Lời Chúa Tết Nguyên Đán _ câu truyện minh họa

 

LỜI CHÚA BA NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN
CÂU TRUYỆN MINH HỌA

LỄ GIAO THỪA – TẠ ƠN

MÙNG 1 – PHÓ THÁC CHO CHÚA XUÂN

MÙNG 2 – KÍNH NHỚ TỔ TIÊN

MÙNG 3 – HƯỞNG NIỀM VUI CỦA CHỦ

 

LỄ GIAO THỪA – TẠ ƠN

Lời Chúa: Mt 5, 1-10

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mátthêu.

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ."

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.
Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp.
Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.
Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.
Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.
Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ."

TRUYỆN KỂ

1. Cho thì có phúc hơn là nhận

Một ông vua giàu có nọ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận được tiền do sự cưỡng bách.

Ngày nọ, ông vua giàu có đã quyết định làm một việc táo bạo: đó là cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm được những đồng tiền bố thí. Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông cho tất cả những tiền ăn xin được vào một chiếc hộp nhỏ. Tuy không là bao so với cả kho tàng của ông, nhưng có lẽ nó vẫn có giá trị hơn. Ông tự nghĩ: bây giờ ta nới thực sự là người giàu có nhất trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ không do một sự cưỡng bách nào.

Khi đã gom góp được một số tiền khá lớn sau những năm tháng ăn xin trước cửa các giáo đường, ông đã xin từ chức khỏi ngai vàng và đi đến một phương xa, nơi không ai có thể nhận ra ông. Ông mua một mảnh đất, và tự tay cất được một ngôi nhà tranh đơn sơ. Không mấy chốc, do sự hòa nhã, vui tươi của ông, mọi người trong lối xóm đều mến thương ông, nhất là các em bé. Ông kể chuyện cho chúng nghe, ông đem chúng đi câu cá, ông dạy chúng ca hát.

Trong đám trẻ nhỏ, có một cậu bé gia đình còn nghèo hơn cả ông nữa. Cậu bé chỉ có vỏn vẹn một con chim họa mi. Nghe tin ông đau nặng, cậu bé đã vội vàng mang con chim đến tặng ông, với hy vọng rằng con chim sẽ hót cho ông được khuây khỏa.

Ðón nhận món quà, con người đã từng là vua của một nước mới thốt lên: "Từ trước đến nay, tất cả những gì tôi có, tôi đều lãnh nhận do lòng thương xót của người khác. Người ta cho tôi, nhưng không phải là cho tôi mà là cho một người hành khất. Giờ đây, với món quà tặng là con chim này, người ta tặng cho tôi với tất cả tấm lòng yêu thương. Chắc chắn, tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian."

Một thời gian sau đó, trong vùng, có một người tá điền nghèo bị người chủ đe dọa lấy nhà và trục xuất ra khỏi mảnh vườn đang canh tác. Nghĩ đến cảnh hai vợ chồng và 7 đứa con dại bị đuổi ra khỏi nhà, ông vua không thể nào ăn ngủ được. Cuối cùng, ông quyết định tặng chính mảnh vườn và ngôi nhà của mình cho gia đình người tá điền nghèo. Và một lần nữa, không một đồng xu dính túi, ông lên đường trẩy đi một nơi khác.

Bùi ngùi vì phải chia tay với những người quen biết trong vùng, nhưng ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì có phúc hơn là nhận lãnh. Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: "Tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian này."

2. Thập giới cho người hiện đại

1. Thiên Chúa sẽ không hỏi bạn đã chạy loại xe nào,
Người sẽ hỏi bạn đã chở bao nhiêu người thiếu phương tiện.

2. Thiên Chúa sẽ không hỏi nhà bạn diện tích bao nhiêu,
Người sẽ hỏi bạn đã tiếp đón bao nhiêu người vào nhà.

3. Thiên Chúa sẽ không hỏi về quần áo bạn có trong tủ,
Người sẽ hỏi bạn đã giúp cho bao nhiêu người có áo quần che thân.

4. Thiên Chúa sẽ không hỏi về mức lương cao nhất.
Người sẽ hỏi bạn có bóp méo tư cách để được mức lương ấy.

5. Thiên Chúa sẽ không hỏi bạn làm nghề gì.
Người sẽ hỏi bạn có làm công việc với trọn khả năng không.

6. Thiên Chúa sẽ không hỏi bạn có bao nhiêu người bạn.
Người sẽ hỏi bạn đã làm bạn với bao nhiêu người.

7. Thiên Chúa sẽ không hỏi ai là hàng xóm của bạn,
Người sẽ hỏi bạn đã đối xử với những người hàng xóm thế nào.

8. Thiên Chúa sẽ không hỏi về màu da của bạn,
Người sẽ hỏi về nội dung của tính cách của bạn.

9. Thiên Chúa sẽ không hỏi bạn đã đọc bao nhiêu kinh
Người sẽ hỏi bạn đã làm gì cho những người bé nhỏ.

10. Thiên Chúa sẽ không hỏi về quá khứ tệ hại của bạn.
Người sẽ hỏi sao hôm nay không hoán cải để được vào nước trời.

Bạn có sẵn sàng trả lời các câu Chúa hỏi chưa?

3. Phúc- Lộc- Thọ: Các ông là ai?

Ông Phúc là Quách Tử Nghi – Thừa tướng thời nhà Đường. Ông là một vị quan thanh liêm nên cũng nghèo. Đổi lại nhà ông ngũ đại đồng đường, con cháu đề huề. Lúc ông mất, con cháu năm đời đều có đủ.

Ông Lộc là Đậu Tử Quân, làm Thừa tướng thời nhà Tấn. Trái ngược với Quách, Đậu là quan tham, tiền của như núi nhưng khi trăm tuổi không có người nối dõi.

Ông Thọ là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng thời nhà Hán. Ông này giỏi xu nịnh, được lòng vua nên hưởng nhiều bổng lộc. Ông mang lộc vua ban mua nhiều gái đẹp làm thê thiếp, mục đích dưỡng sinh. Và cũng sống dai, trên trăm tuổi. Khi chết thì chỉ có đứa chút bốn đời lo tang ma, còn cháu chắt chết hết cả.

Ba vị đó được người Trung Quốc dựng lên ba hình tượng, không phải để thờ mà để người đời nhìn gương đó mà lựa chọn cách sống cho phù hợp. Phúc –Lộc – Thọ có lối sống khác nhau. Phúc thì tử tế, còn cầu như Lộc Thọ là cầu cái vô phúc, liệu có ai muốn không?

4. Những đồng tiền nhỏ bé trong cuộc sống hôm nay

Trong một buổi xử tử, tên tử tội được dẫn đến trước mặt Đức vua trước khi bị treo cổ. Đức vua nói: “Ta cho ngươi một ân huệ cuối cùng. Vậy, trước khi chết ngươi ước muốn gì?” Tên tử tội rút trong túi ra 1 đồng tiền, trao cho nhà vua và nói: “Tâu Đức vua, khi tôi còn nhỏ, cha tôi đã cho tôi đồng tiền này và nói tôi hãy giữ lấy, vì nó sẽ đem lại may mắn cho tôi. Nhưng cho đến giờ phút cuối cùng của đời tôi đây, đồng tiền khốn khổ này cũng chưa giúp ích gì cho tôi. Xin Đức vua hãy cho người trao nó lại cho cha tôi và nói tôi vĩnh biệt ông ta.”

Vừa cầm lấy đồng tiền, nhà vua kêu lên mừng rỡ: “Ồ! đây chính là đồng tiền cổ quý giá mà Ta đã nhọc công tìm kiếm bấy lâu nay. Nó chính là đồng tiền cuối cùng trong bộ sưu tập tiền cổ quý giá của Ta. Vậy, ngươi có muốn dâng hiến đồng tiền này cho Ta để đổi lấy mạng sống của ngươi không?” Tên tử tội đồng ý và án tử hình được hủy bỏ.

Cũng vậy, có những đồng tiền nhỏ bé tầm thường trong cuộc sống, chẳng được ai quan tâm, nhưng lại được Thiên Chúa qúi trọng. Nếu được hiến dâng cho Thiên Chúa và chia sẻ cho tha nhân cách quảng đại chân thành, những đồng xu nhỏ bé sẽ mua cho chúng ta cả sự sống đời đời.

Thiên Chúa luôn trân trọng và đánh giá cao những đồng tiền nhỏ bé xuất phát từ tấm lòng thành. Của lễ càng đơn sơ hèn mọn trước mặt người đời, nhưng nếu đó là của lễ xuất phát từ trái tim thì nó lại càng có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa.

Những đồng tiền nhỏ bé đó là gì nếu không phải là những hy sinh quên mình âm thầm mà chúng ta góp nhặt từng ngày trong cuộc sống? Những đồng tiền nhỏ bé đó là gì nếu không phải những nghĩa cử yêu thương, chia sẻ, bác ái chúng ta thực hiện nơi tha nhân? Chỉ có Chúa mới nhìn đến và đánh giá cao những đồng tiền nhỏ bé thiêng liêng đó mà thôi.

5. Tấm lòng vàng

Chuyện xảy ra ở Mỹ đã lâu: Một cô bé đang đứng thổn thức bên ngoài một ngôi nhà thờ nhỏ. “Con không vào được lớp học Chúa Nhật,” cô bé nức nở nói với vị linh mục vừa đi tới. Nhìn bộ dạng tiều tụy, nhếch nhác của cô bé, vị linh mục hiểu ngay ra nguyên do, và cầm tay cô bé dẫn vào trong, tìm cho cô một chỗ trong lớp học.

