Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Lời Chúa cntn 2a _ yêu thương để làm chứng

YÊU THƯƠNG ĐỂ LÀM CHỨNG
Biết bao vị thánh Việt Nam chúng ta, can đảm sẵn sàng và ước ao tỏ mình là người công giáo, là thầy giảng, là linh mục để được trở thành chứng nhân, để được diễm phúc tử đạo.  
Lm. Giuse Đỗ Đình Tiệm
Thánh Gioan đã làm chứng Chúa Kitô, chẳng những bằng lời nói, mà Ngài cũng đã sẵn sàng chết để trở thành chứng nhân của Chúa nữa.
Biết bao vị thánh Việt Nam chúng ta, can đảm sẵn sàng và ước ao tỏ mình là người công giáo, là thầy giảng, là linh mục để được trở thành chứng nhân, để được diễm phúc tử đạo. Ta nhận thấy lòng can đảm này trong câu truyện của hai Thánh Phêrô Tự (tử đạo ngày 5.9.1838, 42 tuổi) và Thánh Giuse Cảnh (tử đạo ngày 5.9.1838, 75 tuổi)
Ngày 29.8.1838 lính đến vây kín làng Đức Trai (Kẻ Mốt), bắt được cha Phêrô Nguyễn Văn Tự. Nguyễn Văn Tự sinh tại Ninh Cường tỉnh Nam Định năm 1796. Thụ phong linh mục năm 1826, và năm sau gia nhập dòng Đaminh. Suốt 12 năm đời linh mục, cha Phêrô luôn tận tuỵ với sứ vụ, không quản ngại khó khăn, luôn đối xử hoà nhã và rất mực yêu thương mọi người. Cha đã coi sóc nhiều giáo xứ, trước khi tới Kẻ Mốt tỉnh Bắc Ninh. Cuộc bách hại tới thời cay cấn, cha phải thi hành mục vụ cách lén lút. Một thân hào tên Quang đã cho cha đến trú ẩn tại vườn nhà ông. Sáng ngày 29.6.1838, cha Tự vừa dân Thánh Lễ xong, bất ngờ lính kéo đến, cha được anh em tín hữu đưa lánh sang làng bên. Nhưng quân lính lục soát, tìm thấy áo lễ và chén Thánh của cha, đã tập họp dân chúng để tra khảo. Nhiều tín hữu bị đánh đập, không chịu khai báo nơi cha trú ẩn. Đến lượt ông lang Ninh mới bị doạ đánh, đã khai nộp cha.
Cùng bị bắt với cha Tự có thầy giảng Đaminh Bùi Văn Uý. Cha Tự định khai thầy chỉ là giáo hữu vào làm bếp để đỡ cho thầy. Nhưng thầy Uý lại nói: “Xin cha cứ nói con là thầy giảng, may ra con được Tử Đạo với cha.” Hai cha con bị dẫn đến huyện Lương Tài. Quan huyện ngỏ ý muốn tiền chuộc, song cha bình tĩnh trả lời: “Đối với tôi, bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, làm phiền hà giáo hữu tôi lại càng không muốn.” Quan cho áp giải cha về thị trấn Bắc Ninh và phải mang gông đi vào ngục thất thía sau tường thành Ninh Thái.
Ngày hôm sau, cha Phêrô Tự được gọi đến văn phòng toà án, để khai tên các thừa sai mà cha biết. Cha khai tên hai đức cha và 6,7 nhà truyền giáo, khiến quan mừng lắm, đến sau mới biết các vị nói trên đều đã bị bắt cả.
Ngày 10 tháng 7, cha Phêrô lại phải ra toà một lần nữa. Lần này quan bảo cha cắt nghĩa các đồ thờ chén lễ và áo lễ, lính đã tịch thâu được ở Kẻ Mốt. Cha được dịp giảng đạo lý Công Giáo cho các quan nghe. Song một tin làm cha hết sức buồn, khi quan án báo tin cho biết: Hai ngày nữa sẽ gọi tất cả những giáo dân đã bị bắt ra toà, để mọi người phải bước qua Thánh Giá, vì đã có nhiều người bằng lòng xuất giáo. Khi trở về ngục, suốt hai ngày liền, cha khuyên bảo mọi người can đảm để giữ vững Đức Tin bằng cầu nguyện và ăn năn đền tội. Đến ngày ra toà, quả nhiên 3 trong 4 ông trùm xứ bước qua Thánh Giá để được trả về nhà. Chỉ còn lại ba giáo dân trẻ tuổi, là các Tôma Đệ, Autinh Mới và Têphan Vinh và cụ già 75 tuổi là Lương y Hoàng Lương Cảnh can đảm tuyên xưng đức tin. Hoàng Lương Cảnh sinh năm 1763 tại làng Ráng tỉnh Bắc Giang lập nghiệp ở Thổ Hạ, huyện Yên Việt. Cụ Cảnh hành nghề lương y, rất tận tụy với bệnh nhân, thường chữa trị miễn phí cho người nghèo. Đồng thời là một giáo dân hiền lành, siêng năng cầu nguyện và hoạt động truyền giáo. Cụ đã rửa tội cho nhiều người trong giờ hấp hối, nhất là trẻ em ngoại giáo sắp chết. Giáo dân Thổ Hạ tín nhiệm bầu cụ làm trùm họ. Đầu tháng 7.1838, đang khi lao quân bao vây làng Thổ Hạ, có người mời cụ đi chữa bệnh và rửa tội cho con họ. Dù biết nguy hiểm, cụ vẫn tìm cách lẻn đi giúp đỡ. Nhưng đến bến đò, quân lính nhận diện cụ, tra gông vào cổ dẫn giải về thị xã Bắc Ninh với cha Phêrô Tự.
