MỘT NGƯỜI ĐI TU, CẢ NHÀ PHẢI TU
Bà nghĩ về cái tên "bà cố" người ta gọi mình. Ngày trước bà nghe mà chạnh lòng, thấy như một gánh nặng. Giờ bà nghĩ khác. Chúa gọi con bà đi tu, thì Chúa cũng gọi cả bà.
Bốn giờ rưỡi sáng, chuông nhà thờ chưa đổ, bà Thảo đã trở mình dậy. Trời
còn tối đen, sương xuống lạnh cả manh chiếu. Bà ngồi bên mép giường một lúc, xỏ
đôi dép, khoác thêm cái áo len đứa con trai tặng bà từ năm ngoái, rồi lần ra
sân. Con đường làng ra nhà thờ bà đã đi cả đời, nhưng mấy năm nay bà mới thuộc
nó vào cái giờ này, cái giờ mà gà còn chưa gáy.
Có người trong xóm thấy bà đi lễ sớm thì khen: "Cố Thảo đạo đức thật, sáng nào cũng đi." Bà chỉ cười. Bà
không nói ra cái điều thật trong lòng: rằng một nửa là bà sợ. Sợ người ta bảo
"cố mà lười đi lễ". Nhưng cái nửa kia, cái nửa nặng hơn, là bà đi cầu
nguyện cho con trai của bà. Cầu cho nó trung thành. Cầu cho nó đừng bỏ cuộc giữa
đường. Mỗi sáng quỳ trong nhà thờ vắng, bà thầm thì với Chúa như nói với một người
thân: "Con giao nó cho Chúa. Chúa giữ
giùm con."
Bà nhớ hồi nó còn nhỏ xíu. Cái thằng lễ phép, đi đâu cũng khoanh tay chào
người lớn. Thầy cô thương, bạn bè quý. Học thì khỏi phải nói, năm nào cũng đứng
đầu lớp. Bà nuôi nó ăn học, có lúc chạy vạy từng đồng tiền học phí, nhưng chưa
bao giờ bà tiếc. Nó là niềm hãnh diện của bà, của cả dòng họ.
Cái ý muốn đi tu của nó, thật ra bà biết từ lâu. Hồi nó học cấp ba, nó đã
xin vào nhà xứ ở với cha xứ để tập tành. Bà gạt đi: "Thôi con ạ, con ở nhà tập trung ăn học. Đợi thi đại học xong rồi
hẵng tính." Bà nói vậy, một phần vì lo cho cái sự học của nó, nhưng
thú thật, một phần vì bà chưa muốn nghĩ tới. Trong bụng bà cứ mong sao thời
gian trôi qua, rồi cái ý ấy nó phai đi.
Nhưng nó không phai.
Đến lúc thi đại học, bà chỉ mong nó chọn mấy ngành thời thượng, ra trường
dễ có công ăn việc làm, lương cao. Nó lại chọn cái ngành nó thích. Bà cằn nhằn,
nó chỉ cười hiền: "Học cái gì con phải
thích thì con mới học giỏi được, mẹ à." Mà nó nói đúng thật. Năm năm học
khoa học, nó tốt nghiệp loại giỏi. Bà đã mừng thầm, đã vẽ ra trong đầu một
tương lai sáng lạng: nó sẽ học lên tiến sĩ, sẽ có địa vị, sẽ làm rạng danh dòng
họ. Bà còn nhắm sẵn cho nó một mối. Con bé cùng lớp trong làng, xinh xắn, nết
na, mẹ nó lại là bạn thân của bà. Bà cứ tưởng tượng cảnh hai đứa nên đôi, rồi
bà có cháu bồng cháu bế.
Ấy vậy mà một ngày, nó về nhà, thưa với bố mẹ, rồi khăn gói vào nhà dòng.
Bà hụt hẫng. Bà không khóc trước mặt nó, nhưng đêm ấy bà nằm quay mặt vào
vách, nước mắt cứ chảy. Không phải bà giận nó. Bà thương nó. Nhưng bà sợ. Bà sợ
cái đời tu nó dài, nó khó, biết con mình có đi trọn được không. Bà sợ nhất cái
cảnh đứt gánh giữa đường.
Bởi vì ở cái làng này, bà đã chứng kiến rồi.
Có những người đi tu vài ba năm rồi về. Dân làng họ nói. Nói ra nói vào,
nói xa nói gần, nói đến mệt cả người. Có gia đình có con đi tu, rồi con về, cả
nhà từ đó không còn dám tự tin ngẩng mặt trước xóm giềng. Đi đâu cũng như có
ánh mắt dõi theo, cũng như có lời xì xào sau lưng. Bà thương những gia đình ấy,
và bà sợ một ngày nhà mình cũng vậy.