Khoảng 2 năm sau đó, cô bé đã chết trong một chung cư tồi tàn. Cha mẹ của cô bé gọi điện cho vị linh mục - người đã trở nên rất thân thiết với cô bé - đến chủ trì lễ tang và trao cho ngài chiếc ví rách nát của cô bé, trong đó có 57 xu và một tờ giấy nhàu nát với dòng chữ nguệch ngoạc: “Để giúp đỡ cho nhiều đứa trẻ hơn có thể đến Lớp học ngày Chúa Nhật.”

Đó là kết quả 2 năm trời dành dụm hy sinh vô vị lợi của cô bé: những đồng xu chứa đựng cả tấm lòng vàng; vì thế, cũng như “đồng tiền bà goá,” cô đã “bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết.”

6. Tự do sử dụng tiền của

Thánh Augustinô đã kể lại câu chuyện về tấm lòng quảng đại xảy ra lúc ngài đang sống tại Milanô, nước Ý như sau:

Ngày kia, một người nghèo lượm được cái ví trong đó có 200 đồng tiền vàng. Vì là người ngay thẳng, ông muốn trả cái ví cho người đã đánh rơi, nhưng không biết tìm đâu ra chủ cái ví tiền. Ông ta liền viết một tấm bảng treo trước cửa nhà, mời ai mất ví đến nhận lại. Đọc được tấm bảng, người mất ví tìm đến xin nhận lại của đánh rơi.

Sau khi tra hỏi kỹ lưỡng, người nghèo kia trả lại cái ví cho chủ nó. Người mất ví cám ơn rối rít và ngỏ ý tặng cho người nghèo kia 20 đồng vàng, tức 1/10 số tiền trong ví. Nhưng người nghèo nhất quyết không nhận món tiền ấy. Người mất ví liền xin ông ta nhận 10 đồng, nhưng ông cũng không nhận. Cuối cùng, người mất ví nài nỉ ông ta nhận cho 5 đồng, người nghèo kia vẫn một mực từ chối.

Khổ tâm vì không thể biểu lộ lòng biết ơn của mình, người mất của ném cái ví xuống đất và nói: “Bởi vì ông không chịu nhận đồng nào, nên tôi tuyên bố: tôi không hề mất chiếc ví này.”

Nghe thế, người nghèo kia đành nhận món quà, nhưng ngay lập tức, ông đem số tiền chia sẻ tất cả cho những người nghèo khổ hơn ông.

7. Sách đựng trong hộp bánh Giáng Sinh

Sở thích duy nhất của Sylvestre Bonnard là sưu tầm sách quí. Hôm trước lễ Giáng sinh, một gã bán sách cũ ăn mặc rách rưới chợt đến tìm và năn nỉ ông mua giùm mớ sách vô giá trị. Với thái độ lịch sự miễn cưỡng, ông tìm cách đuổi gã ra gấp. Sau đó, ông mới biết gã là Coccoz, một người nghèo mạt rệp, có vợ đang mang thai, sống trên căn gác lửng chật hẹp lạnh lẽo trong cùng một ngôi nhà với ông. Quá ân hận, ông sai chị quản gia mang súp, củi đốt lửa và một chiếc bánh Noel lên tặng hai vợ chồng đáng thương.

Trở lại đọc sách, ông thấy nói đến một quyển sách cổ quí giá nhan đề "Huyền thoại vàng", viết về cuộc đời Thánh nhân. Thế là ông quyết chí tìm cuốn sách cho bằng được, nhưng biết tìm ở đâu bây giờ?

Mãi tám năm sau ông mới dò ra tông tích cuốn sách. Nó hiện đang nằm trong tủ sách của một nhà sưu tầm tại Sicile. Ông lập tức đi ra tận hòn đảo này để gặp chủ nhân của nó. Nhưng đến nơi thì ông biết được là cuốn sách đã được gởi lên một tiệm sách ở Balê để bán. Tiệm đó lại ở gần nhà ông. Trong khi còn ở trên đảo, ông gặp một người đàn bà Pháp rất đẹp đi với chồng là Dmitri Tripof, một ông hoàng người Nga, hiện du lịch vòng quanh Âu Châu để sưu tầm hộp quẹt. Thấy hai vợ chồng có máu đam mê như mình, ông bèn đem kể chuyện cuốn sách trước khi lên đường trở về Balê.

Về đến nhà, ông tìm ngay đến địa chỉ bán cuốn sách. Một cuộc bán đấu giá diễn ra, ông đã giốc cả cơ nghiệp ra đấu giá, nhưng vẫn bị một người bí mật nào đó tranh mua mất. Ông lủi thủi về nhà. Vài tuần sau đó lễ Giáng sinh lại tớị...

Chợt có người gõ cửa và một cậu bé tám tuổi mặt mũi khôi ngô, bước vào trao cho ông một món quà Giáng sinh. Mở ra, ông thấy một chiếc hộp hình thù như hộp đựng bánh Noel, nhưng bên trong lại là một cuốn sách phủ đầy hoa tím, kèm theo là một tấm thiếp đề tên bà hoàng Trépos. Theo lời chị quản gia của ông, bà hoàng này chính là vợ của gã bán sách Coccoz thưở nào, và đứa bé tám tuổi kia chính là cái bào thai đã được ông sưởi ấm và cho ăn bánh tám năm về trước.

8. Loan báo Tin Mừng bằng đời sống

Sau những tháng năm làm đầy tớ cho một gia đình quý tộc, Sophie Berdanska phải thất nghiệp đói rách, lang thang... Ngày kia gia đình Merston, một gia đình Do Thái thuê nàng về chăm sóc cho mấy đứa trẻ trong nhà họ. Ngay hôm đầu tiên, khi biết được Sophie là người Công giáo, ông chủ đặt điều kiện là "nàng không được giảng đạo" cho con cái của ông. Sophie nhận lời. Và chiều hôm ấy, lúc còn lại một mình trong phòng, nàng lấy một mảnh giấy nhỏ, viết một giòng chữ, xếp lại và bỏ vào huy chương cha nàng để lại rồi mang vào cổ. Lũ trẻ trong nhà nhiều lần đòi Sophie cho coi chiếc huy chương ấy, nhưng Sophie nhất định không cho: Bí mật của đời cô mà!

Dưới sự chăm sóc chỉ bảo của Sophie, lũ trẻ trong gia đình Merston càng ngày càng nên nhu mì, ngoan ngoãn. Cuộc sống đang trôi qua lặng lẽ thì một hôm, họa tai dồn dập xảy tới: Bé Naim đau nặng cả nhà cuống quít đưa bé đi bệnh viện. Sophie tình nguyện túc trực ngày đêm ở đó. Rồi thêm hai đứa nữa cũng ngã bệnh. Gánh đã nặng lại càng nặng thêm trên đôi vai Sophie. Tuy nhiên, nàng vẫn tận tình phục vụ cách vui vẻ, cho đến khi ba đứa nhỏ trở lại bình thường. Nhưng rồi một hôm, kết quả của những ngày lao nhọc thức khuya, dậy sớm: Sophie ngã bệnh và từ trần.

Hai năm trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Sophie Berdanska. Người ta thấy cả gia đình Merston dậy sớm và cùng nhau đến một nhà thờ Công giáo dự Thánh lễ... Phải chăng là phép lạ?

Không! Sau khi Sophie đã mất được ít lâu, lúc tình cờ mở chiếc huy chương của nàng mà tụi trẻ đã vất lăn lóc từ lâu trong một xó, ông Merston rút ra được một mảnh giấy trên có ghi dòng chữ: "Khi người ta cấm tôi nói về đạo của tôi, tôi quyết sống đạo tôi trước mặt họ như một chứng tích hùng hồn." Ông hết sức bàng hoàng cảm phục. Rồi gia đình của ông cũng thế. Và sau đó, tất cả mọi người đến nhà thờ xin nhận lãnh Bí tích Rửa tội.

Hôm nay, họ đang trên đường đến nhà thờ dự lễ giỗ lần thứ hai của Sophie Berdanska, vị tông đồ trẻ đã mang Tin Mừng đến cho họ bằng một cuộc sống âm thầm, nhưng chan chứa tình yêu, bác ái.

9. Luật yêu thương

“Luật là cái mạng nhện các con ruồi lớn vượt qua và những con nhỏ bị dính vào” (De Balzac). Luật lệ nào cũng có những kẻ hở, nếu chỉ là hình thức áp đặt bên ngoài. Luật Mô-sê và các ngôn sứ cũng vậy thôi. Đức Giê-su đã kiện toàn luật Cựu Ước, đặc biệt là Mười Điều Răn, bằng cách nội tâm hóa lề luật, đưa con người vào cái gì là cốt lõi của lề luật, đó là tâm tình yêu mến. Chính tâm tình mến Chúa yêu người ấy giúp con người đạt đến mức hoàn thiện như Cha trên trời. Chính vì thế, thánh Phao-lô đã nhắc đi nhắc lại: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,8.10). Việc thờ phượng Thiên Chúa không cốt ở dâng lễ vật nhưng ở lòng nhân từ, cũng chẳng phải nằm ở việc tuân giữ lề luật cách máy móc bề ngoài, nhưng ở quả tim yêu mến chân thành.

Mời Bạn: “Cuộc sống Ki-tô giáo có thể gồm tóm trong một câu: Hãy yêu mến Chúa và làm điều bạn muốn” (Th. Augustinô). Được ơn nhận biết Chúa và tình yêu của Ngài, đời bạn chỉ còn mỗi một việc là đáp lại bằng tình yêu mến. Lúc đó, tất cả những gì bạn muốn là sống đẹp lòng Chúa mà thôi.