Tổng đốc Bắc Ninh, sau một ngày hỏi cung các chứng nhân, đã đệ án vào triều đình xin xử trảm đạo trưởng Nguyễn Văn Tự và đạo mục Hoàng Lương Cảnh, còn hai thầy giảng và 3 giáo dân phải đòn 100 roi, rồi phát lưu về Bình Định. Song nhà vua phúc đáp tất cả phải được tra hỏi lại, nếu bỏ đạo sẽ được tha, nếu không sẽ phải chết. Ngày 9 tháng 8, cha Phêrô và các bạn lại được kêu ra tòa. Trong một gian nhà rộng lớn, một bên là Thánh Giá đặt dưới đất, một bên là những dụng cụ khổ hình. Quan Tổng Đốc chủ sự phiên tòa, khi thì tỏ ra mềm dẻo dụ dỗ, khi thì nổi nóng đe loi, bắt các chứng nhân dân phải lần lượt bước qua Thánh Giá.
Trước hết, quan lấy lời ôn tồn bảo cha Tự bước qua ảnh Thánh, ông nói ông thực tình không muốn kết án cha. Bằng một giọng kiêm tốn, cha trả lời: “Là một linh mục trong đạo không lẽ tôi lại phạm tội nặng như thế, để rồi không ai có thể tha cho tôi được. Bẩm quan, tôi không dám đâu.”
Đến lượt cụ trùm Giuse Cảnh bị thúc bước qua ảnh Thánh, song cụ cũng quỳ phục xuống đất cầu nguyện, nhưng không to tiếng. Quan tưởng cụ nói gì, bảo nói lớn lên. Cụ liền sốt sắng lớn tiếng đọc kinh “Chúa Thánh Thần”: “...Xin an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành...” Rồi kinh “Thánh Danh.” “Chúa Giêsu là đường nẻo thật, ai theo đường này thì sẽ sống mãi vui vẻ chẳng cùng...” vừa đọc vừa thờ lạy Thánh Giá. Quan nổi giận gào thét: “Lôi lão già ra, và bảo lão im đi.” Nhưng cụ cứ tiếp tục đọc lớn tiếng hơn nữa “Cầu Chúa Giêsu cho các vua trị vì nước ngày càng thịnh”, khiến các quan giận phải phá ra cười: “Lão cầu cho kẻ hành hạ mình nữa sao?” Cụ bình tĩnh nói về giới luật yêu thương của đạo Chúa... Khi quan hỏi ý kiến cụ về người đã bỏ đạo, thì cụ kể tích truyện Giuđa phản thầy cho các quan nghe. Tòa án phúc trình kết quả vào triều đình. Ngày 2.9.1838, vua Minh Mạng tuyên án như sau: “Đạo trưởng Nguyễn Văn Tự và đạo mục Hoàng Lương Cảnh phải trảm quyết tức khắc.”
Ba ngày sau, tức ngày mồng 5 cùng tháng, bản án ra tới Bắc Ninh, các quan tuân lệnh thi hành ngay. Cha Phêrô và cụ Giuse được dẫn đi xử, tỏ ra vui mừng, tạm biệt các đồng bạn và hẹn gặp nhau trên thiên đàng.
Cha Phêrô lấy áo dòng trắng ra mặc còn cụ trùm mang tấm áo dòng ba. Lợi dụng lúc có nhiều người đến xem, cha Phêrô lên tiếng giảng đạo cho mọi người.
Trên đường ra pháp trường, binh lính xếp hàng đi hai bên. Cha Phêrô ngồi chung môt cũi với cụ trùm, tay cầm tượng Chúa chuộc tội. Hai người vừa đi vừa đọc “Kinh cầu các thánh” rồi kinh cầu “Chịu nạn.”
Khi tới nơi xử, mỗi đấng quỳ trên một chiếc chiếu nhỏ đã trải sẵn. Vì cha Phêrô có tầm vóc cao hơn lý hình nhiều, tuy cha đã quỳ gối nhưng cũng phải cúi xuống sâu để lý hình làm phận sự. Theo hiệu lệnh của quan, hai lý hình chém hai đầu. Nhiều người có đạo và kể cả người không có đạo, xô nhau thấm máu hoặc lấy vật gì làm kỉ niệm. Một viên quan lượm được tượng Chúa chuộc tội của cha Phêrô, đưa về tặng cha bề trên Hermosilla Vọng. Thi hài cụ trùm Giuse được chôn táng dưới một ngọn đồi gần đấy, đến sau giáo dân rước về Thổ Hạ, đặt dưới nền một Thánh Đường đã đổ nát. Còn xác thánh cha Phêrô, lương dân và giáo dân tranh nhau, cho đến khi giáo dân phải bỏ ra 60 lạng bạc để chuộc, đem về chôn táng tại họ Nghĩa Vu thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Lm. Giuse Đỗ Đình Tiệm
Đề tựa của Lm. HK

Không có nhận xét nào: