LỜI CHÚA TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH
CÂU TRUYỆN MINH HỌA
LỄ KÍNH THÁNH STEPHANO – VỊ TỬ ĐẠO TIÊN
KHỞI
LỄ KÍNH THÁNH GIOAN - MÔN ĐỆ CHÚA YÊU
LỄ CÁC THÁNH ANH HÀI - HÀI NHI CHẾT VÌ
CHÚA
NGÀY 29/12 - CỤ GIÀ SI-MÊ-ON CHỜ ĐỢI
NGÀY 31/12 – NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI
NGÀY 01/01 - ĐỨC MARIA MẸ THIÊN CHÚA
GIÁNG SINH LỄ VỌNG
Lời Chúa : Mt 1, 18-25
Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn
cảnh sau đây:
Mẹ Người là Maria đính hôn với
Giuse, trước khi về chung sống với nhau, bà đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.
Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ
bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì thiên thần hiện đến cùng
ông trong giấc mơ và bảo:
"Hỡi Giuse con vua Ðavít,
đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình: vì Maria mang thai là bởi phép Chúa
Thánh Thần; bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người
sẽ cứu dân mình khỏi tội.” Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời
Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng:
"Này đây một trinh nữ sẽ
thụ thai, hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa
là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”
Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện
như lời thiên thần Chúa truyền. Ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với
nhau, cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là
Giêsu.
TRUYỆN KỂ
1. Ưu tiên chọn ý Chúa
Một phụ nữ trong cơn ghen đã
dùng kim vá lốp đâm xuyên thủng đầu một bé sơ sinh con của tình địch mình. May
thay, bé đã thoát chết trong gang tấc. Một phụ nữ khác nổi giận với thói trăng
hoa của chồng đã ném chính con mình xuống giếng.
Chuyện ghen tuông không phải là
mới, thế nhưng đánh ghen mà hại đến cả người con thì quả thật đã làm dư luận phẫn
nộ. Cả hai sự kiện đều liên quan đến những ông bố như là nguyên nhân. Nhà dột từ
nóc!
Trong hoàn cảnh tuột dốc đạo đức
như thế, thánh Giuse càng trở nên gương mẫu cho các người cha gia đình. Ngài
thao thức tìm ý Chúa và khi phải chọn lựa, ngài luôn ưu tiên chọn ý Chúa. Định
tâm lìa bỏ Mẹ Maria, nhưng khi ý Chúa thúc giục đón nhận Mẹ, thánh Giuse vâng
theo ngay. Nghe thiên sứ thúc giục di tản gia đình sang Ai-cập, ngài thực thi mệnh
lệnh, không chần chừ. Thánh kinh cho biết rằng, thánh nhân luôn thi hành theo
luật định.
Không phải ngài không có những
cám dỗ chiều theo ý riêng mình; chẳng phải ngài không dám tự quyết định, nhưng
vì là người công chính, thánh thiện, ngài đã lấy ý Chúa làm ý của mình. Ngài là
một người cha mẫu mực cho mọi người làm cha.
Quyền gia trưởng dễ làm người
ta quên mất ý Chúa cũng như quên mất giới hạn và yếu hèn của mình. Gương thánh
Giuse giúp cho những ai muốn xây dựng hạnh phúc gia định.
2. Thánh Giuse thinh lặng
Các sách Tin Mừng không tường
thuật bất kỳ lời nào của thánh Giuse, ngay cả lúc tìm thấy trẻ Giê-su trong Đền
thờ.
Sự thinh lặng ấy, đối với gia
đình, hàm chứa yêu thương; còn đối với Thiên Chúa, có nghĩa là vâng phục, vâng
phục khi chân thành giữ Luật của Thiên Chúa. Con trẻ Giêsu được tám ngày tuổi,
ngài giữ luật cắt bì và đặt tên cho con. Con trẻ được bốn mươi ngày tuổi, ngài
đem con lên Đền Thờ để tiến dâng con cho Thiên Chúa cũng đúng theo luật.
Thinh lặng là bầu khí cho cuộc
sống kết hợp thân mật với Chúa; vì thế mà thánh Giuse dễ dàng nhận ra ý Chúa và
vâng theo. Khi băn khoăn về bào thai trong lòng Maria, Giuse tìm kiếm Thiên
Chúa và vâng phục ý Ngài để đón nhận Maria. Khi gia đình gặp cơn nguy khốn,
thánh Giuse tìm gặp Thiên Chúa để vâng theo, đem gia đình thoát cơn bách hại.
Tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa và
thinh lặng vâng theo là gương mẫu của thánh Giuse cho chúng ta.
Mùa vọng nhắc nhở chúng mình
đón nhận và vâng phục Chúa Giêsu, con Thiên Chúa làm người. Theo gương thánh
Giuse, bạn gìn giữ lề luật Thiên Chúa và luôn suy niệm tìm thánh ý Ngài.
3. Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta
Vì yêu thương, Đức Cha Gioan
Cassaigne (Cát-xe-nhơ) đã sống 18 năm trời với những người cùi ở Di Linh, để rồi
mang lấy bệnh cùi như họ, chết đi giữa họ… Vì yêu thương, Mẹ Têrêsa đã tìm đến
những khu ổ chuột ở Can-cút-ta để sống với những người nghèo, người bất hạnh, để
cảm thông, chia sẻ, an ủi họ, đem lại cho họ niềm vui và hy vọng.
Những cuộc dấn thân như thế của
các môn đệ Đức Giêsu phản ảnh chính tình yêu nhập thể của Thầy mình, Vị “Thiên
Chúa ở cùng chúng ta”! Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ đến ở bên ta, mà thực
sự trở thành một người giữa chúng ta! Người đảm nhận 100% thân phận của ta, chỉ
trừ tội lỗi. Người đã sinh ra, đã lớn lên ở Nadarét. Người đã ngược xuôi giữa
những người nghèo trên khắp ngả đường Pa-lét-tin, và cuối cùng đã chết như một
tội nhân trên Núi Sọ.
Yêu người là hiện diện với người,
kết hợp với người, chia sẻ trọn vẹn định mệnh của người! Bạn chuẩn bị đón mừng
Chúa Giáng Sinh như thế nào? Mỗi ngày, trong hy tế Thánh Thể, ta cử hành chính
sự hiện diện và sự kết hợp đầy yêu thương của Vị Thiên Chúa nhập thể. Và khi bạn
thật sự có Chúa trong mình, người chung quanh chắc chắn sẽ nhận ra Người khi tiếp
xúc, làm việc và sống với bạn.
4. Thiên Chúa ở cùng chúng ta
Andy Vagas là một người ăn xin
được nhiều người ở California biết đến. Ông nổi tiếng vì được gọi là người hành
khất triệu phú.
Trước kia là một người ăn xin
khốn khổ, nhưng một hôm ông nhặt được một tờ vé số trong thùng rác. Ông trúng
ngay lô đặc biệt và trở nên triệu phú. Trở nên triệu phú, ông trích ngay 20.000
đôla làm quĩ học bổng cho các sinh viên học sinh nghèo mà hiếu học của thành phố.
Rồi sau đó ông vẫn tiếp tục hành nghề ăn xin để có dịp gần gũi với những người
bất hạnh và âm thầm giúp đỡ họ trong cảnh nghèo đói.
Khi Ađam-Eva phạm tội, nguyên tổ
loài người đã từ khước Thiên Chúa. Vắng bóng Thiên Chúa, cuộc sống nhân loại trở
nên nghèo khổ, cùng cực và mất hết ý nghĩa: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới
có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi
là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (Stk 3,18-19).
Nhưng Thiên Chúa, Đấng dựng nên
con người theo hình ảnh Ngài, đã không bỏ quên chúng ta. Ngài hứa ban ơn cứu độ:
“Chẳng ai còn réo tên ngươi: "Đồ bị ruồng bỏ! " Xứ sở ngươi hết bị tiếng
là "Phận bạc duyên đơn."
5. Điều tốt nhất
Một lúc trước khi chết, John
Wesley (1703-1791), nhà sáng lập giáo phái Methodist, có ý nói điều gì. Ông cố
tỏ ra cho những người đứng quanh nhưng chẳng ai hiểu. Ông nằm im một lúc rồi
dùng hết sức lực thốt lên cách rõ ràng và mạnh mẽ những lời sẽ trở thành khẩu
hiệu của giáo phái Methodist: “Điều tốt nhất là Chúa ở cùng chúng ta” (The best
of all - God is with us).
Ơn cứu độ không chỉ đơn thuần
tha tội mà còn nâng lên, và đưa chúng ta bước vào một tương quan thân mật và gần
gũi với Thiên Chúa. Mỗi một chữ trong bản gia phả đều vang lên tình yêu của
Thiên Chúa, Đấng chia sẻ đến cùng thân phận làm người: Vô tội nhưng chịu sinh
ra trong một dòng giống hèn mọn và tội lỗi để cho con người được thông phần bản
tính Thiên Chúa, và nên anh em nghĩa thiết với Ngài.
Chúa đã làm người như tôi để sống
với tôi! Tôi còn tìm ở đâu một tình yêu lớn lao hơn?
GIÁNG SINH LỄ ĐÊM
Lời Chúa : Lc 2, 1-14
Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế
Cêsarê Augustô ban ra, truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra. Ðây là cuộc kiểm
tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria. Mọi người đều lên
đường trở về quê quán mình. Giuse cũng rời thị trấn Nadarét, trong xứ Galilêa,
trở về quê quán của Ðavít, gọi là Bêlem, vì Giuse thuộc hoàng gia và là tôn thất
dòng Ðavít, để khai kiểm tra cùng với Maria, bạn người, đang có thai.
Sự việc xảy ra trong lúc ông bà
đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai
đầu lòng. Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà
không tìm được chỗ trong hàng quán.
Bấy giờ trong miền đó có những
mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật mình. Bỗng có thiên
thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh quang của Thiên Chúa bao toả chung
quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ. Nhưng thiên thần Chúa đã bảo họ rằng:
"Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt,
đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô, Ðấng Cứu Thế, đã giáng
sinh cho các ngươi trong thành của Ðavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận
biết Người: Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm
trong máng cỏ.”
Và bỗng chốc, cùng với các
thiên thần, có một số đông thuộc đạo binh thiên quốc đồng thanh hát khen Chúa rằng:
"Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người
thiện tâm.”
TRUYỆN KỂ
1. Hài nhi Giêsu – quà tặng của Thiên Chúa
Vào mỗi dịp Giáng Sinh, người
ta trưng bày nhiều kiểu Hang Đá với những Hài Nhi Giêsu khác nhau: Hài Nhi bằng
sứ, Hài Nhi bằng đồng, Hài Nhi bằng thạch cao,… Hài Nhi mang phong cách nước Ý,
Hài Nhi có hình dáng Pháp, Hài Nhi kiểu Mỹ…
Nhưng cách đây 5 năm, đã xuất
hiện một Hài Nhi đặc biệt: Hài Nhi bằng xương bằng thịt trên đất nước Việt Nam
chúng ta.
Câu chuyện lạ lùng này đã xảy
ra tại một Giáo Xứ thuộc Giáo Phận Xuân Lộc, vào ngày 23 tháng 12, Mùa Giáng
Sinh năm 1997.
Vào lúc 5 giờ sáng ngày hôm ấy,
một gia đình ở sát nhà thờ giáo xứ đã nghe thấy tiếng trẻ sơ sinh khóc trong
sân nhà thờ. Người ta đến xem thì phát hiện ra một điều hết sức kỳ lạ: một đứa
bé gái mới sinh khoảng hai ngày, bọc trong hai chiếc khăn lông, được đặt ngay
trong hang đá đang làm dở dang tại sân nhà thờ. Ngoài ra, người ta còn nhìn thấy
một bình sữa đã nguội ngắt từ bao giờ, được đặt bên cạnh đứa bé.
Gia đình Công Giáo tốt bụng kia
đem đứa trẻ về nhà để chăm sóc. Nó có vẻ mệt lả vì đói và lạnh.
Người ta kể lại rằng: họ đã
nghe thấy tiếng của một chiếc xe Minsk chạy vào sân Nhà Thờ, sau đó không nghe
thấy gì nữa. Người ta đoán rằng chiếc xe Minsk đã chở người mẹ đến bỏ đứa con
thơ vào trong hang đá, rồi lặng lẽ ra đi.
Khi nghe tin, một người phụ nữ
trong xứ tên là Lê Thị Tho thuộc Gia Đình An Phong, thường hay đón nhận và nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi, đã đến để nhận đứa bé về nuôi.
Khi đến nơi, chị Tho nhìn thấy
một cảnh tượng rất mủi lòng: đứa bé được lót lưng bằng một cái bao dùng để đựng
phân hóa học, đặt trên một cái bàn, bên trên úp một cái lồng bàn. Lúc ấy, đứa
bé không còn khóc nổi nữa vì nó đã kiệt sức.
Chị Tho đã đưa đứa bé về đặt
tên là Lê Mai Thiên Ân: Lê là họ mẹ nuôi, Mai mang âm hưởng tên Maria, Thiên Ân
là ơn Trời: nghĩa là “Ơn Thiên Chúa ban qua tay Mẹ Maria.”
Bé Lê Mai Thiên Ân nay đã được
5 tuổi, đang sống chung với hai bé mồ côi khác dưới mái ấm tình thương của người
mẹ giàu tình thương.
Một lần kia, bé Ân đã hỏi một
cách rất ngây thơ: “Con bị bỏ vào hang đá có phải để làm cho Đức Mẹ vui không?
Vì Đức Mẹ ở một mình thì buồn lắm!”
Đó cũng chính là câu hỏi dành
cho chúng ta trong đêm nay.
2. Được làm người
Tại Haminski, một ngôi làng nhỏ
bé của Hà lan, có một thanh niên tên là Hans Feken. Anh bị mọi người khinh miệt,
bỏ rơi vì vóc dáng bên ngoài quá xấu xí. Buồn sầu và tủi hổ vì số phận hẩm hiu,
anh lầm lũi kéo lê cuộc sống của thân xác, nhưng tâm hồn như đã chết từ lâu.
Rồi cũng đến một ngày mà cuộc sống
cô độc của anh cũng chấm dứt. Anh qua đời, tất nhiên là trong cô đơn và thinh lặng
như anh đã sống. Sau khi an táng, người ta tìm thấy tờ di chúc của anh. Người
ta ngạc nhiên thấy gia tài của anh lớn đến 40.000 đôla, được để lại một cho một
em gái chẳng có liên lạc bà con ruột thịt gì với anh. Tên em là Amatin.
Trong tờ di chúc, anh đã nói
lên cái lý do mà anh muốn nhường tất cả gia tài cho cô bé: “Tất cả các ông, các
bà, các cô, các cậu đều đã cau mày hoặc quay mặt nhìn đi nơi khác mỗi lần gặp
tôi. Nhưng một ngày kia, tôi đã gặp Amatin, em đã âu yếm tặng tôi một nụ cười
khả ái đầy tình thương. Đó chính là nụ cười chân thành và duy nhất mà tôi đã nhận
được trong suốt cuộc đời đau thương và ngắn ngủi của tôi.”
Hans đã gửi 40.000 đôla, tất cả
những gì anh có, cho một nụ cười vì nụ cười đó làm cho anh được sống như một
con người trong giây lát.
Hôm nay, cả vũ trụ cũng phải hợp
với Đức Maria hát kinh Magnificat để ngợi khen và tạ ơn Chúa vì công trình cứu
độ! Giây phút Chúa nhập thể làm người cũng là giây phút nhân loại bắt đầu được
giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi, giây phút mỗi người được mời gọi bước vào một
đời sống mới, sống trong sự tự do của người con Chúa.
3. Khao khát sống
Sau khi chịu chức linh mục, cha
Vianney được sai đến Ars, một xứ đạo khô khan, nguội lạnh, và từ lâu không có
Thánh lễ. Có người nói với cha Vianney: “Ở đấy chẳng có việc gì để làm cả”,
nhưng cha Vianney trả lời: “Như vậy là có nhiều việc phải làm rồi đó.”
Với cái nhìn của một
‘Kitô-khác’, cha thấy được cái đói và sự tối tăm trong tâm hồn đang hoành hành ở
xứ Ars, như ở bất cứ nơi nào không có sự hiện diện của Thiên Chúa. Vì thế, việc
đầu tiên cha Vianney thấy cần phải làm là tìm cách đưa Chúa vào đời sống dân
chúng. Ngài đã bắt đầu từ chính ngài: Thức dậy từ hai giờ sáng để cầu nguyện, rồi
dâng Thánh lễ, và sau Thánh lễ, cha còn quì lại cám ơn và cầu nguyện đến trưa,
gối quì trên nền nhà, mắt hướng về Nhà Tạm.
Rồi sau đó,… người ta dần dần
kéo nhau đến làm cho ngôi nhà thờ cũ kỹ lại trở nên chật chội với những hối
nhân…?!
Như với Dân Chúa xưa, sự hiện
diện của Chúa làm cho tâm hồn mọi người bừng sáng lên: “Dân đang lần bước giữa
tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay
được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1).
Người người tuôn đến nhà thờ
Ars mà trước đó bị bỏ hoang cho thấy Chúa luôn là nỗi khao khát nằm sâu thẳm
trong tâm hồn mỗi người.
4. Thiên Chúa gần gũi với con người
Thi sĩ Tagore trong tác phẩm
“Tâm Tình Dâng Hiến” đã ghi lại đoản khúc: “Hạt sương rơi bên vệ đường than
khóc vì số phận mong manh của mình, nhưng mặt trời lên liền cúi xuống và hỏi: Tại
sao em khóc?”
Phải chăng thi sĩ muốn diễn tả
sự gần gũi, thân thiện giữa trời và đất, giữa Đấng Tạo thành và vật được tạo
thành? Quả thật Thiên Chúa đã muốn gần gũi con người đến mức cho Con yêu quý của
mình sinh ra làm một người trong gia đình nhân loại để cứu độ nhân loại:
“Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên
Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng cùng Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm
nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6).
5. Cùng muôn tạo vật ca khen tình yêu Chúa
Từ núi rừng Tây Nguyên huyền
bí, tiếng hát sử thi len lỏi qua từng tàng cây, từng vách đá, toả lan trên từng
mái nhà của các buôn làng, làm cho lòng người mở ra, hoà mình với tạo vật, nơi
thấm đẫm sự hiện diện linh thánh của thần linh. Từ ngày 24-26/10/2008 tại Buôn
Ma Thuột đã diễn Hội thảo quốc tế Sử Thi Việt Nam, giới thiệu kho tàng sử thi đồ
sộ còn “sống sót” trong văn hoá các dân tộc miền núi. Nhưng tiếc thay, theo
giáo sư Tô Ngọc Thanh, “môi trường thiêng” của sử thi Tây Nguyên đã mất. Mất vì
sự phá hoại tàn bạo của bàn tay con người!
Trong biến cố Giáng Sinh, Con
Thiên Chúa làm người, là Emmanuen, là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Sự hiện diện
của Ngài đã trả lại cho vũ trụ tính cách linh thánh của nó và đòi hỏi con người
phải tôn trọng.
Hãy đến bên máng cỏ với tâm
tình rất đơn sơ khiêm hạ, và lắng đọng trong sự thinh lặng của tâm hồn, để đắm
chìm vào không gian linh thánh của cánh đồng Bêlem lung linh ánh sao, tràn ngập
tiếng hát của muôn vàn thiên sứ trong đêm Chúa Hài Nhi giáng sinh.
6. Anh Ngạc Nhiên
Tại miền Nam nước Pháp, có một
máng cỏ khá nổi tiếng. Trong số các nhân vật đứng và quì nơi máng cỏ này, du
khách thường chú ý tới một con người nhỏ bé với hai bàn tay trống trơn và mở rộng,
nhưng gương mặt lại để lộ một vẻ ngạc nhiên khó mà diễn tả nổi. Vì thế, người
ta đã đặt cho nhân vật này cái tên gọi là Ngạc Nhiên. Dân địa phương thường giải
thích về sự ngạc nhiên của anh bằng một mẩu chuyện như sau.
Hôm đó, tất cả các nhân vật nơi
máng cỏ, kể cả mấy chú bò lừa đều tỏ ra khó chịu đối với anh, bởi vì anh không
có gì để mang tặng cho Chúa Hài Nhi, ngoài hai bàn tay trống trơn của mình. Và
thế là họ bắt đầu xỉ vả anh:
- Mày không biết xấu hổ hay
sao? Mày đến thăm Chúa Hài Nhi mà không mang theo gì cả ư?
Thế nhưng, anh không để lộ một
phản ứng nào, ngoài cặp mắt mở to và chăm chú nhìn vào Hài Nhi Giêsu. Những lời
rủa xả vẫn cứ tiếp tục trút xuống trên anh, đến nổi Mẹ Maria phải lên tiếng
bênh vực cho anh.
Quả thực, mặc dù đã đến với
Chúa Hài Nhi bằng đôi bàn tay trắng, thế nhưng anh đã mang tới một món quà cao
đẹp nhất, đó là sự ngạc nhiên của anh. Điều này có nghĩa là Tình Yêu bao la của
Thiên Chúa đã chiếm trọn tâm tư anh. Và Mẹ Maria đã kết luận như sau:
- Thế giới này sẽ kỳ diệu biết
bao nếu như luôn có những người giống anh, biết ngây ngất và ngạc nhiên trước
quyền năng và tình thương vô biên của Thiên Chúa.
Trước Máng Cỏ Bêlem, thật ngạc
nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Lời hứa từ
thuở ban sơ, hôm nay đã được thực hiện. Thiên Chúa tỏ bày tình thương bằng cách
trao ban chính Con Một của Ngài cho nhân loại. Thánh Phaolô diễn tả: Thiên Chúa
bước xuống phận con người, để con người tiến lên ngôi Thiên Chúa.
7. Hãy làm người với nhau
Năm 1994, một bức ảnh làm cả thế
giới đau lòng. Đó là bức ảnh đoạt giải Pulizer của nhà báo Kevin Carter, chụp tại
Sudan.
Năm đó Sudan vừa có nội chiến vừa
gặp nạn đói lớn. Bức ảnh đó chụp một bé gái da đen đói lả đang lết về phía trạm
phân phát lương thực của Liên Hiệp Quốc cách đó khoảng 1km. Phía đàng sau em bé
là một con kền kền kiên nhẫn đứng đợi em chết để ăn thịt.
Theo lời kể của Kevin, anh đã đợi
đến 20 phút mà con kền kền vẫn không chịu bay. Anh chụp tấm ảnh rồi đuổi con kền
kền đi.
Số phận của đứa bé ra sao không
ai biết, kể cả Kevin là người chụp tấm hình nổi tiếng đó.
Tấm hình nổi tiếng đó nói lên nỗi
thống khổ lớn nhất của con người ở mọi thời, là đói khát, cô đơn và mất hy vọng!
Tình trạng khốn quẫn của em bé đó phác lên vài nét cốt yếu cho bức tranh đau khổ
của nhân loại, khi mà cái đói thực sự không phải là thiếu lương thực mà là thiếu
tình thương.
Thế giới hôm nay có nhiều phát
minh vượt bực giúp con người đặt chân lên mặt trăng, và đã có các vệ tinh đổ bộ
lên sao Hoả. Khoảng cách giữa các hành tinh như gần lại, nhưng khoảng cách giữa
lòng người lại không như thế, từ chuyện lớn quốc gia đại sự cho đến chuyện nhỏ
trong nhà ngoài ngõ, xung đột, bất an vẫn còn nhiều.
Bởi đó, để xây dựng một thế giới
an lành và hạnh phúc, tình yêu và sự sống phải là vấn đề đầu tiên cần được lưu
tâm. Ngôn sứ Isaia đã loan báo như thế về thời đại của Đấng Cứu Thế : “Họ sẽ lấy
gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm” (Is 2,4)
8. Hoàng Tử và Cậu Bé Nghèo
Văn hào Anh Mark Twain cách đây
ba thế kỷ, có viết một quyển tiểu thuyết mang tựa đề "Hoàng tử và cậu bé
nghèo.” Chuyện kể lại tình bạn của hai cậu bé giống hệt nhau khiến người ta tưởng
là sinh đôi. Một trong hai cậu bé tên là Edward, hoàng tử xứ Galles. Còn Tom
Canty, người bạn của vị hoàng tử, lại là một cậu bé con nhà nghèo.
Một ngày kia, hai cậu bé có một
ý nghĩ ngộ nghĩnh là thay đổi địa vị xã hội. Tom vào thế chỗ của vị hoàng tử
Edward trong triều đình, còn Edward thì khoác lên mình mảnh áo rách rưới và bắt
đầu cuộc phiêu lưu. Cậu lang thang đầu đường xó chợ bên cạnh những người cùng cực
nhất trong xã hội.
Thế nhưng một lúc nào đó, hai cậu
bé cũng cảm thấy mệt mỏi với trò chơi đầy phiêu lưu này. Edward mới sực tỉnh về
ngôi vị hoàng tử của mình. Trong bộ quần áo rách rưới nhơ bẩn, cậu tìm đủ mọi
cách để chứng minh rằng mình là hoàng tử nối ngôi của xứ Galles. Nhưng cảnh sát
đã không tin... Thế là hoàng tử Edward đành phải lặng lẽ bước vào tù vì tội giả
mạo.
Giữa lúc Tom, cậu bé nghèo, sắp
sửa được tấn phong làm vua, thì hoàng tử Edward xuất hiện... Không mấy chốc cậu
đã được phục hồi trong ngôi vị hoàng tử của cậu. Chính nhờ kinh nghiệm của những
tháng ngày làm người ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ với những người cùng
khổ, mà Edward đã trở thành một vị vua đạo đức và giàu lòng thương người.
Cũng giống như câu chuyện trên
đây, Thiên Chúa đã đến giữa loài người để hoán đổi vị thế với chúng ta. Ngài mặc
lấy thân xác nghèo hèn của chúng ta để chúng ta được mang lấy tước phẩm được
làm con Chúa. Nhờ ân sủng của Ngài, Ngài chia sẻ với chúng ta sự sống thần linh
và đón nhận trong thân xác Ngài tất cả những hệ lụy của kiếp sống khổ đau của
con người.
9. Bất ngờ vượt mọi bất ngờ
Cố thi sĩ Bàng Bá Lân trước khi
trở thành kitô hữu, đã diễn tả tâm tình của mình trong đêm Giáng Sinh qua mấy vần
thơ:
“Tôi không phải là người công giáo,
Thiếu niềm tin, không quỳ lạy cầu kinh.
Nhưng đêm nay lòng cảm thấy lung linh,
Và xao xuyến như tín đồ xao xuyến”
Lung linh, xao xuyến không phải
vì những cảnh xa hoa tráng lệ của ngày lễ No-en. Lung linh, xao xuyến vì một điều
siêu bất ngờ và vượt quá mọi bất ngờ. Thiên Chúa cao sang làm người phàm hèn mọn!
Đấng Cứu Độ đến thiết lập một triều đại công lý và hòa bình, thế nhưng, dấu chỉ
để nhan ra Ngài thì thật mong manh: “một hài nhi bọc tã, nằm trong máng cỏ,”
Ngôi Lời Thiên Chúa nằm trong máng dành cho súc vật!
Hãy tự hỏi vì ai mà Chúa chịu
nông nỗi này? Vì ai Thiên Chúa chấp nhận bị thương tổn, bị quấy rầy, hạ mình
sát đất đen. Vì ai nếu không phải vì bạn, vì chúng ta?
10. Tiệm tạp hóa bên kia ngọn đồi
Khi ánh mặt trời vừa ló dạng,
có một chàng thanh niên đứng đợi trước cửa hàng tạp hóa bên kia ngọn đồi. Chờ
mãi mà cửa vẫn chưa mở. Sắp sửa định bỏ đi, thì bổng có tiêng mở cửa và một
thiên thần xuất hiện:
- Anh cần gì? Tôi là chủ ở đây.
- Ở đây Ngài có bán hòa bình
không?
- Tôi bán tất cả.
- Con muốn mua hòa bình đem vào
nơi chiến tranh, mua an hòa đem vào nơi tranh chấp, mua chân lý đem vào chốn lỗi
lầm…
- Còn mua gì nữa nào?
- Con muốn mua ánh sáng chiếu
vào nơi tối tăm, mua niềm vui đem vào chốn u sầu…Con muôn mua tất cả những gì để
thế giới không còn khủng bố, chiến tranh, bạo lực, hận thù, ghen ghét, để mọi
người hít thở trong không khí trong lành, huynh đệ yêu thương…Vâng con muốn mua
được những liều thuốc chữa được mọi bệnh tật, mọi người được no cơm ấm áo…
- Thiên thần từ tốn đáp: Nầy
anh, ở đây không bán quả. Thượng Đế giao cho tôi chỉ bán hạt giống thôi…
11. Tìm kiếm điều quý báu
Chuyện kể rằng, có hai người bạn
chia tay nhau đi tìm điều quí giá nhất trên đời. Họ hẹn sẽ gặp lại sau khi đã
tìm thấy. Người thứ nhất đi tìm viên ngọc quí. Bất cứ nơi nào bán đá quí, anh đều
tìm đến. Cuối cùng, anh cũng mãn nguyện vì đã tìm được viên ngọc quí, anh trở lại
quê hương chờ bạn.
Người thứ hai đi tìm Chúa. Anh
đi khắp nơi thọ giáo các bậc thánh hiền, cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm, nhưng vẫn
không tìm được Chúa.
Nhiều năm trôi qua, đang lúc
tuyệt vọng, anh nhìn dòng sông lững lờ: một đàn vịt con đang bơi lội tung tăng.
Trong khi vịt mẹ tìm con, thì bày con lại cứ muốn rời mẹ tìm ăn riêng. Vịt mẹ
chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, cứ lẽo đẽo theo bày con và gom chúng lại. Thấy cảnh vịt
mẹ mải mê tìm con như thế, anh mỉm cười trở về quê hương.
Khi người bạn hỏi điều quí mà
anh đã tìm được là gì, khiến gương mặt anh rạng rỡ như thế. Lúc đó, con người
trở về với hai bàn tay trắng, nhưng tâm hồn tràn ngập niềm vui mới thốt lên: -
Điều quí giá mà tôi đã tìm thấy, đó là trong khi tôi đi tìm Chúa, thì chính Người
đã đi tìm tôi. “Ngôi Lời đã nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta.” Nhiều khi chúng
ta tưởng mình đi tìm Chúa, nhưng thật sự là chính Chúa đi tìm chúng ta trước.
Ngay khi con người sa ngã phạm
tội, Thiên Chúa đã lên kế hoạch cứu chuộc. Ngay khi con người phản bội bất
trung, Thiên Chúa đã mở lối cho họ quay bước trở về. Ngay khi con người vô
phương cứu lấy chính mình, Thiên Chúa đã sai Con Một đem thân cứu độ.
Đêm nay là đêm giao duyên đất
trời, đêm hội hoa đăng, đêm đầy ánh sáng, đêm Thiên Chúa viếng thăm con người.
Đúng như thông điệp chứa chan hy vọng của tiên tri Isaia: “Một hài nhi đã sinh
ra cho chúng ta và một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta.”
Con người không thể lên tới
Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã xuống với con người. Chúa xuống trần gian để cho
trần gian biết đường về trời. Chúa mặc lấy bản tính con người để cho con người
trở nên con cái Chúa: Thánh Gioan viết: “Những ai tin ở Người thì Người ban cho
quyền được làm con Thiên Chúa.”
12.
GIÁNG SINH LỄ RẠNG ĐÔNG
Lời Chúa : Lc 2, 15-20
Khi các thiên thần biến đi, thì
các mục tử nói với nhau rằng: "Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự việc đã xảy
ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết.” Rồi họ hối hả tới nơi và gặp thấy Maria,
Giuse và Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ đã hiểu ngay lời
đã báo về Hài Nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục
tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những
sự việc đó, và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi
Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.
TRUYỆN KỂ
1. Món quà của lòng nhân ái
Có một bà mẹ sau đi dự
tiệc, người ta đưa cho bà trái cam để ăn tráng miệng, nhưng vì nghĩ
đến đứa con ở nhà, nên bà bỏ trái cam vào túi.
Đứa con thấy mẹ về nên hớn
hở chạy ra đón, bà liền trao trái cam cho con. Em bé mừng quýnh cám
ơn mẹ, rồi định lấy dao bổ cam ra ăn cho đỡ thèm! Nhưng em chợt nghĩ
đến bố đang đạp xích lô nắng nôi thiêu cháy ngoài đường, em thương bố
nên cất trái cam đợi bố về để tặng bố.
Khi ông bố vừa về đến nhà,
em bé cầm trái cam chạy đến nói:
- Thưa bố, chắc bố mệt
lắm, con có trái cam biếu bố ăn cho đỡ mệt nè, để con phụ đem xích
lô vào nhà cho.
Ông bố vô cùng cảm động
trước cử chỉ của con, ông cám ơn con và định không nhận, nhưng em cứ
nằng nặc đòi bố phải lấy ăn cho đỡ mệt!
Cầm trái cam vào nhà, ông
định lấy dao bổ ra cho hai cha con ăn. Nhưng ông chợt nghĩ: con mình còn
bé mà còn biết cách làm cho cha mẹ vui, sao mình không biết nghĩ đến
vợ đang vất vả trong bếp? Vì ở đâu có tình yêu ở đấy có quà tặng!
Thế là ông cầm ngay trái cam vào bếp tươi cười chào vợ và nói:
- Anh đi làm về, không có
gì để tặng em, chỉ có trái cam này, em dùng cho đỡ mệt.
Như thế cả gia đình vợ
chồng con cái đã biết sống lời thánh Gioan nói: “Đừng ai yêu bằng
đầu lưỡi, nhưng yêu bằng việc làm thực sự!” (1Ga 3,18).
2. Mọi người là anh em
“Vương quốc Fanxica là một đất
nước thái bình, thịnh vượng. Nhà vua và hoàng hậu lại có diễm phúc sinh được
hai hoàng tử khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn và có khí phách dũng cảm của bậc
anh hùng. Hai vị hoàng tử này lại thương yêu hòa hợp với nhau, đêm ngày gắn bó
với nhau như hình với bóng.
Trong khi đó, vua nước láng giềng
là một người cực kỳ nham hiểm và ác độc. Ông này nuôi mối căm thù với vua
Fanxica bằng một mối thù truyền kiếp. Lòng căm thù của ông lại càng dâng cao
khi thấy vua Fanxica có hai hoàng tử khôi ngô tuấn tú, vũ dũng hơn người, trong
khi mình thì không có lấy một mụn con. Vì thế, ông rắp tâm hạ sát hai vị hoàng
tử kia cho bằng được.
Vua độc ác biết hai vị hoàng tử
thường hay vào rừng săn bắn, nên vua cho người mai phục, giăng bẫy bắt được
hoàng tử em. Sau khi hay tin em mình bị mất tích trong rừng, hoàng tử anh một
mình một ngựa xông xáo vào rừng tìm em. Không ngờ chính anh cũng bị vua độc ác
giăng bẫy bắt được. Tên vua độc ác giam hai anh em vào hai ngục tối biệt lập
nên hai hoàng tử không hề hay biết gì về người kia.
Theo thông lệ hằng năm, vào dịp
sinh nhật của vua, vua cho tổ chức những cuộc quyết đấu giữa những con ác thú,
để chúng phanh thây xé xác nhau làm trò vui cho quan quân và dân chúng. Năm
nay, thay vì cho ác thú đấu nhau, nhà vua ác độc bắt hai tù nhân vạm vỡ khỏe mạnh,
mỗi người mang một bộ da sư tử trên mình, đeo thêm mặt nạ sư tử, và buộc họ phải
quyết đấu cho đến khi một trong hai người phải chết. Ai sống sót sẽ được trả tự
do.
Cả đấu trường hò la vang dậy
khi quân lính dẫn hai đấu thủ mặc lốt sư tử bước ra. Với thanh mã tấu trên tay,
hai con người lốt sư tử xông vào nhau chiến đấu vô cùng ác liệt như hai ác thú
say mồi. Đám đông cổ võ hò la vang trời dậy đất. Cuộc chiến kéo dài hơn cả tiếng
đồng hồ mà vẫn bất phân thắng bại. Cả hai đấu thủ mệt nhoài, mình mẩy hai người
đều đầy thương tích máu me… Nhưng không ai chịu nhường ai. Mỗi người đều dốc hết
toàn lực để hạ đối thủ, để dành sự sống, để được trả tự do, để khỏi làm nô lệ
suốt đời. Chỉ có chiến thắng hay là chết. Cuối cùng bằng sức mạnh và sự khéo
léo, đấu thủ cao người hơn đã vung đao chém xoạc mặt đối phương, làm rơi mặt nạ
sư tử, để lộ ra một khuôn mặt rất thân quen!
Anh kinh hoàng tột độ! Thanh mã
tấu trên tay rơi xuống. Anh giật bỏ mặt nạ của mình ra. Hai anh em ồ lên kinh
ngạc. Họ bàng hoàng nhận ra nhau. Không ai xa lạ, họ chính là anh em ruột thịt.
Họ lao vào nhau, ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Họ đâu ngờ rằng đối thủ mà họ
quyết tâm tiêu diệt cho bằng được lại là người anh em rất thân yêu.
Nước mắt tuôn tràn hòa chung với
máu. Hai con người bầm dập, mình mẩy đầy máu me ôm nhau khóc tức tưởi. Khóc vì
đã coi nhau như kẻ thù, đã đấu tranh với nhau như ác thú; khóc vì đã gây cho
nhau bao vết thương đau. Họ vẫn đứng đó, ôm nhau khóc tức tưởi trước hàng ngàn
cặp mắt bàng hoàng kinh ngạc của mọi người.”
Chính ma quỉ thù nghịch của
Thiên Chúa đã gây nên mọi thứ tội lỗi trên trần gian. Ma quỉ đã đeo cho con người
đủ thứ mặt nạ ác thú để chém giết lẫn nhau, và không còn nhận ra nhau là con
cái Thiên Chúa nữa.
3.
GIÁNG SINH LỄ BAN NGÀY
Lời Chúa : Ga 1, 1-18
Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời,
và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với
Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.
Mọi vật đều do Người làm nên,
và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được
tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự
sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.
Có một người được Thiên Chúa
sai đến, tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự
sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng
đến để chứng minh về sự sáng.
Vẫn có sự sáng thực, sự sáng
soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và
thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến
nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng
phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con
Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do
khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do
Thiên Chúa mà sinh ra.
Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục
thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của
Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng
và chân lý.
Gioan làm chứng về Người khi
tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất
hiện trước tôi, vì Người có trước tôi.”
Chính do sự sung mãn Người mà
chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban Lề luật qua
Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy
Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho
chúng ta.
TRUYỆN KỂ
1. Ngôi Lời đã trở nên người phàm
Cảnh sát thành phố Los Angeles ở
Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad.
Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta
chuyển đến “Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Thành phố” một bức thư đầy lỗi chính tả của
em. Em viết như sau:
“Thưa Ông “dà” Noen, Giáng Sinh
này xin ông giúp đỡ bố mẹ con. Bố con không còn đi làm nữa. Bây giờ nhà con
không có nhiều thức ăn. Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức ăn đáng lẽ mẹ
ăn…
Con muốn được lên “chời” để ở
chung với các thiên thần. Ông mang con lên “chời” nhé. Bố mẹ con sẽ không phải
mua đồ ăn cho con nữa. Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con “xung xướng.” Xin Ông mang
cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn…
Con sẽ không ngủ đâu. Khi Ông
cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với Ông và bảy tuần
lộc… Con gởi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến Bà Noen và các chú lùn nữa.
Ký tên: Thad.
Người ta vẫn chưa tìm ra em
Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa.
Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lành, họ không dám đến những khu nhà tối tăm,
bẩn thỉu vì sợ dơ quần áo. Họ giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ
muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những
cây thông đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn. Những người giàu
ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.
Chúng ta không cần tìm kiếm ở
đâu xa xôi, vì Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta.
2. Tình bạn
Nhiều thế kỷ trước đây tại nước
San Marinese, có một ông vua rất kính sợ Thiên Chúa và thương yêu dân chúng.
Ông sống chính trực và rất được dân chúng kính trọng, mến phục.
Nhà vua không chỉ hài lòng với
cuộc sống trên dung lụa của hoàng cung, cũng không chỉ nghe theo lời báo cáo tường
trình của các quan cận thần mà thôi. Để biết rõ hơn về hoàn cảnh sống của dân
chúng, nhà vua thường hay cải trang đủ cách để có thể đi lại dễ dàng và trà trộn
giữa mọi lớp người để không bị theo dõi hoặc chú ý tới.
Một hôm nhà vua cải trang với
manh áo rách vá chằng chịt như một người hành khất và đến ngồi ăn xin tại một
công viên. Nhà vua làm quen với người phu quyét đường thường ngồi nghỉ trên ghế
công viên, ăn qua loa nắm cơm nguội dưới ánh nắng mặt trời nắng gắt. Ngày qua
tháng lại, nhà vua trở nên như bạn thân của người phu quét đường. Họ chia sẻ từng
nắm cơm, ly nước và chuyện trò vui vẻ như hai người bạn thân vậy.
Sau cùng vua quyết định nói sự
thật và tỏ mình cho người phu quét đường biết mình là ai. Nhà vua còn bảo người
phu quyét đường có thể xin điều gì mà anh ta ưa thích nhất như mòn quà kỷ niệm
tình bạn thân thiết ấy. Nghe nhà vua tỏ tình thương mến, người phu quét đường
trố mắt ngạc nhiên nhìn nhà vua và nói: Thưa hoàng đế, nhà vua đã không quản ngại
khó nhọc, khước từ vinh quang của cung điện để đến chia sẻ nắm cơm chén nước và
những khó nhọc của bần hèn này. Nhà vua có thể ban tặng cho quan thần những món
quà quí giá, nhưng đối với phận hèn này nhà vua đã dành cho món quà lớn nhất là
chính mình.
Vì thế nếu được, phận hèn này chỉ
xin một điều duy nhất, là xin nhà vua đừng cất đi tình bạn mà nhà vua đã dành
cho kẻ hèn từ trước tới nay.
3. Đổi đời
Trời vừa rạng sáng, sao vừa biến
và người khách cuối cùng vừa từ giã, mẹ Maria xếp lại đống rơm và Hài nhi thiu
ngủ…
Bỗng, cánh cửa của chuồng bò kẹt
mở. Một người đàn bà xuất hiện, áo rách rưới, da nhăn nheo đến độ khuôn mặt tóp
lại trông dễ sợ. Thấy bà, Mẹ Maria sợ như thể một mụ phù thủy mang xui xẻo đến.
May thay, Hài nhi thiếp ngủ, bò lừa đang nhai rơm yên lành. Còn Mẹ Maria không
ngớt theo dõi.
Mỗi bước chân của bà già đối với
Mẹ Maria hình như dài cả thế kỷ. Bà ta vẫn tiếp tục bước và đã đến bên máng cỏ.
Bất chợt Bé Giêsu mở mắt nhìn và mẹ Maria hết sức ngạc nhiên khi thấy đôi mắt
Con Mẹ và đôi mắt của bà già sao mà giống nhau như thể ánh lên cùng một niềm hy
vọng. Đoạn bà già thò bàn tay khẳng khiu vào bọc áo tồi tàn mò tìm một vật gì cất
rất kỹ. Mẹ Maria vẫn lo lắng quan sát và các con vật vẫn thản nhiên.
Cuối cùng, bà ta hình như đã
tìm được và lôi ra khỏi bọc một vật dấu trong bàn tay, rồi trao lại cho Hài
nhi. Không biết quà tặng là cái gì và bà già là ai mà có vẻ bí hiểm. Mẹ Maria
chỉ thấy chiếc lưng còng cúi xuống khá lâu trên chiếc nôi. Rồi bà già đứng thẳng
dậy như trút được một gánh nặng trên hai vai, khuôn mặt rạng rỡ như tìm lại được
vẻ trẻ trung cách kỳ diệu.
Sau đó, bà ta từ từ rời khỏi
nơi Hài nhi và biến mất vào đêm tối. Bây giờ mẹ Maria mới thấy được món quà tặng
của bà già và biết rõ bà ta là ai. Thì ra, bà già ấy chính là Eva vừa trao lại
cho Hài nhi một trái táo nhỏ. Trái táo của tội nguyên tổ. Và trái táo đó rạng
ngời trong đôi tay xinh xắn của Hài nhi như một quả địa cầu của thế giới vừa mới
được tái tạo nhờ Hài nhi.
Vậy có thể nói rằng ngay từ khi
Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể đến ở giữa trần gian thì tất cả mọi tạo vật, kể
cả tội nguyên tổ, đều được biến đổi, thăng hoa, ẩn chứa hồng ân cứu độ, phản ảnh
tình thương của Thiên Chúa. Đặc biệt, đối với con người nhờ việc Ngôi Hai mặc lấy
bản tính của họ nên họ được vinh dự lớn lao là trở thành tạo vật mới đầu tiên ở
trong Chúa hài đồng.
4. Vua bình an
Có một thi sĩ đã kể lị giấc mơ
của mình như sau:
Bấy giờ Thiên Chúa ngự trên tòa
và những người quyền thế nhất trần gian bắt đầu xuất hiện. Ngài hỏi Maisen:
- Con đã trao cho dân chúng những
gì?
- Lạy Chúa, con trao cho họ những
giới luật.
- Và họ đã làm chi?
- Họ đã phạm tội.
Ngài hỏi Napoléon, vị vua bách
chiến bách thắng:
- Ngươi đem lại cho dân chúng
những gì?
- Lạy Chúa, con đem lại cho họ
vinh quang.
- Và họ đã làm chi?
- Họ đã bị tủi nhục.
Sau cùng, Ngài hỏi Đức Kitô:
- Con mang đến cho trần gian những
gì?
- Con đã mang đến sự bình an.
- Và họ đã làm chi?
Đức Kitô không trả lời. Ngài úp
mặt vào lòng bàn tay bị mang dấu đanh và Ngài đã khóc.
Đó là một giấc mơ, nói lên một
sự thật. Ngày nay hơn bao giờ hết, Chúa Giêsu cũng khóc và giơ hai bàn tay mang
những dấu đanh cho chúng ta chiêm ngưỡng, là như dấu ấn của sự hòa bình mà Ngài
đã kiến tạo, đã xây dựng.
Hãy trở nên những chiến sĩ hòa
bình, khởi đi từ tâm hồn bằng cách tẩy trừ tội lỗi, cho đến gia đình bằng một cuộc
sống yêu thương và tha thứ, để rồi lan rộng ra ngoài xã hội, bằng sự hòa giải
và cảm thông, để ở mọi nơi và trong mọi lúc, con người luôn được hưởng sự bình
an mà Chúa Hài nhi đã đem đến nơi máng cỏ Bêlem.
5. Đó là con trai ta
Nhà huyền bí Kitô giáo An Độ,
Sadhu Sundar Singh, đã diễn tả mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giêsu Kitô qua câu
chuyện được kể lại sau đây:
Xưa kia một ông vua có vị cố vấn,
the Vizier, một người rất hiểu biết và thánh thiện. Đang khi hành hương trên đất
thánh ở Palestine, the Vizier đã bị xúc động sâu xa vì câu chuyện của Chúa
Giêsu Kitô. Ông đã xin trở thành một Kitô hữu, đã tin vào Đấng Cứu Thế, là Đấng
đã đến thế gian để cứu chuộc những con người tội lỗi.
Khi trở về, vua đã thắc mắc và
hỏi ông rằng: “Nếu tôi muốn làm bất cứ điều gì, tôi truyền lệnh cho đầy tớ của
tôi thì việc đó được thi hành ngay lập tức. Vậy tại sao vị vua của các vua có
thể cứu nhân loại bởi một lệnh truyền lại phải đích thân đến trần gian này và
nhập thể làm người để làm gì?” Ông cố vấn xin vua cho một ngày ân huệ trước khi
trả lời câu hỏi. Ông cho mời một người thợ mộc rất tài giỏi vào và yêu cầu phải
làm một con búp bê, rồi mặc quần áo vào giống y đứa con trai một tuổi của nhà
vua, và hôm sau phải mang nó đến cho ông.
Hôm sau, vua và ông cố vấn đang
chèo thuyền đi chơi chung với nhau, vua yêu cầu ông phải trả lời câu hỏi. Cùng
lúc đó, người thợ mộc cũng đã đến và đứng ở trên bờ sông với con búp bê hình nộm
con trai của vua. Đứng dưới thuyền, vua trông thấy và nghĩ rằng đó là con trai
của mình. Theo như những hướng dẫn đã được ông cố vấn dặn dò trước, người thợ mộc
để cho con búp bê hình nộm rơi xuống nước. Thấy vậy, vua bèn lao xuống để cứu đứa
bé đang bị chết chìm. Sau một lúc, ông có vấn mới nói: “Thưa đức vua, ngài
không cần phải nhẩy xuống nước. Ngài ra lệnh cho quần thần làm không được sao?
Tại sao chính ngài phải đích thân nhẩy xuống vậy?” Vua suy nghĩ một lát rồi trả
lời: “Đó chính là câu trả lời tại sao, để cứu nhân loại, Thiên Chúa toàn năng
đã nhập thể hóa thành con người thay vì thực hiện nó chỉ bằng một lời truyền mà
thôi.
6. Ánh sáng
Vào một đêm kia, nhà văn Anh
John Ruskin nhìn thấy những người thợ thắp đèn đường trong thành phố (lúc đó
chưa có điện đường). Họ phải cầm một ngọn đuốc sáng trong tay, chạy đi thắp từng
chiếc đèn này qua chiếc đèn khác dọc theo các con đường.
Trong đêm tối, Ruskin không thấy
được người thắp đèn, ông chỉ nhìn thấy bó đuốc của người ấy và một vệt dài ánh
sáng người ấy để lại đằng sau mình. Qua hình ảnh đó, cụ già Ruskin đưa ra một
nhận định hết sưc thâm thúy: “Đây là một minh họa tuyệt đẹp về người Kitô hữu.
Có thể người ta chẳng bao giờ nhận biết người ấy, cũng chẳng bao giờ gặp anh,
nhưng họ đều biết anh ta đã đi qua thế giới của họ nhờ vào chuỗi ánh sáng anh để
lại phía sau mình.”
Giáng sinh là một biến cố vô
cùng trọng đại, một trang sử mới của nhân loại, đầy huyền nhiệm và linh thánh,
nối kết giữa trời và đất, giao hòa giữa Thiên Chúa và loài người. Vì Hài Nhi
Giêsu chính là ánh sáng rạng ngời, đã chiếu soi trần gian trong đêm u tối, nguồn
ánh sáng của tình yêu, chân lý, và sự sống. Thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời là
ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.”
7. Lòng nhân ái bị loại trừ
Trong một xóm đạo nhỏ ở một miền
quê hẻo lánh, có một thanh niên nổi tiếng ăn chơi, trộm cắp được người đời đặt
cho biệt hiệu: "Hiền bụi đời.” Với thành tích, trộm cắp và gây mất trật tự
thôn xóm, anh đã bị tập trung cải tạo. Thời gian anh cải tạo là thời gian xóm
làng bình an. Người ta cảm thấy hạnh phúc khi không có anh. Cho đến khi nghe
tin Hiền bụi đời sắp trở về xóm nhỏ này sau thời gian dài trong trại giam. Người
dân xem ra chẳng vui mừng mà còn lo sợ. Lâu lâu người ta lại nghe tiếng búa, tiếng
đục cửa của một nhà nào đó đang sửa lại cửa nẻo để chống trộm.
Hôm ấy, hắn trở với khuân mặt rạng
rỡ của kẻ chuẩn bị bước vào một cuộc sống mới để cải tà quy chính, một cuộc sống
lương thiện như bao người khác. Ðối với hắn, dường như mọi thứ đều thay đổi
trong mắt hắn. Vui vui, hắn tiến về phía Dì Năm hủ tiếu, nơi đang diễn ra câu
chuyện sôi nổi của những người dân trong xóm. Nhưng rồi nụ cười của hắn chưa kịp
nở đã vội tắt ngấm. Mọi người im bặt khi hắn tới. Những ánh mắt dè chừng, những
nụ cười ngượng gạo, cáo lui. Không lâu sau đó, hắn lại bị bắt vì một vụ cướp của.
Trong khẩu cung, hắn khai: "Vì muốn trả thù đời.”
Vâng, Hiền bụi đời đã tiếp tục
cuộc sống trộm cắp vì sự loại trừ của đồng loại. Anh không được đón nhận trong
cuộc đoàn. Anh bị khước từ bởi lầm lỗi quá khứ. Chính thái độ bất khoan dung của
thôn xóm đã tạo nên một Hiền bụi đời để trả thù đời.
Hôm nay ngày lễ giáng sinh, là
dịp để chúng ta nhắc lại với nhau, Con Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng
ta. Ngài đang cần chúng ta yêu thương. Ngài đang cần chúng ta giúp đỡ. Ngài
đang cần chúng ta đón nhân. Ngài đang cần chúng ta dành cho Ngài cái nôi đón nhận
trong sâu thẳm lòng mình. Ngài đang cần chúng ta dành cho Ngài những cọng rơm
hy sinh của nhịn nhục, của bác ái vị tha làm ấm áp lòng Ngài. Ngài đang cần
chúng ta dành cho Ngài hơi ấm của tình thương chia sẻ với tấm lòng quảng đại,
nhiệt thành như các mục đồng năm xưa.
8.
LỄ KÍNH THÁNH STEPHANO – VỊ TỬ ĐẠO
TIÊN KHỞI
Lời Chúa: Mt 10,17-22
Ngày ấy, Chúa Giêsu phán cùng
các Tông đồ rằng:
"Chúng con hãy coi chừng
người đời. Họ sẽ nộp chúng con cho công nghị, họ sẽ đánh đòn chúng con nơi hội
đường. Vì Ta, chúng con sẽ bị điệu đến trước vua quan, để làm chứng trước mặt họ
và các dân.
Nhưng khi người ta nộp chúng
con, chúng con chớ lo lắng phải nói sao và nói gì, vì không phải chúng con nói,
nhưng là Thánh Thần của Chúa Cha chúng con sẽ nói thay cho.
Anh sẽ nộp em cho người ta giết,
cha sẽ nộp con, con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết.
Vì Ta, chúng con sẽ bị mọi người
ghét bỏ, nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, sẽ được cứu rỗi.
TRUYỆN KỂ
1. Vị tử đạo đầu tiên
Hôm nay lễ kính thánh Stêphanô,
vị tử đạo tiên khởi của Giáo Hội. Giữa bầu khí an bình hân hoan của Mùa Giáng
Sinh mà mừng kính một vị tử đạo thì xem ra không bình thường, vì sự tử đạo thường
gợi lên máu đào và chết chóc. Nhưng chắc chắn Giáo Hội đã có một lý do rất đặc
biệt để mừng lễ của vị tử đạo tiên khởi này vào ngay sau Lễ Giáng Sinh.
Trong lá thư gởi cho các thiếu
nhi khắp thế giới được ký vào ngày 3/10/1995, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II xem
ra muốn giải thích cho chúng ta cái lý do sâu xa ấy. Ngài viết cho các em thiếu
nhi như sau: "Những ngày tiếp theo ngày sinh của Chúa Giêsu cũng là đến
ngày lễ theo truyền thống của Cựu Ước, tám ngày sau đó Hài Nhi đã được đặt tên,
tên của Ngài là Giêsu."
Sau bốn mươi ngày chúng ta tưởng
niệm việc Ngài được dâng hiến trong đền thờ giống như bất cứ đứa con trai đầu
lòng nào của Israel. Trong dịp này, một cuộc gặp gỡ phi thường đã diễn ra, vừa
cùng với Hài Nhi đến trong đền thờ, Mẹ Maria đã gặp cụ già Simêon. Cụ đã bồng
Hài Nhi Giêsu trên tay và tiên báo như sau: "Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi
tớ Chúa được ra đi bình an theo như lời Chúa hứa, vì chính tôi tớ Chúa đã thấy
ơn cứu độ mà Ngài đã chuẩn bị trước mặt muôn dân. Ðó là ánh sáng soi cho dân
ngoại, là vinh quang của Israel dân Ngài." Sau đó ông nói với Mẹ Maria:
"Con Trẻ này sẽ là duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được
chỗi dậy, Con Trẻ là dấu hiệu bị người đời chống đối, và chính là một lưỡi gươm
sẽ đâm thâu tâm hồn Bà. Ngõ hầu những ý nghĩ thâm tâm nhiều người sẽ lộ
ra."
Mầu nhiệm Giáng Sinh gắn liền với
mầu nhiệm Tử Nạn Thập Giá của Ngài. Hài Nhi nằm trong máng cỏ nghèo hèn, cuộc tử
nạn đã được báo trước, có lẽ đó là lý do tại sao ngay ngày thứ nhất của tuần
bát nhật Giáng Sinh, Giáo Hội mừng kính vị thánh Tử Ðạo tiên khởi là thánh
Stêphanô.
2. Sói Phaolo và chiên Stephano
Stêphanô vừa thấy Phaolô tới cửa
Thiên Đàng, ông Stêphanô lên tiếng thưa với Chúa:
- Lạy Chúa, tên này xưa kia động
viên người ta ném đá con, nay hắn lại vào đây, chắc rồi hắn sẽ lại kích động cả
các thần thánh ném đá Chúa không chừng?
Ông Phaolô cũng không vừa, ông
kêu cầu tới Chúa:
- Lạy Chúa, Ngài dạy phải tha
thứ cho kẻ thù mình tới 70 lần 7 mỗi ngày, thế mà anh Stêphanô này được vào
Thiên Đàng trước con mà tâm hồn vẫn còn chấp nhất tìm cách trả thù kẻ đã hại
mình kìa.
Lúc ấy, hẳn Chúa Giêsu lên tiếng
can thiệp:
- Thôi mà hai anh em con đừng
chọc ghẹo nhau nữa.
Thế là hai ông ôm nhau khóc bởi
qua vui mừng: Nhờ Stêphanô đã cầu nguyện cho Saulô mà Chúa xuất hiện đón lấy hồn
Stêphanô; còn Saulô được Stêphanô cầu nguyện mà ông trở nên Tông Đồ xuất sắc
không thua các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5), nay cùng nhau được sum họp
trên Thiên Đàng hưởng phúc vinh với Chúa.
Vậy hai ông Stêphanô và Phaolô
đã minh họa “sói – chiên” sống chung với nhau trong bình an vô tận với Chúa.
3. Tình yêu thắng hận thù.
Một binh sĩ người Anh đã viết
cho một người mẹ Đức như sau: “Là một quân nhân của một lực lượng được chỉ định
tấn công vào một ngôi làng ở Pháp, phận sự trong quân ngũ đã khiến tôi giết chết
con bà. Tôi là một tín hữu Kitô giáo, và vì lẽ đó, tôi thành khẩn xin bà hãy
tha thứ cho tôi. Tôi hy vọng là một ngày kia, khi chiến tranh chấm dứt, tôi có
thể đích thân đến gặp bà."
Mấy tháng sau, khi bà mẹ người
lính Đức hay tin con bà tử trận, bà mới nhận được bức thư trên đây, và bà đã trả
lời như sau cho người lính Anh:
“Tận thâm tâm, tôi đã tha thứ cho anh, mặc dù
anh đã giết chết người con yêu dấu của tôi. Tôi tha thứ cho anh, bởi vì cũng
như anh, tôi là một tín hữu Kitô. Nếu anh và tôi đều sống sót sau cuộc chiến,
tôi hy vọng anh có thể sang Đức để thăm tôi, và mặc dù chỉ trong thời gian ngắn
ngủi, anh có thể thế chỗ cho con tôi, đứa con mà anh đã giết chết."
Điểm đáng chú ý nhất trong hai
bức thư trên, là lời tuyên xưng: “Tôi là một tín hữu Kitô”, và với niềm tin cả
anh lính người Anh và bà mẹ người Đức đã để cho Lời Chúa tách họ ra khỏi vòng
luẩn quẩn của bạo lực: “Mắt đền mắt, răng đền răng”, và đưa họ vào con đường
yêu thương.
4. Thánh là ai?
Ngày kia một em bé theo mẹ đi
chợ. Từ nhà đến chợ, hai mẹ con đi qua một thánh đường nguy nga. Em bé ngước
nhìn thánh đường rồi đưa tay chỉ mẹ và nói: “Mẹ xem kìa, những cửa kính màu bám
đầy bụi, trông chả đẹp tí nào. ”
Bà mẹ không nói gì, nhưng lại nắm
tay con dẫn vào bên trong thánh đường. Từ bên trong thánh đường nhìn ra, những
cửa kính dơ bẩn xấu xí lại trở nên sáng chói và rực rỡ nhiều màu sắc tuyệt đẹp.
Em bé ngạc nhiên mở to mắt nhìn. Em thích thú đặc biệt khi ngắm nhìn 4 vị thánh
trên cửa kính sau bàn thờ đang rực rỡ chói lòa nhờ ánh mặt trời chiếu thẳng
qua.
Vài ngày sau, trong một lớp
giáo lý, tình cờ cô giáo hỏi: “Các em có biết vị thánh là ai không?” Trước câu
hỏi bất ngờ, cả lớp đều thinh lặng, chỉ có em bé được mẹ dẫn vào nhà thờ hôm
trước giơ tay xin trả lời. Em nói: “Thưa cô, vị thánh là người được ánh sáng mặt
trời chiếu qua. ”
Stêphanô là một vị thánh vì
ngài đã phản ánh Chúa Giêsu, nhất là qua cái chết của ngài. Bài đọc I (Cv
6,8-10 7,54-60) tường thuật ngài chết giống Chúa Giêsu: cũng phó linh hồn trong
tay Chúa (c. 59) và cũng cầu xin ơn tha thứ cho những kẻ hại mình (c. 60).
5. Tử đạo là chết vì tình yêu
Lá thư thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh
gửi các chủng sinh chủng viện Kẻ Vĩnh năm 1843, giúp chúng ta biết đôi chút về
cảnh ngục tù: “Ngục thất này quả là một hình ảnh sống động của hoả ngục đời đời:
ngoài gông cùm, xiềng xích, dây thừng, lại còn thêm sự nóng giận, oán thù, nguyền
rủa, những lời tục tĩu, những sự gây gỗ, những hành vi xấu xa, những lời thề
gian, nói hành, và cả nỗi chán nản, buồn phiền, cả ruồi muỗi rận rệp.”
Dẫu trong hoàn cảnh như thế,
thánh nhân vẫn cao rao tình thương của Thiên Chúa, đồng thời mời gọi các chủng
sinh lấy lòng tin tưởng và yêu mến mà hợp với ngài dâng lời ngợi khen Đấng có
thể làm được mọi sự cho những ai có lòng tin: “Tôi muốn nói cho anh em biết những
gian truân tôi đang chịu hằng ngày, để anh em được cháy lửa yêu mến Chúa mà hợp
với tôi dâng lời ca ngợi Thiên Chúa: Chúa yêu thương ta đến muôn đời.”
Chỉ những ai có một trái tim đầy
ắp niềm tin và tình mến mới có thể ca ngợi Thiên Chúa trong hoàn cảnh như thế.
6. Sức hút của thánh giá
Bạn chỉ có thể ngạc nhiên về sự
trung thực của Chúa Giêsu trong đoạn Tin mừng hôm nay mà thôi. Ngài không đưa
ra những điều hào nhoáng bên ngoài để thu hút bạn, một khi bạn theo Ngài. Sự
khôn ngoan thế gian thì nói: “Người ta sẽ làm bạn choáng ngợp và ca tụng bạn.”
Còn Chúa Giêsu thì nói: “Người ta sẽ đánh đập và thù ghét bạn.” Tuy nhiên, như
William Barlay nhắc nhở chúng ta là lịch sử chứng minh lời Chúa Giêsu nói thật
chí lý. Tận thâm tâm, người ta phản ứng đối với những thách thức và những gì
đòi dũng cảm hơn là những gì ngược lại.
Tôi có suy nghĩ gì khi đọc Bài
Tin Mừng hôm nay?
Có lẽ Gíao Hội cần phải học biết
rằng con đường dễ dãi không thu hút người ta, trái lại, những gì đòi hỏi sự
dũng cảm rốt cuộc sẽ có sức thuyết phục hơn (William Barlay)
7. Cái chết đáng sợ nhất
Trên báo Tiền Phong, nhà báo Ngọc
Bích đã viết về HIV/AIDS và nạn nhân của nó, những chàng trai trẻ.:.." Hầu
như số này đều đã có ít nhiều hiểu biết về HIV/AIDS, nhưng không kiềm chế được
mình khi sa vào các “ổ nhện” là các quán bar, caphê đèn mờ, karaoke ôm, bia ôm
và đã có quan hệ tình dục với tiếp viên nhà hàng, bị lây truyền bệnh lúc nào
không rõ!
Đã có những chàng trai nhiễm
HIV cưới vợ, có con, khi phát bệnh, cả gia đình đi xét nghiệm mới đau đớn nhận
ra cả nhà nhiễm HIV. Người chồng đã uống thuốc tự vẫn, để lại người vợ trẻ và đứa
con nhỏ nhiễm HIV không nơi nương tựa...”
Người chồng đã chết, một cái chết
đáng thương! Cái chết đó bắt đầu từ sự chết trong tâm hồn. Đó là cái chết đáng
thương của người hiện đại.
8. Không sợ chết mà chẳng ngại sống
Stêphanô Nguyễn văn Vinh là một
tân tòng đang học đạo. Anh sinh năm 1813. Anh là một tá điền khoẻ mạnh, sống độc
thân và rất nghèo, tính tình đơn sơ, chất phác. Vì kế sinh nhai anh đã theo di
dân lên tỉnh Bắc, đến lập nghiệp tại làng Đức Trai, giáo xứ Kẻ Mốt.
Anh và hai người bạn cùng trang
lứa cùng bị bắt với hai thầy giảng là thầy Úy và thầy Mậu. Dù mới chỉ là một dự
tòng nhưng khi bị bắt anh đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin. Khi quan bắt anh đạp
lên Thánh giá, anh trả lời: “Tôi thà chết chứ không làm điều đó, vì tôi biết đạo
Chúa Giêsu là đạo thật.” Rồi anh được cha Tự rửa tội trong tù.
Ngày 19.8.1839, năm người đứng
trước quan tòa. Một bên là Thánh giá, một bên là những dụng cụ tra tấn, quan vừa
đe doạ, vừa dụ dỗ các ngài bỏ đạo, nhưng Thầy Mậu trả lời: “Chúng tôi đã quyết
một điều là trung thành với Chúa chúng tôi thờ. Nếu quan biểu chặt đầu chúng
tôi, hay chúng tôi phải chết cách nào khác, chúng tôi đã sẵn sàng.”
Cuối cùng quan thất vọng cho dẫn
các ngài về ngục, nói rằng: “Bọn này không thể tha được, mà thật chúng cũng chẳng
thèm được tha.”
Quan thất vọng, nhưng các tù
nhân chịu án tử hình lại sống trong hy vọng. Khi có cho mình một lẽ sống thì
người ta có thể nói như thánh giám mục Martin thành Tours về lẽ sống-chết, là
“không sợ chết, mà cũng chẳng ngại sống”, còn khi không có được một lẽ sống thì
"đời là bể khổ", sống là chịu khốn cực để rồi chết không hy vọng!
9. Mua xe tải được tặng súng
Một cửa hàng bán xe cũ ở bang
florida, mỹ tặng kèm một súng AK-47 cho bất cứ ai mua xe. Nick Ginetta, trưởng
phòng kinh doanh của đại lý xe cũ Nations Trucks, cho biết doanh số của họ tăng
gấp đôi từ khi hình thức khuyến mãi được áp dụng tuần trước.
Trang web đăng quảng cáo khuyến
mãi "mua xe, nhận súng AK" của Nations Trucks. Ảnh: EPA.
Tấm áp phích "Súng
AK-47" được dán bên ngoài cửa sổ văn phòng Nations, bên dưới là đoạn miêu
tả về khẩu súng huyền thoại của Liên Xô, loại súng trường bán chạy nhất trong mọi
thời đại.
Thay vì nhận súng trực tiếp,
khách hàng mua xe sẽ được đưa một biên lai 400 USD để đổi lấy AK-47 ở một cửa
hàng vũ khí. Tất cả khách hàng được kiểm tra căn cước để đảm bảo sở hữu súng
đúng luật.
Ginetta cho biết công việc phát
đạt đến nỗi anh không thể trả lời hết các câu hỏi của báo chí về hình thức khuyến
mãi. "Có hàng dài người đang chờ mua xe", Telegraph dẫn lời Ginetta
nói. Khuyến mãi "mua xe, tặng AK" sẽ kéo dài đến cuối tháng này.
Một khách hàng cho biết hình thức
khuyến mãi của Nations không ngăn cản ông đến mua xe bất chấp việc đã có những
trải nghiệm không vui vẻ gì với loại súng này.
"Chúng từng nhắm vào
tôi", Don Zeis, một cựu binh, nói. "Nhưng tôi cần một xe tải, đó là
lý do tôi ở đây."
Người ta dùng một khẩu AK-47 để
khuyến khích người khác dùng sản phẩm của mình, còn Chúa, Chúa chỉ biết dùng
lòng nhân ái để giới thiệu con đường của Chúa, nhân ái cả với người đến bắt
mình: "Một trong những kẻ theo Đức Giê-su liền vung tay tuốt gươm ra, chém
phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. Đức Giê-su bảo người ấy:
"Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay anh
tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy
hơn mười hai đạo binh thiên thần!" (Mt 26,51-53)
10. Tha thứ là có sức mạnh
Trong một tiết học, giảng
sư đề nghị các học viên trả lời câu hỏi: Hai vị trung úy cùng tuổi
và học chung một khóa, giữa hai người đang có sự bất hòa, trung úy B
chủ động làm hòa. Vậy ai là người có bản lãnh và cao thượng hơn? 90
phần trăm học viên trả lời: Trung úy B là người dũng cảm, 10 phần
trăm học viên coi đó là hành động hèn nhát. Chúng ta nhận định thế
nào?
Có người coi việc tha thứ
cho kẻ thù là thái độ hèn nhát, nhưng sự thật thì những ai dám tha
thứ cho kẻ xúc phạm đến mình, đó mới là người mạnh mẽ và có bản
lãnh.
Nuôi lòng hận thù và tìm
cách báo oán là lẽ thường tình, vì nó thỏa mãn tính tự ái và tự
tôn nơi mỗi người. Nhưng chắc chắn sự hận thù sẽ làm tâm hồn của
người cưu mang nó bất an. Chẳng những thế, hành động ấy sẽ phá vỡ
những tương quan tốt đẹp giữa người với người, làm cho cuộc sống
chung trở nên nặng nề, và trong rất nhiều trường hợp dẫn đến xung
đột, thương tật và chết chóc. Như lửa đang cháy được đổ thêm dầu,
hành động trả thù sẽ làm gia tăng oán hận.
11. Vẻ đẹp của tình yêu tha thứ
Trong Thế chiến thứ nhất, có một
nữ hộ tá người Anh tên là Edith Cavell. Chị bị quân Đức bắt và bị buộc tội chứa
chấp, chạy chữa, và nuôi một số lính Anh, Pháp tại nhà chị ở Bruxelles và giúp
họ trốn sang Hòa Lan. Ngày 12.12.1915, chị bình tĩnh đứng trước đội lính hành
hình của Đức như một nữ thần.
Buổi sáng ngày chịu hành hình,
một mục sư người Anh bước vào phòng giam của chị, chị đã thốt ra câu nói mà người
ta sau này khắc vào pho tượng đá của chị, câu nói chị để lại cho mọi người:
“Bây giờ con mới biết, con phải bỏ hết oán hận, hết ý nghĩ chua chát với bất cứ
ai, thì tâm hồn con mới được thư thái trước khi chết.”
Một trong những ngọn núi đẹp nhất
Mỹ châu ở Canada đã được đặt bằng tên của chị: Edith Cavell.
Edith Cavell đã tìm gặp được hạnh
phúc thật khi thoát khỏi sự điều khiển của cái tôi vị kỷ, mà để chính Chúa điều
khiển cuộc đời mình, để Chúa thần linh hóa một chút bụi tro trong chị.
Đó cũng là công trình chúng ta
bắt đầu hôm nay.
LỄ KÍNH THÁNH GIOAN - MÔN ĐỆ CHÚA
YÊU
Lời Chúa: Ga 20, 2-8
Ngày thứ nhất trong tuần, Maria
Mađalêna chạy đến gặp Simon Phêrô và môn đệ kia mà Chúa Giêsu yêu, bà nói:
"Người ta đã lấy xác Chúa khỏi mộ rồi, chúng tôi không biết họ để
đâu."
Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ
kia đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ
trước ông. Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng
không vào. Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn
liệm xác còn đó, và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với
khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ.
Bấy giờ môn đệ đã đến trước
cũng vào; ông đã thấy và đã tin.