10. Yêu như Chúa yêu

Ngày 30 tháng 7 năm 1941, trong trại giam Varsovie (Balan) của Đức Quốc Xã, một tù nhân bỏ trốn, và theo quy luật của trại giam, thì cứ một người bỏ trốn, sẽ có 10 người tù phải chết thay bằng cách để nhịn đói và khát. (Hình khổ đáng sợ nhất là phải chết vì không được uống nước). Ngày hôm sau, khi các tù nhân đã xếp hàng. Viên giám thị nhà giam tuyên bố: không tìm thấy tù nhân đã bỏ trốn. Tuyên bố thế có nghĩa là 10 người sẽ phải chết thay cho tù nhân bỏ trốn đó. Rồi viên giám thị liếc mắt chỉ vào từng người: tên này, tên này, một người bị chỉ kêu lên: “Ôi vợ tôi, ôi con tôi ơi!”

Mười người được sắp hàng riêng, để đi về trại Ausehwitz; các tù nhân khác thoát nạn, thở phào nhẹ nhõm… Bỗng xẩy ra một việc bất ngờ: một người trong nhóm tù thoát chết ra khỏi hàng, và tiến về viên giám thị, mọi người hồi hộp chờ đợi. Viên giám thị quát lớn: “Đứng lại!”

Người đó đứng lại và nói với viên giám thị: “Anh có thể cho tôi chết thay cho một người.”

Viên cai ngục bỡ ngỡ hỏi: “Anh là ai?”

- Tôi là một linh mục công giáo, tôi tên là Maxillianô Kolbe, tôi muốn chết thay cho một người.

- Anh muốn chết thay cho ai?

- Tôi muốn chết thay cho người này (Cha Kolbe chỉ vào người vừa than khóc)

- Tại sao?

- Vì tôi không cần cho ai nữa, trong khi ông này còn cần cho gia đình.

Viên giám thị suy nghĩ, và rồi ngoắc tay đồng ý. Cha Kolbe gia nhập số 10 người lãnh án tử còn ông Gajouwniczek được trở về hàng ngũ những người thoát chết. Nhà tù Auschwitz lần này, khác hẳn với những lần trước, người ta không nghe tiếng la hét, nguyền rủa, thất vọng, nhưng là những câu kinh, cả tiếng ca hát, cho đến lúc chín người tắt thở. Nói chín người, vì tới ngày 14 tháng 8 năm 1941 tức là hai tuần lễ sau, khi quan Phát xít Đức vào dọn các xác chết đem đi hỏa thiêu thì cha Kolbe vẫn còn thoi thóp thở. Người ta đã kết thúc đời Ngài bằng một mũi chích các bon và xác ngài cũng bị đem hỏa thiêu với xác các tử tù kia. Cha Maxillianô được phong Hiển Thánh ngày 10 tháng 10 năm 1982. Chính ông Gajouwniczek cũng có mặt trong hai buổi lễ này.

MÙNG 1 – PHÓ THÁC CHO CHÚA XUÂN

Lời Chúa: Mt 6,25-34

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy bảo các con. Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao?

Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư?

Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đóa hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin? Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: "Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?"

Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó.

Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai, vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy."

TRUYỆN KỂ

1. Đừng quá lo cho ngày mai

Một thương gia giàu có nọ đi dạo trên bờ biển, tình cờ ông thấy có những ngư phủ nằm ngủ một cách ngon lành trên thuyền, mặc cho sóng nước chòng chành. Tò mò ông đến hỏi một ngư phủ:

- Sao anh không đi đánh cá?

Chàng ngư phủ trả lời:

- Tôi đã đánh bắt số cá đủ cho ngày hôm nay rồi.

Thấy câu trả lời chưa được thoả mãn, thương gia hỏi tiếp:

- Sao anh không tiếp tục đi đánh, để bắt thêm nhiều cá hơn?

Thay vì trả lời, chàng ngư phủ hỏi lại: - Nhưng thưa ông để làm gì?

Với đầu óc kinh doanh sẵn có, thương gia kia như muốn vạch đường hướng làm ăn cho anh chàng ngư phủ, nên đã trả lời:

- Càng đánh bắt được nhiều cá, anh càng kiếm được nhiều tiền. Có nhiều tiền anh có thể mua được chiếc thuyền lớn hơn, để có thể ra xa hơn, bắt được nhiều cá hơn. Rồi từ một thuyền, anh sẽ có thể có hai, ba, bốn chiếc... và như thế anh sẽ là một người giàu có.

Chàng ngư phủ xem chừng như không thiết tha với kế hoạch làm giàu của thương gia kia nên hỏi tiếp: - Giàu có rồi làm gì nữa?

Thấy như người đối thoại với mình quá chất phác, nên thương gia trả lời:

- Rồi anh sẽ được vui hưởng cuộc sống.

Lúc ấy, chàng ngư phủ mỉm cười nói:

- Thế tôi nằm đây để ngắm nhìn trời biển như thế này không phải là vui sướng cuộc đời hay sao?

2. Chúc giầu

Ngày 06/06/1976 ông Paul Getty, một người giầu có, đã qua đời. thọ 83 tuổi. Ông để lại khoảng 4 tỉ Mỹ kim. Sau 5 lần ly dị, trong một cuộc phỏng vấn, ông đã tuyên bố: “Tôi đã mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi sợ mình không thành công. Tôi sợ không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân ấy."

Một lần khác, ông đã phải thú nhận với một phóng viên là ông đã không đạt được hạnh phúc gia đình.

Một lần khác nữa, ông Paul Getty xác nhận: tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Hơn nữa, ông còn tin rằng tiền bạc có bà con với nỗi bất hạnh.

3. Tái ông thất mã

Ngày xưa có một ông lão sống ở biên giới phía Bắc Trung Quốc giáp với nước Hồ (tái ông). Ông có nuôi một con ngựa. Một hôm, ngựa của ông bỏ chạy sang địa phận nước Hồ, mọi người xung quanh đều đến chia buồn với ông, nhưng ông lại bảo:

- Biết đâu lại có chuyện tốt đến.

Không lâu sau con ngựa của ông trở về và còn dẫn theo một con ngựa cao lớn, mạnh mẽ của nước Hồ. Mọi người đến chúc mừng ông, nhưng ông lại nói:

- Có lẽ nó sẽ dẫn đến tai họa cũng nên.

Quả nhiên, con trai ông lão vốn rất thích cưỡi ngựa nên đã cưỡi con ngựa to khỏe nước Hồ,cuối cùng bị ngã gãy xương và bị que chân. Lúc này hàng xóm lại rối rít đến thăm nom, nhưng ông lại nói rằng:

- Biết đâu nhờ họa mà lại được phúc.

Một năm sau, quân Hồ tràn sang gây chiến tranh và những người trẻ tuổi trong vùng hầu như đều chết trận. Thế nhưng con trai ông lão vì què chân nên được miễn đi lính và cuối cùng may mắn thoát chết.

4. Chúa cho bánh ăn

Mỗi ngày tại Calcutta hội dòng của Mẹ Teresa phải chăm sóc cho khoảng chừng 7000 người – rồi còn phải lo cung cấp thực phẩm cho họ nữa. Vào một ngày thứ sáu nọ, chị nữ tu coi sóc nhà bếp đến thưa với mẹ:

– Thưa mẹ, trong nhà không còn gì ăn cho hôm nay và ngày mai nữa.Tốt hơn hết là chúng ta nên bo cho họ biết điều đó.

Nghe điều đó, mẹ không biết phải trả lời cho chị phụ trách nhà bếp như thế nào. Cả 7000 ngàn người ăn chứ đâu phải ít.

Thế nhưng vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó không hiểu vì lý do gì mà chính quyền Ấn độ tuyên bố đóng cửa tất cả các trường công lập. Thế là số bánh mì làm sẵn cung cấp cho các học sinh không có chỗ sử dụng và chúng được chở thẳng tới cho mẹ Têrêxa. Và tất cả 7000 người từ nhỏ tới lớn có đủ bánh mì ăn trong hai ngày và hơn nữa còn được ăn no nê hơn cả những lần khác.

Chẳng ai hiểu được lý do. Nhưng mẹ Têrêxa thì thấy thật rõ. Mẹ nói: “Đó chính là dấu chỉ của Tình thương Thiên Chúa. Người là người Cha giầu lòng yêu thương đối với con cái mình”

5. Thiên Chúa cũng là mẹ

Thánh Phanxicô Assisi khi trình bản nội qui lên Đức Thánh Cha để xin Ngài chuẩn y. Sau khi Đức Thánh Cha đọc xong, ngài hỏi Phanxicô Assisi:

– Các tu sĩ của con sẽ sống bằng cái gì?

– Tâu Đức Thánh Cha, Thiên Chúa là một người Cha đầy uy quyền, nhưng Người cũng là một người Mẹ nhân từ.” (?!)

6. Thuốc bất tử hay thuốc tử?

Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người đó bưng thuốc vào thì viên canh cửa bèn hỏi: Vị thuốc này có ăn được không? Người ấy đáp: Ăn được. Tức thì viên canh cửa bèn giật lấy vị thuốc ấy mà ăn.

Nhà vua biết được câu chuyện thì giận lắm, bèn truyền bắt viên quan ấy mà đem đi chém đầu. Viên quan ấy kêu lên rằng: Thần đã hỏi người đem dâng và được biết đó là một vị thuốc bất tử, nghĩa là ăn vào thì sẽ không chết nữa. Thế mà thần vừa mới ăn, thì đã phải tội chết. Như vậy, đây là thuốc tử thuốc chết, chứ sao lại gọi là bất tử cho được.

Nhà vua giết thần là bắt lỗi một con người vô tội, đồng thời tỏ ra rằng thiên hạ dối gạt nhà vua mà nhà vua vẫn tin. Nghe nói có lý, nhà vua bèn tha cho viên canh cửa.

7. Hạnh phúc ở trong lòng chúng ta:

Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập hợp lại với nhau để lên kế hoạch làm hại con người. Một con yêu tinh lên tiếng: “Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người. Nhưng mà cái đó là cái gì?”

Một con yêu tinh khác lên tiếng: “Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được.”

Một con yêu tinh cho ý kiến: “Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới.”

