Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Tìm hiểu Lời Chúa _ thứ năm tuần 2 mùa vọng

THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 2 – MÙA VỌNG
Is 41,13-20; Mt 11,11-15
BÀI ĐỌC: Is 41,13-20
13 Chính Ta, Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Đấng cầm lấy tay phải ngươi và phán bảo:"Đừng sợ, chính Ta phù trợ ngươi. 14 Đừng sợ, hỡi Gia-cóp, loài sâu bọ,hỡi Ít-ra-en, kẻ mọn hèn. Chính Ta phù trợ ngươi - sấm ngôn của Đức Chúa -, Đấng cứu chuộc ngươi là Đức Thánh của Ít-ra-en.” 15 Này đây Ta sẽ biến ngươi thành một cái bừa vừa sắc vừa mới và đầy mũi nhọn. Ngươi sẽ dày đạp và nghiền nát núi non, sẽ làm cho các đồi nên như trấu. 16 Ngươi sẽ rê chúng, gió sẽ cuốn đi và bão táp sẽ phân tán chúng. Còn ngươi, vì Đức Chúa, sẽ mừng vui hoan hỷ, vì Đức Thánh của Ít-ra-en, sẽ hãnh diện, tự hào. 17 Những ai nghèo hèn, khốn khổ, tìm nước không ra, lưỡi khô vì khát, Ta, Đức Chúa, Ta sẽ đáp lời, Ta, Thiên Chúa của Ít-ra-en,Ta sẽ không bỏ rơi chúng. 18 Ta sẽ khai mở sông ngòi trên các đồi trọc, và khe suối dưới các lũng sâu. Ta sẽ biến hoang địa thành hồ ao, biến đất khô nên mạch nước dồi dào. 19 Và trong vùng hoang địa, Ta sẽ trồng bá hương, keo, sim với ô-liu; trên những dải đất hoang, Ta sẽ cho mọc lên một trật nào trắc bá, nào du, nào hoàng dương,20 để cùng một lúc, thiên hạ đều nhìn ra và nhận biết, nghiền ngẫm và hiểu rằng: điều ấy, bàn tay Đức Chúa đã làm nên, điều ấy, Đức Thánh của Ít-ra-en đã tạo thành.
ĐÁP CA: Tv 144
Đ. Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương
. (c 8)
1 Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. 9 Chúa nhân ái đối với mọi người,tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.
10 Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ,kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài,11 nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng.
12 Để nhân loại được tường những chiến công của Chúa,và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang. 13ab Triều đại Ngài: thiên niên vĩnh cửu, vương quyền Ngài vạn đại trường tồn.
TUNG HÔ TIN MỪNG: x Is 45,8
Hall-Hall: Trời cao hỡi, nào gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính, đất mở ra đi, cho nẩy mầm Đấng Cứu Độ. Hall.
TIN MỪNG: Mt 11,11-15
11 Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng: "Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông. 12 Từ thời ông Gio-an Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được. 13 Cho đến ông Gio-an, tất cả các ngôn sứ cũng như Lề Luật đều đã nói tiên tri. 14 Và nếu anh em chịu tin lời tôi, thì ông Gio-an chính là Ê-li-a, người phải đến. 15 Ai có tai thì nghe.”

TRONG CHÚA GIÊSU
CON NGƯỜI TRỞ NÊN TUYỆT HẢO
Đức Giêsu nói: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Bt. Tuy nhiên kẻ nhỏ hơn trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông” (Mt 11,11).
Lời xác định trên Đức Giêsu có ý so sánh ông Gioan Bt với người Công Giáo:
A.    SỞ DĨ GIOAN TẨY GIẢ CAO TRỌNG NHẤT TRONG NHỮNG NGƯỜI DO NGƯỜI NỮ SINH RA là vì, từ thời Adam, Eva và chắc chắn cho đến ngày cánh chung, không một người nào có mặt trên trái đất này giống Đức Giêsu về cuộc sống trên dương thế như ông Gioan. Thực vậy, giữa Đức Giêsu và ông Gioan từ khi sinh vào đời cho đến lúc chết, có nhiều điểm tương đồng rất sít sao, mà trong nhân loại không ai có được.
1.      Cả Gioan, cả Đức Giêsu trước khi được thụ thai trong lòng mẹ đều do Thiên thần Gabriel báo tin (x Lc 1,19 = Lc 1,26).
2.      Cả Gioan, cả Đức Giêsu đều sinh ra từ đôi vợ chồng khác thường: Cha mẹ của Gioan đã gần 100 tuổi mà chưa có con, thế mà ông Dacarya lại được Thiên thần báo tin cho biết: Vợ chồng ông sẽ sinh con; cũng thế, Đức Giêsu được sinh ra trong một gia đình mà vợ chồng không ăn ở với nhau (x Lc 1,7 = Lc 1,34), vì chỉ có ông Giuse sống hướng về cánh chung: “Có vợ mà kể như không có” (1Cr 7,29).
3.      Tên Gioan và tên Đức Giêsu đều được Thiên thần bảo cha mẹ phải đặt con mình như thế (x Lc 1,13 = Lc 1,31).
4.      Thân thế ông Gioan và Đức Giêsu đều thuộc dòng tộc giàu có: Gioan là con vị tư tế ở thành Giêrusalem; Đức Giêsu là Con của Cha trên trời, thế mà cả hai Vị sinh ra trong cảnh nghèo: Gioan sinh ra được nuôi dưỡng trong sa mạc (x Lc 1,80); Đức Giêsu sinh ra được mẹ Ngài lấy tã bọc đặt nằm trong máng cỏ (x Lc 2,7).
5.      Ông Gioan và Đức Giêsu đều thống nhất chương trình hành động. Do đó cả hai Vị đều mở đầu sứ mệnh bằng công thức: “Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến” (x Mt 3,2 = Mt 4,17).
6.      Sứ điệp Tin Mừng của ông Gioan và của Đức Giêsu đều nóng bỏng và dứt khoát, không khoan nhượng cho những kẻ bất lương, nhất là những kẻ không tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất (x Cv 4,12). Cụ thể:
-         Ông Gioan nói với mọi người: “Cái rìu đã để sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái thì bị chặt quăng vào lò lửa” (Mt 3,10). Có nghĩa là ngay hôm nay ai không tin vào Chúa Giêsu để làm việc tốt, thì phải diệt ngay.
-         Còn Đức Giêsu nhìn cây vả lớn, lá sum suê, Ngài đến tìm quả mà không có, dù lúc ấy không phải là mùa trái vả, mà Ngài lại lên tiếng trách nó: “Không bao giờ Ta ăn trái mày nữa!” Sáng hôm sau, các môn đệ đi ngang qua thấy cây vả đã chết khô từ ngọn đến rễ (x Mt 21,18-19): Cây vả lớn là dấu chỉ những người được Thiên Chúa nuôi dưỡng và giáo dục mà hôm nay không trở nên người công chính, nhờ tin vào Chúa Giêsu (x Gl 2,16), thì kẻ đó không thể được cứu độ.
7.      Ông Gioan và Đức Giêsu đều động viên người ta chia sẻ:
-         Ông Gioan nói: “Ai có hai áo hãy chia cho người không có một cái, và ai có của ăn thì cũng hãy làm như vậy” (Lc 3,11).
-         Chúa Giêsu dạy: “Cho thì có phúc hơn là lấy” (Cv 20,35)
8.      Ông Gioan Đức Giêsu đều chết vì chân lý:
-         Ông Gioan dám lên tiếng trách vua Hêrôđê không được cướp vợ anh mình, do đó ông bị cắt đầu (x Mt 14,3t).
-         Đức Giêsu lên tiếng khiển trách những đầu mục Do Thái sống Đạo hình thức: Giả bộ đọc kinh dài để nuốt chửng tài sản bà góa, làm cho người tân tòng thành con cái Hỏa ngục gấp đôi mình, lại còn ngăn cản những ai muốn vào Nước Trời (x Mt 23). Do đó Ngài bị treo trên thập giá (x Mt 27,23t).
B.     KẺ NHỎ TRONG NƯỚC TRỜI CÒN CAO TRỌNG HƠN ÔNG GIOAN TẨY GIẢ.
·        Thuật ngữ “kẻ nhỏ” trong Tân Ước luôn luôn chỉ về những người thuộc về Hội Thánh, những người được Chúa Giêsu cứu độ. Thực vậy, các Tông Đồ là những người lớn tuổi, mà Đức Giêsu đòi hỏi họ phải trở nên trẻ nhỏ mới được vào Nước Thiên Chúa (x Mt 18,3); Ngài nói với các môn đệ: “Hỡi các con thơ bé, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi” (Ga 13,33a); cũng như Ngài nói: “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên nhỏ bé, vì Cha chúng con đã khấng ban Nước Trời cho chúng con” (Lc 12,32).
·        Các thư của thánh Gioan viết cho các giáo đoàn có nhiều người lớn tuổi, thế mà ông luôn luôn gọi họ là: “Hỡi các con thơ bé” (x 1Ga 2,1. 12. 14. 18. 28).
Vậy “kẻ nhỏ trong Nước Trời lớn hơn ông Gioan Tẩy Giả”, chính là người Công Giáo sau khi đã lãnh Bí tích Khai Tâm, họ hơn ông Gioan những điểm sau:
1.      Ông Gioan chỉ là chú phù rể đối với Đức Giêsu (x Ga 3,29); trong khi đó người Công Giáo được gọi là Hiền Thê của Chúa Giêsu, khởi đi từ Bí tích Thánh Tẩy (x 2Cr 11,2).
2.      Ông Gioan sinh ra bởi dòng giống Adam, Eva, thua xa người Công Giáo được tái sinh bởi Adam cuối cùng là Chúa Giêsu (x Cv 2,38). Bởi thế Kinh Thánh nói: “Đấng tác thánh và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt, cùng một sự sống với Chúa Ba Ngôi, đến nỗi được đồng hóa với Chúa Giêsu” (Dt 2,11; Ga 6,57; Gl 2,20).
3.      Ông Gioan so với Đức Giêsu không đáng giá gì, nên ba lần ông nói: “Tôi không phải là Đấng Kitô, tôi không phải là Êlya, tôi không phải là một ngôn sứ”, như người ta đã tưởng lầm ông là thế, ông Gioan chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, và ông tuyên bố: “Đấng đến sau tôi (Đức Giêsu), trổi vượt hơn tôi, tôi không xứng đáng cởi quai dép cho Ngài” (Ga 1,20-27). Như vậy, Đức Giêsu là Số Một, ba lần không của ông Gioan đứng sau Số Một trở thành số ngàn. Rõ ràng nếu không có số một, thì cả tỷ zéro cũng là zéro, nhưng nhờ số một, zéro trở nên giá trị gấp mười! Mà người Công Giáo lại được đồng hóa với Chúa Giêsu về nguồn gốc, về xương thịt, về sự sống (x Gl 2,20; Dt 2,11; Ga 6,57). Bởi thế người Công Giáo còn hơn ông Gioan gấp mười lần, đến nỗi Chúa Giêsu về Trời làm cho ai tin vào Ngài, thì chẳng những làm được như Ngài mà còn hơn nữa (x Ga 14,12). Cụ thể cả cuộc đời Đức Giêsu phục vụ đến chết, mới đưa một anh trộm lành vào Thiên Đàng; còn người Công Giáo mỗi khi đi dự Lễ, hiệp thông với Hội Thánh cầu nguyện cho những người đã qua đời, thì biết bao linh hồn được về Thiên Đàng; hoặc Đức Giêsu không lập một giáo đoàn nào, trong khi đó ông Phaolô đã khai sinh được rất nhiều giáo đoàn…
Mặc dù ta được cao cả hơn ông Gioan Bt, nhưng chỉ được thấy rõ trong ngày cánh chung. Thánh Gioan nói: “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện,chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,2). Bởi đó thánh Phaolô nói: “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi? Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,24-25).
Vì những lý do trên tưởng rằng người Công Giáo phải mừng ngày lãnh Bí tích Thánh Tẩy mới chính là ngày sinh nhật của mình được sinh ra trong Chúa Giêsu, và đã được thanh tẩy tinh tuyền. Còn ngày sinh nhật bởi cha mẹ trần thế, chỉ thuộc dòng giống Adam bị chúc dữ, vì “từ trong lòng mẹ tôi đã là kẻ bất lương” (Tv 51/50,7). Bởi thế, lời kinh “tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng” (Tv 139/138, 14a), chỉ thích hợp cho người Công Giáo.
C.    NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI CHIẾN ĐẤU VÌ TIN MỪNG VÀ ĐI VÀO CON ĐƯỜNG HẸP.
Ai muốn đón nhận được ơn cao trọng nhất là làm con Đức Chúa Trời (x Ga 1,12), đến nỗi được đồng hóa với Chúa Giêsu (x Gl 2,20), thì không phải như kẻ “há miệng chờ sung”, bởi đó Đức Giêsu nói: “Từ thời Gioan Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11,12: Tin Mừng).
Vậy, muốn được trở nên con Thiên Chúa, là người cao trọng nhất trong Nước Trời, thì ta phải mạnh sức (cường bạo) để đón nhận, bắt chước những chứng nhân của Tin Mừng, khởi đi từ thời ông Gioan Tẩy Giả. Cụ thể:
1/ Phải từ bỏ và đi đường hẹp.
Bắt chước lối sống của ông Gioan Bt, tuy ông là con một của gia đình rất giàu có, nhưng nhu cầu sự sống của ông rất đơn giản: “Mặc áo lông lạc đà, thắt xiêm bằng da thú vật, ăn châu chấu và mật ong dại” (x Mt 3,4); và đến cuối đời, ông chấp nhận mất mạng vì không muốn ai phạm tội (x Mt 14,3t). Bởi vậy Đức Giêsu nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,37-39), và “hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14).
2/ Mau lẹ vượt rào cản đến với Chúa Giêsu.
Bắt chước bốn người khỏe khiêng người bất toại đến cho Đức Giêsu, biết không thể đưa bệnh nhân vào lối cửa trước hay cửa sau, vì căn nhà chật ních những người đang nghe Đức Giêsu giảng dạy, thế là bốn người khỏe leo ngay lên mái nhà, dám liều đục một lỗ to và thả người bất toại xuống gấp cho Đức Giêsu! (x Mc 2,1-12). Vì vậy thánh Phaolô nói: “Ai lừng khừng sẽ làm mất ơn Chúa, trở nên kẻ cay đắng gây xáo trộn và làm hư hỏng nhiều người” (Dt 12,15).
3/ Tích cực loan báo Tin Mừng, không ai cấm cản được.
Đan cử: Đức Giêsu chữa lành cho người cùi và người điếc ngọng, Ngài cấm họ không được nói cho ai biết về Ngài. Nhưng lệnh cấm ấy không được tôn trọng, họ càng nói nhiều hơn nữa để mọi người tìm đến với Đức Giêsu (x Mc 1,40t; Mc 7,31t). Vì thế thánh Phaolô nói: “Tôi có sự thật về Đức Kitô, thì không ai bịt miệng tôi được!” (2Cr 11,10).
4/ Đặt việc Nước Thiên Chúa hơn mọi việc trần thế.
Thực vậy, ông Matthêu đang ngồi thu thuế, là một mối lợi lớn cho ông, thế mà khi nghe Đức Giêsu gọi: “Hãy theo tôi”, ông liền bỏ ngay nghề nghiệp về nhà làm tiệc và mời nhiều người tội lỗi đền đồng bàn với Đức Giêsu, rồi ông lên đường đi theo Ngài (x Mc 2,13t). Cả các ông Anrê và Phêrô, Giacôbê và Gioan, đang bận rộn công việc chài lưới, nhưng khi nghe Đức Giêsu gọi, các ông tức khắc theo Ngài (x Mt 4,18-22). Thậm chí, một người xin Đức Giêsu về an táng cha mới qua đời, rồi mới theo Ngài, nhưng Đức Giêsu bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết, phần anh hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa” (Lc 9,59-60).
5/ Phải quảng đại chia sẻ.
Bắt chước ông Giakêu khi được Đức Giêsu đến thăm nhà, ông dám bán cả gia tài, một nửa chia cho kẻ nghèo và đền gấp bốn lần cho những ai ông đã làm thiệt hại (x Lc 19). Sống như ông Giakêu chắc chắn người đời cho là ngu dại, như lời sách Diễm ca nói: “Dù nước lũ có dâng lên, dù sóng thần có ập tới, cũng không vùi lấp được tình yêu, ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh dể!” (Dc 8,7).
6/ Phải khắc phục bản thân sống theo Tin Mừng.
Như thánh Tông Đồ nói:
a.      Tôi được phép làm mọi sự; nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự; nhưng tôi sẽ không để sự gì làm chủ được tôi (1Cr 6,12).
b.      Tôi chạy mà không phải chạy hờ, tôi đấu quyền mà không phải đấm không khí, trái lại, tôi nhắm con ngươi đồng tử mà thụi vào chính thân tôi, và bắt nó quỵ lụy phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại (1Cr 9,26- 27).
