là cho đi

Yêu thương là cho đi, là chia sẻ, là dám chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau. Hoa hồng nào mà chẳng có gai, tình yêu nào mà chẳng có những hy sinh gian khổ của nó.

Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại rằng: Hồi đó, nhằm lúc thiếu đường trong thành phố, thì ngày kia có một cậu bé bốn tuổi, đem đến cho mẹ một chén đường và nói: Thưa mẹ con đã nhịn đường suốt cả một tuần lễ nay, xin mẹ dùng ít đường này cho các trẻ mồ côi của mẹ. Một cử chỉ thật anh hùng biết bao đối với một em bé 4 tuổi. Em đã học biết yêu thương kẻ khác đến mức hy sinh tất cả những gì mình cần thiết.

Một dịp khác, đang lúc mẹ đang vo gạo thì có một người đàn ông đến gặp mẹ và nói: Thưa mẹ, gần đây có một gia đình người Hindu gồm tám đứa con, nhưng đã cả tuần lễ nay họ không có gì để ăn. Lập tức mẹ bưng rá gạo đi theo người đàn ông đó đến nhà người Hindu kia. Bước vào túp lều xiêu vẹo, mẹ đã gặp được trên những nét mặt xanh xao đó cơn đói đang hành hạ. Không cầm lòng được, mẹ đã đưa cả rá gạo cho người đàn bà. Bà này cảm động cầm lấy rá gạo rồi lập tức chia làm hai phần, bưng nửa ra đi, lát sau mới trở lại. Mẹ thấy vậy bèn ngạc nhiên hỏi: Bà đi đâu vậy và đem gạo cho ai?

Không chút do dự người đàn bà trả lời: Họ cũng đói lắm. Nhưng họ là ai? Là những gia đình Hồi giáo, cũng có những người con đói khổ như con. Họ ở bên kia đường và cả tuần lễ nay họ cũng chẳng có gì để ăn.

24. Trần Minh khố chuối

Nói về tình yêu, trong chúng ta, ai cũng nhớ đến mối tình cao đẹp trong câu chuyện xưa có tên: "Trần Minh Khố Chuối.”Ngày nay được các nghệ sĩ đỗi tên là: "Bên cầu dệt lụa.” Câu chuyện diễn tả mối tình cao đẹp của đôi bạn Trần Minh và Nguyệt Nga. Hai người đã vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn gian khổ, để tìm hạnh phúc cho nhau.

Tôi thiết nghĩ: Nếu Trần Minh vì quá tự ái, nuôi mối hận riêng tư trong lòng, tìm cách trả thù thì cũng không được một kết cuộc tốt đẹp như thế. Còn nếu Nguyệt Nga cứ giữ mãi danh phận của một tiểu thư đài cát, không dám hy sinh cho tình yêu thì họ cũng không thấy được bông hoa tình yêu. Nhưng vì họ đã biết vun trồng, biết chấp nhận những nghịch cảnh, biết vượt qua chính mình, biết cùng góp sức từ bỏ đi những gì là riêng tư, nên họ nhận được phần thưởng tốt đẹp và xứng đáng.

"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không tối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi,thì sẽ trổ sinh nhiều bông hạt.”

25. Chúa phải chờ

Một chàng thanh niên nọ khao khát được nhìn thấy Chúa. Và rồi Chúa đã đến với anh qua vóc dáng của một con người đẹp đẻ, uy quyền và dễ mến. Ngài đề nghị với anh:

- Con hãy đi theo Ta một đoạn đường.

Chàng thanh niên cảm thấy hạnh phúc khi cùng bước đi với Chúa. Được một lúc, Chúa bảo:

- Ta khát, con hãy đi tìm cho Ta một chút nước.

Chàng thanh niên hăm hở đi tìm. Đi mãi đi hoài mà chẳng thấy. Cuối cùng anh cũng đến được bên dòng sông. Anh đang chuẩn bị múc nước thì một cô gái xuất hiện. Cô gái đẹp đến độ làm cho chàng thanh niên mê mẩn tâm thần, thậm chí quên cả việc đem nước về cho Chúa. Anh làm quen, trò chuyện với cô gái và hai người lấy nhau, sinh con đẻ cái.

Thế rồi một năm kia, lũ lụt xảy ra. Mưa đổ xuống và nước dâng lên. Chỉ một mình anh may mắn bám vào cành cây là được cứu thoát. Còn tất cả vợ con, nhà cửa và sản nghiệp anh đã chắt chiu vun trồng và tích lũy, đều bị dòng nước cuốn trôi. Giữa lúc anh đang tiếc nhớ khóc thương cho số kiếp bẽ bàng và cay đắng của mình, thì Chúa hiện ra và nói với anh:

- Con có mang nước về cho Ta không đó. Con làm gì lâu thế, bắt Ta phải chờ hoài.

26. Chúa tìm con

Trong cuốn sách, Tình Yêu Vô Điều Kiện, cha John Powell kể lại một câu truyện về Tommy, một trong những học sinh của cha.

Tommy là một người tự xưng là vô thần. Anh không tin bất cứ một sự kiện gì cả. Anh đặc biệt lên án ý tưởng rằng Thiên Chúa có thể yêu thương nhân loại một cách vô điều kiện.

Sau cùng, mùa học đã tới lúc mãn khóa. Khi Tommy nộp bài thi cuối năm, anh nói với cha một cách nhạo báng, "Cha thử nghĩ coi, tôi có thể tìm thấy Thiên Chúa không?" Cha đáp lại, "Không, Tommy ơi, anh không thể tìm thấy Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ tìm thấy anh. “Anh chỉ nhún vai và bỏ đi.

Vài năm sau, cha được tin là Tommy đang sắp sửa chết vì bệnh ung thư. Trước khi cha có thể liên lạc với Tommy, Tommy đã liên lạc với Cha.

Khi Tommy đến gặp cha, cha nhận thấy thân xác của anh đã rã rời và bộ tóc của anh đã rụng hết do các thuốc chữa ung thư mà anh uống. Tommy nói:

"Con đến với Cha, vì những gì Cha đã nói với con trong buổi học sau cùng. Cha nói, con không thể tìm thấy Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa sẽ tìm thấy con.

"Đúng thế, khi bác sĩ cho con biết con chỉ còn một thời gian ngắn để sống, con đã làm một việc mà con không bao giờ nghĩ là con sẽ làm. Con đã bắt đầu cầu nguyện rất nhiều với Thiên Chúa. Thế nhưng không có chuyện gì xảy ra cả. Không một ai trả lời con.

"Con cố gắng nhiều hơn nữa! Thế nhưng cũng vậy, không gì xảy ra cả. Không ai trả lời con cả. Sau cùng, sau khi đã cố gắng thêm một vài lần nữa, con đã đầu hàng bỏ cuộc.

"Con nghĩ rằng, thật là bất hạnh cho một người chết đi mà không có tình yêu; thật là bất hạnh cho một người chết đi mà chưa nói với người mình yêu thương rằng mình thật sự thương yêu họ. Con đã quyết định làm việc đó.

"Con bắt đầu từ một người khó chịu nhất: chính là ba con. Một đêm nọ, trong khi chúng con ở nhà một mình, con đã nói với ba về việc con cảm nghĩ thế nào về ông. Sau đó, ông đã làm việc mà con không thể ngờ. Ông đã khóc và ôm con vào lòng. Chúng con đã nói chuyện suốt đêm, mặc dù ba con phải dậy đi làm sáng hôm sau.

"Khi nói với mẹ con và các anh em con rằng con yêu mến họ thì thật dễ dàng hơn. Giống như ba con, họ cũng khóc và ôm chầm lấy con.

"Sau đó, một sự kiện bất ngờ xảy ra. Không biết từ đâu, Thiên Chúa đã đến với đời sống của con. Ngài đến với một sức mạnh và quyền lực mà con không thể nào không nhận thức được. Đúng thế, thưa Cha, Ngài đã tìm thấy con! Ngài đã thật sự tìm thấy con!"

Ít lâu sau, Tommy đã qua đời, nhưng anh đã khởi sự một cuộc sống trong một phương thức khác. Anh khởi sự sống trong cách thức mà Chúa Giêsu đã nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống."

27. Làm chứng bằng cuộc sống

Tại vùng Đông Bắc Ấn Độ, các thừa sai Don Boscô đã phái một giáo lý viên đến dạy giáo lý cho thổ dân nọ trong một vùng núi sâu.

Ít lâu sau, do sự xúi dục của các thầy mo, họ đã ngược đãi và tìm cách hất hủi giáo lý viên, dù anh đã cố gắng nói với họ về một Thiên Chúa nhân lành. Họ chế nhạo xua đuổi anh ta ra khỏi làng. Vì vậy, anh đã phải làm một căn lều nhỏ ở ngoài làng để trú. Anh nói với dân làng: “các thừa sai đã sai tôi đến đây, tôi không thể bỏ nơi đây mà đi nơi khác. Bao lâu còn ở đây tôi còn giảng đạo cho dân làng.”

Tức bực, họ đã nhờ phù thuỷ yểm bùa. Do bị đói khát hành hạ và bùa ngải của phù thuỷ, người giáo lý viên cuối cùng đã qua đời trong căn lều hiu quạnh.

Về sau, cảm kích về sự quảng đại, can đảm của giáo lý viên, dân làng xin trở lại đạo và dựng tại nơi túp lều hiu quạnh kia một nhà nguyện, để làm nơi các tín hữu hội họp cầu nguyện.

28. Giờ của lòng xót thương

Ngày xưa, có một vị ẩn tu sống ẩn dật bên một khu rừng hoang vắng. Vị ẩn tu này rất thánh thiện đạo đức, đêm ngày ăn chay cầu nguyện và có lòng thương người.

Ngày nọ, một cô gái giang hồ sống ở ngôi làng gần đó quyết tâm đến cám dỗ vị ẩn tu thánh thiện kia. Thế nhưng, lần nào đến cám dỗ, cô gái cũng bị vị ẩn tu cự tuyệt một cách mạnh mẽ. Sau nhiều lần thất bại, một ngày nọ, cô gái đã kêu lên:

- Ông không phải là người đàn ông sao? Ông không biết yêu ư?

Vị ẩn tu đáp:

- Có chứ! Nhưng chưa đến giờ!

Thế rồi, một ngày nọ, trên đường trở về túp lều của mình, vị ẩn sĩ bắt gặp cô gái giang hồ kia bị bọn cướp đánh dở sống dở chết bên lề đường, sau khi cướp sạch tiền bạc và tư trang. Vị ẩn tu vội vàng vác cô gái lên vai đưa đi cấp cứu. Trên đường đi, vị ẩn tu nói nhỏ vào tai cô gái:

- Đã đến giờ rồi đó! Giờ của lòng xót thương!

Câu nói đầy ý nghĩa của vị ẩn tu đã dẫn đưa chúng ta vào sứ điệp lời Chúa hôm nay. Bài Tin Mừng theo thánh Gioan thuật lại lời Chúa Giêsu: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh.”

29. Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay

Đức Cố Hồng Y F.X Nguyễn Văn Thuận đã gọi cha Charles de Foucauld là “hạt giống trong sa mạc.” Ngài sống suốt đời ở giữa lòng sa mạc Sahara để tu thân tích đức, chiêm niệm, chầu Thánh Thể và sống bác ái với dân tộc Touareg. Suốt đời, ngài tha thiết cầu xin Chúa gửi đến một ai đó để cùng sống một lý tưởng với ngài. Cầu nguyện mãi mà chẳng thấy ai, nhưng ngài vẫn bền chí cầu nguyện. Đến khi ngài qua đời, thân xác chôn vùi giữa lòng sa mạc mênh mông. Nhưng vẫn không thấy một bóng người như ngài hằng mong ước. Xét theo khía cạnh con người, thì quả là một thất bại!

Thế nhưng, sau một thời gian chôn vùi, hạt giống ấy đã nảy mầm vươn lên. Hội dòng theo tinh thần của cha Charles de Foucauld đã mọc lên khắp nơi. Ngài chỉ xin một người, thì Chúa đã cho hàng trăm, hàng nghìn Tiểu Đệ, Tiểu Muội có mặt trên khắp thế giới.

Bài học của “hạt lúa mì” hôm nay thật quý giá cho đời sống đức tin của chúng ta. Chúng ta hãy trở thành hạt lúa mì được gieo vào lòng trần thế, biết thối mục đi trong hy sinh quên mình, để vươn lên, sinh bông hạt và hoa trái tốt tươi cho cuộc đời. Hạnh phúc vĩnh cửu của cuộc sống mai sau tùy thuộc vào cuộc sống hiện tại. Cuộc sống mai sau ấy phải được bắt đầu từ bây giờ. Vì thế, chúng ta hãy sống như lời bài hát “Hát về cây lúa hôm nay”:

“Đường lên đã mở, đi tới tương lai, ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay… ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay…”

30. Phục vụ nhân loại

Nobel là một trong những giải thưởng được đánh giá cao trong thế giới hôm nay. Thế nhưng giải thưởng đó đã có một lịch sử đặc biệt.

Giải thưởng đó mang tên nhà phát minh nổi tiếng người Thụy Điển, ông Alfred Nobel. Ông là một nhà phát minh có tài, đặc biệt trong lãnh vực chất nổ. Nửa cuối thế kỷ 19, chất nổ được nghiên cứu chế tạo để phục vụ cho nhiều công trình lớn, cũng cho cả vũ khí. Chết nổ rất nguy hiểm, ngay cả em trai của Alfred Nobel cũng tử nạn khi nghiên cứu chất nổ.

Sau cùng, năm 1866, Alfred Nobel đã chế tạo thành công Dynamite, một loại thuốc nổ nitroglycerin an toàn. Ông đã nhận bằng sáng chế từ hai nước Anh và Thụy Điển vào năm 1867. Sáng chế này đã mang lại cho ông rất nhiều lợi nhuận và danh tiếng.

Thế nhưng năm 1888, anh trai ông, Lugvic Nobel, đã qua đời. Một tờ báo Pháo đã nhầm lẫn Alfred Nobel với anh của ông và đã đăng cáo phó với tựa đề “nhà buôn cái chết đã chết” trong đó có mấy lời bình luận: “Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết chết con người nhanh hơn bao giờ hết đã qua đời ngày hôm qua.”

Alfred Nobel như bị sét đánh khi đọc bản tin. Những lời bình luận cho ông thấy trước ông sẽ bị coi như một kẻ sát nhân đáng kinh sợ khi ông qua đời dù ông không dùng thuốc nổ để chế tạo vũ khi.

Ông đã sống trong phiền muộn những năm cuối đời. Thế nhưng, một năm trước khi qua đời, ông đã quyết định thành lập giải thưởng Nobel, và đã dành 94% tài sản mình nhằm đề cao và khích lệ mọi hoạt động sáng tạo cống hiến cho hạnh phúc chung của nhân loại.

31. Giờ Con Người được tôn vinh

Năm 1846 đã xảy ra cuộc chiến tranh Mexicô, Henry Thoreau, một văn sĩ kiêm triết gia, đã cực lực phản đối cuộc chiến, vì ông tin rằng đó là biện pháp để mở rộng lãnh thổ chiếm giữ nô lệ.

Ông cương quyết, không chịu đóng thuế, bởi vì cho rằng số tiền ấy, sẽ được sử dụng vào cuộc chiến phi nghĩa. Sau cùng, ông thà chịu giam vào tù, còn hơn là chấp nhận đóng thuế.

Waldo Emerson, cũng là một văn sĩ kiêm triết gia, bạn thân của Thoreau và cũng là một nguoời kịch liệt chống đối cuộc chiến tranh và chế độ nô lệ, đã đến nhà tù để thăm ông.

Emerson hỏi Thoreau, "Này ông Henry, tại sao ông phải ở tù thế này?" Thoreau nhìn thẳng vào mắt của Emerson và hỏi: "Waldo, còn ông tại sao không ở trong này?"

Trước giờ tử nạn, Chúa công bố rõ ràng về chọn lựa của Chúa: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

32. Tiêu diệt đau khổ bằng tình yêu

Thi sĩ người Anh Francis Thompson đã viết “Không có gì bắt đầu và kết thúc mà không phải trả giá bằng gian khổ. Vì chúng ta được sinh ra trong đau khổ của kẻ khác và chết trong đau khổ của mình.”

Nhiều người kêu trách Thiên Chúa vì đã để những đau khổ xảy ra trên trái đất. Tuy nhiên, theo Kinh thánh, đau khổ bắt đầu từ tội lỗi đầu tiên của ông bà nguyên tổ. Chính đau khổ do bởi tội lỗi này, Chúa Giêsu đã chấp nhận chết trên Thánh giá để cứu rỗi nhân loại. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28).

Đau khổ nào sinh ích cho tôi trong cuộc sống?

Chúa Giêsu không đến để khử trừ đau khổ, nhưng đổ đầy nó bằng sự hiện diện của Ngài (Paul Claudel).

CNMC 5C

Lời Chúa: Ga 8, 1-11

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy.

Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?" Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất.

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: "Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi.” Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất.

Nghe nói thế, họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó.

Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: "Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?" Nàng đáp: "Thưa Thầy, không có ai.”

Chúa Giêsu bảo: "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

TRUYỆN KỂ

1. Đồng hình đồng dạng

Một mẫu gương giúp chúng ta suy niệm trong Mùa Chay là thánh Gemma Galgani. Chỉ trong vòng vài năm, nữ giáo dân người Ý này (1878-1903) đã nên giống Chúa Giêsu đau khổ thật đáng kể. Gemma là một nhà thần bí - một trong số ít những linh hồn được mời gọi kết hợp với Chúa ở mức độ cao đến nỗi những Kitô hữu bình thường chúng ta không thể hiểu hết được. Ơn gọi của chị là đồng cam cộng khổ với Chúa Kitô. Chị vừa phải chịu những thử thách thiêng liêng mà còn mang đau đớn thể xác là mắc bệnh lao cột sống. Trong nhiều năm, chị mang dấu tích về cuộc khổ nạn của Chúa Kitô: không chỉ là những dấu đinh mà còn vết thương và mão gai của Người. Thậm chí chị còn trải qua sự đổ mồ hôi đẫm máu nữa. Việc suy ngẫm liên lỉ về cái chết của Chúa Giêsu đã giúp chị cảm nhận được sự hiện diện thường xuyên của Người; và khi ở trong những trạng thái ngây ngất này, chị đã có nhiều cuộc trò chuyện với Chúa bằng một giọng trầm lắng và ngọt ngào. Về những hiện tượng này, Giáo hội không có những phán quyết chính thức nào. Khi Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên bố Gemma Galgani là một vị thánh vào năm 1933, đó là vì chị đã tỏ lòng kiên nhẫn dịu dàng và đức tính anh hùng trong những năm tháng đau đớn. Dường như đôi khi Thiên Chúa ban cho thế giới chúng ta những người thánh thiện nào đó giống với Chúa Kitô hơn khi họ được mang dấu tích về sự đau đớn và sự đóng đinh của Người. Một số người nghĩ rằng thánh Phaolô có thể là người đầu tiên nhận được “dấu hiệu” trên trời này. Phaolô nói: Trong mọi việc, “Tôi ước…cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.” (Trong bài đọc hai hôm nay)

* Tại sao như vậy? Bởi vì chỉ khi chúng ta kết hợp với Chúa Kitô trong sự chết của Người thì chúng ta mới có thể xứng đáng được kết hợp với Người trong sự phục sinh. Toàn bộ nghịch lý của Mùa Chay là “chết để sống.” Theo nghĩa đó, chúng ta có thể nói rằng thánh Gemma Galgani đã nêu gương sống động cho chúng ta trong Mùa Chay. (Cha Robert F. McNamara).

2. Bí tích giải tội

Trong khi Mẹ Têrêsa chắc chắn nổi tiếng về lòng bác ái vì Mẹ đã hết mình phục vụ những người đau khổ nghèo hèn, Mẹ cũng là “Thừa sai của Lòng Thương Xót” trong việc kêu gọi mọi người đón nhận tình yêu tha thứ của Chúa Giêsu trong Bí tích Giải tội, một Bí tích mà Mẹ đã lãnh nhận ít nhất một lần mỗi tuần. Mẹ đã khuyên những người khác: “Một điều cần thiết cho chúng ta là Xưng tội. Xưng tội không là gì khác ngoài thể hiện lòng khiêm tốn trong hành động. Chúng ta gọi đó là Sám hối, nhưng thực sự đó là Bí tích của Tình yêu, một Bí tích của sự tha thứ. Đó là nơi mà tôi để cho Chúa Giêsu lấy đi khỏi tôi mọi thứ chia rẽ và hủy diệt. Xưng tội là một hành động đẹp của tình yêu cao cả. Chỉ khi xưng tội, chúng ta mới có thể đi vào như một tội nhân, và đi ra như người không có tội. …Chúng ta không cần phải tuyệt vọng, không cần phải tự tử, không cần phải nản lòng, nếu chúng ta hiểu được sự dịu dàng của tình yêu thương của Thiên Chúa.”

* Mẹ nói ở nơi khác, rất đơn giản: “Xưng tội là chỉ có Chúa Giêsu và tôi, không ai khác.” Và sau đó Mẹ nói với chúng ta: “Hãy ghi nhớ điều này trong cuộc đời.”

3. Có tội

Tiến sĩ Karl Menninger, bác sĩ tâm thần nổi tiếng, đã viết một cuốn sách cách đây vài năm có tựa đề Dù trở thành tội nhân. Trong cuốn sách đó, ông thuật lại việc một người đàn ông nghiêm nghị, ăn mặc giản dị đứng ở một góc sầm uất của Chicago’s Loop. Khi người ta đi ngang qua, ông nghiêm trang đưa cánh tay lên và chỉ vào một người qua đường và chỉ nói một từ: “Có tội!” Sau đó, không thay đổi biểu cảm, ông hạ cánh tay xuống. Sau một vài giây, ông lại giơ cánh tay lên chỉ vào một người khác buộc tội, lại thốt ra bản cáo trạng dài chỉ một từ: “Có tội!” Hiệu quả của hành động này đối với những người trên là khá bất ngờ. Một số nhìn chằm chằm vào ông ta, bắt đầu cười, sau đó dừng lại, do dự, nhìn xung quanh bằng những cái nhìn trộm, và vội vã bước nhanh hơn. Một người nọ qua đường quay sang một người bạn đồng hành và thốt lên: “Nhưng làm sao ông ta biết được?”

* Chúng ta không cần phải có một nhà thuyết giáo đường phố lập dị chỉ tay buộc tội để nhắc nhở chúng ta về tội. Chúng ta có nhiều thông tin xác thực hơn, mà chúng ta gọi đó là lương tâm hoặc tiếng Chúa nói trong chúng ta.

4. Lật lại

John R. Aurelio, trong cuốn sách Những mẩu chuyện về Nước Trời, mang đến cho chúng ta một bức chân dung tuyệt đẹp về bản tính của Thiên Chúa. Ông viết: Vào ngày thứ sáu, Thiên Chúa tạo ra Ađam và Evà. Vào ngày thứ bảy, khi Thiên Chúa đang nghỉ ngơi, họ hỏi Ngài rằng liệu Ngài có ban cho họ một điều gì đó đặc biệt để kỷ niệm ngày sinh của họ không. Vì vậy, Thiên Chúa thò tay vào trong kho báu của Ngài và lấy ra một đồng tiền thiêng liêng. Viết trên đồng tiền đó là từ “Tình Yêu.” Vào ngày thứ tám, Ađam và Evà phạm tội. Khi rời khỏi Vườn Địa Đàng, họ cầu xin Thiên Chúa bảo đảm rằng Ngài sẽ không bỏ rơi họ. Ngài nói với họ: “Các con đã có đồng tiền.” Họ trả lời: “Nhưng đồng tiền viết Tình Yêu, chúng con đã đánh mất tình yêu. Liệu chúng con có tìm lại được nó không?” Chúa nói: “Hãy lật nó lại. Trên mặt kia của đồng tiền được viết từ “Tha Thứ.”

* Có một sự thật tuyệt vời trong đó. Không có tình yêu mà không có sự tha thứ và không có sự tha thứ mà không có tình yêu. Đó là hai mặt của một đồng tiền. Và Tin Mừng là Chúa yêu chúng ta bất kể chúng ta đã làm gì hay đã mắc lỗi gì.

5. Ta không nhớ

Trong cuốn sách của mình, Chúa tha thứ trong một thế giới không khoan dung, Ron Lee Davis kể câu chuyện có thật về một linh mục ở Philippines, một người rất được Chúa yêu thương, nhưng đã mang gánh nặng về một tội giấu kín mà ngài đã phạm nhiều năm trước. Ngài đã ăn năn sám hối nhưng vẫn chưa an tâm về điều đó. Trong giáo xứ của ngài có một phụ nữ rất đạo đức, đã tuyên bố được nhìn thấy và nói chuyện với Chúa. Tuy nhiên, vị linh mục hoài nghi về điều đó. Để kiểm tra bà ấy, ngài nói: “Lần tới khi bà nói chuyện với Chúa, hãy hỏi Chúa xem tôi đã phạm tội gì khi còn học trung học.” Người phụ nữ đồng ý. Vài ngày sau, vị linh mục hỏi: “Này, Chúa Giêsu có đến thăm bà trong giấc mơ không?” Bà trả lời: “Có, Ngài có đến và nói chuyện với con.” “Và bà có hỏi Chúa tôi phạm tội gì không? - Bà ấy cười và trả lời: “Chúa nói: Ta không nhớ.”

6. Người ích kỷ

Câu chuyện của văn hào Oscar Wilde “Người khổng lồ ích kỷ” mang một thông điệp tuyệt vời. Mỗi buổi chiều, bọn trẻ thường đến chơi trong khu vườn của Người khổng lồ. Đó là một khu vườn rộng lớn xinh xắn với thảm cỏ xanh mềm. Đây đó, trên cỏ mọc lên những bông hoa đẹp như sao, và có mười hai cây đào vào mùa xuân nở ra những bông hoa hồng ngọc mỏng manh, đến mùa thu thì đơm hoa kết trái phong phú. Những con chim đậu trên cây và hót ngọt ngào đến nỗi lũ trẻ thường dừng trò chơi lại để lắng nghe. Chúng nói nhau: “Chúng ta ở đây thật là hạnh phúc!” Một ngày nọ, Người khổng lồ trở về; ông đã đi thăm người bạn của mình là Cornish Ogre, và đã ở lại đó bảy năm. Khi về đến nhà, ông thấy lũ trẻ đang chơi trong vườn. Người khổng lồ nói: “Khu vườn của tôi là của riêng tôi, tôi sẽ không cho phép ai chơi trong đó ngoài bản thân tôi.” Vì vậy, ông đã xây một bức tường cao xung quanh vườn, và đặt một bảng thông báo: Ai vi phạm sẽ bị phạt. Những đứa trẻ khốn khổ bây giờ không có nơi nào để chơi. Rồi mùa Xuân đến, khắp nơi trên đất nước này đều có hoa và chim chóc. Chỉ trong khu vườn của Người khổng lồ ích kỷ, trời vẫn còn mùa đông. Những con chim không còn màng đến hót trong đó vì không có trẻ em, và cây cối cũng quên mất việc nở hoa. “Tôi không thể hiểu tại sao mùa xuân đến muộn đến vậy”, Người khổng lồ ích kỷ nói, khi ông ta ngồi bên cửa sổ và nhìn ra khu vườn trắng toát lạnh lẽo của mình; “Tôi hy vọng sẽ có sự thay đổi về thời tiết.” Nhưng mùa Xuân cũng như mùa Hạ không bao giờ đến. Một buổi sáng nọ, ông nhìn thấy một cảnh tượng tuyệt vời nhất. Qua một lỗ nhỏ trên tường lũ trẻ chui vào, và chúng ngồi trên mỗi cành cây. Trong mỗi cái cây mà ông có thể nhìn thấy đều có một đứa trẻ. Và cây cối rất vui mừng khi có lũ trẻ trở lại, chúng đã phủ đầy mình bằng những bông hoa đẹp. Và trái tim của Người khổng lồ tan chảy khi ông nhìn ra ngoài. Ông ta nói: “Tôi đã ích kỷ biết bao!” Rồi ông lấy một chiếc rìu lớn và đánh sập bức tường.

* Câu chuyện của Oscar Wilde trình bày về một người đàn ông đã nhận ra những gì mình làm là sai và tự sửa chữa bằng cách phá bỏ những bức tường mà ông đã xây dựng. Tin Mừng hôm nay đưa ra trước chúng ta hình ảnh một người phụ nữ nhận thức rằng mình đã phạm tội và chị ấy sẵn sàng thay đổi đời sống của mình. Câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho chị thật tuyệt vời: “Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” (Cha Bobby).

7. Hưởng lòng thương xót

Câu chuyện kể về một người lính trẻ Pháp đã đào ngũ khỏi quân đội của Napoléon, nhưng người này đã bị bắt lại trong vòng vài giờ sau đó. Để ngăn chặn những người lính từ bỏ nhiệm vụ của mình, hình phạt cho tội đào ngũ là tử hình. Mẹ của người lính trẻ nghe thấy những gì đã xảy ra và đến cầu xin Napoléon tha mạng cho con trai bà. Tướng Napoléon lắng nghe lời cầu khẩn của bà nhưng nói rằng vì tính chất nghiêm trọng của tội trạng mà con trai bà đã phạm, rõ ràng nó không đáng được thương xót. Người mẹ trả lời: “Tôi biết nó không đáng được thương xót. Nhưng sẽ không có lòng thương xót nếu nó lại bị như vậy.”

* Đó là đặc điểm về lòng thương xót: không ai xứng đáng được hưởng nó. Nó được trao ban một cách tự do! (Trích dẫn bởi Jude Botelho & Fr. Lakra)

8. Tẩy vết nhơ

Báo Người tiêu dùng đã đưa ra một tập sách nhỏ có tựa đề, Cách làm sạch các vết bẩn hiệu quả. Cuốn sách cho bạn biết nên sử dụng dung môi nào đối với hầu hết các loại vết bẩn. Ở đây chỉ đưa ra một ít. Glycerin loại bỏ vết bẩn bằng bút bi. Nước sôi sẽ loại bỏ vết bẩn của trái trứng cá. Giấm tẩy vết bút chì màu. Để làm sạch vết rỉ sét trên quần áo bảo hộ lao động bằng vải cotton, hãy làm ẩm vết gỉ bằng một ít giấm đậm đặc, sau đó chà xát với một chút muối. Amoniac sẽ loại bỏ vết máu. Rượu sẽ tẩy các vết cỏ. Trộn một thìa nước oxy già 3% với một ít kem đánh răng, rồi dùng khăn mềm chà xát hỗn hợp lên vết bẩn; rửa sạch; vết bẩn dù là gì đi nữa cũng biến mất. Hãy dùng một ít chất làm mềm thịt để loại bỏ các vết bẩn thuộc về protein như sữa, sôcôla và máu trên quần áo. Dùng thuốc tẩy đối với nấm mốc. Nước chanh có tác dụng tốt đối với các vết rỉ sét, v.v...

* Nhưng bạn biết không? Cuốn sách hoàn toàn không nói gì về việc tẩy các vết nhơ tội lỗi. Và lý do nó không đề cập đến là vì chỉ có một Người có thể làm được điều đó. Chỉ có Chúa Giêsu Kitô, Hiện Thân của Lòng Thương Xót Chúa, như được mô tả trong Tin Mừng hôm nay, mới có thể tha thứ tội lỗi cho chúng ta khi chúng ta ăn năn, sám hối.

9. Lỗ đinh nở hoa

Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: "Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra trước nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ.”

Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào.

Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: "Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra khỏi hàng rào.”

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu:

"Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người khác. Con đừng bao giờ quên rằng: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả những vết thương thể xác.”

Nhìn thấy lỗ đinh lởm chởm trên hàng rào, cậu bé mới thấm thía sự xấu xa của từng lần xung đột, bất kể đúng hay sai, phải hay trái. Nó khẩn khoản hỏi cha nó: “Con phải làm gì đây để xóa sạch những dấu đinh này.”

“Dấu vết của hận thù chỉ có thể được chữa lành bởi tình yêu,” người cha nói.

“Nhưng cha ơi, con phải làm gì đây?” cậu con trai hỏi.

Người cha trả lời: “Nếu những lời nói trong cơn giận có thể để lại những vết sẹo còn mãi trong lòng người khác, thì sự cảm thông, bao dung, tha thứ lại có thể làm được điều ngược lại. Chỉ tình yêu mới là phương thuốc có thể chữa lành cho những vết thương lòng.

“Mỗi khi con tha thứ, bao dung, cảm thông, giúp đỡ hay an ủi một ai, con hãy vẽ thêm một bông hoa trên các vết đinh.”

Mỗi ngày một chút, hàng rào thêm xinh xắn bởi những nét vẽ ngọng nghịu. Thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, ai bước vào cũng phải tấm tắc khen cái hàng rào xinh xắn ấy!

Cũng thế, Chúa quên hết mọi lỗi lầm của người sống yêu thương. “Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót, thì chẳng quan tâm đến việc xét xử.” (Gc 2,13)

10. Hại người là hại mình

Một quyển sách tựa đề "Tình trên non cao" kể rằng có một cặp vợ chồng trẻ rất yêu thương nhau và sống với nhau trên một ngọn núi cao, rất hạnh phúc. Hạnh phúc đến nỗi nhiều lần họ hô to giữa trời lồng lộng "Chúa ơi, sao mà chúng con hạnh phúc quá!"

Nhưng đâu phải chỉ sống với nhau mãi trên núi mà hạnh phúc. Người chồng thỉnh thoảng cũng phải xuống núi để làm ăn. Trong một chuyến xuống núi, người chồng đã lỡ sa ngã ngoại tình với một người đàn bà khác. Người vợ biết được, rất giận, từ đó không nói chuyện với chồng nữa. Phần người chồng thì cũng hối hận nhưng không thể nào xin lỗi được vì mỗi lần muốn nói lời xin lỗi với vợ thì vợ bỏ đi nơi khác.

Một đêm kia người chồng trên đường lên núi về nhà thì gặp bão tuyết, chiếc xe ngựa bị gãy, con ngựa bị què, anh cũng bị thương nặng ở chân. Nhưng anh vẫn cố bò về tận cửa nhà. Người vợ ở trong nhà nhìn ra thấy chồng lết tới cửa, nhưng chị nhất định không mở cửa. Sáng hôm sau, người ta thấy xác người chồng đã cứng đờ ngay trước mái ấm gia đình của mình.

Một mối tình rất hạnh phúc trên non cao đã kết thúc bi thảm như thế, chỉ vì người vợ không biết thương xót, không cho chồng mình một cơ hội để làm lại cuộc đời.

11. Thủy chung mới là nhân nghĩa

Vua Quang Vũ nhà Đông Hán có người chị là Hồ Dương, công chúa goá chồng. Nhà vua muốn tìm cho chị người bạn trăm năm, liền đem danh sách các quan của mình ra hỏi ý kiến chị. Công chúa nói: "Tất cả bá quan trong triều đình chỉ có Tổng Hoằng là người có tư cách khác thường, những người khác không sao bì kịp. Vua Quang Vũ biết ý chị đã vừa lòng Tổng Hoằng, liền bảo chị hãy ra ngồi phía sau tấm bình phong, rồi cho đòi Tổng Hoằng đến. Nhà vua bảo:

- Ta nghe tục ngữ có câu: "Giàu đổi bạn, sang đổi vợ" có phải thế không?

Tổng Hoằng liền quì xuống tâu:

- Bạn bè giao du với nhau còn nghèo hèn không nên quên nhau, người vợ trong cảnh hàn vi không nên cho xuống ở nhà dưới.

Vua Quang Vũ biết Tổng Hoằng là người thuỷ chung, nhân nghĩa, không thể nào lay chuyển được, nên càng đem lòng yêu mến hơn. Rồi nhà vua nói với chị: "Việc hôn nhân không thành được, con người này không thể đem danh lợi và phú quí để mê hoặc.”

12. Ai cũng là tội nhân

Có chuyện kể rằng người ta bắt được một tên trộm cắp đưa đến nhà vua, và nhà vua đã hạ lệnh giết hắn. Tên trộm cắp này rất khôn ngoan, nên nói với đao phủ: "Tôi có một bí mật này rất quý. Nếu tôi chết thì bí mật ấy cũng bị mang theo. Thật là uổng. Cho nên tôi muốn giao nó lại cho nhà vua.”

Người ta dẫn hắn tới nhà vua. Hắn nói: "Bí mật của tôi là tôi có một hạt giống kỳ diệu, đào lỗ chôn xuống đất thì nội trong một đêm nó sẽ mọc lên thành cây và trổ ra toàn những trái bằng vàng.” Nhưng hắn nói thêm: "Nhưng có điều kiện này là chỉ người nào chưa từng lấy gì của người khác thì mới trồng hạt giống đó được.”

Sau đó hắn thú nhận: "Tôi thì là một thằng ăn cắp nên không thể trồng được rồi. Vậy trong số các quan đây, ai chưa từng lấy gì của người khác hãy trồng nó đi.” Các quan lần lượt viện cớ để từ chối, giống y những người biệt phái trong bài Tin Mừng này vậy. Cuối cùng tên trộm cắp nói với nhà vua: "Chắc là Bệ Hạ có thể trồng được.” Nhưng nhà vua đáp: "Nói ra thì thật xấu hổ. Hồi còn nhỏ, Ta cũng đã từng lấy của người khác vài lần.”

Khi đó tên trộm nói: "Bệ hạ và các quan là những người có đầy đủ mọi thứ thế mà còn lấy của người khác mà không bị hình phạt gì cả. Phần tôi thì nghèo túng thiếu thốn mọi điều, thế mà lại bị xử tử vì tội lấy của người khác.” Nhà vua đành ra lệnh tha cho hắn.

13. Lòng thương xót

Một người đàn bà đến với Vua Napoléon để cầu xin cho đứa con trai của bà khỏi bị xử tử. Nhà vua dựa vào Luật pháp và cho biết rằng theo luật thì con trai bà phải chết. Bà nói:

- Muôn tâu Bệ Hạ, tôi đến đây không phải để xin công lý mà xin lòng tho xót.

- Nhưng con bà không đáng hưởng lòng thương xót. Vua trả lời.

Nhưng bà lập luận:

- Nếu nó đáng thì đâu phải là lòng thương xót nữa.

Cuối cùng nhà vua phải chấp thuận:

- Được rồi. Ta sẽ tỏ lòng tương xót đối với nó.

Người con trai ấy đã được tha chết.

Lòng thương xót không phải là tiền công trả cho một điều gì xứng đáng, mà là một ơn ban miễn phí.

14. Mù quáng

Từ xưa tới nay người ta vẫn coi vua Salomon là một người có tài xét xử khôn ngoan. Thế nhưng lại có một chuyện sau đây:

Vì đã xử nhiều vụ án quá nên nhà vua càng ngày càng trở nên vô cảm, vô tình. Nói cách khác, nhà vua càng ngày càng khô khan và khe khắt khi xử án.

Một hôm khi Salomon ngồi lên ngai và sắp sửa xử một vụ án, thì chiếc vương miện trên đầu vua bỗng tuột xuống che cả hai con mắt. Nhà vua lấy tay đẩy nó lên, nhưng chỉ một chút sau là nó lại sụp xuống. Sự việc tái diễn đến 8 lần như thế. Cuối cùng nhà vua bực quá nói với nó: "Tại sao mày cứ sụp xuống che mắt tao mãi như thế?" Chiếc vương miệng trả lời: "Tôi phải làm thế để nhắc cho Ngài biết rằng: khi mà quyền hành đã mất đi sự cảm thông thì người cầm quyền sẽ bị che mắt như thế.” Nói cách khác, khi đó người ta sẽ thành mù quáng.

15. Một chút suy tư

- Người nào càng thánh thiện thì càng ít xét đoán người khác.

- Thiên Chúa không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối để được sống.

- "Chị về đi, và đừng phạm tội nữa": Chúa Giêsu không phủ nhận chị này có tội, nhưng Ngài muốn cho chị này một cơ hội để sám hối và làm lại cuộc đời. Chúa Giêsu không muốn chị này chối tội, bàu chữa tại sao chị phạm tội, hay đổ tội cho người khác, những cách làm này quá dễ nhưng không ích lợi gì. Ngài muốn chị can đảm nhìn nhận sự thật, không tuyệt vọng và khuyến khích chị sửa đổi. Đó mới là ơn giải thoát.

16. Tha thứ cho người vợ

Câu chuyện xảy ra ở một hải đảo của nước Ý. Tại đây người ta quy định: nếu một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, người ta sẽ buộc vào cổ người đàn bà này một tảng đá lớn, và quẳng xuống biển cho chết chìm.

Vào một ngày kia, một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội này. Bà đã bị kết án tử hình theo như luật định. Nhưng đến ngày xử mà người chồng vẫn còn đánh bắt cá ngoài khơi, khiến toà án phải gia hạn thêm mấy ngày nữa. Người ta đã phải gia hạn nhiều lần mà vẫn không thấy anh chồng trở về. Cuối cùng họ quyết thi hành án tử hình cho chị vợ, cho dù chồng có mặt hay không. Họ định ngày xử án dùng thuyền đưa chị ra vùng nước sâu, cột một hòn đá vào cổ chị ta, trước khi quăng chị ta xuống biển cho chết chìm.

Nhưng thật lạ lùng, ngày hôm sau mọi người đều kinh ngạc khi thấy chị ta xuất hiện ở trong làng. Thì ra, ngay từ đầu, nhờ được hai người bạn thân giúp đỡ, người chồng đã hay biết mọi sự. Cho dù bị vợ phản bội, nhưng người chồng vẫn luôn yêu thương và sẵn sàng tha thứ tội bất trung của vợ. Anh và mấy người bạn kia đã đặt ra một kế hoạch hoàn hảo để giải cứu người vợ. Do đó, thay vì sớm xuất đầu lộ diện để tham gia xét xử, anh ta đã lẩn trốn trong rừng một thời gian để làm kế hoãn binh. Đến ngày thi hành án, anh bí mật bơi lặn đến núp dưới một tảng đá ngầm, ngay tại nơi mà người chị vợ sẽ bị quăng xuống biển. Khi chị vợ bị quăng xuống, thì người chồng đã mau tiến lại gần, dùng dao cắt đứt sợi dây cột đá và bí mật đưa vợ đi đường tắt về nhà.

17. Thánh Phanxicô Salêsiô với việc xưng tội

Ngày kia thánh Phanxicô Salêsiô cho một người xưng tội. Người này xưng rất thành thật, khiêm nhường và hết lòng ăn năn. Thánh nhân cảm động lắm. Sau khi xưng tội xong, người ấy hỏi:

- Bây giờ cha biết tất cả những sự xấu xa của con rồi. Cha nghĩ thế nào về con?

- Bây giờ cha nhìn con như một đấng thánh.

- Chắc cha phải nói ngược lại mới được.

- Không, Cha nói theo lương tâm của cha. Con bây giờ hoàn toàn khác trước rồi.

- Nhưng tội lỗi con đã phạm thì luôn luôn ở với con mà?

- Không phải thế đâu con ạ. Khi bà Mađalêna đã ăn năn trở lại, Chúa xem bà như một đấng thánh. Chỉ có bọn Pharisêu giả hình cứ coi bà là kẻ tội lỗi.

- Nhưng đối với cha, con muốn biết cha nghĩ thế nào về quá khứ của con?

- Cha không nghĩ thế nào cả. Điều gì không có trước mặt Chúa thì cha không nghĩ đến. Cha chỉ biết ngợi khen Chúa và vui mừng vì con đã trở lại với Chúa. Cha muốn cùng các thánh trên trời vui mừng với con.

Nói xong, thánh nhân khóc. Người kia bỡ ngỡ hỏi:

- Cha khóc à? Chắc cha khóc vì thấy con phạm nhiều tội quá?

- Cha khóc vì thấy con đã sống lại với Chúa.

Thánh nhân biết rõ phép giải tội không phải chỉ là che giấu tội, phủ kín tội ta đã phạm, nhưng là rửa sạch hết mọi tội ta đã khiêm nhường xưng ra.

18. Thấy tội của mình trong tội của người

Đây là câu chuyện có thật. Chuyện có liên hệ đến một tên tử tù. Anh tên là Demay. Anh bị bắt vì tội giết người. Anh giết tới 5 người trong đó có viên thanh tra cảnh sát tên là Pierre Bréant.

Khi bị đưa ra tòa, Demay bị lãnh án tử hình. Ai cũng cho như thế là đính đáng.

Thế nhưng tổng thống Vicent Auriol đã ân xá cho anh ta. Phải chăng tổng thống quá nhân từ. Không phải thế. Sau khi ân xá cho Demay trong một cuộc phỏng vấn tổng thống đã tâm sự như thế này: "Có những vấn đề đã làm tôi phải thức trắng đêm. Trường hợp của Demay cũng vậy. Tại sao tôi lại không chấp thuận để đưa nó lên đoạn đầu đài? Vì lẽ gì tôi đã bằng lòng ân xá cho nó. Đây là lý do. Lý do này tôi đọc được trong bản báo cáo của phiên tòa xử Demay. Đây là lời của Demay nói trước quan tòa:

"Tôi muốn nói với quí vị một vài lời. Tôi xin thưa với quí vị rằng mẹ tôi thường không cho tôi bú sữa dầu tôi có phải khóc lên vì đói. Mẹ tôi say sưa cả ngày. Cha tôi cũng vậy. Ông thường dùng gậy để đập vào đầu tôi.

Qúi vị là những người được may mắn sinh trưởng trong một gia đình khá giả, đủ ăn đủ mặc, được học hành đầy đủ. Quí vị đâu có biết cái cảnh những đứa trẻ con nghèo đói rách nát phải đi lang thang bới những thứ người ta vất đi ở thùng rác mà sống.

Quí vị đâu có thấy được cái cảnh một bà mẹ say sưa nằm chết sõng sượt trên vũng bùn nhơ, rồi đứa con thơ phải cố lôi xác mẹ vào trong một túp lều ở dưới hầm cầu, tắm rửa, thay quần áo cho mẹ, rồi đợi để đưa mẹ đi chôn. Hình ảnh đứa bé vừa lên chín ấy là tôi.

Tôi sống trong sự cơ hàn. Mãi đến năm 20 tuổi tôi vẫn chưa có được một ly rượu ngọt để uống.

Quí vị là những người tượng trưng cho cái xã hội thượng lưu. Quí vị là những người có nhiệm vụ lo cho đời sống của mọi công dân trong nước… Thế mà quí vị đã để cho tôi đói khát, không chút tình thương, không được học hành, không hiểu thế nào là đạo đức, là luân lý. Vậy mà bây giờ quí vị lại đứng ra buộc tội tôi. Tôi muốn tố cáo ngược lại quí vị, tố cáo cái xã hội đầy bất công là nguyên nhân đã gây ra tội lỗi này."

19. Hòn đá nặng thì đừng mang

Văn hào Nga Léon Tolstoi có kể câu chuyện: Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc, không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì bố thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn khổ.

Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: "Ta mang hòn đá nầy cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi.”

Đi đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.

Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật: Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào tù ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: Tại sao ta phải mang nặng hòn đá nầy từ bao nhiêu năm qua? Con người nầy, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ đáng thương như ta!"

20. Nghi và thật

Có người mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa. Nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn cắp búa. Mọi cử động của nó, tỏ rõ là tên đạo tặc. Ông bị yên trí.

Sau khi ông tìm thấy búa, thì từ đó lại thấy thằng bé hiền lành, không có vẻ chi là ăn cắp, ăn trộm nữa. Ở đời không nên vội nghi ngờ, kẻo gây chia rẽ hay làm mất thanh danh người khác.

Càng nghi kỵ thì càng nhen nhúm sự dữ trong lòng.

21. Tình yêu chiến thắng sự dữ và tội lỗi

Người ta kể lại dưới thời các hoàng đế trị vì xưa kia. Cứ sau thánh lễ Phục sinh, bên cạnh cây nến phục sinh cháy sáng, hoàng đế cho thắp thêm một cây đèn lớn khác gọi là "Cây đèn ân xá Phục sinh.” Cho tới khi nào ánh đèn còn cháy, tất cả mọi người có tội nặng đáng xử tử mà đến đặt tay trên cây đèn ấy xưng thú tội lỗi mình thì được ân xá, không phải chịu án phát. Từ một phía cửa hông nhà thờ, các tội nhân xếp hàng dài. Nào là những người cướp của giết người, ngoại tình, phá thai, gian dối, lừa đảo, làm tiền bạc giả. Sau khi đặt tay trên Cây đèn ân xá Phục sinh xưng thú lỗi lầm, công khai trước mặt hoàng đế và đông đảo tín hữu tò mò đến xem, họ sang chiếc bàn bên cạnh ghi tên tuổi và nhận chứng thư tha tội, trong đó có những lời khuyên phải cải tà qui chánh.

Người sau cùng tiến đến Cây đèn ân xá Phục sinh là một phụ nữ trong sắc phục sám hối. Trong số các tín hữu tò mò đứng xem có cả ông chồng, tay cầm tờ đơn tố cáo tội bà vợ và xin hoàng đế đừng khoan hồng đối với bà. Trong nhà thờ im lặng như tờ. Người đàn bà đưa tay lên chạm đến Cây đèn ân xá Phục sinh, bà lớn tiếng thú tội: "Tôi đã phạm tội ngoại tình với tất cả những người đàn ông nào tôi ưa thích. Tôi không xứng đáng được khoan hồng.” Nói xong, bà thổi Cây đèn ân xá Phục sinh tắt ngấm. Rồi bà nhắm mắt nói về đứa con mà bà đã có với một sinh viên, sau cùng bà kết luận: "Tội tôi thì quá lớn không đáng được tha thứ.” Bà mở mắt ra. Thì ô kìa! Cây đèn ân xá Phục sinh đã lại cháy sáng từ bao giờ. Chồng bà đứng gần đó đã dùng tờ đơn tố cáo bà, đốt trở lại Cây đèn ân xá Phục sinh mà chính bà đã thổi tắt. Thấy thế, hoàng đế nghiêm mặt hỏi: "Ngươi là ai mà dám tự tiện thắp Cây đèn ân xá Phục sinh?" Ông ta thưa: "Tâu hoàng đế, hạ thần là chồng của phụ nữ này. Với tờ đơn tố cáo tôi tự tay mình viết, hạ thần đốt bỏ nó trên ánh nến ân xá Phục sinh để lấy lại ánh sáng cho Cây đèn ân xá Phục sinh đã tắt.” Nghe vậy hoàng đế nghiêng mình trước người chồng và nói: "Ngươi đã hành động rất đúng, theo mẫu gương của Chúa Giêsu Kitô.”

THỨ HAI

Lời Chúa: Ga 8, 1-11

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?" Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất.

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: "Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi.” Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất.

Nghe nói thế họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó.

Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: "Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?" Nàng đáp: "Thưa Thầy, không có ai.” Chúa Giêsu bảo: "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

TRUYỆN KỂ

1. Khả năng chinh phục

Đức cha Bossuet là một văn hào và một nhà hùng biện Pháp đã tuyên bố: “Ai muốn tranh luận giáo lý, hãy đến với tôi, tôi sẽ làm cho họ thua lý.” Còn Đức cha Salêsiô thì lại chinh phục những người lạc giáo bằng cách đón tiếp, lắng nghe, tìm hiểu và giải quyết những thắc mắc của họ.

Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta xét lại thái độ sống đức tin của chúng ta: biết bao lần Chúa Giêsu đã thực hiện những dấu lạ trong đời sống cá nhân chúng ta cũng như trong sinh hoạt cộng đoàn để nhắc nhở chúng ta rằng Ngài là Đấng Cứu Thế, là Ánh Sáng, là Chân lý, nhưng chúng ta đã nhìn nhận ánh sáng và chân lý Ngài đem đến với tất cả chân thành và khiêm tốn chưa? Tác giả tập sách Đường Hy vọng đã viết:

“Đối với người kitô hữu tin trước hết là chấp nhận được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương. Chúa không phải là Đấng bắt con kính mến, nhưng đúng hơn Ngài là Đấng con phải để cho Ngài yêu thương. Nhân loại cảm thấy mình làm được mọi sự, nhưng không biết tại sao mình sống, mình đi về đâu, tương lại thế nào. Nhân loại đang trải qua cơn khủng hoảng hy vọng, nhưng có thể chính cá nhân chúng ta cũng đang gặp cơn khủng hoảng đó, vì chúng ta không có đức tin trọn vẹn, không chấp nhận sự thật mà Chúa mạc khải… Ta là Ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ được ánh sáng ban sự sống. Đó là bí quyết của niềm hy vọng.”

2. Cần lòng thương xót.

Ngày kia, có một phụ nữ đến van xin hoàng đế Napoléon tha thiết cho con trai của bà. Anh thanh niên đó đã phạm một tội nặng. Lề luật đã rõ. Công lý đòi buộc anh ta phải chết. Hoàng đế quả quyết rằng đảm bảo phải thi hành công lý. Nhưng bà mẹ năn nỉ:

- Thưa bệ hạ, tôi đến van xin lòng thương xót của ngài, không phải vì công lý.

Hoàng đế Napoléon trả lời:

- Nhưng hắn ta không đáng được xót thương.

Bà mẹ nói:

- Tâu bệ hạ, nếu nó xứng đáng thì không cần gọi là lòng thương xót nữa.

Hoàng đế Napoléon đáp:

- Thôi được. Ta rủ lòng thương xót nó.

3. Ai cũng là tội nhân

Một Mục Sư giảng về chiếc thang Giacóp. Cậu con trai ông rất cảm động. Mấy ngày sau, cậu nói với cha là mình vừa mơ về câu chuyện đó.

- Sao, con mơ thấy gì ?

- Con mơ thấy một chiếc thang lên tới tầng mây. Ở dưới chân thang có rất nhiều phấn, và mỗi người phải lấy phấn viết hết tất cả các tội của mình ở trên đó thì mới lên được.

- Hay thật! Rồi con thấy gì nữa ?

- Con thấy con leo lên, nhưng chưa được bao xa thì con thấy có người leo xuống.

- Ai vậy ?

- Ba chứ ai!

- Ba ? Thế ba leo xuống để làm gì ?

- Ba lấy thêm phấn! (Winnder, London)

4. Mỗi tội nhân đều có một tương lai

Victor Grignard vì được bố mẹ nuông chiều, không thích học, chỉ biết ham chơi. Lớn lên, Grignard trở thành một anh chàng tuấn tú, cuộc sống xa hoa, đi khắp nơi tán tỉnh các cô gái, trở thành kẻ chơi bời trác táng ai ai cũng biết.

Trong một buổi dạ hội, Grignard nhìn thấy một cô gái xinh đẹp, đoan trang. Anh hí hửng đi tới trước mặt cô gái và mời cô khiêu vũ. Thật không ngờ, cô gái ấy lại trách mắng anh: “Tôi không bao giờ khiêu vũ với những kẻ chơi bời trác táng, vô công rồi nghề, hãy tránh xa tôi ra.” Câu nói ấy chẳng khác nào gáo nước lạnh dội vào đầu. Anh cảm thấy vô cùng xấu hổ.

Một người bạn thân đã bước lại, nói với Grignard: “Cô gái này chính là nữ bá tước đến từ Paris.” Grignard xin lỗi nữ bá tước.

Thế là Grignard quyết định bỏ nhà ra đi, thay đổi môi trường sống.

Grignard đến Lyon, dùng thời gian hai năm để học lại những bài học mà mình bỏ lỡ, sau đó theo học trường đại học Lyon. Dưới sự dẫn dắt của giáo sư, Grignard bắt đầu học tập và nghiên cứu.

Năm 1901, Grignard phát hiện thuốc thử Grignard. Năm 1912, ông được trao giải Nobel Hóa học. Về sau Grignard nhận được một bức thư. Bức thư chỉ có một câu: “Tôi mãi mãi yêu kính ngài.” Người viết bức thư ấy chính là nữ bá tước năm xưa.

5. Ai biết mình chẳng dám trách người

Vào thời Vua Henry VII của Anh, ở Luân Đôn nạn trộm cắp thật nhiều. Quan Chưởng ấn Thomas More nhận thấy vị thẩm phán già hay khiển trách những người đến khiếu nại vì bị móc túi ngoài đường, ông quan tòa già quả quyết rằng nếu mấy nạn nhân đó cẩn thận giữ túi tiền của mình thì làm sao mà mất được.

 Nhân một cuộc họp các thẩm phán, Thomas More bí mật cho gọi một tên móc túi chuyên nghiệp đang ở tù và dặn rằng:

- Ta sẽ thưởng cho nhà ngươi, nếu ngươi móc được túi tiền của ông quan tòa già kia.

Tên móc túi xin phép được tới nói chuyện với vị quan tòa già và đưa tay khéo léo móc được túi tiền của ông ta rồi hiên ngang về chỗ ngồi .

Thomas More bấy giờ mới lên tiếng xin các vị thẩm phán làm phúc bố thí cho một người nghèo ở đó. Vị nào cũng rờ túi tiền của mình. Vị quan tòa già kia giật mình vì không thấy túi tiền mình đâu nên la lớn:

- Bớ ăn cắp! Có tên nào ăn cắp túi tiền của tôi rồi!

Thomas nói:

- Sao ? Ông nói chúng tôi ở đây đã ăn cắp túi tiền của ông sao ?

Ông quan tòa mặt đỏ bừng vì giận. Bấy giờ Thomas More mới gọi tên lưu manh kia và bảo trả lại túi tiền cho đương sự. Thomas nói với vị thẩm phán già:

- Tôi khuyên ông hãy bớt nghiêm khắc với những người đã bị móc túi ngoài đường phố, vì chính ông cũng đã để cho người ta cuỗm mất túi tiền ngay giữa đại hội như thế!

6. Tình yêu có sức hoán cải

Tại một làng miền nam nước Ý, có luật dân làng trở thành truyền thống: ai bắt được một người phụ nữ ngọai tình khi chồng còn sống, thì dân làng sẽ báo cho chồng biết trước một ngày. Ngày hôm sau, dân làng dẫn cô vợ mất nết ấy lên một triền núi và xô xuống vực thẳm cho chết, để làm gương răn dạy các phụ nữ khác trong làng.

Không may cho bà Cathérine Margot đã bị dân làng bắt quả tang ngoại tình với một người làm công lúc chồng vắng nhà. Người ta đã báo tin cho anh chồng Auguste Maquet, và cứ theo luật của làng, cô vợ sẽ bị xử! Thế là anh chồng đi mua ngay một chiếc lưới rộng, đưa giăng trước dưới chân núi. Lúc dân làng xô cô vợ xuống, anh vội đỡ lấy và đưa về nhà, vì anh muốn “yêu vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh” (Ep 5,25), và phải nên giống Đức Giêsu “đã yêu thì yêu đến cùng” (Ga 13,1).

Từ ngày ấy, vợ anh luôn tỏ ra biết ơn chồng cách đặc biệt, cụ thể cô luôn làm vừa lòng chồng, hăng say làm mọi việc trong nhà, nên không cần phải mướn ai đến làm công nữa, mà công việc nhà chu đáo hơn trước.

THỨ BA

Lời Chúa: Ga 8, 21-30

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: "Ta ra đi, các ông sẽ tìm kiếm Ta và sẽ chết trong tội của các ông. Nơi Ta đi các ông không thể tới được.”

Người Do-thái nói với nhau rằng: "Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói "Nơi Ta đi các ông không thể tới được?”"

Chúa Giêsu nói tiếp: "Các ông thuộc về hạ giới; còn Ta, Ta bởi trời cao. Các ông thuộc về thế gian này; còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã nói: Các ông sẽ chết trong tội các ông. Vì, nếu các ông không tin Ta, các ông sẽ chết trong tội của các ông.”

Vậy họ liền hỏi: "Ông là ai?" Chúa Giêsu trả lời: "Là Nguyên thuỷ đang nói với các ông đây! Ta có nhiều điều phải nói và đoán xét về các ông, nhưng Ðấng đã sai Ta là Ðấng chân thật, và điều Ta nói ra trong thế gian đây, chính là điều Ta đã nghe biết ở Ngài.”

Nhưng họ không hiểu là Người nói về Chúa Cha, vì thế Chúa Giêsu nói: "Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai. Ta không tự mình làm điều gì. Ðiều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta. Ðấng đã sai Ta đang ở với Ta; Ngài không để Ta một mình, bởi vì Ta luôn luôn làm điều đẹp lòng Ngài.” Khi Người nói những điều ấy thì có nhiều kẻ tin vào Người.

TRUYỆN KỂ

1. Tin Nhận Chúa.

Cụ Alexis đã viết thư cho mình 35 năm trước. Đúng ngày được 60 tuổi, cụ mở thư ra đọc: “Bạn thân mến, mừng kỷ niệm 60 năm sinh nhật của bạn, kể từ hôm nay, bạn bắt đầu bước đi trên một đoạn đường mới. 60 năm đã qua và kể như đời bạn đã xế chiều, dù bạn vẫn còn khỏe, nhưng sức dẻo dai đã kém hơn trước nhiều.

Bạn hãy bảo vệ sức khỏe để còn đóng góp sức lực vào phúc lợi chung. Bạn hãy biết ra đi, biết rút lui cách nhẹ nhàng và nhường chỗ cho đàn em có khả năng thể xác và tinh thần hơn bạn.

Nhưng không phải rút lui để tìm nhàn hạ. Bạn hãy chia sẻ kinh nghiệm của 60 năm đầy nụ cười và nước mặt của bạn cho đàn em, và bạn hãy sung sướng khi thấy họ thành công hơn bạn, vì nhờ họ Thiên Chúa được vinh danh hơn. Bạn hãy tiếp tục dấn thân cho đến hơi thở cuối cùng theo sức bạn, theo tuổi bạn.

Bạn hãy chuộc lại những thời gian bạn đã lãng phí trong suốt 60 năm qua. Hãy kiểm điểm trước mặt Chúa, hãy rút kinh nghiệm từ quá khứ, hãy cảm tạ Chúa và sám hối trước mặt Ngài.

Bạn hãy dành quãng đời còn lại để làm một việc gì cho Chúa, một việc mà giờ đây Chúa đang mời gọi bạn cộng tác. Bạn đừng quên rằng bạn đang tiến về Nhà Cha mỗi phút một gần hơn. Bạn hãy sẵn sàng thoát ly địa vị và của cải trần gian.

Hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng của đời bạn. Hãy sống đẹp lòng Chúa, vui lòng gia đình và bạn bè. Hãy quyết tâm mãnh liệt, hãy thực hiện nghiêm túc, hãy kết hiệp với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse. Ân sủng và bình an của Chúa ở cùng bạn.”

Thành tâm thiện chí của cụ Alexis đáng chúng ta suy nghĩ. Thực hiện thánh ý Chúa từng giây phút hiện tại là gì, nếu không phải là tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, để đừng chết trong tội lỗi.

2. Nếu các ông không tin

Đức Giêsu lại nói với họ:

“Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết.

Nơi tôi đi các ông không thể đến được.”

Người Do-thái mới nói: “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói: Nơi tôi đi các ông không thể đến được?

Người bảo họ: “Các ông bởi hạ giới; còn tôi, tôi bởi thượng giới.

Các ông thuộc về thế gian này; Còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. (Ga. 8, 21-23)

Một Tin mừng đầy nghịch lý đối với bản chất loài người như trong đoạn văn của Thánh lễ hôm nay.

Chỉ cần chúng ta biết tiếp nhận Người, dù không thể giải nghĩa và thực hiện được theo nhãn quan con người. Chỉ cần chúng ta đừng bỏ qua những lời yêu sách của sứ điệp Phúc âm, dù có trái nghịch với bản chất con người chúng ta. Chỉ cần chúng ta bắt lý trí con người bái phục chân lý đức tin. Chỉ cần chúng ta biết cảm nghiệm sâu xa mầu nhiệm Đức Kitô bằng con tim trong đau khổ thập giá cũng như vinh quang phục sinh.

3. Tin nhận Chúa Giêsu - Tin nhận Chúa Cha

Vào thời thập tự viễn chinh, nhằm bảo vệ thánh địa và đảm bảo an ninh cho khách hành hương, vua Philipphê của nước Pháp đã làm một cử chỉ lạ thường. Trước mỗi lần lên đường, ông tháo gỡ triều thiên đang đội trên đầu, rồi đặt nó lên một chiếc bàn và ghi dòng chữ như sau: “Dành cho người nào xứng đáng nhất.”

Sau đó, ông quy tụ tất cả tướng lĩnh, các hiệp sĩ, những người hầu cận lại trước mặt ông và yêu cầu họ hãy quên ông là vua và là người chỉ huy của họ. Ông nói với mọi người rằng chiếc vương miện được dành cho người nào tỏ ra xứng đáng nhất trong cuộc chiến đấu.

Cuộc viễn chinh đã hoàn tất một cách vẻ vang, mọi người hát khúc khải hoàn trở về quê hương. Họ tụ tập chung quanh vương triều và một tướng lĩnh tiến lại cầm lấy triều thiên đội lên đầu của Philpphê và nói: “Tâu bệ hạ, bệ hạ là người xứng đáng nhất.”

Trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và những người biệt phái, Ngài mạc khải cho họ biết: Ngài là Thiên Chúa xuống thế làm người, nên giống chúng ta hoàn toàn, chịu đóng đinh và chết trên thập giá để cứu độ con người, đem sự giao hòa giữa con người với Thiên Chúa Cha.

4. Đừng trở thành phản chứng.

Trong chương trình buổi tối của một đài truyền hình Hoa kỳ, một cô gái điếm đã được mời phát biểu ý kiến dựa theo một số câu hỏi của một phóng viên truyền hình.

Cô gái ấy trang điểm thật diêm dúa và tỏ ra không những bình tĩnh mà còn có thái độ khiêu khích trước những câu hỏi của người phóng viên.

Chợt nhìn thấy trên cổ của cô gái có đeo một dây chuyền bằng vàng với một cây Thánh giá nhỏ, người phóng viên thay đổi đề tài để hỏi cô gái.

Anh ta hỏi: “Tôi thấy cô có đeo một Thánh giá nhỏ ở trên cổ. Hẳn cô là người có tôn giáo đúng không?”

Khán giả thấy rõ sự bối rối của cô gái điếm. Có lẽ đây là một vấn đề mà cô không bao giờ nghĩ tới. Sau một chút do dự, cô ta liền trả lời: “Tôi không theo đạo nào cả.”

Người phóng viên hỏi dồn: “Thế tại sao cô lại mang Thánh giá trên người mình như dấu chỉ của người có đạo?

Cô gái điếm thinh lặng cúi nhìn xuống sàn nhà một hồi khá lâu, rồi cô trả lời với những lời lẽ thú tội: “Lúc còn nhỏ tôi có đạo. Nhưng đó là chuyện rất lâu rồi.”

5. Lương thực đời đời

Người ta hỏi ông Napoléon, vua nước Pháp: “Đời vua biến cố nào, giây phút nào làm ngài sung sướng hạnh phúc nhất?”Vua đáp: “Ngày tôi được Rước Lễ Lần Đầu.” Thế mà ngày nay nhiều người chỉ háo hức được Rước Lễ Lần Đầu, sau đó lại lạnh nhạt không muốn đến dự Lễ! Đâu còn mấy người nhớ đến hạnh phúc trong ngày trọng đại đó như vua Napoléon!

Ngày nay, nhiều người tự xưng là tín hữu Công Giáo, nhưng lại sống Đạo theo kiểu Do Thái giáo, chỉ vì tin “có thực mới vực được đạo”, nên dốc toàn lực đi tìm kiếm thực tại đời này, mà coi nhẹ hay không muốn thực hành Lời Chúa dạy:

- Của ăn nuôi sống con người không phải chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ thi hành mọi Lời Thiên Chúa phán (Mt 4, 4; Ga 4, 34).

6. Thập giá cứu độ

Đức Cha Fulton Sheen, một diễn giả nổi tiếng trên các đài truyền thanh và truyền hình Hoa Kỳ đã tưởng tượng ra một cuộc gặp gỡ như sau:

Tôi ra khỏi nhà để hưởng chút ánh sáng mặt trời, tôi gặp một người đang quằn quại trên Thập Giá, tôi dừng lại và đề nghị:

- Xin cho phép tôi được giúp ông xuống khỏi Thập Giá

Nhưng người ấy trả lời:

- Hãy để cho tôi yên. Hãy để nguyên những cái đinh trong lòng bàn tay và bàn chân của tôi. Hãy để nguyên những gai nhọn trên đầu và lưỡi dòng trong trái tim tôi. Tôi không tự mình xuống khỏi Thập Giá, bao lâu những người anh em tản mác khắp nơi của tôi chưa hợp nhất với nhau.

Tôi liền hỏi người ấy:

- Ông muốn tôi làm gì cho ông?

Người ấy trả lời:

- Hãy đi khắp thế giới, và bắt gặp bất cứ ai hay nói với họ rằng: “Có một người đã chịu đóng đinh trên Thập Giá.”

Vâng, có một người đã chịu đóng đinh trên Thập Giá. Người đó chính là Chúa Giêsu, Chúa của chúng ta.

Trong thư thứ nhất gửi cho Giáo đoàn Côrinthô, Thánh Phaolô đã nói về Thập Giá rất hay: “Thật thế, lời rao giảng về Thập Giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng tôi là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.” (1Cr 1,18)

7. Tình thương cứu độ

Trong tuyển tập ngụ ngôn của hai anh em người Đức vào thế kỷ thứ 19, người ta đọc được câu chuyện có nội dung như sau:

Hai cha con nọ đã thỏa thuận ngầm với nhau là người con được tự do làm bất cứ điều gì nó muốn. Chỉ có điều là mỗi khi nó làm một hành động xấu thì nó phải đóng một cây đinh vào cánh cửa. Ngược lại, khi làm được một hành động tốt thì nó có quyền nhổ một cây đinh đi.

Chưa đầy một năm, cánh cửa không còn một chỗ nào trống để đóng đinh vào được nữa. Người con chợt nhận ra cuộc sống quá xuống dốc của mình. Nó mới hồi tâm và quyết định tu sửa. Không đầy một năm sau, mọi cây đinh đều lần lượt được gỡ ra khỏi cánh cửa. Ngày cây đinh cuối cùng được tháo gỡ khỏi cửa người cha sung sướng chạy đến ôm lấy đứa con của mình. Ông vui mừng đặt trên trán đứa con những nụ hôn hạnh phúc. Thế nhưng, thật là lạ lùng, không những đứa con không tỏ ra một cảm xúc vui sướng nào mà còn đẩy người cha ra và khóc òa lên. Người cha ngạc nhiên thốt lên:

- Tại sao con khóc? Tất cả mọi cây đinh đã được nhổ ra khỏi cánh cửa, con không cảm thấy hạnh phúc vì đã sống tốt đẹp hơn sao?

Đứa con thổn thức:

- Thưa cha đúng thế, nhưng cho dầu những cây đinh đã nhổ đi rồi, nhưng chúng vẫn còn để lại những cái lỗ trên đó.

Trong cuộc sống, nhiều người trong chúng ta cũng như thế. Chúng ta đã chạy đến tòa cáo giải. Chúng ta đã tin là Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Thế nhưng, nhiều khi chúng ta không thể vượt qua được những “Mặc cảm tội lỗi.” Chính những mặc cảm này nhiều khi dày vò chúng ta. Mỗi lần như thế chúng ta hãy nhớ lại tình thương của Chúa.

THỨ TƯ

Lời Chúa: Ga 8, 31-42

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người Do-thái đã tin nơi Ngài rằng: "Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi.” Họ thưa lại Người: "Chúng tôi là con cháu Abraham, và chưa bao giờ làm nô lệ ai cả. Tại sao ông lại nói "Các ngươi sẽ được tự do"?”

Chúa Giêsu trả lời rằng: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Hễ ai phạm tội, thì làm nô lệ cho tội. Mà tên nô lệ không ở mãi trong nhà; người con mới ở vĩnh viễn trong nhà. Vậy nếu Chúa Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi sẽ được tự do thực sự. Ta biết các ngươi là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi.” Họ đáp lại: "Cha chúng tôi chính là Abraham!" Chúa Giêsu nói: "Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!" Họ lại nói: "Chúng tôi không phải là những đứa con hoang! Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!"

Chúa Giêsu nói: "Nếu Thiên Chúa là Cha các ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến.”

TRUYỆN KỂ

1. Nô lệ và tự do

Người Do thái cho rằng mình tự do. Thực sự họ sống trong nô lệ. Vì họ không sống trong sự thật. Họ bị lầm lạc.

Họ lầm tưởng mình tự do. Nhưng họ đã phạm tội. Phạm tội là nô lệ cho tội lỗi. Sống dưới ách ma quỉ. Bị dục vọng trói buộc. Chỉ có Chúa Giê-su tự do. Vì Chúa là Đấng Thánh. Chỉ khi nào người Do thái được Chúa giải phóng khỏi tội lỗi họ mới có tự do. “Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội…Vậy nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thật sự là những người tự do.”

Họ lầm tưởng mình là con cháu Áp-ra-ham. Nhưng thực sự không phải. vì Áp-ra-ham luôn lắng nghe và tuân hành ý Chúa. Còn họ thì không: “Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm. Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm.”

Họ lầm tưởng họ là con Thiên Chúa. Nhưng không phải. Vì họ không yêu mến Chúa Giê-su là Đấng Cha sai đến: “Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến.”

Sống trong lầm lạc. Họ nô lệ cho sự lầm lạc. Họ ở ngoài Thiên Chúa. Cần phải có sự thật giải phóng họ mới được tự do. Chúa Giê-su chính là sự thật. Vì Người luôn ở trong Thiên Chúa.

2. Chân Lý Sẽ Giải Thoát.

Khi thi hành nhiệm vụ khâm sứ Tòa thánh tại Bulgari, Đức cha Roncali nhận được một bức thư của một linh mục chỉ trích ngài về mọi mặt. Đọc thư xong, Đức cha Roncali không nói một lời, lòng vẫn yêu thương vị linh mục kia. Thời gian trôi qua, ngài được thăng chức Hồng Y, rồi đắc cử Giáo Hoàng với danh hiệu Gioan XXIII. Nhân dịp về Rôma yết kiến vị Tân Giáo Hoàng, vị linh mục cũng ghi tên đi theo phái đoàn và được đặc ân tiếp kiến riêng Giáo Hoàng. Vị linh mục đó thuật lại như sau:

Trong lúc đứng ở phòng khách đợi phiên vào triều yết Đức Thánh Cha, đầu óc tôi cứ nghĩ đến bức thư năm xưa và thầm nghĩ mấy chục năm qua rồi, chắc giờ đây Ngài không còn nhớ nữa đây. Đang suy nghĩ miên man thì cánh cửa mở ra, cha thư ký dẫn tôi vào. Vừa thấy tôi, Đức Thánh Cha niềm nở bắt tay và mời tôi ngồi. Ngài ân cần thăm hỏi công việc mục vụ của tôi, của Giáo phận, và nhắc đến các bạn ở Bulgari. Câu chuyện vẫn diễn ra trong bầu khí thân tình. Bỗng Đức Thánh Cha đưa tay lấy cuốn Kinh Thánh và từ từ mở ra và trong đó có bức thư của tôi, ngài dịu dàng nói: “Con đừng sợ, cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn con. Cha cũng là người có nhiều khuyết điểm. Cha để bức thư của con vào cuốn Kinh Thánh và hàng ngày đọc vào đó mà xét mình. Mỗi lần như thế, cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con.”

Tác giả tập sách Đường Hy vọng khuyên: “Lòng mến Chúa phải tuyệt đối. Chúa dạy không ai có thể làm tôi hai chủ. Con làm tôi mấy chủ? Mỗi ngày dành riêng ít phút thinh lặng để sống đời nội tâm.

Con chỉ có một việc quan trọng nhất, Maria đã chọn phần tốt nhất. Nếu con không sống nội tâm, nếu Chúa Giêsu không phải là linh hồn của các hành động của con, thì sẽ thế nào? Con chỉ có một của ăn là Thánh ý Thiên Chúa, nghĩa là con sống và lớn lên bằng ý Chúa. Ý Chúa như thức ăn làm con sống mạnh sống vui, ngoài ý Chúa con sẽ chết.

Con chỉ có giây phút đẹp nhất, đó là giây phút hiện tại. Đời con sẽ tuyệt đẹp nếu từng giây phút con tin vào Lời Chúa và thực hiện thánh ý Ngài.”

Ý Chúa muốn cho mỗi ngừoi chúng ta trong hiện tại là trở thành những người con thảo, hãy để lời Chúa thấm nhập và hướng dẫn cuộc sống chúng ta.

3. Muốn có đời sống đẹp.

Một sinh viên Nhật Bản đến văn phòng của một linh mục ở Boston, và nói: “Thưa cha, con đang đi tìm một đời sống đẹp, cha có thể chỉ cho con biết phải tìm ở đâu?”

Linh mục đáp: “Chắc anh muốn trao đổi về tôn giáo?”

Anh trả lời: “Thưa không, con không muốn trao đổi về lý thuyết. Việc đó con thấy nhan nhản rồi. Con cần thứ khác. Cha biết không, khi con ở ký túc xá Đại học Cambridge con ở chung phòng với một anh thợ mộc, người mà con cho là anh có đời sống rất đẹp. Anh không bao giờ nghĩ về mình, mà luôn nghĩ về người khác. Sinh viên tụi con nhiều khi sống cẩu thả, chén đĩa lung tung, đồ ăn vứt bừa bãi. Thấy thế, anh không nói gì. Nhưng khi mọi người ra khỏi phòng ăn, một mình anh đi thu dọn, sắp xếp lại cho ngăn nắp.

Nghe thế, cha đưa cho anh cuốn Thánh Kinh và nói: “Hãy cầm lấy. Nếu anh muốn tìm một đời sống đẹp, anh hãy tìm trong đó.”

... Hai năm sau, người sinh viên Nhật ấy đến gặp cha cười cười nói: “Cha có nhận ra con không”? Cha nói: “Hình như tôi đã gặp anh ở đâu, nhưng không nhớ rõ.”

Anh đưa cuốn Thánh Kinh ra và nói: “Con đã tìm thấy đời sống đẹp. Con đã tìm thấy đời sống đó nơi Đức Kitô.”

4. Mình lừa mình

Hồi học ở Đại chủng viện, cha giáo Phụng vụ có kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện có thật:

Một thanh niên bỏ xưng tội rước lễ nhiều năm, vào dịp Mùa Chay ngài khuyên anh ta nên dọn mình xưng tội. Anh nói:

- Con chẳng có tội gì.

Ngài hỏi anh ta có chơi gái hay không? Anh ta trả lời cách tỉnh bơ:

- Thưa cha, chuyện đó là chuyện bình thường.

Ngài nói:

- Anh có biết là tội lỗi điều răn thứ sáu không?

Anh ta cãi lại:

- Sao lại là tội được. Con trả tiền đàng hoàng mà!

5. Sự thật giải thoát

Tạp chí kinh tế Viễn Đông mới đây có ghi lại chuyện tự nộp mình rất đáng khâm phục của một tên cướp như sau: Một đêm nọ, vì quá mỏi mệt với cuộc sống chui lủi, tên cướp khét tiếng đã ra đầu thú.

Trước thái độ hồ nghi của viên công an trực, tên cướp đã chỉ vào vết sẹo để khẳng định rằng, chính mình đã từng bị lực lượng an ninh tầm nã trong mấy tháng qua. Mặc dầu làm thế nhưng viên công an vẫn tiếp tục nghi ngờ, nhất định không cho anh vào khám, còn kẻ cướp thì dứt khoát không chịu bỏ đi.

Phải đợi đến sáng hôm sau, các viên chức công lực mới nhận diện được người mà họ đã truy nã trong mấy tháng qua. Tên cướp cho biết, anh đã kiệt sức vì cuộc chạy trốn. Hằng đêm anh không thể ngủ yên. Dù chỉ là tiếng chó sủa, hay ngay cả tiếng gà gáy cũng làm anh phải giật mình. Bước vào phòng giam, tên cướp nhìn vào viên công an trực của đêm hôm trước với vẻ đắc thắng.

Muốn giải thoát con người của mình khỏi những trói buộc của lỗi lầm và khuyết điểm, thì điều cần thiết trước tiên là phải biết sự thật về mình.

6. Chỉ muốn bán thịt dê

Đời Chiến Quốc, có vua nước Sở là Chiêu Vương gặp loạn phải trốn ra nước ngoài. Lúc ấy có người hàng thịt dê tên Duyệt chạy theo.

Khi Chiêu Vương trở về lấy lại được lãnh thổ, nhà vua tưởng thưởng cho những người đi theo, trong đó có cả anh hàng thịt dê nữa.

Trong lúc ai cũng vui mừng nhận lãnh, thì anh chàng bán thịt dê lại từ chối. Anh khiêm nhường tâu với vua rằng:

- Khi đức vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê. Nay đức vua còn nước, tôi còn nghề bán thịt dê. Thế là đủ rồi, đâu dám mong thưởng gì hơn nữa.

Chiêu Vương cố ép, người bán hàng thịt dê lại cố từ.

- Đức vua mất nước không phải là tội tôi, nên tôi không dám liều chết. Đức vua lấy lại được nước, không phải là do công của tôi, nên tôi không dám nhận phần thưởng.

Chiêu Vương bảo:

- Vậy thì để ta sẽ đến chơi nhà ngươi.

Người hàng thịt dê nói:

- Theo phép nước, người nào có công to thì mới được trọng thưởng, vua mới đến nhà. Nay tôi tự xét mình không đủ trí mưu giữ được nước, không đủ dũng cảm để làm cho giặc phải lui. Quân giặc vào nước, tôi phải lánh nạn chạy theo vua, như vậy đâu phải chủ ý theo vua. Nay vua bỏ phép nước đến nhà tôi, tôi e thiên hạ chê cười chăng?

Chiêu Vương nghe nói, ngoảnh lại bảo quan đại phu Tư Mã Tử Kỳ:

- Anh này tuy làm nghề ti tiện mà giải bày nghĩa lý rất cao. Nhà ngươi làm thế nào mời được anh ta ra nhận chức Tam Công cho ta.

Thấy vậy người bán hàng thịt dê nói:

- Tôi biết chức Tam Công là quý, quý hơn cửa hàng thịt dê, bổng lộc lại nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê, nhưng tôi đâu dám nhận để nhà vua mang tiếng gia ơn không phải nghĩa. Vậy xin cứ cho tôi được giữ nghề cũ.

Nói xong, người bán hàng thịt dê lui ngay.

7. Sự thật giải thoát

Đảng cộng sản vô thần khai sinh tháng 10 năm 1917, nhưng đã tự “thắt cổ” ngày 25 tháng 12 năm 1991, mới thọ được 74 tuổi, chưa tới tuổi hưu (75) đã chết một cách nhục nhã. Sự cố thê lương này đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II tiên báo 15 tháng trước đó: Vào tháng 9 năm 1990, dịp Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ tại Pháp, trong một bữa tiệc thân mật, ông André Frossard thuộc Hàn Lâm Viện Pháp đặt câu hỏi với Đức Giáo hoàng:

- Thưa ngài, nếu ngài chỉ muốn dùng một Lời Kinh Thánh để nói với thế giới hôm nay, thì ngài dùng câu nào?

Câu hỏi đó đặt ra thì ai cũng đoán trước thế nào Đức Giáo hoàng cũng lấy Lời Đức Giêsu dạy: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13, 34).

Thế nhưng Đức Giáo hoàng nói:

- Tôi chỉ muốn nhắc lại với thế giới hôm nay Lời Đức Giêsu đã nói: “Các ngươi sẽ biết Sự Thật (Lời Chúa) và Sự Thật sẽ giải phóng các ngươi” (Ga 8, 32).

Ngờ đâu vào đúng ngày lễ Chúa Giáng Sinh (25-12-1991), Tổng Bí Thư của Đảng cộng sản quốc tế là ông Gorbachov tuyên bố từ chức và giải tán Đảng. Tức khắc cả khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Đúng như lời Đức Giáo hoàng đã nói: “Sự Thật sẽ giải phóng con người.”

Thật “hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ Lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả” (Lc 8, 15: Tung Hô Tin Mừng), như Lời đã lưu lại trong tâm hồn ông Gorbachov, xứng đáng là môn đệ của Chúa Giêsu

THỨ NĂM - NIỀM TIN VÀ LÝ TRÍ

Lời Chúa: Ga 8, 51-59

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với người Do-thái rằng: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết." Người Do-thái lại nói: "Bây giờ thì chúng tôi biết rõ ông bị quỷ ám. Abraham đã chết và các tiên tri cũng vậy, thế mà ông lại nói: "Ai giữ lời Ta, thì không bao giờ phải chết." Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao? Ngài đã chết, các tiên tri cũng đã chết. Ông cho mình là ai?"

Chúa Giêsu trả lời: "Nếu Ta tự tôn vinh chính mình, thì vinh quang của Ta sẽ không giá trị gì. Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Người là chính Ðấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Người. Còn Ta, Ta biết Người. Nếu Ta nói Ta không biết Người, thì Ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng Ta biết Người, và Ta giữ lời Người. Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng."

Người Do-thái liền nói: "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã trông thấy Abraham rồi sao?" Chúa Giêsu trả lời: "Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi: Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi."

Bấy giờ họ lượm đá ném Ngài, nhưng Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ.


TRUYỆN KỂ

1. Có một vực thẳm

Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.
Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.

Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới. Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn. Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc.

Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống.

2. Người giầu có và Ladarô.

Mẹ Têrêxa Calcutta kể lại rằng một lần nọ đặt chân đến Ethiopi, Mẹ đã ngỏ ý với một vị Bộ trưởng để xin một khu đất xây bệnh viện cho những người cùng khốn nhất.

Ông Bộ trưởng trả lời: “Thưa bà, việc săn sóc bệnh nhân và người nghèo là trách nhiệm của chính phủ, không một cá nhân hay đoàn thể nào có thể gánh được công việc này.”

Mẹ liền nói: “Nhưng tôi thấy chính phủ các ông đã không chu toàn được trách nhiệm ấy; vả, việc săn sóc người nghèo khổ là trách nhiệm của mỗi người.”

Và ông Bộ trưởng đã phải chấp nhận đề nghị của Mẹ.

3. Món quà lớn nhất

Mẹ Têrêxa Calcutta kể lại một câu chuyện thật ấn tượng rằng: có hai bạn trẻ nghe biết các sơ trong dòng của mẹ hàng ngày nấu ăn cho 7 ngàn người, và cung cấp thực phẩm cho khoảng 9 ngàn người. Vì thế, họ đã tặng cho mẹ một số tiền lớn để giúp người nghèo. Khi được hỏi về nguồn gốc số tiền lớn mà các em dâng tặng, các em trả lời:

“Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Trước ngày cưới, chúng con đã suy nghĩ nhiều. Sau cùng, chúng con quyết định không may đồ cưới, cũng không tổ chức yến tiệc linh đình, và chúng con muốn dùng khoản tiền chi phí cho đám cưới và mua tặng phẩm để cho những người không được may mắn như chúng con."

Khi thấy thế, mẹ phân vân! Hai bạn nói tiếp:

“Vì chúng con yêu nhau, chúng con muốn có cái gì đặc biệt, đẹp đẽ cho nhau. Vì thế, chúng con muốn tặng cho nhau một món quà cưới thật đặc biệt. Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống của mình bằng một hy sinh mà cả hai đều dự phần vào.”

Ôi một nghĩa cử anh hùng! Vì ở bên Ấn Độ, đám cưới mà không có quần áo cưới cũng như tiệc cưới là một điều nhục nhã và gây tủi hổ cho cả hai gia đình, đàng trai cũng như đàng gái.

Câu chuyện trên đây ngược hẳn với câu chuyện của nhà phú hộ giàu có và Lazarô nghèo khổ! 
4. Người Samaritano thời nay

Vào buổi sáng ngày 10.8.2012, tại ngã tư đường Tân Hoa giao với đường Tây Hoài Hải ở thành phố Thượng Hải, một cụ ông được phát hiện nằm ngất xỉu trên đường, đầu chảy nhiều máu do va đập sau cú ngã. Một vài người chứng kiến đầu tiên bấm số 120 để gọi xe cấp cứu… rồi thôi.

Khi chưa có xe đến kịp để đưa ông cụ đi, người qua lại trên đường chỉ dửng dưng nhìn rồi bỏ mặc hoặc dừng lại chỉ trỏ. Họ tuyệt nhiên không có một động tác sơ cứu nào, thậm chí đến đỡ ông cụ dậy.

Một người phụ nữ nước ngoài đi ngang thấy sự việc trên. Ngạc nhiên trước thái độ vô cảm của những người chứng kiến, cô chạy đến nâng đầu ông cụ lên đặt trên một tấm khăn mềm, vừa khóc vừa khẩn nài mọi người xung quanh mau gọi xe cứu thương đến. Sự việc chỉ kết thúc khi cô này đưa tiền và thúc họ gọi xe cứu thương lần nữa. Nửa tiếng sau, ông cụ mới được đưa đến bệnh viện gần đó.

…Ông cụ bị nạn họ Tiền, 87 tuổi, được bệnh viện chẩn đoán thuyên tắc mạch máu não đột ngột khiến ông chóng mặt và ngã khuỵu trên đường. May mắn được cấp cứu kịp nên ông đã phục hồi… (Theo Tuổi trẻ Mobile)

5. Của cải chôn vùi hay nâng đỡ?

Tác giả tập sách Đường Hy vọng đã lưu ý những người con tinh thần của mình như sau:
 
“Của cải chôn vùi con, nếu con đội nó lên đầu. Của cải làm bệ chân con nếu con đứng trên nó.

Không có của mà tham vẫn chưa phải là nghèo khó. Có của mà không dính bén vẫn có thể có lòng khó nghèo thật sự.

Dùng của cải cách quảng đại, trọng của cải cách tế nhị, xa của cải cách anh hùng. Không phải là của con, nhưng là của Chúa trao cho con sử dụng.

Để có tinh thần nghèo khó và nhất là sống tinh thần nghèo khó, cần có tràn đầy tình yêu Chúa. Con hãy về bán tất cả những gì con có, bố thí cho người nghèo, rồi đến đây theo Chúa.

Chàng thanh niên giầu có không thể đáp lại lời mời gọi sống khó nghèo trên bước đường theo Chúa, nên đã buồn sầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của mà không có nhiều tình yêu Chúa.”
 6. Chúa đến thăm bà lão.

Chúa hứa với một bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bà rất hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Bà ngồi và đợi Chúa đến.

Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: “Không, hôm nay tôi không giúp anh, vì Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều gì.” Bà đuổi anh và đóng cửa lại.

Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ ông.” Rồi bà đóng sầm cửa lại.

Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh xin ăn và ngủ qua đêm. “Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến. Tôi không thể tiếp anh.” Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.

Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.

Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Bà ngủ quên và mơ thấy Chúa đến với bà và nói: “Hôm nay ta đến với con 3 lần và cả ba lần con đều đuổi Ta”

7. Chỗ dựa của người thế tục rất mỏng manh

Một ngày nọ, vua Salomon bỗng nảy ra ý muốn, muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình trước mặt mọi người. Vua nói:

- Này Benaiah, trong vòng 6 tháng, ta muốn khanh mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ hội.

Benaiah trả lời:

- Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thì thưa đức vua, thần sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?

Nhà vua bảo:

- Nó phải có sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn. Và nếu

ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui.

Vua Salomon thừa biết sẽ chẳng đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn không thể tìm ra được một chiếc vòng nào như thế. Rồi chính vào đêm trước ngày lễ hội, ông lang thang đến một nơi nghèo nhất của Jêrusalem. Ông đi ngang qua chỗ người bán hàng lạc xoong với những món hàng đang được bày trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân hỏi:

- Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó vào thì quên đi niềm vui sướng, và người đau khổ đeo nó vào thì quên đi nỗi buồn không?

Người bán hàng lấy từ trên tấm bạt cũ lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ, khuôn mặt ông rạng rỡ lên một nụ cười. Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội. Vua hỏi:

- Nào ông bạn của ta, ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?

Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và chính vua Salomon cũng cười. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói:

- Dạ nó đây, thưa đức vua!

Khi vua Salomon đọc xong dòng chữ, người ta thấy khuôn mặt của nhà vua biến sắc. Trên chiếc vòng đó người ta khắc dòng chữ này: “Mọi sự rốt cuộc rồi cũng qua đi.”

Chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng: tất cả những sự khôn ngoan, vương giả, quyền uy và giàu có của ông rồi sẽ qua đi. Cả ông cũng thế. Ông cũng chỉ là một thứ phù du bởi vì một ngày nào đó, ông cũng sẽ phải trở về với cát bụi.

8. Cái khổ của người giàu

Mẹ Têrêsa nói: “Người nào luôn sống lệ thuộc vào đồng tiền, lúc nào cũng cũng băn khoăn lo lắng về của cải của mình, thì người đó là người thực sự nghèo khó.

Ngược lại, những người biết trao ban của cải để giúp đỡ người khác, người đó mới là người thực sự giàu có thực sự. Lòng tốt làm biến đổi con người nhiều hơn là những nghiên cứu khoa học và tài hùng biện. Một khi đã nhìn thấy hình ảnh của những người anh em trong nhau, bạn nghĩ rằng chúng ta có còn cần đến xe tăng và tướng lĩnh nữa không?”

9. Người giàu có trong Nước Trời

Ở London, thủ đô nước Anh có một ngôi thánh đường rất nổi tiếng. Đó là nhà thờ Saint Paul. Nhà thờ này có một lối kiến trúc rất độc đáo làm cho những âm thanh vang đi rất xa. Nếu áp tai vào tường, người ta có thể nghe được một người nói từ phía bên kia mái vòm tròn, dầu chỉ là giọng nói thì thầm tâm sự.

Có một đôi thanh niên nam nữ đã mượn nơi nhà thờ này làm điểm hẹn hò: Chàng trai vốn là một người làm nghề thợ đóng giày than thở với người yêu rằng:

- Anh chưa thể tiến hành hôn lễ vì đang thất nghiệp, không có tiền để mua da và các vật liệu làm giày, thì đào đâu ra tiền để làm lễ cưới?

Nghe tin chẳng lành ấy, cô gái chỉ biết sụt sùi khóc và cầu nguyện:

- Lạy Chúa, xin giúp chúng con có tiền để làm lễ thành hôn!

Tình cờ, một người đi ngang qua hành lang phía bên kia nghe được câu chuyện và lời cầu nguyện của họ, ông ta quyết định giúp đỡ đôi thanh niên nam nữ này. Vì thế khi họ thất thểu ra về, ông khách cũng âm thầm theo sau để dò cho biết nhà chàng trai ở đâu, rồi lập tức ông cho người mang tặng anh ấy một số da và vật liệu để làm giày. Nhờ được giúp đỡ như vậy, nên người thanh niên bắt tay ngay vào việc và chẳng bao lâu anh trở nên phái đạt và anh sung sướng cử hành hôn lễ.

Mãi mấy năm sau, hai vợ chồng này mới biết được vị ân nhân của mình là ai khi ông trở thành vị thủ tướng nổi tiếng của nước Anh. Người đó chính là ngài William Ewart Gladstone (1809-1998).

THỨ SÁU

Lời Chúa: Ga 10, 31-42

Khi ấy, người Do-thái lượm đá để ném Chúa Giêsu. Người lên tiếng hỏi rằng: "Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt lành bởi Cha Ta. Vậy vì việc nào mà các ngươi muốn ném đá Ta?"

Người Do-thái trả lời: "Chúng tôi muốn ném đá ông không phải vì việc lành, nhưng vì một lời lộng ngôn, bởi vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là Thiên Chúa."

Chúa Giêsu đáp lại: "Nào trong sách luật của các ngươi không có chép câu này: "Ta đã nói: các ngươi là thần"? Vậy nếu sách luật gọi những kẻ được nghe lời Chúa là thần, mà Kinh Thánh không thể huỷ diệt được, thì tại sao các ngươi nói với Ðấng đã được Chúa Cha thánh hoá và sai đến trong trần gian rằng "Ông nói lộng ngôn", vì Ta đã nói Ta là Con Thiên Chúa? Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha."

Bởi đó họ tìm cách bắt Người, nhưng Người thoát khỏi tay họ. Người lại qua bên kia sông Giođan, nơi trước kia Gioan đã làm phép rửa. Và Người ở lại đó. Có nhiều kẻ đến cùng Người. Họ nói: "Gioan đã không làm một phép lạ nào. Nhưng mọi điều Gioan nói về người này đều đúng cả." Và có nhiều kẻ tin Người.

TRUYỆN KỂ

1. Sống theo Chúa.

Có người hỏi chị Lubich: “Làm sao chị có thể theo dõi hàng trăm ngàn người trên thế giới? Làm sao chị có thể hướng dẫn những người theo cùng một linh đạo?” Chị mỉm cười trả lời: “Tôi không theo dõi ai cả. Tôi chỉ theo Chúa từng giây phút và nếu tôi sống theo Chúa thì những người khác sẽ theo tôi."

Bí quyết sống của chi Lubich thật ra được gợi hứng từ nếp sống của chính Chúa Giêsu. Ngài đã không nói suông, nhưng đã hành động, đã thi ân cho những ai thành tâm, tìm đến với Ngài. Ngài đã sống điều Ngài giảng dạy và luôn sống kết hiệp với Thiên Chúa. Ngài đã như nài nỉ những kẻ không tin Ngài rằng: “Nếu các người không thể tin những lời Ta nói thì ít ra hãy tin những việc Ta làm."

2. Sự thật không cần vỏ bọc đẹp tốt

Qua những người dân trong vùng đến làm phu, dựng nhà cho lính tráng và các cung nữ, tiếng đồn có tây dương đạo trưởng đến thuyết pháp được lan truyền ra. Dân chúng đến nghe giảng mỗi ngày một đông, và số người trở lại mỗi ngày một nhiều. Trong hai tháng trời chờ đợi ở An Vực, hai cha đã rửa tội được hơn 200 người.

Người thứ nhất được ơn trở lại là một sư cụ danh tiếng trong vùng. Cụ rất chăm học đạo, hàng ngày luôn ở bên cạnh các cha để nghe giảng giải các mầu nhiệm trong đạo. Không dám phiền cụ, cha Đắc Lộ nhờ một thanh niên biết chữ chép ra chữ Nôm, những kinh cha đọc cho, để những người tân tòng theo đó mà học.

Thấy thế, cụ liền xin cho cụ hân hạnh được làm công việc đó “vì trước kia, cụ đã làm thầy dạy người ta những sự lầm lạc, thì lúc này, cũng xin nhận việc đó để dạy lại người ta những điều chân thật."

Chưa đủ, nhận thấy gian nhà của hai cha ở chật chội, dân chúng đến nghe giảng phải chen chúc nhau, cụ liền dâng cho hai cha một khu đất bên cạnh, để hai cha làm một nhà thờ rộng rãi và xứng đáng hơn.

3. Đức tin cần tấm lòng đơn sơ

Một người da trắng và một người thổ dân cùng nghe giảng. Người thổ dân cảm động và xin nhập đạo ngay. Còn người da trắng cũng cảm động nhưng cả năm sau mới nhập đạo. Trong một buổi phụng vụ, người da trắng hỏi:

- Tôi phải mất một thời gian mới có lòng tin, sao anh có lòng tin sớm thế? Người thổ dân đáp:

- Này bạn, để tôi nói cho bạn nghe. Có vị hoàng tử hứa cho chúng ta chiếc áo mới. Bạn nhìn vào áo mình, tự nhủ: áo mình còn đẹp, để mai sau hãy lấy. Còn tôi, tôi nhìn vào tấm chăn cũ kĩ của mình, thấy nó chẳng ra gì, nên vội vàng đến nhận áo mới. Bạn ạ, bạn đã có chút khôn ngoan, nên bạn còn muốn dùng chúng. Còn tôi, tôi không có, nên tôi mau mắn đón nhận sự khôn ngoan của Chúa Giêsu

4. Chúa là gì đối với chúng ta ?

Trả lời được câu hỏi này không phải là dễ.

Trong tập thơ “Cát và sóng”, một thi sĩ nọ đã viết một bài thơ về Chúa Giêsu với nội dung như sau:

Cứ mỗi trăm năm,

Chúa Giêsu của thành Nazareth lại gặp Chúa Giêsu của người Kitô hữu.

Hai bên đàm đạo với nhau thật lâu giờ.

Và cứ mỗi lần gặp gỡ như thế, Chúa Giêsu Nazareth lại từ giã Chúa Giêsu của người Kitô hữu bằng những lời thật buồn như thế này:

“Này bạn, tôi sợ rằng, chúng ta sẽ không bao giờ đồng ý với nhau."

Chúa Giêsu, con người của lịch sử đã sinh ra cách đây hơn 2000 năm tại Nazareth. Con người đã từng sống và chết như một con người ấy, lại cũng chính là Thiên Chúa. Có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi: Làm sao Ngài có thể vừa là Thiên Chúa, vừa là Con Người được ?

Xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội và của thế giới, đã không thiếu những người thắc mắc như thế.

Thế nhưng, đọc lại Tân Ước, chúng ta thấy Chúa đã quả quyết rất rõ: Ngài vừa là Thiên Chúa, vừa là Con Người. Tiếng La tinh đã có một kiểu diễn tả rất hay về việc này: Homo-Deus.

5. Tình yêu của Chúa nâng ta lên

Nước Cộng hòa Trung Phi được Pháp trao trả độc lập vào ngày 13/8/1960. Đây là một nước nghèo, đất rộng người thưa, tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là các mỏ, quặng kim cương, coban, sắt… với diện tích khoảng 662.984 km2. Từ khi được Pháp trao trả độc lập, Cộng hòa Trung Phi do Tổng thống D. Đacô lãnh đạo. Năm 1966, trung tá Jean Beldel Bokassa đứng đầu một binh đoàn, dẫn quân về lật đổ Tổng thống D. Đacô để nắm quyền lãnh đạo, tự phong đại tá rồi vọt lên… đại tướng chỉ trong vòng có mấy ngày và lên cầm quyền.

Trước khi làm Tổng thống, rồi Hoàng đế nước Trung Phi, Jean Beldel Bokassa đi lính cho Pháp. Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II, Bokassa theo đội quân lê dương đi đánh thuê nhiều nước như Ma rốc, Algierie và vào năm 1953 có mặt ở miền Nam Việt Nam. Lúc bấy giờ Bokassa mang cấp bậc trung sĩ nhất, đóng quân tại Chánh Hưng, Sài Gòn.

Thời gian ở Việt Nam, Bokassa có yêu và làm đám cưới với cô Nguyễn Thị Huệ. Việc lấy được một người lính lê dương làm chồng đã giúp bà Huệ có một cuộc sống khá thoải mái. Tuy nhiên, khi Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định đình chiến ngày 20/7/1954, rồi rút quân đội về nước, thì Bokassa lúc này cũng phải theo đoàn quân thua trận của Pháp lên tàu về nước, để lại cái thai trong bụng bà Huệ, không biết là gái hay trai!

Sau khi chồng về nước, bà Huệ phải một thân một mình tự bươn chải, sống một cuộc sống nghèo khổ. Martine lớn lên cũng chỉ biết mặt bố mình qua một số bức ảnh kỷ niệm mà bà Huệ còn giữ lại. Vào thời điểm ngay trước khi có thông tin Tổng thống Bokassa đi tìm người con rơi ở Sài Gòn thì Martine đang làm… bốc vác cho nhà máy xi măng Hà Tiên, gần Thủ Đức. Những lúc rảnh thì lại đi làm… phu thợ hồ để kiếm thêm thu nhập!

Khi lên làm Hoàng đế Bokassa của nước Trung Phi, và bằng con đường ngoại giao ông nhờ tìm đứa con lạc loài, đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, một người đàn ông có đạo đức, khiến cho mọi người xúc động, cảm kích. Lúc ấy, có rất nhiều bà dẫn con đến tòa Đại sứ Trung Phi nhận là vợ - con ông Bokassa. Nhưng nhờ khoa học người ta đã xác định ai là con thật của vị Hoàng đế này.

Đó là bà Huệ và cô con gái Martine ở Tân Thuận Đông. Thế là mẹ con bà từ kiếp sống bần cùng, xã hội không ai quan tâm, nghiễm nhiên trở thành hoàng hậu và công chúa. Khi cô Maritne được đón sang Trung Phi, thời gian sau được người giàu có đến cầu hôn, trong đám cưới ấy, Việt Nam phải cử đại diện sang chúc mừng.

Chúng ta là phàm nhân tội lỗi lại được Chúa thương cho làm con Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, được Cha trên trời là Vua vũ trụ muốn ngỏ lời với ta làm Hiền thê của Con Một Ngài.

THỨ BẢY

Lời Chúa: Ga 11, 45-56

Khi ấy, trong những người đến thăm Maria và đã chứng kiến việc Ngài làm, có nhiều kẻ đã tin vào Chúa Giê-su. Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp người biệt phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm. Do đó, các thượng tế và biệt phái họp công nghị, và nói: "Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người này làm nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá huỷ nơi này và dân tộc ta.” Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: "Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối.

Bởi vậy, từ ngày đó, họ quyết định giết Người. Vì thế Chúa Giêsu không còn công khai đi lại giữa người Do-thái nữa. Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ. Khi đó đã gần đến Lễ Vượt Qua của người Do-thái. Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước lễ, để được thanh tẩy. Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong đền thờ và bàn tán với nhau: "Anh em nghĩ sao? Người có đến hay không?" Còn các thượng tế và biệt phái đã ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người.

TRUYỆN KỂ

1. Chết thay cho dân

Hồi Đệ nhị thế chiến, một trại tù của Đức Quốc xã có lệnh: “Các tù nhân có nhiệm vụ coi lẫn nhau. Nếu một tù nhân nào trốn trại, thì sẽ có 10 tù nhân khác thế mạng!”

Một buổi sáng kia, khi kiểm điểm các tù nhân, viên cai tù phát giác thiếu một người! Thế là tất cả các tù nhân hôm ấy phải đứng phơi nắng suốt ngày ngoài sân! Mãi đến chiều, người sĩ quan Đức có trách nhiệm nhà tù xuất hiện với bộ dạng giận dữ, tay chắp sau lưng, bước chân chậm rãi trên đôi giày bốt-đờ-xô nện trên nền đá nghe “cộp, cộp” đến lạnh người! Mắt ông trừng trừng nhìn thẳng vào mặt từng người tù, thỉnh thoảng ông dừng lại chỉ vào một người và buông lời cộc lốc: “Mày!” Cứ như thế ông đã chỉ đến người thứ 9, khi ông dừng lại người tù xấu số thứ 10, thì anh tù bật khóc nức nở kêu than: “Ôi em ơi, các con ơi!” Trong số tù nhân có Linh mục Maximiliano Kolbe liền giơ tay:

- Xin ông cho tôi được chết thay cho người này!

Viên sĩ quan quát:

- Con heo Ba Lan kia, mày có điên không?

Cha Maximiliano Kolbe ôn tồn đáp:

- Thưa không, tôi là Linh mục chỉ có một mình, anh này còn vợ con, cần được sống.

Trước sức mạnh của tình thương, viên sĩ quan đứng lặng người trong giây lát, lạnh lùng buông lời:

- Thuận.

Thế là cả 10 người “được chọn” bị đẩy vào hầm cho chết đói!Trong hầm, cha Maximiliano Kolbe luôn ca hát và cầu nguyện, cha đã cảm hóa được 9 người kia xin theo Đạo. Sau một tháng người ta mở cửa ngục ra xem, thấy cha Maximiliano Kolbe vẫn sống bình an, và vui vẻ. Thấy vậy tên cai ngục đã chích cho ngài mũi thuốc độc kết thúc cuộc đời…!

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho ngài ngày 14-10-1982. Hôm đó có cả gia đình anh tù được cha Kolbe chết thay cũng có mặt.

Quả thực: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình!” (Ga 15,13).

Vì cha Maximiliano Kolbe giống Chúa Giêsu, đã làm ứng nghiệm Lời Thánh Kinh: “Con cháu của chúng sẽ được định cư mãi trên miền đất Hứa. Đavid, tôi tớ của Ta là mục tử nhân hậu, là ông hoàng lãnh đạo dân cho đến muôn đời” (Ed 37,24b-25: Bài đọc); cha Kolbe đã nối dài và mở rộng Lời Kinh Thánh nói: “Thà một người chịu chết cho mọi người được sống, chứ đừng để mọi người bị tru diệt” (Ga 11,50).

Trong thời thế chiến II, quân đội phát xít Ðức đã chiếm đóng Ba Lan, thấy cha Maximilianô Kolbe có ảnh hưởng mạnh trên quần chúng, nên đã bắt giam cha vào ngục.

Một ngày nọ, trại giam của cha có một tù nhân vượt ngục. Sáng hôm sau, lúc điểm danh viên sĩ quan cai tù phát giác ra thiếu mất một người, viên sĩ quan liền áp dụng ngay luật lệ của phát xít Ðức: “Hễ một tù nhân trốn thoát thì mười tù nhân khác phải đền mạng.” Viên sĩ quan cai tù đang rảo bước gọi tên chọn mười tù nhân sẽ phải chết, chợt có tiếng kêu thất thanh: “Khốn cho tôi, tôi còn vợ và một đàn con nhỏ.”

Giữa bầu khí thinh lặng và rùng rợn ấy, một tù nhân đứng ra khỏi hàng, đứng im một cách nghiêm chỉnh. Viên sĩ quan Ðức quát lớn và hỏi: “Mi là ai?” Người đứng ra khỏi hàng ấy trả lời: “Tôi là Maximilianô Kolbe, linh mục Công giáo.”

“Mi muốn gì?” Cha Maximilianô Kolbe trả lời: “Tôi xin tự nguyện chết thay cho anh bạn tù này.” Viên sĩ quan nói tiếp: “Vào xếp hàng thế chỗ đi.”

Mọi tù nhân có mặt trên sân đều ngơ ngác ngạc nhiên và thán phục. Cha Maximilianô Kolbe đã chấp nhận chết thay cho người bạn tù…

2. Tình yêu quên mình

Một nông dân đi xe ngựa ra phố. Đến một cửa tiệm, ông dừng xe vào mua đồ. Ông vừa tới cửa thì con ngựa hí lên và bỏ chạy. Ông vội vàng chạy ra xiết chặt dây cương.

Con ngựa càng hoảng sợ hơn và chạy tứ tung trên đường, kéo theo người nông dân tội nghiệp. Dân chúng đổ xô ra, đến khi ghìm được ngựa thì người nông dân bê bết máu và thoi thóp thở. Một người hỏi: “Sao mà ông dại dột hi sinh đời mình vì con ngựa và chiếc xe như thế?"

Ông thều thào : “Cứ nhìn vào trong xe thì biết!"

Họ nhìn vào và thấy đứa con nhỏ của ông còn đang ngủ.

3. Chết để được sống

Ngày kia giáo trưởng Alihamet dõng dạc tuyên bố với các đệ tử của ông:

- Ta thấy đã đến lúc chúng ta lại phải lên đường. Ta không biết những gì sẽ xảy ra. Các ngươi hãy tuân giữ những điều ta đã truyền dạy. Và các ngươi hãy nhớ kỹ điều này: Trong bất cứ cảnh huống nào, hễ ta giơ tay lên trời thì các ngươi hãy hô lớn: “Tôi chết thay cho thầy tôi!”

Đám môn sinh nhận thấy không thể chấp nhận được một lệnh truyền điên rồ như thế. Tất cả đều rút lui. Chỉ có một người dám chấp nhận và quyết tâm đi theo thầy.

Hai thầy trò lên đường và không biết sẽ đi về đâu. Họ đi mãi cho đến lúc tới một thành phố do một bạo chúa cai trị. Bạo chúa này đã ra lệnh cho binh lính: “Các ngươi phải bắt tên du thủ du thực đầu tiên nào mà các ngươi gặp và điệu tới cho ta. Ta muốn treo cổ hắn để làm một bài học cho bọn vô lại trong thành phố này.”

Thế là, khi vừa đặt chân tới cổng thành, người đệ tử của vị giáo trưởng liền bị lính bắt và điệu tới trước mặt bạo chúa.

Lúc cuộc hành quyết sắp bắt đầu thì vị giáo trưởng mới xuất hiện giữa đám đông và hô lớn:

-Thưa ngài, xin hãy giết tôi. Vì chính tôi đã dụ dỗ người thanh niên này bỏ nhà ra đi để sống cuộc đời lang thang như tôi.

Nói xong, ông giơ tay lên trời.

Vừa thấy cử chỉ ấy của thầy mình, người đệ tử liền hô lên:

- Thưa quan lớn, tôi muốn chết thay cho thầy tôi.

Nghe thế, bạo chúa lấy làm lạ, ông mới hỏi các viên cố vấn:

- Chúng là ai mà lại sẵn sàng chết thay cho nhau như thế ?

Các cận vệ đều ngơ ngác nhìn nhau. Bấy giờ bạo chúa đòi điệu giáo trưởng đến và yêu cầu giải thích lý do.

Vị giáo trưởng bình thản trả lời:

- Thưa quan lớn, chúng tôi có nghe nói rằng, bất cứ ai bị giết trong thành phố này đều được phúc trường sinh bất tử. Vì thế mà thầy trò chúng tôi đã hăm hở tới đây để được chết.

Nghe thế, bạo chúa mỉm cười và ra lệnh thả tự do cho hai người. Cũng lúc ấy, người đệ tử chợt hiểu rằng, ai dám hy sinh mạng sống vì người khác thì sẽ tìm lại được.

4. Tình yêu đòi hy sinh

Bác sĩ Duan Cortez viết một bức thư cho tờ báo y học Medimundo ở Nam Mỹ.

- Tôi không thể giải thích được hiện tượng này, tôi đã khám nghiệm và tuyên bố đứa bé đã chết, nhưng vài giờ sau em bé này đã sống lại và mẹ em đã chết, cứ như là bà ta đã hút căn bệnh ung thư ra khỏi xác chết của con gái qua cơ thể bà.

Bé Argelina sống ở thành phố Darila, Argelina, đã can đảm chấp nhận chịu đựng chứng bệnh ung thư bao tử hơn hai năm nay (trường hợp ung thư rất hiếm xảy ra cho người dưới 30 tuổi). Sau nhiều cuộc giải phẫu và nhiều cách điều trị với tất cả mọi cố gắng, Bác sĩ Cortez đã phải báo tin buồn cho bà Maria rằng: ông ta đã bó tay và bé Argelina đã chết!

Theo lời Bác sĩ Cortez, bà Maria đã hóa điên cuồng khi nghe tin. Bức thư viết tiếp:

“Bà không cho bất cứ ai đụng đến thi thể con gái, bà chỉ quỳ bên giường đứa bé đã chết và cầu nguyện. Chúng tôi nghe bà cầu nguyện xin Thượng Đế để cho bà chết thay cho con. Tôi nghĩ nên tránh đi một lát để mặc bà một mình với đứa bé đáng thương đó. Tôi bảo các y tá cùng ra khỏi căn phòng với tôi, khi trở lại tôi không tin vào mắt mình nữa: Argelina đang đứng cạnh giường, trông rất rực rỡ và khỏe mạnh. Bà mẹ đang gục đầu trên giường, hầu như không thể cử động! Bà thều thào nói với tôi:

- Thưa Bác sĩ, Thượng Đế đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi.

Bác sĩ Cortez nửa kinh ngạc, nửa hoài nghi. Ông cho khám nghiệm bé Argelina và thấy rằng, cô bé hoàn toàn khỏe mạnh, không dấu vết nào của bệnh ung thư còn sót lại trong cơ thể. Một loạt những xét nghiệm tiếp theo, ông thấy bà Maria sắp chết vì chứng bệnh ung thư bao tử mà nó đã giết chết con gái bà. Các thân nhân của bà Maria cũng kinh hoảng, họ đến bên giường để trấn an bà, hứa sẽ nuôi nấng dạy dỗ bé gái nên người. Bà Maria chết sau đó vài giờ.

Bác sĩ Cortez nói:

- Tôi không thể giải thích hiện tượng này trên phương diện y học. Thực sự đây là một phép mầu, vì rõ ràng là bé Argelina đã chết. Có lẽ, tôi chưa hiểu hết sức mạnh của tình mẫu tử hoặc một thế lực siêu-tự-nhiên nào đó!

Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu lời thánh Phanxicô: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”


Lời Chúa Tuần 5 Mùa Chay

Thường niên V-GS C-PS Ngoại lịch

EDIT