Con yêu tinh khác phản đối: “Con người rất khỏe mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì khó khăn.”

“Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh phúc ném xuống đáy biển sâu.”

“Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người sẽ biết.”

Một con yêu tinh trẻ có ý kiến: “Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác.”

Con yêu tinh già phản đối: “Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi.”

Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: “Tôi biết phải giấu hạnh phúc ở đâu rồi. Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy!!!”

Tất cả các con yêu tinh đều đồng ý. Và kể từ đó, rất nhiều người mãi miết kiếm tìm hạnh phúc ở những nơi nào khác mà không biết rằng nó đang nằm ngay trong lòng mình.

8. Cho thì có phúc hơn là nhận

Trong một buổi hội thảo về hạnh phúc gồm 50 người tham dự. Diễn giả khởi đầu bằng một hoạt động tập thể. Ông đưa cho mỗi người một quả bóng và yêu cầu họ viết tên của mình lên trái bóng bằng chiếc bút lông. Sau đó, số bóng được thu hết lại trong giỏ rồi được đưa sang một phòng khác.

Rồi 50 người này lại được tập trung sang phòng chứa bóng và được yêu cầu hãy tìm quả bóng có ghi tên mình trong thời hạn 5 phút. Mọi người đều lao vào giỏ xô đẩy nhau để tìm kiếm quả bóng tên mình và căn phòng trở nên hỗn loạn, khi hết 5 phút mà ít có người tìm được quả bóng tên mình.

Sau đó, vị diễn giả lại yêu cầu mỗi người tự nhặt lên một quả bóng bất kỳ rồi tìm chuyển cho người có tên ghi trên bóng. Chỉ trong vòng 5 phút, ai nấy đều đã có được quả bóng tên mình.

Lúc này, vị diễn giả mới dẫn vào đề tài về hạnh phúc: Trong cuộc sống, mỗi người đều hối hả đi tìm hạnh phúc của mình, nhưng thực ra lại không biết chúng nằm ở đâu.

Hạnh phúc của chúng ta nằm xen lẫn với hạnh phúc của người khác. Hãy tìm cách làm cho người xung quanh có được hạnh phúc của họ, rồi chúng ta cũng sẽ được người khác mang lại hạnh phúc cho ta.

9. Phó thác cho Chúa Cha

Ngày xưa, tại ngôi làng thuộc một vùng núi, người dân có tục lệ rất hay. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, mọi người già trẻ lớn bé đều tham dự cuộc thi đua tìm bông hoa đầu tiên của mùa xuân. Ai tìm thấy và hái được bông hoa ấy, sẽ được xem là người may mắn nhất trong năm.

Một năm nọ, tuyết đông vừa tan, mặt trời vừa ló dạng, mọi người trong làng kéo nhau lên núi tham gia cuộc thi. Buổi sáng trôi qua mà không có ai tìm được bông hoa nào. Giữa lúc mọi người đang chán nản định bỏ cuộc, thì trên triền núi cao, có tiếng reo hò mừng rỡ:

– Tôi đã tìm thấy rồi!

Đó là tiếng reo hò của một cậu bé trong làng. Mọi người chạy đến chia sẻ niềm vui với cậu bé. Nhưng không may cho cậu, bông hoa nằm kẹt trong một khe đá dưới vực sâu. Muốn được xem là người may mắn nhất trong năm, chính cậu phải là người đích thân hái bông hoa ấy.

Năm người đàn ông lực lưỡng nhất trong làng đem một sợi dây thừng đến giúp cậu bé leo xuống vực. Nhưng cậu bé không dám leo xuống. Người ta đem đến một sợi dây thừng khác, chắc chắn hơn và huy động tất cả trai tráng trong làng giữ dây thừng cho cậu. Nhưng cậu cũng không chịu leo xuống. Mọi người hết lời khích lệ, cổ vũ nhưng vô vọng. Cuối cùng, cậu bé nói một cách quả quyết:

Tôi sẽ leo xuống vực, với điều kiện để cho bố tôi nắm dây thừng.

10. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa.

Năm 1923, một nhóm người giàu có nổi tiếng của nước Mỹ đã gặp gỡ nhau trong một khách sạn miền Viễn Tây. Họ trao đổi với nhau những kinh nghiệm làm giàu. Nhưng 25 năm sau, những gì đã xảy đến cho họ?

Charles Schwab, giám đốc công ty thép lớn nhất ở Mỹ, đã chết vì bị phá sản.

Samuel Insull, giám đốc công ty sản xuất đồ gia dụng, đã bỏ nước ra đi và chết không một đồng xu dính túi.

Howard Hopson, giám đốc hãng Gas, đã trở thành điên loạn. Arthur Cutten, nhà xuất nhập cảng lúa mì, cũng chết ở nước ngoài trong cảnh nghèo túng.

Richard Whitney, giám đốc hối đoái New York, đã lên cơn điên phải vào bệnh viện.

Albert Fall, nhân vật cao cấp trong chính phủ, phải vào tù vì tham nhũng.

Ai trong chúng ta cũng cần có tiền bạc của cải để sống xứng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, tiền bạc của cải luôn là con dao hai lưỡi: nếu được xử dụng như phương tiện, sẽ giúp chúng ta nên thánh, nếu được coi như thần tượng, sẽ sai khiến và đè bẹp chúng ta.

11. Quên chìa khóa

Có một người sống trên tầng 80 của một chung cư cao ngất. Ngày kia, về nhà sau giờ làm việc, người đó choáng váng nhận ra thang máy của chung cư bị hư. Anh ta buộc phải leo bộ lên căn hộ của mình.

Anh ta leo đến tầng 20 rất nhanh nhẹn. Thậm chí còn xách hộ đồ cho người khác. Khi đến tầng 40, anh ta bắt đầu mệt mỏi, trả lại túi đồ cho người bạn và quyết định để lại cả túi xách của mình, dự định sẽ quay lại lấy vào ngày hôm sau. Khi lên đến tầng 60, anh ta dừng lại nghỉ chân nhiều hơn, kéo lê từng bước lên thang lầu.

Cuối cùng, người đó cũng lên đến căn hộ của mình. Nhưng lên đến nơi, anh ta mới phát hiện ra mình để quên chìa khóa phòng trong túi xách để lại ở tầng 40. Thế là anh ta đành phải ngủ ngoài hành lang cho đến khi thang máy được sửa xong.

Câu chuyện này cũng là câu chuyện của chúng ta. Tòa nhà 80 tầng là cuộc đời của mỗi người. Mỗi tầng lầu là một tuổi mà chúng ta đã trải qua.

12. Tha Thứ Để Có Niềm Vui Xuân

Ngày 03/10/2019, một thanh niên da đen 18 tuổi đã làm rúng động nước Mỹ, và có thể còn xa hơn nữa, với thông điệp tha thứ của anh.

Trong phiên tòa xét xử cô Amber Guyger, 31 tuổi, cảnh sát viên người da trắng.

Vì mải nói chuyện điện thoại cho nên cô đã đi nhầm vào phòng của anh Botham Jean, và ngạc nhiên khi thấy anh Botham đang ngồi ăn kem trong phòng khách, cô liền rút súng ra. Cô tưởng anh tấn công mình nên cô đã bắn hai phát súng trúng vào tim anh. Botham Jean, 26 tuổi, người da đen, đã chết trong căn phòng của mình một cách bất ngờ, ngỡ ngàng không hiểu tại sao mình phải chết!

Trong bối cảnh căng thẳng vì vấn đề màu da và vì tình trạng bạo hành của cảnh sát, phiên tòa xử cô Amber Guyger đã diễn ra hết sức căng thẳng.

Kết thúc 4 ngày xét xử, bồi thẩm đoàn đã nhất trí kết tội cô là ‘sát nhân’. Và kết án 10 năm tù.

Người em trai của Botham tên là Brandt Jean, 18 tuổi, khi được cho phép nói lên lời cuối với tội nhân, đã sử dụng thời gian đó tại tòa án để đưa ra một thông điệp tha thứ:

“Tôi không muốn nói hai lần hoặc hàng trăm lần cô đã lấy đi những gì, và bao nhiêu từ chúng tôi.

Tôi nghĩ rằng cô biết điều đó.

Nhưng tôi chỉ hy vọng rằng cô đến với Chúa với tất cả mọi tội lỗi và tất cả những gì tôi nghĩ là xấu xa mà cô đã từng làm trong quá khứ.

Ai trong chúng ta cũng có thể đã làm một cái gì đó chúng ta không nên làm.

Nếu cô thực sự hối hận. Tôi biết tôi có thể nói về phần tôi là tôi tha thứ cho cô.

Và tôi biết nếu cô đến với Chúa và xin Ngài tha thứ thì Ngài sẽ tha thứ cho cô. Thực tâm tôi không muốn cô phải ngồi tù. Tôi không muốn bất cứ điều gì xấu cho cô.

Ngập ngừng một lúc, anh quay sang phía chánh án hỏi:

Tôi không biết tôi có thể dành cho cô ấy một cái ôm không.

Xin vui lòng cho phép tôi.

Bà chánh án Tammy Kemp rất bối rối trước đề nghị này. Sau một lúc suy nghĩ bà nói “Được."

Chứng kiến cảnh này bà chánh án Tammy Kemp đã rơi lệ.

13. Chúa có sống trong ta hay không?

Ngày xưa, tại thành phố kia có một nhà hiền triết xuất hiện và tuyên bố có thể trả lời được tất cả mọi thắc mắc của những ai đến vấn kế.

Một hôm, có một người chăn cừu từ trên núi cao đi xuống xin gặp nhà hiền triết. Anh ta nắm chặt trong tay một con chim sẻ và hỏi nhà hiền triết: “Xin ngài cho tôi biết: con chim sẻ tôi đang cầm trong tay sống hay chết?”

Nhà hiền triết biết đây là một cái bẫy của người chăn cừu. Nếu ông bảo con chim còn sống, tức khắc người chăn cừu sẽ bóp con chim chết trước khi mở bàn tay ra. Còn nếu ông bảo con chim đã chết, lập tức anh ta sẽ mở bàn tay ra và con chim sẽ bay đi.

Sau khi suy nghĩ, nhà hiền triết trả lời: “Con chim sẻ ngươi đang cầm trong tay sống hay chết là tùy ở ngươi. Nếu ngươi muốn cho nó sống thì nó sống, nếu ngươi muốn nó chết thì nó chết."

Hạnh phúc cũng giống con chim sẻ kia: đang nằm trong bàn tay ta, đang ở rất gần ta, đang ở bên cạnh ta. Hạnh phúc đích thực của đời ta là chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta có hạnh phúc hay không là tùy ở chính chúng ta: chúng ta có để cho Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Ngài không.

MÙNG 2 – KÍNH NHỚ TỔ TIÊN

Lời Chúa: Mt 15, 1-6

Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa? “

Người trả lời: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa."

Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa.

TRUYỆN KỂ

1. Đôi đũa thứ năm

Bác Năm Hớn có một vợ và hai con. Chẳng may vợ mất sớm. Một hôm bác mời cha Piô Ngô Phúc Hậu đến dùng cơm với bác. Trong mâm chỉ có bốn người mà sao lại thắp những 5 đôi đũa bát.

Cha Hậu ngạc nhiên hỏi: “Bát đũa này dành cho ai?”

Bác trả lời: “Dành cho vợ bác." Tuy vợ bác đã khuất, nhưng bác vẫn mời vợ về cùng dùng cơm.

2. Con kiện mẹ.

Tại bang New Jersey bên Hoa kỳ, một bà mẹ 78 tuổi bị đứa con trai kiện vì bà không trả tiền công cho chàng đã sửa chiếc xe vận tải của bà.

Bà đã đệ đơn tố ngược lại con mình, với đề nghị là chàng phải bị đánh đòn vì lúc chàng còn nhỏ, bà đã không áp dụng câu: “Thương con cho roi cho vọt."

Trả lời đơn người con trai kiện mình, bà đã viết: “Nguyên cáo mắc nợ bị cáo 40 năm phục dịch của một người mẹ, một người giữ em, một người giúp việc nhà, một nhà tâm lý để cố vấn khuyên bảo… Tất cả những dịch vụ trên nguyên cáo đã không trả tiền công cho bị cáo."

Bà mẹ viết tiếp: “Như một người mẹ, nếu luật pháp cho phép, tôi sẽ công khai đánh con tôi, những roi vọt cần thiết cho nó mà tôi đã không dành cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho phép mẹ đánh con, thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa trị con tôi."

3. Quà tặng của cha

Có một chằng trai sắp thi tốt nghiệp đại học. Trước đó anh đã nói với cha về ước nguyện có chiếc xe thể thao xinh đẹp và mong rằng nó sẽ là quà tặng của cha nhân ngày tốt nghệp.

Người cha nghe xong im lặng, không có ý kiến gì.

Sau ngày chàng trai tốt nghiệp, người cha đã gọi anh vào phòng, nói rằng ông rất yêu thương và hãnh diện có được đứa con như anh. Sau đó ông trao cho anh một hộp quà được gói cẩn thận. Ngạc nhiên, chàng trai mở hộp quà và nhìn thấy đó là một quyển sách thể loại “rèn nhân cách” được đóng gáy và bọc bìa da rất đẹp. Chàng trai nhíu mày, “với tất cả tài sản mà cha mình đã có… và món quà tặng cho con tốt nghiệp đại học chỉ là một quyển sách tầm thường này hay sao?"

Chán nản và buồn phiền với ý nghĩ đó, chàng trai không nói lời nào với cha mình, rời khỏi phòng, để lại quyển sách trên bàn. Sau đó anh bỏ nhà ra đi…

Trong một thời gian dài, chàng trai không liên hệ với cha mình. Cho đến một ngày anh nhận được tin cha mình đã qua đời và để lại toàn bộ tài sản cho anh ta.

Khi anh về đến căn nhà cũ xưa, sự buồn phiền và hối hận tràn ngập trong lòng chàng trai khi anh nhớ đến sự cư xử lạnh nhạt mà anh đã có với cha trước đây. Anh tìm đọc những giấy tờ quan trọng của cha mình và nhìn thấy cuốn sách “rèn nhân cách” vẫn còn nguyên vẹn trên bàn như ngày anh từ bỏ nó. Chàng trai mở cuốn sách ra, lật từng trang và thấy một bao thư được ép chặt trong đó. Anh đã nhẹ nhàng mở bao thư ra, và bỗng dưng nước mắt anh tuôn trào khi nhận ra đó chính là một chìa khóa xe hơi và tờ hóa đơn của chính chiếc xe mà anh ta yêu thích ngày trước. Tờ hóa đơn ghi đúng ngày anh ta tốt nghiệp với dòng chữ đã thanh toán đầy đủ…

4. Nắng chiều.

Đây là vở kịch được trình diễn tại nhà hát thành phố Hồ chí Minh trong liên hoan sân khấu quần chúng năm 1994.

Nội dung: đứa con trai đạt được danh vọng cao trong xã hội, về đưa mẹ từ nhà quê lên ở chung cho có mẹ và con. Nhưng tính tình người già không phù hợp với vợ chồng trẻ, anh đã đưa mẹ vào viện dưỡng lão và luôn chu cấp đầy đủ.

Người mẹ luôn chỉ nhận được những gói quà và món tiền chu cấp, chứ không gặp được mặt con...

Vậy mà anh vẫn vô tình, vẫn thản nhiên mỉm cười nhìn cuộc đời trôi đi một cách an bình. Anh không hề biết, đi bên sự thờ ơ của anh, là nỗi cồn cào, xót đau, chờ đợi của mẹ.

Nỗi đau khổ làm trĩu nặng thêm trái tim héo úa của mẹ. Sức lực không còn nên mẹ không đợi được anh... chút NẮNG CHIỀU ít ỏi còn lại đã tắt. (Tuổi trẻ Chủ nhật, số 4 / 94 (535), tr 18)

5. Công việc của người mẹ.

Người ta nghiên cứu một gia đình có hai con, trung bình một năm phải rửa:

18.000 dao, nĩa và thìa ăn.

13.000 đĩa

6.000 tách

3.000 nồi.

Nếu một phụ nữ đặt thức ăn lên bàn, ăn xong lại dọn đi rửa, rồi lại đặt vào chạn, thì trong một năm người đó phải mang tổng cộng 5 tấn, và mỗi năm phải đi lại trên quãng đường 2000 km để mua hàng.

6. Con không hơn cha.

Một mục sư nói với đứa con 15 tuổi của ông:

- Từ 15-20 tuổi: cha cho con có quyền tin tưởng là con hơn cha.

- Từ 20-25 tuổi: con thông minh bằng cha.

- Nhưng từ 25-30 tuổi: thì cha bắt buộc con phải nhìn nhận là cha thông minh hơn con một một cách tuyệt đối.

Người ta cũng nói: người 70 phải học với người 71.

Giáo dục cần thiết và qúi giá biết bao!

Algarotti nói: “Một nền giáo dục tốt là gia tài giầu sang người cha có thể trối lại cho con mình."

7. Ý kiến của tù trưởng.

Trong quyển tiểu thuyết nhan đề “Cội rễ”, tác giả E. Heili viết như sau:

Ở một bô lạc bên Phi châu, người thanh niên khi đến tuổi trưởng thành sẽ được gọi là “chiến sĩ." Tuy nhiên, muốn được mang danh hiệu này, anh phải trải qua một cuộc sát hạch, thường là thả vào rừng sâu một thời gian.

Năm ấy, có ba thanh niên đến tuổi trưởng thành và rất muốn được gọi là “chiến sĩ." Ba chàng đã đến trình diện vị tù trưởng. Vị tù trưởng chúc mừng và hỏi người thứ nhất: “Trong một tháng qua, anh đã làm được những gì”? Người thanh niên thưa: “Tôi đã giết được một con hổ dữ."

Tù trưởng khen “tốt” rồi bảo anh đứng sang một bên và hỏi người thứ hai: “Trong tháng qua, anh đã làm được những gì? Anh có giết được con hổ dữ nào không”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, hổ dữ thì tôi không giết được, nhưng tôi cũng đã chém được một con trăn to."

Tù trưởng khen “tốt”, bảo anh đứng sang một bên và hỏi người thứ ba: “Một tháng qua, anh đã làm được những gì? Anh có chém được một con hổ dữ hay một con trăn nào không”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, hổ hay trăn thì tôi không chém được." Tù trưởng hỏi tiếp: “Thế anh làm được gì”? Anh đáp: “Thưa tôi kiếm được một tảng mật ong to." Tù trưởng hỏi: “Ngươi kiếm mật ong để làm gì”? Người thanh niên đáp: “Thưa ngài, tôi có mẹ già, mà nhà tôi lại nghèo, nên tôi kiếm mật ong để cho mẹ tôi bồi dưỡng."

Nghe xong, vị tù trưởng rút con dao ra trao cho anh và nói: “Ta phong anh làm chiến sĩ, bởi là người thì phải biết sống hiếu thảo với cha mẹ."

8. Mẹ như bụi chuối sau hè

Nếu như trong văn học Việt nam cây tre được ví von như người cha thì hình tượng cây chuối cũng được khắc họa như người mẹ. Người ta thường ca ngợi cây tre nhưng ít ai nói về cây chuối và ít ai biết được trong hình ảnh đó là những những ý tưởng phong phú. Hình ảnh ấy đã đi vào văn thơ mộc mạc, dân dã bao nhiêu thì cũng gần gũi thân thương trong những bài hát, bài thơ bấy nhiêu.

