Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Một chút suy tư _ dị ứng

DỊ ỨNG
Để tránh “dị ứng”, trong cả hai trường hợp, người bị “dị ứng” cần quay lại nhìn vào bên trong để nhận ra phần “bất ổn”, “problem” của mình, để chấn chỉnh sự yếu kém, khiếm khuyết nào đó thay vì xoay ra ngoài than phiền, hờn trách, oán hận người.  
Lê Trung Cang
Tôi đến cư ngụ tại thành phố nầy gần 30 năm. Tôi sống an lành và thật bình thường như mọi người bình thường khác.
Sau vài năm, một hôm tôi bổng nhảy mũi một cách vô cùng khó chịu. Tôi nhảy mũi suốt ngày, tôi bị ngứa mắt, ngứa tai, ngoài thì chảy nước mắt, nước mũi, trong thì ngứa, rát cổ họng… Tôi khó chịu lắm. Tôi nghĩ là tôi bị bệnh. Tôi đi mua thuốc uống, nhưng không hết. Mấy ngày sau, tôi cảm thấy bị nặng hơn. Vài người quen thân cho biết là: tôi bị “dị ứng” (allergy).
Vậy sao!? Nầy “DỊ ỨNG”, “Ta chào Mi.”
Khoảng 2 tháng sau, cơn “dị ứng” chấm dứt. Tôi không còn nhảy mũi suốt ngày, tôi không còn ngứa mắt, ngứa tai nữa. Tôi trở lại bình thường. Thật sướng quá; “cảm ơn Trời, Phật.” Một, hai ngày sau tôi quên hết mọi sự về cơn “dị ứng.” Đến năm sau, vào cùng khoảng thời gian của năm trước, cơn “dị ứng” lại đến với tôi; “Nó” trở lại thật đúng ngày, không sớm hơn, không trễ hơn.
Rồi mọi việc lại diễn ra y như năm trước. “Nó” đến như thế nào, “Nó” đi như thế nấy. Mỗi năm tôi phải chịu đựng nỗi bực bội nầy gần tròn 2 tháng. Thấy tôi quá khổ sở vì cơn “dị ứng” hoành hành, có người khuyên tôi nên đi chích ngừa khoảng vài hôm trước khi cơn “dị ứng” bắt đầu. Tôi ghi nhớ và tự hứa: lần tới sẽ đi chích ngừa. Qua năm sau, sau vài ngày bị “dị ứng” tôi mới sực nhớ ra việc chích ngừa, nhưng đã trễ. Lại hẹn thêm một năm nữa; cứ thế mà tái diễn thêm vài năm.
Năm ấy, tình cờ tôi có hẹn đi Bác sĩ vài ngày trước khi cơn “dị ứng” bắt đầu. Tôi sực nhớ ra và yêu cầu bác sĩ chích ngừa cho tôi một mũi. Và tôi đã không bị những cơn nhảy mũi, ngứa mắt, ngứa tai… hành hạ như những lần trước. Thuốc ngừa thật tốt. Nhưng sau đó, có người lại khuyên tôi: đừng nên chích ngừa, cứ chịu đựng thêm vài năm rồi sẽ quen dần và không còn bị tác hại. Tôi đồng ý với đề nghị nầy. Tôi chịu đựng thêm gần 5, 7 năm nữa. Tôi đã quen dần và bớt khổ sở…
Vài năm nay, tôi không còn bị cơn “dị ứng” hành hạ như trước kia. Mỗi năm, khi đến mùa “dị ứng”, tôi chỉ bị khó chịu nhẹ trong vòng năm ba ngày, rồi thôi. Tôi đã quen dần với “dị ứng” và tránh được sự ảnh hưởng và tác hại của “nó.”
Hai tháng trước đây, khi bước vào mùa “dị ứng”, tôi cảm thấy bình thường sau năm, ba ngày hơi khó chịu. Bất chợt, tôi nghĩ đến đôi điều về “dị ứng.” Rồi trong cơn suy tư, tôi nghĩ lan qua đến sự “dị ứng” của những người hay bị “dị ứng” trong khi giao thiệp với người.