Nên từ ngày nó vào dòng, người ta bắt đầu gọi bà là "bà cố".
Cái tên nghe thì trọng vọng, nhưng bà thấy đúng là phải cố thật. Cố đủ đường.
Trước kia bà đi lễ tuần một lần Chúa nhật là đủ. Giờ sáng nào cũng dậy.
Trước kia bực ai bà nói thẳng, nói toạc ra cho hả. Giờ có điều gì không vừa
lòng, bà cũng phải nuốt vào, phải nhỏ nhẹ, vì sợ người ta bảo: "Cố mà ăn nói vậy à?" Trước
kia bà sống cho mình, giờ bà sống cho cả cái danh của con. Nó tu ngoài kia, thì
bà cũng phải tu trong này, tu ngay giữa cái làng này, tu trong từng lời ăn tiếng
nói, từng cách cư xử với xóm giềng.
Có bận, một bà hàng xóm nói móc bà mấy câu về chuyện con cái. Máu nóng bốc
lên, bà đã toan đáp trả cho ra ngô ra khoai. Nhưng rồi bà kịp dừng lại. Bà nghĩ
tới con. Nếu bà to tiếng, người ta lại có cớ: "Con đi tu mà mẹ thì thế kia." Bà ngậm miệng, quay đi, về
nhà đóng cửa mà thở dài. Cái sự nhịn ấy, có ai thấy đâu, có ai biết đâu. Chỉ có
Chúa biết, và có lẽ mai này con bà biết.
Nhưng lạ thay, càng cố, bà lại càng thấy lòng mình đổi khác.
Những buổi lễ sáng, ban đầu bà đi vì sợ tiếng đời, đi vì lo cho con.
Nhưng đi mãi, tự lúc nào bà thấy mình thật sự cần những giờ phút ấy. Quỳ trong
ngôi thánh đường lặng lẽ, bà nói với Chúa đủ chuyện, chuyện con, chuyện nhà,
chuyện cái làng, chuyện lòng mình. Bà thấy nhẹ hơn. Bà thấy gần Chúa hơn cả cái
thời còn trẻ đạo đức.
Cái sự nhịn nhục cũng vậy. Ban đầu nhịn vì sợ tiếng. Nhưng dần dà bà thấy,
à, hóa ra bớt nặng lời, bớt hơn thua với người ta, thì lòng mình cũng thanh thản
hơn. Con bà đi tu, mà bà thấy chính mình cũng đang được uốn nắn, được gọt giũa
mỗi ngày.
Có lần bà lên nhà dòng thăm con. Nó gầy hơn, đen hơn, nhưng mắt sáng và
bình an. Nó nắm tay bà: "Mẹ ơi, mẹ đừng lo cho con nhiều. Con ổn. Mà con
nghe cha xứ kể, dạo này mẹ chăm đi lễ, mẹ sống hiền hòa với xóm giềng lắm. Con
mừng."
Bà cười, giấu đi giọt nước mắt chực trào. Bà không nói với con rằng để
"hiền hòa" được như thế, bà đã phải nuốt vào lòng biết bao nhiêu điều.
Bà chỉ nói: "Ừ, con lo tu cho tốt. Ở
nhà có mẹ."
Đêm ấy về, bà ngồi bên hiên, nhìn lên trời đầy sao. Bà nghĩ về cái tên
"bà cố" người ta gọi mình. Ngày trước bà nghe mà chạnh lòng, thấy như
một gánh nặng. Giờ bà nghĩ khác. Chúa gọi con bà đi tu, thì Chúa cũng gọi cả
bà. Con dâng mình cho Chúa ngoài kia, thì bà cũng đang dâng từng chút một ở
nhà, dâng những giấc ngủ dậy sớm, dâng những lời nhịn nhục, dâng cả cái mối
lương duyên bà từng ao ước cho con, dâng cả nỗi lo và nước mắt của một người mẹ.
Bà chắp tay, thì thầm cái điều bà đã ngộ ra tự bao giờ:
"Một người đi
tu, cả nhà phải tu. Lạy Chúa, con xin cố. Con cố với con của con. Chúa giữ hai
mẹ con con trung thành đến cùng."
Ngoài kia, một ngôi sao băng vụt qua bầu trời làng. Bà Thảo mỉm cười, đứng
dậy vào nhà. Mai lại một ngày mới, lại bốn giờ rưỡi sáng, lại con đường ra nhà
thờ. Bà không thấy mệt nữa. Bà thấy đó là con đường của mình.
Nguồn: sách dịch công giáo