Người ta vịnh cây chuối như sau:

Không rực rỡ như hồng, lan, cúc, huệ
Không dịu dàng như Tulip, Lily
Hương chẳng thơm, sắc cũng chẳng tươi gì
Mà nghiêng ngã khi cây vừa trổ nụ
Chứa đựng trong lòng một dòng nhựa chát
Để một đời xanh ngát những đứa con
Hiến dâng xong xác cũng chẳng còn
Nhường lại chỗ cho đàn con khôn lớn.

9. Cuộc đời cây chuối

Có một em bé hỏi bố rằng:

- Bố ơi, trong cuộc đời của một cây chuối nó sinh ra được bao nhiêu buồng?

Bố tôi trả lời:

- Chỉ một buồng duy nhất.

Cậu nhỏ ngạc nhiên về câu trả lời của bố. Nó cứ đinh ninh trong cuộc đời của mình một cây chuối ít nhất cũng cho vài buồng quả.

Bố nói thêm:

- Khi buồng chuối chín cũng là lúc cây chuối mẹ chết đi.

Thực vậy, nếu có dịp quan sát một cây chuối mang một buồng quả chín ta sẽ thấy: Lá của cây chuối mẹ héo rũ và xác xơ, và thân của nó oằn xuống như sắp gẫy vì nó phải mang trên mình một buồng chuối nặng trĩu quả. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, khi buồng cuối chín hoàn toàn, cây chuối mẹ sẽ gục hẳn xuống.

10. Ba lần dọn nhà

Thầy Mạnh Tử lúc còn nhỏ đã may mắn có được một người mẹ hết lòng lo lắng dạy dỗ cho mình. Truyện kể rằng hồi đó nhà Thầy Mạnh Tử ở gần nghĩa địa. Mẹ thầy Mạnh Tử thấy con bắt chước người ta đào bới rồi lăn ra khóc.

Bà liền dời nhà đến gần chợ. Tại đây bà lại thấy con bắt chước người ta sống nghịch ngợm và gian dối. Bà cho đây không phải là chỗ thích hợp cho con của bà.

Bà lại dời nhà đi nơi khác. Lần này thì chuyển nhà của bà đến ở gần trường học. Ở đây Mạnh Tử thấy các bạn trẻ cùng lứa tuổi đua nhau tập lễ phép và học chữ nghĩa thì cậu cũng bắt chước. Bà mẹ thấy như vậy mừng quá và bà quyết định ở lại đây luôn.

11. Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó

Có một đôi vợ chồng kia làm ăn khá giả nhưng lại cư xử rất keo kiệt với những người trong gia đình. Trong nhà có một ông bố già. Vì già - đã trên 80 tuổi - cho nên mắt đã mờ, sức đã yếu tay chân không còn được khoẻ mạnh như hồi còn trẻ. Chính vì vậy mà mỗi khi ăn uống ông thường đánh rơi ly chén xuống đất làm bể rất nhiều ly chén. Người con dâu thấy như vậy nên cứ cằn nhằn hoài với chồng. Người cha tuy mắt đã mờ nhưng tai còn rất thính. Ông rất buồn nhưng không thế làm cách nào khác hơn. Ngồi ăn mà không cầm được nước mắt. Rồi một hôm khi chị ta xúi chồng đẽo cho cha một cái chén bằng gỗ để tiện cho việc ăn uống.

Câu truyện tưởng như thế là suôn sẻ nhưng thật không ngờ là một ngày kia khi hai vợ chồng có việc phải đi xa trở về. Khi vào trong nhà thì nghe thấy có tiếng gì như những tiếng đục đẽo vọng ra từ ở một góc nhà. Hai vợ chồng lại gần thì thấy đứa con trai cưng của mình đang cầm một cái chén bằng gỗ đã được đẽo gần xong. Bà mẹ tò mò hỏi thì đứa con ngây thơ trả lời:

- Con làm cái chén này để mai sau ba má có chén mà dùng giống như chén ba má đẽo cho ông nội đang dùng vậy đó.

12. Hàn Bá Du

Đời nhà Hán bên Trung hoa có một người nổi tiếng là có lòng hiếu thảo với cha với mẹ. Đó là Bá Du. Hồi còn nhỏ mỗi khi làm điều gì sai quấy mà bị mẹ đánh thì Bá Du luôn tươi cười vui vẻ nhận lỗi, không bao giờ dám cãi. Nhưng một ngày nọ sau khi bị mẹ sửa phạt bằng roi thì Bá Du oà lên khóc. Thấy thế bà mẹ thắc mắc hỏi:

- Bao nhiêu lần mẹ đánh con để dạy con mà con không khóc thế thì tại sao lần này con lại khóc?

Bá Du lễ phép trả lời:

- Thưa mẹ, những lần trước mẹ đánh con đau lắm thế nhưng con không khóc vì con thấy sức của mẹ còn mạnh. Lần này mẹ đánh con, tuy không đau bằng những lần trước nhưng con lại khóc vì con thấy sức mẹ không còn khoẻ như xưa…mẹ đã già yếu. Con khóc vì thương mẹ chứ không phải vì giận hờn.

13. Thờ cha kính mẹ mới là chân tu

Dương Phủ sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.

Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền triết.

Đi được nửa đường, ông gặp một Vị lão tăng. Vị lão tăng khuyên Dương Phủ: “Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được Phật."

Dương Phủ hỏi vặn lại: “Phật ở đâu?" Vị lão tăng giải thích: “Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy."

Dương Phủ nghe lời quay về. Đi dọc đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Đức Phật mà vị lão tăng đã mô tả. Từ đấy, Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.

Thứ nhất thì tu tại gia
Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.

14. Sự tích bánh chưng bánh dầy

Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ. Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân. Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho."

Các con trai đua nhau kiếm của con vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ VI là Lang Lèo (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy Thần Đèn bảo: ”Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành."

Lang Lèo (sau có người gọi Lang Liêu) tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi.

Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Lèo chỉ có bánh Dầy bánh Chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Lèo, tức đời vua Hùng Vương thứ 7.

Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng.

Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha.

15. Sự tích cây vú sữa

Ngày xưa, ở vùng Lái Thiêu (thuộc tỉnh Sông Bé) có hai mẹ con sống đơn chiếc bên nhau. Thương con trai mồ côi bố, người mẹ hết sức cưng chiều con. Vì quá nuông chiều, cậu bé trở nên nghịch phá và ham chơi.

Một ngày kia, vì phá phách, bị mẹ quở mắng, cậu bé bỏ nhà ra đi. Cậu đi lang thang hết ngày này sang ngày khác, ai cho cái gì thì ăn cái ấy.

Một hôm, cậu quyết tâm trở về với mẹ. Sau bao ngày lặn lội, cậu cũng về tới nhà. Cảnh vật còn nguyên, nhưng mẹ cậu thì không còn nữa. Cậu bé đâu có biết rằng mẹ cậu vì mong mãi con không về đã sinh bệnh rồi chết, hóa thành một cây xanh.

Cậu bé gọi hoài, gọi mãi không thấy mẹ. Cậu chỉ biết ôm lấy cây xanh mà khóc. Bỗng cây xanh run rẩy và rơi xuống một trái to, da căng mịn và xanh óng ánh.

Vừa đói, vừa mệt, cậu bé đưa quả lên rồi cắn một miếng, dòng sữa trắng trong quả trào ra, như dòng sữa mẹ thật thơm ngon.

Vỏ cây xù xì như bàn tay lam lũ của mẹ, lá cây một mặt xanh bóng, một mặt đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Mẹ không còn nữa, nhưng mẹ vẫn đứng đó để nuôi con bằng dòng sữa mẹ ngọt ngào.

Từ đó, người ta gọi cây xanh ấy là cây vú sữa, để tưởng nhớ đến tình mẹ thiêng liêng và cao cả.

16. Vai trò của gia đình trong ơn gọi

Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã đề cao vai trò gia đình, lòng thảo hiếu của con cái “chủng viện thứ nhất, đệ tử viện thứ nhất, trường sư phạm thứ nhất là gia đình công giáo. Không vị giám đốc tài ba, chuyên môn đến đâu có thể thay thế cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng, tương lai Hội thánh và xã hội nhân loại cũng rung rinh sụp đổ. Đức Gioan XXIII biên thư cho cha mẹ ngày ngài được ngũ tuần: “Thưa thầy mẹ, hôm nay con được 50 tuổi. Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi trên chân thầy mẹ” (ĐHV 505).

Tinh thần hiếu hoà, lòng thảo hiếu của người Việt là điểm son đậm đà bản sắc dân tộc. Tin mừng bén rễ sâu vào nền văn hoá ấy làm xanh lên chồi lộc sự sống tình yêu rồi kết thành hoa trái tốt lành cho con người và cuộc đời.

17. Tâm sự của cha già

Thiết tưởng, ngày đầu xuân chúng ta cùng lắng đọng tâm hồn để nghe lời bộc bạch chân thành từ lá thư của một người cha viết cho con.

Lá thư ấy viết rằng:

Con thân mến,

Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu giùm cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vun vãi… Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc… Xin con hãy bao dung!

Con hãy nhớ những ngày giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.

Nếu như bố mẹ cứ lập đi lập lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ… mà hãy lắng nghe!

Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ… và bố mẹ đã làm vì con.

Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.

Con hãy nhớ… lúc con còn nhỏ, bố mẹ đã phải viện cớ bao lần để vỗ về con trước khi tắm.

Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa… hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập tềnh con trẻ những bước đi đầu đời.

Và một ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng… bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.

Con đừng oán giận và buồn khổ… vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.

Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều…

Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.

Thương con thật nhiều

18. Sự tích trái dưa hấu

Vào đời Hùng Vương, ở một vùng quê cách xa kinh đô Phong Châu, có một cậu bé mồ côi thường theo người lớn đi săn thú và đánh cá. Năm tám tuổi, cậu được lên kinh đô gặp vua Hùng. Thấy cậu thông minh, nhà vua nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai An Tiêm.

Vua Hùng cưới vợ cho An Tiêm và cho cả hai vợ chồng đi phá rừng, làm rẫy trồng trọt. Chỉ ít lâu sau, An Tiêm đã dựng được nhà cửa và gặt được nhiều thóc lúa chứa đầy kho. Thấy thế, bọn người ghen tị tâu nịnh với vua vì cho rằng An Tiêm coi thường ơn vua. Vua Hùng giận lắm, không cần tìm hiểu thực hư ra sao, và đày hai vợ chồng ra hoang đảo.

Cây ngay không sợ chết đứng, vì “người công chính được Chúa độ trì” (Tv 37:17). Ở hoang đảo, có con chim trắng bay tới làm rơi hạt đen xuống bãi cát trắng. An Tiêm đem trồng thử hạt này. Chúng mọc thành những dây bò lan trên mặt cát. Cây có nhiều trái màu xanh thẫm to bằng đầu người. An Tiêm hái một trái đem về cho cả nhà ăn thấy ruột đỏ mà ngọt, lại có nhiều nước. Loại trái “xanh vỏ, đỏ lòng” đó chính là trái dưa hấu.

Bài học về chữ hiếu: Dù bị Phụ vương đày ra hoang đảo, nhưng An Tiêm vẫn giữ trọn đạo hiếu với cha, không hề trách hờn ai. Về sau, vua Hùng hối hận và phục chức cho An Tiêm.

Và chắc hẳn nhiều người (tuổi trung niên trở lên) còn nhớ sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”, tác phẩm văn học của tác giả Quách Cư Nghiệp, kể lại gương hiếu thảo của 24 người con đời nhà Nguyên (Trung Hoa). Chính tác giả cũng là người con chí hiếu.

MÙNG 3 – HƯỞNG NIỀM VUI CỦA CHỦ

Lời Chúa: Mt 25, 14-30

Bấy giờ, Đức Giêsu kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Người kia sắp đi xa, gọi tôi tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông đưa cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi.

Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.

Sau một thời gian lâu dài, ông chủ của các đầy tớ ấy đến và yêu cầu họ thanh toán sổ sách. Người đã lãnh năm nén tiến lại gần, đưa năm nén khác, và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”

Người đã lãnh hai nén cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi đã gây lời được hai nén khác đây." Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”

Rồi người đã lãnh một nén cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông vẫn còn nguyên đây này!” Ông chủ đáp: “Anh thật là tôi tớ xấu xa và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi cho các chủ ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy nén bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười nén. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”

TRUYỆN KỂ

1. Con ve và con kiến

La Fontaine kể là con ve chỉ thích ca hát suốt các ngày hè tươi đẹp, còn đàn kiến thì cần cù lo chuyên chở dự trữ lương thực và xây tổ đề phòng cho những ngày đông giá lạnh. Con ve thực sự tỉnh ngộ và cay đắng khi phải đến tổ kiến để xin ăn và chỗ ở…

Chuyện này là một mô hình luân lý của tính khôn ngoan, ham làm việc và biết lo xa của đàn kiến so với những thói hư tật xấu của loài ve ham chơi.

Hoặc nếu có dịp đọc thơ ngụ ngôn của Esope, một thi sĩ cổ Hy Lạp, chúng ta cũng thấy có một bài thơ ngụ ngôn tương tự:

Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đang bận việc sấy khô ngô đã bị uót sau một trận mưa dài. Lúc đó, một con ve từ đâu bay tới xin kiến cho ít hạt ngô vì nó nói:

- Tôi sắp chết đói mất.

Lũ kiên ngưng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. Chúng nói:

- Chúng tôi có thể hỏi: anh đã làm gì suốt cả mùa hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông?

Ve trả lời:

- Tôi quá bận rộn với việc ca hát nên không có thời giờ nữa.

Lũ kiến trả lời:

- Nếu anh dùng mùa hè để hát thì không gì tốt hơn là hãy dùng mùa đông để nhảy múa.

Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.

2. Ba người thợ xây thánh đường

Một nhà văn Pháp có kể chuyện ba anh đẽo đá, đại khái như sau:

Hôm nọ, có người khách đến viếng ngôi thánh đường vừa khởi công. Ba người thợ đang làm đá. Người khách hỏi một người:

- Anh làm gì đó?

Người thứ nhất trả lời với giọng uể oải:

- Tôi đang dũa đá, thật khốn cho cái đôi tay chai đít phỗng của tôi.

Người thứ hai lễ độ hơn, trả lời:

- Tôi đang kiếm tiền nuôi vợ con tôi.

Còn người thứ ba hiên ngang trả lời:

- Còn tôi, tôi đang xây ngôi thánh đường…

Và người ấy rang rang cất tiếng hát.

3. Con trâu

Có một câu chuyện huyền thoại về con trâu như sau: Thuở xưa, Ngọc Hoàng sai một vị thần xuống trần gian mang theo một bao hạt giống và một bao cỏ để gieo xuống rần gian. Trước khi xuống trần, Ngọc Hoàng đã tỉ mỉ căn dặn, đến trần gian phải gieo rắc bao hạt giống lúa trước để dân cư có dư giả mà ăn, còn bao cỏ thì gieo sau để nuôi thú vật. Nhưng khi vị thần này đến trần gian, thấy phong cảnh khác lạ, nên mải mê xem mà quên lời dặn của Ngọc Hoàng, để rồi gieo bao cỏ trước và bao hạt giống lúa sau. Từ đó, cỏ không cần trồng cũng mọc tràn lan khắp mọi nơi, các thú vật ăn không bao giờ hết vì quá dư thừa và không làm sao diệt cỏ hết được. Còn lúa thì phải gieo trồng rất cực khổ và khó khăn mới có ăn, bởi vì bị cỏ mọc lấn áp làm lúa phát triển chậm hơn cỏ.

Bởi lỗi ấy của vị thần, làm cho ngươi trần gian trồng lúa rất khó nhọc mới có ăn và cỏ thì mọc tự nhiên quá nhiều, cho nên Ngọc Hoàng mới đẩy vị thần này xuống trần gian hóa thành con trâu để giúp người trần gian cầy bừa trồng lúa và ăn cỏ, chừng nào hết cỏ sẽ được tha thứ cùng phục hồi địa vị cũ, nhưng ăn hoài vẫn không bao giờ hết cỏ được, nên Trâu chưa thoát kiếp trở về thiên đường…

4. Số phận bông hoa.

Hôm 30 Tết người ta đẩy xe hoa đi bán trong khắp thành phố. Hoa nhiều lắm: đủ mọi loài hoa, đủ mầu, hương sắc, ai mua thứ nào cũng có. Nhà nào cũng có hoa chưng ngày Tết.

Hôm nay cũng trên đường phố của ngày 30 Tết hôm đó, những người phu hót rác đang đẩy những chiếc xe rác để thu gom cơ man là hoa đã tàn, đã thành rác đem đi dổ.

Ôi! Hương sắc của hoa hôm qua, bây giờ héo úa tàn tạ, phải mau mau tống khứ. Chờ xe hoa truớc Tết và đợi xe rác khi Tết đã tận. Hôm trước nâng niu, hôm sau phế bỏ. Có gì bền vững đâu. Cuộc sống nghiệt ngã thật. Nhưng hoa và rác đều im lặng. Im lặng tỏa hương và phô sắc làm đẹp cho chiếc bàn nhỏ và im lặng bước lên xe rác chờ ngày tái sinh trong kiếp hoa sau. Đúng là:

Phù hoa nối tiếp phù hoa,

Chi chi chăng nữa cũng là phù hoa. (Gv 1,2)

5. Số phận con người.

Nhìn thấy cảnh người phu đi hót rác, đang hốt những bông hoa tàn bỏ lên xe, tôi liên tưởng đến số phận con người. Và tôi muốn suy gẫm câu đáp lễ cầu hồn:

Đời sống con người giống như hoa cỏ
Như bông hoa nở trên cách đồng
Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi
Nơi nó mọc không còn mang vết tích. (Tv 102, 111115-16)

Đời sống con người giống như bông hoa sớm nở chiều tàn: thật mỏng manh, thật ngắn ngủi. Vì thế người xưa đã nói: Nhân sinh thất thập cổ lai hy.

Vì cuộc đời nhắn ngủi nên người ta mới mừng thọ vào tuổi 60, mừng thượng thọ vào tuổi 70. Ngày nay người ta tuy sống thọ hơn, hơn 70 tuổi, nhưng có sống đến 930 tuổi như ông Adam hay 969 tuổi như ông Mathusalem thì cũng chẳng là gì so với đời đời.

Tại nghĩa trang chúng ta đang sống đây (Thánh lễ tại nghĩa trang), mỗi năm chúng ta lại chứng kiến đô tùy đẩy chiếc xe tang tới đây và gửi một người vào trong lòng đất và hiện họ đang nằm ở đây.

Ôi! số phận con người thật mỏng manh. Nay mai sẽ có xe tang đem một người nào đó đến gửi xác ở đây.

6. Chỉ cần bắt tay vào việc

Một ông chủ kia giao cho bảy người thợ cưa, mỗi người phải cưa một khúc cây.

Người thứ nhất nói: khúc cây của tôi còn tươi quá, lưỡi cưa sẽ mắc trong đó. Tôi chờ cho đến khi khúc cây đó khô rồi tôi mới cưa, thế là anh ta nghỉ.

Người thứ hai: lưỡi cưa của tôi cùn quá, tôi chờ ông chủ đổi cho tôi lưỡi cưa khác bén hơn rồi tôi mới cưa. Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ ba: khúc cây này cong bên này cong bên kia. Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi khúc cây khác thẳng hơn. anh cũng đi nghĩ.

Người thứ bốn: khúc cây của tôi quá cứng, cứng gấp hai lần khúc cây thường. Tôi chờ có khúc khác mềm hơn. Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ năm: hôm nay trời nóng quá, đợi ngày nào mát trời hãy cưa. Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ sáu: hôm nay tôi nhức đầu, đợi tới khi nào khỏi tôi mới cưa. Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ bảy cũng nhận một khúc cây còn tươi, nó cũng cong bên này cong bên kia, thịt nó cũng rất cứng, lưỡi cưa của anh cũng cùn, trời hôm đó cũng nóng và anh đó cũng nhức đầu. Nhưng anh đi mài lưỡi cưa và bắt tay vào việc. Nhờ lưỡi cưa đã được mài, khúc cây đã được cưa xong, do trời nóng và do làm việc, anh ta đổ mồ hôi ra và hết nhức đầu. Anh sung sướng vì hoàn thành công các được giao.

Hôm sau anh xin ông chủ cho anh một khúc cây khác để cưa. (A.R Wells)

7. Nghịch cảnh mang lại cơ hội

Một người nông dân nọ có một con lừa già. Một hôm con lừa bị rơi xuống giếng và đau đớn kêu la thống thiết. Sau khi cẩn thận đánh giá tình hình, dù rất thương cảm cho con lừa, nhưng người nông dân cũng phải quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn. Anh gọi thêm mấy người hàng xóm để cùng lấp đất chôn con lừa với ông.

Lúc đầu con lừa bị kích động vì những gì người ta đang làm đối với nó. Nhưng khi từng xuổng từng xuổng đất tiếp theo nhau rơi trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên:

Cứ mỗi lần xuổng đất rơi xuống đè lên vai, mình sẽ lắc cho đất rơi xuống và bước lên trên.

Và nó đã làm như vậy, từng chút từng chút một.

Hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên – con lừa lặp đi lặp lại để tự cổ vũ mình.

Mặc cho sự đau đớn phải chịu sau mỗi xuổng đất. Mặc cho sự bi đát cùng cực của tình huống đang gánh chịu, con lừa liên tục chiến đấu chống lại sự hoang mang, hoảng sợ, và tiếp tục theo đúng phương châm “hất nó xuống và bước lên trên."

Không mất nhiều thời gian, cuối cùng con lừa già, dù bị bầm dập và kiệt sức, đã hoan hỉ và đắc thắng bước ra khỏi cái giếng. Những gì tưởng như sẽ đè bẹp và chôn sống nó, trên thực tế đã cứu sống nó… đều là nhờ cái cách mà con lừa đối diện với nghịch cảnh của mình.

8. Lòng tham hạn chế tầm nhìn

Một người do thái giàu có nhưng rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một lời hướng dẫn cho cuộc sống của mình. Vị giáo trưởng đưa anh đến bên cửa sổ và nói: “Ông hãy nhìn qua cửa sổ và tôi biết ông thấy gì.” Không một chút do dự, người giàu có trả lời: “Tôi thấy nhiều người đi qua đi lại.” Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có quay mặt vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu hỏi tương tự: “Nào, bây giờ ông thấy gì trong tấm gương ?” - “Dĩ nhiên tôi chỉ thấy tôi."

Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút ra một bài học: “Này nhé, tấm gương được làm bằng kính, phía sau phủ một lớp bạc mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đàng sau tấm kính thì nhìn vào đó ông sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình ông thôi. Trái lại khi nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ, ông đã thấy được những người khác.

9. Ngày mai bắt đầu từ hôm nay

Người thợ xây nọ đã làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu trong nhiều năm cho một hãng thầu xây dựng. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình.

Hãng thầu rất tiếc khi thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị ông cố gắng ở lại giúp hãng xây một căn nhà trước khi thôi việc. Ông ta nhận lời.

Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây dựng căn nhà với những vật liệu tầm thường, kém chọn lọc, miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, căn nhà đã hoàn thành. Người chủ hãng mời ông đến, trao cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: “Ông đã gắn bó và làm việc rất tận tụy với hãng trong nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, chúng tôi xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!”

Thật là bàng hoàng! Nếu người thợ biết mình sẽ xây cất căn nhà cho chính mình thì hẳn ông ta đã làm việc cẩn thận hơn và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà ông biết rõ là kém phẩm chất như thế nào.

10. Những người kém cỏi làm vinh danh Chúa

Nhiều vị được Chúa trao số vốn nhỏ bé lại làm vinh hiển Chúa trước các đại gia và những bậc vị vọng. Đan cử:

- Thánh Maria Madalena, một người bị kết án là phụ nữ tội lỗi khét tiếng vì bị bảy quỷ thống trị, thế nhưng khi bà được Đức Giêsu trừ bảy quỷ, từ bấy giờ bà hiến dâng tất cả tài sản cho việc truyền giáo và trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho thế giới (x Lc 8,1-3; Ga 20,18).

- Thánh Gioan Maria Vianey có trí khôn tầm thường, không đủ điểm trong các môn Thần học ở Đại Chủng Viện, nên đã bị cha Giám đốc sa thải! Nhưng nhờ cha Sở bảo lãnh,Gioan Vianey được trở lại Chủng Viện, và ngài đã trở nên một vị Linh mục thánh thiện, nhiệt tình, gương mẫu, xứng đáng là Bổn mạng các cha Sở!

- Thánh nữ Catharina, vì gia cảnh nghèo nên thất học, thế mà nhờ bà biết cầu nguyện cho Hội Thánh đang gặp sóng gió, bà đã thành công làm cho ba Giáo hoàng đang tranh ngôi vị vào những năm 1378-1417, một ở Roma, một ở Bỉ, một ở Pháp, phải từ chức để bầu lại Thủ Lãnh Hội Thánh, thủ đô đặt ở Roma. Vì công đức ấy mà Hội Thánh tôn vinh bà làm Thánh Tiến sĩ.

Bởi thế, thánh Phaolô nói: “Khi anh em được Thiên Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan; những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr 1,26-29).

11. Điều lớn lao

Một bé gái trở về nhà sau khi thăm viếng gia đình của một người bạn cùng lốp bị chết đột ngột. Cha cô bực mình nói: “Tại sao con đến đó lúc này?” Cô bé trả lời: “Để an ủi mẹ của người bạn.” Người cha nói: “Nhưng con thì có thể làm được gì chứ?” Cô bé đáp: “Chẳng làm được gì cả, vì vậy con ngồi trong lòng bà ta và cùng khóc với bà ta.”

Câu truyện trên đây và dụ ngôn của Chúa Giêsu mời gọi tôi tự hỏi: Ở mức độ nào tôi ngừng công việc làm cho Nước Chúa phát triển, chỉ vì cảm thấy mình chẳng làm được bao nhiêu?

“Điều lớn lao chính là trung thành trong những cái nhỏ mọn.” (Thánh Gioan Kim Khẩu)

12. Con đường cao trọng hay tầm thường ở lòng tôi

Thi sĩ người Anh William Dunkerley cũng được biết dưới bút danh John Oxenham. Một trong những bài thơ được viết dưới bút danh này thật hấp dẫn. Bài thơ như sau: “Mỗi người đều có con đường rộng mở. Tâm hồn cao thượng theo đường cao. Tâm hồn tầm thường theo con đường thấp giữa đồng bằng sương gió. Số còn lại thì trôi nổi đây đó. Nhưng mỗi người đều có con đường riêng cho mình và phải quyết định con đường để theo.”

Bài thơ của Oxenham và lời thánh Phaolô mời gọi tôi tự hỏi: “Đâu là con đường tôi định theo? Tại sao?

Một số người chết vì bom đạn. một số khác chết vì lửa nóng. Nhưng hầu hết chết dần chết mòn vì thiếu quan tâm đến nhau.

13. Không có chi là nhỏ bé

Tờ Detroit News đăng câu truyện về John Cannon, người đã mất ngôi nhà mùa hè mới ở vùng quê Canada chỉ vì không có tiền để gọi điện thoại. Ngọn lửa đã thiêu rụi ngôi nhà của ông trước khi ông liên lạc được điện thoại. Ông đã nhảy vào xe và lái xe đến trạm điện thoại công cộng trên đường. Trong lúc hốt hoảng, ông không đem theo một đồng cắc nào. Câu truyện này chứng tỏ rằng trong một số công việc, một xu cũng đáng giá hơn cả ngàn đôla. Có những lúc sự đánh giá này thật đúng trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.

“Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có.” (1Cr 1,28)

“Đôi khi tôi thấy hậu quả nghiêm trọng đến từ những gì nhỏ bé. Tôi bị cuốn theo dòng suy nghĩ: Chẳng có gì là nhỏ bé cả” (Bruce Barton)

14. Được giao ít mà đã trung thành

Booker T. Washington là một nô lệ da đen người Mỹ. Năm 16 tuổi, cậu đã đi bộ 800 cây số từ nơi cậu phục dịch đến trường Hampton ở bang Virginia. Đến nơi, cậu được cho biết là các lớp học đều đã chật người. Không chút nản chí, cậu nhận làm những công việc thấp hèn ở trường, như quét sàn, dọn giường. Cậu làm việc một cách chu đáo đến độ ban giáo sư đã tìm cho cậu một phòng với tư cách là một sinh viên. Cậu học hành tiến bộ, trở thành một giáo sư nổi tiếng và đã thành lập trường Tuskegee ở Alabana.

Tôi đã thực hiện tốt một vài công việc nhỏ mọn nào trước khi được giao cho những việc lớn hơn?

Đừng để những gì bạn không làm cản trở những gì bạn có thể làm. (John Wooden)

Tết Nguyên Đán
Thường niên V GS C PS Ngoại lịch