Trong khi đối nhân, xử thế, giao thiệp với tha nhân trong xã hội; những người hay bị “dị ứng” trước lời nói, thái độ của người là những người thường dễ bị khó chịu, bực bội, nhiều khi đến khổ sở nửa, nhưng lại không thổ lộ ra ngoài, chỉ giữ trong tâm, đôi lúc lại than phiền, thì thầm với người khác.
Sao gọi là “dị ứng”? Đối với cơn “dị ứng” mà tôi phải chịu đựng hằng năm trong suốt mười mấy năm vừa qua, mỗi năm khi vào mùa thì tôi bị nhảy mũi, chảy mũi, ngứa mắt… là “dị ứng” với cây cối, thiên nhiên... vì phấn hay những gì do hoa lá, cây cỏ tiết ra và tỏa trong không khí, tôi hít thở và bị phản ứng. Đó là “dị ứng”, gọi là “dị ứng” vì hoa lá, cỏ cây chỉ hồn nhiên tỏa phấn, chẳng cố tình tác hại. Đó chính là tại tôi “dị ứng”, chớ chẳng phải hoa lá, cỏ cây muốn làm tôi “dị ứng”, muốn tôi khổ sở, khó chịu, muốn hành hạ tôi.
Riêng những ai hay bị “dị ứng’ trong khi giao tiếp với tha nhân, thì khi chuyện trò, tiếp xúc với người thường cảm thấy khó chịu, mặc cảm với người ở những gì người phát biểu bằng lời nói, cử chỉ, thái độ… dù rằng những người nầy chẳng có ý hay cố tình làm người khác khó chịu bởi bất cứ lý do gì. Sau khi bị “dị ứng”, người bị “dị ứng” lại lưu giữ những cảm giác nầy trong tâm rồi sinh ác cảm, hờn ghét, né tránh… và nếu nhiều thì đưa tới thù hằn ngấm ngầm, cho đến lúc không chịu đựng được nổi nữa và lại gặp ngay cơ hội thì bật nói lên những lời bực bội, căm hận một cách bất ngờ, làm ngạc nhiên và buồn lòng người bạn hay người thân yêu của mình. Và chính mình, nhiều khi, cũng không hiểu “tại sao mình lại nói như vậy, làm như vậy nữa.”
Nếu không tự thấy ra được điều sai lầm của mình thì dễ rơi vào tình trạng tiếp tục cảm thấy khó chịu nhiều hơn, rồi tìm lời bào chữa hay đổ lỗi cho người bằng những lý do không hợp tình, hợp lý. Nếu không tự hiểu, không tự kềm chế được có thể sẽ đưa đến việc nói xấu ngược lại người ở những việc không đâu, lắm lúc lại rơi vào tình trạng “bới lông tìm vết” để né tránh sự thật, để tìm thấy sự an ổn giả tạo, tạm bợ trong tâm.
Đây là yếu điểm, sự khiếm khuyết, sai lầm, điều buồn bực, nỗi đau khổ… của những người bị “dị ứng” trong khi giao tiếp với tha nhân hay ngay cả với những người thân yêu của mình trong cuộc sống hằng ngày, vì mặc cảm nên tự khởi lên trong tâm những ý nghĩ so sánh, đối kháng với người rồi sinh ra bực tức khi cho rằng người đã có ý kiêu hãnh, khinh chê hay không quý trọng mình, hay thường tình hơn là cho người đã “nổ” nên khiến mình cảm thấy khó chịu và “dị ứng”, dù rằng người chẳng hề có ý như vậy.
Trong đôi lúc suy tư, tôi chợt nghĩ đến và so sánh hai sự “dị ứng” nầy với nhau và nhận ra vài mẫu số chung. Tôi bị nhảy mũi, ngứa mắt… vì phấn do cỏ cây, hoa lá tiết ra hòa trong không khí, tôi hít thở và “dị ứng.” Nhưng quan sát kỹ thì chỉ có một số ít người bị như tôi, còn đại đa số thì không sao cả. Như vậy, có thể nói: trong tôi đã có sẵn những “chủng tử” làm tôi bị “dị ứng.” Vì nếu trong hoa lá, cỏ cây có những yếu tố hoàn toàn tác hại thì tất cả mọi người đều bị “dị ứng” như nhau, không chỉ riêng tôi và những người như tôi.
Trước một lời nói, một thái độ cư xử của một người không ác ý, chỉ có một ít người bị “dị ứng” còn những người khác thì không, điều nầy chứng tỏ người bị “dị ứng” đã có “vấn đề” trong tâm mình nên mới cảm thấy như vậy. Vì nếu lời phát biểu, sự đối xử đó quá tệ hại, có chủ tâm có thể làm buồn lòng người thì hẳn hầu hết mọi người đều nhận thấy và cảm thấy khó chịu, phiền lòng như nhau. Và như vậy, trong trường hợp nầy, đây không còn là “dị ứng” nữa mà là sự buồn lòng, sự bị xúc phạm vì người kia đã cố tình hoặc quá vụng về khi đối xử. Nhưng nếu người không cố ý và mọi người xung quanh không có ai cảm thấy khó chịu mà chỉ riêng một mình mình bị “dị ứng”, chỉ riêng mình là nhạy cảm, chỉ riêng mình cảm thấy khó chịu và không có đủ lý do vững chắc để nói lên sự sai quấy của người mà lại lặng lẽ giữ trong tâm, “để bụng.” Thì quả thực đó chính là “dị ứng.”
Tóm lại, cả hai loại “dị ứng” đều phát sinh từ sự việc “có gì không ổn” bên trong người bị “dị ứng”, chớ không do yếu tố đến từ bên ngoài. Để tránh “dị ứng”, trong cả hai trường hợp, người bị “dị ứng” cần quay lại nhìn vào bên trong để nhận ra phần “bất ổn”, “problem” của mình, để chấn chỉnh sự yếu kém, khiếm khuyết nào đó thay vì xoay ra ngoài than phiền, hờn trách, oán hận người. Đó là sự sai lầm quan trọng từ căn bản vì không nhận ra được nguyên nhân đích thực của sự việc.
Người bị “dị ứng” từ cỏ cây, hoa lá, cần chích thuốc ngừa để ngăn chận, uống thuốc để chiết giảm hay làm quen với chất tác hại để vô hiệu hóa dần cơn “dị ứng.” Người bị “dị ứng” từ tha nhân thì không cần thuốc, vì không có thuốc để trị liệu, mà chỉ cần quay vào bên trong hóa giải dần những mặc cảm, những tự ái quá cao, những cố chấp nặng nề, những nhận định, ý nghĩ thiên lệch, sai lầm về người, về mình, rồi phá vỡ mọi nội kết trong tâm, nếu có. Làm được như vậy là hóa giải được “dị ứng”, là “giải thoát”, là “trí tuệ.”.. mà có lẽ Phật pháp sẽ là phương pháp thần diệu nhất.
Không còn chảy mũi, ngứa mắt, ngứa tai khi vào mùa “dị ứng” là vui tươi, khỏe mạnh.
Không còn “dị ứng” trước lời nói, thái độ cư xử không “ác ý” của người khi đối nhân xử thế là an vui, hạnh phúc vì đã xóa đi được những cảm giác, ý nghĩ không an lành, giả tạo mình đã tự tạo ra mà không tự biết và đã âm thầm tự làm khổ mình, đã cản trở tình thân của người xung quanh, che mờ sự cảm nhận những tình cảm đầm ấm, êm đềm của những người thân dành cho.
Ngoài ra, nói cho cùng thì nếu tha nhân dù cố tình hay vì kém cỏi, vụng về hoặc vô ý nên có những lời nói, cử chỉ khiếm khuyết hoặc họa hoằn có “nổ” đi nữa, thì nếu mình không khởi niệm so sánh, khó chịu, và trong tâm không có chủng tử “dị ứng” thì những lời nói, cử chỉ ấy cũng sẽ chỉ là những phấn hoa bay tung vô hại trong không khí, những lời “nổ” lại là những “tràng pháo” nổ vang cho vui ngày Tết.
Như vậy, sở dĩ mình “dị ứng “ vì chính mình đang mang sẵn chủng tử “dị ứng” đúng như các câu châm ngôn của Phật giáo Tây Tạng đã nói:
“Không có cái gì xảy đến cho Anh nếu trong Anh không có cái đó”“Không có một quả nào có thể xảy đến cho ta nếu tự nơi ta không chứa chấp, nuôi dưỡng mầm mống của sự việc ấy.”
Lê Trung Cang