TRUYỆN KỂ
1. Hãy yêu thương nhau.
Chính thánh Hirônêmô đã kể lại
câu chuyện về mấy lời cuối cùng của Gioan. Lúc ông hấp hối, các môn đệ hỏi ông
còn gì để trối lại cho họ không. Ông bảo: “Hỡi các con bé bỏng của ta, hãy yêu
mến lẫn nhau." Ông lặp đi lặp lại nhiều lần, họ lại hỏi ông phải đó là tất
cả những gì ông muốn nói hay không, ông đáp: “Như thế là đủ, vì đó là mệnh lệnh
của Chúa."
Gioan sống rất lâu, đến độ có
tiếng đồn ông sẽ sống cho đến lúc Chúa Giêsu trở lại. Gioan sống để làm chứng
nhân cho Chúa. Chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta trở thành chứng nhân cho
Ngài.
2. Tin và yêu
Một cuộc đối thoại giữa hai người
yêu nhau:
- Em có bằng lòng lấy anh
không?
- Bằng lòng.
- Chúng ta chỉ mới quen nhau mấy
tháng. Em chỉ nghe anh nói thôi chứ chưa có dịp “kiểm tra” lý lịch và quá khứ của
anh. Sao em tin anh thế?
- Vì em yêu anh!
Tình yêu hỗ trợ cho niềm tin.
3. Tình yêu cần việc làm
Eusêbiô cho biết, ông bị đày
sang đảo Patmos dưới thời trị vì của Domitianô. Eusêbiô đã thuật lại một câu
chuyện độc đáo về Gioan mà ông được nghe Clêmentê kể lại. Khi Gioan làm Giám mục
tại Tiểu Á, ông đến thăm một cộng đoàn gần Êphêsô. Nhìn thấy trong đám tín hữu
có một thanh niên cao lớn, khôi ngô, ông quay sang vị giáo sĩ đang phụ trách cộng
đoàn ấy và nói:- Tôi trao chàng thanh niên này cho ông lo lắng chăm sóc. Tôi
yêu cầu cộng đoàn làm chứng là tôi đã giao cho ông.
Vị giáo sĩ liền đem chàng thanh
niên này về nhà chăm sóc dạy dỗ cho đến ngày chàng được chịu Rửa tội gia nhập đạo.
Nhưng chẳng bao lâu sau đó, chàng thanh niên này bị bạn xấu lôi kéo vào con đường
tội lỗi. Cuối cùng, anh ta đã trở thành lãnh chúa của một đảng cướp. Ít lâu sau
Gioan trở lại thăm cộng đoàn, ông bảo vị giáo sĩ:
- Hãy trả lại cho tôi chàng
thanh niên mà tôi và Chúa đã trao cho ông với cộng đoàn mà ông phụ trách.
Lúc đầu, vị giáo sĩ kia chẳng
hiểu Gioan muốn nói gì.
Gioan nói tiếp: - Tôi hỏi về
linh hồn của chàng thanh niên mà tôi đã giao phó cho ông đó.
Vị giáo sĩ đáp: - Than ôi, cậu
ta đã chết rồi.
Gioan ngạc nhiên hỏi: - Chết rồi
à?
Vị giáo sĩ tiếp:
- Cậu ta đã chết đối với Chúa.
Cậu ta đã bỏ Chúa. Sau khi phạm tội trọng, cậu ta đã bỏ thành phố trốn lên núi,
và bây giờ là một tướng cướp ở trên núi.
Gioan lập tức lên núi, ông cố
tình để cho bọn cướp bắt. Chúng điệu ông đến trước mặt tên lãnh chúa của mình.
Nhìn thấy Gioan, anh ta xấu hổ, bỏ chạy cốt ý để tránh mặt ông. Thế nhưng, mặc
dầu đã cao tuổi, Gioan vẫn đuổi theo chàng ta. Ông kêu to:- Con ơi, con nỡ chạy
trốn cha sao? Cha đã cao tuổi và yếu lắm rồi, hãy thương cha, con ơi! Đừng sợ!
Con vẫn còn hi vọng để được cứu. Cha sẽ đứng với con trước mặt Chúa Giêsu Cứu
Thế. Nếu cần, cha sẽ vui lòng chịu chết thay cho con như Ngài đã chịu chết thay
cho cha. Hãy đứng lại, hãy đứng lại, hãy tin cha! Chính Chúa Cứu Thế đã sai cha
đến cùng con đây. Tiếng gọi làm nát lòng chàng thanh niên. Anh ta dừng lại, vứt
bỏ khí giới và khóc. Hai người xuống núi, chàng thanh niên được đưa trở về với
Hội Thánh, trở lại cùng Chúa Giêsu. Ở đây, chúng ta thấy tình yêu thương và
lòng can đảm của Gioan vẫn hành động.
4. Tình yêu có sức biến đổi
Trong tác phẩm “Hoàng Tử Bé”
(Le Petit Prince), St. Exupéry đã mô tả mối quan hệ thân hữu như sau: Khi chưa
thân, một người cũng giống như trăm nghìn người khác. Sau khi trở thành bạn
thân thì người đó trở nên duy nhất trên đời. Chính thời gian hai người dành cho
nhau tạo nên mối quan hệ quan trọng như thế mà người ta chỉ cảm nhận bằng trái
tim chứ mắt chẳng thấy được.
Thật vậy, một khi tình yêu đã nảy
nở giữa họ, họ dễ dàng nhận biết những tín hiệu của nhau và các ý nghĩa của
chúng. Trong những năm sống với Chúa Giêsu gần gũi đến mức có thể mắt trông thấy,
tai nghe được và tay chạm đến được, thánh Gioan đã cảm nghiệm sâu xa tình yêu
Chúa dành cho và đã được biến đổi từ một người bộc trực (Lc 9,54) và tham vọng
(Mc 10,35-40) trở nên “người môn đệ Chúa yêu,” nhạy bén nhận ra những dấu chỉ của
Thầy ngay trong hoàn cảnh tưởng như tuyệt vọng.
Vì thế, khi thấy ngôi mộ trống
với những băng vải và khăn liệm xếp gọn gàng bên cạnh, ông nhớ đến Lời Chúa báo
trước và tin rằng Chúa đã phục sinh.
5. Chạy bởi lòng mến
Theo truyền thống, phong tục Việt
Nam, thì khi có người thân qua đời, sau khi đã lo liệu việc chôn cất xong, khoảng
hôm sau hay những ngày kế tiếp...tùy mỗi nơi, họ thường hay có tục ra nghĩa địa
viếng mộ để bày tỏ niềm thương tiếc, nhớ nhung người đã khuất.
Ngày xưa tại đất nước Palestine
cũng có phong tục đó. Tuy nhiên, họ để ba ngày mới ra viếng mộ. Vì vậy, chúng
ta không lạ gì khi thấy sự kiện Maria Mađalêna ra viếng mộ Chúa từ tờ mờ sáng.
Bà đến sớm là vì nóng lòng chờ đợi từng giây phút để được đến với Chúa.
Tuy nhiên, điều mà Maria
Mađalêna ngỡ ngàng là thấy phiến đá lấp cửa mồ đã được lăn ra khỏi mộ...và khi
nhìn vào thì không thấy xác Chúa đâu cả...Trong tâm trí của bà lúc này là: đã
có ai đó lấy cắp xác Chúa...???
Sau đó, Maria Mađalêna vội về
nhà báo tin cho các Tông đồ biết sự việc lạ lùng này...Gioan và Tông đồ trưởng
Phêrô đã chạy đến mộ để phục kích tận mặt xem thực hư thế nào. Khi tới nơi,
Tông đồ trưởng chỉ thấy ngỡ ngàng và chưa thể đoán được sự việc ra sao! Nhưng
Tông đồ Gioan thì biết, ông đã thấy và đã tin, vì ngài nhớ lại lời Đức Giêsu đã
loan báo trước đó là: “ngày thứ ba sẽ sống lại...."
Điều mà chúng ta cần khám phá nội
dung tiềm ẩn hay chủ đạo trong bài Tin Mừng hôm nay chính là hai chữ: “Lòng mến."
Vì yêu mến Chúa tha thiết, nên Maria Mađalêna đã đến mồ từ tảng sáng của ngày
thứ nhất trong tuần. Vì yêu, nên Tông đồ Gioan cũng nhận ra Chúa đã sống lại một
cách chắc chắn. Ngài cũng là người đầu tiên hiểu và tin vào việc này. Sau này
chúng ta còn thấy Gioan đã nhận ra Chúa trước tiên trên bãi biển trước hết...
6. Gioan nói về tình yêu
Tất cả những gì Chúa Giêsu yêu
cầu là: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau;
anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13,34)
Chúa gọi đó là điều răn mới,
nhưng mấy từ “hãy yêu thương nhau” lại là những từ quá quen thuộc, bình thường,
và cũ rích trong ngôn ngữ con người. Vậy thì cái mới Chúa muốn nói ở đây là điều
chi thế? Cái mới ở đây là một chữ duy nhất… chữ NHƯ (như Thầy đã yêu thương anh
em).
Đúng thế, đối với con người
tình yêu có nhiều mức độ, và ở mức độ nào tình yêu vẫn là tình yêu; thế nhưng đối
với Thiên Chúa, tình yêu là yêu không biên giới: “Không có tình thương nào cao
cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga
15,13) Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hình ảnh sống động cho tình
yêu.
Một điều quan trọng phải biết,
là Chúa không nói với con người như một lời khuyên, mà là một mệnh lệnh: “Hãy
yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Đó là một mệnh lệnh vì đó là
con đường duy nhất để biết Chúa, để tìm lại được chính mình: “Đây là điều răn của
Người: chúng ta phải tin vào danh Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người, và phải yêu
thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta.” (1Ga 3,23)
Vì “ai không yêu thương, thì
không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1Ga 4,8)
Và cũng bởi đó mà ai cũng có thể
chạm tay được vào hạnh phúc thiên đường, vốn được Chúa đặt thật gần với mọi người,
hạnh phúc của trao tặng, hạnh phúc của cho đi, hạnh phúc được nên một với Thiên
Chúa - Tình Yêu, hạnh phúc của Becca và Bill: “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại
trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.”
(1Ga 4,16)
LỄ CÁC THÁNH ANH HÀI - HÀI NHI CHẾT
VÌ CHÚA
Lời Chúa : Mt 2, 13-18
Khi các đạo sĩ ra đi, thiên thần
Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông: "Hãy thức dậy, đem
Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì
Hêrođê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi để sát hại Người.” Ông thức dậy, đem Hài Nhi và
mẹ Người lên đường trốn sang Ai-cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi
Hêrođê băng hà, hầu làm trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng:
"Ta gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.”
Bấy giờ Hêrođê thấy mình bị các
đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở
Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ
hỏi các đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói: Tại Rama, người
ta nghe tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà
không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa.
TRUYỆN KỂ
1. Tàn sát các hài nhi
Lễ Giáng sinh trước tiên là lễ
của Nhi đồng. Như Đức Gioan Phaolô II đã viết trong thư gửi các thiếu nhi trên
thế giới nhân năm quốc tế gia đình: “Những gì đã xảy ra cho Hài nhi Giêsu ở
Belem cũng xảy ra cho các trẻ em trên khắp thế giới. Có biết bao trẻ em đang là
nạn nhân của đói khổ, của chiến tranh, đang bị cha mẹ bỏ rơi, đang sống cảnh
màn trời chiếu đất, đang đau khổ vì biết bao hình thức bạo động và gây hấn của
người lớn.”
Để có một vài con số cụ thể,
chúng ta chỉ cần lắng nghe báo cáo của tổ chức Nhi đồng quốc tế (UNICEF) về
tình trạng trẻ em trên thế giới năm 1995 như sau: “Trong những thập niên cuối của
thế kỷ 20 đang có khoảng 2 triệu trẻ em chết vì chiến tranh, từ 4 đến 5 triệu tật
nguyền, hơn 5 triệu sống trong các trại tị nạn, trên 12 triệu sống cảnh không
nhà không cửa.” Bản báo cáo ước tính cần phải có ít nhất 34 tỉ Mỹ kim mới có thể
đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục cho các trẻ em trên khắp
thế giới.
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày
mai.” Đây là quy luật mà ai cũng phải biết.
Tuy nhiên, có một sự thật đau
buồn về tình trạng cuộc sống của các trẻ em hiện nay: theo thống kê của các tổ
chức quốc tế, ngày nay có hàng triệu triệu trẻ em chết vì chiến tranh, tật nguyền;
hay sống trong hoàn cảnh thiếu thốn tại các trại tỵ nạn và nơi các đường phố, gầm
cầu... Biết bao trẻ em thất học, không được đến trường. Tệ hơn nữa là có quá
nhiều trẻ em chết dưới bàn tay của chính các bậc làm cha mẹ khi họ quyết định
phá thai...!
Tất cả đều do sự chểnh mảng,
thiếu quan tâm, vô nhân và chối bỏ quyền của các trẻ em nơi những nhà lãnh đạo,
các tổ chức và ngay cả các bậc làm cha mẹ trong các gia đình...
Thảm trạng đau buồn hiện nay của
thế giới về các trẻ em cũng chính là đại họa mà các thánh Anh Hài thời Đức
Giêsu phải chịu dưới sự tàn độc, ích kỷ, ghen tương của vua Hêrôđê.
2. Con sâu trong tảng đá.
Một hôm, Đức Ala gọi một thiên
sứ đến và truyền lệnh: “Ngươi hãy xuống trần gian để đưa về đây người đàn bà
góa có bốn đứa con thơ.”
Thiên sứ ra đi. Ngài gặp ngay
người đàn bà góa đang cho đứa con nhỏ nhất bú. Ngài nhìn người đàn bà với bốn đứa
con dại, rồi lại lên Đức Ala để tha thiết như xin rút lại lệnh truyền. Làm sao
có thể nhẫn tâm tách biệt người mẹ khỏi những đứa con thơ ấy? Nhưng ánh mắt van
xin của sứ thần chẳng mảy may đánh động được Đức Ala. Cuối cùng, sứ thần đành
phải vâng lệnh Đức Ala mà cướp người mẹ góa khỏi bầy con thơ và đem về trời.
Hoàn thành công tác, nhưng xem
chừng vị sứ thần lại có vẻ buồn. Phải, vui làm sao được trước cảnh chia ly giữa
mẹ và con. Thấy sứ thần buồn, Đức Ala mới gọi đến và đưa vào giữa sa mạc. Ngài
chỉ cho sứ thần thấy một tảng đá lớn và bảo đập nó ra.
Tảng đá vừa vỡ đôi, sứ thần ngạc
nhiên vô cùng, vì trong lòng tảng đá một con sâu nhỏ từ từ bò ra. Chợt hiểu được
ý nghĩa của sự kiện ấy, sứ thần bỗng thốt lên:
“Ôi lạy Đấng Tối Cao, mầu nhiệm thay công việc
sáng tạo của Ngài. Với sự khôn ngoan thượng trí và tình yêu vô biên, Ngài đã
không bỏ mặc một tạo vật bé nhỏ như con sâu kia, thì hẳn Ngài cũng sẽ không
quên được bốn đứa trẻ mồ côi là con cái của Ngài.” (Trích D. Wahrheit, Món quà
Giáng sinh, tr 307-308).
3. Luật phá thai ở thời nay
Vậy nhờ ơn phù trợ của Thiên
Chúa, chúng ta cùng với Hội Thánh cất lời tung hô: “Lạy Thiên Chúa, chúng con
xin ca ngợi hát mừng, tuyên xưng Ngài là Đức Chúa. Lạy Chúa, đoàn Tử Đạo quang
huy hùng dũng, máu đào đổ ra minh chứng về Ngài” (Tung Hô Tin Mừng).
Tuy nhiên, nhân loại ngày hôm
nay, trong đó có không ít người Công Giáo, còn độc ác hơn vua Hêrôđê, cụ thể
vào năm 2008, nước Mỹ tuyển cử tân Tổng thống, ông Obama ra ứng cử, ông này chủ
trương cho phá thai, nghịch với giáo lý Hội Thánh Công Giáo! Hội Đồng Giám mục
Mỹ kịch liệt lên tiếng phản đối trên các phương tiện truyền thông, và còn cảnh
báo những người Công Giáo: Ai bỏ phiếu cho ông Obama, thì không xứng đáng rước
Lễ! Thế mà có đến 61% người Công Giáo lại bỏ phiếu cho ông này, là tiếp tay ủng
hộ luật cho phép phá thai của ông!
Năm 1961, ý thức hệ Tư bản và
Xã hội chủ nghĩa gia tăng cực độ giữa dân tộc Đức, khiến họ đưa đến quyết định
tôn trọng nhau: ai thích Cộng sản thì ở Đông Đức; còn ai ưa Tư bản thì sống ở
Tây Đức. Nhưng làn sóng người ở Đông Đức tràn qua Tây Đức mỗi ngày một tăng,
khiến họ phải xây bức tường chia đôi đất nước từ ngày 13-08-1961. Tường dài
700km, cao 8m, dầy 3m. Tiếc thay bức tường dựng lên lại càng tăng thêm sự thù
ghét giữa đôi bên!
Nhưng sau 3 giờ, ông Gorbachov,
Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô gặp Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ông trở về
nước tuyên bố giải tán đảng Cộng sản. Tức khắc bức tường ô nhục Bá Linh bị phá
đổ đêm ngày 12 rạng ngày 13-11-1989. Đó là ngày giải phóng vui mừng nhất của nước
Đức, vì toàn dân Đức ai cũng ôm ấp mơ ước cuộc giải phóng này gần nửa thế kỷ,
nay trở thành sự thật. Trước ơn vui mừng lớn lao Chúa ban cho dân tộc Đức như
thế, nhưng cũng vào thời điểm ấy, chính phủ Đức lại ra Luật cho phá thai! Nhiều
trẻ vô tội bị chính cha mẹ giết, còn độc ác hơn vua Hêrôđê! Bởi đó, các Đức
Giám mục Đức ra lệnh các nhà thờ Công Giáo không đổ chuông mừng ngày đất nước
được giải phóng! Sự im lặng ấy biểu lộ những thai nhi không khóc lên được, đau
đớn hơn bà Rakel đã đội mồ khóc thương con cháu bà bị lưu đày bên Babylon!
4. Thiên Chúa là ánh sáng
Nhà văn Do thái Shalom Asch, viết:
“Chúa Giêsu là người xuất chúng nhất mọi thời. Không bậc thày nào- Do thái,
Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo,- vẫn là một bậc thày mà lời giảng dạy là cột chỉ
đường cho thế gian. Những bậc thày khác có thể đặt nền tảng cho người Phương
Đông, người Ả rập, hay người phương tây. Những lời nói và hành động của Chúa
Giêsu có giá trị cho tất cả chúng ta. Ngài trở thành Ánh sáng thế gian. Tại sao
một người Do thái như tôi lại không tự hào về điều đó,”
Những lời đầy gợi ý của Shalom
Asch mời gọi tôi tự hỏi: Tôi làm việc và cầu nguyện ra sao khi tất cả mọi người
bước theo Anh sáng thế gian và không còn dò dẫm đêm tối nữa?
Cả thế giới được bừng lên trong
ánh quang Gíang sinh tuyệt vời làm sao! (Mary Austin)
5. Hêrôđê giữ luật
Việc giết chết các bé trai phản
ánh tình trạng tâm bệnh của Hêrôđê. Ông đã giết chết cả các thành viên trong
gia đình, nhưng lại ra sức giữ luật chay tịnh của người Do thái, như không ăn
thịt heo chẳng hạn. Điều này khiến một hoàng đế La mã nói đùa: “Tôi thích là
con heo của Hêrôđê hơn là làm con trai ông ta,” Một nhà sử học Do thái cho rằng
vào những ngày cuối đời, Hêrôđê đã ra lệnh dẫn đến nhiều công dân ở các thị trấn
Giuđê để giết chết. Đầu óc bệnh hoạn của ông nghĩ rằng nỗi đau đớn do cái chết
của họ sẽ đem lại niềm vui cho ông ta lúc chết. Lệnh này đã không bao giờ được
thi hành.
Tôi lý giải lòng nhân hậu của
Thiên Chúa thế nào khi cho phép những ông vua tàn ác gây dau khổ cho quá nhiều
người vô tội?
Chúa phán: “Tư tưởng của Ta
không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối
các ngươi,” (Is 55,8)
6. Tình yêu vị kỷ của Herode
Như Giacôbê và Gioan được Chúa
Giêsu đặt cho biệt danh là “ những người nóng nảy” vua Hêrôđê cũng là người đầy
tình cảm, có thể yêu thương và cam kết sâu xa. Nhưng đáng tiếc tình yêu của vua
Hêrôđê là tình yêu vị kỷ, chứ không phải tình yêu vị tha. Kết quả là cuộc đời
ông hoàn toàn khác so với Gioan và Giacôbê. Vua Hêrôđê được sếp vào số những
khuôn mặt bi thảm của Kinh thánh.
Tình yêu và lời cam kết của tôi
vị kỷ hay vị tha? Tôi có thể làm một việc gì cho điều đó?
Những người yêu nhau chẳng cần
sợ đối thủ.
7. Ngược dòng bảo vệ Chúa
Sứ mạng của thánh cả Giuse làm
cha nuôi Đấng Cứu Thế chứa đầy nan đề nghịch cảnh. Đứng trong hoàn cảnh của
ngài, chắc hẳn chúng ta không khỏi hoài nghi. Đành rằng với lời giải thích của
thiên sứ trong giấc mộng, Giuse đã mau mắn đón Maria về nhà làm vợ (Mt 1,20).
Thế nhưng thật khó hiểu được tại sao Thiên Chúa lại để Con Một Ngài sinh ra
trong cảnh nghèo nàn, hơn nữa, bị Hê-rô-đê tìm cách sát hại mà hầu như không có
khả năng tự bảo vệ chính mình. Trong những hoàn cảnh hết sức éo le, phi lý như
thế, thánh Giuse không hành động theo kiểu tính toán thường tình, buông xuôi
“theo dòng.” Dù chỉ được báo tin trong giấc mộng nhưng ngài đã trỗi dậy trong
đêm tối “đem Hài Nhi và Mẹ Người” trốn sang Ai-cập. Ngài đã dám “lội ngược
dòng” để bảo vệ Hài Nhi Giêsu.
Những người Công giáo I-rắc bị
nhóm khủng bố giết hại trong khi tham dự thánh lễ ngày 31/10 /2010 là một chứng
từ chấp nhận “ngược dòng” để trung thành với niềm tin vào Chúa Giêsu, chứ không
xu thời chối bỏ. Còn bạn, bạn có dám lội ngược dòng xu thế tục hoá, hưởng thụ của
thời đại hôm nay để đi theo Chúa Giêsu, trung thành sống theo những giá trị Tin
Mừng không?
Giá trị Tin Mừng nào đang bị
các kitô hữu ngày nay lãng quên nhiều nhất? Bạn làm gì để làm khởi sắc lại những
giá trị đó?
8. Trở nên bạn hữu
Trong tác phẩm “Hoàng tử và cậu
bé nghèo”, nhà văn Mark Twain viết về tình bạn của hoàng tử Edward xứ Galles và
một cậu bé nghèo. Một hôm hai cậu bé có ý nghĩ sẽ đổi vị trí của nhau và mọi rắc
rối cũng nảy sinh từ đó. Trong khi cậu bé nghèo trong vai hoàng tử sắp được tấn
phong làm vua, thì cậu bé hoàng tử trong bộ dạng rách rưới bị tống giam vì tội
mạo nhận là hoàng tử. Thiên Chúa Nhập Thể trong thân phận con người để con người
được làm Con Chúa, Ngài cũng để mình bị liên luỵ bởi lựa chọn đó. Nếu Hài nhi
Giê-su có được giấc ngủ ngon, thì Ngài cũng để mình phải liên luỵ đến những hy
sinh của Giu-se và Ma-ri-a, bởi lòng hào hiệp của những mục đồng và cả sự hy
sinh của những Hài nhi ở Bê-lem.
Bạn nhận ra mình thật hạnh phúc
khi được Vua Trời Đất trở nên “cùng hội cùng thuyền” với mình trong thân phận
con người. Bạn có sẵn sàng để mình bị liên luỵ và chia sẻ với Ngài trong những
đau khổ và hy sinh, để mong một ngày được sống hạnh phúc với Ngài không?
Điều bạn có thể làm để chia sẻ
với những khó khăn của Hài Nhi Giêsu là gì? “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên
Chúa,… nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống
phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
9. Tiếng khóc của thai nhi
Trong bộ truyện “Hán Sở Tranh
Hùng” có thuật chuyện binh lính của Hạng Vương nghe khúc tiêu nỉ non ai oán của
Trương Lương thì tiêu tan hết nhuệ khí chiến đấu, tan hàng bỏ trốn. Hạng Vương
cô thế, lui tàn binh tới sông Ô Giang, cùng đường liền dùng gươm tự sát. Tiếng
tiêu Trương Lương làm cho những chiến binh đang say men chém giết cũng phải mềm
lòng. Còn tiếng thét kinh hoàng của các thơ nhi bị giết và tiếng khóc xé lòng của
các bà mẹ đáng thương ở Bêlem lại không mảy may đánh động con tim Hêrôđê đã ra
chai đá vì lòng ham mê quyền lực. Hài Nhi Giêsu ngay từ lúc chào đời đã bước
vào giờ của Ngài, giờ của bóng đêm, của ác thần; giờ đó chỉ hoàn tất khi Ngài
chiến thắng sự dữ bằng cái chết và phục sinh. Quả thật, “Đấng Kitô lại chẳng phải
chịu khổ hình như thế, rồi mới vào vinh quang của Người sao?”
Dù người ta có dùng những “hệ
thống hãm thanh” để biến tiếng khóc Ra-khen và tiếng thét của các thai nhi thời
nay thành những tiếng rên uất nghẹn, thì vẫn không giấu được những hình ảnh và
con số kinh hoàng của nạn phá thai. Dù có biện minh bằng những mục tiêu to lớn
nào, có sử dụng những ngôn từ hoa mỹ nào đi nữa, phá thai vẫn là một tội ác
đáng ghê tởm. Việt Nam đứng thứ ba về nạn phá thai trên thế giới. Bạn nghĩ gì
và làm gì để tham gia vào sứ mạng “Bảo Vệ Sự Sống”?
NGÀY 29/12 - CỤ GIÀ SI-MÊ-ON CHỜ ĐỢI
Lời Chúa: Lc 2, 22-35
Khi mãn thời hạn thanh tẩy theo
Luật Môsê, ông bà đem Chúa Giêsu lên thành Giêrusalem, để dâng cho Chúa, như đã
viết trong lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là của
thánh, dâng cho Thiên Chúa", và việc dâng lễ vật như đã nói trong lề luật
Chúa là "một cặp chim gáy, hoặc hai bồ câu con."
Và lúc đó tại Giêrusalem có một
người tên là Simêon, là người công chính và có lòng kính sợ, đang mong đợi niềm
an ủi Israel, có Thánh Thần ở trong ông. Ông được Thánh Thần mách bảo là sẽ
không thấy giờ chết đến, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần
thúc giục, ông vào đền thờ. Khi cha mẹ bồng trẻ Giêsu đến để thi hành cho Người
các nghi thức theo luật dạy, thì ông ẵm lấy Người trên cánh tay mình, và chúc tụng
Thiên Chúa rằng: "Lạy Chúa, bây giờ Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an,
theo như lời Chúa. Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước
mặt muôn dân, là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel
dân Chúa."
Cha mẹ Người đều kinh ngạc về
những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà, và nói với Maria mẹ
Người rằng: "Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel
phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối.
Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được
biểu lộ."
TRUYỆN KỂ
1. Lời cầu xin tốt đẹp.
Roy Cam Parisella, bị bại liệt
phải ngồi xe lăn. Hằng ngày cô vẫn phải đến Trung Tâm Vật Lý Trị Liệu vốn là một
cơ sở tôn giáo để được chăm sóc. Lần nào cô cũng thấy có một số người thường dừng
lại trước một tấm bảng đồng được gắn ở tường ngay trong phòng tiếp nhận bệnh
nhân. Một buổi chiều kia, cô cũng dừng xe lăn, tò mò nhìn lên và thấy cả một
bài cầu nguyện được khắc ở trên tấm bảng đó. Cô đọc một cách hết sức chậm rãi.
Bỗng cô cảm thấy một niềm phấn khởi trào dâng lên từ tận đáy tâm hồn bấy lâu
nay đã tuyệt vọng vì âu sầu tủi nhục của cô.
Đây là lời cầu nguyện:
Lạy Chúa,
Con cầu xin ơn mạnh mẽ để thành đạt trong cuộc đời, thì Chúa lại
làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ,
Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn
lao, thì Chúa lại bắt con chịu tàn tật và chỉ làm được những việc tốt lành nho
nhỏ.
Con cầu xin được giàu sang để sống một cuộc đời sung sướng thoải
mái, thì Chúa lại bắt con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.
Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi
con, thì Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết cần đến Chúa.
Con cầu xin cho có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, thì Chúa lại
cho con cả một cuộc đời để được hưởng mọi sự.
Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn.
Nếu chỉ dừng lại ở đây thì quả
cuộc đời là một bế tắc, nhưng Parisella đã biết nhìn xa hơn khi cô đọc thêm những
lời cầu nguyện ở cuối bài. Những lời đó như thế này:
Nhưng những điều con đáng phải mơ ước mà con không hề biết thốt
lên lời cầu xin; thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.
Lạy Chúa,
Hóa ra, con lại là người có phúc hơn hết trên đời này. Bởi con
đã nhận được vô vàn bao ơn phúc Chúa ban.
2. Khao khát gặp Chúa
Trong kho tàng văn chương Ấn
giáo, có một câu chuyện sau đây:
Một đệ tử đến thưa vị linh sư của
mình:
- Thưa thầy, con muốn gặp Chúa.
Vị linh sư chỉ đáp trả bằng một
cái mỉm cười thinh lặng.
Ngày hôm sau người môn sinh trở
lại và bày tỏ cùng một ước muốn. Vị linh sư cũng chỉ mỉm cười và tiếp tục giữ
thinh lặng.
Rồi một ngày đẹp trời, ông dẫn
người đệ tử đến dòng sông. Thầy trò cùng dầm xuống nước. Chờ cho người đệ tử cảm
thấy hoàn toàn thoải mái trong dòng nước mát. Bất thần vị linh sư túm lấy cổ
anh và dìm xuống nước một hồi lâu. Người thanh niên cố gắng vùng vẫy để ngóc đầu
lên khỏi mặt nước.
Bấy giờ vị linh sư mới hỏi anh:
- Khi bị dìm xuống nước như thế,
con cảm thấy cần điều gì nhất?
Không chút suy nghĩ, người đệ tử
đáp ngay:
- Thưa, con cần không khí để thở.
Lúc bấy giờ vị linh sư mới giải
thích:
- Con có cảm thấy ước ao được gặp
Chúa như vậy không? Nếu con khao khát Chúa như vậy con sẽ gặp được Ngài tức khắc.
Ngược lại, nếu con không có ước muốn ấy, thì cho dù có vận dụng hết cả tài năng
và sức lực, con cũng sẽ chẳng bao giờ gặp được Ngài.
3. Niềm vui vì thấy ơn cứu độ
Ngày 5/11/08, Barack Obama đắc
cử tổng thống Hoa Kỳ. Nhiều người Mỹ hân hoan, nhiều nước trên thế giới hy vọng.
Họ đang kỳ vọng vị tổng thống tân cử này sẽ vực dậy không chỉ riêng nước Mỹ mà
còn cả thế giới ra khỏi những khó khăn khủng hoảng. Về phần Hội Đồng Giám Mục
thì lại lo âu vì chủ trương cho phép phá thai không giới hạn của Obama.
Tin Mừng hôm nay mời gọi ta có
một lối ứng xử theo tinh thần đức tin trước những sự kiện đời thường: Ông già
Simêon “vui vì được thấy ơn cứu độ.” Nhưng niềm vui của ông không theo kiểu thế
tục: Để ơn cứu độ đó được thể hiện thì trẻ Giêsu sẽ là “dấu hiệu bị người đời
chống báng,” và về phần Đức Maria, người tham gia gần gũi vào chương trình cứu
độ đó, thì “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”
Thường chúng ta hay lo lắng cho
miếng cơm manh áo. Khi no đủ thì ta lại muốn ăn ngon mặc đẹp... Và niềm lo lắng
cho nhu cầu vật chất, lòng khát khao danh vọng cứ cuốn hút ta khiến ta tâm hồn
ta không còn chỗ cho Thiên Chúa nữa, không còn cảm nhận được niềm vui được thấy
ơn cứu độ. Thực ra, ơn cứu độ đã được sắm sẵn cho bạn rồi. Nhưng, mời bạn xét
xem, cái gì đang ngăn trở mình không cảm nhận được niềm vui ơn cứu độ ấy?
4. Kiên trì chờ đợi
Nathaniel Hawthorne chết, trên
bàn của ông có dàn bài một vở kịch mà ông chưa có cơ hội để viết. Vở kịch tập
trung vào một con người huyền bí được mọi người bàn luận và mơ ước, chờ đợi.
Nhưng con người này không bao giờ đến.
Cựu ước cũng giống như vở kịch
đó. Nó tập trung vào một người là Đấng Mêsia, Đấng toàn thân mong đợi và cứu
thoát Israel.
Cũng như thời Cựu ước, một số
người thời nay cũng chờ đợi Chúa Giêsu trở lại. Họ tự hỏi sự kiện đó ở gần tầm
tay. Tôi suy nghĩ gì về điều đó?
Chúa Giêsu không tiết lộ ngày tận
thế để chúng ta luôn tỉnh thức chờ đợi Ngài. (Thánh Augustinô)
5. Một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn bà
Một ngày nọ trong thế chiến thứ
hai, một đội tuần tra hải quân Mỹ trên đảo Guam đã đổ ra và giết chết ba người
lính Nhật. Theo thường lệ, họ lục lọi tìm kiếm lựu đạn và tài liệu quan trọng.
Trong túi áo của một người chết là tấm ảnh, Mẹ Chúa Giêsu. Tấm ảnh ấy nằm trong
túi áo trước ngực của người lính Nhật.
Từ thời Đức Maria đến nay, đã
có biết bao người mẹ cảm nhận lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn do chiến tranh bạo lực
gây ra. Tôi có thể chấp nhận chiến tranh và đau khổ mà nó mang lại như một điều
không thể tránh không?
Nhân loại phải kết thúc chiến
tranh hoặc chiến tranh sẽ kết thúc nhân loại. (John F. Kennedy)
6. Được gặp Chúa
Wilbur Hegger sợ dính dáng đến
chức vụ linh mục ở nhà tù khi lần đầu tiên có ngài đề nghị với ông điều đó. Tuy
nhiên, chuyến viếng thăm đầu tiên tại nhà tù không những xóa tan nỗi sợ hãi, mà
còn mở cho ngài một thế giới của cuộc sống mới mà ngài rất hài lòng.
Wilbur nói: “Trước kia những
chiều Chúa nhật đối với tôi chỉ có nghĩ là ngồi xem đá banh trên truyền hình,
không còn gì khác nữa, nhưng giờ đây, thay vào đó chủ đề cho những buổi nói
chuyện với các tù nhân là Chúa Giêsu cứu thế.” Vì hầu hết các tù nhân mà ngài
thăm viếng đều lãnh án dài hạn, cho nên Wilbur dần dần trở lên quen thân và xem
họ như những người bạn.
Tôi hài lòng thế nào với cuộc đời
tôi? Phần đời nào tôi cảm thấy ít hài lòng nhất?
Giúp đỡ anh em là cách tiếp cận
Thiên Chúa gần nhất. (Cicero)
7. Tấm gương chờ đợi
Một bà lão gặp vị linh mục và
nói: Thưa Cha, con đã cầu nguyện rất nhiều, con chỉ mong thấy Chúa một lần là đủ
cho con, nhưng Chúa chưa nhận lời.
Ước mong đơn sơ của bà thật sự
gói trọn niềm hy vọng của người kitô hữu; bởi cùng đích của cuộc đời chúng ta
là gặp gỡ và kết hợp trọn vẹn với Chúa. Mặt khác, lời cầu xin đó cũng khiến
chúng ta giật mình, bởi nhiều khi chúng ta tin Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, nhưng
cuộc sống của chúng ta lại không nói lên niềm trông đợi Chúa đến.
Gương sống của cụ Simêon thật
đáng để chúng ta noi theo: cụ chờ đợi Chúa không chỉ một vài “mùa Vọng” nhưng
là suốt cuộc đời; cuộc đời công chính và sùng đạo, cụ để cho Chúa Thánh Thần hằng
ngự và dẫn dắt; điều đặc biệt nữa đó là, cụ tin vào lời Thánh Thần linh báo.
Và đến cuối đời, cụ đã được phần
thưởng xứng đáng là ẵm Chúa Hài Đồng. Cụ đã thấy ơn cứu độ và chỉ xin được an
bình ra đi.
NGÀY 30/12 - BÀ TIÊN TRI ANNA
Lời Chúa: Lc 2, 36-40
Khi ấy, có bà tiên tri Anna,
con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với
chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời
khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng
đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang
trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều
theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn
lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.
TRUYỆN KỂ
1. Lời Tiên Báo Về Chúa Hài Nhi
Vào một mùa Giáng Sinh nọ, trước
giờ đi lễ, vị chủ nông trại đang ngồi thưởng thức nhạc Giáng Sinh, bỗng đâu cả
đàn ngỗng của ông tụ lại trước sân nháo nhác tìm chỗ trú. Chúng vừa đói, vừa lạnh,
lông cánh rối bời. Tất cả người làm đều đã nghỉ cả, người chủ cũng đều sắp đóng
cửa để về thành phố dự Thánh Lễ. Bởi vậy ông bèn ra lùa đàn ngỗng về chuồng,
nhưng chúng không biết ông nên dù cho gào thét khàn cả tiếng, chạy ngược chạy
xuôi, đã rời cả đôi chân mà ông vẫn không đem được một con nào về chuồng.
Thấy vậy ông thầm ước với mình:
"Ước gì tôi được làm ngỗng trong chốc lát, để tôi có thể dùng tiếng loài
ngỗng mà nói cho chúng hiểu ước muốn của tôi và cho chúng biết đâu là chốn hiểm
nguy, đâu là nơi an toàn." Bỗng chốc, ông đã thành một con ngỗng đứng giữa
bầy như ước nguyện.
Có thể chúng ta sẽ là phi lý
khi thấy người biến thành ngỗng. Thế nhưng, có một điều khác còn phi lý hơn nữa
mà Giáo Hội đang mời gọi chúng ta chiêm ngắm, đó là hang đá Belem, nơi Thiên
Chúa Vua Cả trời đất giành lấy thân phận làm người, sinh ra trong hang bò lừa
máng cỏ. Ngài làm người để rồi Ngài sẽ dùng ngôn ngữ của loài người mà chỉ dạy
cho con người lối về quê thật.
Trong mùa Giáng Sinh, mùa kỷ niệm
một biến cố phi lý mà con người không thể hiểu thấu. Ước mong rằng mỗi người
trong chúng ta biết bắt chước như bà Anna là sẵn sàng đón nhận những đau khổ,
những phi lý về ơn cứu độ và nhất là luôn nhớ sứ mệnh tiên tri đã được trao ban
từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, để rồi ta có thể bắt chước thánh Phaolô mà
nói được như Ngài: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Ðức Kitô."
Amen.
2. Chọn viên ngọc quí.
Người ta kể rằng có một chàng
thanh niên đến xin thọ giáo với một sư tổ về ngọc thạch. Sau khi đã chấp nhận
người môn sinh, vị sư tổ trao cho chàng một viên ngọc thạch quí giá, và bảo
chàng hãy nắm thật chặt lấy nó ở trong tay. Thế rồi ông nói thao thao với người
môn sinh về triết lý nhân sinh, về thiên văn địa lý. Sau hơn một giờ đồng hồ,
ông bảo người môn sinh trả lại ông viên ngọc thạch, rồi cho chàng về nhà.
Hôm sau, chàng thanh niên đó trở
lại, và cái cảnh hôm trước lại tái diễn. Thế rồi ngày này qua ngày khác, tháng
nọ qua tháng kia, không có một điều gì khác lạ.
Nhưng rồi một hôm vị sư tổ bảo
chàng nhắm mắt lại, rồi trao cho chàng một viên đá thay vì một viên ngọc như mọi
khi, và cũng bảo chàng nắm tay lại.
Vừa nắm bàn tay lại chàng thanh
niên nói: - Thưa thầy, đây không phải là viên bảo ngọc.
Vị tổ sư về ngọc thạch reo lên:
- Khá lắm, khá lắm, thế là con đã thành tài rồi đó.
Sống trong cuộc sống, chúng ta
phải tập cho mình biết nhạy bén với những dấu chỉ dù nó thật nhỏ bé, chúng ta mới
có thể nhận ra những điều kỳ diệu Chúa làm cho chúng ta.
3. Sống kết hiệp với Chúa như bà Anna
Bài Tin mừng hôm nay gợi lên
cho ta một mẫu người thánh thiện nơi bà Anna. Tác giả Tin mừng theo thánh Luca
gọi bà là một tiên tri, nhưng theo ý kiến các nhà chú giải thì bà chỉ là một
người đơn sơ bé nhỏ thuộc về nhóm những người nghèo của Giavê, những kẻ ưu tiên
được hưởng lời hứa và ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Bà chỉ xuất hiện một lần trong
biến cố dâng Chúa vào Đền thờ. Dung mạo bà được mô tả bằng những chi tiết đơn
sơ nhưng thật quan trọng: bà đã được 84 tuổi đời, goá bụa nghèo khó, trung
thành với những bổn phận đạo đức, sống nơi Đền thờ, phụng sự Thiên Chúa ngày
đêm trong kinh nguyện và trong chay tịnh. Thật khó mà sống được như thế nếu
không cố gắng cộng tác với ơn Chúa.
Bà tin tưởng vào lời hứa cứu độ
của Thiên Chúa sẽ thực hiện và cuối cùng đã được nhìn thấy Đấng Cứu Chuộc nơi
Hài nhi Giêsu.
4. Tìm điều Chúa muốn
Nhiếp ảnh gia Davit Croket của
hãng truyền hình KOMO, Seatle đã có mặt ở chân núi St. Helens khi nó nổ tung
vào ngày 18-5-1980. Đavit hầu như bị chôn vùi dưới lớp mảnh vỡ. Mười giờ sau,
khi bầu khí quang đãng, ông được một chiêc trực thăng phat hiện ra và đưa đến bệnh
viện để cấp cứu Sau đó, ông viết: “Trong suốt mười giờ đó tôi thấy ngọn núi vỡ
thành từng mảnh. Tôi thấy một khu rừng biến mất… Tôi thấy rằng chỉ một mình
Thiên Chúa là bất biến. Tôi cảm nhận được rằng mình được phép được bắt đầu lại,
bất cứ công việc khó khăn gì Ngài dành cho tôi,”
Tôi xác tín Thiên Chúa có một
chương trình dành cho tôi như thế nào?
Tôi muốn được trường thọ. Sự
trường thọ có ý nghĩa riêng của nó. Nhưng giờ đây tôi không lo lắng về điều đó.
Tôi chỉ muốn thi hành thánh ý Thiên Chúa (Martin Luther King)
5. Hy vọng vững vàng
Trong cuốn tiểu thuyết “ Cội rễ”,
James Michener dùng hình ảnh nên thơ này để phác họa xã hội Do thái trước khi
Chúa Giêsu đến. Rabbi Asher đi dạo trong một vườn cây ăn trái, ông chợt phát hiện
ra một cây ôliu già, lõi của nó bị thối rửa, chỉ còn lớp vỏ bên ngoài, nhung những
gì xót lại vẫn còn liên hệ với rễ nhờ đó cây ôliu vẫn sống. Asher nghĩ rằng điều
đó tóm tắt đầy đủ tình trạng của người Do thái: cốt lõi bên trong của họ đã thối
rữa, nhưng những gì còn lại vẫn giữ mối liên hệ với Thiên Chúa, chính nhờ vậy
người Do thái có thể tìm ra thánh ý Thiên Chúa và sinh được những hoa trái tốt.
Tôi có điều gì giống như xã hội
Do thái trước khi Chúa Giêsu đến không?
Nói rằng một tình trạng hay một
ai đó là vô vọng, tức là đóng sập cửa trước mặt Chúa. (Charles L. Allen)
6. Báu vật cho ai biết
Có hai người phụ nữ trong một
tiệm bán đồ cổ. Một người đang nhìn vào một vài món nữ trang rẻ tiền. Người kia
tiến đến và hỏi: “May mắn chứ!” Người thứ nhất trả lời: “Không! Chỉ là đổ tạp
nhạp,” Bà ta đứng sang một bên để người bạn trông thấy. Ngay lập tức, người này
phát hiện ra một Thánh giá cổ bằng bạc. Đó là một báu vật hiếm có.
Cũng như Anna, một phụ nữ cao
niên thánh thiện đã thấy vinh quang của Con trẻ trong tay Đức Maria xuyên qua vẻ
ngoài nghèo khó của thánh Giuse và Đức Maria, người phụ nữ trên cũng tìm thấy
“báu vật” trong mớ đồ tạp nhạp. Những vật xung quanh có khiến tôi mù lòa không
thấy được báu vật nơi con người không?
Chỉ khi học cách nhìn thế giới
vô hình, chúng ta mới học được cách thực hiện những điều bất khả. (Frank
Gaines)
7. Nhà truyền giáo đích thực
“Hãy nói về Chúa cho những người
quanh bạn nghe; và hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa nghe.” Đó là khuôn
vàng thước ngọc của việc truyền giáo của Giáo Hội.
Bà An-na trong đoạn Phúc Âm hôm
nay là người đã thực hiện vai trò truyền giáo của mình một cách thiết thực bằng
chính cuộc sống của mình: bà đã can đảm chấp nhận một cuộc sống nghèo nàn, đơn
sơ trong chay tịnh và cầu nguyện để trông chờ Đấng Cứu Thế.
Chắc chắn trong suốt thời gian
sống ẩn dật, bà đã “nói với Chúa” rất nhiều về con người trong thời đại đó và về
nỗi khát khao ơn cứu độ của họ. Được Chúa thương cho diện kiến Vị Cứu Tinh và
được đụng chạm đến Người, bà đã không giữ lại cho riêng mình nhưng ngay lập tức
“nói về Chúa”, công bố tình thương Chúa cho mọi người. Qua đó, sứ mạng của nhà
truyền giáo được thực hiện một cách trọn vẹn, đầy đủ, đầy lòng tin và sự nhiệt
thành.
Bà An-na là mẫu mực cho mọi
ki-tô hữu trong cuộc sống và hành động trong việc loan truyền Lời Chúa.
8. Để nhận biết Đấng Cứu Thế
“Một Hài Nhi sinh hạ cho chúng
ta, một trẻ thơ ban tặng cho chúng ta” (Is 9,5). Đấng Cứu Thế được các ngôn sứ
loan báo, là món quà tặng quý báu nhất Thiên Chúa ban cho loài người, thế nhưng
khi Ngài sinh ra làm người, Ngài lại bị từ chối ngay tại sinh quán của mình.
Trái lại, như một hạt cát không
được nhận biết giữa sa mạc thế giới, Chúa Hài Nhi lại được nhận biết và được
nói đến bởi những người đơn sơ nghèo hèn, trong đó là một goá phụ, một “nữ ngôn
sứ”, bà Anna. Bà đã chọn sống một lối sống “không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay
cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa” (Lc 2,37). Phải chăng đó chính là
những phẩm chất cần để có thể gặp gỡ, nhận biết, và để có thể “nói về Hài Nhi”
cho anh chị em mình?
Ta không thể tìm gặp Chúa trong
sự ồn ào náo động của những lo toan vật chất hay những đam mê trần tục, mà chỉ
trong kinh nguyện hằng ngày, trong cuộc sống bình dị đơn sơ, để trong việc chu
toàn những công việc bổn phận tầm thường hằng ngày, như hạt giống lớn dần, như
nắm men từ từ làm dậy cả khối bột. Từ đó ta mới có thể nói về Hài Nhi một cách
thuyết phục bằng chứng từ của cuộc sống.
9. Nên trưởng thành như con trẻ Giêsu
Các chuyên viên dinh dưỡng cảnh
báo tình trạng trẻ em bị béo phì tăng nhanh tại các thành phố lớn như tại Sài
Gòn tỷ lệ trẻ béo phì là 50%, nội thành Hà Nội là 41%. Đang khi ấy, trẻ lại thiếu
trưởng thành về phương diện tâm lý do được cha mẹ quá nuông chiều. Rồi chắc chắn,
có thể được đầu tư quá nhiều thời gian cho học văn hoá, mà thiếu sự quan tâm đến
việc học giáo lý cũng như cho các kỹ năng cần thiết khác. Các bậc cha mẹ đâu biết
mình đang tạo ra những trẻ thiếu quân bình, dễ bị thương tổn, nhất là có nguy
cơ đánh mất niềm tin vào Chúa. Qua hình tượng trẻ Giê-su, Tin Mừng hôm nay gợi
ý cho ta bốn phương diện cần thiết trong quá trình dưỡng dục một trẻ em:
- nuôi dưỡng sức khoẻ thể lý,
- trưởng thành nhân cách,
- phát triển trí tuệ, và
- lớn lên trong ân sủng Chúa.
“Bạn trưởng thành khi thế giới
của bạn mở ra và bạn nhận thức rằng mình không phải là trung tâm của thế giới ấy”
(M. Croan). Có những người lớn lên, già đi, nhưng không trưởng thành, vì họ chỉ
loay hoay, quanh quẩn với thế giới, cuộc sống, sở thích, dự tính riêng của
mình. Bạn thì sao?
NGÀY 31/12 – NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI
Lời Chúa: Ga 1, 1-18
Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời,
và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với
Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người,
thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người
vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u
tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.
Có một người được Thiên Chúa
sai đến tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự
sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng
đến để chứng minh về sự sáng. Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi
người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người
tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người,
và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp
nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những
ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác
thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.
Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục
thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của
Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng
và chân lý. Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi
tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi.”
Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi
vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu
Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong
Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.
TRUYỆN KỂ
1. Ngôi Lời đã thành người
Ông Soren Kierkegaard, một triết
gia người Đan Mạch, kể chuyện sau.
Một vị vua bỗng dưng đem lòng
thương cô thôn nữ nghèo. Ông tin rằng mình có thể dùng quyền vua để cưới cô ấy
làm vợ. Nhưng ông lại sợ cô lấy ông chỉ vì nể phục chứ không yêu. Như thế tương
quan giữa hai người không được trọn vẹn.
Sau khi suy nghĩ, ông thấy chỉ
có cách là thực sự từ bỏ ngai vàng, trở thành một anh nông dân nghèo, và bày tỏ
tình yêu mình cho cô. Vị vua biết làm thế là liều lĩnh, vì ông có thể mất cả cô
lẫn ngôi báu. Cô có thể chê chàng nông dân, hay chê quyết định dại dột của vị
vua. Nhưng nhà vua vẫn dám liều, vì ông quá yêu cô thôn nữ, và ông muốn đây là
một mối tình thực sự.
Câu chuyện cảm động trên đây
đưa ta vào chuyện tình đã xảy ra giữa Ngôi Lời Thiên Chúa và nhân loại. Ngôi Lời
còn cao trọng hơn vị vua kia bội phần.
Ngài là Thiên Chúa Con Một, dựng
nên vạn vật (cc. 3. 18). Ngài là Đấng duy nhất thấy Thiên Chúa và ở trong lòng
Thiên Chúa, nên chỉ Ngài mới có thể bày tỏ Thiên Chúa cho nhân loại (c. 18). Ngài
tràn đầy ân sủng và sự thật, sự sống và ánh sáng (cc. 3. 14).
Tất cả những điều ấy là quà tặng
của Ngôi Lời cho con người. Nhưng quà tặng lớn lao và bất ngờ nhất làm ta ngỡ
ngàng, reo vui, đó là biến cố Ngôi Lời trở nên người phàm và ở giữa chúng ta
(c. 14).
2. Ánh sáng cho nhân loại
Mỗi dịp cuối năm, tạp chí Time
có thói quen chọn một nhân vật làm người nổi bật của năm. Người được chọn cho
năm 1994 là Đức Gioan Phaolô II. Trong số ra cuối năm, tạp chí Time đã đưa ra
lý do chọn lựa này như sau:
“Đức Giáo Hoàng không cảm thấy
bối rối về lối sống đê hèn đang lan tràn khắp nơi. Cách đây 2 tuần, ngài đã giải
thích với tạp chí Time rằng: cuốn sách bán chạy của ngài và đường lối ngoại
giao không mấy được ưa thích của ngài đều có cùng một trọng tâm triết lý, đó là
qui về sự thánh thiện của con người, và ngài nói thêm: “Giáo Hoàng phải là một
sức mạnh tinh thần.” Trong một năm mà nhiều người than phiền về sự suy đồi của
những giá trị luân lý hoặc bào chữa cho những hành động xấu, thì Đức Gioan
Phaolô II đã cố gắng đề ra cái nhìn của ngài về cuộc sống tốt đẹp và thôi thúc
thế giới sống theo cuộc sống đó. Chính vì sự can đảm đó, ngài được chọn làm người
của năm.”
Nhận định trên của tạp chí Time
về Đức Gioan Phaolô II hoàn toàn phù hợp với cái nhìn của ngài trong tác phẩm
“Bước qua ngưỡng cửa hy vọng.” Như tựa đề mà Đức thánh cha chọn cho tác phẩm
này đã có thể gợi lên: Hy vọng là sứ điệp mà ngài muốn nhắn gửi cho cả nhân loại
trong giai đoạn này. Xuyên suốt qua cuốn sách, ngài không ngừng lặp lại câu nói
ngài đã gióng lên tại quảng trường Phêrô khi được bầu làm Giáo Hoàng: “Đừng sợ,
hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô.” Thiết tưởng đó phải là ý tưởng hướng dẫn những
suy tư của chúng ta trong ngày cuối năm này.
3. Thiên Chúa nhập cuộc.
Khi Thiên Chúa làm người thì sống
như mọi người chúng ta, chỉ trừ tội lỗi thôi. Chúng ta sống thế nào thì Người sống
như vậy, hết sức hòa đồng. Câu truyện sau đây nói lên khía cạnh đó:
Một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều
người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến.
Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay vì già yếu nên ông cụ này khi xuống
xe đã trượt chân té vào vũng nước bùn. Những khách khác thấy vậy cười nhạo ông.
Xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng, ông quyết định quay về. Gia nhân nài nỉ
cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc.
Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra
sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là quần
áo của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai
dám cười nhạo nữa. Sau đó vị quan lớn cầm tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ
chẳng còn lý do nào để chối từ nữa (Góp nhặt).
4. Ánh sáng và bóng tối
Một đêm kia, trên một đường phố
vắng vẻ, Bóng Tối ngồi co ro, buồn bã. Từ một xó nọ loé lên một Tia Sáng, rất
nhỏ và rất yếu, nhưng là một tia sáng, phát ra từ một cây nến nhỏ mà ai đó đã cắm
ở đấy. Một người khách đi qua nhìn thấy cây nến nhỏ và nói:
- Sao mi lại chiếu sáng trong
cái xó kẹt này? Thiếu gì chỗ khác, mi đến đó mà chiếu sáng thì sẽ hữu ích hơn
nhiều.
- Tại sao hả, cây nến trả lời.
Tôi chiếu sáng bởi vì tôi là cây nến. Tôi có chiếu sáng thì tôi mới là cây nến.
Vả lại tôi chiếu sáng đâu phải chỉ để cho người ta thấy mà còn để cho tôi vui,
vui vì được làm Tia sáng, vui vì được chiếu sáng.
Bóng Tối nghe thế rất bực bội.
Nó nhào tới phủ lên Tia sáng mong làm cho Tia sáng bị tắt. Nhưng chẳng những
Tia sáng không tắt, trái lại Bóng Tối còn bị rách nát ra.
“Ánh sáng chiếu trong bóng tối
và bóng tối đã không tiêu diệt được ánh sáng”: Nói một cách triết lý, Tối chỉ
là thiếu Sáng, cho nên khi nào Sáng đến thì Tối phải tan. Chỉ một ngọn nến nhỏ
được đưa vào một gian phòng mênh mông cũng đủ đuổi bóng tối ra khỏi gian phòng.
Suy rộng ra, Ác chỉ là thiếu Thiện, cho nên Ác không thể nào thắng Thiện, ngược
lại Thiện thắng Ác là điều tất yếu. Ngôi Hai đã nhập thế và nhập thể, ai đón nhận
Ngài vào lòng mình thì chắc chắn sẽ đẩy lùi bóng tối và sự ác khỏi lòng mình. Bởi
thế, trong quyển sách “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng,” Đức Gioan Phaolô II luôn lặp
đi lặp lại lời kêu gọi đầy lạc quan: “Đừng sợ. Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô. ”
5. Sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
Nếu sự sống của mọi loài trên mặt
đất phải cần đến ánh sáng mặt trời để tồn tại và phát triển thì Lời Chúa cũng cần
cho sự sống đức tin như thế.
Một câu chuyện nhỏ từ Internet:
Một hôm, tôi và con trai cùng trồng đậu. Vì thời tiết nóng bức, lũ chuột hoành
hành, nên tôi vùi hạt đậu sâu xuống đất. Vài ngày sau, tôi dắt con trai ra xem.
Khi bới đất lên, tôi thấy rất nhiều hạt đậu đã nảy mầm, phía trên mỗi hạt đậu
nhú lên hai chiếc lá non màu vàng. Những sinh mệnh yếu ớt đang lớn lên từng
giây từng phút trong khoảng trống dưới đất. Chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ ngoi
lên khỏi mặt đất.
Con trai ngạc nhiên hỏi tôi:
- Mẹ ơi, những mầm cây này cũng
có mắt hay sao mẹ?
Tôi trả lời:
- Chúng không có mắt đâu con.
Vậy tại sao chúng lại biết vươn
lên khỏi mặt đất mà không đâm xuống dưới.
- Bởi vì chúng muốn tìm kiếm
ánh sáng. Không có ánh sáng chúng sẽ chết.
- Mẹ ơi, nếu không có ánh sáng,
con người chúng ta có chết không?
Con trai tôi lại hỏi tôi.
- Chắc chắn là thế rồi, nhưng
tôi không dám trả lời như thế mà chỉ nói với nó:
- Con yên tâm đi, không bao giờ
thiếu ánh sáng đâu.
Vâng! Ánh sáng không hề thiếu
và ánh sáng không thể thiếu. Vì nếu thiếu ánh sáng, mọi loài sẽ không thế tồn tại
trên cõi đời này.
Mẹ Têrêsa bảo: "Chúa Giêsu
đã đến như là ánh sáng của thế gian"
6. Chúa Giêsu là ánh sáng cho thế gian
Mẹ Têrêsa bảo: "Chúa Giêsu
đã đến như là ánh sáng của thế gian"
Và mẹ còn viết rất hay như sau:
"Với tôi, Chúa Giêsu là tất cả: Chúa Giêsu là sức sống tôi muốn sống; Ngài
là ánh sáng tôi muốn chiếu tỏa; Ngài là đường tôi đi về nhà Cha, Là tình yêu
tôi muốn tỏ tình, Là niềm vui tôi muốn chia sẻ, Là hạt giống an bình, tôi gieo
rắc. "
Lời cầu nguyện của Đức Hồng Y
Roger Etchegaray:
Lạy Chúa, xin chiếu tỏa trên
con ánh sáng của Chúa và dạy con bước đi ngay trong đêm tối cũng như giữa ban
ngày. Xin truyền cho con sức mạnh của Người. Ứớc gì những cánh tay rã rời vì thất
bại của con tìm lại được sức trẻ để gieo trồng hàng ngàn cây xanh cho một thế
giới mới.
Ước gì mồ hôi con pha lẫn mồ
hôi của Chúa trong Vườn Cây Dầu. Ước gì máu con hòa lẫn với Máu Chúa trên Núi Sọ
để tưới gội cho mảnh đất đã bị khô cằn vì bất công và ích kỷ.
7. Thiên Chúa ở cùng chúng ta
Vào năm 1957, chiếc phi thuyền
đầu tiên của con người đã được phóng vào không gian. Đó là chiếc phi thuyền
mang tên Spounik do người Nga chế tạo. Sau khi chiếc phi thuyền này bay một
vòng trong không gian, đã bay trở về trái đất an toàn. Một phi hành gia vô thần
trong phi hành đoàn là ông Gagarin đã tuyên bố với mọi người:
- Tôi đã bay một vòng trong
không gian, nhưng không nhìn thấy Thiên Chúa đâu cả!
Vào năm 1971, chiếc phi thuyền
mang tên Apollo 11 của Hoa Kỳ cũng phóng vào không gian và đáp xuống mặt trăng.
Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, con người đặt chân lên mặt trăng. Trong phi
hành đoàn, có ông Amstrong, người được gọi là “Anh Hùng Không Gian” của Hoa Kỳ,
đã dựng một biểu ngữ trích câu Kinh Thánh đầu tiên của Phúc Âm thánh Gioan mà
chúng ta vừa nghe:“Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên
Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa.”
Những phi hành gia của Nga vì
không có niềm tin, nên đã không nhìn thấy Thiên Chúa và vì thế, họ đã không tiếp
nhận Ngài.
Những phi hành gia người Mỹ, với
sự khiêm tốn và niềm tin, đã tiếp nhận Ngài và đã làm một hành động tượng trưng
là đặt Lời Thiên Chúa trên phần đất mà họ vừa đặt chân tới. Qua hành động đó, họ
muốn công nhận sự hiện diện của Thiên Chúa ở khắp mọi nơi.
8. Ngôi Lời nhập thể
Có một người sống trên cung
trăng đáp xuống trái đất, người đó lượm được một cục phấn, mà không biết nó là
gì, liền đi hỏi một nhà giáo: “Đây là cục gì?” Nhà giáo nói: “Đây là phấn dùng
viết bảng dạy học trò”; Người cung trăng lại cầm cục phấn đến hỏi người nhà
nông: “Đây là cục gì?” Người nhà nông trả lời: “Đây là loại thạch cao, trồng
cây không được”; Người cung trăng lại đến hỏi nhà làm tượng: “Đây là cục gì?”
người làm tượng trả lời: “Đây là loại thạch cao, nhưng loại này tôi không dùng
nắn tượng được”; Người hành tinh lại đi hỏi nhà khoa học: “Đây là cục gì?” Nhà
khoa học trả lời: “Đây là kết tinh của nhiều phân tử canxi, mỗi phân tử có
dương điện tử và âm điện tử, chạy quanh một trung hòa tử.”
Như thế, muốn tìm ý nghĩa của một
cục phấn, mà bốn người nói khác nhau, nhưng không nghịch nhau, mà chỉ làm phong
phú về ý nghĩa của cục phấn. Nếu người hành tinh lười biếng, không đi hỏi nhiều
người, chỉ hỏi một người nông dân về cục phấn, thì người hành tinh biết quá ít,
quá nông cạn về cục phấn! Nhưng nếu càng chịu khó đi hỏi nhiều người, thì càng
giàu kiến thức về nó.
Ấy một cục phấn ý nghĩa còn
phong phú đến thế, huống chi Lời Chúa còn phong phú ý nghĩa gấp bội. Chúng ta
càng chịu khó nghe nhiều vị giáo sĩ giảng Lời Chúa, chúng ta càng hiểu biết Lời
Chúa phong phú hơn!
9. Cắm lều ở giữa nhân loại
Cảnh sát thành phố Los Angeles ở
Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad.
Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta
chuyển đến "Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Thành phố" một bức thư đầy lỗi
chính tả của em. Em viết như sau:
"Thưa Ông "dà"
Noen, Giáng Sinh này xin ông giúp đỡ bố mẹ con. Bố con không còn đi làm nữa.
Bây giờ nhà con không có nhiều thức ăn. Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức
ăn đáng lẽ mẹ ăn...
Con muốn được lên "chời"
để ở chung với các thiên thần. Ông mang con lên "chời" nhé. Bố mẹ con
sẽ không phải mua đồ ăn cho con nữa. Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con "xung xướng.”
Xin Ông mang cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn...
Con sẽ không ngủ đâu. Khi Ông
cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với Ông và bảy tuần
lộc... Con gởi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến Bà Noen và các chú lùn nữa.
Ký tên: Thad.
Người ta vẫn chưa tìm ra em
Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa.
Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lạnh, họ không dám đến những khu nhà tối tăm,
bẩn thỉu vì sợ dơ quần áo. Họ giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ
muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những
cây thông đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn. Những người giàu
ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.
Chúng ta không cần tìm kiếm ở
đâu xa xôi, vì Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Quả thực, Thiên Chúa
không phải chỉ làm người giả hiệu, mà Ngài đã cắm lều ở giữa chúng ta.
10. Chúa làm người để nói chuyện với con người
Thánh Phaolô viết: “Chúng ta
không còn bị Lề Luật ràng buộc nữa… Như vậy, chúng ta phục vụ Thiên Chúa theo
tinh thần mới, chứ không theo bản văn cũ của Lề Luật,” (Rm 7,6) Có người sẽ hỏi:
“Nếu vậy, tại sao chúng ta cần lề luật?” Câu trả lời thật rõ ràng: Mặc dù nhận
được Thánh Thần, chúng ta vẫn còn là tội nhân. Chẳng hạn, chúng ta không luôn lắng
nghe tiếng Chúa Thánh Thần như chúng ta phải nghe. Khi điều này xảy ra, luật lệ
thức tỉnh ta. Hoặc như “Ngày của các người mẹ” được coi như tiếng thức tỉnh khi
chúng ta không lắng nghe tiếng tình yêu mời gọi, cũng vậy, lề luật được coi như
tiếng thức tỉnh khi ta không lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần.
Điều gì ngăn cản tôi không nghe
theo tiếng của Chúa Thánh Thần và của tình yêu trong đời tôi?
Nếu bạn muốn Thiên Chúa lắng
nghe lời cầu nguyện của bạn, tại sao bạn không lắng nghe khi Ngài ngỏ lời với bạn
11. Ánh sao dẫn đường
Có một họa sĩ vẽ một bức tranh
một con người cô độc đang chèo thuyền vượt biển vào ban đêm. Xa xa là một vì
sao đơn độc. Ấn tượng bạn cảm nhận được khi xem bức họa này là: nếu con người
kia lạc mất ánh sao trên trời, anh ta sẽ lạc lối. Những gì bức họa nói về con
người đang chèo thuyền vượt biển trong đêm đen cũng có thể nói về chúng ta. Nếu
một khi mất đi ánh sáng dẫn đường của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ hoàn toàn lạc lối.
Điều gì làm cho tôi gần như
đánh mất ánh sáng của Chúa Giêsu? Tôi có thể nói gì với Ngài về điều này?
Chúa Giêsu là ánh sao dẫn đường
trước tôi, là làn gió êm dịu sau tôi, là con đường bằng phẳng dưới chân tôi, là
niềm hy vọng lóe lên trong tôi, là tất cả bây giờ và luôn mãi.
12. Ánh sáng giúp con người biết mình
Có một bài thơ Kitô giáo cổ xưa
liên quan đến ngày tận thế. Bài thơ mô tả một cây thánh giá trên bầu trời. Từ
cây thánh giá chiếu giãi một ánh sáng đỏ như máu. Điều lạ lùng là ánh sáng đó
cho con người thấy họ là ai. Nó xuyện thấu vẻ bên ngoài của nhân vật nổi tiếng
và cho thấy rõ tâm hồn của người ấy. Nó cũng xuyên qua bộ đồng phục của công
nhân và cho thấy có gì trong tâm hồn người này.
Điểm nổi bật của bài thơ là ánh
sáng của Chúa Kitô mặc khải cho mọi người biết họ thực sự là ai.
Nếu cuộc sống tôi cứ tiếp diễn
như hiện tại, tôi có thấy thoải mái trong ánh sáng của Chúa Kitô vào ngày tận
thế không? Tại sao?
Thực sự trong chúng ta có ba
con người: Con người như ta tưởng mình là. Con người như người khác nghĩ thế.
Và con người như Thiên Chúa biết rõ.
NGÀY 01/01 - ĐỨC MARIA MẸ THIÊN
CHÚA
Lời Chúa: Lc 2, 16-21
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Luca.
Khi ấy, các mục tử ra đi vội vã
đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ.
Khi thấy thế, họ hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả những người
nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những
việc đó và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về
tất cả mọi điều họ đã nghe và đã xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.
Khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt
bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi
trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ.
TRUYỆN KỂ
1. Mẹ của tôi.
Trong một bài giảng, vị linh mục
đã nêu lên câu hỏi.
– Vậy Đức Maria là ai?
Mọi người đều thinh lặng không
một ai đã trả lời. Ngài lại hỏi thêm một lần nữa:
– Vậy ai có thể nói cho tôi hay
Đức Maria là ai?
Sau cùng một bà già đã trả lời:
– Thưa cha, Đức Maria là Mẹ
Thiên Chúa.
Vị linh mục nói:
– Đúng lắm, Đức Maria là Mẹ
Thiên Chúa, nhưng tôi muốn biết ngài còn là ai nữa?
Tiếp theo là những câu trả lời
khác nhau:
– Mẹ là Nữ vương thiên đàng, là
nơi ẩn náu của kẻ tội lỗi…
Vị linh mục mỉm cười và bảo:
– Đúng lắm, tất cả đều đúng
nhưng chưa đủ, bởi vì Đức Maria còn là Mẹ tôi nữa.
Vâng, Đức Maria là Mẹ chúng ta.
Trên thế gian, chúng ta không một ai đã yêu thương chúng ta, không một ai đã sẵn
sàng lắng nghe chúng ta kêu cầu, cảm thông và giúp đỡ chúng ta trong mọi hoàn cảnh
như Mẹ.
Hôm nay, ngày đầu năm dương lịch,
chúng ta mừng kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta phó thác năm mới này
cho Mẹ để xin Me nâng đỡ chở che.
2. Nữ Vương Hoà Bình
Một bà mẹ có người con trai bỏ
mình trong chiến tranh. Bà không thể nào quên được người con đó. Nỗi sầu thương
cứ mãi mãi vương vấn tâm hồn bà. Bà luôn cầu nguyện để được gặp lại con, dù chỉ
trong năm phút.
Một hôm, Chúa sai thiên thần
báo cho bà chuẩn bị gặp lại con. Những giọt lệ bỗng biến thành niềm vui, bà
thúc giục thiên thần cho bà gặp lại con ngay. Nhưng thiên thần bảo bà:
– Bà hãy bình tĩnh. Con bà đã
là một người trưởng thành. Con bà đã chết 30 năm nay, bà muốn gặp nó vào tuổi
nào: như một người lính chiến ngoài mặt trận, hoặc như một đứa bé chạy nhảy
trên sân trường, hay như một em bé nép mình trong lòng bà?
Không do dự, bà muốn được gặp lại
con như một đứa trẻ nhỏ đến xin lỗi bà vì đã không ngoan, một đứa bé yếu đuối,
nước mắt chảy ràn rụa chạy đến và ngả vào lòng bà. Đó là hình ảnh mà bà không
thể nào quên được về đứa con của bà.
Trong mùa Giáng Sinh, chúng ta
có dịp chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ. Chúng ta không thể nhìn thấy
Chúa Giêsu mà quên Đức Maria bên cạnh Ngài. Chào đời như một hài nhi, có lẽ
Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng Ngài cần có một người mẹ để được cưu
mang, được sinh ra, được lớn lên như một con người.
Có thể nói, mùa Giáng Sinh cũng
là mùa lễ Đức Mẹ. Đặc biệt ngày đầu năm Dương lịch hôm nay, phụng vụ muốn tôn
kính Đức Maria với tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa. Và từ năm 1968 Đức Giáo Hoàng
Phaolô VI lại dành ngày 1 tháng Giêng nầy để cầu nguyện cho hoà bình thế giới.
Chủ đề của ngày Hoà Bình Thế Giới năm nay cũng đề cập đến vai trò của người phụ
nữ, người mẹ: “Phụ nữ, nhà giáo dục hoà bình."
3. Mẹ tất cả mọi người – Lm. Mark Link
Cách đây nhiều năm, Fulton
Oursler là biên tập viên của một tạp chí nội địa được các độc giả hoan nghênh
nhiệt liệt, câu chuyện đàng sau sự thành công của anh rất hấp dẫn. Nhưng câu
chuyện anh tìm kiếm Thiên Chúa còn hấp dẫn hơn nữa.
Với tư cách một phóng viên cho
tờ báo Baltimore American, đã dự những buổi họp của giáo phái Methodist, các hội
nghị của gíao phái Baptist, và những buổi sinh hoạt ngoài trời. Anh cùng dự cả
những buổi họp để chờ các vong hồn xuất hiện trong phòng tối. Anh nói: “vào tuổi
30, ngoài những chuyện ấy ra, tôi còn tự nhận mình là người theo thuyết bất khả
tri (agnostic). Nhưng thay vì tìm được bình an, sự vô tín ngưỡng khiến anh cảm
thấy tâm hồn mình hoàn toàn trống trải và bất hạnh. Sự trống trải bất hạnh ấy về
sau lại biến thành một nỗi u uất gặm nhấm tâm hồn anh. Thế rồi một ngày kia,
cơn khủng hoảng trầm trọng đó đã làm cho gia đình anh phải lo sợ. Anh cần được
cứu giúp. Nhưng sự cứu giúp mà anh cần là một thứ cứu giúp mà bạn bè anh không
thể làm được cho anh. Anh không biết cầu cứu ai, kể cả Thượng Đế, vì anh có tin
vào Ngài đâu.
Tại New York, vào một ngày lộng
gío, anh rảo bước trên đại lộ Thứ Năm. Tới nhà thờ chính toà, anh dừng lại, ngắm
nhìn ngôi giáo đường và suy nghĩ. Anh đang tuyệt vọng. Mấy phút sau, anh định
thần lại bước lên các bậc thang, vào bên trong nhà thờ và ngồi xuống, sau một
vài phút tập trung tư tưởng, anh cúi đầu xuống và xin Thiên Chúa ban đức tin
cho anh. Anh ngồi đó một lát rồi đứng dậy. Anh tới gian nhà nguyện của Đức Mẹ ở
trong giáo đường. Anh bước vào trong, quì gối xuống, và cầu nguyện như sau:
“Mười phút nữa hay sớm hơn, tôi
có thể thay đổi ý định, tôi có thể chế diễu tất cả những việc này và lại trở lại
với sự sai lầm của tôi. Vì thế xin đừng chú ý đến tôi nữa. Vì trong giây phút
ngắn ngủi này, tôi cảm thấy tâm hồn bình an. Đây là cố gắng lớn nhất của tôi,
xin Ngài hãy khấng nhận và quên đi những gì khác. Và nếu Ngài thực sự có mặt tại
đây xin hãy cứu giúp tôi."
Vào giây phút đó, anh nói, bắt
đầu có một sự biến đổi kỳ lạ trong cuộc đời anh. Cuối cùng, sự biến đổi đó đã
khiến anh trở nên một Kitô hữu có một niềm tin tưởng sâu xa.
4. Vai trò của người mẹ
Một người chồng trang trí căn
phòng mới của ông và quyết định biến nó thành một nơi trưng bày các phần thưởng,
những thành tích mà ông và hai người con trai chiếm được trong các cuộc tranh
tài thể thao.
Khi đã trang trí đầy ắp hai bức
tường trong phòng, ông hỏi bà vợ: “Bà không có gì để trưng bày sao?”
Ngày hôm sau, người vợ sao lại
giấy khai sinh của hai đứa con, cho đóng khung thật đẹp và treo lên bức tường
trang trí của người chồng.
Làm mẹ là ơn gọi và thiên chức
đặc biệt Chúa ban cho Eva và mọi phụ nữ khi dựng nên loài người. Nhờ đó, họ được
cộng tác vào công trình sáng tạo qua việc cưu mang và thông ban sự sống. Mỗi
người con là một phúc lành của Thiên Chúa, niềm tự hào và hạnh phúc của người mẹ.
Bởi nguyên tội mà phúc lành ấy
phải kèm theo nhiều đau đớn, cực nhọc: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật
nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con” (Stk 3,16); đặc biệt
nơi Đức Maria, người được Chúa chọn làm Eva mới, với ơn gọi và thiên chức đặc
biệt của Mẹ là cưu mang Đấng thông ban sự sống siêu nhiên: “Rồi có điềm lớn xuất
hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu
đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại
vì sắp sinh con” (Kh 12,1-2).
Ngay từ thuở ban đầu, cuộc cưu
mang nhiệm lạ đó đã nằm trong lời hứa về Đấng Cứu Thế: “Ta sẽ gây mối thù giữa
mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ
đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (Stk 3,15).
5. Mẹ thật của con
Karol Wojtyla, 7 tuổi, đứng
khóc nức nở bên giường mẹ đang hấp hối! Người mẹ nắm tay con ôn tồn nói: “Con đừng
khóc, mẹ chỉ là vú nuôi con, khi Chúa rước vú này về với Chúa, thì người Mẹ thật
của con là Đức Maria xuất hiện, sẽ đích thân chăm sóc con.”
Cậu bé đó chính là ĐTC Gioan
Phaolô II, với khẩu hiệu giáo hoàng là “Tất cả thuộc về Mẹ” và cùng với Người Mẹ
của Đức Kitô và của mọi người, ngài đã canh tân cả Hội Thánh.
Dưới chân thập giá, Đức Mẹ đã
trở nên “Mẹ” của tôi, và luôn kiên trì đón đợi tôi như một người con. Tại sao
tôi vẫn chưa chạy đến, trao cả cuộc sống mình cho Đức Mẹ?
6. Mang thai Chúa Giêsu
Một sinh viên vô danh đã sáng
tác bài thơ như sau: Hôm nay, tôi thấy một cành huệ trắng vươn lên giữa ao tù,
chẳng màng ai quan tâm đến vẻ đẹp tuyệt vời của mình. Khi ngồi đó chiêm ngắm nó
âm thầm nở hoa, tôi nghĩ đến Mẹ Maria mang thai Chúa Giêsu. Mẹ không quan tâm
xem có ai lưu ý đến vẻ đẹp tuyệt vời của mình. Nhưng với những ai lưu ý đến, Mẹ
sẵn sàng chia sẻ những điều thầm kín. Vẻ đẹp ấy không đến từ Mẹ, nhưng từ sự sống
Chúa Giêsu đang nở những cánh hoa thầm lặng trong lòng Mẹ.
Bài thơ của sinh viên mời gọi
tôi tự hỏi: Tôi đã làm cách nào để sự sống của Chúa Giêsu được triển nở trong
tôi, sự sống bắt đầu khi tôi được rửa tội?
Hãy thận trọng trong cách sống
của bạn, bạn có thể là cuốn Kinh Thánh duy nhất mà một người nào đó đã đọc qua
(W.J. Toms)
7. Vượt trên mọi logic
Cuốn tiểu thuyết “Tội nhân
không vương tội tổ tông và Thiên Chúa băng giá” có một bức điện của Conroy gửi
cho Thiên Chúa như sau: “Thiên Chúa kính yêu, hôm nay, một nhà diễn thuyết được
mời đã chứng minh một cách logic rằng Ngài không hiện hữu,” Thiên Chúa trả lời:
“Conroy, hãy yêu cầu giáo sư của con đựa ra lý do tại sao phó mát và bia lại có
vị ngon khi dùng chung với nhau… Lôgic và thực tế không liên quan nhiều đến
nhau,” Ý câu trả lời của Thiên Chúa là có một số điều vượt ngoài lý trí. Điều
ta có thể làm là bắt trước Đức Maria như trong bài đọc hôm nay: suy đi nghĩ lại
trong lòng.
Tôi có thấy tuyệt vời việc
Thiên Chúa nhập thể làm người và ở giữa chúng ta không?
Chúng ta chết vào ngày đời ta
không còn tỏa sáng và không được đổi mới, bởi một điều kì diệu có nguồn gốc
siêu việt (Dad Hammarskjold)
8. Tình Chúa phản ánh trong tình mẹ
Nhà bình luận D.L. Stewart viết:
“Những bà mẹ là những người cưu mang con trong chín tháng. Họ là những người phải
học ngủ chập chờn, phải vất vả đổ mồ hôi trong lao động. Những người cha ngồi
hút thuốc, còn những người mẹ phải mất hàng giờ để mớm cơm cho con. Những người
cha ăn uống ở câu lạc bộ. Thánh Giuse không bao giờ ngồi hút thuốc hoặc ăn uống
ở câu lạc bộ, nhưng bạn có thể tin rằng Ngài coi trọng những gì Đức Maria làm với
tư cách một người mẹ.”
Chúng ta coi trọng người bạn đời
và những gì họ làm như thế nào?
Người mẹ là đại diện Thiên Chúa
trên môi miệng và trong tâm hồn trẻ nhỏ. (William Makepeare Thackeray)
9. Mẹ chúng ta
Có một linh mục được mời tới giảng
phòng cho một khoá tĩnh tâm. Các cô gái nọ trao cho ngài một lá thư, ngài liền
bỏ vào túi nhưng rồi quên béng đi. Sau khóa tĩnh tâm, ngài tìm thấy lá thư ấy.
Ngài mở ra và đọc thấy những
dòng sau đây; “Con bị bệnh tâm thần và được điều trị suốt 8 tháng nay. Sự kiện
này con chỉ cho vài người thân biết thôi.
Số là khi còn bé, con bị lâm
vào một tâm trạng sợ hãi khủng khiếp vì bị người khác căm ghét, hành hạ, bạc
đãi, nỗ lực lớn lao nhất của con hiện nay là thắng vượt và chuyển biến nỗi sợ
hãi ấy. Con không cần nhắc đến từng chi tiết nhưng tựu trung nỗi sợ ấy là do
nơi người mẹ của con… con có ác cảm với mọi khái niệm về người mẹ đến nỗi con
quyết tâm khước từ tình yêu của Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu.
Sau khi nghe bài giảng của cha
trong tuần tĩnh tâm, con đi bộ ra ngoài, lòng cảm thấy cô đơn khủng khiếp. Con
cầu xin Chúa ban ân sủng giúp con phá đi bức tường ngăn cách khiến con không thể
tin tưởng phó thác được… con muốn khóc to lên, nhưng suốt mấy tháng trời vẫn
không khóc được… chắc cha cũng biết căn nhà nhỏ bé, tròn tròn gần cạnh nghĩa
trang chứ? Con đã đến đó vì tò mò và con mở cửa bước vào.
Khi nhìn vào trong, lòng con cảm
thấy sợ hãi. Ở đây có tượng Đức Mẹ Maria. Cảm giác đầu tiên của con là muốn giận
dữ bỏ đi ngay, nhưng rồi có cái gì đó đã từ từ lôi kéo con đến quì dưới chân
Ngài. Và con đã quì gối xuống vừa gục vào vạt áo dài của Ngài vừa khóc, sau đó,
con cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng trong trắng, và mong ước, mình được là một đứa
trẻ, một người con đầy tin tưởng và phó thác… hơn thế nữa, con còn cảm nhận được
tình yêu của một người mẹ dành cho con khiến con nẩy sinh một ước muốn thực sự
là tha thứ cho mẹ ruột của mình."
Câu chuyện cảm động trên gợi
lên những hình ảnh tuyệt hảo cho chúng ta trong ngày lễ Mẹ Thiên Chúa mà chúng
ta mừng hôm nay.
10. Thinh lặng và lắng nghe
Một chàng thanh niên nọ có tính
khoe khoang. Ngày kia sắm được một chiếc áo mới, từ sáng sớm anh ta đã mặc chiếc
áo đó và đứng ở ngã ba đường. Kẻ qua, người lại rất đông, thế nhưng chẳng có ai
chú ý đến và khen anh lấy một tiếng. Cuối cùng, có một người đàn ông đến gần
anh và bảo: “Anh có thấy con bò của tôi bị lạc chạy qua đây không?" Được dịp
có người hỏi đến mình, anh trả lời: “Tôi mặc chiếc áo này từ sáng đến giờ, mà
chẳng thấy con bò nào chạy qua đây cả.”
Thái độ trên đây của người
thanh niên trái hẳn với thái độ của Đức Maria, như bài Tin mừng hôm nay thuật lại:
“Người giữ kỹ mọi điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Đức Maria đã thinh lặng
không chỉ lúc này, nhưng trong suốt cuộc đời Người.
11. Công đồng E^phêsô
Đêm 22.06.443 tại thành Êphêsô
có một cuộc rước đuốc vĩ đại, đoàn rước muôn người như một vừa đi diễu hành vừa
tung hô vang trời: “Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Maria là Mẹ Thiên Chúa." Tại
sao có cuộc rước đuốc này? Là vì Nettôriô, giám mục giáo chủ thành Côntăngtinốp
chối Đức Maria không phải là Mẹ Thiên Chúa, vì Đức Maria không sinh ra thần
tính của Chúa Giêsu mà chỉ sinh ra nhân tính là một dụng cụ của thần tính,
nghĩa là Đức Kitô chỉ là một người được phúc tiền định mặc lấy thiên tính, trở
nên đền thờ của Ngôi Lời. Như vậy, Nettôriô đã phân tách Ngôi Lời ra khỏi Đức
Kitô, và phân chia Ngôi Hai nhập thể thành hai ngôi vị riêng biệt, được lồng
vào nhau, rồi ông chủ trương: chỉ nên gọi Đức Maria là Mẹ Đức Kitô chứ không phải
là Mẹ Thiên Chúa.
Trước chủ trương của Nettôriô,
Công đồng chung được triệu tập tại Êphêsô để giải quyết vấn đề. 160 nghị phụ là
các giám mục của Ai Cập, Palestine, Tiểu á và đại diện của Rôma là thánh Xirilô
chủ toạ. Sau một ngày hội họp và tranh luận, công đồng đã cách chức Nettôriô và
tuyên bố chủ trương của ông là sai lầm, là lạc thuyết, đồng thời Công đồng chấp
nhận bản dự thảo của thánh Xirilô và tuyên bố: Đức Kitô tuy có hai bản tính
nhưng chỉ là một ngôi, cho nên Đức Maria là Mẹ Đức Kitô thì cũng là Mẹ Thiên
Chúa, Công đồng khẳng định dứt khoát: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.
12. Lễ đặt tên
Hôm nay cũng là bát nhật lễ
Giáng sinh. Hội Thánh nhớ đến phong tục do thái: tám ngày sau khi được sinh ra,
các bé trai do thái sẽ được cắt bì và đặt tên: “Khi Hài nhi được đủ 8 ngày,
nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài nhi là Giêsu; đó
là tên mà sứ thần đã đặt, trước khi Hài nhi thành thai trong lòng mẹ” (Lc 2,21)
Danh Thánh Giêsu, theo nghĩa do
thái là “Yavê là sự cứu độ." Hài nhi được đặt tên Giêsu. Còn chúng ta, khi
lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, cũng được đóng ấn trong danh Đức Giêsu.
Ngày đầu năm, Hội Thánh nói lên
khát vọng của mình: không phải chỉ những tín hữu mới mang danh thánh Giêsu;
nhưng ước gì mọi người, cũng như muôn loài muôn vật cũng đều được đóng ấn trong
Danh Thánh này. Lúc ấy ơn cứu độ mới được hoàn tất: “Người cho ta biết thiên ý
nhiệm mầu: Thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức
Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một Thủ Lãnh là Đức Kitô” (Ep 1,9-10)
13. Ghi nhớ và suy nghĩ trong lòng
Một người da đỏ cùng đi với một
người da trắng trên đường. Người da đỏ bỗng vỗ vai người da trắng, hỏi
- Anh có nghe gì không?
Người da trắng hết sức lóng tai
nghe, rồi đáp
- Tôi chẳng nghe gì cả.
- Có mà, tôi nghe tiếng một con
dế gáy.
- Làm gì mà có con dế nào giữa
đường phố nhộn nhịp như thế này? Mà cho dù có đi nữa thì làm sao anh nghe được
tiếng nó giữa bao tiếng ồn ào của xe cộ và người qua kẻ lại?
Người da đỏ không thèm trả lời.
Anh đi đến một bức tường bên vệ đường. Bức tường đã cũ. Nhiều dây leo chằng chịt
trên đó. Anh vạch đám dây leo sang một bên. Một lỗ trống hiện ra, trong đó rõ
ràng có một con dế đang gáy.
Người da trắng thán phục:
- Dân da đỏ các anh có lỗ tai
thính hơn dân da trắng chúng tôi nhiều.
- Không phải thế đâu. Để tôi thử
cái này cho anh xem.
Người da đỏ lấy trong túi ra một
đồng tiền kẽm, thảy xuống mặt đường. Tiếng đồng tiền lăn leng keng khiến mọi
người đi đường ngoái đầu nhìn lại. Liền đó người da đỏ giải thích:
- Tiếng của đồng tiền kẽm nhỏ
hơn tiếng dế kêu rất nhiều. Thế mà mọi người da trắng đều nghe được. Còn tiếng
con dế lớn hơn nhưng chỉ có tôi nghe được. Không phải ai thính tai hơn ai cả. Sự
thực chính là chúng ta chỉ nghe được tiếng của những thứ chúng ta thường quan
tâm để ý (Willi Hoffsemmer).
14. Tình thương của mẹ lạ lùng lắm
Luca Durtain có viết nên một
huyền thoại này:
Một ngày đẹp trời nọ trên dương
gian
Sứ thần Grabriel ngồi nhìn xuống
quả địa cầu... Nét mặt ngài đang vui bỗng ngài chau mày lại. Ngài tự lẩm bẩm
trong miệng:
- Thật là ghê tởm... Ghê tởm
quá!
Vâng quả địa cầu đã trở nên ghê
tởm, vì nó tràn ngập tội lỗi, chẳng khác gì thời ông Nôe.
Tên Grabriel có nghĩa
là"cánh tay của Thiên Chúa." Ngài liền đến trước ngai vàng phủ phục
trước tôn nhan Chúa và thưa:
- Lạy Chúa, xin cho phép con được
mượn lưỡi gươm của đồng nghiệp Micae để gọt vỏ quả địa cầu đi, sâu chừng năm bảy
dặm như người ta gọt vỏ một củ khoai. Như thế là có thể loại bỏ được hết mọi nhờm
gớm nhân gian cho khỏi tôn nhan Chúa.
Chúa trả lời:
- Được lắm! Nhưng nhà ngươi nên
nhớ: "Lưỡi gươm đã dùng trong vườn địa đàng ngày trước, bây giờ chỉ có quyền
chém phá những gì có quyền chém phá thôi"
Được phép Chúa, sứ thần
Grabriel vụt bay xuống trần gian, xăn tay áo, gọt quả địa cầu, bắt đầu từ Bắc cực
đi tới...
Mọi sự đều cúi mình san sát trước
lưỡi gươm thần. Không ai, không vật gì, từ tảng đá cứng rắn nhất cho đến những
ngọn núi cao ngất trời... Tất cả đều cúi đầu vâng theo. Không ai, không có gì
cưỡng lại được.
Nhưng rồi một hôm khi lưỡi gươm
đi tới một ngôi làng nhỏ nằm ẩn khuất bên một sườn đồi, đột nhiên lưỡi gươm thần
như đụng phải một vật gì cứng rắn lạ thường không thể nào đi qua nổi
- Có chuyện gì lạ ở đây chăng?
Và sực nhớ lại Lời Chúa đã dặn
trước khi xuất hành, Grabriel xỏ gươm vào vỏ, hạ cánh tay xuống, bước vào trong
ngôi nhà nhỏ kia xem có gì lạ chăng.
Ngài đã trông thấy gì ở trong
đó?
Một chiếc nôi và bên cạnh một
chiếc nôi ấy một người mẹ đang ngồi cặm cụi gọt vỏ khoai giống hệt như ngài
đang gọt quả địa cầu.
Đó chính là chướng ngại ngăn cản
gươm thần lại không cho đi tới.
Trước cảnh tượng ấy, Grabriel
như đột nhiên tỉnh giấc mơ màng... Ngài vội vàng quì sấp mặt xuống đất, vòng
hai tay lại:
- Phải rồi! Phải rồi! Hồi xửa hồi
xưa đã có một lần ta phụng mệnh Thiên Chúa xuống trần gian, truyền tin hoan hỉ
cho một thiếu phụ trong làng Nazareth, tại một căn nhà nhỏ hẹp giống như căn
nhà này. Thật ta đang làm một việc hết sức là nông nổi ngông cuồng!
Sau đó Ngài ngẩng đầu lên và
nói:
"Hỡi đồng nghiệp Micae,
tôi xin hoàn trả lại ngài thanh gươm này. Tôi đã khám phá ra rằng: Ở trên quả địa
cầu này ít nhất có hai tạo vật còn mạnh mẽ hơn cả gươm thần sắc bén của ngài.
Đó là một đứa trẻ thơ và một bà mẹ hiền."
Vâng chính nhờ hai nhân vật ấy
mà quả địa cầu mới đứng vững được cho đến ngày hôm nay.
15. Ngày cầu cho hòa bình
“Họ đã gặp thấy Maria, Giuse và
Hài Nhi… và tám ngày sau được gọi tên là Giêsu” (Lc 2,16-21).
Với đoạn Tin Mừng trên đưa
chúng ta về với người mẹ vừa mới sinh con là chính Đức Maria, Nữ Vương Bình An,
sinh ra Chúa Giêsu là Thái Tử Hòa Bình. Vì thế, ngày đầu năm, Giáo hội khấn xin
Đức Mẹ chuyển cầu cùng Thiên Chúa Cha ban cho thế giới được hòa bình nhân ngày
sinh nhật của Con Chúa.
Món quà cao quí nhất là chính
Con Thiên Chúa, Đấng là Hoàng Tử Bình An được Chúa Cha ban tặng cho chúng ta.
Hoà bình điều mà thế giới hôm nay đang khao khát.
Khởi đi từ ngày 01 tháng Giêng
năm 1968, Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã thiết lập Ngày Thế Giờ Hòa Bình với Lễ
Trọng Kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần
thứ 65 năm 2023, có chủ đề: “Không ai có thể được cứu một mình: Cùng nhau chống
lại COVID-19, cùng nhau dấn thân trên con đường hòa bình." Trong Sứ điệp,
Đức Thánh Cha Phanxicô đã bao gồm một đoạn nói về cuộc chiến đang diễn ra ở
Ukraine, điều mà ngài mô tả là “một bước thụt lùi đối với toàn thể nhân loại."
Ngài viết: “Vào chính thời điểm mà chúng ta dám hy vọng rằng những giờ phút đen
tối nhất của đại dịch COVID-19 đã qua đi, thì một thảm họa khủng khiếp mới lại
giáng xuống nhân loại. Chúng ta đã chứng kiến sự tấn công dữ dội của một tai họa
khác: một cuộc chiến khác, ở một mức độ nào đó giống như cuộc chiến chống lại
COVID-19, nhưng được thúc đẩy bởi những quyết định đáng trách của con người… Rõ
ràng, đây không phải là thời kỳ hậu COVID mà chúng ta đã hy vọng hoặc mong đợi."
Đức Thánh Cha Phanxicô cũng lưu ý: “Mặc dù đã tìm ra vắc-xin cho COVID-19,
nhưng các giải pháp phù hợp vẫn chưa được tìm thấy cho cuộc chiến” (x.PHANXICÔ,
Sứ điệp Hòa Bình, 2022).
16. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Trưa ngày 12 tháng 10 năm 1972,
một chiếc phi cơ chở 45 giáo viên và học sinh đi từ Mông-tê-viu đến
Săng-chi-a-gô nước Chi-Lê thi đấu thể thao đã bị rớt khi băng qua dãy núi
Ăng-đét và vỡ ra nhiều mảnh. Có 28 học sinh còn sống sót. Khi màn đêm buông
xuống, 28 học sinh còn sống sót kia ngồi tụm lại bên nhau trong một khoang
máy bay. Cũng may, trên phi cơ vẫn còn một số đồ ăn như thịt nguội, bánh
mì và rượu vang... và một chiếc rađiô cátxét. Nhờ chiếc rađiô này mà họ có
thể theo dõi cuộc cứu hộ đang triển khai tại các quốc gia trong vùng.
Sau tám ngày, họ nghe được các
đoàn cứu hộ báo cáo không thể tìm ra chiếc máy bay gặp nạn và không hy vọng
hành khách nào còn sống sót. Thế là các nạn nhân hiểu rằng: họ có còn sống
hay không là do quyết tâm của chính họ.
Ít ngày sau, thêm 12 người nữa
theo nhau qua đời vì bệnh viêm màng phổi vì không chịu được giá rét khủng
khiếp. Đoàn người còn lại 16 người. Bây giờ họ chỉ còn biết trông chờ phép lạ.
Thế là cả 16 học sinh này quyết định họp nhau cầu nguyện vào mỗi tối. Vào
khoảng 9 giờ tối, khi trăng bắt đầu mọc trên triền núi, thì mọi người ngồi
quây quần đọc chung kinh Mân Côi.
Giờ kinh được tiếp tục bằng lời
cầu tự phát và các bài thánh ca. Cuối cùng kết thúc bằng kinh Hãy Nhớ để
nài xin Mẹ Chúa Trời thương cứu giúp. Những buổi cầu nguyện như thế trở
thành nguồn động lực lớn lao giúp các học sinh hy vọng sẽ được cứu thoát.
Thấm thoát đã sang tuần lễ
thứ tám. Thời tiết bắt đầu bớt băng giá. Hai cậu khỏe nhất trong bọn và có
kinh nghiệm leo núi quyết định sẽ leo xuống núi cầu cứu. Cuộc hành trình của
họ vô cùng khó khăn nguy hiểm. Cũng may họ tìm được một cuộn dây thừng bằng
ny-lông và dùng làm dây an toàn để leo xuống vách núi đá trơn trượt. Chỉ cần
bất cẩn một chút là cả hai sẽ lao xuống vực thẳm. Mọi người còn lại đều hợp
ý cầu xin Mẹ Maria nâng đỡ cho hai bạn được an toàn. Chín ngày sau, hai cậu
đã xuống được đến một trạm kiểm soát ở dưới chân núi, và vài tiếng đồng
hồ sau, đã có hai chiếc trực thăng cứu hộ xuất hiện trên đỉnh núi cao để
cứu mười bốn học sinh còn lại.
Nhờ sự thành tín kêu cầu Đức
Maria, mà các học sinh này đã sống được tới 70 ngày trên đỉnh núi cao giá lạnh,
đang khi không ai trong các thân nhân của họ dám hy vọng họ còn sống và có
ngày trở về nhà. Suốt 70 ngày gian khổ trên núi, 16 cậu học sinh này đã cảm
nghiệm được rằng: Đức Maria không những là Mẹ Thiên Chúa, mà Người còn là Mẹ của
tất cả những ai thành tâm tin cậy cầu xin Ngài cầu bầu.
Lễ Thánh Gia (năm A)
Lời Chúa: Mt 2, 13-15. 19-23
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi các đạo sĩ đã đi rồi, thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse
trong lúc ngủ và bảo ông: "Hãy thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang
Ai-cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrôđê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi
để sát hại Người.” Ông thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người lên đường trốn sang
Ai-cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi Hêrôđê băng hà, hầu làm cho
trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng: "Ta gọi con Ta ra khỏi
Ai-cập.”
Bấy giờ Hêrôđê thấy mình bị các đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh
nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở
xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời
tiên tri Giêrêmia đã nói: Tại Rama, người ta nghe những tiếng khóc than nức nở,
đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà,
vì các con bà không còn nữa.
Khi Hêrôđê băng hà, thì đây thiên thần Chúa hiện ra cùng Giuse
trong giấc mơ bên Ai-cập và bảo: "Hãy chỗi dậy, đem Con Trẻ và mẹ Người về
đất Israel, vì những kẻ tìm hại mạng sống Người đã chết.” Ông liền chỗi dậy,
đem Con Trẻ và mẹ Người về đất Israel. Nhưng nghe rằng Arkhêlao làm vua xứ
Giuđa thay cho Hêrôđê là cha mình, thì Giuse sợ không dám về đó.
Ðược báo trong giấc mộng, ông lánh sang địa phận xứ Galilêa, và
lập cư trong thành gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua các tiên tri rằng:
"Người sẽ được gọi là Nadarêô.”
TRUYỆN KỂ
1. Sợi chỉ đỏ:
- Bài đọc I: Ai kính sợ Chúa thì thảo kính cha mẹ.
- Đáp ca: Kẻ kính sợ Chúa thì được hưởng hạnh phúc gia đình.
- Phúc Âm: Gương Thánh Giuse gia trưởng.
- Bài đọc II: Sống hòa thuận trong gia đình.
2. Bà mẹ thánh thiện
và đảm đang thành Luân Đôn
Đầu thế kỷ XX này, tại Luân Đôn, có một gia đình công nhân vừa
nghèo khó lại vừa đông con: cả thảy 13 đứa! Bố của chúng phải đi làm việc suốt
ngày ở xí nghiệp. Bà mẹ ở nhà làm nghề phụ và lo việc nội trợ. Dù đầu tắt mặt tối,
bận bịu suốt ngày suốt đêm, nhưng bà Vaughan vẫn vui vẻ thay mặt chồng dạy dỗ
con cái học giáo lý, tập luyện chúng có tinh thần đạo đức, khuyên chúng chịu
khó học tập, lao động, và đặc biệt trưa nào rửa chén bát xong bà Vaughan cũng đến
nhà thờ chầu Chúa một giờ.
Láng giềng ai cũng lấy làm lạ và hỏi bà: "Một bầy con 13 đứa,
bận rộn sáng tối, mà sao trưa nào chị cũng đi chầu Thánh Thể?" Bà tươi cười
bảo: "Thấy một bầy con lúc nhúc, ăn bữa mai chạy gạo bữa hôm, tôi lo lắm.
Hơn thế chúng còn đến trước trường học, theo bạn bè rủ rê đi chơi hoặc ra phố
phường xa hoa, do đó nhiều nguy hiểm, tôi càng thao thức hơn. Thành thử mỗi
ngày dầu bận việc đến đâu, tôi cũng bỏ ra một giờ để chầu Chúa, sốt sắng xin
Người ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi nấng các cháu hằng ngày dùng đủ và dạy dỗ
chúng nên người đạo đức.”
Chúa đã nhận lời và ân thưởng cho lòng tin cùng sự hy sinh của
bà Vaughan: trong 13 người con, một người làm Hồng Y Tổng Giám Mục giáo phận
Luân Đôn, một người khác làm Tổng Giám Mục, hai người làm Linh mục, hai nam tu
sĩ, hai nữ tu sĩ, còn 5 người ở thế gian lập gia đình lưu truyền nòi giống, sống
cuộc đời đạo đức thánh thiện. (ĐHY NVT, Trên đường lữ hành)
3. Người cha thay mặt
Chúa trong gia đình
Chúng ta có thể nói đó là bí quyết của Thánh gia: tin vào sự hiện
diện của Thiên Chúa như người cha trong gia đình.
Theo một câu chuyện cổ tích Nhật Bản, ngày xưa, có một đôi vợ chồng
sống rất hạnh phúc bên cạnh một đứa con gái nhỏ. Người chồng là một hiệp sĩ
Samurai, nhưng anh chỉ sống khiêm tốn trong một khu vườn nhỏ ở đồng quê. Người
vợ là một người trầm lặng đến độ nhút nhát. Chị không bao giờ muốn ra khỏi nhà.
Một hôm, trong dịp lễ đăng quang của Nhật Hoàng, với tư cách là
một hiệp sĩ, người chồng cảm thấy có bổn phận phải về kinh đô để bái lạy quân
vương. Sau khi đã làm xong nghĩa vụ của một hiệp sĩ, anh ghé ra chợ mua quà cho
vợ con. Riêng cho người vợ, anh mua một tấm gương soi bằng bạc. Đón nhận món
quà, người đàn bà bỡ ngỡ vô cùng. Chị chưa bao giờ trông thấy một tấm gương, chị
chưa bao giờ nhìn thấy mặt mình. Do đó, vừa nhìn thấy mặt mình trong gương, người
vợ mới ngạc nhiên hỏi chồng:
- Người đàn bà này là ai?
Người đàn ông mỉm cười đáp:
- Mình không đoán được đó là gương mặt kiều diễm của mình sao?
Một thời gian sau, người đàn bà lâm bịnh nặng. Trước khi chết,
bà cầm tay đứa con gái và nói nhỏ:
- Mẹ không còn sống trên mặt đất này nữa. Sáng chiều, con hãy
nhìn vào tấm gương này và sẽ thấy mẹ.
Sau khi người mẹ qua đời, sớm tối, lúc nào đứa con gái ngây ngô
cũng nhìn vào tấm gương và nói chuyện với chính hình ảnh của nó. Ngày kia, bắt
gặp đứa con gái đang nói chuyện với chính nó trong gương, người cha tra hỏi, đứa
con gái mới trả lời:
- Ba nhìn kìa, mẹ con không có vẻ mệt mỏi và xanh xao như lúc bị
bệnh. Mẹ lúc nào cũng trẻ và cũng mỉm cười với con.
Nghe thế, người đàn ông không cầm nổi nước mắt, nhưng không muốn
cho con biết sư thật, ông nói với nó:
- Nếu con nhìn vào gương để thấy mẹ con, thì ba cũng nhìn vào
con để thấy mẹ con.
4. Con cái có chỗ
ưu tiên trong mọi chọn lựa của cha mẹ
Hêrôđê muốn giết con trẻ. Phải bảo vệ con trẻ với mọi giá. Ngay
đêm khuya, bất chấp khó khăn về kinh tế và những khó khăn không lường trước được,
Yuse và Maria vẫn di chuyển đến Aicập. Khi hết nguy hiểm cho hài nhi, họ trở về
nơi an toàn nhất cho em bé. Bảo vệ hài nhi, là chọn lựa và cách sống của Maria
và Yuse. Yuse và Maria không còn nghĩ nhiều đến cá nhân mình nữa, nhưng chính yếu
là con mình.
Đặt sự an toàn thể lý và tinh thần của con cái trên những lợi
ích và vui thú của cá nhân mình, là yếu tố giúp gia đình thánh vượt qua nhưng
khó khăn và vui sống. Ngày nay, không biết bao nhiêu gia đình đã suy sụp, vì có
những bậc làm cha làm mẹ đặt vui thú của họ trên sự tồn tại và hạnh phúc của
con cái. Có những vợ chồng muốn ly dị mà không để ý đến lợi ích của con cái họ.
Ngày xưa, mẹ Mạnh Tử thấy con ở gần chợ, học những thói xấu của
những người ở chợ, sợ con bị hư nên chuyển nhà đến ở gần trường học, hy vọng
con học được những điều hay. Mạnh Tử đã nên một bậc thầy và danh nhân của Trung
Quốc. Chỉ vì lợi ích của người con, mà mẹ Mạnh Tử đã dám chuyển nhà. Phải chăng
đây là gương cho những người sống trong bậc gia đình làm cha làm mẹ? Con cái phải
là ưu tiên ảnh hưởng đến mọi lựa chọn của cha mẹ.
5. Yêu nhau củ ấu
cũng tròn
Có câu chuyện thế này: Đôi vợ chồng đã nhiều lần cãi nhau và một
lần trong lúc cãi nhau rấthăng, người chồng đề nghị với vợ: "Này, chúng ta
đừng cãi nhau nữa, mỗi người lấy giấy viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu
của người kia rồi trao cho nhau.” Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy,
nhìn vợ rồi cúi xuống viết một câu…
Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, cũng cúi xuống hối hả viết
lia lịa, dường như cố ý tranh với chồng để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng
chỉ viết một câu rồi ngừng lại nhìn vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy
những dòng chữ kể ra tật xấu của người chồng và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết
nhiều hơn.
Đến lúc không còn gì để viết nữa, họ trao cho nhau bảng kể tội
nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt của người vợ bỗng thay đổi.
Chị vội vã đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và có thái độ làm hoà ngay, bởi
trong tờ giấy của chồng, người vợ chỉ thấy vỏn vẹn có một câu “Em mãi là người
yêu của anh.”
6. Gia đình Quattrocchi
sống đức tin
Gần đây, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị phong hai cụ Luigi và
Maria Quattocchi lên hàng chân phước. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội
một đôi vợ chồng được cùng nâng lên hàng chân phước. Đức Thánh Cha đã yêu cầu
các giáo sĩ trong Bộ Phong Thánh hãy chú ý tới giáo dân. Một cách đặc biệt, Đức
Thánh Cha đã tự hỏi tại sao không có một đôi vợ chồng nào trong lịch các thánh.
Phần lớn tất cả những vị Thánh hay Chân Phước trong Giáo Hội trong các thế kỷ
qua là các Linh Mục, các Nữ Tu, các Tu Sĩ, Giám Mục, Đức Giáo Hoàng, các Ẩn tu,
các vị Thừa Sai hay các vị Thánh Tử Đạo.
Đức Hồng Y Maritns nhấn mạnh nét nổi bật trong ơn gọi của đôi vợ
chồng cụ Quattocchi: một đời sống cầu nguyện sâu xa; hoạt động trong các cơ cấu
trong Giáo Hội; có một “Bầu khí thương yêu giữa cha mẹ và con cái họ”; và một dữ
kiện nữa là: ba trong bốn người con trong đó hai người là linh mục một người là
nữ tu dòng Biển Đức.
Vào năm 1914, khi cụ bà Maria có thai ngoài ý muốn lần thứ tư,
các bác sĩ đã nói với cụ rằng nếu cụ không phá thai, 99% là cụ sẽ chết. Hai ông
bà nói rằng họ không thể làm việc đó, không thể phá thai cho dù có nguy hiểm.
Người con không bị phá đó thực sự đã ra đời một cách may mắn và vẫn còn sống
sau đó. Phần cụ bà Maria Quattrocchi thì vẫn an toàn khỏe mạnh khi sinh con.
Sau khi sinh con bà đã sống thêm được 51 năm nữa.
Đức Hồng Y Martins nói: Trực diện trước các chết, cụ bà Maria đã
hoàn toàn phó thác “tình yêu và sự bí nhiệm nơi Chúa Quan Phòng.”
Cụ ông Luigi qua đời năm 1951 hưởng thọ 71 tuổi. Cụ bà Maria cắt
bớt thời gian viết văn và trong những năm cuối đời cụ đã dành nhiều thời gian
chuyên tâm cầu nguyện. Cụ Maria qua đời năm 1965 hưởng thọ 81 tuổi.
Gia đình hai chân phước Luigi và Maria Quattrocchi mà chúng ta vừa
nói đến đã noi gương Gia đình Thánh Gia Thất, sống đức tin mạnh mẽ, phó thác
hoàn toàn trong tay Thiên Chúa quan phòng, dù phải đương đầu với cái chết, hầu
như chắc chắn xảy đến như các bác sĩ khẳng định. Cho dù được biết 99% là chết
nhưng ông bà đã nhất quyết là không phá thai.
7. Gia đình Kitô hữu
hạnh phúc.
Một linh mục nổi tiếng là thánh thiện và nhiệt thành có kể lại
kinh nghiệm khi được mời dự tiệc tại một nhà giáo dân khá giả trong xứ như sau:
“Trong suốt bữa tiệc thịnh soạn hôm đó, giữa tiếng cười nói của
thực khách, có một điều làm tôi thắc mắc, đó là tiếng nước róc rách chảy đâu đó
trong nhà. Vì là lần đầu tiên được mời, tôi không dám lên tiếng, chỉ mong sao
có người nhà nhận ra tiếng nước chảy đó. Sau cùng, không thể cầm lòng được, tôi
hỏi một người giúp việc. Với nụ cười lịch sự, người này giải thích: cách đây
khoảng 40 năm, khi người ta đào móng xây nhà và dựng nông trại, tình cờ họ đã
khám phá ra mạch nước ngầm. Thế là họ xây dựng một căn phòng ngay bên mạch nước,
kế đó họ xây những căn phòng khác ở chung quanh.
“Mạch nước ngay trong nhà mình”, tư tưởng đó xâm chiếm tâm trí
tôi, suốt quảng đường về nhà xứ, và tôi đoán ra được đâu là bí quyết Hạnh Phúc
của gia đình giáo dân ngoan đạo và tốt lành đó: Bí quyết hạnh phúc đó chính là
mạch suối trong lành tươi mát ngay trong nhà của họ, mạch suối tình yêu tràn đầy
thánh ân, mạch suối không bao giờ vơi cạn của Thiên Chúa, luôn tưới gội trên
mái ấm của họ.
8. Thằng bé cụt tai
Hạnh phúc gia đình luôn luôn đòi hỏi phải biết quên mình, hy
sinh cho kẻ khác.
Câu chuyện “thằng bé cụt tai” kể rằng:
“Người mẹ trẻ với khuôn mặt rạng ngời, chị đón lấy đứa trẻ từ
tay vị bác sĩ.
Thế nhưng, nụ cười bỗng tắt lịm khi nhìn thấy vành tai của đứa
bé không như những đứa trẻ khác. Nhưng may mắn thay, đứa trẻ vẫn nghe được bình
thường.
Điều này có nghĩa cấu tạo tai trong của đứa trẻ vẫn phát triển tốt.
Tuy nhiên, người mẹ vẫn không khỏi lo buồn về khiếm khuyết của con mình. Điều
đó càng khiến người mẹ thêm xót xa và thấy mình có lỗi với con. Ngược lại, đứa
trẻ vẫn vô tư vui sống, không hay biết gì về khuyết tật của mình. Cho đến một
ngày kia, cậu bé đi học về và ôm chầm lấy mẹ, rồi òa khóc: "mẹ ơi! các bạn
trêu chọc con, chúng nói con là thằng "cụt tai!"
Những lời nói của con như một vết dao cứa vào con tim người mẹ.
Ôm con vào lòng, người mẹ như ôm trọn cả nỗi đau đớn của mình. Rồi chỉ trong
giây lát, cậu bé bỗng ngừng khóc. Quay lại nhìn mẹ, cậu bé dõng dạc nói:
"con sẽ chứng minh với mọi người rằng con tuy khuyết tật về thân thể,
nhưng con sẽ không khuyết tật về tâm hồn. Mẹ đừng khóc nữa, mẹ nhé!"
Rồi một ngày kia, cuộc đời cậu bé dường như được mở ra với một
tia hy vọng mới. Các bác sĩ chuyên khoa khẳng định cậu có thể được ghép tai, chỉ
cần có ai đó đồng ý hiến tai cho cậu. Thế là cha mẹ cậu bé lao vào cuộc tìm kiếm
người có thể hiến tai cho đứa con. Họ đã làm mọi phương cách có thể: thông báo
trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, qua những người quen, bè bạn xa gần.
Nhưng tuyệt nhiên không nhận được bất cứ sự hồi âm nào.
Mọi chuyện tưởng như rơi vào vô vọng, bỗng một ngày nọ, người
cha trở về nhà với gương mặt đầy phấn khởi và thông báo rằng: "Ba đã tìm
được người tự nguyện hiến tai cho con.” Cuộc phẫu thuật thành công tốt đẹp, cậu
bé được ghép một đôi tai mềm mại, hoàn hảo. Thế nhưng, cậu bé không sao tìm ra
được người đã hiến tặng tai cho mình. Người ta bảo rằng người đó muốn được thầm
lặng giúp đỡ nên quyết không tiết lộ danh tánh.
Thế rồi cậu bé lớn lên và trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng. Thế
nhưng, chàng vẫn luôn trăn trở về việc vẫn chưa thể đền đáp người đã hiến tặng
đôi tai cho mình.
Rồi một ngày nọ, chàng trai được tin mẹ của mình ốm nặng. Đáp
chuyến bay sớm nhất về nhà, anh lao đến bệnh viện với mẹ. Nhìn mẹ thoi thóp những
hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, chàng trai cúi xuống ôm mẹ nức nở khóc. Anh
hôn lên đôi bàn tay gầy guộc bao năm tảo tần nuôi mình khôn lớn. Anh hôn lên vầng
trán hằn lên những nếp nhăn của mẹ, rồi nhẹ nhàng vuốt lên mái tóc bạc trắng của
mẹ. Bỗng anh bàng hoàng nhận ra: mẹ anh đã không còn đôi tai nữa.
Giờ thì anh đã hiểu vì sao bao năm nay, mẹ lại luôn tìm cách xa
lánh anh. Anh cũng nhận ra sự thật là đã rất nhiều năm rồi, mẹ không hề cắt
tóc, rất ít khi ra khỏi nhà và không mấy khi giao tiếp với những người xung
quanh.
Rưng rức khóc, chàng trai quỳ xuống bên mẹ, ôm lấy thân hình nhỏ
bé của mẹ. Anh hôn lên má, lên trán người mẹ những cái hôn đầy yêu thương và
nói: "mẹ ơi! mẹ chẳng những đã cho con sự sống mà còn cho con cả cuộc đời
của mẹ. Con cảm ơn Mẹ! Amen.
9. Gia đình thánh
Có một em bé hỏi mẹ: Mẹ ơi, gia đình thánh gia là gì hả mẹ?
- Là gia đình mà mỗi thành viên đều biết làm theo thánh ý Thiên
Chúa.
- Vậy gia đình mình có được gọi là gia đình thánh không hả mẹ?
- Có, nếu ba, má và con đều sống và thực hành lời Chúa thì gia
đình chúng ta cũng trở thành thánh.
10. Tai và lưỡi được
vào thiên đàng
Có một câu chuyện kể rằng: Một nông dân nghèo được vào thiên
đàng, ông nhìn thấy người ta mang những vật rất kỳ lạ vào trong nhà bếp. Ông thắc
mắc và lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?
Không phải. Đó là những cái tai của con người. Khi sống ở trần
gian, tai giúp họ nghe những điều tốt lành, nhưng họ không làm điều tốt lành
đó. Khi chết, chỉ có tai của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của
cơ thể thì không được vào.
Một lát sau, người nông dân lại nhìn thấy người ta mang vào nhà
bếp những vật kỳ lạ khác. Ông cũng lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu
súp không?
Không phải. Đó là những cái lưỡi của con người. Khi sống trên đời,
lưỡi khuyên bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ lại không sống;
không làm những điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có lưỡi của họ được vào thiên
đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.
11. Mẫu gương thánh
thiện--Lm. Minh Vận, CRM
Trước đây phỏng gần ba năm, tôi hân hạnh được gặp và tâm sự với
một vị lão thành chừng trên 70 tuổi từ bên Đức qua Mỹ thăm bà con thân quyến tại
tiểu bang Texas. Trong tâm tình cởi mở và khiêm tốn, ông kể cho tôi nghe về các
ơn phúc Chúa và Đức Mẹ đã thương ban cho gia đình ông. Ông nói: Bà xã con bị
bán thân bất toại đã trên 30 năm nay, khi miền Nam Việt rơi vào tay cộng sản,
gia đình quyết tâm ra đi theo làn sóng di cư để trốn thoát cộng sản như nhiều
người hồi cuối tháng 4, 1975. Con phải vất vả lắm mới vác nhà con lên vai để
cùng với các con vượt biên ra hải ngoại, hiện nay gia đình chúng con đang định
cư tại Đức.
Công việc chính của con trên 30 năm nay, khi còn ở Nam Việt cũng
như hiện nay trên đất Đức là săn sóc nhà con từ việc ăn uống, giặt giũ, vệ
sinh... Tóm lại, tất cả mọi sự lo cho nhà con như một người tôi tớ. Hồi mới
sang, nhà con cảm thấy đau lòng vì hoàn cảnh này kéo dài mãi, nên bà đã tha thiết
cầu xin Chúa cho bà được chết sớm để khỏi làm khổ, vất vả cho chồng cho con...
Khi con biết được ý bà, con cùng với các cháu cố gắng tìm mọi
cách cho bà được vui sống và luôn biết vâng theo thánh ý Chúa, khỏi phải lo lắng
buồn phiền gì; vì con nghĩ rằng, Chúa đã định liệu tất cả và ban cho chúng con
như thế, sao lại không hoàn toàn vâng phục thánh ý Người, Chúa đã liên kết vợ
chồng nên một, cần phải giúp cho nhau được hạnh phúc. Khi vợ mình còn khỏe hầu
hạ mình, sao khi bà đau yếu, mình không hầu hạ bà, để làm cho bà được vui sống
hạnh phúc.
Thú thực, Chúa và Đức Mẹ ban cho gia đình chúng con luôn được êm
ấm thuận hòa, các cháu ngoan ngoãn, học hành thành công và đã làm nên sự nghiệp
cả. Chúng con lại được một con dâu rất tốt, ngoan ngoãn hiếu thảo đến nỗi chúng
con coi cháu như là con gái của mình, có cháu tận tụy hầu hạ mẹ thế con, mà nay
con mới có hai tháng nghỉ hè, sang Hoa Kỳ thăm bà con thân quyến đã nhiều năm
xa cách.
12. Gia đình cộng
đoàn yêu thương
Vào năm 1990, cậu bé siêu sao màn ảnh Macaulay Culkin nổi bật với
bộ phim “Ở nhà một mình” (Home Alone). Bộ phim này với doanh thu hơn 500 triệu
đô la. Bố mẹ cậu Macaulay Culkin từng đi làm kiếm sống. Ông Culkin là ông từ tại
một nhà thờ ở NewYork; bà Patrica Bentrup là một nhân viên trực điện thoại. Với
số tiền lớn do cậu con mang về, hai ông bà liền bỏ việc, ở nhà làm chủ những
món tiền mà tài năng của cậu nhỏ còn hứa hẹn nhiều.
Nhưng kể từ khi hai ông bà ở nhà, mái ấm gia đình trở thành bất ổn.
Bố mẹ Macaulay Culkin thường xuyên gây gổ với nhau tới mức bà Patrica tố cáo chồng
“rượu chè be bét, xúc phạm tình dục quá đáng và bội tín.”
Bắt đầu đóng phim từ tuổi lên tám, năm nay Macaulay Culkin đã 15
tuổi. Buồn nản và cô độc trong gia đình, cậu thường tìm giải khuây trong những
bữa tiệc vô độ và ở những hộp đêm. Hậu quả là sự nghiệp của ngôi sao đang lên
này đã khựng lại. Ba bộ phim gần đây do cậu thủ vai chính hoàn toàn không đạt
được thành công như những bộ phim ban đầu.
Gia đình là một tổ ấm khi vợ chồng biết quảng đại
hy sinh cho nhau và cho con cái, mặc dù đời sống kinh tế có khi còn chật vật
khó khăn. Nhưng một khi gia đình để cho tiền của chi phối, tổ ấm sẽ bị xáo trộn
đưa đến ích kỷ, đổ vỡ và chia ly, điển hình là tổ ấm của gia đình của cậu
Macaulay Culkin. Cho hay rằng, tiền của không làm nên hạnh phúc gia đình. Chính
tình yêu quảng đại mới tạo nên hạnh phúc cho gia đình.
13. Sống vì nhau
Ngày 21.8.2007, không những người dân nước Pháp, mà cả thế giới
xúc động trước sự ra đi của một người phụ nữ ở tuổi 33, có tên là Caroline
Aigle. Caroline được miêu tả rất xinh đẹp: một phũ nữ tóc vàng, mắt xanh, tràn
đầy sức sống. Đặc biệt, cô là người đầu tiên lái lái máy bay tiêm kích của
không quân Pháp, và đạt rất nhiều những thành tích khác nữa. Điều đã làm cho
Caroline đi vào huyền thoại không chỉ là tài năng, sắc đẹp của cô, mà là việc
cô sẵn sàng hy sinh sự sống để cho đứa con trong bụng của cô mới được 5,5 tháng
tuổi có cơ hội sống sót.
Carôline rất hạnh phúc khi biết mình được mang thai đứa con thứ 2. Nhưng rồi ít lâu sau, các bác sĩ phải nói sự thật cho cô biết là cô đã bị ung thư với một khối u ác tính. Các Bác sĩ cho biết, có thể chữa được căn bệnh nguy hiểm đó, nhưng phải điều trị theo liệu pháp “sốc”, và chắc chắn đứa con trong bụng không thể chịu nổi, phải hy sinh cháu bé.
Các bác sĩ hỏi cô có bằng
lòng không? Carôline đã có một quyết định rất anh hùng: không. Cuối cùng thì
chuyện gì đến đã đến. Khi không còn chịu đựng nổi với cơn đau được nữa, các bác
sĩ đã phải mổ lấy thai nhi ra lúc cháu bé chỉ được 5,5 tháng tuổi. Carôline đã
sống được với con là Gabriel được 18 ngày; và cô đã từ giã cõi đời này trước sự
thương tiếc và sự kính phục cả biết bao con người trên thế giới.
14. Tên trộm lành
Có một câu chuyện kể lại rằng: Giữa đường chạy trốn sang Ai Cập,
để tránh khỏi sự tàn sát của Hêrôđê, Thánh Gia đã gặp phải một bọn cướp và bị
chúng bao vây. Vừa khi chúng định nhào tới trấn lội đôi vợ chồng trẻ, thì một
tên trong bọn tên là Dismas, bỗng nhận ra đôi tay Mẹ Maria có ẵm một Hài Nhi.
Quá xúc động trước nét mặt vô tội của Hài Nhi, hắn đã khuyên can
đồng bọn để cho Thánh Gia ra đi được an toàn. Trước khi rút lui, hắn đã nghiêng
mình trên Hài Nhi Giêsu và nói:
- Xin hãy nhớ đến tôi và đừng bao giờ quên giây phút này.
Truyền thuyết kể tiếp: Về sau tên cướp ấy đã trở thành người trộm
lành, bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu trên thập giá. Và chính Ngài đã nói với
anh ta:
- Ngày hôm nay, con sẽ được ở cùng Ta trên thiên đàng.
Dĩ nhiên đây chỉ là một truyền thuyết, nhưng từ đó, chúng ta có
thể tìm thấy được một kết luận quan trọng. Đó là khi trốn sang Ai Cập, Thánh
Gia đã gặp phải rất nhiều hiểm nguy.
Thời xưa, hầu như mọi người đều đi thành từng đoàn, bởi vì nhiều
quãng đường thường bị những bọn cướp kiểm soát, uy hiếp và trấn lột. Điên rồ lắm
mới đi một mình, trừ khi vì khẩn cấp như trường hợp của Thánh Gia hôm nay.
15. Nhờ yêu nhau mà
sống
Tại miền bắc nước Pháp, người ta thường kể lại một câu chuyện cổ
tích sau đây: có một gia đình nọ gồm cha mẹ và một đứa con sống rất hiệp nhất
yêu thương nhau. Nhưng một đêm kia, đang lúc mọi người ngủ say, một trận giông
bão chưa từng xảy ra bao giờ, chỉ trong mấy giờ đồng hồ cả vùng đều lụt lớn,
nhà cửa sập cả, thây người và vật trôi bồng bềnh.
Người cha của gia đình cõng vợ trên vai mình và bà vợ tay bế đứa
con. Nước càng lúc càng dâng lên cao, chẳng bao lâu ngập đầu cả hai vợ chồng.
Dù ngộp thở và vô cùng mệt mỏi, bà mẹ cố giơ cao hai cánh tay nâng cao đứa con
lên khỏi mặt nước để đứa bé khỏi chết ngộp. Hai vợ chồng sẵn sàng chờ chết,
nhưng chỉ mong có ai cứu được đứa bé khỏi chết.
Vừa lúc đó, có một thiên thần bay ngang qua, trông thấy cái đầu
bé tí nhô khỏi mặt nước, vội cầm lấy kéo lên và dính chùm theo là cả cha mẹ đứa
bé. Thế là nhờ yêu thương hiệp nhất mà cả gia đình được thoát nạn.
16. Sức mạnh của tình
yêu chân chính
Để làm men muối cho các gia đình Kitô giáo, Đức Giáo hoàng Gioan
Phaolô II, trong ngày Chúa nhật Chúa Chiên Lành năm 1994 đã phong thánh cho bà
Calnorimora!
Bà Calnorimora sinh ngày 21 tháng 11 năm 1774, tại Ro-ma, bà thuộc
gia đình giàu có, và được cha mẹ giáo dục Đức Tin rất chu đáo. Năm 22 tuổi, bà
lập gia đình với một luật sư, và đã có với chồng hai cô con gái. Vài năm sau
đó, bà phát hiện ra chồng ngoại tình, hay lấy trộm tiền của vợ đi nuôi bồ nhí!
Bà đã khuyên lơn nhiều lần, nhưng bù lại bà bị chồng đánh đập tàn nhẫn, và ông
càng thường xuyên đến ở với vợ bé hơn! Bà phải một mình làm việc cần cù nuôi
hai con gái. Năm 1801, bà mắc một căn bệnh hiểm nghèo lúc mới 27 tuổi, nhưng
Chúa đã cho bà được bình phục, sau đó bà gia nhập tu hội đời thuộc Dòng Chúa Ba
Ngôi. Nhà bà biến thành nơi cầu nguyện cho những người đau khổ. Hằng ngày bà đều
xin mọi người cầu nguyện cho chồng bà biết sám hối trở về đường ngay nẻo chính,
và bà cũng giúp đỡ nhiều người về đời sống vật chất cũng như tinh thần.
Ngày 05 tháng 02 năm 1825 Chúa đã cất bà ra khỏi thế gian, hưởng
dương 51 tuổi. Ông chồng lúc này mới thấy thương vợ thương con mãnh liệt, ông
sám hối và trở về phục tang vợ, nhiều người thấy ông, ai cũng chế nhạo: “Nước mắt
cá sấu!” Ông cam phận chịu đựng để một phần nào đền tội mình! Sau khi an táng vợ
xong, ông trù liệu tiền bạc cho hai con chính thức và các con ngoại hôn, rồi
ông đã xin gia nhập Dòng Chúa Ba Ngôi, và trở thành Linh mục sống rất gương mẫu.
Rõ ràng bà Calnorimora đã được kêu gọi nên thánh từ một người chồng
bất trung! Và chồng bà đã trở nên một Linh mục thánh thiện nhờ người vợ sống niềm
tin! Đó là của ăn nuôi linh hồn vợ chồng đã cho nhau, nhờ ơn thánh của Đức Kitô
Giêsu mà có.
17. Tình yêu phục vụ
với tinh thần trách nhiệm
Có một gia đình gồm hai vợ chồng và ba người con, cháu
lớn khoảng 15 và người con út khoảng 6 tuổi. Chủ gia đình là người
bét rượu, mỗi lần nhậu say về, ông chửi vợ đánh con một cách tàn
nhẫn. Vì vậy, mỗi lần ông say rượu, vợ con đều tìm cách tránh sang
nhà hàng xóm, nếu không thể tránh được thì lấm lét nhìn nhau trong
lo sợ.
Dù sống trong tình cảnh như vậy, người vợ luôn quan tâm
đến việc dạy dỗ con cái, từ lời ăn tiếng nói đến các bổn phận đạo
đức của người công giáo, tối nào chồng vắng nhà, bốn mẹ con cùng
nhau đọc kinh chung. Bà cũng dạy các con kính trọng, yêu mến và cầu
nguyện cho bố của chúng. Rồi như một phép lạ, chồng bà bỏ rượu.
Giờ đây, trong căn nhà ấy, thay cho những tiếng la hét và sợ hãi là
bầu khí chan hòa niềm vui và yêu thương.
Có nhiều lý do dẫn đến sự hoán cải của người đàn ông
này, nhưng chắc chắn đó cũng là kết quả lời cầu nguyện, sự hy sinh,
tính nhẫn nại và tình yêu thương của người vợ và các con.
Như chiếc thuyền trên dòng sông, có lúc gặp trời quang
gió nhẹ, lắm lúc là giông tố và mưa lũ; có khi thuyền đi qua đoạn
sông êm mái chèo, nhưng có khi là thác ghềnh và sóng dữ. Nếu mọi
người trên thuyền đồng thuận và vững tay chèo, con thuyền sẽ đạt tới
bến bình an. Đời sống gia đình cách cũng giống như vậy, luôn có
những trắc trở và khó khăn. Nhưng có Chúa trong chiếc thuyền gia đình
và mọi thành viên biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, gia đình sẽ có
niềm vui, bình an và cùng giúp nhau nên hoàn thiện.
18. Lòng nhân và công
lý
Sách Cổ học tinh hoa kể truyện Hàn Bá Du ăn ở với mẹ rất có hiếu.
Những khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Một hôm Bá Du phải đòn, khóc mãi. Mẹ thấy
vậy hỏi: “Mọi khi mẹ đánh, con biết lỗi, con cam chịu ngay. Lần này sao con
khóc dai thế?”
Bá Du trả lời: “Mọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn mạnh
khoẻ. Lần này mẹ đánh con, con không thấy đau mấy, con biết sức mẹ đã yếu, cho
nên con nghĩ, con thương mẹ mà con khóc.”
Đánh đòn, rồi kêu khóc… mới nghe cứ tưởng như chuyện tệ nạn xã hội,
chuyện của giáo dục lỗi thời, nhưng những lời nói chuyện giữa hai mẹ con Hàn Bá
Du làm sáng lên những điều không thể thiếu nơi con người trưởng thành, những
giá trị đặc trưng và trổi vượt trong đời sống xã hội, là sự thật, lòng nhân và
công lý.
Những ràng buộc trong đời sống gia đình đều được nối kết với
Thiên Chúa Tình Yêu. Niềm tin vào Thiên Chúa Tình Yêu là điểm gặp nhau của các
gia đình hạnh phúc.
19. Những bài học của
trẻ con
Nếu trẻ con sống với những lời phê phán, chúng học được thói hay
lên án.
Nếu chúng sống với sự hận thù, chúng học được thói thích đánh
nhau.
Nếu chúng sống với những lời chế nhạo, chúng học được thói nhút
nhát.
Nếu chúng sống với sự chê bai, chúng học được mặc cảm tội lỗi
Nếu chúng sống với sự bao dung, chúng học được tính nhẫn nhục
Nếu chúng sống với sự khuyến khích, chúng học được lòng tự tin.
Nếu chúng sống với lời khen, chúng học được cách thưởng thức cái
hay của người.
Nếu chúng sống với sự lương thiện, chúng học được tính công
bình.
Nếu chúng sống với sự che chở an toàn, chúng học được lòng tin cậy.
Nếu chúng sống với sự chấp nhận, chúng học biết yêu thích chính
mình.
Nếu chúng sống với tình thương, chúng học được cách tìm thấy
Chúa trong cuộc đời. (Anon, "Children learn what they live")
20. Một bữa cơm.
Cả thiên đàng và hỏa ngục đều dùng bữa với những thức ăn y như
nhau, trong khung cảnh giống y hệt nhau, trong đó mỗi người phải dùng một đôi
đũa dài cả thước để ăn. Thiên đàng và hỏa ngục chỉ khác nhau ở chỗi này: trên
thiên đàng, mọi người không ai tự gắp thức ăn cho mình, mà gắp cho người khác
ăn, vì thế, ai cũng được ăn no. Còn trong hỏa ngục, mọi người chỉ biết nghĩ đến
mình, chỉ biết gắp thức ăn cho mình, nhưng vì đũa quá dài, chẳng ai gắp cho
mình được gì cả, thế rồi chẳng ai được no, hết giờ ăn mà đói vẫn hòan đói, từ
đó họ trở nên căm thù nhau.
Cũng vậy, trong gia đình, không ai tự tạo hạnh phúc cho mình được
mà không cần đến người khác, nên nếu ai cũng chỉ biết lo hạnh phúc cho mình,
thì chẳng ai hạnh phúc cả, và rồi sẽ phát sinh đủ thứ đau khổ. Tuy nhiên trong
gia đình, người ta có thể tạo hạnh phúc cho người khác, vì thế, nếu mọi người
trong nhà đều biết lo cho nhau, tạo hạnh phúc cho nhau, thì ai nấy đều được hạnh
phúc.
21. Nhà không có
mái che.
Một thanh niên Scotland tìm được một chân làm vườn trong một gia
đình giầu có. Nhưng chỉ hai tuần sau, anh xin thôi việc. Một người bạn hỏi:
- Có phải công việc quá cực nhọc không ?
- Không, công việc rất nhàn.
- Có phải lương quá ít
không ?
- Không, lương khá lắm.
- Hay anh không thích đồ ăn ở đó ?
- Cũng không phải. Đồ ăn rất ngon.
- Vậy tại sai anh thôi việc
?
- Vì nhà đó không có mái
che.
Đối với người Scotland,
thành ngữ “nhà không có mái che” nghĩa là gia đình không biết cầu nguyện
(Tonne).
22. Tài tử
Galicopter và người vợ.
Một trong những ngôi sao
điện ảnh nổi tiếng nhất thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ông nổi tiếng
không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông.
Vào khỏang cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rochi, người vợ đã
chung sống với ông gần 30 năm như sau:
“Rochi là một người đàn bà tuyệt vời. Nàng là một người vợ đã biết
thích nghi với tính khí và công việc của tôi. Nàng cũng biết cảm thông với những
lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở cạnh tôi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần
đến nàng. Nàng là người vợ đích thực.”
Những lời khen tặng trên đây của tài tử Galicopter là một khẳng
định rằng: người nắm giữ hạnh phúc gia đình, người nắm vai chủ động trong việc
xây dựng hạnh phúc hôn nhân chính là người vợ. Dĩ nhiên, sự thành công của hôn
nhân là do sự hợp tác của hai vợ chồng. Nhưng người vợ vẫn giữ vai trò chủ yếu:
“Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”(Tục ngữ).
23. Nhà bác học
Louis Pasteur.
Ngày 14.07.1883, hội đồng thành phố Dole quyết định đặt tấm đồng
ghi danh trên cửa nhà mà Pasteur đã sinh ra. Hôm ấy, trong bài đáp từ cao thượng,
nhà bác học trứ danh đã để lòng trào ra trên nỗi biết ơn cha mẹ:
“Ôi, hỡi cha con, mẹ con ! Ôi, hỡi những người thân yêu đã chết
! Các ngài đã sống bình dị quá trong căn nhà nhỏ bé này, con đã chịu ơn tất cả
bởi các ngài. Những nhiệt tình của người, hỡi mẹ can đảm của con, mẹ đã chuyển
nó cho con. Nếu con bao giờ cũng đã nối kết vinh quang khoa học vào vinh quang
tổ quốc, chính là vì con đã thấm nhuần những cảm tình mà mẹ phấn khích ở trong
con. Và còn người, hỡi cha thân yêu, mà đời sống cũng nặng nhọc như nghề nghiệp,
cha đã tỏ cho con biết đức kiên nhẫn trong cố gắng lâu dài có thể làm được những
gì… Con chúc tụng cả hai, hỡi cha mẹ thân yêu, cho cuộc sống các người, và xin
để cho con huớng về các ngài cái vinh hạnh mà người ta hiến lên căn nhà này
ngày hôm nay.”
TRUYỆN KỂ
1.
Lễ Thánh Gia (năm B)
Lời Chúa: Lc 2, 22-40
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Luca.
Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo
luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho
Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được
gọi là người thánh thuộc về Chúa.” Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói
trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con.
Và đây ở Giêrusalem có một người
tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi
an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng:
Ông sẽ không chết trước khi thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc giục,
ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người
những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên
Chúa rằng:
"Lạy Chúa, bây giờ, Chúa để
cho tôi tớ Chúa đi bình an theo như lời Chúa, vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ
mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng chiếu soi các lương dân, và
vinh quang của Israel dân Chúa.”
Cha mẹ Người đều kinh ngạc về
những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ
Người rằng: "Đây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel
phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối.
Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được
biểu lộ!"
Lúc ấy, cũng có bà tiên tri
Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã
sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà
không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy,
bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người
đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều
theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn
lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. Đó là lời
Chúa.
TRUYỆN KỂ
1. Dung mạo Chúa Cứu Thế
Hoàng đế của một vương quốc
hung vường vag thịnh vượng, một ngày kia đã triệu tập các nghệ nhân từ khắp các
nước đến dự một cuộc tranh tài. Cuộc thi mô tả dung mạo hoàng đế.
Các nghệ nhân Ấn Độ đến với đầy
đủ dụng cụ và các loại đá hoa cương quí hiếm. Các nghệ nhân Acmêni mang theo một
loại đất sét đặc biệt. Các nghệ nhân Ai Cập mang đủ loại đồ nghề và khối cẩm thạch
hảo hạng.
Sau cùng, người ta hết sức ngạc
nhiên vì phái đoàn nghệ nhân Hy Lạp chỉ mang đến vỏn vẹn một gói thuốc đánh
bóng.
Mỗi phái đoàn thi thố tài năng
của mình trong một phòng riêng. Khi thời gian ấn định đã hết, hoàng đế đến từng
gian phòng để thưởng thức các tác phẩm. Vua hết lời khen ngợi bức chân dung của
mình do các họa sĩ Ấn độ vẽ. Ông càng than phục hơn khi nhìn ngắm các pho tượng
của chính ông mà các người Ai Cập và Acmêni điêu khắc.
Sau cùng, đến phòng trưng bày của
người Hy Lạp, hoàng đế không nhìn thấy gì cả, duy chỉ có bức tường của căn
phòng được đánh bóng đến độ khi nhìn vào ông thất chân dung mình hiện ra từng
nét.
Dĩ nhiên, giải nhất thuộc về
các nghệ nhân Hy Lạp. Bởi vì đã hiểu rằng chỉ có hoàng đế mới họa được dung mạo
của chính mình.
Muốn họa lại dung mạo Đức Kitô,
chúng ta cần phải đánh bóng long mình cho sạch mọi vết nhơ, mọi tì ố của tâm hồn.
Một khi đã nên sáng bóng như gương, chúng ta sẽ tiếp nhận được khuôn mặt rạng
ngời của Chúa.
Khi Đức Maria và Thánh Giuse
dâng Chúa Hài Nhi trong đền thánh, có biết bao tư tế và luật sĩ thông thái, giỏi
giang, am tường Kinh Thánh, và hiểu rõ các lời tiên tri loan báo về Đấng Cứu Thế,
nhưng họ đã không nhận ra Chúa. Duy chỉ có ông Simeon, và bà Anna đã nhận ra được
dung mạo của Người.
2. Tai và lưỡi vào thiên đàng
Có một câu chuyện kể rằng: Một
nông dân nghèo được vào thiên đàng, ông nhìn thấy người ta mang những vật rất kỳ
lạ vào trong nhà bếp. Ông thắc mắc và lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu
súp không?
Không phải. Đó là những cái tai
của con người. Khi sống ở trần gian, tai giúp họ nghe những điều tốt lành,
nhưng họ không làm điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có tai của họ được vào thiên
đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.
Một lát sau, người nông dân lại
nhìn thấy người ta mang vào nhà bếp những vật kỳ lạ khác. Ông cũng lên tiếng hỏi:
Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?
Không phải. Đó là những cái lưỡi
của con người. Khi sống trên đời, lưỡi khuyên bảo người khác làm điều tốt và sống
tốt, nhưng chính họ lại không sống; không làm những điều tốt lành đó. Khi chết,
chỉ có lưỡi của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì
không được vào.
Gia đình nào cũng muốn được hạnh
phúc. Gia đình nào cũng muốn thuận vợ thuận chồng để gia đình thăng tiến. Điều
tiên quyết là mỗi người hãy để cho ý Chúa dẫn dắt. Hãy trở thành một khí cụ để
thực hiện chương trình của Chúa. Hãy là những người không dừng lại ở lời nói lạy
Chúa, lạy Chúa mà là những người luôn lắng nghe và thực thi Lời Chúa.
3. Giáo dục thói quen
Chuyện kể về một người chuyên
nuôi cá cảnh. Một hôm, trong kỳ hè, khi đang dạo chơi trước các quầy hàng dọc
theo bờ biển, anh thấy một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp trong một chậu thủy tinh ở
quầy. Đó là một con cá nước mặn xinh xắn mà anh chưa từng thấy, anh quyết định
mua về. Về đến nhà, anh ra sức chăm sóc nó và áp dụng những phương pháp tốt nhất
của một nhà chuyên môn.
Trước hết, anh đặt cá vào chậu
nước mặn, cá lội tung tăng trong môi trường quen thuộc. Thế nhưng, một tuần
sau, với sáng kiến, anh thêm vào một ít nước ngọt, mỗi ngày một ít. Cứ thế, anh
tăng dần nước ngọt cho đến khi chú cá quen hẳn với môi trường mới. Không dừng lại
ở đó, anh tiếp tục luyện cá. Mỗi ngày, anh bắt đầu đổ vào chậu một ít bùn, và cứ
thế, sau nhiều tuần, nhiều tháng, lượng bùn được tăng lên cho đến khi con cá
quen hẳn với việc ngày ngày nằm trên mặt bùn đớp mồi như một loài bò sát. Chưa
hết, anh tập cho cá ra khỏi chậu và lẽo đẽo theo anh như một con cún cưng. Anh
đã thành công, vì mỗi lần anh đi đâu, con cá màu ngoan ngoãn theo sau. Cho đến
một ngày kia, chuyện đã xảy ra khi anh có việc sang nhà một người bạn, có chú
cá cùng đi. Lúc trở về, trời đổ mưa, anh phải chạy thật nhanh và quên mất chú
cá. Sực nhớ, anh quay lại tìm, nhưng chẳng thấy đâu cho đến khi gặp một vũng nước
trên đường, thì hỡi ôi, chú cá yêu quý của anh nằm chết trong đó vì nó không biết
bơi.
Câu chuyện khiến chúng ta rùng
mình sởn ốc khi nhớ đến trách nhiệm và bổn phận của một người làm cha làm mẹ
trong việc giáo dục và làm gương sáng cho con cái. Vì “nửa cuộc đời còn lại của
một con người được hình thành từ những thói quen có được từ nửa cuộc đời trước
đó." Thói quen cầu nguyện, thói quen đạo đức, thói quen lễ phép, thói quen
dùng thời giờ, thói quen học hành, thói quen dùng tiền…, nghĩa là giáo dục thế
nào, kết quả thể ấy.
4. Dạy con cầu nguyện
Thống Tướng Douglas MacArthur,
Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ Quân Đội Philippines thập niên 1930, người đã để
lại một câu nói bất hủ: “In war, there is no substitute for victory”, “Trong
chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng”; vậy mà trong tiểu sử của
ông còn có một câu nói bất hủ hơn: “Tôi là một quân nhân chuyên nghiệp, tôi
hãnh diện về điều ấy. Nhưng tôi còn hãnh diện hơn, hãnh diện hơn rất nhiều vì
được làm một người cha… và niềm hy vọng của tôi là: Khi tôi đã về bên kia thế
giới, thì con tôi vẫn nhớ đến tôi không phải với những hình ảnh oanh liệt ở chiến
trận mà là những hình ảnh ở nhà tôi, khi tôi cùng đọc với nó những lời kinh thường
đọc hằng ngày: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…."
Lễ Thánh Gia hôm nay là dịp để
chúng ta tự vấn về việc cầu nguyện trong gia đình của mình. Cầu nguyện có phải
là một phần sống chết của gia đình tôi không? Cụ thể hơn là chúng ta – cha mẹ,
con trai, con gái – đã góp phần và làm gương sáng vào đời sống cầu nguyện trong
gia đình thế nào?
Tướng Douglas Mac Arthur viết
bài kinh này khi ở Philippines trong những ngày mở đầu cuộc chiến tranh tại
Thái Bình Dương. Mặc dù đó là bài kinh ông cầu nguyện cho các con trai ông,
nhưng nó cũng thích hợp cho các thiếu nữ. Xin mọi người hãy im lặng và cùng cầu
nguyện với tôi:
“Lạy Chúa, xin hãy ban cho đứa
con trai của con được đủ sức mạnh để biết được lúc nào nó yếu đuối, đủ dũng cảm
để đối diện với chính mình khi nó cảm thấy sợ hãi…Xin đừng để cho đứa con trai
của con chỉ biết ước muốn mà không dám hành động…Xin Chúa đừng để nó đi vào con
đường thích dễ dãi tiện nghi, nhưng hãy hướng dẫn nó đi vào con đường bắt buộc
nó phải cố gắng vượt qua những khó khăn thử thách.
“Xin hãy tập cho nó đứng vững
trong bão tố, nhưng lại biết thông cảm với những ai gục ngã.
“Xin hãy ban cho đứa con trai của
con có một trái tim trong sạch, có một mục đích cao cả, biết tự chủ lấy mình
trước khi muốn làm chủ người khác, biết lo lắng cho tương lai mà không bao giờ
quên qúa khứ.
“Và khi Chúa đã ban cho nó tất
cả những điều ấy, xin Chúa hãy ban cho nó có đủ tính khôi hài để nó có thể luôn
luôn nghiêm nghị nhưng không bao giờ nghiêm nghị một cách qúa đáng.
“Như vậy, là cha nó, con dám tự
nhủ rằng con đã không sống một cách vô ích."
5. Gia đình của nhân tài
Xã hội chúng ta không thiếu các
mẫu gương đạo hạnh: Louis Pasteur, nhà bác học thời danh, đã tâm sự khi đặt tấm
bia kỷ niệm tại gia đình ông: “Kính thưa cha mẹ thân yêu của con đã khuất bóng,
các ngài đã khiêm tốn sống trong nếp nhà bé nhỏ này. Con mắc nợ công ơn cha mẹ
về hết mọi điều…."
Federic Ozanam, nhà hoạt động
xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp cũng tâm sự: “Những lời khuyên nhủ dịu dàng
của mẹ tôi, gương đạo đức, lòng nhiệt thành hâm nóng linh hồn nguội lạnh của
tôi, khuyến khích nâng đỡ tăng sức mạnh cho tôi. Chính nhờ giáo huấn của người
mà tôi có đức tin."Có lẽ thế giới biết nhiều đến thủ tướng Thái Lan, nhưng
ít ai biết được cậu Chuam Leekpai còn là một người con giàu cảm xúc, hiếu thảo,
và luôn nghĩ đến bậc sinh thành. Ông nói với mẹ: “Giờ đây, con đã là một chính
trị gia và con không còn thời gian về thăm mẹ thường xuyên nữa. Điều này làm
con cứ áy náy mãi. Tuổi mẹ càng cao thì nỗi lo của con càng nhiều. Do đó con cố
gắng tìm mọi cơ hội về thăm mẹ."
Đức Pio XI trong thông điệp về
Giáo dục Kitô giáo có viết: “Nền giáo dục hữu hiệu nhất và bền bỉ nhất là nền
giáo dục được nhận lãnh từ một gia đình Kitô giáo có qui củ và khuôn phép. Những
gương lành của cha mẹ và của những người trong gia đình càng chiếu tỏa và bền bỉ,
thì kết quả của giáo dục càng lớn lao."
6. Mua một giờ của bố
Một cậu bé đón cha mình đi làm
về và hỏi: “Bố ơi! bố đi làm được bao nhiêu tiền một giờ?" Ông bố rất ngạc
nhiên và bảo: “Này con, ngay cả mẹ của con cũng chẳng biết, đừng quấy rầy bố vì
bố đang mệt.” Cậu bé lại hỏi: “Bố cứ cho con biết, lương của bố mỗi giờ được
bao nhiêu tiền?” Cuối cùng thì ông bố bảo rằng: “Mỗi giờ bố được hai mươi đồng."
Cậu bé liền hỏi: “Vậy bố cho con mượn mười đồng." Ông bố tỏ vẻ giận và mắng
con: “Thì ra đấy là lý do con muốn biết tiền lương của bố? Bây giờ đi ngủ đi và
đừng quấy rầy bố nữa."
Đêm hôm ấy, ông bố nghĩ lại những
điều đã nói với con mình và cảm thấy hối hận. Ông cho rằng có thể con mình đang
cần tiền để mua món gì mà nó đang cần. Ông sang phòng của con mình và hỏi: “Con
đã ngủ chưa?” Con ông đáp: “Con chưa ngủ." Ông bố đưa tiền và bảo: “Đây là
tiền con hỏi xin lúc nãy” Nó vui vẻ cám ơn bố, rồi lấy thêm tiền trong gối ra
và nói: “ Con đã có đủ rồi! hai mươi đồng. Bây giờ bố bán cho con một giờ của bố.”
Bài phúc âm hôm nay nhắn nhủ
ông bố kể trên và tất cả chúng ta là hãy dành cho gia đình mình nhiều thì giờ
hơn nữa.
7. Quyết định chuyện quan trọng
Có một chú rể nọ, trước ngày cưới,
cùng với cô dâu đến xin lời khuyên của cha mẹ vợ trước khi về chung sống ăn ở với
nhau. Cha mẹ vợ đã có tuổi, ống rất hạnh phúc với nhau trong 40 năm.
Nhìn vào gương sáng của cha mẹ,
chàng rể xin các ngài dạy cho bài học phải làm sao để giữ hạnh phúc trong gia
đình. Ông bố vợ mới dạy một bí quyết như sau: “Để giữ cho gia đình hạnh phúc,
êm ấm, bố mẹ đã cố gắng giữ một nguyên tắc như sau: Trong gia đình, bất cứ chuyện
gì quan trọng, bố quyết định hết!” Nghe vậy, chú rể khoái chí, thúc cùi chỏ vào
cô dâu dặn dò: “Nghe rõ chưa em?”
“Những chuyện nhỏ, mẹ con quyết
định!” Ông bố nói tiếp: “Nhưng trong 40 năm chung sống với mẹ của các con, bố
chưa thấy có chuyện gì đáng kể là quan trọng cả!”
8. Không có thời giờ
Một linh mục đang kiểm điểm
tình hình sống đạo trong giáo xứ. Ngài hỏi một gia đình:
– Chúng con có thường xuyên cầu
nguyện chung trong gia đình không?
Người gia trưởng trả lời:
– Thưa Cha, chúng con bận việc
quá, không có giờ đọc kinh cầu nguyện.
– Giả như con biết đứa con nào
của con sẽ bị bệnh nếu chúng con không cầu nguyện, thì gia đình chúng con có cầu
nguyện không?
– Ồ chắc chúng con sẽ cầu nguyện.
– Giả như con biết ngày nào gia
đình chúng con lười biếng cầu nguyện thì một đứa con phải bị tai nạn. Các con
có cùng cầu nguyện không?
– Tất nhiên chúng con sẽ cầu
nguyện.
– Giả như ngày nào chúng con
không đọc kinh cầu nguyện thì phạt năm chục ngàn. Chúng con có bỏ việc cầu nguyện
không?
– Chắc chúng con không dám bỏ cầu
nguyện. Nhưng thưa Cha, Cha hỏi như thế có ý gì?
– Vì con nói không có thời giờ
cầu nguyện, tại con chưa xác tín rằng: nhờ lời cầu nguyện Chúa sẽ ban mọi ơn
lành cho vợ cùng con cái con. Chúa sẽ cứu giúp gia đình con khỏi mọi gian nan
thử thách. Nhất là con sẽ chu toàn bổ phận thờ phượng Chúa theo gương Thánh gia
Thất.
9. Lời cầu nguyện rất hiệu nghiệm
Một đứa trẻ nhờ cha mẹ dạy và
làm gương, nên luôn giữ thói quen đọc kinh trước khi đi ngủ. Ngày nọ em bị bệnh
nặng phải vào nằm bệnh viện. Bác sĩ cho biết em phải qua một cuộc phẫu thuật mới
hỏi bệnh. Trước khi tiêm thuốc mê để mổ, bác sĩ cho em biết: em sẽ ngủ một giấc
thật lâu. Nghe noi đến ngủ, em xin bác sĩ chờ em một chút, để em cầu nguyện như
thường lệ. Và em kết thúc lời nguyện bằng cầu:
– Lạy Chúa, xin cho con mau hết
bệnh.
Sau đó em tự nằm xuống cho bác
sĩ thi hành việc của ông… Khi thức dậy, câu hỏi đầu tiên của em là:
– Thưa bác sĩ, cháu có lành bệnh
không?
Bác sĩ nhìn em và cảm động nói:
– Cháu hãy để Chúa lo liệu… Điều
bác tin chắc là lời cầu nguyện của cháu rất hiệu nghiệm. Chúa đã cứu được một
người là chính bác. Từ lâu bác không đến nhà thờ, không đọc kinh cầu nguyện,
cũng chẳng bao giờ nhớ đến Chúa. Nhưng hôm nay khi cháu cầu nguyện sốt sắng,
Chúa đã đánh động lòng bác. Sáng sớm hôm nay, bác đã đến nhà thờ xưng tội rước
lễ và đọc kinh cầu nguyện.
10. Quà tặng
Đức Tổng Giám Mục Milan ở phía
Bắc nước Ý có kể câu chuyện:
Vào dịp lễ Giáng Sinh có đông
trẻ em, Chúa Giêsu đến với các em. Thấy Chúa, các em mừng quá, vỗ tay treo hò
vang dội. Bỗng có một em xin Chúa tặng quà mừng Sinh Nhật của Chúa. Và tất cả
các em khác đồng thanh hưởng ứng. Chúa Giê su có vẻ suy nghĩ lo lắng một lúc,
vì dường như Người nghèo quá không có quà tặng. Rồi Người mỉm cười giang rộng
hai tay ra ôm các trẻ. Nhưng các em vẫn chờ đợi quà. Một em nói với đứa bạn bên
cạnh:
– Ngài không tặng quà cho mình
đâu. Thật đúng như lời người ta nói: Tôn giáo không có ích gì, vì nó đâu có
mang lại cho chúng ta món quà nào.
Nhưng em đó trả lời:
– Khi Chúa Giê su giang rộng
hai tay ôm lấy chúng ta là Ngài ban tặng chính Ngài cho chúng ta. Chính Ngài là
quà tặng cho chúng ta đó.
11. Những bài học của trẻ con
Nếu trẻ con sống với những lời
phê phán, chúng học được thói hay lên án.
Nếu chúng sống với sự hận thù,
chúng học được thói thích đánh nhau.
Nếu chúng sống với những lời chế
nhạo, chúng học được thói nhút nhát.
Nếu chúng sống với sự chê bai,
chúng học được mặc cảm tội lỗi
Nếu chúng sống với sự bao dung,
chúng học được tính nhẫn nhục
Nếu chúng sống với sự khuyến
khích, chúng học được lòng tự tin.
Nếu chúng sống với lời khen,
chúng học được cách thưởng thức cái hay của người.
Nếu chúng sống với sự lương thiện,
chúng học được tính công bình.
Nếu chúng sống với sự che chở
an toàn, chúng học được lòng tin cậy.
Nếu chúng sống với sự chấp nhận,
chúng học biết yêu thích chính mình.
Nếu chúng sống với tình thương,
chúng học được cách tìm thấy Chúa trong cuộc đời. (Anon, "Children learn
what they live")
12. Bà mẹ thánh thiện và đảm đang thành Luân Đôn
Đầu thế kỷ XX này, tại Luân
Đôn, có một gia đình công nhân vừa nghèo khó lại vừa đông con: cả thảy 13 đứa!
Bố của chúng phải đi làm việc suốt ngày ở xí nghiệp. Bà mẹ ở nhà làm nghề phụ
và lo việc nội trợ. Dù đầu tắt mặt tối, bận bịu suốt ngày suốt đêm, nhưng bà
Vaughan vẫn vui vẻ thay mặt chồng dạy dỗ con cái học giáo lý, tập luyện chúng
có tinh thần đạo đức, khuyên chúng chịu khó học tập, lao động, và đặc biệt trưa
nào rửa chén bát xong bà Vaughan cũng đến nhà thờ chầu Chúa một giờ.
Láng giềng ai cũng lấy làm lạ
và hỏi bà: "Một bầy con 13 đứa, bận rộn sáng tối, mà sao trưa nào chị cũng
đi chầu Thánh Thể ?" Bà tươi cười bảo: "Thấy một bầy con lúc nhúc, ăn
bữa mai chạy gạo bữa hôm, tôi lo lắm. Hơn thế chúng còn đến trước trường học,
theo bạn bè rủ rê đi chơi hoặc ra phố phường xa hoa, do đó nhiều nguy hiểm, tôi
càng thao thức hơn. Thành thử mỗi ngày dầu bận việc đến đâu, tôi cũng bỏ ra một
giờ để chầu Chúa, sốt sắng xin Người ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi nấng các cháu
hằng ngày dùng đủ và dạy dỗ chúng nên người đạo đức."
Chúa đã nhận lời và ân thưởng
cho lòng tin cùng sự hy sinh của bà Vaughan: trong 13 người con, một người làm
Hồng Y Tổng Giám Mục giáo phận Luân Đôn, một người khác làm Tổng Giám Mục, hai
người làm Linh mục, hai nam tu sĩ, hai nữ tu sĩ, còn 5 người ở thế gian lập gia
đình lưu truyền nòi giống, sống cuộc đời đạo đức thánh thiện. (ĐHY NVT, Trên đường
lữ hành)
13. Lý do mừng lễ.
Lễ Thánh gia được thiết lập vào
cuối thế kỷ 19, tương đối mới. Đức Giáo hoàng Lêô XIII bấy giờ rất quan tâm đến
các vấn đề xã hội. Người thấy nhân loại đang đi vào một nền văn minh mới. Lý
trí và khoa học đòi quyền tự lập và tự chủ. Ảnh hưởng đạo đức bớt dần. Và trong
phạm vi gia đình, người ta đã nói nhiều đến tự do, ly dị, cởi mở... Những phong
trào “gia đình công giáo” có từ thế kỷ 16 ráo riết cổ động người ta noi gương
Thánh gia. Đức Giáo hoàng Lêô XIII cũng như các vị kế tiếp muốn chúc phúc cho
những phong trào này. Và lễ Thánh gia được thiết lập theo bối cảnh ấy.
Do đó, Giáo hội muốn cho chúng
ta mừng lễ này là nhằm đề cao vai trò của gia đình và đưa ra một mẫu gương tuyệt
hảo cho mọi người noi theo.
14. Mái ấm gia đình là gì ?
Mới đây một tờ báo ở London, thủ
đô nước Anh, đã gửi câu hỏi “Mái ấm gia đình là gi,theo anh chị” tới 1000 người.
Có 800 người đã trả lời, tập trung vào các ý tưởng sau đây:
. Mái ấm: một thế giới xung đột
khép lại, một thế giới tình thương mở ra.
. Mái ấm: nơi chuyện nhỏ là
quan trọng, chuyện quan trọng là chuyện nhỏ.
. Mái ấm: vương quốc của cha,
thế giới của mẹ và thiên đàng của con cái.
. Mái ấm: nơi chúng ta cằn nhằn
nhiều nhất nhưng được đối đãi tốt nhất.
. Mái ấm: trung tâm của tình
thương mà mọi lời ước nguyện của con tim quyện vào đấy.
. Mái ấm: nơi dạ dầy chúng ta
ăn 3 lần mỗi ngày và tâm hồn ăn ngàn lần mỗi ngày.
. Mái ấm: nơi duy nhất nơi trần
gian mà mọi lỗi lầm và thất bại của con người được che đậy dưới lớp áo bác ái
che đậy.(GM Arthur Tone, Góp nhặt, tr 125-126).
15. Hàn bá Du có hiếu.
Hàn bá Du ăn ở với mẹ rất có hiếu.
Những khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Môt hôm Hàn bá Du phải đòn, khóc mãi. Mẹ
thấy vậy hỏi:
- Mọi khi mẹ đánh con, con biết
lỗi, con cam chịu ngay. Lần này sao con khóc dai như thế ?
Bá Du thưa:
- Mọi khi mẹ đánh, con thấy
đau, con biết mẹ còn mạnh khỏe. Lần này mẹ đánh con, con thấy không đau mấy,
con biết sức mẹ đã yếu, cho nên con nghĩ, con thương mẹ mà con khóc.
Ôi! con ăn ở với mẹ, tuy khó nhọc,
khổ sở cũng không dám oán. Như Bá Du trong truyện này, không những không oán mẹ,
lại còn thương mẹ già yếu, tình con yêu mẹ thế mới là thắm thiết (Nguyễn văn Ngọc,
Cổ học tinh hoa, quyển 2, tr 18).
16. Gia đình là một kho tàng.
Ông George đã đến tuổi 70, ông
không lập gia đình, ông là một thủy thủ, cả cuộc đời lênh đênh trên biển cả.
Ông không có nhà riêng. Cháu trai ông tên là BILL rất thương bác George nên đã
mời bác về sống với Bill, với vợ và 5 con của Bill. Đó là sự giúp đỡ lẫn nhau:
bác George có nhà ở, còn gia đình của Bill có dịp làm những chuyến viễn du tưởng
tượng quanh thế giới mỗi khi lắng nghe bác George kể lại kinh nghiệm của mình.
Đôi khi Bill cảm thấy nhàm chán
và bất mãn với cuộc sống gia đình. Được rảo quanh thế giới không lo lắng, thảnh
thơi vui sướng biết bao. Và Bill đã bày tỏ nỗi lòng cho bác.
Một chiều kia, bác George nhắc
đến một nơi xa xăm. Bác có đánh dấu trên bản đồ một kho tàng chôn giấu. Bill
ghi nhớ điều đó, nên sau khi bác George chết vài năm, Bill coi lại đồ đạc của
bác và tìm thấy một bao thư đề tên Bill, trong đó có một tấm bản đồ. Tim đập mạnh,
tay run run, Bill cố gắng tìm ra nơi cất giấu kho tàng. Sau cùng chàng cũng xác
định được địa điểm: đó là căn nhà của chàng, nơi mà chàng đang đứng.
Bác George đã trối lại cho
chàng một kho báu là ý thức rằng nhà của chàng, gia đình riêng của chàng là kho
báu (Góp nhặt 4, tr 109).
17. Tình yêu cứu sống
Cổ tích vùng Rotal mạn Bắc nước
Pháp có kể lại một câu chuyện sau đây:
Có một gia đình nọ gồm cha mẹ
và một người con sống rất hiệp nhất yêu thương nhau. Nhưng một đêm kia, đang
lúc mọi người ngủ say, một trận giông bão to lớn chưa từng thấy, chỉ trong mấy
giờ đồng hồ cả vùng đều lụt lớn, nhà cửa sập cả, thây người và vật trôi bồng bềnh.
Người cha của gia đình cõng vợ
trên vai mình và bà vợ tay bế đứa con. Nước càng lúc càng dâng cao, chẳng bao
lâu ngập đầu của hai vợ chồng. Dù ngộp thở và vô cùng mệt mỏi, bà mẹ cố giơ cao
hai cánh tay nâng cao đứa con lên khỏi mặt nước để đứa bé khỏi chết ngộp.
Hai vợ chồng sẵn sàng chờ chết,
nhưng chỉ mong có ai cứu được đứa bé khỏi chết. Vừa lúc đó, có một thiên thần
bay ngang qua, trông thấy cái đầu bé tí nhô khỏi mặt nước, vội cầm lấy kéo lên
và dính chùm theo là cả cha mẹ đứa bé. Thế là nhờ yêu thương hiệp nhất mà cả
gia đình được thoát nạn.
18. Đạo đức và hạnh phúc trong gia đình
Trong cuốn bài giảng Chúa nhật
của mình, Đức Cha Arthur Tonne có ghi lại kết quả của một cuộc điều tra xã hội
tại Mỹ năm 1975 về vấn đề gia đình như sau:
Người ta lựa chọn một số gia
đình rồi rồi xếp ra từng loại căn cứ vào những tiêu chuẩn sau đây:
* Không tham dự lễ Chúa nhật +
Không cầu nguyện
* Có tham dự Thánh lễ Chúa nhật
nhưng không cầu nguyện.
* Có tham dự Thánh lễ Chúa nhật
+ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện chung với nhau.
Sau 3 năm người ta nhận được những
kết quả sau đây:
- Đối với những cặp vợ chồng
không bao giờ đi lễ, không cầu nguyện thì cứ 4 cặp thì có 1 cặp ly dị. Tỷ lệ
1/4. Khá cao!
- Đối với những cặp vợ chồng
thường xuyên đi tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật nhưng không cầu nguyện chung với
nhau thì cứ 57 cặp có một cặp ly dị. Tỉ lệ 1/57.
- Với những cặp vợ chồng thường
xuyên tham dự thánh lễ Chúa nhật thường xuyên, thêm vào đó còn có thời giờ để đọc
Thánh Kinh và cầu nguyện chung với nhau thì kết quả hết sức tốt đẹp. Cứ 500 cặp
mới có một cặp ly dị. Tỉ lệ 1/500.
Vâng đó là lết quả của một cuộc
điều tra xã hội.
Lễ Thánh Gia (năm C)
Lời Chúa: Lc 2, 41-52
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Luca.
Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu có
thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười
hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và
khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem
mà cha mẹ Người không hay biết.
Tưởng rằng Người ở trong nhóm
các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong
nhóm bà con và những kẻ quen biết.
Nhưng không gặp thấy Người, nên
hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người. Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy
Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả
những ai nghe Người nói đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người
đáp lại.
Nhìn thấy Người, hai ông bà đã
ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: "Con ơi, sao Con làm cho chúng ta
như thế? Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con.”
Người thưa với hai ông bà rằng:
"Mà tại sao cha mẹ tìm Con? Cha mẹ không biết rằng Con phải lo công việc của
Cha Con ư?" Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói.
Bấy giờ Người theo hai ông bà
trở về Nadarét, và Người vâng phục hai ông bà. Maria mẹ Người ghi nhớ những việc
đó trong lòng. Còn Chúa Giêsu thì tiến tới trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân
sủng, trước mặt Thiên Chúa và người ta.
TRUYỆN KỂ
1. Gương mẫu là bài học trên hết
Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ nhà ở gần
nghĩa địa, thấy người đào, chôn, lăn, khóc, về nhà cũng bắt chước đào, chôn,
lăn, khóc. Bà mẹ thấy thế, nói: chỗ này không phải chỗ con ta ở. Rồi dọn nhà ra
gần chợ.
Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy
người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước cách buôn bán đảo điên. Bà mẹ thấy
thế, lại nói:
"Chỗ này cũng không phải
chỗ con ta ở. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học.
Thầy Mạnh Tử ở gần trường học,
thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, về nhà cũng bất chước học tập lễ phép. Bấy
giờ bà mẹ mới vui lòng nói: "Chỗ này là chỗ con ta ở đây.
Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà
hàng xóm giết lợn, về hỏi mẹ: "Người ta giết lợn làm gì thế. Bà mẹ nói
đùa: "Để cho con ăn đấy.” Nói xong, bà nghĩ lại, hối rằng: "Ta nói lỡ
mồm rồi. Con ta thơ ấu, tri thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng ra ta
dạy nó nói dối hay sao!” Rồi bà đi mua thịt lợn, đem về cho con ăn thật.
Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang
đi học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy, liền cầm dao cắt
đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng: "Con đang đi học, mà bỏ học,
thì cũng như mẹ đang dệt tấm vải này mà cắt đứt như vậy.” Từ hôm đó, thầy Mạnh
Tử học tập rất chuyên cần. Về sau thành một bậc đại hiền. Thế chẳng là nhờ công
giáo dục quí báu của bà mẹ hay sao?
2. Nhà không có mái che
Một thanh niên Scốt-len tìm được
một chân làm vườn trong một gia đình giàu có. Nhưng chỉ hai tuần sau, anh xin
thôi việc. Một người bạn hỏi:
- Có phải công việc quá cực nhọc không?
- Không, công việc rất nhàn.
- Có phải lương quá ít không?
- Không, lương khá lắm.
- Hay anh không thích đồ ăn ở đó?
- Cũng không phải. Đồ ăn rất ngon.
- Vậy tại sao anh thôi việc?
- Vì nhà đó không có mái che.
Đối với người Scốtlen, thành ngữ
“nhà không có mái che” nghĩa là gia đình không biết cầu nguyện. (Tonne).
Trong khi người Ấn Độ được đánh
giá là giỏi triết lý, người Trung Hoa được đánh giá là giàu lễ nghĩa, thì người
Do Thái được đánh giá là tinh thần tín ngưỡng cao. Nhờ đâu? Nhờ người cha Do
Thái biết quan tâm đến việc đạo trong gia đình. Trong gia đình Do Thái, người
cha chủ sự những buổi cầu nguyện, người cha lãnh trách nhiệm khai tâm tôn giáo
cho con, người cha hãnh diện truyền lại cho con truyền thống đạo đức của ông bà
tổ tiên.
3. Gia đình là bài truyền giáo có hiệu lực
Một nhóm người thiện chí bàn
nhau cách phổ biến Phúc Âm. Có người đề nghị quảng cáo trên TV, người khác đề
nghị dùng báo chí. Một thiếu nữ Châu Phi chia sẻ: Ở xứ tôi, khi muốn loan Phúc
Âm cho một vùng nào đó thì chúng tôi gởi đến đấy một gia đình công giáo tốt để gia
đình này sống giữa những người khác trong vùng. (Barclay)
4. Nghèo mà hạnh phúc
Vì nghèo không có vốn đầu tư
kinh doanh, gia đình Nadarét phải lấy sức mình ra làm việc để sinh sống: thánh
Giuse làm thợ mộc, Đức Maria làm nội trợ suốt ngày bận rộn với những việc nấu
nướng, giặt giũ, may vá, quét dọn... Chúa Giêsu khi còn nhỏ thì phụ giúp cha mẹ,
lớn lên nối nghiệp thánh Giuse làm nghề thợ mộc. Đây là một gia đình lao động,
tay chân.
Lao động tay chân thì vất vả: đổ
mồ hôi, tay chân chai sạm, quần quật suốt ngày...
Mặc dù quần quật suốt ngày
nhưng cũng chỉ đủ ăn không dư giả. Trong Tin Mừng ta tìm thấy hai bằng chứng về
tình trạng không dư dả của gia đình Nadarét: Khi đem con đầu lòng dâng vào Đền
Thờ cùng với lễ vật theo luật định, những gia đình khác người thì dâng tiền,
người thì dâng chiên cừu, còn gia đình của thánh Giuse chỉ dâng có một đôi chim
câu là thứ lễ vật của những người nghèo. Khi đi Bêlem, hai ông bà không có tiền
thuê nhà trọ nên đành phải trú chân trong hóc đá, chỗ làm nơi tạm trú cho súc vật.
Gia đình này không dư dả.
Vì không có dư giả nên dĩ nhiên
cũng có những lúc túng thiếu, những ngày lo âu vì miếng cơm manh áo.
Vì túng thiếu nên dĩ nhiên cũng
không được người đời coi trọng mà còn bị khinh chê. Ta nhớ lúc Chúa Giêsu đã đi
rao giảng mà vẫn còn có người nhận xét về Ngài bằng một giọng khinh chê
"Con ông thợ mộc như thế mà là Đấng Cứu thế cái nỗi gì!"
Nhưng gia đình Nadarét lại khác
tất cả các gia đình khác:
Khác ở chỗ tự ý chọn cuộc sống:
lao động chân tay nghèo nàn, là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu có thể chọn sinh ra
trong một gia đình giàu có nhưng Ngài đã chọn sinh ra trong một gia đình lao động
nghèo nàn như thế.
Khác ở chỗ mặc dù nghèo nhưng
những người trong gia đình này không lục đục với nhau như thường thấy trong các
gia đình chúng ta: khi túng thiếu chúng ta sinh ra bực bội, gắt gỏng, gia đình
hay cãi và xung đột với nhau.
Khác ở chỗ dù nghèo nhưng không
gian tham, trộm cắp như thường thấy trong nhiều gia đình khác.
Tóm lại gia đình Nadarét dù
nghèo, dù làm lụng vất vả nhưng rất hạnh phúc rất thánh thiện.
Gia đình Nadarét của thánh
Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu thật là
. một niềm hãnh diện cho các gia đình lao động nghèo nàn.
. một nguồn an ủi khích lệ cho các gia đình lao động nghèo nàn.
. Và là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Nhìn vào nếp sống
gia đình này ta có thể học được rất nhiều bài học quý giá.
5. Không phải khách
Một bé gái 5 tuổi. Sau khi làm
dấu ăn cơm, được mẹ dậy nên em thường nói: "Lạy Chúa Giêsu, xin dùng cơm với
gia đình chúng con!" Lần đó, em đột ngột ngó mẹ, nói:
- Mẹ ơi, con không muốn Chúa là
khách nhà mình.
- Sao vậy con?
- Vì khách thỉnh thoảng mới đến.
Con muốn Chúa ở luôn đây cơ!
6. Bận lắm!
Một thiếu niên phải ra trước
vành móng ngựa vì tội làm bạc giả. Vị thẩm phán biết rõ gia đình em. Bố em là một
luật gia nổi tiếng, từng viết nhiều bài báo nói về "Sự thật.” Vị thẩm phán
hỏi:
- Cháu có nhớ bố mình không?
Người bố mà cháu đã bôi nhọ thanh danh của ông.
- Có, cháu nhớ ông ấy rất rõ.
Nhưng mỗi khi cháu muốn lại gần xin bố chỉ dạy, bố cháu thường mắng: "Nhóc
con, cút đi, tao bận lắm!" Bố cháu thường dành hết thời giờ cho công việc,
ít quan tâm đến cháu, nên giờ cháu mới ra thế này.
Vị luật gia thường viết về sự
thật, nhưng lại quên mất sự thật lớn lao nhất là con mình. Thật là sai lầm.
7. Tài tử Galicopter và người vợ.
Một trong những ngôi sao điện ảnh
nổi tiếng nhất trong thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ôâng nổi tiếng
không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông.
Vào khoảng cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rochi người vợ đã
chung sống với ông trong gần 30 năm như sau:
“Rochi là một người đàn bà tuyệt
vời. Nàng là một người vợ đã biết thích nghi với tính khí và công việc của tôi.
Nàng cũng biết cảm thông với những lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở cạnh
tôi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần đến n àng. Nàng là người vợ đích thực.”
Những lời khen tặng trên đây của
tài tử Galicopter là một khẳng định rằng: người nắm giữ hạnh phúc gia đình, người
nắm vai chủ động trong việc xây dựng hạnh phúc hôn nhân chính là người vợ. Dĩ
nhiên sự thành công của hôn nhân là do sự hợp tác của hai vợ chồng. Nhưng người
vợ vẫn giữ vai trò chủ yếu: “Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”(Tục ngữ).
8. Nhà bác học Louis Pasteur.
Ngày 14.07.1883, hội đồng thành
phố Dole quyết định đặt tấm đồng ghi danh trên cửa nhà mà Pasteur đã sinh ra.
Hôm ấy, trong bài đáp từ cao thượng, nhà bác học trứ danh đã để lòng trào ra
trên nỗi biết ơn cha mẹ:
‘Ôi ! hỡi cha con, mẹ con ! Ôi,
hỡi những người thân yêu đã chết ! Các ngài đã sống bình dị quá trong căn nhà
nhỏ bé này, con đã chịu ơn tất cả bởi các ngài. Những nhiệt tình của người, hỡi
mẹ can đảm của con, mẹ đã chuyển nó cho con. Nếu con bao giờ cũng đã nối kết
vinh quang khoa học vào vinh quang tổ quốc, chính là vì con đã thấm nhuầãn những
cảm tình mà mẹ phấn khích ở trong con. Và còn người, hỡi cha thân yêu, mà đời sống
cũng nặng nhọc như nghề nghiệp, cha đã tỏ cho con biết đức kiên nhẫn trong cố gắng
lâu dài có thể làm được những gì… Con chúc tụng cả hai, hỡi cha mẹ thân yêu,
cho cuộc sống con người, và xin để cho con hướng về các ngài cái vinh hạnh mà
người ta hiến lên căn nhà này ngày hôm nay”
9. Chọn lựa trên hết
Hồi tháng 2-1988, một trận động
đất lớn đã xảy ra tại Arménia thuộc liên bang Xô viết cũ làm cho nhiều người bị
thiệt mạng. Trong trận động đất này có rất nhiều cảnh thương tâm. Tuy nhiên,
câu chuyện sau đây đáng chúng ta lưu ý hơn cả.
Sau cơn động đất, cũng giống
như hàng trăm ngàn người khác, có hai mẹ con bị vùi lấp dưới hàng trăm ngàn tấn
đá và ciment. Nhưng may mắn là họ nằm lọt trong khoảng trống nhỏ chỉ vừa để cựa
quậy mà thôi. Thực phẩm duy nhất của họ là một hũ mứt nhỏ. Đứa con gái kêu lên:
- Mẹ ơi! Con khát quá! Con muốn
uống nước!
Tiếng kêu khát của đứa con gái
nhỏ làm bà mẹ vừa đau lòng vừa lúng túng. Thế nhưng, tình mẫu tử đã gợi lên cho
bà một ý nghĩ táo bạo. Đó là bà lấy chính những giọt máu cuối cùng của mình cho
con bú để có thể cầm cự được với tử thần. Lúc đó, bà mẹ đáng thương sờ soạng
xung quanh mình vớ được miếng kiếng nhỏ. Bà cắt ngón tay trỏ của mình đút vào
miệng và nói với con:
- Con mút đi!
Sau khi mút một hồi lâu, đứa
con lại bảo:
- Mẹ cắt ngón tay nữa cho con
bú đi!
Bà mẹ liền cắt một ngón tay nữa,
nhưng vì trời quá lạnh nên bà không còn cảm thấy còn đau đớn gì. Sau khi được cứu
sống bà mẹ thuật lại rằng: “Lúc đó, tôi biết thế nào tôi cũng chết, nhưng tôi
muốn cho con tôi được sống.”
Vì con cái là vốn quí nhất, nên
các thánh Giuse và Đức Mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả, chỉ mong con mình được an
toàn.
10. Người con hiếu thảo
Lịch sử thuật lại rằng, Tổng thống
George Washington, một trong những nhà anh hùng của nền độc lập Hoa Kỳ, là một
người con luôn hiếu thảo đối với mẹ mình.
Sau những trận chiến cam go nơi
sa trường, sau những cuộc họp căng thẳng với các chính khách, sau những công việc
bề bộn của một nguyên thủ quốc gia, ông vẫn dành cả tiếng đồng hồ để về nhà
thăm người mẹ hiền và trò chuyện với bà nhiều giờ.
Một hôm, thấy con đã vất vả
công việc quốc gia, lại còn mất nhiều thời giờ thăm viêng, an ủi mình, bà mẹ mới
hỏi ông:
- Tại sao con lại chịu khó mất hàng giờ như vậy
để ngồi bên cạnh mẹ?
Vị tổng thống vĩ đại của nước Mỹ
đã trả lời:
- Thưa mẹ, ngồi bên cạnh để lắng
nghe mẹ nói, không phải là một việc mất thời giờ. Bởi vì, sự thanh thản và lòng
nhân hậu của mẹ đã giúp con vui sống.
Chẳng cần phải nói nhiều chúng
ta cũng có thể thấy: Ðức Giêsu là một người con rất hiếu thảo. Tin Mừng tóm tắt
cuộc đời thơ ấu của Chúa bằng một câu ngắn gọn: “Sau đó Người đi xuống cùng với
cha mẹ trở về Nazareth và hằng vâng phục các Ngài” (Lc 2,51).
11. Hạnh phúc theo sau
Chó con hỏi chó mẹ: Mẹ ơi hạnh
phúc là gì? Chó mẹ bảo: Hạnh phúc là cái đuôi con đấy! Và thế là chó con quay lại
tóm cái đuôi của mình, nhưng không tài nào tóm được. Chú ngồi xuống oà khóc và
lại hỏi mẹ: Tại sao con không thể nào bắt được hạnh phúc hả mẹ? Chó mẹ mỉm cười
và nói rằng: Con trai, tại sao con không tiến về phía trước và hạnh phúc sẽ
theo sau con.
Vậy tại sao chúng ta cứ phải đi
tìm hạnh phúc ở nơi đâu khác, khi mà hạnh phúc luôn đi theo mình, trong gia
đình mình. Đừng tự hỏi làm sao chúng ta có thể tìm được sự an lạc, bình an và hạnh
phúc trong đời sống gia đình? Hãy sống và cảm nhận hạnh phúc mà cha mẹ đã tặng
ban cho ta, rồi đáp trả bằng sự chia sẻ cho anh em, cho con cái. Chúng ta hạnh
phúc vì được sống bên những người mà mình yêu thương.
12. Gia đình cần cầu nguyện
Chuyện kể về một người chuyên
nuôi cá cảnh. Một hôm, trong kỳ hè, khi đang dạo chơi trước các quầy hàng dọc
theo bờ biển, anh thấy một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp trong một chậu thủy tinh ở
quầy. Đó là một con cá nước mặn xinh xắn mà anh chưa từng thấy, anh quyết định
mua về. Về đến nhà, anh ra sức chăm sóc nó và áp dụng những phương pháp tốt nhất
của một nhà chuyên môn.
Trước hết, anh đặt cá vào chậu
nước mặn, cá lội tung tăng trong môi trường quen thuộc. Thế nhưng, một tuần
sau, với sáng kiến, anh thêm vào một ít nước ngọt, mỗi ngày một ít. Cứ thế, anh
tăng dần nước ngọt cho đến khi chú cá quen hẳn với môi trường mới. Không dừng lại
ở đó, anh tiếp tục luyện cá. Mỗi ngày, anh bắt đầu đổ vào chậu một ít bùn, và cứ
thế, sau nhiều tháng, lượng bùn được tăng lên cho đến khi con cá quen hẳn với
việc ngày ngày nằm trên mặt bùn đớp mồi như một loài bò sát. Chưa hết, anh tập
cho cá ra khỏi chậu và lẽo đẽo theo anh như một con cún cưng. Anh đã thành
công, vì mỗi lần anh đi đâu, con cá màu ngoan ngoãn theo sau. Cho đến một ngày
kia, chuyện đã xảy ra khi anh có việc sang nhà bạn, có chú cá cùng đi. Lúc trở
về, trời đổ mưa, anh phải chạy thật nhanh và quên mất chú cá. Sực nhớ, anh quay
lại tìm, nhưng chẳng thấy đâu cho đến khi gặp một vũng nước trên đường, thì hỡi
ôi, chú cá yêu quý của anh nằm chết trong đó vì nó không biết bơi.
Câu chuyện khiến chúng ta rùng
mình sởn ốc khi nhớ đến trách nhiệm và bổn phận của một người làm cha làm mẹ
trong việc giáo dục và làm gương sáng cho con cái. Vì "nửa cuộc đời còn lại
của một con người được hình thành từ những thói quen có được từ nửa cuộc đời
trước đó.” Thói quen cầu nguyện, thói quen đạo đức, thói quen lễ phép, thói
quen dùng thời giờ, thói quen học hành, thói quen dùng tiền..., nghĩa là giáo dục
thế nào, kết quả thể ấy.
Muốn được như thế, gia đình
chúng ta phải là một gia đình mà Thiên Chúa phải chiếm địa vị tối thượng tuyệt
đối trong bậc thang các giá trị. "Không ai hơn Chúa, không chi bằng Chúa,
Chúa trên hết, Chúa trước hết.” Bởi lẽ, gia đình được dựng xây và phát xuất từ
gia đình yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Gia đình phải là một gia đình cầu
nguyện. Nếu Thiên Chúa không chiếm địa vị độc tôn tối thượng, mọi trật tự sẽ đảo
lộn.
13. Niềm tự hào của Douglas MacArthur
Hình thức đáng quý của việc cầu
nguyện trong gia đình là cầu nguyện chung: kinh nguyện gia đình. Kinh nghiệm
cho thấy, các gia đình bỏ kinh, bỏ cơm chung... là dấu hiệu cho thấy sự rạn nứt.
Có hình ảnh nào dễ thương hơn khi mọi người được lắng nghe Lời Chúa trong những
giây phút này. Hãy để Chúa Thánh Thần dạy dỗ mỗi khi đêm về nhiều hơn thay vì cả
nhà ngồi chầu trước con quái vật một mắt để nghe con người dạy bảo.
Thống Tướng Douglas MacArthur,
Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ Quân Đội Philippines thập niên 1930, người đã để
lại một câu nói bất hủ: "In war, there is no substitute for victory",
"Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng.” Vậy mà trong
tiểu sử của ông còn có một câu nói bất hủ hơn: "Tôi là một quân nhân
chuyên nghiệp, tôi hãnh diện về điều ấy. Nhưng tôi còn hãnh diện hơn, hãnh diện
hơn rất nhiều vì được làm một người cha...và niềm hy vọng của tôi là: Khi tôi
đã về bên kia thế giới, thì con tôi vẫn nhớ đến tôi không phải với những hình ảnh
ở trận chiến mà là những hình ảnh ở nhà tôi, khi tôi cùng đọc với nó những lời
kinh thường đọc hằng ngày: "Lạy Cha chúng con ở trên trời....”
14. Vai trò quan trọng của gia đình trong đời sống đức tin
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II hằng
nhắc nhở về sự thánh thiêng của gia đình khi Ngài gọi gia đình là nền tảng của
Giáo Hội. Đức Thánh Cha Phaolô VI gọi gia đình là Cung Thánh của Giáo Hội, là
trường học đầu tiên của con cái mà cha mẹ là thầy cô.
Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận
cũng từng viết: "Chủng Viện thứ nhất, Đệ Tử Viện thứ nhất, trường Sư Phạm
thứ nhất là Gia Đình Công Giáo. Không vị giám đốc tài ba nào, hay chuyên môn đến
đâu có thể làm thay cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng, tương lai Hội
Thánh và xã hội cũng rung rinh sụp đổ.”
Từ mái ấm gia đình, cha mẹ con
cái siêng năng tham dự Thánh Lễ, chuyên chăm Kinh Nguyện tại gia, biết dùng Lời
Chúa làm ánh sáng soi đường chỉ lối, luôn sống hoà thuận yêu thương nhau, thì
"Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công
cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng
ta.”
Trong Năm Đức Tin, HĐGMVN mời gọi
mỗi gia đình hãy theo gương Thánh Gia: "Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều
lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống
tốt đẹp của gia đình Công Giáo.”
15. Được cứu nhờ yêu thương và hiệp nhất
Cổ tích vùng Rotal mạn Bắc nước
Pháp có kể lại một câu chuyện sau đây:
Có một gia đình nọ gồm cha mẹ
và một người con sống rất hiệp nhất yêu thương nhau. Nhưng một đêm kia, đang
lúc mọi người ngủ say, một trận giông bão to lớn chưa từng thấy, chỉ trong mấy
giờ đồng hồ cả vùng đều lụt lớn, nhà cửa sập cả, thây người và vật trôi bồng bềnh.
Người cha của gia đình cõng vợ trên vai mình và bà vợ tay bế đứa con.
Nước càng lúc càng dâng cao, chẳng
bao lâu ngập đầu của hai vợ chồng. Dù ngộp thở và vô cùng mệt mỏi, bà mẹ cố giơ
cao hai cánh tay nâng cao đứa con lên khỏi mặt nước để đứa bé khỏi chết ngộp.
Hai vợ chồng sẵn sàng chờ chết, nhưng chỉ mong có ai cứu được đứa bé khỏi chết.
Vừa lúc đó, có một thiên thần
bay ngang qua, trông thấy cái đầu bé tí nhô khỏi mặt nước, vội cầm lấy kéo lên
và dính chùm theo là cả cha mẹ đứa bé. Thế là nhờ yêu thương hiệp nhất mà cả
gia đình được thoát nạn.
16. Tâm sự xa gia đình
Là người ai trong chúng ta cũng
có một gia đình. Gia đình là chỗ chúng ta tựa nương. Gia đình là thành trì vững
chãi cho cuộc đời chúng ta. Gia đình mang lại cho chúng ta niềm vui, tiếng cười.
Gia đình là chiếc nôi êm ái cho cuộc đời chúng ta. Thế nên, khi xa gia đình,
chúng ta vẫn luôn cảm thấy mất mát, trống vắng trong cõi lòng.
Có một lời bộc bạch của một người
con vừa chập chững bước chân vào đời đã tâm sự:
“Em nghĩ tới mẹ em lúc em đi học
về, lúc em đói bụng. Nghĩ hồi trước về nhà, đi học về, có mẹ nấu đồ ăn, có cơm
sẵn cho mình ăn. Bây giờ, đi học về, ngồi gặm bánh mì thui thủi một mình hay nấu
mì gói.
Em nhớ mẹ trong lúc đi làm, khi
bị người ta nói này nói kia. Mình nghĩ lúc ở nhà, ba mẹ la mình thì mình giận,
nghĩ là không thương mình. Rồi bây giờ, đi ra ngoài đi làm, người ta khó khăn với
mình thì mình cũng phải chịu thôi, không nói lại được. Nên nghĩ lại thấy thương
nhớ cha mẹ.”
Lời tâm tình này cũng là tâm sự
của nhiều bạn trẻ - những chú chim non vừa bay ra khỏi tổ, tự một thân một bóng
phải vật lộn, chống chọi lại mọi thứ để tồn tại trong khoảng không gian bao la
vô tận mà trước đây bầu trời xanh trong với những ước mơ bay bổng từng thu hút
và đầy quyến rũ để các chú chim luôn khao khát mau được bay ra khỏi tổ một cách
tự do, độc lập.
Chính vì thế mà có nhiều bạn trẻ
khi va vấp những khó khăn trong cuộc sống mới giật mình xót xa:
“Có đôi lúc,
Mải mê quay với dòng đời ồn ã
Những đô hội thị thành
Những phương trời lạ
Chợi giật mình tỉnh giấc nhớ mẹ cha.”
17. Chữ Nhẫn trong cuộc sống
Trước đây, gia đình Trương Công
Nghệ đời nhà Đường là cửu đại đồng đường (chín đời ở chung một nhà).
Đường Cao Tông đến nhà ông ta hỏi
có bí quyết gì, Trương Công Nghệ liền xin giấy viết liền một trăm chữ "Nhẫn.”
Một gia đình có nhân khẩu quá đông, cùng chung sống dưới một mái nhà, nếu không
có được sự nhẫn nhịn thì khó mà hòa hợp được.
Đạo lý ấy cũng đúng trong một đất
nước. Người có thể nhẫn nhịn nhau vì gia đình như vậy thì cũng thể biết cách nhẫn
nhịn, ứng xử khéo léo ngoài xã hội. Nhẫn nhịn chính là cột chống đỡ cho tinh thần
đua tranh.
Nếu lúc nào cùng nghĩ đến sự nhẫn
nhịn thì thắng không kiêu, bại không nản, có thế tiến, có thể lui theo ý muốn
mình.
18. Làn gió thế tục tác hại cho gia đình
Bác sĩ Benjamin Spack, trong cuốn
sách "Nghệ thuật làm cha mẹ", một trong những cuốn sách bán chạy nhất
(best beller) ở nước Mỹ đã phân tích tình trạng sa sút gia đạo với các nguyên
nhân như sau: (x. Tuần báo CG và Dt số 1134 trang 20-21)
1. Vì thích độc lập, thích sống riêng rẽ, nên các gia đình trẻ mất
sự hổ trợ, mất bầu khí đùm bọc yêu thương của cha mẹ, anh chị em.
2. Cuộc sống sinh kế, nghề nghiệp thiếu ổn định khiến cho các
gia đình hay thay đổi chỗ ở làm mất tình làng nghĩa xóm (bà con xa không bằng láng
giềng gần).
3. Cũng do kế mưu sinh mà cả cha lẫn mẹ đều bôn ba chuyện cơm áo
gạo tiền một cách tất bật và thế là thiếu thời giờ dành cho nhau và dành cho
con cái.
4. Nạn ly hôn ngày càng phổ biến làm ảnh hưởng rất tai hại trên
con cái, trên sự thánh thiêng của đời hôn nhân gia đình. Đây là một sự thật khó
chối cãi.
5. Óc thượng tôn của cải, lấy vật chất làm thước đo giá trị đã
làm cho con người thiếu niềm tin vào các giá trị tinh thần mà đạo hiếu là một
trong những số phận hẩm hiu ấy.
Chúa Nhật tiếp ngay sau lễ
Giáng Sinh, Giáo hội liền mời gọi chúng ta hướng cái nhìn vào Gia đình Thánh:
Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Hẳn nhiên Giáo hội ý thức tầm quan trọng
của gia đình vốn được ví là tế bào của xã hội. Không gì hơn hãy nhìn vào Ba Đấng
của Thánh gia để học cách củng cố gia đạo, xây dựng cái nền tảng của xã hội
đúng như thánh ý Chúa tự ban đầu buổi sáng tạo, khi Người dựng nên loài người
có nam có nữ và cho họ chung sống thành gia đình (x. St 1,27-28).
19. Bí quyết gia đình hạnh phúc
Một đôi vợ chồng người Anh sống
ở Herefort đã được nhận giấy chứng nhận từ sách Guinness thế giới về hôn nhân bền
vững nhất thế giới. Đó là cụ ông Percy 105 tuổi và cụ bà Florence Arrowsmith
100 tuồi.
Vào ngày 1/6/2005, hai cụ kỷ niệm
80 năm ngày cưới. Cụ bà Arrowsmith hóm hỉnh nói: “Chúng tôi rất hạnh phúc khi gắn
bó với nhau suốt 80 năm. Điều quan trọng nhất đến giờ chúng tôi vẫn yêu nhau… Từ
năm 1925 đến nay, tôi cảm thấy thất vọng, nếu ngày nào ổng không nói với tôi những
lời âu yếm.”
Trả lời về bí quyết hôn nhân bền
vững của mình, cụ bà Arrowsmith cho biết: ”Chúng tôi ít khi cãi nhau, đôi bên
không bao giờ ngại nói lời xin lỗi.” (Theo BBC & Telegraph)
20. Gieo giống nào ăn trái đó
Có câu chuyện kể rằng trong gia
đình nọ, ngày kia đứa con thấy cha nó gọt cái gáo dừa mới hỏi cha nó gọt làm
chi. Lặng nhìn đứa con hồi lâu ông ta trả lời: "Để cho ông nội mày ăn cơm.
Vì lúc này ông nội mày làm bể chén hoài, phí quá!” Đứa con suy nghĩ và không
nói gì. Vài ngày sau đó, nó cũng đem gáo dừa khác ra gọt. Tưởng là con cũng đồng
tình với mình, người cha hí hởn hỏi: "Bộ mày tính giúp tao lo cho ông nội
mày hả?” Đứa con trả lời: "Đâu có, cái này con để dành cho cha. Khi nào
cha như ông nội con sẽ cho cha xài.” Nghe xong câu trả lời người cha tái mặt...
Như vậy, công ơn cha mẹ không
biết làm sao ta có có thể đáp đền cho cân xứng. Dù rằng ta có thành tài cách mấy
đi nữa mà không có lòng hiếu thảo cha mẹ thì cũng kể bằng không. Hơn nữa, thái
độ của ta với cha mẹ như thế nào thì con cháu sẽ nhìn vào đó để cư xử với ta
như vậy.
21. Cái khó để làm cha mẹ
Erma Bombeck là một nhà viết nhật
ký. Bài viết của cô đã được đăng tải trên 900 tờ báo khắp nước Mỹ. Cũng giống
như những nhà bình luận, cô nhận được rất nhiều lá thư của các độc giả.
Đây là đoạn trích thư của một
người mẹ: "Cho dù là tòa đã kết án đứa con trai của tôi, nhưng tôi thì vẫn
không. Nó là đứa con của tôi, làm sao mà tôi có thể kết án nó chứ? Tôi cầu nguyện
cho nó; tôi khóc thương nó; tôi khuyến khích nó. Và trên hết, tôi yêu thương
nó. "
Đây là một ví dụ khác, dựa trên
lá thư của một em bé 12 tuổi. Em viết: "Tôi là một bà mẹ thay thế. Khi người
mẹ của tôi làm việc tại nhà hàng, thì tôi phải trông coi ba người em của tôi.
Tôi phải lo vệ sinh cho chúng nó. Tôi lau nước mũi cho chúng. Tôi cho chúng ăn.
Tôi đưa chúng vô giường ngủ. Tôi làm tất cả mọi việc mà người mẹ thật của tôi
làm. Tuy nhiên, thay vì cám ơn tôi, các em của tôi đã ghét tôi. Một đôi lúc,
tôi mong được chết đi. Tôi đã có ý định bỏ nhà ra đi, nhưng tôi không biết đi
đâu và sẽ làm gì. Khi tôi lớn lên, tôi không muốn làm một người mẹ, bởi vì đó
là một cái nghề tệ nhất trên trái đất này. " (Based on Erma Bombeck,
Motherhood: The Second Oldest Profession).
Hai ví dụ ở trên đều đưa đến một
điểm giống nhau, đó là cho dù làm bậc cha mẹ hoặc làm bậc con cái trong gia
đình đều không phải là dễ. Một đôi lúc, nó thật là nhức nhối.
22. Người con hiếu thảo
Sách Cổ học tinh hoa kể truyện
Hàn Bá Du ăn ở với mẹ rất có hiếu. Những khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Một hôm
Bá Du phải đòn, khóc mãi. Mẹ thấy vậy hỏi: “Mọi khi mẹ đánh, con biết lỗi, con
cam chịu ngay. Lần này sao con khóc dai thế?”
Bá Du trả lời: “Mọi khi mẹ
đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn mạnh khoẻ. Lần này mẹ đánh con, con không
thấy đau mấy, con biết sức mẹ đã yếu, cho nên con nghĩ, con thương mẹ mà con
khóc.”
Đánh đòn, rồi kêu khóc… mới
nghe cứ tưởng như chuyện tệ nạn xã hội, chuyện của giáo dục lỗi thời, nhưng những
lời nói chuyện giữa hai mẹ con Hàn Bá Du làm sáng lên những điều không thể thiếu
nơi con người trưởng thành, những giá trị đặc trưng và trổi vượt trong đời sống
xã hội, là sự thật, lòng nhân và công lý.
23. Bó hoa tặng mẹ
Anh lại gần và hỏi thăm. Cô bé nức nở: “cháu định mua một đoá
hoa hồng tặng mẹ cháu, nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một bông đến 2
đôla…” Anh mỉm cười bảo em bé: “Nào, đến đây, chú sẽ mua cho cháu một bông!”
Anh vào cửa tiệm đặt mua cho em một đoá hoa hồng và cũng không
quên đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh theo đường bưu điện. Xong xuôi, anh hỏi
cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không, em vui mừng nhìn anh và trả lời: “Dạ, chú
cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu nhé…”
Rồi em bé chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang không có
hàng rào, nằm ở ngoại ô. Xe vừa dừng lại, em bé chỉ vào một phần mộ vừa mới đắp
ở ngoài rìa nghĩa trang và nói: “Đây là nhà của mẹ cháu đấy chú ạ!” Em tiến lại,
cúi xuống ân cần đặt đoá hoa hồng lên mộ…
Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, huỷ bỏ dịch vụ gửi hoa bằng
bưu điện lúc nãy, mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm hôm ấy, anh đã lái xe một
mạch 300 cây số về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa…
24. Chúa ở đâu trong gia đình tôi
Một ngày kia, đám yêu tinh họp
nhau lại để tìm cách phá hoại cuộc sống của loài người. Con đầu đàn lên tiếng:
“Ta sẽ trọng thưởng cho đứa nào đánh cắp hạnh phúc của con người và tìm được một
chỗ giấu mà không ai tìm ra được. Các ngươi tính sao?”
Một con lên tiếng: “Hãy đem hạnh
phúc giấu trên đỉnh núi cao nhất trên Trái đất này, chắc con người sẽ không thể
tìm ra.” Con đầu đàn lắc đầu: “Rồi cũng sẽ có ngày họ chinh phục đỉnh núi cao
nhất ấy.”
“Vậy hãy giấu dưới đáy đại
dương sâu thẳm …”, con khác nói.
“Với những phương tiện ngày
càng hiện đại, chẳng mấy chốc họ cũng thám hiểm đến đáy đại dương sâu thẳm”,
con đầu đàn lắc đầu.
“Hay ta giấu ở một hành tinh khác vậy”, một tiểu
yêu đề nghị.
“Làm vậy chẳng giấu được họ, vì
họ đang tìm cách khám phá vũ trụ và các hành tinh khác”, con đầu đàn ngao ngán
trả lời.
“Này này…, một nữ yêu tinh chậm
rãi nói, người ta tìm kiếm hạnh phúc khắp mọi nơi; nhìn thấy hạnh phúc nơi người
khác nhưng thường không thấy hạnh phúc chính ở bản thân mình. Vậy ta hãy giấu hạnh
phúc trong chính cuộc sống họ, họ sẽ chẳng tìm thấy được đâu....”
Cả đám yêu tinh reo lên và quyết
định làm theo lời đề nghị trên.
25. Bức tranh đẹp nhất trần gian
Một hoạ sĩ suốt đời ước mơ vẽ một
bức tranh đẹp nhất trần gian. Ông đến hỏi vị giáo sĩ về điều đẹp nhất. Vị giáo
sĩ trả lời: “Tôi nghĩ điều đẹp nhất trần gian là niềm tin vì niềm tin nâng cao
giá trị con người.”
Hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự
với cô gái và được trả lời: “Tình yêu là điều đẹp nhất trần gian, bởi tình yêu
làm cho cay đắng trở nên ngọt ngào, mang đến nụ cười cho kẻ khóc than, làm cho
điều bé nhỏ trở nên cao trọng, cuộc sống nhàm chán biết bao nếu không có tình
yêu.”
Cuối cùng hoạ sĩ gặp một người
lính mới về từ trận mạc. Được hỏi, người lính trả lời: “Hoà bình là cái đẹp nhất
trần gian, ở đâu có hoà bình là ở đó có cái đẹp.”
Và hoạ sĩ đã tự hỏi mình: “Làm
sao tôi có thể vẽ cùng lúc niềm tin, hoà bình và tình yêu?”
Khi trở về nhà, ông nhận ra niềm
tin trong ánh mắt các con, tình yêu trong cái hôn của người vợ. Chính những điều
đó làm tâm hồn ông ngập tràn hạnh phúc và bình an. Hoạ sĩ đã hiểu thế nào là điều
đẹp nhất trần gian. Sau khi hoàn thành tác phẩm, ông đặt tên cho nó là “Gia
đình”
26. Sợi chỉ đỏ tình yêu
Vào tháng 9 năm 2006, tờ nhật
báo Bild am Sonntag, xuất bản tại Đức đã quả quyết: năm 1920, cha mẹ của Đức
Giáo Hoàng Bênêđictô 16 gặp gỡ nhau nhờ mục “Tìm Bạn Bốn Phương” trên một tờ
báo vùng Bavaria, nước Đức. Nhật báo này đã tìm được hai mẩu tin nhắn của thân
phụ Đức Giáo Hoàng là ông Joseph Ratzinger với nội dung như sau: “Một công chức
bình thường, Công Giáo, độc thân, 43 tuổi, tìm một thiếu nữ Công Giáo biết nội
trợ và vá may chút đỉnh để đi đến hôn nhân.” Mấy tháng sau, một cô gái làm nghề
cấp dưỡng tên Maria Peintner đã trả lời mẩu tin nhắn. Họ đã tìm hiểu nhau và kết
hôn vào ngày 9/11/1920. Hai ông bà sinh được 3 người con: Maria, qua đời năm
1991; Georg, một linh mục đã 82 tuổi và Joseph, trở thành đương kim Giáo Hoàng
(Theo AP, Reuters).
Tuy nên vợ nên chồng chỉ bằng mục
“Tìm Bạn Bốn Phương”, nhưng đôi vợ chồng ấy đã xây dựng được một gia đình hạnh
phúc và đạo đức. Họ đã dâng hiến cả hai người con trai cho Thiên Chúa: Một làm
Linh mục, một làm Giáo Hoàng. Quả thật, gia đình của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô
là một gia đình gương mẫu.
27. Những nấc thang tình yêu
Mới đây, tại Trung Quốc, một
câu chuyện tình được bầu chọn là câu chuyện tình tuyệt vời nhất năm 2006. Câu
chuyện đó như sau: Cách đây nửa thế kỷ, chàng trai tên Liu Guojiang đã yêu một
quả phụ lớn hơn mình 10 tuổi tên Xu Chaoqing. Bị gia đình và mọi người phản đối,
hai người đã đưa nhau lên một hang núi để chung sống.
Từ đó, chàng Liu đã bắt đầu đục
6000 bậc thang trên núi làm lối để hai người đi. Bây giờ ông cụ Liu đã 70 tuổi,
bà cụ Xu đã 80 tuổi. Nhưng 6000 bậc thang vẫn còn được dùng để con cháu đi lại.
Người ta gọi đó là “những nấc thang tình yêu” (Báo Thanh Niên, số ra ngày
13/11/2006).
28. Người mẹ kiểu mẫu
Vào năm 1997, có một người phụ
nữ nằm xuống làm rung động cả thế giới. Đó là mẹ Têrêsa Calcutta, người đã nhận
được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1979. Rất nhiều người coi mẹ là một phụ nữ
vĩ đại nhất trong thế kỷ 20. Bởi vì ai cũng đồng ý rằng: sở dĩ mẹ Têrêsa trở
thành người vĩ đại nhất, chỉ vì mẹ đã dành hết cả cuộc đời để yêu thương và phục
vụ những người đau khổ.
Mẹ Têrêsa có được tinh thần phục
vụ như thế, là nhờ được giáo dục bởi một người mẹ vĩ đại, vì ngay khi cô Têrêsa
còn đi học, lần nào mẹ cũng cho con tiền để tiêu riêng và mẹ còn ân cần dặn
con: “Mẹ cho con tiền để con ăn bánh, uống nước. Nhưng con chỉ được xài một nửa
thôi, nửa kia còn lại con hãy chia sẻ cho các bạn nghèo con gặp.”
Ngờ đâu lối giáo dục của người
mẹ vĩ đại này, đã tạo nên một Têrêsa mà cả thế giới tôn phong là mẹ vĩ đại, và
nhiều cường quốc đã xin mẹ làm công dân danh dự.
28. Tâm sự của thánh Giáo hoàng Gioan 23
Lời tâm sự của Đức Giáo hoàng
Gioan thứ 23 đã viết thư cho cha mẹ của ngài, lúc ngài tròn 50 tuổi:
Gia đình là “trung tâm ánh
sáng” đem ngọn lửa hồng chiếu soi kẻ khác. Ngày nào mọi gia đình là “trung tâm
ánh sáng”, thì thế giới này sẽ là một đại gia đình đầy ánh sáng, đầy hy vọng.
Chủng viện thứ nhất, đệ tử thứ
nhất, trường sư phạm thứ nhất là gia đình Công giáo biết say mê Lời Chúa và
tham dự Thánh lễ mỗi ngày, không có vị giám đốc tài ba chuyên môn nào có thể
thay thế cha mẹ được. Nếu gia đình không giáo dục con cái bằng những ngôn ngữ Lời
Chúa và yêu Thánh lễ mỗi ngày, thì tương lai của Hội Thánh và xã hội nhân loại
cũng bị rung rinh sụp đổ!
Đức Giáo hoàng Gioan 23 khi còn
làm Hồng y, có lần ngài về thăm mẹ và khoe với mẹ chiếc nhẫn Giám mục của mình,
bà mẹ không chịu thua, giơ tay ra cho con xem cái nhẫn mỏng tanh trên ngón tay
của bà và hãnh diện nói với con: “Nếu không có chiếc nhẫn cưới này, thì con
cũng không thể có chiếc nhẫn Tổng Giám mục ấy”, Đức Giáo hoàng thưa với mẹ:
“Thưa mẹ, hôm nay con được 50 tuổi, Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội
Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích
cho con hơn hồi còn được ngồi bên cha mẹ.”
29. Cha mẹ thương con
Năm 1972, thời chiến tranh ở Việt
Nam diễn ra rất ác liệt giữa hai chế độ Cộng sản và Cộng hòa, vùng đất quanh
nhà thờ Chánh tòa Nha Trang bị oanh kích, dân chúng khắp vùng tuốn về nơi đây để
lánh nạn. Tình trạng đông dân lại thiếu lương thực, Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận
lúc đó đang coi sóc Giáo phận Nha Trang, ngài bay vào Sài-gòn xin tiếp viện
lương thực cho dân. Khi ngài ra phi trường Tân Sơn Nhất để trở về Nha Trang,
thình lình một phụ nữ chạy lại ôm chân Đức Cha, vừa khóc vừa van xin:
- Xin ông cho tôi đi theo ra
Nha Trang, vì tôi có ba đứa con, tôi đã đưa vào Sài-gòn hai cháu, còn một cháu
nữa tôi phải ra tìm nó!
Đức Cha gắt lên;
- Bà khùng hả, bom đạn trút xuống
như mưa, thoát được nơi đó là có phúc, bà lại còn muốn gieo mình cho tử thần?
Nhưng người đàn bà cứ níu lấy
áo Đức Cha van nài:
- Thưa ông, nếu tôi không đi
tìm con tôi, thì tôi không thể sống được!
Trông bà qúa mệt mỏi như muốn xỉu,
nhưng bà vẫn cứ bám chặt lấy Đức Cha, cuối cùng ngài cũng đành chấp nhận cho bà
lên trực thăng.
Mấy hôm sau, Đức Cha đi phát
bánh mì cho dân tị nạn, ai ai cũng tranh giành đến lấy bánh, trừ có một người
phụ nữ ngồi bất động ở góc chân tháp, tay đang ôm chặt một cái gói vào lòng. Đức
Cha tiến gần hỏi:
- Chị đã có bánh chưa?
Chị không trả lời, gương mặt thất
sắc, đôi mắt vô hồn cứ nhìn vào khoảng không, Đức Cha lại hỏi:
- Chắc chị lấy được nhiều bánh
lắm hả? Đưa tôi xem!
Nghe thế, chị lại càng ôm chặt
cái gói vào lòng hơn nữa, Đức Cha phải nhờ người dùng sức mạnh mới lấy được cái
gói xem là cái gì? Nhưng khi vừa mở ra, chị bỗng òa lên khóc, vì đó là xác đứa
bé đã chết mấy ngày rồi! Tình thương của người mẹ dành cho con như thế, làm sao
con có thể đáp đền!
Một lần kia, tôi ghé thăm một
gia đình, người cha làm nghề chạy xích lô, đến giờ cơm, vợ và con cứ tíu líu mời:
“Mời ba vào dùng cơm”, nhưng ông vẫn loay hoay sửa cái ghế, lúc sau ông nói: “Mẹ
và các con cứ ăn trước đi, ba đang dở tay, chút nữa sẽ ăn sau.” Thấy thế tôi
nói với ông: “Giờ cơm trong gia đình là lúc mọi người xum họp, thân thương nhất,
ông bỏ đó vào dùng với vợ con đi.” Ông nói nhỏ với tôi: “Thưa cha, hôm nay con
đạp xích lô trúng mánh, nên mua được mấy ký gạo ngon cho vợ con. Mọi ngày cơm
không được như thế, con muốn vợ và các con ăn trước, còn con ăn sau!” Nghe vậy
tôi rất đỗi ngạc nhiên và cảm phục tình người cha dành cho vợ con, chắc chắn những
đứa con không hiểu được tâm tình ấy, làm sao chúng đáp đền!
30. Muối men cho gia đình công giáo
Bà Cal-no-ri-mo-ra sinh ngày 21 tháng 11 năm 1774, tại Ro-ma, bà
thuộc gia đình giàu có, và được cha mẹ giáo dục Đức Tin rất chu đáo. Năm 22 tuổi,
bà lập gia đình với một luật sư, và đã có với chồng hai cô con gái. Vài năm sau
đó, bà phát hiện ra chồng ngoại tình, hay lấy trộm tiền của vợ đi nuôi bồ nhí!
Bà đã khuyên lơn nhiều lần, nhưng bù lại bà bị chồng đánh đập tàn nhẫn, và ông
càng thường xuyên đến ở với vợ bé hơn! Bà phải một mình làm việc cần cù nuôi
hai con gái. Năm 1801, bà mắc một căn bệnh hiểm nghèo lúc mới 27 tuổi, nhưng
Chúa đã cho bà được bình phục, sau đó bà gia nhập tu hội đời thuộc Dòng Chúa Ba
Ngôi. Nhà bà biến thành nơi cầu nguyện cho những người đau khổ. Hằng ngày bà đều
xin mọi người cầu nguyện cho chồng bà biết sám hối trở về đường ngay nẻo chính,
và bà cũng giúp đỡ nhiều người về đời sống vật chất cũng như tinh thần.
Ngày 05 tháng 02 năm 1825 Chúa đã cất bà ra khỏi thế gian, hưởng
dương 51 tuổi. Ông chồng lúc này mới thấy thương vợ thương con mãnh liệt, ông
sám hối và trở về phục tang vợ, nhiều người thấy ông, ai cũng chế nhạo: “Nước mắt
cá sấu!” Ông cam phận chịu đựng để một phần nào đền tội mình! Sau khi an táng vợ
xong, ông trù liệu tiền bạc cho hai con chính thức và các con ngoại hôn, rồi
ông đã xin gia nhập Dòng Chúa Ba Ngôi, và trở thành Linh mục sống rất gương mẫu.
Rõ ràng bà Calnorimora đã được kêu gọi nên thánh từ một người chồng
bất trung! Và chồng bà đã trở nên một Linh mục thánh thiện nhờ người vợ sống niềm
tin! Đó là của ăn nuôi linh hồn vợ chồng đã cho nhau, nhờ ơn thánh của Đức
Ki-tô Giê-su mà có.
31. Hy sinh cho con cái
Có câu nói "Một người mẹ
có thể chăm sóc cho 10 đứa con. Nhưng 10 đứa con không chăm sóc nổi một người mẹ.”
Chúng ta hãy suy nghĩ xem câu nói này đúng không.
Một con chim mẹ có một con chim
con. Chim mẹ thương yêu chim con vô cùng. Mùa đông đến, các loài chim phải rời
xứ lạnh để bay đến những xứ ấm áp hơn. Chim mẹ biết chim con còn yếu không bay
xa nổi nên cõng con trên lưng. Ban đầu chim mẹ còn khoẻ nên bay khá nhanh.
Nhung sau một đoạn đường dài, chim mẹ mệt và cảm thấy đứa con trên lưng mình
ngày càng nặng, nhưng vẫn cố bay.
Tuy nhiên một ngày kia chim mẹ
đuối sức nên đành phải đáp xuống nghỉ. Trong lúc nghỉ ngơi, chim mẹ hỏi chim
con: "Con ơi, hãy nói thật cho mẹ nghe nhé. Sau nay khi mẹ đã già, không
còn sức bay về phía nam ngang qua những đại dương bao la thì con có cõng mẹ
trên lưng như mẹ đang làm cho con bây giờ không?" Chim con trả lời:
"Con e rằng không mẹ ạ!” Chim mẹ ngạc nhiên hỏi tiếp: "Sao vậy?” Chim
con lại đáp: "Vì khi đó, con phải cõng con của con.”
Lời Chúa Tuần Bát Nhật Giáng Sinh
Thường niên V GS C PS Ngoại lịch