Những người sống làm con Đức Chúa Trời trên đây, Đức Giêsu gọi họ là những “kẻ bé nhỏ” trong Nước Thiên Chúa, nhưng họ đã trở nên chứng nhân cường bạo của Tin Mừng, họ làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia loan báo về thời đại Đấng Cứu Thế xuất hiện:
Họ không sợ hãi chi, vì chính Chúa phù hộ họ, dù dưới mắt người đời họ chỉ là loài sâu bọ, những kẻ mọn hèn. Nhưng họ đã được Chúa phù hộ, vì Ngài là Đấng Cứu Chuộc, Ngài đã biến họ thành những cái bừa vừa sắc, vừa mới, vừa đầy răng nhọn – một dụng cụ dùng vào nông nghiệp hiệu quả nhất – họ sẽ làm cho Thiên Chúa vui mừng hoan hỷ. Chúa sẽ khai suối giữa sa mạc, trên đồi trọc hay dưới thung lũng, và cho mọc um lên vườn cây quý giá: nào trắc bá, nào hoàng dương, tức là Chúa biến dữ ra lành, tội ra ơn, chết ra sống cho họ” (x Is 41,13-20: Bài đọc).
Sở dĩ có những người dùng sức mạnh để chiếm hữu ơn làm con Chúa như trên, là vì họ đã nhận ra Con Thiên Chúa xuống thế làm người để canh tân bộ mặt trái đất, hơn nước mưa đổ xuống nương đồng. Do đó ta hãy cầu nguyện cho mọi người đón nhận được Chúa Giêsu, như lời ngôn sứ Isaia nói: “Trời cao hỡi, nào gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính, đất mở ra đi, cho nẩy mầm Đấng cứu độ” (Is 45,8: Tung Hô Tin Mừng), để họ được xứng đáng là chứng nhân của Thiên Chúa: “Ngài là Đấng từ bi và nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 145/144,8: Đáp ca).
Chắc nhiều người Việt còn nhớ vào năm 1972 chuyện tổng thống Bokassa người Phi Châu. Thời gian ở Việt Nam, Bokassa có yêu và làm đám cưới với cô Nguyễn Thị Huệ. Việc lấy được một người lính lê dương làm chồng đã giúp bà Huệ có một cuộc sống khá thoải mái. Tuy nhiên, khi Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định đình chiến ngày 20/7/1954, rồi rút quân đội về nước, thì Bokassa lúc này cũng phải theo đoàn quân thua trận của Pháp lên tàu về nước, để lại cái thai trong bụng bà Huệ, không biết là gái hay trai!
Sau khi chồng về nước, bà Huệ phải một thân một mình tự bươn chải, sống một cuộc sống nghèo khổ. Martine lớn lên cũng chỉ biết mặt bố mình qua một số bức ảnh kỷ niệm mà bà Huệ còn giữ lại. Vào thời điểm ngay trước khi có thông tin Tổng thống Bokassa đi tìm người con rơi ở Sài Gòn thì Martine đang làm… bốc vác cho nhà máy xi măng Hà Tiên, gần Thủ Đức. Những lúc rảnh thì lại đi làm… phu thợ hồ để kiếm thêm thu nhập!
Khi lên làm Hoàng đế Bokassa của nước Trung Phi, và bằng con đường ngoại giao ông nhờ tìm đứa con lạc loài, đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, một người đàn ông có đạo đức, khiến cho mọi người xúc động, cảm kích. Lúc ấy, có rất nhiều bà dẫn con đến tòa Đại sứ Trung Phi nhận là vợ - con ông Bokassa. Nhưng nhờ khoa học người ta đã xác định ai là con thật của vị Hoàng đế này. Đó là bà Huệ và cô con gái Martine ở Tân Thuận Đông. Thế là mẹ con bà từ kiếp sống bần cùng, xã hội không ai quan tâm, nghiễm nhiên trở thành hoàng hậu và công chúa. Khi cô Maritne được đón sang Trung Phi, thời gian sau được người giàu có đến cầu hôn, trong đám cưới ấy, VN phải cử đại diện sang chúc mừng.
Nhưng tưởng rằng niềm vui của mẹ con bà Huệ vẫn thua xa người Công Giáo không có dòng họ gì với Thiên Chúa, lại là kẻ phản bội, đến nỗi giết cả Con Thiên Chúa, thế mà nhờ lòng sám hối và tin theo Chúa Giêsu, lại được đồng hóa với Con Thiên Chúa, như thánh Tông Đồ nói: “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
THUỘC LÒNG
Từ thời ông Gioan Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được (Mt 11,12).
Lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Không có nhận xét nào: