Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Lời Chúa cntn 11c _ các bài suy niệm

Các bài suy niệm
CN 11 THƯỜNG NIÊN C

2Sm 12, 7-10.13; Gl 2, 16.19-21; Lc 7,36 – 8,3





1. Văn hóa và đức tin
Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta nhận thấy bữa tiệc đang diễn ra bình thường tại nhà ông Simon biệt phái, thì người phụ nữ bước tới. Cô ta có những cử chỉ kính trọng đặc biệt đối với Chúa Giêsu khiến cho ông Simon có vẻ thắc mắc. Để giải toả, Chúa Giêsu đã nói chuyện chân tình với ông. Qua những lời Chúa nói, chúng ta nhận thấy có một số tập tục về cách tiếp khách, chẳng hạn như chào hôn, đưa nước rửa tay và sử dụng dầu thơm. Ngoài những tập tục có tính cách văn hoá ấy, Chúa Giêsu còn nói tới một yếu tố sâu xa hơn, đó là tình cảm trong lòng chủ nhân đối với khách.
Theo cái nhìn của Chúa, thì Ngài duy trì những hình thức văn hoá bề ngoài và lại càng quý trọng lòng yêu mến bên trong. Như thế chúng ta thấy giá trị của một bữa tiệc đãi khách không phải chỉ hệ tại những món ăn mà còn tuỳ thuộc vào những cử chỉ và cách sắp xếp có văn hoá và nhất là tuỳ thuộc vào mức độ quý mến trong lòng người chủ đối với khách. Hương vị món ăn là quan trọng, nhưng hương vị cua cách tiếp đón cũng không được coi thường, và nhất là hương vị của tấm lòng lại càng quan trọng hơn.
Với những nhận định trên, tôi nghĩ tới việc tham dự Thánh lễ. Thánh lễ là một bữa tiệc và còn hơn thế nữa. Đa số chúng ta đã tham dự Thánh lễ một cách đúng đắn đáng khen. Với thái độ bên ngoài tề chỉnh và thái độ bên trong sốt sắng, chúng ta tỏ ra là những người vừa có văn hoá lại vừa có đức tin.
Tuy nhiên, tôi cũng đã thấy một số người ngoại đạo tham dự Thánh lễ một cách kính cẩn. Họ giữ thái độ tôn trọng nơi thờ tự, tôn trọng trật tự chung, tôn trọng những người chung quanh. Họ không có đức tin nhưng họ tỏ ra là những người có văn hoá. Với những đức tính văn hoá ấy, tuy dù không có đức tin, họ vẫn mang hương thơm của đạo làm người và dành được nhiều kính nể. Đang khi đó, có một số ít người công giáo vẫn thường tham dự Thánh lễ một cách bất xứng. Không những họ tỏ ra thiếu đức tin, mà còn tỏ ra thiếu cả văn hoá. Một khi coi thường những thiếu sót ấy trong Thánh lễ thì người ta lại càng dễ coi thường những thiếu sót ấy trong cuộc sống gia đình và xã hội.
Về văn hoá, tôi thường nghĩ tới những thói quen nhạy bén đối với các giá trị thông thường làm đạo con người, như lương thiện, lịch sự, tế nhị, chân thành, trật tự, sạch sẽ, tận tuỵ, biết đối thoại, biết kính trọng và hay giúp đỡ kẻ khác. Những đức tính ấy đã có sẵn mầm mống trong mỗi người. Thực vậy, có người tự nhiên dễ phát huy thành thói quen. Có người phải tập luyện lâu dài mới rèn được những tập quán ấy. Nhưng dù dễ hay khó, chúng ta phải cố gắng để đạt cho được. Đó không phải chỉ là một đòi hỏi của đạo làm người mà hơn thế nữa còn là đòi hỏi của đạo Chúa.
Bởi vì trước khi là Kitô hữu chúng ta phải là người. Rồi để đem Chúa đến cho người khác, chúng ta phải gây được những cảm tình và những ấn tượng tốt nơi họ.



Sự kiện mà đoạn Tin Mừng sáng nay vừa kể lại sẽ được ghi nhớ mãi mãi và chẳng bao giờ bị chìm vào quên lãng. Bởi vì nó là một đề tài cho những người đạo đức giả phản đối, nhưng lại là niềm vui mừng cho những tâm hồn tội lỗi.
Hôm đó một ông biệt phái mời Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà mình và Chúa Giêsu đã chấp nhận lời mời ấy. Đang khi dùng bữa, thì Madalena, một thiếu phụ tội lỗi, nổi tiếng ở trong thành. Nàng bước vào với một bình dầu thơm trên tay. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía nàng. Người ta chờ xem nàng sẽ làm những gì. Bất chấp những cái nhìn soi mói, nàng quỳ gối trước mặt Chúa Giêsu, khóc lóc cho quãng đời dĩ vãng. Rồi đổ thứ thuốc thơm xức chân Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau.
Trước sự việc bất ngờ ấy, chắc hẳn nhiều người đã thoáng có ý tưởng khinh bỉ và chỉ trích. Nhưng Phúc Âm chỉ chú trọng tới lập trường của ông biệt phái. Ông thầm nghĩ rằng: Nếu Chúa Giêsu là một vị tiên tri hẳn phải biết người đang quỳ dưới chân mình chỉ là một kẻ tội lỗi và sẽ không chấp nhận những biểu lộ như thế. Thế nhưng Chúa Giêsu đã thấu suốt những ý nghĩ thầm kín của ông ta. Ngài muốn cho ông ta hiểu được giá trị của những hành động ấy, cũng như tỏ cho ông ta thấy lòng thương xót vô bờ của Ngài. Ngài bắt đầu bàng câu chuyện về hai con nợ. Một mắc nợ nhiều và một mắc nợ ít, rốt cuộc cả hai đều được tha thứ, thì lý đương nhiên kẻ được tha thứ nhiều thì sẽ yêu mến ông chủ nhiều hơn. Từ đó Chúa Giêsu đã đi tới kết luận: Tôi nói cho ông hay: tội lỗi của nàng tuy nhiều nhưng đã được tha thứ hết bởi vì nàng đã yêu mến nhiều.
Từ câu chuyện trên, tôi muốn đi tới một nhận định như thế này: Làm cho kẻ chết sống lại là một phép lạ vĩ đại, cũng thế, làm cho kẻ tội lỗi ăn năn là một phép lạ vĩ đại không kém. Ngày nay Chúa vẫn còn tác động và lôi kéo biết bao nhiêu tâm hồn như Madalena thuở trước. Từ chỗ bùn nhơ tội lỗi đã trở nên những người con yêu dấu. Một khi đã hoán cải cuộc đời và mặc lấy một cuộc sống mới, họ sẽ dấn thân, không một chút nề hà để phục vụ cho Thiên Chúa.
Thế nhưng để phép lạ ấy được thực hiện nơi bản thân chúng ta thì điều kiện chúng ta cần phải có đó là khiêm nhường và yêu mến. Khiêm nhường nhận ra thân phận yếu đuối và tội lỗi của mình. Yêu mến để được tha thứ và được tẩy sạch mọi dấu vết của tội lỗi, cũng để có được nghị lực sống đời sống mới. Như Madalena, chúng ta hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, để nhờ đó giục lòng sám hối ăn năn, thú nhận tội lỗi hầu lãnh nhận ơn Chúa thứ tha.



3. Yêu nhiều để được tha nhiều – Lm. Anmai
Đã là người, mang thân phận mỏng dòn và yếu đuối thì sẽ không thoát khỏi tội. Chuyện phạm tội là chuyện của con người yếu đuối nhưng quan trọng hơn chuyện yếu đuối đó chính là con người sẽ làm gì sau khi phạm tội. Con người sẽ ở lỳ trong tội hay đứng dậy để bước ra khỏi tội và sẽ làm gì sau khi bước ra vòng vây của tội lỗi.
Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng Thánh, ngàn trùng Chí Thánh mới có quyền tha tội và con người có can đảm, có tin để chạy đến với Chúa để đón nhận ơn tha tội đó hay không mới là chuyện quan trọng. Chẳng biết có phải là ngẫu nhiên hay không nhưng các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay đã vẽ nên hình ảnh của một Thiên Chúa và là Thiên Chúa của tình yêu thật đẹp. Cũng vì yêu mà Thiên Chúa chấp nhận tất cả và tha thứ tất cả cho dù tội người ấy có đỏ thẫm tựa như son.
Một hình ảnh hết sức quen thuộc, một hình ảnh hết sức dễ thương và cũng hết sức gần gụi với những ai thường đọc Thánh Kinh, suy niệm Thánh Kinh đó chính là vua Thánh Đavít. Cuộc đời của Đavít ít nhiều gì ai ai cũng có thể biết rõ. Làm gì có thể gắn cho cái tên Đavít là Thánh nhưng cuối cùng Đavít lại được gọi bằng cái tên Vua Thánh thật dễ thương.
Lược lại cuộc đời của Đavít ta sẽ thấy. Chỉ với vài dòng vỏn vẹn trong sách Samuel quyển thứ hai mà chúng ta vừa nghe ấy chúng ta biết Đavít như thế nào. Đavít đã làm gì để ngôn sứ Nathan nói với vua Đavít: "Kẻ đó chính là ngài! Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel, phán thế này: Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Israel, chính Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Saun. Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa thượng ngươi, và đã đặt các người vợ của chúa thượng ngươi vào vòng tay ngươi. Ta đã cho ngươi nhà Israel và Giuđa. Nếu bấy nhiêu mà còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế nữa. Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Đức Chúa mà làm điều dữ trái mắt Người? Ngươi đã dùng gươm đâm Urigia, người Khết; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi; còn chính y, ngươi đã dùng gươm của con cái Ammon mà giết. Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của Urigia, người Khết, làm vợ ngươi. Bấy giờ vua Đa-vít nói với ông Nathan: "Tôi đắc tội với Đức Chúa." Ông Nathan nói với vua Đavít: "Về phía Đức Chúa, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết.
Chuyện ta biết rõ đó là vì lòng dục đã làm cho Đavít mù tối để rồi giết Urigia và chiếm đoạt vợ của Urigia. Sau khi làm cái tội tày đình ấy và được ngôn sứ Nathan nhắc nhở Đavít. Sau khi nghe lời nhắc của Nathan Đavít đã hoán cải, đã ăn chay và mặc áo nhậm để đền tội của mình. Đứng trước lòng khiêm hạ của Đavít, Thiên Chúa đã tha thứ tất cả những lầm lỗi của ông.
Cứ đọc và nghiền ngẫm lại các Thánh Vịnh trong Cựu Ước mà nhiều nhà chú giải cho là tác giả là của Vua Thánh Đavít chúng ta sẽ thấy tâm tình ăn năn thống hối của Đavít. Một trong những tâm tình sâu sắc của Đavít phải nói đến Thánh Vịnh 50:
Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.
Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài.
Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án,
liêm chính khi xét xử.
Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi,
đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.
Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật,
dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan.
Xin dùng cành hương thảo
rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền;
xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.
Xin cho con được nghe
tiếng reo mừng hoan hỷ,
để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.
Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi
và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm.
Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một
tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.
Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,
đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.
Lời tự tình xưa của Đavít phải chăng đó là lời tự tình của người phụ nữ "vốn là người tội lỗi trong thành" hôm nay trong Tin mừng theo Thánh Luca. Người phụ nữ này cũng phạm tội và đã bị người ta liệt vào hàng tội lỗi như Đavít xưa vậy. Dẫu bị người ta họi là tội lỗi nhưng chị đã không mặc cảm trước cái nhìn của công chúng, của mọi người để rồi chị tìm đủ mọi cách để đến với Chúa Giêsu. Cách diễn tả của chị hết sức dễ thương của chị đó là lấy bình bạch ngọc đựng dầu thơm và lấy nước mắt thống hối của chị rồi tưới lên chân Chúa và lau và lấy dầu thơm mà đổ lên.
Chúa Giêsu đã ghi nhận, Chúa Giêsu đã trân trọng tấm lòng của người phụ nữ tội lỗi và đã nói tâm tình của Ngài cho người chủ tiệc là ông Simon. Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít."
Vì sao người phụ nữ đã được Chúa tha thứ thì mọi người đã rõ: vì chị yêu mến nhiều! Vấn đề của chị không dừng lại ở lòng mến mà đi xa hơn một bước nữa đó là lòng tin. Lòng tin và lòng mến trong lòng chị đan quyện lại với nhau. Người mời tiệc cũng như những người được mời tiệc ngày hôm ấy thắc mắc "ông ấy lấy quyền gì để tha tội" thì chị, chị đã tin vào quyền năng của Chúa Giêsu. Chị đã tin, đã yêu, đã phó thác vào lòng bàn tay của Chúa Giêsu cuộc đời của chị. Chị đến với Chúa Giêsu để nhận được tình yêu của Chúa Giêsu, để nhận được ơn tha thứ từ Chúa Giêsu.
Vấn đề con người được nên công chính không phải là làm những gì luật dạy nhưng nhờ lòng tin như Thánh Phaolô vừa bộc bạch: "con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giêsu, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy. Quả thế, tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô vào thập giá". Thánh Phalô một con người đã cảm nghiệm như thế nào về tình yêu của Thiên Chúa Ngài mới dám khẳng định như vậy. Nhờ niềm tin mà vua Thánh Đavit, người phụ nữ "vốn là người tội lỗi trong thành" cũng như chính bản thân của Thánh Phaolô đã được thứ tha, được trở về với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót cũng như được nên công chính. Hơn nữa, sau khi cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho mình thì Phaolô đã thốt lên: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi".
Không chỉ Phaolô thôi mà là cả vua Đavít, người phụ nữ tội lỗi và tất cả những ai đã hơn một lần phạm tội và đã cảm nhận được tình thương tha thứ cũng sẽ quay trở lại để sống tròn đầy tình thương tha thứ của Chúa.
Chúa là đấng từ bi thương xót, không chấp nhất mà chỉ có xót thương luôn giang rộng cánh tay để đón những con người yếu đuối, những con người tội lỗi. Chuyện quan trọng là con người có thống hối, có quay về để hưởng tình thương tha thứ đó hay không mà thôi.
Phạm tội không quan trọng bằng có biết đứng dậy để quay lưng lại với tội và trở về với Thiên Chúa hay không.
Những ai yêu mến nhiều sẽ được tha nhiều. Thiên Chúa vẫn chờ đợi những người trót phạm nhưng yêu nhiều để sẵn lòng tha thứ nhiều.



4. Hãy cảm thông cho nhau.
(Suy niệm của Lm Giuse Tạ Duy Tuyền)
Nếu giả dụ như chúng ta là người đã từng có những lỗi lầm chúng ta sẽ cần điều gì nơi tha nhân? Có phải là định kiến không bao giờ thay đổi về ta? Có phải là sự xét đoán hà khắc? Có phải là xa lánh, thiếu cảm thông? Và nếu giả dụ như cha mẹ hay anh chị em của mình phạm phải sai lầm thì chúng ta sẽ hành động ra sao? Liệu chúng ta có muốn người khác ghi nhớ mãi lỗi lầm của họ, hay chúng ta muốn họ được phán xét một cách công bằng và cho họ một cơ hội được làm lại từ đầu? Nếu vậy, tại sao chúng ta lại không có cái nhìn yêu thương, cảm thông với những yếu đuối của tha nhân?
Nơi một xóm đạo có một anh thanh niên mới ra tù, những đứa trẻ trong xóm thường len lén nhìn anh với ánh mắt sợ hãi. Người lớn thường bảo nhau: Cẩn thận, ngày xưa nó chém người đấy! Trong tâm trí những đứa trẻ non nớt ấy thì người thanh niên ấy thực sự rất đáng sợ. Lớn lên, mọi người tưởng chừng như đã quên vết nhơ trong quá khứ nhưng chỉ cần trong xóm mất đồ hay bọn trẻ đánh nhau, tên anh ta lại được xướng lên với những tiếng chậc lưỡi đầy rẻ rúng: “Đấy đấy, lại học theo cái bọn trộm cắp, giết người!”
Thời gian, vạn vật luôn thay đổi. Con người cũng luôn luôn đổi thay. Có thể hôm nay họ lầm lỗi nhưng ngày mai họ đã sửa đổi. Có thể quá khứ của họ chẳng ra gì, nhưng hiện tại họ đang cống hiến cho cộng đồng. Thế nên, hãy để họ được sống và cố gắng sống thật tốt, đừng bao giờ tước đi cơ hội được làm một con người có ích với đời chỉ vì những định kiến và lời phê bình thiếu tình yêu của chúng ta.
Người xưa từng nói: “Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”. Hãy rộng lượng với tha nhân. Hãy nâng đỡ và cảm thông với những yếu đuối của họ. Tuy không đồng lòng với lỗi lầm của họ nhưng không đoạn tuyệt với họ, mà biết tạo cơ hội để họ canh tân cuộc đời.
Người phụ nữ tội lỗi trong Tin Mừng lòng tràn ngập niềm vui và bình an. Tội của chị rất nặng. Lỗi lầm của chị rất nhiều. Thế nhưng, Chúa đã không nhìn quá khứ của chị để kết án. Chúa nhìn hiện tại để cảm thông, để nâng đỡ, để cho chị cơ hội bày tỏ lòng ăn năn. Chị được đến gần Chúa. Chị được bày tỏ lòng tôn kính Chúa. Chị hôn chân Chúa và xức dầu thơm cho Chúa. Một cử chỉ biểu lộ lòng làm tôn kính Thầy Giêsu. Một cử chỉ của lòng biết ơn với Thầy Giêsu vì đã tạo cho chị cơ hội sửa đổi và canh tân.
Cuộc đời quanh ta cũng có biết bao phận người đang cô đơn thất vọng. Họ cô đơn vì cộng đoàn thiếu cảm thông. Họ thất vọng vì cộng đoàn không chỉ bỏ rơi mà còn kết án vì những lỗi lầm của quá khứ. Dẫu biết rằng, con người luôn có lầm lỗi. Con người luôn cần sự cảm thông tha thứ của tha nhân, nhưng chính con người lại thường hà khắc và kết án lẫn nhau. Chúng ta thường có cái nhìn quá khắc khe như những người biệt phái năm xưa. Họ chỉ thấy quá khứ tội lỗi. Họ thiếu cái nhìn yêu thương để có thể nâng đỡ và giúp người tội lổi chuộc lại lỗi lầm. Một thế giới thiếu tình yêu, thiếu cảm thông sẽ hoang tàn để thù hận lên ngôi.
Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết khiêm tốn nhìn nhận sự bất toàn của mình để sám hối ăn năn, và nhất là để cảm thông với những yếu đuối của anh em. Xin đừng vì tự cao tự đại mà thiếu khoan dung với tha nhân. Xin cho chúng ta biết học nơi Chúa luôn nhẫn nại yêu thương để nâng đỡ anh em. Amen.



Mađalêna là một thiếu phụ tội lỗi. Chắc hẳn nàng đã có một dĩ vãng bê bối, khiến cho mọi người, một khi biết tiếng, đều phải tránh xa, như tránh một cơn bệnh truyền nhiễm. Thế nhưng, kể từ ngày được nghe Chúa giảng dạy, nàng đã quyết tâm ăn năn sám hối và làm lại cuộc đời.
Hôm đó, được tin Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà ông Simon biệt phái, bất chấp mọi con mắt dòm ngó và mọi miệng lưỡi chê bai, nàng đã tới, đổ thuốc thơm xức chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà lau, để biểu lộ tấm lòng tan nát khiêm cung.
Rồi sau đó một thời gian, trong cuộc thương khó đang khi các môn đệ bỏ Chúa mà chạy trốn, thì nàng vẫn can đảm đứng dưới chân cây thập giá và lo toan việc chôn cất Ngài. Chính vì thế, nàng là người đầu tiên có diễm phúc được Chúa hiện ra sau khi sống lại và được Chúa sai đi loan báo tin mừng Phục sinh cho các môn đệ khác.
Từ hình ảnh và việc làm của Mađalêna, chúng ta đi vào cuộc sống riêng tư. Thực vậy, con người tự bản chất vốn đã là như một chiếc bình sành có thể rơi vỡ bất kỳ lúc nào. Và thực tế cho thấy nhiều người trong chúng ta cũng đã từng sa ngã, vấp phạm nặng nề, chẳng hạn như Mađalêna, như Phêrô, như Augustinô…Thế nhưng, điều quan trọng đó là chúng ta phải biết tin tưởng vào lòng Chúa xót thương, để ăn năn sám hối, cải thiện đời sống và quay trở về với Ngài. Hẳn chúng ta còn nhớ lời Chúa đã phán:
- Không phải người khoẻ mạnh, mà là những kẻ yếu đuối mới cần tới thầy thuốc…Ta đến không phải để tìm kiếm người công chính, nhưng đến để tìm kiếm kẻ tội lỗi…Một kẻ tội lỗi sám hối ăn năn sẽ làm cho cả thiên đàng vui mừng hơn là 99 người công chính không cần ăn năn sám hối.
Cũng như ngày hôm nay, Ngài đã xác quyết với ông Simon biệt phái:
- Tội của nàng tuy nhiều, nhưng đã được tha thứ hết, bởi vì nàng đã yêu mến nhiều.
Với chúng ta cũng thế. Việc thứ nhất chúng ta cần phải làm ngay, đó là hãy dứt khoát với tội lỗi.
Như chúng ta đã biết: Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và tốt lành vô cùng, còn tội lỗi thì xấu xa gớm ghiếc. Vì thế, Thiên Chúa và tội lỗi không thể nào đội trời chung với nhau, không thể nào cùng nhau sánh bước đi chung một con đường. Do đó, chúng ta cũng không được phép có thế đứng trung lập, hay có thái độ lửng lơ con cá vàng, nhung phải dứt khoát chọn Chúa hay chọn tội lỗi, thuộc hẳn về Chúa hay thuộc hẳn về tội lỗi, như một câu danh ngôn:
- Sống là bơi ngược dòng nước, nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị dòng nước uốn trôi.
Vì thế, muốn trở về cùng Chúa, thì lý đương nhiên chúng ta phải dứt khoát với tội lỗi. Sự dứt khoát này chính là bước chân đầu tiên trên nẻo đường tìm về với Chúa.
Tiếp đến, việc thứ hai chúng ta cần phải làm ngay, đó là hãy yêu mến Chúa.
Đúng thế, mến Chúa như Mađalêna, đã bất chấp mọi sự dòm ngó và soi mói. Mến Chúa như Phaolô, đã dấn thân một cách trọn vẹn cho những hoạt động tông đồ, truyền bá Phúc âm, để chứng tỏ cho mọi người thấy: Dù thiên đàng hay hoả ngục, dù sự sống hay sự chết, dù hiện tại hay tương lai, dù bất cứ tạo vật nào cũng không thể tách biệt ngài ra khỏi lòng mến Đức Kitô.
Mức độ được tha thứ lệ thuộc trực tiếp vào lòng yêu mến của chúng ta. Càng yêu mến nhiều, thì càng được tha thứ nhiều. Hay như lời thánh Augustinô đã nói:
- Ama et fac quod vis, nghĩa là hãy yêu mến rồi mốn làm chi cũng được.
Bởi vì mọi hành động xuất phát từ lòng yêu mến chân thành, đều có được một giá trị thiêng liêng to lớn trước mặt Thiên Chúa.



6. Tha tội - Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Truyện kể: Người cha rất đau khổ vì đứa con trai theo bạn bè ăn chơi phung phá hết tiền của. Cùng đường rơi vào túng quẫn, chàng ta viết thư thống thiết xin lỗi cha và ngỏ ý xin cha thương tha thứ. Người cha gởi cho cậu bức điện tín, chỉ có một chữ 'Về' và ký tên 'Cha'.
Biết nhận lỗi và xin lỗi là khởi đầu cho hành trình trở về. Rất nhiều khi chúng ta phạm lỗi và sống trong lầm lạc nhưng không nhận ra lỗi mình. Cho đến một ngày, chợt nhận ra mình đã đi quá xa vào con đường lầm. Chúng ta cần lắng nghe những lời nhắc nhở, chỉ bảo và hướng dẫn của bề trên hay người khác để giúp giác ngộ. Vua Đavít xưa sống sung sướng nơi cung điện ngọc ngà châu báu. Thiên Chúa đã ban cho vua đầy đủ mọi sự. Từ là chú chăn chiên trở thành thủ lãnh của dân Do-thái. Vua có gia tài kết xù là một xứ sở giầu có và con dân đông đúc, nhưng sự ham mê sắc dục dẫn ông đi vào đường lầm lạc tội lỗi. Ông dùng quyền để chiếm đoạt vợ của người. Lương tâm ông không cảm thấy cắn rứt về sự bất công, cho tới khi tiên tri Nathan nhắc nhở: Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Thiên Chúa mà làm điều dữ trái mắt Người? Ngươi đã dùng gươm đâm Uria, người Hêthê; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi; còn chính y, ngươi đã dùng gươm của con cái Ammon mà giết (2 Sam 12, 9).
Vua chợt nhận ra tội lỗi của mình và ngay lập tức vua ăn năn hối cải và xin ơn tha thứ. Với lòng thống hối khiêm cung, vua đã được Thiên Chúa tha tội chết: Bấy giờ vua Đavít nói với ông Nathan: "Tôi đã đắc tội với Thiên Chúa." Ông Nathan nói với vua Đavít: "Về phía Thiên Chúa, Người bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết (2 Sam 12, 13). Càng làm lớn cám dỗ càng nhiều: Cám dỗ về quyền bính, tiền tài và sắc dục. Chúng ta biết sự đòi hỏi ước muốn tham thân si của bản năng con người luôn khấy động. Cho nên chúng ta đều phải phấn đấu mỗi ngày để nên hoàn thiện hơn. Bất cứ ai giữ địa vị nào trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, đòi hỏi người lãnh đạo hay thủ lãnh phải biết tự kiềm chế và tránh làm gương mù, gương xấu. Cây cao gió cả. Ma quỉ cám dỗ không chừa một ai. Chúa Giêsu đã dậy chúng ta qua Kinh Lạy Cha: Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ.
Truyện kể: Satan phàn nàn với Thiên Chúa rằng Chúa không công bằng. Nhiều tội nhân làm điều sai trái và Chúa lại đón nhận họ. Thật ra, có người trở lại sáu bảy lần và Chúa vẫn ban ơn tha thứ. Tôi chỉ phạm một lỗi lớn mà Chúa kết án tôi đời đời. Chúa nói: Đã bao giờ ngươi ăn năn xin tha thứ chưa?
Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu tha tội và bệnh vực người phụ nữ tội lỗi biết ăn năn hối cải. Dưới con mắt của những người Pharisêu, người phụ nữ này bị liệt vào hàng tội lỗi xấu xa và đáng phải tránh xa: Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu qủa thật ông này là ngôn sứ, thỉ hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi (Lc 7, 39). Chúa đã tỏ lòng ưu ái với cô. Chúa không kết án. Chúa nhìn thấu tỏ tận đáy tâm hồn của cô. Người phụ nữ đã dám công khai đến bên Chúa để xức dầu. Cô đã được tỉnh thức trong tâm trí và hành động. Mặc những lời dèm pha, chê bai, khinh miệt, cô đã dám quay về. Quay về với lòng mình. Nhận ra Chúa và trở về bên Chúa. Tình yêu đã thắng vượt. Cô ta đã chọn Chúa làm phần gia nghiệp. Nhiều người xung quanh còn sửng sốt và tò mò vì họ chưa nhận ra Chúa Kitô là ai. Ngài chính là ConThiên Chúa, Đấng Cứu Độ trần gian.
Chúa biết tình yêu của cô dành cho Chúa thật nhiều. Tình yêu vượt trên lẽ thường tình, cô đã lấy dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa và lấy tóc mình mà lau. Cô đã giác ngộ và tỉnh thức cuộc đời: Vì thế, tôi nói cho ông hay: "Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai, được tha ít, thì yêu mến ít"(Lc 7, 47). Bằng những giọt nước mắt ăn năn sám hối, tội lỗi của cô đã được xóa sạch. Chính Con Thiên Chúa đã tha tội cho cô. Lời Chúa có sức biến đổi và chữa lành con người cả tâm hồn lẫn thể xác. Một người tội lỗi nay trở thành môn đệ của Chúa: Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi."(Lc 7, 48). Nhẹ tênh! Người phụ nữ đã trút bỏ được gánh nặng cuộc đời. Chúng ta biết người đời thường khinh chê và kết án người tội lỗi. Đôi khi phạm nhân bị bế tắc đóng khung trong cuộc sống mặc cảm. Họ không có lối thoát.
Chúa Giêsu đã mở cửa ngõ dẫn đưa những người lầm lạc trở về. Chúa đến để kêu gọi và cứu độ người tội lỗi chứ không phải người công chính. Chúa Giêsu nói: Người khỏe mạnh không cần thấy thuốc, người đau yếu mới cần. Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mc 2, 17). Mỗi lần chúng ta đọc lời kinh: Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Chúng ta có thực sự thú nhận hay chỉ đọc ruổi theo. Chúng ta có dám đứng trước nhóm hay cộng đoàn để xưng thú là mình đã phạm lỗi hay không? Đâu dễ. Khi phải xưng thú, chúng ta sẽ đổ quanh, lỗi tại tôi nhưng lôi thôi tại bà. Có rất nhiều khi đi xưng tội nhưng chúng ta nại cớ: Tại vì.., bởi vì... và đổ lỗi cho người khác chứ không phải lỗi của mình.
Khi chúng ta đã quá quen sống trong lầm lạc và chìm sâu trong vũng lầy tội lỗi, chúng ta không còn cảm nghiệm sự sai trái. Lương tâm của chúng ta không còn nhạy bén để phán đoán. Những lỗi chúng ta phạm thường ngày về vấn đề luân lý, khi soi mình qua 10 điều răn, nhất là về sự ăn gian, làm chứng dối, lừa đảo, bất công, liên hệ tình dục ngoài hôn nhân, ngoại tình và sống chung bất hợp pháp. Khai gian nói dối trong vấn đề thông tin và bá cáo. Chúng ta an vui tự tại vì mọi sự đã trở thành quá bình thường. Chúng ta không muốn xét mình kỹ lưỡng vì sợ lương tâm bị áy náy. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc nhở rằng chúng ta không thể là Kitô hữu nửa vời, bán thời gian hay chỉ là Kitô hữu trong một vài khoảnh khắc hay hoàn cảnh nào đó. Kitô hữu là Kitô hữu suốt đời. Mọi suy tư, lời nói, hành động đều phản ảnh tinh thần Kitô hữu.
Thánh Phaolô dậy: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân, trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi (Gal 2, 20). Chúng ta được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta là Kitô hữu. Có Chúa hiện diện trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta không thể sống như những người dân ngoại, họ không nhìn biết Thiên Chúa. Chúng ta là môn đệ của Chúa. Môn đệ cần dõi theo lối bước của Thầy. Sống chứng nhân ngay thật giữa lòng đời. Đừng sợ bị thua thiệt vì sống lẽ công chính. Biết rằng nếu chúng ta được lời lãi cả thế gian mà mất phần phúc thiên đàng, thì nào có ích chi chứ!
Cuộc đời của mỗi người chúng ta đã lãnh nhận vô vàn ân sủng của Chúa như vua Đavít xưa. Chúa đã ban cho chúng ta có sự sống, được sinh ra làm con người, làm con Chúa, con của Giáo Hội và sống hạnh phúc an vui. Chúng ta được thừa hưởng một gia tài kếch xù của niềm tin và niềm hy vọng vào sự sống đời đời mà Chúa đã dành sẵn cho chúng ta. Chúng ta cần làm cho ân sủng sinh xôi nẩy nở trong tâm hồn. Giá máu châu báu của Chúa Kitô là nguồn mạch ban sự sống dồi dào. Phaolô đã chia sẻ: Tôi không làm cho ân sủng của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do lề luật, thì hóa ra Đức Kitô đã chết vô ích (Gal 2, 21).
Lạy Chúa, đã bao phen chúng con đã ngoảnh mặt làm ngơ và chối từ ơn Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con. Xin thương tha thứ những lỗi lầm chúng con đã xúc phạm đến trái tim Chúa.



7. Yêu nhiều tha nhiều – Thiên Phúc
(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)
Thánh Phanxicô Salêsiô giám mục có người giúp việc bê tha rượu chè. Một đêm kia, anh ta say mèm. Mọi người trong nhà đã ngủ hết, chỉ còn một mình thánh nhân thức khuya đọc sách. Chính người đã dìu anh về giường và lấy mền đắp cho anh, rồi sáng hôm sau mới nói cho anh biết lỗi.
Thánh nhân nói: “Giả sử lúc anh đang say, sẩy chân ngã xuống giếng thì sao? Hoặc lỡ bị gió độc mà chết thì sẽ thế nào? Linh hồn ở đâu bây giờ?”. Nghe vậy, anh ta hối hận, xin tha thứ và trước mặt người, anh xin cam đoan sẽ không còn uống một giọt rượu nào nữa. Nhưng người bảo anh: “Đừng chừa vội quá như thế!”.
Từ đó, anh ta xin nhận thánh nhân làm cha giải tội riêng cho mình và dần dần, đã biết chừa hẳn tội cũ, sống rất đạo hạnh tử tế.
“Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (Lc 7,47). Người phụ nữ tội lỗi trong bài Tin Mừng hôm nay không khác chi người giúp việc nát rượu của thánh Phanxicô trong câu chuyện trên đây. Họ đều là những người yếu đuối lầm lỡ trong tội, nhưng đã được Đức Giêsu cũng như thánh Phanxicô bao dung tha thứ, nên họ đã mau mắn đáp lại tình yêu, để rồi cuộc đời của họ bắt đầu từ nay được đổi mới.
Medaleine Danielou đã viết: “Tha thứ thật sự là hành động thần linh mà chúng ta chỉ học được từ nơi Thiên Chúa”. Vâng, có thể nói: “Lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa”(A. Pope). Nhưng người ta chỉ có thể lãnh nhận ơn tha thứ khi đã có lòng tin: tin nơi Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta, tin rằng Người sẵn sàng tha thứ và sẽ còn tha thứ mãi. Chúa phán: “Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy đi bình an” (Lc 7,50). Chính lòng tin đã đem lại ơn tha thứ, và ơn tha thứ đã làm đổi mới tội nhân, để họ mãi bước đi trong bình an.
Tuy nhiên, tình yêu và lòng tin của chúng ta cần phải được biểu lộ cách cụ thể qua lòng sám hối, vì sám hối tức là nhận mình có lầm lỗi, và chỉ có những ai nhận mình lầm lỗi mới được Thiên Chúa thứ tha. Vì thế mà Thomas Carlyle đã nói một câu bất hủ: “Không nhận ra lầm lỗi là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm”. Quả thật, nếu ai cho mình không có tội thì đâu cần Thiên Chúa thứ tha. Nhưng Thánh Gioan lại nói rằng: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8)
Lạy Chúa, sa ngã trong tội là bản chất của con người, nhưng ở lại trong tội lại là quỷ sứ.
Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra lỗi lầm của mình, và mau mắn chân thành sám hối, để được Chúa tha thứ và ban cho ơn bình an. Amen.



8. Tình yêu cứu độ – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Bữa tiệc hôm nay diễn ra trong một khung cảnh đầy mâu thuẫn. Một bên là căn nhà sang trọng của thủ lĩnh biệt phái, một bên là Chúa Giêsu ăn mặc đơn sơ trong bộ quần áo của dân nghèo. Một bên là ông Simon người được coi là đạo cao đức trọng, một bên là người phụ nữ bị coi là đại tội nhân. Một bên là mâm cao cỗ đầy, mọi người vui tươi ăn uống, một bên là người phụ nữ quì mọp sát đất, không dám ngẩng mặt lên, gục đầu khóc lóc. Chính trong khung cảnh đầy mâu thuẫn, trái ngược ấy, Chúa Giêsu bày tỏ tình yêu thương bao la của Người.
Đó là tình yêu bao dung chấp nhận mọi người. Chúa chấp nhận ông Simon dù Chúa không ưa lối sống của ông và của những người biệt phái, vì họ tự tôn cho rằng mình đạo đức mà khinh miệt những người khác. Hơn nữa, lối sống đạo của họ chỉ là hình thức giả dối bề ngoài. Thế nhưng Chúa vẫn chấp nhận ông, chấp nhận lời mời của ông, đến dự tiệc với ông, ngồi đồng bàn với ông, chia sẻ món ăn và câu chuyện với ông. Không chỉ chấp nhận ông Simon, Chúa còn chấp nhận người phụ nữ bị coi là tội lỗi công khai. Chị vào nhà trong ánh mắt khinh thị của mọi người. Nhưng Chúa vẫn điềm nhiên để chị khóc ướt chân mình. Chúa đã để chị hôn chân mình. Chúa đã để chị lấy tóc lau chân mình. Chúa đã để chị xức dầu tràn đầy trên chân mình. Còn hơn thế nữa, Chúa lên tiếng công khai bênh vực chị. Nếu Chúa công khai bày tỏ thịnh tình với ông Simon khi đến nhà ông dự tiệc thì Chúa cũng công khai bày tỏ thịnh tình với người phụ nữ khi lên tiếng bênh vực chị. Chúa chấp nhận tất cả mọi người.
Đó là tình yêu bao dung tha thứ mọi tội lỗi. Thái độ của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ tội lỗi là thái độ bao dung tha thứ. Chúa để cho chị vào nhà. Hơn thế nữa, Chúa để cho chị gục đầu vào chân Chúa, khóc ướt chân Chúa, lấy tóc lau chân Chúa và xức dầu thơm lên chân Chúa. Chị làm điều ấy ở nơi kín đáo còn đỡ gây chống đối, đằng này chị làm điều ấy công khai trước mắt mọi người, mà lại là những người ghen ghét, chống đối và kết án chị. Ánh mắt và thái độ của những người chung quanh, đặc biệt là của ông Simon không lọt ngoài tầm mắt Chúa. Nhưng Chúa vẫn để chị làm những gì biểu lộ lòng thống hối, lòng yêu mến của Chị. Sau đó Chúa còn công khai lên tiếng ca ngợi tình yêu và niềm tin của Chị và công khai tha thứ cho chị.
Đó là tình yêu bao dung hoán cải. Chúa không ưa thói hợm hĩnh, giả hình của người biệt phái. Nhưng Chúa vẫn tìm cách hoán cải họ. Vì thế hôm nay Chúa nhận lời đến nhà ông Simon dự tiệc. Thấy thái độ của ông đối với người phụ nữ và những ý nghĩ thầm kín của ông phê phán Chúa, Chúa không để ông trong lầm lạc, nhưng đã lên tiếng giải thích cho ông hiểu những điều then chốt trong đời sống đạo và những gì có giá trị thực sự trước mặt Chúa. Chúa phải tốn công giải thích cặn kẽ vì Chúa yêu thương ông, muốn ông hiểu và hoán cải tâm hồn.
Đó là tình yêu ban ơn cứu độ. Tất cả những gì Chúa làm là mong đem ơn cứu độ cho loài người, cho tất cả mọi người không loại trừ một ai. Chúa muốn cứu độ cả ông Simon là người tưởng lầm mình đạo đức nhưng chỉ là đạo đức bên ngoài. Chúa muốn cứu độ cả người phụ nữ bị mang tiếng tội lỗi, bị mọi người khinh miệt, loại trừ. Tình yêu của Chúa không phải là thứ cảm tính nhất thời, đem đến an ủi nhất thời. Đó là tình yêu đem đến ơn cứu độ, đem đến hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu cho con người.
Lạy Chúa, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Lạy Chúa, xin cứu độ con. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1-   Bạn có thường xét đoán và khinh miệt, loại trừ người khác như ông Simon biệt phái không?
2- Bạn có thái độ khiêm nhường thống hối, tha thiết yêu mến như người phụ nữ tội lỗi không?
3- Chúa Giêsu nêu gương gì cho bạn trong cách đối xử với mọi người, người tội lỗi cũng như người tự xưng mình công chính?
4- Khi yêu thương người khác, bạn có dẫn người khác đến ơn cứu độ không?



9. Liều mình vì yêu
Thỉnh thoảng chúng ta nghe biết đây đó có những cặp tình nhân tự nguyện uyên sinh với nhau hay bỏ nhà ra đi mà không lời từ biệt gia đình. Một trong những lý do dẫn đến chuyện đó thường là một trong hai bên gia đình ngăn cản. Với những trường hợp ấy, dư luận hay cho rằng họ liều quá. Đúng vậy khi người ta yêu nhau, lắm lúc khiến cho người ta liều mình. Có nhiều lúc Sự liều mình làm cho người khác khâm phục nhưng đôi khi cũng làm cho người khác lên án.
Người phụ nữ tội lỗi trong đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay cũng đã quá liều lĩnh. Theo luật Môsê người tội lỗi công khai không được phép tiếp xúc với người công chính. Ở đây Chúa Giêsu là bậc thầy trong dân lại đang dự tiệc trong nhà của một người Pharisêu. Dầu vậy người phụ nữ này lại dám xông vào để gặp cho được Chúa Giêsu.
Gặp được Chúa Giêsu chị đã quỳ gối xuống chân Người mà khóc nức nỡ và lấy tóc mình mà lau. Đây cũng là chi tiết cho thấy chị quá liều vì theo tục lệ của người Do thái xõa tóc mình trước người khác là tự làm nhục mình và là một hành động không thể chấp nhận được. Chưa ngừng ở đó, người phụ nữ này lại còn tiếp tục đổ cả bình dầu thơm xuống chân Chúa Giêsu. Bình dầu thơm này trị giá khoảng 300 ngày công lao động của một người bình thường.
Với những chi tiết này, chúng ta thấy người phụ nữ này thật liều lĩnh. Mà động cơ làm cho chị dám làm điều đó là vì yêu mến Chúa Giêsu. Chắc chắn chị đã ý thức được tình trạng tội lỗi của mình. Từ việc cảm nhận tình trạng tội lỗi ấy chị mới cảm nhận được tình thương của Thiên Chúa dành cho mình. Những cử chỉ liều lĩnh ấy chứng tỏ cho thấy chị muốn đền đáp lại phần nào tình thương của Thiên Chúa dành cho mình. Tình yêu chỉ có thể đáp đền bằng tình yêu mà thôi. Cho nên, Chúa Giêsu đã nói với ông Simon chủ nhà: "Tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều" (Lc 7, 47).
Chúng ta đang sống trong tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Tâm Chúa là nguồn sống là nguồn tình yêu cho đời sống người tín hữu. Thánh Tâm Chúa đã phải tan nát, đã phải đổ máu ra vì tội lỗi chúng ta. Do đó, tình thương này sẽ sẵn sàng tha thứ tất cả tội lỗi của chúng ta. Với điều kiện là chúng ta có tin và dám liều mình như người phụ nữ tội lỗi này vì muốn đền đáp tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Sự liều mình để đền đáp tình yêu sẽ làm cho nhiều người khâm phục.



10. Hãy sám hối ăn năn – Lm Jos Tạ Duy Tuyền
(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)
Trong tiểu thuyết "Giường đàn bà" đã kể lại những cuộc tình bị đồng tiền làm hoen ố. Tình yêu chỉ là một món hàng mà người có tiền hay không có tiền đều dùng nó để mua bán trao đổi. Câu chuyện xoay quanh các nhân vật: Mạch - một phóng viên trẻ, đang học đại học, là nhân tình của một tổng biên tập giàu có và đa tình - người trả tiền nhà và đóng học phí cho cô.
Sau khi tan vỡ mong ước được làm mẹ do người tình một mực đòi cô phá thai, cuộc sống tinh thần của Mạch bị đảo lộn. Cô quyết định trả thù người tình bằng cách cặp với Bob - một nhà văn nghèo đang tìm kiếm vốn tài trợ cho bộ phim mà anh chuyển thể kịch bản từ tiểu thuyết của mình.
Tình yêu khó khăn giữa Mạch và Bob vừa nhen nhóm đã bị những giá trị vật chất trong cuộc sống lấn lướt và dập tắt. Bob phải ngủ với bà Thẩm Xán - một chủ doanh nghiệp giàu sang để hòng moi tiền đầu tư làm phim. Mạch bị sự giàu sang và phong trần của giám đốc đẹp trai Trần Tả - chồng của Thẩm Xán - quyến rũ. Bob chấp nhận cầm tiền của Trần Tả để bỏ rơi Mạch. Mạch bị Thẩm Xán đánh ghen tới trụy thai...
Tiểu thuyết hé lộ một phần sự thật về cuộc sống tàn nhẫn ở các thành phố lớn, hiện đại - nơi giá trị vật chất chiến thắng giá trị đạo đức và con người không vượt qua nổi chính mình. Đồng tiền trôi nổi cũng kéo theo phận người nổi trôi đầy sóng gió nghi nan. Con người lao vào vòng xoáy của vật chất đến vong thân chính mình. Con người đã quên mất mục đích sống của mình nên cũng đánh mất phẩm giá làm người của mình.
Nhân loại hôm nay dường như người ta chỉ cần tiền và bằng mọi cách kiếm ra tiền. Vì tiền mà người ta bỏ ra ngoài tất cả những giá trị đạo đức, tình yêu, lòng chung thuỷ...; Cuộc sống nếu đề cao đồng tiền lên trên mọi thứ luân lý, đạo đức thì đó là một xã hội suy đồi, nơi đó con người khó mà có những giây phút hạnh phúc đích thực, mà chỉ là những hạnh phúc giả tạo, mong manh dễ tan vỡ mà thôi.
Điều đáng tiếc cho xã hội hội hôm nay là người ta mất ý thức về tội. Người ta đề cao tự do đến nỗi luôn làm theo ý mình mà gạt bỏ lề lật của Chúa hay những luân thường đạo lý. Người ta luôn dùng mục đích để biện minh cho phương tiện, cho dù đó là phương tiện xấu xa, đê tiện. Có biết bao cô gái trẻ bán thân vì lý do để lấy tiền trang trải cho gia đình, hay cho việc học bản thân. Có biết bao người ngoại tình vì để đền ơn cho kẻ giúp đỡ thi ân. Có biết bao người phá thai vì đông con, vì nghèo đói...; Có phải vì nghèo đói để rồi mình có thể làm tất cả mọi chuyện cho dù đó là những chuyện phi nhân thất đức hay không? Có phải vì tiền mà mình có thể loại bỏ luân thường đạo lý hay không? Cuộc sống nếu không còn những giá trị đạo đức sẽ là một bể khổ đối với con người. Vì con người luôn phải đối đầu với biết bao con người xấu, với biết bao tệ nạn xấu. Xã hội loài người sẽ hỗn loạn nếu con người đặt vật chất lên trên mọi giá trị tinh thần. Nếu con người đề cao vật chất thì người ta sẽ dễ dàng chà đạp lên nhau chỉ vì một chút vật chất tầm thường mau qua.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có một tấm lòng sám hối chân thành như Đa-vít, hay như người phụ nữ tội lỗi đã khóc dưới chân Chúa và lấy tóc mà lau chân Chúa. Họ đều là những con người có quá khứ tội lỗi. Họ đều mang thân phận yếu đuối của con người. Họ đã phạm tội nhưng họ đã biết trỗi dậy. Cuộc đời họ đã ngụp lặn trong biết bao đam mê lầm lạc nhưng lương tâm luôn làm họ cắn rứt. Họ đã từng chọn những phù phiếm trần gian hơn là những giá trị đạo đức. Thế nhưng, họ không có bình an tâm hồn khi sống xa luật Chúa để lao vào những chuyện phi nhân thất đức. Họ đã trở về với lòng sám hối chân thành. Đa-vít đã mặc áo nhặm để sám hối ăn năn. Người phụ nữ đã quyết tâm đập bể bình ngọc như phá bỏ những hào nhoáng, phù phiếm mau qua. Họ đã nhận ra giá trị đích thực của con người là biết làm chủ chính mình, biết giữ được phẩm giá làm người của mình. Một con người có lý trí để biết đâu là thiện là ác, có ý chi để hướng dẫn hành vi mình đi theo lẽ phải. Giá trị của con người là biết làm chủ bản thân để sống đúng với phẩm giá làm người, với luân thường đạo lý. Nếu con người không còn khả năng làm chủ bản thân để đi theo lề luật thì con người đâu hơn loài vật. Nếu con người sống chỉ biết tranh giành nhau danh lợi thú trần gian thì con người đang tự đầy đoạ mình trong khổ ải trần gian.
Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết chọn Chúa hơn là những vinh hoa phú quý trần gian. Ước gì mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng nói sự thật như Đa-vít để thật lòng ăn năn trở về với Chúa. Nguyện xin Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót xin giúp sức để chúng ta can đảm sám hối và canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn. Amen.



Chúa nói với người phụ nữ: "Tội của chị rất nhiều nhưng đã được tha, bằng cớ là chị yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít...." ( c. 47)
Tôi muốn kể lại câu chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Lc 8, 1-11). Từ sáng sớm các kinh sư đã dẫn chị ta đến bên Chúa để tố cáo chị, đồng thời để bắt bẻ Chúa Giêsu. Theo luật Môisen, đàn bà như thế sẽ bị ném đá. Họ thử Chúa: nếu Chúa tha, họ sẽ tố cáo Chúa không giữ luật Môisen; nếu Chúa dạy ném đá chị ta, họ tố cáo Chúa ác, và làm ngược lại những gì bao lâu nay Chúa dạy... Họ không ngờ câu trả lời của Chúa: "ai nghĩ mình vô tội, hãy cầm viên đá đầu tiên ném chị ta."Nghe thế, họ bỏ ra về, lần lượt từ những người lớn nhất...Cuối cùng không còn ai lên án chị này cả. Câu chuyện này cho chúng ta bài học: Không phải Chúa cho rằng chị này vô tội, nhưng như lời Chúa nói:...không ai lên án chị sao? Phần Ta cũng vậy, Ta không lên án đâu. Hãy về đi và đừng phạm tội nữa.... Câu chuyện hôm nay cũng gần một chủ đề như thế....
a. Câu chuyện Tin mừng hôm nay muốn dạy cho chúng ta hai bài học:
Các kinh sư và biệt phái, họ luôn tự hào, nghĩ mình là người công chính, người trung thành nhất với Lề Luật, (hể trung thành với Lề Luật, thì đồng nghĩa trung thành với Thiên Chúa). Họ tự hào là công chính, nhưng lại thiếu yêu thương tha thứ, một thứ công chính khắt khe, thiếu tình người. Họ nghĩ mình tốt hơn người đàn bà này, thực tế họ tệ hơn nhiều. Người công chính là tốt, nhưng họ sẽ không giúp ích gì cho chúng ta, nếu chúng ta phạm tội. Vì thế một em bé đã cầu xin Chúa như sau: Lạy Chúa, xin làm cho tất cả mọi người trên thế gian này nên tốt, nhưng cũng làm cho mọi người tốt trở nên hiền lành dễ thương, không dữ dằn! Có khi nào ta suy nghỉ câu phê bình: bà đó tôt lắm, nhưng dữ quá!
Người biệt phái đã coi thường Chúa. Họ cho người đàn bà tội lỗi này là hạng ghê gớm, có thể truyền nhiễm sự không trong sạch của mình cho Chúa Giêsu. Phần Chúa, Chúa không nói rằng bà này không phải là người tội lỗi, nhưng Chúa ám chỉ rằng cả những người biệt phái cũng là những người tội lỗi; mà nếu họ là người tội lỗi, thì người tội lỗi còn xấu xa hơn cả người phụ nữ nữa.
b. Người biệt phái tự hào là người công chính, nhưng họ quên mất sự công chính đòi buộc phải có yêu thương đi kèm; nếu không có tình yêu, sẽ không thể nào gọi là công chính được. Giữ lề luật Thiên Chúa hoàn hảo chưa hẳn là yêu mến Chúa. Chúa cho thấy giá trị cao cả nhất của cuộc sống chính là tình yêu. Giữ lề luật hoàn hảo? Chưa đủ. Một ngôi nhà đẹp đến đâu mà vắng tình người, chỉ giống như căn nhà hoang; một xã hội phải triển cở nào mà thiếu tình người, thì chẳng khác gì sa mạc. Chúa Giêsu đã không phủ nhận luật pháp, nhưng Người đem lại cho Luật pháp cái hồn sống, đó là tình thương.
Rất nhiều khi ta giữ luật tử tế để mọi người khen ngợi ta là đạo đức, hoặc để che đậy những thói hư tật xấu khác mà ta không muốn người khác biết. Giử luật tử tế để mình được lợi lộc ở trần gian, tất cả những mánh khóe giữ lề luật này, các kinh sư và biệt phái đã thi hành cả rồi. Phải nói, họ là bâc thầy về việc giữ luật hình thức như thế.....
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
Là người kitô hữu sống trên trần gian, bao lâu còn sống, ta vẫn thấy mình còn là tội nhân, vẫn vấp phải lỗi lầm, ta có đủ khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa và mọi người để không tự phụ vì mình công chính hơn kẻ khác, như người biệt phái trong bài Tin Mừng hôm nay không? Khi thấy anh em mình lầm lỗi, ta có biết cầu nguyện cho họ không? Ta có biết khiêm tốn nhận rằng dù họ lỗi lầm, nhưng ta phải quảng đại tha thứ như Chúa không?



12. Tội lỗi và Ơn thánh.
(Suy niệm của Lm. Anphong Trần Đức Phương)
Chúa Nhật hôm nay nói đến tình thương xót bao la của Thiên Chúa đối với những tội nhân biết nhìn nhận tội lỗi mình và thành thật ăn năn sám hối. Bài Đọc I (2 Samuel 12:7-10,13): Vua David đã được Chúa chọn và xức dầu để làm Vua Israel, nhưng ông đã phạm tội thật nặng nề; tuy nhiên ông đã thật lòng ăn năn tội lỗi và Thiên Chúa đã tha tội cho ông. Bài Đọc II (Galat 2:16, 19-21): Chúng ta được công chính hoá là nhờ lòng tin vào Chúa Kitô, Đấng đã chịu chết để đền tội lỗi chúng ta; theo gương Thánh Phaolô “chúng ta hãy sống trong lòng tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã yêu thương chúng ta và hy sinh chính mình cho chúng ta.” Bài Phúc Âm (Luca 7:36- 8:3): Người đàn bà tội lỗi đã đến với Chúa Giêsu và khóc lóc ăn năn sám hối tội lỗi và vì thế “tội của bà thật nhiều, nhưng đã được thứ tha.”
Chính vì để cứu chuộc tội lỗi chúng ta, mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã “Xuống Thế Làm Người” và chịu khổ nạn chịu chết trên Thánh Giá. Chúa Giêsu đến là để tìm kiếm những người tội lỗi, như Chúa đã nói với người Do Thái: “Ta đến không phải để tìm người công chính nhưng tìm người tội lỗi biết sám hối ăn năn.” (Luca 5:32). Trong Phúc âm còn ghi nhiều Dụ Ngôn Chúa Giêsu đã kể để nói lên tình thương xót của Thiên Chúa đối với các tội nhân khi họ thật lòng nhìn nhận tội lỗi của mình và ăn năn sám hối, như dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (Luca 15:11-32), dụ ngôn “Con Chiên Lạc” (Luca 15:4-7), dụ ngôn “Đồng Bạc Bị Đánh Mất” (Luca 15:8-10).
Xét ra thì tội của Vua Đavít thật là nặng nề, xấu xa (Xin xem 2 Samuel chương 11); nhưng khi Tiên Tri Nathan được Thiên Chúa sai đến để nói cho Nhà Vua biết, Vua đã không tự ái, nỗi giận với tiên tri, nhưng đã khiêm nhường nhận tội của mình và xin Chúa tha thứ. Đó là lòng sám hối ăn năn. Người đàn bà trong Bài Phúc Âm hôm nay cũng thật sự là kẻ tội lỗi xấu xa mà cả thành phố điều biết; nhưng do lòng sám hối, khóc lóc tội lỗi của mình, nên Chúa đã sẵn sàng tha thứ cho bà. Người “trộm lành” cũng bị treo trên thập tự giá ở bên Chúa, đã nhìn nhận tội mình và cho mình bị khổ hình là xứng đáng với tội mình và xin Chúa cứu vớt, Chúa Giêsu đã nói với anh “Ngay hôm nay con được ở trên Thiên Đàng với Ta.” (Luca 23:39-43)
Khiêm nhường ăn năn sám hối tội lỗi là điều kiện để được Chúa Thứ Tha: Để dọn đường cho Chúa, Thánh Gioan đã ‘ban phép Rửa Thống Hối để được ơn tha tội” tại dòng sông Giodan (Matcô 1:4-5). Bắt đầu công cuộc rao giãng “Tin Mừng của Thiên Chúa” Chúa Giêsu đã nói “Nước Thiên Chúa đã đến gần, ANH EM HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG.” (Matcô 1: 14-15). Lời này được lập đi lập lại khi chủ tế xức tro trên đầu chúng ta trong ngày Thứ Tư Lễ Tro mở đầu mùa Chay Thánh.
Trong đêm Vọng Phục Sinh, phần Công Bố Tin Mừng Phục Sinh, chúng ta được nghe hát thật long trọng những lời rất cảm động sau đây: “Ôi lòng Chúa thương chúng ta thật lạ lùng. Ôi lòng Chúa Thương Xót không thể đo lường được. Để cứu chuộc người tôi tớ, Chúa đã nộp chính con mình. Ôi tội Adong thật cần thiết, tội đã được tẩy xóa nhờ sự chết của Chúa Kitô. Ôi “TỘI HỒNG PHÚC”, vì đã đem lại Đấng Cứu Chuộc thật cao cả.”
Tội Lỗi và Ơn Thánh! Tội Lỗi đã đem lại Ơn Thánh! Tin ở lòng thương xót của Chúa đối với tội nhân, chúng ta hãy năng đến với Chúa qua Bí Tích Hòa Giải (Giải Tội) để được ơn thứ tha các lỗi lầm và được ban thêm Ơn Thánh Hóa. Bí Tích Hòa Giải thật là một kỳ công của Lòng Thương Xót Chúa. Nhờ Bí Tích Hòa Giải mà bao nhiêu tội nhân đã được thứ tha và trở về đường ngay nẻo chính. Đọc tiểu sử các vị thánh, chúng ta thấy nhiều vị đã trải qua cuộc đời thật tội lỗi xấu xa, nhưng nhờ biết sám hối lỗi lầm và lĩnh nhận Bí Tích Hòa Giải nên đã được Ơn Thánh giúp để thật lòng từ bỏ tội lỗi và từ bỏ mọi sự để hiến dâng cuộc đời phụng sự Chúa và nhân loại, đan cử như trường hợp Charles de Foucauld (1858-1916), Thomas Merton (1915-1968). “Vị thánh nào cũng có một qúa khứ, và tội nhân nào cũng có một tương lai!”
Trong Thánh Lễ hôm nay chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn biết tin vào lòng thương xót của Chúa và ăn năn sám hối lỗi lầm trở về với Chúa; xin cho chúng ta luôn biết khiêm nhường, thắng tính tự ái, để biết lắng nghe những lời chân thành cảnh tỉnh chúng ta mà sửa đổi lỗi lầm (như trường hợp Vua Đavít dù là ông Vua uy quyền, nhưng khi nghe Tiên Tri Nathan cảnh tỉnh, Vua đã nhận tội mình ngay và sám hối ăn năn); xin Chúa cũng cho chúng ta biết noi gương lòng nhân từ của Chúa để biết quãng đại tha thứ các lỗi lầm người khác gây cho chúng ta (xin xem Mátthêu 18:21-22); xin cho chúng ta không xét đoán ai, nhưng luôn có lòng yêu thương giúp đở những người trót sa ngã phạm tội được lòng ăn năn sám hối và sửa đổi đời sống; đặc biệt nếu đó lại là người chồng hay người vợ, hay những người con thân yêu của chúng ta.



13. Chuyện con vịt – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Mùa hè, mẹ gửi Andrew về quê chơi với bà ngoại. Được cậu Billy cho một cái giàn thun, Andrew khoái lắm. Nhưng nhớ lời cậu dặn, nó chỉ dám tập bắn ở trong rừng cây phía sau nhà. Andrew lang thang suốt buổi sáng ở trong rừng, nhưng nó chẳng bắn được chút gì cả. Buồn rầu, Andrew thất thểu về nhà ăn trưa. Vào tới sân, thấy bầy vịt của bà ngoại đang rượt nhau kêu quàn quạc trong sân. Andrew cúi xuống nhặt một hòn sỏi và bắn đại một phát. Chẳng may, viên sỏi trúng ngay giữa đầu một con vịt, nó lăn đùng ra giữa sân, giãy đành đạch mấy cái rồi nằm ngay đơ.Andrew hoảng hốt nhìn quanh, không có ai cả. Nó vội nhặt con vịt và nhét vào trong đống củi. Yên trí với bí mật của mình, Andrew ngồi vào bàn ăn trưa, mà không biết rằng đã có ít nhất một cặp mắt nhìn thấy chuyện xảy ra với con vịt.
Sau bữa ăn trưa, bà ngoại vừa cất đồ ăn dư vào chạn vừa dặn Sally, chị họ của Andrew, con gái chú Billy: Bữa nay tới lượt con rửa chén đó. - Nhưng Andrew nó hứa làm thay con rồi. Sally vội đáp và nhìn Andrew bằng ánh mắt khiến nó đang đỏ mặt toan cự cãi bỗng đâm ra chột dạ.
Thật không Andrew? - Bà ngoại hỏi, không quay đầu lại. - Con à? Andrew vừa mở mồm thì Sally hích một cái đau điếng vào sườn nó và khẽ thì thầm qua kẽ răng:- Con vịt. Nhớ không?- Con nhận lời chị ấy rồi. Andrew đáp bằng giọng hậm hực.
Ngủ trưa dậy, ông ngoại rủ Andrew và Sally đi câu, nhưng bà ngoại bảo:- Sally, cháu ở nhà giúp bà nấu nồi xúp cho bữa tối. - Nhưng Andrew thích ở nhà nấu xúp hơn là đi câu đấy chứ! Bà hỏi nó xem có đúng như vậy không? Sally trả lời bằng giọng mát mẻ. Andrew toan cãi thì Sally tằng hắng mấy tiếng. Nó đành nghẹn ngào trả lời:- Cháu sẽ ở nhà giúp bà.
Cứ thế, suốt ngày hôm đó, Andrew luôn bị Sally dằn vặt bởi chuyện con vịt.Tối đến, mệt mỏi, Andrew nằm lăn trên chiếc đi-văng trong phòng khách và ngủ thiếp đi.
Lúc nó thức dậy, ai đó đã tắt đèn và phủ trên người nó một tấm chăn. Andrew nằm im, đầu nó nhớ lại chuyện trong ngày. Nhiều lúc nó muốn nói thật với bà ngoại về chuyện con vịt, nhưng nó lại sợ bà ngoại sẽ mách mẹ nó, rồi thì sang năm mẹ nó sẽ không cho nó về chơi với ông bà nữa thì sao? Còn Sally thì quá quắt quá, không biết bao giờ nó mới thoát khỏi bàn tay quái ác của Sally? Biết làm sao đây? Nó chỉ muốn chết quách cho rồi. Andrew thổn thức.
Chợt một bàn tay to mềm của bà ngoại đặt lên vai nó, giọng êm ái của bà ngoại thì thầm:- Nói đi con. Có điều gì con cứ nói ra cho nhẹ nhõm trong lòng.- Con vịt... Cháu... Con vịt... Andrew lắp bắp.
Bà ngoại im lặng. Hít một hơi dài, Andrew nói một mạch:- Cháu lỡ tay bắn chết một con vịt rồi bà ạ!
- À, ra chuyện con vịt. Lúc đầu thấy thái độ của cháu với Sally bà hơi ngạc nhiên, nhưng bà đã hiểu cả khi lùa bầy vịt vào chuồng và thấy thiếu một con. Nhưng bà muốn chờ cháu tự nói ra. Câu chuyện ngày hôm nay là một bài học cho cháu đó: Che giấu tội lỗi của mình, cháu sẽ không bao giờ có được sự thanh thản và cháu sẽ trở thành nô lệ cho cái xấu. (x.canhdongtruyengiao.net).
Không ai làm một điều xấu mà có được sự thanh thản tâm hồn, trừ khi đó là hạng người vô lương tâm. Có những người sau khi đã làm những điều sai phạm, không biết sửa sai, cố chấp, né tránh sự thật, tìm đủ lý do để tự biện hộ cho mình, kéo bè kết cánh để làm chuyển hướng dư luận. Bảo vệ lỗi lầm này bằng một lỗi lầm khác, tìm cách xóa bỏ tội ác này bằng một tội ác khác, dần dần buông xuôi đời mình vào vòng tăm tối không còn lối thoát, trở nên nô lệ sự xấu, nô lệ tội lỗi.
Bài đọc 1 kể chuyện vua Đavít phạm tội cướp vợ rồi giết chồng và che dấu tội lỗi của mình.
Sau khi ngoại tình với Batseva, vua Đavít muốn dấu kín tội lỗi nên lại phạm thêm một tội khác, đó là giết chết tướng Uria chồng của Batseva. Phạm tội mà không nhận tội, lại còn muốn che giấu nó, Đavit lún sâu hơn, phạm thêm những tội khác nữa. "Nhưng hành động của vua Đavít không đẹp lòng Thiên Chúa". Thế nên, ngôn sứ Nathan can gián vua về điều ô nhục vua đã làm, điều ô nhục càng lớn hơn nữa vì Thiên Chúa đã ban cho vua biết bao ân huệ của Ngài. Trước hết, ngôn sứ Nathan đã kể cho vua dụ ngôn về một người giàu với đàn gia súc đông đúc, nhưng lại bắt một con chiên duy nhất của một người nghèo mà làm tiệc đãi khách. Đavít bừng bừng nỗi giận vì cách hành xử của người giàu này và đưa ra phán quyết "Nó đáng chết". Thấy tội người khác dễ hơn thấy tội của mình. Lúc đó, Nathan đã đáp lại: "Kẻ đó chính là bệ hạ" và kể ra biết bao ân huệ mà Thiên Chúa đã ban cho vua: "Chính Ta đã xức dầu tấn phong ngươi làm vua cai trị Israel, Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Saun. Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa thượng ngươi, và đã đặt các người vợ của chúa thượng ngươi vào vòng tay ngươi. Ta đã ban cho ngươi nhà Israel và Giuđa. Nếu bấy nhiêu mà còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế nữa. Vậy tại sao lại khinh dể lời Đức Chúa mà điều dữ trái mắt Người?". Ngôn sứ Nathan nhắc cho vua Đavít hai tội của vua: tội ngoại tình và tội sát nhân, và tiên báo cho vua một loạt hình phạt: "Gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi". Vua Đavít khiêm tốn nhận ra tội của mình: "Tôi đã đắc tội với Chúa". Chân thành sám hối và sửa lỗi đã làm cho vua Đavít từ một người tội lỗi trở nên một vị thánh. Từ đó về sau, nhà vua luôn ý thức về ơn sám hối và luôn đáp trả lòng thương xót của Thiên Chúa. Vua Đavit được xem là tác giả Thánh vịnh. Vua Đavit được Chúa thứ tha nên tình yêu của ông thể hiện bàng bạc trong các Thánh Vịnh, đặc biệt là Thánh Vịnh 50.
"Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.
Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài...".
Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: "Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều".
Cả 4 Phúc Âm đều kể chuyện về một người phụ nữ đem dầu thơm xức chân Chúa Giêsu. Phúc Âm Matthêu và Maccô không nêu tên, Phúc Âm Gioan kể là Maria em Matta, còn Phúc âm Luca kể là một người tội lỗi.
Chúa Giêsu được mời ăn tiệc nhà Simon biệt phái. Ăn tiệc lớn ở xứ Palestina thời đó người ta nằm trên những chiếc ghế dài, có gối, tay trái dùng để tựa còn tay phải thò ra ngoài. Khi nhà có đại tiệc, người ngoài tự do ra vào. Bất ngờ có một phụ nữ tội lỗi mạnh dạn bước vào phòng tiệc. Chị đem theo bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Rồi chị khóc và cởi khăn choàng đầu để xoã tóc, "lấy tóc lau chân Chúa rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên".
Đến với Chúa Giêsu, người phụ nữ mang theo ba tặng vật: niềm tin, mái tóc và bình dầu quý. Người phụ nữ "vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisiêu". Chị biết vì đã nghe danh tiếng Chúa Giêsu nên chị đã đặt trọn niềm tin nên đến xin ơn tha thứ để hoán cải. Chị mua bình bạch ngọc và dầu thơm quý. Chắc hẳn tiền mua bình bạch ngọc đến từ những đêm nhục nhằn câm nín, từ nước mắt dàn dụa trên những đồng bạc bất hạnh nằm rơi vải trên giường.Chị gom số tiền đã chắt chiu từ những tháng ngày cùng cực, xuống phố, mua một bình ngọc quý và dầu thơm hảo hạng. Rồi từ từ, đổ hết để quyết tâm giã từ quá khứ lầm lỗi và mong muốn làm lại cuộc đời. Người con gái có mái tóc dài quý giá, một thửa mây bay quyến rũ, bây giờ xõa xuống lau chân, ngoan ngoãn theo lời xin sám hối.
Chúa Giêsu hoàn toàn bình tĩnh, không hề lúng túng. Người chấp nhận những đụng chạm có nguy cơ gây ô uế cho mình. Người phụ nữ đứng đó mà khóc. Nước mắt của chị chắc hẳn là những dòng nước mắt ăn năn, nước mắt dâng trào niềm cậy trông. Chúa Giêsu cũng chẳng quan tâm gì đến phản ứng của những người chung quanh. Trước mặt Người, chị là một hối nhân đến xin ơn tha thứ và xin chữa lành. Người đến thế gian để thực thi sứ vụ cứu chữa: "Ta không đến để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5, 32). Đối với Chúa Giêsu: "Một kẻ tội lỗi sám hối ăn năn sẽ làm cho cả thiên đàng vui mừng hơn là chín mươi chín người công chính không cần ăn năn sám hối" (Lc 15,7).
Chủ nhà thầm nghi ngờ thanh danh của Chúa Giêsu. Đọc được tư tưởng thầm kín của ông nên Người kể cho ông dụ ngôn về hai con nợ, một người nợ năm trăm quan tiền và một người nợ năm chục; nhưng cả hai đều không có tiền trả, vì thế, chủ nợ thương tình tha cho cả hai. Chúa Giêsu kết thúc dụ ngôn bằng cách hỏi ông Pharisiêu: "Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?". Ông mau mắn trả lời: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn". Chúa Giêsu nói với ông: "Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều". Rồi Người nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi...Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy đi bình an". Rõ ràng, lòng tin đem lại ơn tha thứ. Ơn tha thứ làm đổi mới tội nhân, nhờ đó họ bước đi trong bình an.
Tình yêu và lòng tin cần phải được biểu lộ cách cụ thể qua hành vi sám hối. Nhận mình lầm lỗi để được thanh tẩy thứ tha. Chỉ có những ai nhận mình lầm lỗi mới được Thiên Chúa thứ tha. Thomas Carlyle nói một câu bất hủ: "Không nhận ra lầm lỗi là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm". Nếu ai cho mình không có tội thì đâu cần Thiên Chúa thứ tha. Thánh Gioan cũng viết rằng: "Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta" (1Ga 1,8)
Mọi sự dối trá đều nhằm che đậy lầm lỗi. Không ai có thể bình an khi mang trong lòng tội lỗi. Hành động che dấu tội lỗi có thể lừa gạt người đời, nhưng không thể lừa gạt lương tâm mình, càng không thể lừa gạt Thiên Chúa được. Tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay, ai cũng thấy đầy rẫy gian trá, lừa đảo, độc ác, vô nhân. Những việc làm mờ ám trong bóng tối, như gian tham, lừa dối, tội ác... luôn cắn rứt lương tâm con người. Làm sao người ta có thể thanh thản tâm hồn khi đắm chìm trong lỗi lầm được?
Người Kitô hữu đến với bí tích Hòa Giải để tự mình nói ra mọi tội lỗi với Thiên Chúa tình yêu. Xưng tội là tỏ lòng ăn năn sám hối, quyết tâm sửa đổi và canh tân đời sống. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng. Đó là mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ toà giải tội bước ra.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết khiêm tốn nhận ra những lỗi lầm thiếu sót, chân thành sám hối, mau mắn đến với bí tích Hòa Giải để được Chúa tha thứ và ban bình an. Amen.



14. Sự thất bại lớn của Simon – André Sève
(Trích dẫn từ ‘Tin Mừng Chúa Nhật’)
Nói chung, chúng ta quan tâm đến người phụ nữ tội lỗi làm cho xúc động hơn là quan tâm đến Simon, người biệt phái. Nhưng có thể chúng ta là những Simon.
Simon đã mời ông thầy trẻ này đến nhà để kiểm tra: có phải ông Giêsu đây thực sự là tiên tri hay chăng? Ông hết sức lầm lẫn bởi vì ông nghĩ Chúa Giêsu sẽ phản ứng như ông, như tất cả những người tốt ngay khi họ nhìn thấy người phụ nữ này vào: phải đuổi chị ta ra! Bởi vì cái người gọi là tiên tri này tiếp đón chị và để cho chị đến gần chẳng phải là tiên tri gì cả. Ông ta không có khả năng thấy rõ chị là ai.
Không bao lâu sau ông Simon đáng thương này chỉ nghĩ rằng Chúa Giêsu biết rõ Ngài phải đụng độ với ai nhưng vẫn tiếp đón người phụ nữ bị khinh miệt. Đối với ông, người biệt phái, công việc đã được sắp xếp rồi. Đáng lẽ ra, ông đã có cuộc gặp gỡ lớn trong cuộc đời thế mà ông tránh qua một bên.
Tại sao có sự thất bại này? Bởi vì ông tin rằng mình công bằng. Ở trong sự công bằng này, ông đã tạo ra một Thiên Chúa công bằng, một Thiên Chúa là Đấng lên án, Đấng phải lên án những kẻ tội lỗi. Một gái điếm là một gái điếm. Ông không thể nghĩ rằng Thiên Chúa nhìn chúng ta không phải với một sự công bằng kiểu biệt phái, mà là với một sự công bằng rất yêu thương. Ông sắp sửa khám phá ra sự công bằng này trong khi nhìn Chúa Giêsu, nhưng ông nhìn tồi bởi vì tấm lòng của ông chai đá. Phải có một tấm lòng yêu thương để nhận biết Chúa Giêsu và chấp nhận vị Thiên Chúa mà Ngài vừa mặc khải: “Ai yêu thương thì nhận biết Thiên Chúa” (1Ga 4,7). Đó là cơ may của cô gái điếm, chị sẵn sàng yêu thương, chị sắp thành công trong cuộc gặp gỡ.
Do đó, để gặp Chúa Giêsu, có cần phải là một đại tội nhân hoặc cố ý không thấy tội lỗi? Chắc chắn là không. Nhưng phải có một tấm lòng cởi mở, không khô khan và đóng kín như Simon.
Người phụ nữ tội lỗi có tấm lòng này và Chúa Giêsu có thể biến đổi chị hoàn toàn nhờ sự tha thứ. Chị cảm thấy rằng Chúa Giêsu có quyền tha thứ bởi vì chính chị sẵn sàng để được tha thứ và sẵn sàng yêu thương ngàn lần hơn vì đã được tha thứ như thế.
Có quyền tha thứ! Toàn bộ trần thuật này hướng lên sự kinh ngạc cuối cùng: “Ông này là ai mà tha được tội?”, những khách mời tự hỏi, Simon hẳn cũng tự hỏi điều đó, ông còn có cơ may, nhưng trần thuật này ngưng lại ở đó và để cho chúng ta nghĩ rằng người biệt phái này trăm phần khép kín với bao điều bất ngờ. Cuối cùng ông đành tiếp đón một tiên tri rất xứng hợp, chứ không phải con người hay làm hoang mang và đòi hỏi quá đáng này.
Dầu sao thì Simon cũng thông minh. Chúa Giêsu nói với ông không phải không có tính cách châm biếm: “Ông đoán đúng!” Nhưng nghĩ rằng mình không có tội, ông không chờ đợi Đấng Cứu Thế, chúng ta là Simon khi chúng ta mất đi cảm tưởng mình là người tội lỗi. Không còn nhìn thấy đủ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế của chúng ta, cuộc gặp gỡ của chúng ta với Ngài có nguy cơ ở hời hợt trên bề mặt cuộc sống của chúng ta và trên bề mặt của sự tha thứ của Ngài. Một sự thất bại.



15. Tình yêu tăng giá trị con người - Achille Degeest
(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
Những nhà nghiên cứu Kinh Thánh nhận diện người đàn bà tội lỗi nói đến trong đoạn Phúc Âm hôm nay là Maria người xứ Magđala, hoặc Maria người xứ Bêtania, hay một phụ nữ nào đó tên tuổi không thấy ghi lại. Ở đây chi tiết đó không đáng kể. Bài tường thuật đúng là một trang tuyệt bút, đáng cho người ta không dám phụ thêm chú giải. Chúng ta hãy theo mấy gợi ý của bản văn để suy niệm:
1) Đức Giêsu đặt con người -như người đàn bà tội lỗi hay Simon người biệt phái chẳng hạn- vào vị trí đối diện với Thiên Chúa chứ không đối diện xã hội. Simon người biệt phái thuộc giới trưởng giả Do thái. Giới này có lý để coi trọng sự tuân thủ lề luật, nhưng họ bị cám dỗ trở nên cực đoan, khai trừ những kẻ nào (kể cả đàn bà) không theo những nghi thức, không giữ những cấm kỵ, tóm lại không sống như họ. Giới ấy có lý khi đề cao giới luật, nhưng vô lý khi trục xuất kẻ vô tội. Đức Giêsu can thiệp, đặt kẻ “công chính” chung với kẻ tội lỗi cùng một “chỗ đứng trước mặt Thiên Chúa”. Lúc đó viễn ảnh hiện ra rất rõ. Kẻ công chính phải dung hoà sự tuân giữ giới luật với lòng thương yêu tha nhân, bởi lẽ giới luật được Thiên Chúa ban hành vì thương yêu nhân loại –kẻ có tội có lý để tin vào tình yêu đại lượng tha thứ, nhưng tình yêu ấy nhắc nhở phải tuân giữ giới luật. Tưởng tượng rằng người phụ nữ tội lỗi được tha thứ vô điều kiện, không bị cảnh cáo phải trở lại trật tự, một trật tự của tình yêu đem bình an cho tâm hồn- nghĩ như vậy là theo chủ nghĩa lãng mạn xấu. Đức Giêsu tha tội, nghĩa là cho người ấy đi vào sự bình an của một đời sống được thanh tẩy, được sắp đặt lại. Bình an ở đây không phải là thứ yên ổn bé nhỏ của một trật tự xã hội nào đó, dù cho là của giới trưởng giả, bình an là hệ quả một sự tổ chức lại nếp sống trước mặt Thiên Chúa. Trước mặt Thiên Chúa, con người phô bày rõ chân tướng tốt xấu, không thêm bớt.
2) Đức Giêsu nhắc nhở rằng giới luật chỉ có giá trị nếu người ta coi là lệnh truyền phải tuân theo, là biểu hiệu sống động của một Ý Muốn yêu thương. Giới luật Thiên Chúa là gì? Thiên Chúa muốn cho chúng ta thành đạt, chính Người chỉ vẽ cho chúng ta phương pháp thành đạt. Giới luật Thiên Chúa biểu hiện cho tình yêu của Người. Không hề tỏ uy quyền với con cái là không thương yêu chúng. Thiên Chúa thương yêu chúng ta, cho nên Người tỏ uy quyền lẫn tình thương, vừa ân vừa uy, chúng ta gọi những lời răn bảo vì thương yêu của Thiên Chúa là giới luật. Giới luật tôn trọng quyền tự do của chúng ta, lại vừa giúp chúng ta phát huy bản thể, dẫn chúng ta đi vào con đường hạnh phúc. Nếu chúng ta quên mất khối lượng tình yêu sống động hàm chứa trong giới luật, giới luật sẽ trở nên vô nghĩa lý.
3) Đức Giêsu vượt lên trên danh hiệu ‘cách mạng’ hoặc ‘bảo thủ’, Chúa làm cho con người lại có được giá trị. Một số người có xu hướng muốn kéo những điều gì vượt khỏi họ xuống tầm cỡ thấp kém của họ. Họ muốn thu hẹp sứ mạng Đức Giêsu vào phạm vi xã hội học, muốn xem Chúa như một người làm cách mạng hoặc một người bảo thủ. Thật ra, Chúa đặt quan hệ nhân bản giữa Chúa và người đàn bà tội lỗi hoặc người biệt phái Simon, Chúa đưa họ lên ngang tầm quan hệ thần thánh giữa người và Thiên Chúa. Xử sự lịch thiệp khi nhận lời mời của người biệt phái tỏ lòng từ bi đại lượng khi nhận bình dầu thơm của người đàn bà ăn năn sám hối, tại sao vậy? Chúa làm thế để mặc khải cho hai người ấy bằng những lời nói khác nhau rằng, bên trên cuộc đời họ có một tình thương. Tình yêu thương của Thiên Chúa trên mỗi con người làm tăng giá trị bản thể người ấy, biến đổi thành một con người được thánh hoá phải được tôn trọng.



16. Chị đã yêu mến nhiều
(Suy niệm của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)
Đoạn tin mừng 7:36-8:3 nằm trong chương 7 có chủ đề tổng quát là Thiên Chúa đến viếng thăm và cứu độ (x. 7:39); đồng thời nói đến căn tính của các sứ giả: Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu (7:1-50). Chúa Giêsu là Đấng có quyền trên sự sống và sự chết (7:1-10); là Thiên Chúa viếng thăm dân Người (7:11-17); là Đấng phải đến (7:18-23); Gioan, người đi trước làm chứng cho Người (7:24-28); Gioan, Chúa Giêsu và thế hệ nầy (7:29-35); Chúa Giêsu và người phụ nữ (7:36-50). Bố cục của đoạn có thể phân chia như sau: - Nhập đề. Hành động người phụ nữ và phản ứng của Simon (7:36-39); - Dụ ngôn hai người mắc nợ (7:40-43); - Giáo huấn cho Simon (7:44-47); - Tha tội cho người phụ nữ. Kết luận (4:48-50).
Hành động người phụ nữ và (7:36-38)
Chỉ Luca kể lại những lần Chúa Giêsu được mời dùng cơm tại nhà người Pharisêô (x. 11:37; 14:1). Với những trình thuật như vậy, Luca cho thấy chỗ đứng của Chúa Giêsu, như một vị thầy, giữa xã hội. Trong câu mở đầu, Luca ghi nhận người phụ nữ nầy là “người tội lỗi trong thành”. Bà mang theo dầu thơm và đứng sau chân Chúa Giêsu (c. 37). Không có chi tiết nào về việc bà vào nhà. Khi xuất hiện, đã thấy bà đứng ngay sau chân Chúa Giêsu rồi (c. 38). Luca tập trung cái nhìn vào những hành vi trên “cái chân” (7:38 [3]. 44.45.46), chủ đề “yêu thương” (7:42.47[2x]) và “tha thứ” (7:42.43; 47[2x].48.49). Ông muốn liên kết chúng với nhau và lấy chúng làm yếu tố nòng cốt câu chuyện. Ông không nói gì đến giá cả của dầu thơm (x. Mt 26:9; Mc 14:5; Gio 12:5), và ý nghĩa tượng trưng việc xức xác của Người sau nầy. Tư thế của Chúa Giêsu là nằm nghiêng đầu về phía bàn tiệc và duỗi thẳng chân về phía ngược lại. Luca mô tả cách cẩn thận những hành động của bà; chúng sẽ được nhắc lại để so sánh với những gì ông Simon đã không làm cho Người (cc. 44-46). Để làm những việc nầy bà phải cúi xuống hoặc quỳ xuống bên chân Chúa Giêsu; tương tự cử chỉ hoặc của những người đến xin chữa bệnh (5:18; 8:47), hoặc của một tội nhân (x. 5:8). Bà khóc nhiều đến nỗi (động từ ở thì phân từ hiện tại chỉ hành động đang diễn tiến trong một thời hạn, và đồng thời với động từ chính) nước mắt bà bắt đầu đổ xuống như mưa, brechò, (x. 17:29) trên chân Chúa Giêsu; bà rửa chân cho khách đến dự tiệc bằng nước mắt của bà. “Khóc” là hành vi của khổ đau (6:21), hoặc do mất mát một điều gì (8:52), hoặc do tội lỗi (19:41); do đó, khóc cũng là hành vi sám hối (x. 22:62; 23:38). Tóc trên đầu, mà Thiên Chúa lưu tâm cách riêng và quý trọng cách đặc biệt (x. 12:7;21:18), bà dùng thay cho khăn lau chân. Chỉ do lòng kính trọng và yêu mến bà mới làm như thế. Bà hôn chân Chúa và xức dầu liên tục lên đó; hai động từ ở thì quá khứ chưa hoàn thành diễn tả sự lập lại. Hôn là cũng cử chỉ quý mến và thương yêu (15:20; Cv 20:37), và xức dầu thơm cũng thế (x. Mc 16:1).
Phản ứng của người Pharisêô (c. 39)
Người Pharisêô phản đối Chúa Giêsu đã để cho bà ấy “đụng đến” Người. Động từ “đụng đến” nầy mang rất nhiều ý nghĩa ở đây. Chúa Giêsu đưa tay đụng đến bệnh nhân để chữa lành họ (5:13; 7:14; 18:15; 22:51); dân chúng muốn đụng đến Người, ít là áo Người, để được lành bệnh (6:19; 8:47). Người Pharisêô nghĩ theo cách của ông. Trong câu điều kiện: “Nếu ông ấy là một ngôn sứ…” (c. 39b), ông nghĩ là Người phải có khoảng cách với người tội lỗi và không để một phụ nữ tội lỗi tiếng tăm như bà đụng vào. Đến gần, hoặc để người tội lỗi đến gần đều bị người Pharisêô phản đối (x. 5:30; 7:34). “Ngôn sứ” có thể hiểu như dân chúng thời đó nghĩ về Người (x. 9:19); hoặc có thể là một ngôn sứ lớn giống như Êlia, hay Môsê (x. Cv 3:22; 7:37); nên ông mới gọi Người là “Thầy” (c. 40). Phần Chúa Giêsu, Người để yên cho bà ấy làm như ý, vì Người nhận ra trong nước mắt của bà lòng thống hối, và trong những hành vi khác lòng yêu thương của bà. Bà muốn được tha tội nên mới làm như thế. Để cho bà “đụng chạm” đến là Người từ chối rập theo khuôn sáo của người Pharisêô: lánh xa người tội lỗi. Người không là ngôn sứ theo cách suy nghĩ của ông, mà là ngôn sứ Thiên Chúa sai đến để cứu độ dân Người (7:16; 24:19). Vậy, với việc “đụng chạm” đến Chúa Giêsu, thái độ của mỗi người đều tỏ lộ: người phụ nữ bày tỏ tình yêu và lòng thống hối vì muốn được chữa lành; người Pharisêô phản đối; Chúa Giêsu mở đường thứ tha cho bà.
Dụ ngôn cho Simon (cc. 40-43)
Cho đến lúc nầy Chúa Giêsu thinh lặng, bây giờ Người mới lên tiếng. Người gọi người Pharisêô bằng tên “Simon”; trong khi ông đáp lại “thưa Thầy”. Với uy thế của một người thầy, Người sẽ nói với học trò. Như ngôn sứ Natan đã kể cho Đavít câu chuyện trong 2 Sam 12, Chúa Giêsu kể cho Simon câu chuyện nầy để mở mắt ông ra nhận thấy một thực tại mới, dựa trên sự tha thứ và tình yêu. Câu chuyện rất đơn giản, không nhiều chi tiết. Điểm then chốt là chủ nợ xoá sạch nợ cho người mắc nợ; phía người mắc nợ, yêu mến ông “Ai yêu chủ nợ nhiều hơn?” (c. 42). Vậy, Chúa Giêsu đặt sự tha thứ trong tương quan với tình yêu; hay ngược lại. Charizomai, nghĩa là “xóa nợ”. Ở nơi khác, ý nghĩa của động từ nầy chuyển thành “tha thứ”, nghĩa là tỏ lòng nhân ái và rộng lượng đối với những người làm điều sai (Êph 4:32; Côl 3:13). Chúa Giêsu sẽ nói đến sự tha thứ vào cuối câu chuyện (x. 7:47.48.49). Trong “tha nợ” hay “tha thứ” đều có “charis”, “ân huệ”, nghĩa là lòng quảng đại và yêu thương. Chủ đề tình yêu bắt đầu ở đây, và mọi hành vi của người phụ nữ sẽ được giải thích là được làm bởi động lực nầy.
Giáo huấn cho Simon (7:44-47)
Chúa Giêsu bắt đầu một giáo huấn trực tiếp với Simon. “Ông xem” (c. 44), Người muốn ông mở mắt ra và nhận ra điều Người sắp nói. Những hành động của người phụ nữ tội lỗi được đem ra so sánh để làm tỏ lộ thái độ của ông đối với Chúa Giêsu. Ông đã không làm điều mà bình thường ông phải làm khi khách đến nhà: rửa chân (Kn 18:4), hôn chào (Rom 16:16), xức dầu thơm trên đầu. Điều nầy chứng tỏ là ông không kính trọng, hoặc nói cách khác, xem thường Chúa Giêsu. Như thế, người phụ nữ hơn hẳn ông không chỉ trong cách đón tiếp, mà cả trong thái độ. Câu 47a “Tội của chị nhiều đã được tha, (vì) chị yêu nhiều” xem ra đối nghĩa với câu 47b “Ai được tha ít, yêu mến ít”. Không có mối liên hệ nguyên nhân và hậu quả ở đây. Cách nói nầy chỉ mô tả sự kiện. Chữ “hoti” (c. 47a) có nghĩa là “rõ ràng là”, “hiển nhiên là”. Vậy, Chúa Giêsu đã cho Simon thấy là ông không tốt lành hơn bà, vì đã không yêu mến Người. Và tuy tội lỗi của bà thật nhiều, đã được Người tha thứ tất cả. Bà đã yêu mến Người nhiều.
Tha tội cho người phụ nữ (7:48-50)
Chúa Giêsu không chối bà là người có tội. Người nói trực tiếp với bà lời tha tội “tội của bà đã được tha rồi” (c. 48). Luca thích dùng động từ “tha thứ” ở thì hoàn thành (perfect), diễn tả sự tha thứ đã hoàn thành và hiệu quả của nó còn tác động trên người được tha thứ (x. 5:20; 7:48). Đó là tình yêu. Câu hỏi về con người và quyền tha tội của Chúa Giêsu được đặt ra (c. 49; 5:21). Luca không muốn có câu trả lời cho người đồng bàn. Ông bỏ ngỏ (x. 9:20.22). Công thức “Lòng tin của bà đã cứu chữa bà, hãy đi bình an” (x. Mt 9:22; Mc 5:34) cho thấy kết luận của câu chuyện là tình yêu của bà được gọi là lòng tin, và sự tha thứ của Chúa Giêsu trở nên sự cứu độ cho bà.
Người tội lỗi không thể bị cô lập khỏi cộng đồng chỉ vì tội của họ. Chúa Giêsu tha tội và phá những thành kiến khắc khe vây chặt chung quanh họ. Trói buộc cách tàn nhẫn người có tội trong lỗi lầm của họ “người tội lỗi”, không phải là chống lại Thiên Chúa đó sao?



17. Thiên Chúa khuyến dụ ta yêu mến Ngài.
(Trích dẫn từ ‘Giảng Lễ Chúa Nhật’ – Charles E. Miller)
Thiên Chúa thật sự trông như thế nào? Ngài có phải quá xa xôi, mơ hồ, không dễ gì tiếp cận và rất khác biệt với chúng ta và thế giới này? Liệu Ngài có quan tâm đến nhân loại hay những gì xảy đến với chúng ta? Làm sao có thể biết Thiên Chúa trông như thế nào?
Giáo Hội quả quyết rằng ta phải thấy sự mạc khải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, bởi lẽ Người là Thánh Tử của Thiên Chúa, là hình ảnh toàn hảo của Chúa Cha và giống Ngài. Đến thời viên mãn, Thiên Chúa sai Con Ngài xuống trần gian, mặc lấy xác thịt phàm nhân giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi. Với nhân tính của Người, Chúa Giêsu giống như một bảng thiết kế, một chương trình mang lấy thịt và máu. Chúng ta biết Thiên Chúa trông như thế nào bằng cách nhìn vào con người Chúa Giêsu.
Gặp Chúa Giêsu trong Phúc Âm và nghe lời Người dạy, ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng hết lòng yêu thương nhân loại: Ngài sai Con Một đi tìm con chiên lạc (x. Mt 18,12-14), và mừng đón ta như người cha nhân hậu chạy ra ôm lấy đứa con hư hỏng nay biết ăn năn hối cải trở về (x. Lc 15,11-32). Chúng ta cũng biết trong cơn hấp hối, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Chưa hết, Người còn bào chữa cho những kẻ đã đóng đinh Người, “vì họ không biết việc họ làm”. Đó là dung mạo, là bản tính của Thiên Chúa.
Bài Phúc Âm hôm nay đưa ra một bài học độc đáo. Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa là Đấng không những đi tìm kẻ tội lỗi, mà còn dùng mọi phương tiện giúp ta yêu mến Ngài nhiều hơn.
Một người thuộc nhóm Pharisêu tên là Simon tin Chúa, nhưng biết rất ít về Người. Ông không hiểu làm sao Đức Giêsu lại có thể đoái thương người phụ nữ tội lỗi đã lấy dầu thơm rửa chân cho Người. Ông không nhận ra là Đức Giêsu nức lòng tha tội cho chị ta để chị sẵn sàng đáp lại bằng tình yêu. Người muốn người phụ nữ ấy phải yêu mến Chúa nhiều.
Vì đã được tha nhiều, chị đáp lại bằng cách yêu mến Chúa nhiều. Về mặt nào đó, Đức Giêsu, “Đấng săn đuổi từ trời”, kết tội người phụ nữ tội lỗi, cũng như Đức Chúa kết tội Vua Đavít là người đã phạm tội ngoại tình, rồi còn làm trầm trọng hơn với tội sát nhân. Tại một số nơi, Hội Thánh đã có thời chủ trương không tha hai loại tội này. Đây là một thái độ nghiêm khắc vượt quá cách hành xử của Thiên Chúa, như anh chị em vừa nghe qua bài đọc một. Ngài sai ngôn sứ Nathan đến ban cho Đavít ơn hối cải. Theo tiếng Hipri, “Đavít” có nghĩa “được yêu mến”. Thiên Chúa yêu Đavít đến nỗi quyết tâm không để mất ông. Và để đáp lại lòng sám hối của Đavít, Ngài tha hết các tội sát nhân và ngoại tình ông đã phạm. Đức khoan dung của Thiên Chúa khiến Đavít yêu mến Ngài.
Và Thiên Chúa muốn chúng ta cũng yêu mến Ngài. Ngài hy sinh cả mạng sống Con Ngài ngõ hầu ta được tha tội. Trong mỗi Thánh Lễ, ta nghe Chúa Giêsu tuyên bố: “Này là chén Máu Thầy, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”. Anh chị em phải hiểu đây là Chúa Giêsu đang nói với chúng ta qua miệng linh mục chủ tế. Chúng ta nằm trong số “các con” ấy, những người mà Đức Kitô đã đổ máu mình ra để cứu chuộc.
Anh chị em đừng bao giờ ngưng chiêm niệm về mức độ bao la của tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, như đã thấy qua cuộc thương khó của Đức Kitô. Chúng ta quả diễm phúc xiết bao vì tội của mình đã được cất đi. Vậy Thiên Chúa muốn ta làm gì để đáp lại? Thiên Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài.



18. Đức tin của con đã chữa con
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
Bước vào Chúa nhật XI thường niên, rơi vào trung tuần tháng Sáu, tháng kính Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu. Trang Tin Mừng về người phụ nữ tội lỗi được Chúa Giêsu tha thứ hôm nay như một sự trải dài về lòng thương xót vô cùng của Trái Tim Chúa. Quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta là vô cùng vô tận, một tình yêu đối thoại với tội nhân, chúng ta vẫn quen gọi là lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: "Lòng thương xót của Chúa Giêsu không chỉ là một tình cảm, đó còn là một quyền năng ban sự sống, làm cho con người được phục sinh". (Huấn đức Chúa nhật X thường niên năm 2003). Như thế chúng ta cũng có thể hiều thêm rằng, lòng thương xót của Thiên Chúa tha thứ tội nhân.
Những lời của Chúa Giêsu nói về người phụ nữ đã mang một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm hảo hạng đến nhà ông Simon, mở ra quì dưới chân Chúa mà xức, khác nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Chúa, lấy tóc mình mà lau và hôn chân Chúa thật là khó hiểu: “Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít.” (Lc 7, 36-8,3)
Câu đầu Chúa Giêsu khẳng định có vẻ ngược với câu sau. Một bên, dùng tình yêu để đạt được sự tha thứ "vì bà đã yêu mến nhiều". Bên kia, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng, người ta không thể thực sự yêu mến nếu không cảm nghiệm được sự tha thứ, tình yêu này được đo bằng đón nhận sự tha thứ "kẻ được tha ít". Nói cách khác, nếu bên này, tình yêu là bước khởi đầu trong tương quan với tội lỗi. Bên kia, ngược lại. Vậy, điều nào trước? Tình yêu hay kinh nghiệm được tha thứ? Để hiểu được, chắc cần phải có dụ ngôn kiểu Chúa Giêsu kể cho ông Simon.
Ông Simon trả lời: "Kẻ được ông chủ nợ tha nhiều thì sẽ yêu nhiều hơn". Tuy nhiên, dụ ngôn này có thể dễ làm cho người ta dựa vào sự được tha thứ. Cần phải phân biệt người đã được tha và người cần được Thiên Chúa tha thứ, sự tha thứ của Thiên Chúa luôn có trước. Đây chính là kinh nghiệm của David sau khi đã giết tướng Uria người Hittít để chiếm vợ ông. (2Sam 12, 7-10)
Kinh nghiệm về sự tha thứ của Thiên Chúa bao hàm sự nhận biết, được đón nhận và dâng hiến sự thấp hèn của mình lên Thiên Chúa. Vì ai giầu có kiêu căng, thì tự mình cảm thấy không cần đến ơn tha thứ; bởi vì họ không thấy có lợi gì. Làm sao có thể diễn tả được tình yêu đối với người chẳng cần nhận lãnh điều gì? Đó chẳng phải là kết cục khó khăn của Simon sao? Ông hơi quá tự phụ về sự công chính và đạo đức của mình, và dường như “người phụ nữ tội” này không ngăn cản ông đón nhận điều Chúa Giêsu muốn trao cho ông khi đến nhà ông. Chúa Giêsu nói với Simon: "Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà dã được tha rồi" lý do là vì: "bà đã yêu mến nhiều". Và Chúa Giêsu nói với bà: "Đức tin của con đã chữa con. Con hay về bình an". Đây chẳng phải là một hé mở cho Simon con đường để đón nhận ơn Chúa sao?
Chỗ khác Chúa nói: "Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu" (Mt 9,12). Về điều này, Thánh Ambrôsiô, Giám mục thành Milan, tiến sĩ Hội Thánh nói: "Hãy chỉ cho bác sĩ biết vết thương của bạn, bác sĩ có thể chữa bạn lành. Thậm trí nếu như bạn biết bệnh của bạn và bạn nói với bác sĩ, yêu cầu bác chữa trị, nhưng bác sĩ vẫn yêu cầu bạn phải nghe lời chỉ dẫn của bác sĩ. Ambrôsiô khuyên chúng ta: Hãy lấy nước mắt mình mà rửa vết thương. Vì chính người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đã từ bỏ tội lỗi mình và những quyến rũ của tội lỗi; chính bà đã thanh tẩy lỗi lầm của mình bằng chính nước mắt bà, khi lấy nước mắt mà rửa chân Chúa Giêsu. Nước mắt của lòng thống hối chừa cải chất chứa yêu thương, bà đã được tha thứ. (Thống hối, II, 8; SC 179)
Để cảm nghiệm và đón nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa, con người cần phải có trái tim sẵn sàng, trong sạch và khiêm tốn. Nhờ đôi chân mà Chúa Giêsu đến gần con người. Với lòng khiêm nhường, Ngài đã đồng ý để bà quì xuống mà rửa chân, lấy nước mắt mình mà lau chân. Trái lại, ông Simon, tuy Chúa ở trong nhà ông, nhưng lòng ông còn ở quá xa Chúa, khi ông chứng kiến cảnh bà này đối xử với Chúa Giêsu, ông liên xét đoán và phê bình, "bà ấy là một người tội lỗi". Bà thật can đảm đã vượt qua rào cản, giữa ô uế là (bà) và trong sạch là (Simon biệt phái), trước mặt người đời, bà làm thế vì bà cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa và bà dám chắc rằng bà tin bà sẽ được.
Đón nhận một tình yêu nhưng không, để thúc đẩy kẻ có tội được tha thứ đáp trả bằng tình yêu. Nhưng kẻ được tha thứ luôn luôn ý thức rằng tình yêu của bà đáp trả Thiên Chúa bằng chính tình yêu Thiên Chúa trao ban cho bà khi Ngài thứ tha lúc bà đang là tội nhân.
Tình yêu ấy được thể hiện trong rõ khi Thiên Chúa tha thứ cho tội nhân là Ngài xóa sạch. Ngài giải thoát ta khỏi gông cùm, xiếng xích, đưa ta tới một tương lai tương sáng khi bảo: "hãy đi!" Ngài mời gọi chúng ta ra đi mà không cần đáp trả khi thêm vào thêm vào: "Con hãy đi bình an" (nghĩa là bước đi trên đường công chính). Tội lỗi là phản nghịch của con người với Thiên Chúa, công chính là hòa bình với Thiên Chúa. "Con hãy đi bình an" cũng có thể nói rõ rằng, "hãy làm tất cả những gì có thể để dẫn tới sự bình an với Thiên Chúa".
Đến đây chúng ta có thể khẳng định mà không lầm rằng: "Kết quả của tình yêu là sự sống! Lòng thương xót của Thiên Chúa ban cho con người sự sống, phục sinh con người từ cõi chết. Chúa luôn nhìn chúng ta với lòng thương xót, Người chờ đợi chúng ta với lòng thương xót. Vậy, chúng ta đừng ngại đến với Chúa, Đấng có một trái tim nhân hậu. Nếu chúng ta bày tỏ với Người những vết thương trong lòng mình, tội lỗi của mình, Người luôn tha thứ cho chúng ta". Xin Đức Maria, Nữ Vương của lòng thương xót cầu cho chúng con. Amen.



19. Sức mạnh của tình yêu
"Yêu nhau mọi sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng". "Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, thập ngũ đèo cũng qua". Vâng tình yêu là như thế. Tình yêu đủ sức và đủ quảng đại để hai người nam nữ cỏ thể đến với nhau bất chấp những khác biệt, bất chấp đường xa, hay nhà gần, bất chấp những khiếm khuyết của cơ thể, củ ấu cũng tròn mà. Tôi muốn dùng hình ảnh hết sức đẹp đẽ này để nói về một tính yêu khác lớn hơn. Tình yêu vượt trên những bất toàn về tinh thần, tình yêu dành cho cả những tội nhân. Đó là tình yêu của Đức Kitô dành cho con người.
Chúa nhật XI này, tác giả phụng vụ cho chúng ta nghe một câu chuyện rất cảm động của Thánh Luca. Cảm động đến mức người ta đã gọi thánh Luca là một nghệ sĩ. Đức Giêsu được một người biệt phái, tên là Simon, mời dự tiệc. Trong khi đang dùng bữa thì có một cô gái - Luca cho hay đó là một cô gái điếm. Hạng này nhơ nhớp và đáng khinh lắm. Theo chú giải của cha Nguyễn Thế Thuấn, câu chuyện này không giống với câu chuyện xức dầu ở Bêthania (X. Mt 26,6t). Người phụ nữ này cũng không là Maria Madalêna (Lc 8,2) hay Maria em Matta (Lc 10,39). Cô gái điếm vào nhà ông biệt phái khóc nức nở đến nổi nước mắt thấm ước chân Chúa Giêsu, rồi cô lấy tóc lau, lấy dầu thơm xức lên chân. Việc làm ấy làm ngứa mắt ông chủ nhà và có thể là cả đám người đang dùng tiệc hôm ấy. "Thầy bà gì mà để cho con gái đụng chạm vào người mình như thế, mà lại là một cô bán hoa nữa chứ". Đúng là không ăn thì phá cho hôi mà. Các ông lầm to rồi. Đừng có suy bụng ta ra bụng người. Không thể xếp Đức Giêsu vào chung hạng với Mã Giám Sinh được đâu. Tôi tin vào đạo đức chính chắn của thầy Giêsu. Đức Giêsu đã lật ngược thế cờ. Ngài đã dùng chính tập tục của người Do thái mà cho ông chủ một bài học nhớ đời. Khi có khách đến nhà, người chủ phải làm 3 việc sau đây: thứ nhất, đặt tay lên vai khách và hôn bình an. Đây là cử chỉ tỏ lòng tôn kính. Thứ hai, rửa chân cho khách. Thứ ba, đổ một giọt nước hoa hồng lên đầu khách. Thế mà Simon ơi, ngươi đã làm điều đó cho ta chưa? Còn người đàn bà này đã làm tất cả không phải để thoả mãn cơn đam mê nhưng vì lòng yêu mến và kính phục. Ngươi quá xem thường ta rồi, ơi Simon. Nên dù ngươi có là chủ tiệc thì cũng chẳng được ta chiếu cố đâu. Còn người đàn bà này "Vì đã yêu mến nhiều, nên được tha nhiều, kể cả cái tội bán thân nuôi miệng ấy".
Vậy mới là Giêsu chứ! Thâm thuý, sâu sắc mà quảng đại, bao la đến muôn trùng. Không phải cứ mâm cao cỗ đầy thì có thể trịch thượng, trân tráo, là lấy được lòng Thượng Đế. "Ta muốn lòng nhân từ chứ nào cần đâu lễ tế, vì Ta đến không phải để kêu gọi những người công chính mà là những kẻ tội lỗi" (Mc 9,13). "Thiên Chúa chuộng lòng thành tín bên trong, diễn tả trong sự thương xót nhân nghĩa. Chứ không nơi thi hành bên ngoài chiếu theo luật". Theo William Barclay, có thể người đàn bà này muốn dùng bạch ngọc xức chân Chúa, nhưng khi gặp Ngài vì quá xúc động nên chỉ khóc thôi. Bà xứng đáng để nhận lãnh tình yêu và lòng tha thứ của Thiên Chúa. Tình yêu của bà, thiện chí muốn vươn lên của bà, hy vọng được đổi đời của bà, lòng tin tưởng Đức Giêsu có thể nâng bà dậy không vượt ra được trái tim yêu thương của Đức Giêsu. Tình yêu xoá mờ tất cả, tha thứ tất cả. Tình yêu đủ sức để đóng cử hoả ngục và mở cửa thiên đàng. Một khi đã nhận ra được tình yêu ấy và sẵn sàng đáp trả thì đâu có gì là khó để Phaolô, Augustinô, Inhaxiô Loyola trở thành những vĩ nhân. Chẳng phải là Chúa Hài Đồng đã bảo Thánh Giêrônimô dâng cả tội lỗi của mình cho Ngài đó sao? "Chính vì để cho những tên cướp lên trời mà Cha trên trời đã gửi Con của Người xuống thế gian và chính cho cả những người xấu xa tội lỗi, những tên đao phủ và cả Giuda mà Đức Giêsu đã đổ máu Người ra". Như mưa từ trời làm mát tươi vạn vật và rửa sạch mọi bợn nhơ, bụi bặm của mặt đất thế nào thì tình yêu của Thiên Chúa cũng làm tươi mới và rửa sạch tâm hồn ta như thế.
Hãy sám hối với lòng khiêm nhường để Thiên Chúa được tha thứ cho bạn.



20. Suy niệm của Lm. Văn Quy
(Trích dẫn từ ‘Phúc Âm Chúa Nhật’)
I. TÌM HIỂU
Câu truyện kể ở đây là đặc biệt của thánh Luca
Không được lẫn câu truyện thánh Luca kể đây với một việc xức dầu ở nhà ông Simon tật phong kể trong Matthêu 26,6-13 và Marcô 14,3-9 và Ga 12,1-8
Cũng không nên lẫn người tội lỗi này với bà Maria quê ở Bêtania, ông Simon mời Chúa đến dự tiệc. Simon là một tên rất thông thường của người Do Thái. Ông không phải là bạn thân Chúa; ông không dành cho Chúa sự tôn kính thường lệ (c.44tt). Ông mời Chúa vì tò mò muốn có một quan niệm về một nhân vật đã được thiên hạ đồn đãi rất nhiều.
Không thấy nói rõ việc xẩy ra ở đâu: Capharnaum, hay Giêrusalem? Tên người đàn bà cũng không được nêu lên. Chỉ biết là một người đời sống đã gây tai tiếng. Chắc cũng không phải là kỹ nữ buôn son bán phấn, vì gái như thế không vào nhà người Biệt phái được.
Nghe biết Chúa, biết lòng nhân hậu của Chúa, bà hối tiếc đời sống, cương quyết đến với Ngài để được tha thứ. Bà vào trong phòng tiệc, những người dự tiệc nằm trên những đi-văng, chân thò ra ngoài. Đến chỗ Chúa nằm, không thấy Chúa đuổi, bà phần vui mừng, phần đau đớn vì tội lỗi, nước mắt tuôn rơi trên chân Chúa, rồi bà lấy tóc dài của bà lau đi. Sau đó bà hôn chân Chúa. Sau cùng bà đập bể một bình thuốc thơm quý giá đổ trên chân Chúa. Bà nghĩ không xứng đáng đổ trên đầu. Bà không nói câu nào, nhưng cử chỉ đã nói tất cả. Chúa tỏ ra như chấp nhận việc đó, vì thế ông chủ nhà nghĩ rằng Chúa Giêsu không phải là vị tiên tri: vì nếu Ngài là tiên tri, thì âu là đã biết lòng người (1V 14,6; 2V 1,3; 5,24tt)
Đây ông chủ nhà không hồ nghi về sự thánh thiện của Chúa, mà nghi ngờ về sự biết rõ lòng con người. Vì thế, Chúa Giêsu cho ông thấy rằng, Ngài thấu suốt ý nghĩ của ông, dầu rất thầm kín.
Chúa Giêsu kể một dụ ngôn vắn tắt để dạy ông chủ nhà một bài học. Kể dụ ngôn rồi Chúa lại đưa ra một kết luận ngược với cái ý nghĩ của người ta. Vì thế các nhà chú giải không đồng ý kiến với nhau về cách cắt nghĩa.
Đại khái dụ ngôn: Hai con nợ, một người nợ chủ 500 đồng, một người nợ 50. Chủ tha cho cả hai. Vậy người nào sẽ yêu chủ nợ hơn? Ông Simon thưa: kẻ được tha nhiều. Chúa nhận câu trả lời đúng.
Vậy áp dụng vào trường hợp bà tội lỗi này, lẽ ra Chúa phải kết luận “Tội bà rất nhiều đã được tha nếu bà đã được yêu mến nhiều”. Những cử chỉ yêu mến tôn trọng rất nhiều của bà từ khi bước vào nhà là vì bà đã được tha nhiều. Nhưng đây Chúa lại tuyên bố: “Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi vì bà đã yêu mến nhiều”. Theo lời tuyên bố của Chúa: tình yêu của tội nhân thay vì là hiệu quả thì lại là nguyên nhân sự tha thứ.
Kết luận như thế để làm bài học rất quan trọng cho Simon cũng như cho các người dự tiệc. Chúa tha tội không phải không đòi hỏi một tâm tình nội tâm của tội nhân. Để được tha thứ, tội nhân phải thống hối trước đã.
Bài học khác: Ông Simon biệt phái cũng như nhóm biệt phái của ông hay tự phụ khinh chê tội nhân. Chúa cho ông biết rằng: ông nhầm, tất cả mọi việc người đàn bà này làm đều chứng thực lòng quý mến thực sự của bà. Chúa đã cảm thấy và cho ông Simon cảm thấy như thế.
Ông biệt phái này coi món nợ của mình nhẹ. Ông đặt tin tưởng ở sự đạo đức của ông hơn là tin ở lòng thương xót Chúa. Sự tự mãn đó không để chỗ cho lòng yêu mến Chúa. Yêu ít nên được tha ít.
Sau khi đã cho Simon một bài học, Chúa quay ra nói với người đàn bà tội lỗi: “Tội con đã được tha rồi”. Những người ở đó ngạc nhiên; nhưng Chúa nhấn mạnh thêm bằng một nguyên tắc mới Chúa đưa ra: “Đức tin con đã cứu con, con hãy về bình an”.
Người đàn bà tội lỗi này là ai?
Từ đời thánh Grêgôriô Cả (+604) một số tác giả Tây phương hay đồng nhất hóa người đàn bà tội lỗi này với bà Maria Madalêna và bà Maria quê ở Bêtania. Theo sự nghiên cứu rất kỹ lưỡng của linh mục Holzmeister thì sự đồng nhất hóa đó không dựa trên một truyền thống nào vững chắc, Đông cũng như Tây.
Có phải bà là Maria quê Bêtania, chị ông Lagiarô, em bà thánh Matta chăng? Người ta đã lẫn hai người này vì câu truyện thánh Gioan kể ở 12,1tt. Nhưng không được lẫn. Bà Maria xức thuốc thơm Đức Giêsu ở Bêtania trước ngày Người chịu đau khổ. Đây sự việc xẩy ra ở Galilê, vào đầu đời giảng giáo của Chúa. Đàng khác, chị ông Lagiarô chưa bao giờ thấy kể là một tội nhân.
Tinh thần hai cảnh khác hẳn nhau. Trong thánh Luca tinh thần thống hối đứng đầu. Còn trong thánh Gioan chính là sự báo trước việc chịu đau khổ.
Có phải bà là Maria Madalêna chăng?
Có người dựa vào Luca 8,2 mà cho rằng người đàn bà tội lỗi đây là Maria Madalêna, vì bà này đã được Chúa trừ 7 quỷ. Nói Chúa trừ 7 quỷ mà không nói là người tội lỗi. Vì thế không có đủ lý để đồng nhất hóa hai người. Vả chăng tiếp sau câu truyện này, thánh Luca nêu lên tên bà Maria Madalêna như là một nhân vật mới.
Vậy câu hỏi: người đàn bà tội lỗi này là ai, vẫn chưa có câu trả lời. Nhưng mà không nên đồng hóa vô căn cứ.
Những người phụ nữ theo giúp Chúa (8,1-3)
Một số phụ nữ tỏ lòng biết ơn Chúa đã chữa cho khỏi bệnh, khỏi quỷ ám; đi theo giúp Chúa và ủng hộ Chúa bằng tiền bạc.
Đây không phải là những người trước kia tội lỗi trở lại, nhưng là những người đau ốm, hoặc bị quỷ ám được chữa khỏi. Trong số có bà Gioanna vợ của ông Chouza, quản lý của vua Hêrôđê Antipas. Ta phải đoán rằng gia đình này khá giả. Bà Suzanna, ta chỉ biết tên mà không biết gì hơn về bà. Bà Maria quê thành Magdala, Chúa đã xua đuổi 7 quỷ. Số 7 đây chỉ có nghĩa là tình trạng đau khổ thực sự và nặng nề. Ngoài ra theo thánh Marcô và thánh Matthêu còn có một số bà khác nữa, thí dụ bà Maria mẹ ông Giacôbê, và ông Giuse; bà Salomê mẹ hai con ông Dêbêđê.
Các bà theo giúp Chúa và các Tông đồ. Người đời bấy giờ không ai ngạc nhiên vì sự giúp đỡ này. Theo thánh Jêrôme: “Đó là thói quen người Do Thái và cũng phù hợp với cựu tục của dân tộc”.
II. ÁP DỤNG THỰC HÀNH
Nhìn bên ngoài
Chỉ nhìn bên ngoài sự vật: ông Simon, nhà biệt phái mời Chúa Giêsu ăn. Chúa Giêsu vào bàn tiệc với một số khách được mời. Một người đàn bà có tiếng là tội lỗi, nhân cơ hội cũng bước vào, theo tục Đông phương, cửa không đóng.
Bà ta đã đối xử với Chúa rất tốt, khóc lóc tràn trề, nước mắt chảy đầy chân Chúa, bà ta lấy tóc lau, rồi hôn đi hôn lại chân Chúa; sau cùng lại đập bể bình thuốc thơm đổ trên chân Chúa.
Ba nhân vật được làm nổi bật: Simon, người đàn bà tội lỗi và Chúa Giêsu.
Xét đoán theo bên ngoài, Simon đã nhìn mọi cái dưới khía cạnh xấu và theo hình thức bên ngoài. Xem ra ông có lý. Ông chủ nhà không vấp phạm vì bà này là phụ nữ trắc nết, mà chỉ vấp phạm vì xét đoán Chúa không phải là vị tiên tri như thiên hạ đồn. Nếu Ngài là tiên tri ắt Ngài phải biết người đàn bà đó đáng khinh bỉ, một tội nhân ai cũng biết.
Nhưng điều mà ông Simon không biết là bà này là một tội nhân đã được tha. Người đàn bà đó biết và Đức Giêsu đã làm cho bà hiểu điều đó mà không cần nói ra.
Simon xét đoán một cách khắt khe người phụ nữ này và Chúa Giêsu; cho bà là một đĩ tõa và cho Chúa không phải là tiên tri. Trái lại, ông cho mình là người tốt, đáng kính, quảng đại, lịch sự.
Sự thật bên trong
Người đàn bà tội lỗi đã được tha hết tội. Những cử chỉ bên ngoài chứng tỏ lòng yêu mến của bà đối với Chúa nhiều, nên đã được tha nhiều và sự thực Chúa đã tuyên bố bà được tha mọi tội lỗi dù nhiều đến đâu. Còn ông Simon bị khiển trách là đã quá sơ sài trong những xã giao rất thường đối với Chúa. Hơn nữa, ông chỉ để trí xét nét những cái nhỏ nhặt bên ngoài. Điều đó tỏ ra ông ít lòng yêu mến đối với Chúa, nên Chúa tuyên bố: “Kẻ được tha ít thì yêu mến ít”.
Giáo huấn của Công Đồng Vatican II
Lương tâm con người là tấm gương trong sáng phản ảnh sự thánh thiện của Thiên Chúa. Nhưng lương tâm đó bị tội lỗi làm lu mờ đi trước sự kêu mời vươn lên của Thiên Chúa. Chúa Kitô đến để giải thoát lương tâm khỏi nô lệ tội lỗi. Ta hãy đọc lại tư tưởng của Công Đồng Vatican II: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Nhờ lương tâm, lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và anh em, và được biểu lộ cách kỳ diệu. Trung thành với lương tâm, người Kitô giáo liên kết với những người khác để tìm kiếm chân lý và giải quyết trong chân lý biết bao vấn đề luân lý được đặt ra trong đời sống cá nhân cũng như trong giao tiếp xã hội. Bởi vậy lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân và cộng đoàn càng tránh được độc đoán mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Tuy nhiên, lương tâm nhiều khi lầm lạc vì vô tri bất khả thắng, nhưng cũng không vì thế mà mất hết phẩm giá. Nhưng không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện cũng như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng…”.
(Hiến Chế Gaudium et Spes, số 16)



21. Yêu nhiều, yêu ít – Lm ViKiNi
(Trích dẫn từ ‘Xây Nhà Trên Đá’)
Chúng ta thường thấy những nghi thức đón chào khách quốc tế rất long trọng, có lúc rất sơ sài, tùy theo vị khách nào được yêu mến, quý trọng nhiều hay ít.
Hôm nay ông Simon mở tiệc đãi khách, có mời Đức Giêsu nữa, tuy ông là người thuộc phái Pharisiêu, nhưng có lẽ ông cũng có ít nhiều thiện cảm với Người. Còn hầu hết các người Pharisiêu đều không ưa Người, có kẻ còn chống đối Đức Giêsu mạnh mẽ nữa. Ông Simon đón tiếp Người cũng sơ sài, không theo nghi thức đón tiếp đàng hoàng: Không có nước rửa chân tay, không hôn chào, không xức dầu thơm, theo như tục lệ. Trong khi đó có một phụ nữ nổi tiếng tội lỗi, đột nhiên đến lấy nước mắt tưới ướt chân Người, lấy tóc lau chân và xức dầu chân Người để tỏ lòng tôn trọng yêu mến Người rất cuồng nhiệt.
Trước hai cảnh tiếp đón Chúa như vậy, gợi cho chúng ta mấy suy nghĩ:
1) Lối đánh giá của Đức Giêsu: Người đánh giá ta theo lòng yêu mến, chứ không theo tội lỗi. Dù tội nặng nề tầy trời đến đâu, Người cũng không kể, không kết án. Người chỉ xét theo lòng mến Chúa và yêu người của ta thôi. Càng có lòng mến nhiều, càng được tha thứ nhiều, càng được đánh giá cao. Kẻ khô khan thờ ơ, nguội lạnh, dù có giữ trọn các giới răn cũng bị Người coi là kẻ giả hình như Pharisiêu. Họ giữ luật lệ rất kỹ, rất khắt khe, nhưng lòng họ xa Thiên Chúa. Họ đã bị Người vạch mặt: “Quân này mến Ta ngoài môi ngoài miệng mà lòng thì xa Ta... Họ như mồ mả sơn phết cho đẹp, mà trong đầy hôi thối”. Thánh Phaolô, trước thuộc phái Pharisiêu, khi trở lại với Chúa, đã biết rõ lối sống nào là có giá trị, nên Ngài đã viết: “Con người được công chính hóa không phải do các việc làm như luật dậy, nhưng chỉ nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô” (Gal. 2, 16) Lòng tin do lòng mến mà ra.
2- Lối đánh giá của Pharisiêu: Lối nhìn tha nhân của Đức Giêsu khác với lối nhìn của Pharisiêu và của chúng ta. Pharisiêu và chúng ta thường nhìn người khác theo lý lịch quá khứ. Họ nhìn người phụ nữ theo lý lịch tội lỗi: Một nàng chơi, sống ngoài đường phố xấu nết, ô nhục, không được phép động đến ai, để hạng phụ nữ này đụng đến sẽ làm nhơ nhớp, đáng khinh bỉ. Họ cũng nhìn Đức Giêsu bằng con mắt xấu: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi”. Như vậy, khi ông Simon mời Đức Giêsu, ông mong được vinh dự đón một ngôn sứ của Thiên Chúa, thôi bây giờ hết vinh dự rồi. Ông còn sợ bạn hữu chê cười, vì đã mời một người đụng chạm với phụ nữ tội lỗi. Có lẽ ông rất buồn và hổ then! Thấy vậy, Đức Giêsu vừa tháo gỡ tâm trạng hổ thẹn của ông, vừa khen người phụ nữ can đảm đã hạ mình xuống trước mặt hạng người Pharisiêu có tiếng là đạo đức và khắt khe với kẻ tội lỗi. Qua ví dụ hai con nợ, con nợ được tha nhiều thì yêu chủ nhiều, con nợ được tha ít thì mến ít, Đức Giêsu đã cho phái Pharisiêu biết người phụ nữ này được tha nhiều nên mến Chúa rất mãnh liệt, còn các ông cậy mình vô tội, nên các ông còn ít mến Chúa lắm. Vậy lối nhìn của Đức Giêsu đối với phụ nữ tội lỗi theo tâm tình đổi mới: Một tâm tình sám hối cải thiện, một tâm tình khiêm tốn hạ mình xuống như nô lệ, lấy nước mắt và tóc lau chân, hôn chân, xức dầu chân Người, tôn vinh Người là chủ, là Chúa của mình trước mặt mọi người.
Chị đã hạ mình xuống và đã được nâng lên hàng các thánh. Còn Pharisiêu và chúng ta cứ nâng mình lên, trách cứ và đấm ngực người khác, moi móc cái rác trong mắt người khác, không lo lấy cái xà trong mắt mình ra, không chịu đấm ngực mình ăn năn, thì sẽ bị hạ xuống vực thẳm đời đời.
3) Cách dự tiệc Thánh: Người Do Thái mời khách, đón khách theo nghi thức có chất văn hoá rất đẹp: bưng nước rửa tay chân sạch sẽ, mát mẻ, hôn chào niềm nở thân ái, xức dầu thơm trên đầu vừa cho dễ chịu thoải mái, vừa có ý tôn vinh khách như ông hoàng. Những cách cư xử văn hóa đó rất đáng cảm phục.
Khi chúng ta đến dự tiệc Thánh, chúng ta có phong độ văn hóa nào đẹp chăng?
Đối với Chúa, tấm lòng đẹp nhất là khiêm tốn và hạ mình xuống ăn năn mọi lỗi lầm và hết lòng khát khao yêu mến rước Chúa vào nhà linh hồn.
Đối với cộng đoàn, chúng ta nên giữ đúng giờ kinh lễ, đến trước một chút để chuẩn bị tâm hồn là hay nhất, đừng vô tâm đến trễ gây cảnh hỗn độn mất trật tự. Ai đến trước ngồi trước, nhường chỗ cho người đến sau, người đến sau phải đi qua đi lại trước mặt, rất khó coi và gây chia trí. Đồng thời biết tham gia với cộng đồng cùng thưa đáp lời kinh tiếng hát, biểu lộ sự hiệp thông, hiệp nhất. Chúng ta cũng luôn giữ hết sức nghiêm trang, cung kính, nhân nhượng và ăn mặc đứng đắn để tôn trọng nơi thánh. Nhất là tránh hết sức những tiếng động, ồn ào, ho ngáp, thở dài, hôi miệng, hơi rượu, hơi thuốc làm người khác rất khó chịu và sợ mất vệ sinh.



22. Suy niệm của Lm. Duy Ân Mai
Sự tha thứ mà Đức Giêsu ban cho không phải là một thái độ ban ơn, Người không hạ thấp người tội lỗi được thứ tha, nhưng Người làm nẩy sinh trong người ấy một tình thương mà người ấy không biết.
Khi để cho người đàn bà tội lỗi đến gần và đụng chạm. Đức Giêsu mắc một sự ô uế theo lề luật, điều mà Người có thể tránh, nếu Người là ngôn sứ, Simon nghĩ vậy.
Vì thế, trước hết, Đức Giêsu nói với Simon: sự trìu mến mà người đàn bà tỏ bày là dấu chỉ Thiên Chúa đã tha thứ nhiều cho bà.
Còn ông, hỡi Simon, ông tỏ ra không tế nhị, ông ít để ý đến người ông mời, phải chăng ông thiếu kinh nghiệm của ơn tha thứ giải thoát của Thiên Chúa?
Đoạn Người ngỏ lời với người đàn bà để loan báo cho bà biết bà đã được Người tha thứ, bởi vì bà đã yêu mến nhiều, và tình yêu của bà đã chuộc các tội lỗi của bà.
Bởi vậy tình yêu vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân, ít ra là điều kiện cần thiết để được ơn tha thứ của Thiên Chúa.
Nhưng Đấng gợi lên tình yêu trong lòng người đàn bà tội lỗi và đồng thời tha thứ cho bà, chứng tỏ Đấng ấy lớn hơn một ngôn sứ: Người này là ai?
Chính Giáo Hội, cộng đồng của những đàn ông đàn bà đã được Đức Giêsu giải thoát, phải nói lên điều đó.
Người này là ai mà khi đến gần Người làm nẩy sinh một tình yêu như thế trong tâm hồn những người tội lỗi khi họ khám phá ra được thứ tha!
Chính chúng ta là những người tội lỗi được thứ tha. Hãy nói lên câu trả lời.
Cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con,
với Tông Đồ Phaolô, chúng con tin rằng chúng con được cứu chuộc nhờ lòng tin vào Con Chúa, Đấng đã yêu mến chúng con và đã hiến mình vì chúng con.
Không ai được trở nên công chính trước mặt Chúa nhờ công trạng của riêng mình.
Chính nhờ ơn Chúa, mà chúng con nên con cái Chúa. Chúng con sống, nhưng chính Đức Kitô sống trong chúng con, nhờ Thần Khí đã được đổ tràn trong tâm hồn chúng con.
Chớ gì sự hiện diện này trong chúng con mạnh hơn tư tưởng ám ảnh tội lỗi của chúng con.
Xin Chúa làm cho chúng con chỗi dậy và ban cho chúng con sự bình an.



Câu chuyện về chàng trai phung phá chỉ là một hình ảnh, còn câu chuyện về Mađalêna chúng ta vừa nghe lại là một sự thật.
Giữa hình ảnh và thực tại có những điểm thật giống nhau. Chàng trai đã sống những ngày tháng phóng đãng để rồi cuối cùng phải đi chăn heo. Còn Mađalêna cũng đã chạy theo những vui thú, nhận chìm tâm hồn trong bùn nhơ tội lỗi đến nỗi mọi người trong thành đều hay biết, để cuối cùng nàng bị lương tâm dày vò cắn rứt.
Chàng trai đã quyết định chỗi dậy trở về nhà cha và đã được cha già tiếp đón nồng hậu và tha thứ hết mọi lỗi phạm của chàng. Còn Mađalêna, nàng cũng đã quyết tâm tìm gặp Chúa Giêsu, thú nhận mọi tội lỗi của mình và sau cùng nàng cũng đã được tha thứ như lời Chúa đã phán:
- Tội của nàng tuy nhiều nhưng đã được tha thứ hết, bởi vì nàng đã yêu mến nhiều.
Trước lòng nhân từ của người cha, đứa anh đã lên tiếng phản đối. Cũng vậy, trước tình thương của Chúa Giêsu, bọn Biệt phái đã lên tiếng chỉ trích.
Vậy Chúa Giêsu đã giải đáp, đã cắt nghĩa như thế nào? Câu chuyện của thực tại cuộc sống đã xảy ra như sau: Hôm đó ông Simong, người Biệt phái đã mời Chúa Giêsu dùng bữa tại nhà mình. Đang khi dùng bữa, thì Mađalêna, một người đàn bà tội lỗi mà mọi người trong thành đều biết tiếng bước vào. Nàng mang theo một bình thuốc thơm. Đến trước mặt Chúa Giêsu, nàng quì gối, khóc lóc cho quãng đời dĩ vãng của mình, rồi đổ thuốc thơm xức dầu vào chân Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau.
Trước cảnh tượng bất ngờ ấy, ông Biệt phái thầm nghĩ:
- Nếu người này là một vị tiên tri hẳn phải biết con mẹ đàn bà đụng đến mình là ai, nó chỉ là một kẻ tội lỗi.
Thấu suốt được những ý nghĩ ấy, Chúa Giêsu đã nói với ông Biệt phái:
- Có hai con nợ, một mắc nợ nhiều còn một mắc nợ ít, vì cả hai không có gì để trả nên chủ đã tha cho hết. Vậy thì ai trong hai sẽ yêu mến chủ nhiều hơn.
Ông Biệt phái trả lời:
- Dĩ nhiên là người đã được tha nhiều.
Chúa Giêsu nói:
- Ông xét đoán đúng lắm. Ông có nhìn thấy người đàn bà này không. Tôi vào nhà ông mà ông chẳng đổ nước rửa chân cho tôi, còn nàng, nàng đã dùng nước mắt mà thấm ướt chân tôi rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng xức dầu thơm trên đầu tôi, còn nàng không ngừng xức thuốc thơm cho chân tôi. Vì thế, tôi nói với ông rằng: tội nàng tuy nhiều nhưng đã được tha thứ hết bởi vì nàng đã yêu mến nhiều.
Một chi tiết nhỏ đáng để chúng ta suy nghĩ, đó là suốt cả câu chuyện, Mađalêna đã không nói một lời. Nàng yên lặng và nhỏ những giọt nước mắt. Đây là những giọt nước mắt của lòng mến chân thành, của tâm tình sám hối ăn năn. Những giọt nước mắt này có sức hồi sinh và đem lại sự sống cho tâm hồn, bởi vì nó tẩy rửa được những vết nhơ của tội lỗi.
Với chúng ta cũng vậy, mỗi khi trót sai lỗi vấp phạm, chúng ta cũng hãy biết nhỏ những giọt nước mắt là tâm tình sám hối ăn năn để nhờ đó chúng ta cũng sẽ được Chúa tha thứ. Bởi vì, như lời Thánh vịnh đã nói:
- Chúa không bao giờ chê bỏ những tấm lòng tan nát khiêm cung.



24. Kẻ đột nhập vào bữa tiệc - McCarthy
Suy Niệm 1. HOÁN CẢI MỘT CON NGƯỜI
Một đêm nọ trong lúc bị cúp điện, một người đàn ông tìm được một cái đèn cũ đốt bằng mỡ từ trên tầng gác để đồ cũ. Tình trạng của đèn thật thảm hại, bóng đèn nứt và đen thui. Dù sao, ông cũng đốt đèn và nó toả ra một ánh sáng yếu ớt. Đã vậy, bấc đèn bốc khói toả ra một mùi khét lẹt. Thật là quá mức đối với một người thích mọi vật hoàn hảo như ông. “Cái đèn này thật vô dụng nên vứt nó đi”, ông nói với vợ ông. Nói xong ông tắt đèn dầu, lấy nến ra đốt.
Ba tuần sau, lại cúp điện. Lần này, vợ ông đem lại ánh sáng. Bà lấy ra một cái đèn dầu đẹp, đốt lên. Một ánh sáng màu hồng toả ra làm cả nhà thích thú.
“Cái đèn này tuyệt thật!” ông chồng nói: “Bà mua nó ở đâu?”
“Đó là cái đèn mà ông muốn vứt đi đấy”, bà đáp.
Sau khi đến thật gần để xem xét, ông nói: “Chắc tốn khá nhiều tiền để tân trang nói như thế này?”
“Thật ra chẳng tốn gì mấy”, bà đáp. “Tôi chỉ mua một cái bấc mới và một cái bóng. Nhưng tôi phải bỏ nhiều thời gian và công sức lau chùi và đánh bóng nó. Tôi đã nhận thấy dưới lớp bụi bẩn là một cái đèn đẹp. Và ông không thấy rằng tôi có lý sao?”
“Tôi hoàn toàn đồng ý với bà”, ông đáp.
Vứt bỏ một cái đèn dầu thì dễ hơn vứt bỏ thời gian và công sức để lau chùi và đánh bóng nó. Với con người cũng thế, gán cho họ một loại người nào đó rồi xếp xó họ thì dễ dàng hơn việc đối xử với họ như bạn bè và giúp đỡ họ vượt lên sự khốn cùng của họ. Hoán cải một người là nhiệm vụ tế nhị và khó khăn.
Ông Simon là một người Pharisêu hay biệt phái, và những người biệt phái “tách biệt” họ với những người tội lỗi. Vì thế, ông Simon cảm thấy bị xúc phạm khi thấy Đức Giêsu cho phép một người tội lỗi không chỉ đến gần Người mà còn sờ vào Người nữa.
Trong đầu óc của Simon, người phụ nữ ấy ở bên ngoài ơn cứu chuộc: chị ta là người tội lỗi, và luôn luôn là người tội lỗi. Vì thế, ông không muốn dính dáng gì đến chị ta. Bạn có thể nghĩ rằng Đức Giêsu cũng đã bị một người như chị ta quấy nhiễu. Tuy nhiên Người cho phép chị ta đến gần Người và sờ vào Người không có một lời ám chỉ nào để lên án.
Trong xã hội chúng ta, có nhiều người không chấp nhận khả năng người ta có thể thay đối? Họ không muốn cho người ta một cơ hội thứ hai. Một nền văn hoá không tin vào sự cứu chuộc là một nền văn hoá không hy vọng.
Đức Giêsu biết rõ người phụ nữ ấy là một người tội lỗi. Nhưng Người nhìn thấy nơi chị một khía cạnh khác tốt đẹp hơn. Người thấy rằng chị khao khát được coi như một con người chứ không phải là một đồ vật. Bằng việc vui lòng chấp nhận sự phục vụ khiêm hạ và yêu thương, Người giúp chị tin vào khía cạnh tốt đẹp ấy của mình để bộc lộ nó ra. Thật tuyệt vời khi chúng ta cảm thấy có người tín nhiệm chúng ta, không xét đoán hoặc lên án nhưng yêu thương chúng ta.
Chúng ta phải học nhìn ra điều tốt lành nơi một người khác và xác nhận điều đó. Khuyết điểm của người khác chỉ có thể được sửa chữa bằng cách yêu thương họ. Chúng ta không thể yêu thương một ai nếu chúng ta không chấp nhận con người thật của họ. Lên án không giải thoát mà áp bức. Chúa Giêsu không lên án người phụ nữ. Người thấy sự đau xót, khiêm hạ, lòng can đảm và yêu mến của chị. Người khẳng định khía cạnh ấy của chị.
Người phụ nữ ấy trước đây, chưa bao giờ cảm nghiệm một điều gì giống như thế. Chị chưa bao giờ gặp được một người tốt và hôm nay Đức Giêsu là người tốt nhất chị gặp. Người không chỉ tha thứ mà còn yêu thương chị. Chị hạnh phúc đến nỗi chi gần như kinh hoàng về niềm hạnh phúc ấy. Khi họ ra đi, và như người Châu Phi nói, chị bước đi cùng với trăng sao.
Suy Niệm 2. ĐƯA SỰ PHÁN XÉT VỀ CHÍNH MÌNH
Trong Kinh Thánh chúng ta đọc câu chuyện Vua Đavit đem lòng yêu thương người vợ của một chiến sĩ của ông là Urgia. Để cưới được bà, ông đã đưa Urigia ra mặt trận với hy vọng ông này bị quân thù giết chết, và điều này đã xảy ra. Làm việc hại người như thế quả là ghê tởm. Ngôn sứ Nathan quyết định vạch trần tội lỗi của Đavit. Tuy nhiên, thay vì trực tiếp tố giác Đavit, ông kể cho nhà vua nghe một câu chuyện đại khái như sau:
“Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo. Người giàu thì có chiên dê và bò nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chúng bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái.
“Một hôm có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Trái lại, ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông”.
“Vua Đavit bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Nathan: “Có Đức Chúa hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết!” Ông Nathan nói với vua Đavit: Kẻ đó chính là Ngài!”
Vua Đavit công nhận điều Nathan muốn nói. Và ông nói: “Tôi đã phạm tội chống Đức Chúa”. Nathan làm cho ông yên tâm rằng Thiên Chúa đã tha thứ cho ông.
Bằng một cách đề cập tế nhị, Nathan khiến Đavit có thể nhìn thấy tính chất nghiêm trọng của tội lỗi của mình và chính mình lên án nó. Nỗ lực của Nathan đạt đến tầm mức cao cả nhất ở chỗ người bị lên án nhìn thấy điều ác của mình đã làm, đưa ra sự phán xét về chính mình và hối hận: “Một sự đau nhói của lương tâm có giá trị hơn nhiều trận đòn roi” (Kinh Talmud).
Giờ đây chúng ta hãy trở lại để tìm hiểu về người phụ nữ tội lỗi trong Tin Mừng. Chị ta phải lấy hết can đảm để bước vào ngôi nhà của Pharisêu và đến trước mặt Đức Giêsu trong tình trạng tội lỗi của mình. Khi làm như thế, chị càng dễ bị làm cho tổn thương nặng nề. Chị liều mình hứng chịu sự lên án và sỉ nhục của dân chúng.
Thay vì xua đuổi chị, Đức Giêsu đã đón nhận chị một cách tử tế, dịu dàng và khoan dung. Người đã xúc động sâu xa bởi các tội lỗi của chị. Chị đã đau đớn biết tội của mình, và hối hận về những tội ấy. Người bảo đảm chị đã được tha thứ. Không những thế, Người để cho chị hiểu rằng chị được yêu thương. Như thế chị có thể thực hiện một sứ bắt đầu mới mẻ.
Một ngày kia một người bạn đến thăm Michel-Angelo. Ông thấy nhà điêu khắc vĩ đại đang đục đẽo một tảng đá cẩm thạch lớn. Sân nhà phủ đầy những mảnh cẩm thạch vỡ và bụi bặm. Một cảnh tượng không lấy gì đẹp lắm.
“Chúa ơi, ông đang làm gì vậy?” người bạn hỏi.
“Tôi đang thả thiên thần bị giam trong khối cẩm thạch này ra” Michel-Angelo đáp.
Người Pharisêu Simon nhìn người phụ nữ chỉ thấy chị ta là tội nhân và mãi mãi là tội nhân. Đức Giêsu nhìn người phụ nữ và thấy chị ta là một người phụ nữ tội lỗi có khả năng trở thành một vị thánh. Nhờ có sự gặp gỡ với Đức Giêsu, người phụ nữ bắt đầu sống một đời sống mới tốt đẹp hơn. Và chị ta có thể hành trình trên con đường ấy xa hơn những người đã xét đoán chị. Bằng việc tiếp xúc tử tế và chấp nhận quà tặng của chị với lòng khoan dung. Đức Giêsu đã thổi gió vào cánh buồm đời chị.



25. Tình thương và tha thứ
Không gì đè nặng trên một tâm hồn cho bằng tội lỗi. Và không gì an ủi cho bằng lời của tiên tri Nathan, trong bài đọc I, nói cùng Đavít: “Thiên Chúa đã tha tội cho ngươi”.
Vua Đavít phạm tội ngoại tình và để ém nhẹm và phi tang đã nhúng tay vào máu, cướp vợ người ta. Tưởng thế là xong, ai ngờ Chúa gửi tiên tri Nathan đến, kể cho ông nghe câu chuyện một người giàu có cướp con chiên, gia sản của một người nghèo khó. Đavít nổi giận đòi trừng phạt con người bất lương. Tiên tri nói: “Người bất lương đó chính là ông”. Đavít đã cúi đầu thú nhận tội lỗi, nhận lãnh việc đền tội. Thánh Vịnh Miserere 50, ngàn đời còn vang vang như tiếng nức nở của một tâm hồn thống hối ăn năn thì câu nói của tiên tri Nathan: “Thiên Chúa tha tội cho ngươi” là một niềm an ủi vô tận.
Chúa là tình thương và là Đấng hay tha thứ. Chỉ có một phương thế để đáng được tha thứ là: thú nhận tội lỗi và sự yếu hèn của mình, nhận thức rằng chỉ có Chúa mới có thể cứu thoát và hoàn tòan trông cậy và phó thác.
Bài Phúc Âm hôm nay đã cụ thể hóa giáo lý tình thương và tha thứ ấy trong câu chuyện “người đàn bà tội lỗi đến gặp Chúa trong bữa tiệc tại nhà ông Simon”.
Trong khi Matthêu và Marcô luôn trình bày người biệt phái như đối thủ cố chấp của Chúa, thì Luca, viết cho dân ngoại, mô tả một thứ biệt phái lễ độ hơn, biết mời Chúa đến nhà dùng bữa. Hôm nay, chúng ta đang ở trong nhà của ông Simon. Có thể ông mời nhà rabbi trẻ tuổi để có dịp quan sát hơn là vì hiếu khách, nhưng ông tỏ ra có chút lễ độ. Trong nhà có đám tiệc, kẻ ra người vào là thường. Một người đàn bà, ai cũng biết thuộc phường ‘tội lỗi’ lẻn vào đứng sau đám thực khách. Bà mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Rồi quỳ xuống phía chân Chúa, bà khóc nức nở, xức dầu thơm, hôn bàn chân ướt đẫm nước mắt và lấy tóc lau. Mọi người im lặng trối mắt nhìn. Simon coi đó là một cử chỉ quái gở và lẩm bẩm: “Ông này là một nhà tiên tri sao? Không, thật quá rõ ràng. Ai lại để cho hạng đàn bà ấy động đến mình!”.
Chúa Giêsu nhìn thấy tất cả, đọc cả những cảm nghĩ thầm kín của Simon. Với bao tế nhị, Ngài kể dụ ngôn người chủ nợ tha cho hai con nợ không có gì đền trả. Và, theo thói quen thông thường, Ngài để cho thính giả tự trả lời. Ngài hỏi: “Ai trong hai người yêu chủ nợ nhiều hơn?”. Do thái dùng chữ ‘yêu’ để thay thế chữ ‘cảm ơn’, không có trong từ ngữ. Yêu mến vì tri ân. Ông Simon thận trọng trả lời: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Đúng vậy.
Bầu khí ngột ngạt đã lắng dịu, Chúa hướng mọi người về phía người thiếu phụ. “Ông thấy người đàn bà này chứ?”. Cách đối xử của bà và của người biệt phái khác biệt nhau biết chừng nào! Nếu ông biết trọng khách, biết yêu mến Ngài hơn thì ông đã không từ chối những cử chỉ lễ phép xã giao đó. Nhưng ông là biệt phái nên ông cho là không phải lệ thuộc ai, kể cả Thiên Chúa.
Và Chúa Giêsu kết luận: “Tội bà rất nhiều nhưng đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều”. Tình yêu là nguyên do hay là kết quả của ơn tha thứ? Dụ ngôn cho thấy tình yêu lớn lao của bà là dấu chỉ của một ơn tha thứ lớn lao hơn của Chúa. Bà đã nghe Chúa giảng dạy, đã hiểu rằng thời hồng ân tha thứ đã đến và bà đã tin. Hôm nay bà đến, tâm hồn nhẹ nhõm vì mình đã được tha thứ để cảm tạ Chúa. Chúa nói với bà một lời bảo đảm: “Tội con đã được tha rồi. Hãy đi bình an”.
Lạy Chúa, “con xưng ra với Chúa tội phạm của con và lỗi lầm của con, con đã không che dấu. Con thú thực điều gian ác của con và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con” (Tv 31).



26. Như chúng con cũng tha… – Mark Link
(Trích dẫn từ ‘Giảng Lễ Chúa Nhật’)
Cách đây vài năm, có vị Linh mục tổ chức một buổi nói chuyện với một số thanh niên. Sau cuộc trò chuyện đó, một thanh niên tên là Matt đến chia sẻ với ngài câu chuyện cuộc đời cậu ta. Nghe xong vị Linh mục yêu cầu cậu thanh niên phổ biến câu chuyện ấy để chia sẻ với những người khác, Matt vui vẻ nhận lời. Sau đây là câu chuyện của Matt được ghi lại bằng chính những dòng chữ của câu:
“Khi tôi lên 11 tuổi, bố tôi bỏ nhà ra đi… Cả gia đình hầu như tan nát hết, ai nấy đều khóc lóc than van suốt bao nhiêu tuần lễ trừ mỗi mình tôi… Tôi bắt đầu căm ghét bố, chủ yếu vì ông đã làm cho bà mẹ thân yêu của tôi đau khổ… Thế là tôi bắt đầu đi vào con đường tội phạm và ma túy vào năm 12 tuổi. Tôi đã từng bị bắt ba lần về tội ăn trộm xe hơi… là một Kitô hữu, mẹ tôi lôi cổ tôi đến dự cuộc tĩnh tâm ở đây… Tôi chả biết gì về việc này, nhưng cũng ghi tên tham dự để bà khỏi rầy… Một lần, trong buổi hội thảo với một nhóm đông người, tôi bỗng mơ màng nghĩ đến Chúa, và thấy mình đang quì gối xuống trước Chúa Giêsu đang bị treo trên thánh giá. Vô số tội lội nặng nề để xuống trên tôi… Tôi khóc lóc van xin tha thứ. Trong khi tôi khóc lóc, Chúa đã tha thứ cho tôi… vì Ngài yêu tôi. Ngài yêu tôi bất chấp tất cả tội lỗi xấu xa mà tôi đã phạm… Tôi mở mắt ra đưa tay lau khô dòng lệ… Cuối cùng, tôi biết rằng Chúa thực sự hiện diện…
Sau khi cuộc tĩnh tâm ấy kết thúc, lần đầu tiên trong đời, tôi sống tử tế: không thuốc lá, không cờ bạc, không uống rượu. Tôi dành luôn một ngày nghỉ tiếp theo đó để suy nghĩ và cầu nguyện. Trong lúc đọc Thánh Kinh tôi chợt nghĩ đến bố tôi. Tôi không muốn còn bất điều gì ngăn trở tôi được sống gần gũi với Chúa Giêsu. Vì thế, tôi gọi điện thoại cho bố tôi…
Đêm đó trong khi vừa đi đến căn hộ của bố, tôi vừa cầu xin Thánh Linh soi đường chỉ lối. Khi tôi đến nơi, cả hai bố con ngồi xuống bên nhau một hồi lâu mà chẳng ai mở miệng nói một lời nào. Cuối cùng bố tôi lên tiếng hỏi: “Mục đích con đến đây làm gì? Tôi cảm thấy nẹ nhõm khi nghe bố hỏi, nhưng tôi chẳng biết vào đề ra sao cả. Và tôi giải thích cho bố là cuối tuần qua tôi học biết rằng tôi không được xét đoán ai về bất cứ điều gì. Đoạn, tôi xin bố tha thứ cho tôi về cái tội đã căm ghét và đã có những lời chua cay kết án ông… Nghe xong bố tôi liền đứng lên đi ra khỏi phòng một lúc, rồi trở lại, trên tay cầm một bọc giấy… đoạn ông rút ra một mảnh giấy,hai cha con cùng đọc. (Đây là một lá thư tôi đã viết gởi cho ông mắy năm trước). Tuồng chữ trên mẩu giấy như sau: “Bill, ông nghĩ ông là ai và ông có biết ông đang làm gì không? Kể từ đây tôi chẳng cần ông điều gì nữa hết – Ký tên: Matt, kẻ đã từng là con ông”. Lập tức tôi nhận ra mọi nỗi đớn đau bố tôi phải chịu đựng trong bao năm lưu giữ mẩu giấy này… Tôi nhảy đến ôm lấy bố. Dòng lệ yêu thương tha thứ. Lập tức tuôn trào trong mắt ông… Lúc đó tôi cảm thấy như vừa bước qua cửa ngục… Thế là tôi không còn bị giam hãm trong niềm căm ghét nữa. Hai bố con ngồi chuyện vãn thêm một lúc, đoạn tôi tiến đến hôn vào môi bố nói lời tạm biệt rồi ra về… Đêm đó tôi gọi taxi về nhà, nhưng khi còn khoảng hai dãy nhà nữa thì tới nơi, tôi liền bảo tài xế dừng lại để tôi đi bộ. Nhưng niềm vui chan hòa trong tim khiến tôi bỗng dưng rảo bước rồi chạy thật mau. Vừa chạy hai tay tôi vừa dang ra, miệng hét to: “Nhờ Chúa đã yêu thương bố!” Đêm ấy quả thực Chúa đã ban cho tôi một sự kỳ diệu”.
Đây là một trong những câu chuyện cảm động nhất tôi đã từng được nghe. Nó càng thích hợp đặc biệt với các bài đọc hôm nay khi nó minh họa cho lòng tha thứ của Chúa đối với vua David trong bài đọc thứ nhất, và lòng thứ tha trọn vẹn vô điều kiện Chúa Giêsu ban cho người phụ nữ trong bài Phúc Âm hôm nay, đồng thời nó cũng minh họa sự tha thứ mà Chúa Giêsu dạy chúng ta phải có đối với nhau. Càng đọc Phúc Âm chúng ta càng thấy rõ Chúa Giêsu tràn đầy lòng tha thứ, và Ngài cũng dạy chúng phải bắt chước như thế, đồng thời Ngài cho chúng ta thấy rõ rằng nếu chúng ta tha thứ cho kẻ khác thì Chúa mới tha thứ cho chúng ta. Ngài nói: “Nếu các ngươi tha thứ cho kẻ khác… thì Cha trên trời sẽ tha thứ cho các ngươi. Còn nếu các ngươi chẳng tha thứ cho kẻ khác thì Cha trên trời cũng sẽ không tha thứ cho các ngươi” (Mt 6: 14-15)
Từ đó chúng ta bước sang chủ điểm thứ hai. Câu chuyện của Matt cũng góp phần soi sáng cho tinh thần ngày dành riêng cho các bậc làm cha hôm nay. Nó cho chúng ta thấy điều chúng ta vẫn thường hay quên: đó là chúng ta có thói quen nghĩ rằng những người bố đều là những con người toàn hảo. Thực ra, các ngài cũng chỉ giống như chúng ta, cũng phạm những lỗi lầm, đôi khi còn trầm trọng nữa là khác. Tuy nhiên bên cạnh những lỗi lầm này, các ngài vẫn là những con người giàu tình thương, giống như ông bố kia giữ mãi hằng bao năm trời lá thư gây nhức nhối của một đứa con cũng tràn đầy đau khổ. Nếu bố của Matt đã không giữ lại lá thư ấy suốt bao năm trời, thì có thể Matt sẽ không bao giờ có được cơ may để chứng tỏ cho cậu thấy ông yêu cậu biết bao. Và vì thế, câu chuyện của Matt quả là một minh họa tuyệt vời vừa cho tinh thần của ngày dành riêng cho các bậc làm cha vừa cho tình thần thứ tha thắm đượm trong các bài đọc hôm nay. Câu chuyện ấy chứng tỏ cho chúng ta thấy năng lực mầu nhiệm của lòng tha thứ có thể làm cho vỡ trở nên lành, bẩn trở thành sạch sẽ. Đây là tin mừng trong các bài đọc hôm nay mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ cho chúng ta. Và đây cũng là tin mừng chúng ta đang trọng thể mừng kính trong ngày dành riêng cho các bậc làm cha này.
Chúng ta hãy kết thúc với những lời nói đầy xúc động của một vị tướng Mỹ lừng danh, đồng thời cũng là một người cha gương mẫu trong gia đình, đó là tướng Douglas Mac Arthur:
“Tôi là một chiến binh chuyên nghiệp. Và tôi rất hãnh diện về điều ấy – nhưng tôi còn vô cùng hãnh diện hơn vì được làm một ông bố. Tôi hy vọng rằng một mai khi tôi qua đời, đứa con trai của tôi sẽ không nhớ đến tôi như một chiến binh lúc nào cũng ở trận địa, mà là một ông bố hiện diện trong nhà đang cùng nó đọc lời kinh nguyện đơn sơ hằng ngày: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng… Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.



27. Con người là ai? - Gp Vĩnh Long
Người ta thường nói không sợ người có lỗi nhưng sợ người không nhìn nhận mình có lỗi. Qủa thật, có thấy mình sai thì mới có thể sửa được, không thấy mình có lỗi thì làm sao mà sửa được. Nhờ những lần vấp ngã, sai lầm mà con người tích luỹ cho mình những kinh nghiệm quý báo cho cuộc sống.
Hôm nay Chúa Nhật XI Thường niên Giáo hội muốn cho mỗi người chúng ta thấy rõ con người thật của mình là đầy bất xứng, đầy tội lỗi nhưng Thiên Chúa vẫn một mực yêu thương tha thứ lại còn muốn ban cho nhiều hơn những gì mà chúng ta muốn lãnh nhận.
Trong bài đọc I: 2Sm 12, 7-10.13 cho chúng ta thấy rõ tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho tôi tớ của Ngài là vua Đavít. Mặc dù Đavít đã phạm tội, phạm trọng tội, đã cướp vợ của người khác cho dù ông đã dư vật, vậy mà Thiên Chúa vẫn tha thứ cho ông khi ông nhìn nhận tội lỗi của mình “ Tôi đã đắc tội với Chúa”. Bài Tin mừng Lc 7, 36-8,3 cũng được chọn theo tư tưởng này. Người phụ nữ tội lỗi nhìn nhận mình có tội đã lấy nước mắt rửa chân cho Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau rồi xức thuốc thơm biểu thị sự ăn năn sám hối nhìn nhận con người thật của mình. Ở đây Chúa Giêsu thật là mạo hiểm khi đang ở trong nhà của người Pharisêu lại để người phụ nữ tội lỗi chạm đến mình lại còn so sánh người Pharisêu này với chị phụ nữ tội lỗi mà là một sự so sánh kém hơn, một sự sỉ nhục đối với người Pharisêu. có phải Chúa Giêsu muốn hạ giá người Pharisêu này không? Chắc chắn là không phải thế. Nhưng Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rõ con người thật của mình để đừng huênh hoang tự đắc, để đừng lên mặt kiêu kỳ vì tất cả mọi người đều là những tội nhân, đều cần đến lòng thương xót Chúa. Người được Chúa yêu nhiều không phải là người làm được nhiều việc cho Chúa, cũng không phải là người có nhiều hy sinh chịu khó để cầu mong Chúa trả công nhưng là người biết cậy dựa vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ta có làm được nhiều việc tốt, có hy sinh chịu khó thật nhiều; rất tốt nhưng hãy xem đó là những gì mà ta đáp lại tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Quan trọng hơn hết là ta tin tưởng, cậy dựa vào ơn Chúa. Thánh Phao lô nói trong bài đọc II: “Chúng ta biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì luật dạy nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô ”.
Là con người yếu đuối ta dễ dàng sa ngã phạm tội nhưng ta lại thường lên mặt kiêu kỳ đối với người khác. Nhìn vào mẫu gương Đavít ta sẽ học được bài học cho chính mình. Đavít tin tưởng vào Chúa, thánh thiện nhưng vì ông mất cảnh giác đã sa đà theo đam mê mà phạm tội. Ông thấy mình mạnh mẽ, oai hùng nên thiếu trông cậy vào Chúa và ông đã sa ngã. Tuy thế Chúa không bỏ ông bởi ông vẫn tin tưởng vào Chúa, ông nhìn nhận tội lỗi mình. Nhìn nhận tội lỗi mình là nhìn nhận chính mình đã sai lầm, đã xúc phạm đến Thiên Chúa và chờ mong được tha thứ. Con người chúng ta cũng thế đôi lúc ta cứ ngỡ mình đạo đức tốt lành rồi ta ngủ quên trên những ảo tưởng đó mà quên mất rằng khi ta không cậy dựa vào Chúa thì ta sẽ lạc lối như Đavít đã lạc lối. Và nếu có lạc lối ta hãy được như Đavít thật lòng thốt lên với Chúa “ Tôi đắc tội với Đức Chúa ” để được Thiên Chúa tha thứ cho ta.Trong các bước thực hành Bí tích Hoà giải thì ăn năn tội được xem là bước quan trọng hơn hết vì khi đã thấy tội lỗi là xấu, là thật lòng thống hối muốn quay trở về, là cầu mong được tha thứ.
Hôm nay Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết nhận chân con người của mình là yếu đuối, là mỏng giòn, là tôị lỗi. Mỗi người chúng ta ai cũng tội lỗi nên ta hãy cảm thông với anh em mình vì chúng ta đều là những người cần đến lòng nhân từ Chúa. Hãy mau quay trở về để nhận nơi Thiên Chúa sự tha thứ yêu thương. Tuy nhiên cũng đừng vì quá ỉ lại vào tình thương Thiên Chúa mà ta cứ mãi chìm sâu trong tội lỗi mà nghĩ rằng Chúa sẽ tha thứ cho mà. Chắc chắn Chúa sẽ tha thứ nhưng một người con ngoan, một đứa con hiếu thảo chắc sẽ không kéo dài sự buồn phiền nơi tâm hồn cha mẹ mình vì sự lỗi lầm của mình mà sẽ mau mắn trở về trong vòng tay cha mẹ. Thiên Chúa cũng thế! Chúa cũng sẽ tha thứ khi con người nhận ra lầm lỗi của mình, khi con người biết nhờ đến lòng thương xót Chúa. Nhưng sẽ là bất xứng khi ta ỷ lại vào tình thương này mà ở mãi trong lầm lỗi.



28. Liều mình vì yêu - Gp Vĩnh Long
Một ngày nọ tôi được báo tin người bạn thân sắp làm đám cưới. Tò mò muốn biết người mà bạn ấy sắp cưới là ai. Té ra đó là một người phụ nữ quê mùa lại mắc phải một dị tật bẩm sinh. Một sự chọn lựa quả là hơi khác thường nơi người bạn của tôi. Nhưng ở đời cái gì cũng có lý do của nó. Tìm dịp thuận tiện tôi đã đến hỏi thăm bạn ấy: “Sao mà liều thế, dám chọn cô ta không sợ người khác chê cười sao?”. Anh bạn chỉ trả lời một câu đơn giản: “Vì tôi yêu cô ta”. Đúng vậy, khi yêu thì người ta dám làm tất cả, người ta dường như chẳng còn sợ gì cả.
Đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay cho chúng ta một mẫu gương liều mình vì yêu. Mẫu gương đó lại là một phụ nữ tội lỗi. Có nhiều chi tiết mà Thánh Luca cho thấy chị ta thật liều lĩnh. Chi tiết đầu tiên là chị dám xông vào giữa bữa tiệc. Bữa tiệc này do chính người Pharisêu được gọi là người công chính đứng ra tổ chức. Chị là người phụ nữ lại là người tội lỗi mà đã hiên ngang bước vào. Chị ta quả là người “điếc không sợ súng”.
Chi tiết thứ hai là quỳ xuống dưới chân Chúa Giêsu khóc nức nở rồi xổ tóc ra lau chân Người. Theo phong tục người Do thái, người nữ phải giấu kín tóc của mình trước mọi người. Đến nỗi nếu người chồng thấy được vợ mình xổ tóc trước đám đông thì có quyền ly dị với nàng. Không những thế, chị còn đập vỡ bình bạch ngọc đựng dầu thơm trị giá 300 quan tiền tương đương thu nhập cả năm mà đổ lên chân Chúa Giêsu.
Như thế, tình yêu đã thúc đẩy người phụ nữ này liều mình đến với Chúa Giêsu. Chị tin nơi Thầy Giêsu sẽ tha thứ cho những yếu đuối của mình. Và kết quả chị đã được như lòng mong đợi. Người đã nói: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều”. Chẳng những được tha mà chị còn được Chúa Giêsu bênh vực khi người chủ nhà có ý trách móc. Từ đó, chúng ta thấy Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của con người. Mặc dầu, những gì con người làm chẳng đáng là bao. Nhưng khi con người làm với cả tấm lòng nhất là với lòng mến thì Thiên Chúa sẽ không để cho ta chịu thiệt bao giờ.
Chúng ta nhớ Thánh Phêrô khi Chúa Giêsu bị bắt, vì chưa có lòng mến nên ông chưa dám liều mình tuyên xưng mình là môn đệ của Chúa Giêsu. Ông đã vội vàng chối Thầy chỉ với những người hết sức bình thường. Ngược lại, sau đó Chúa Giêsu hỏi ông ba lần có mến Người không thì ông đã trả lời: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21, 17). Lúc này ông đã trả lời với xác tín mạnh mẽ. Chính lúc ấy Chúa Giêsu đã trao phó sứ mạng đặc biệt cho ông là chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Một sứ mạng phải nói cam go, thử thách và đòi hỏi nhiều sự liều lĩnh. Vì lòng mến nên ông đã hoàn thành sứ mạng Chúa Giêsu trao phó một cách tốt đẹp.
Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23). Mỗi người chúng ta hãy nhìn lại xem lòng mến của ta vào Chúa như thế nào? Chúng ta có dám liều mình tuân giữ Lời Chúa giữa thế giới này không? Giữa một thế giới mà người ta xem việc lừa dối, gian xảo là chuyện hết sức bình thường chúng ta có dám liều mình để nói và sống sự thật không? Giữa một thế giới mà người ta ham mê quyền lực đến nỗi sẵn sàng chà đạp lẫn nhau chúng ta có dám liều mình sống khiêm tốn, nhường nhịn và yêu thương nhau không? Giữa một thế giới có nhiều người đặt Thiên Chúa thành giá trị thứ yếu trong cuộc đời của mình, chúng ta có dám liều mình để đặt Thiên Chúa làm giá trị hàng đầu không?
Xin Chúa Giêsu thương gia tăng lòng mến cho ta vào Chúa. Nhờ đó, chúng ta dám liều mình tuân giữ Lời Chúa hằng ngày trong cuộc sống.



29. “Tội tình”
Người ta thường nói "tội tình". Cách nói vô ý thức ấy lại chứa đựng một chân lý rất sâu sắc: tội lỗi và tình thương thường đi đôi với nhau. Trong bài Tin Mừng hôm nay thì ta thấy rằng chữ tình đi trước: "Tội của chị rất nhiều nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều". Vì yêu mến nên chị được tha. Thiên Chúa là tình yêu, Ngài luôn yêu thương chúng ta và tình yêu của Ngài luôn đi trước. Thánh Kinh đã ghi nhận nhiều bằng chứng là Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta trước. Chính tình yêu của Ngài kêu gọi chúng ta sám hối, rồi tình yêu của Ngài tha thứ chúng ta, sau đó tình yêu của Ngài lại khuyến khích chúng ta yêu mến Ngài hơn. Tóm lại tình yêu Thiên Chúa bao trùm tất cả, trước, trong và sau khi chúng ta phạm tội.
Trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 7, 36 - 8, 3) ông Simon là một người biệt phái, nên ông ghét người tội lỗi. Đối với ông, người phụ nữ tội lỗi kia là thứ người phải bỏ đi, không đáng được cứu. Ngày xưa và ngày nay có rất nhiều như Simon như thế. Họ không tin rằng con người có thể sửa đổi, vì thế họ không cho kẻ tội lỗi có cơ hội sửa đổi. Nếu một nền văn minh không tin vào sự cứu rỗi là một nền văn minh không có niềm hy vọng. Tuy nhiên, phần Chúa Giêsu, Ngài biết người phụ nữ này có tội, nhưng Ngài cũng thấy tấm lòng tốt của chị. Ngài tin tưởng vào khả năng tốt ấy và giúp chị đứng dậy. Ngài không lên án mà còn yêu thương chị. Thái độ của Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết nhận ra điều tốt nơi người khác và yêu thương người ấy. Tội lỗi chỉ có thể cứu chữa bằng yêu thương. Kết án không bao giờ giải thoát.
Bài đọc Cựu ước trích từ sách tiên tri Samuel hôm nay nhắc lại trường hợp phạm tội của vua Đavít. Có thể nói vua Đavít đã phạm tội rất khéo: ông đã ngoại tình với vợ của tướng Uria, sau đó lại dùng âm mưu để giết chết Uria để che dấu tội mình, sau đó công khai cưới bà vợ góa ấy làm vợ mình. Rõ ràng đó là một tội rất nặng. Bài Tin Mừng hôm nay cũng đưa ra một người phụ nữ tội lỗi nữa, chị hành nghề không tốt. Nghề này chẳng những đem lại tội cho bà, mà còn làm cho nhiều người khác phạm tội. Đây cũng là một tội nặng, rất nặng. Nhưng cả hai người tội rất nặng đó đều đã được tha, tha rất dễ dàng và nhanh chóng. Vua Đavít nói với tiên tri Nathan "Tôi đã phạm tội cùng Chúa", thì Natan đáp ngay "Chúa đã tha tội cho vua rồi". Còn người đàn bà kia quỳ khóc dưới chân Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu nói với chị "Tội con đã được tha rồi".
Nếu so sánh trường hợp tội lỗi của hai nhân vật trên với trường hợp tội lỗi của chúng ta, chúng ta cảm thấy an tâm. Trong chúng ta đây, mặc dù ai cũng đều có tội, nhưng không ai tội nặng bằng hai người đó: ngoại tình, giết chồng đoạt vợ người ta? Nhưng Chúa tha thứ tội cho hai nhân vật ấy một cách hết sức dễ dàng và nhanh chóng! Nên có lẽ chúng ta thấy an tâm. Nhưng do an tâm mà mình đâm ra coi thường những tội của mình, không coi đó là tai hại bao nhiêu, không hối cải, không quyết tâm từ bỏ. Ngày nay, nhiều người xưng tội một cách nhanh chóng, qua loa, cho xong bổn phận mà không tỏ ra hối hận, sửa đổi, xưng tội xong là cứ phạm tội tiếp, lần xưng tội sau thì cũng vẫn bấy nhiêu tội như lần xưng trước. Thậm chí nếu thấy có Cha ngồi sẵn trong tòa giải tội là mình có thể bước vào xưng ngay không cần xét mình cẩn thận, vì ta đã thuộc lòng các tội ta quen phạm rồi!có những lỗi tội chẳng những có hại cho chính bản thân mình mà còn có hại cho nhiều người khác nữa như nhậu vô một chút rồi đánh vợ, chửi con, cờ bạc, nói xấu người khác, ăn cắp, buôn bán gian lận... Vậy mà nhiều người rất coi thường chúng nên phạm hoài, lần xưng tội nào cũng có những tội đó.
Tội của Đavít, tội của người phụ nữ kia dù rất nặng nề nhưng vì hai người đã nhìn nhận mức độ nặng nề của nó và thành tâm thống hối nên đã được Chúa tha thứ. Còn những tội của chúng ta, tuy không nặng nề bằng nhưng nếu ta không nhìn nhận sự tai hại của nó và không hối cải thì cũng không được tha! Lời Chúa hôm nay cho chúng ta đã thấy Chúa không quan tâm tới tội ta phạm là nặng hay là nhẹ, nhưng Chúa chú trọng đến lòng thống hối ăn năn và Chúa chờ đợi, tin tưởng vào sự quyết tâm sửa đổi của chúng ta. Do đó, chúng ta hãy quyết tâm hối cải và can đảm thay đổi đời sống tốt hơn.
Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít" (Lc 7, 47). Người phụ nữ tội lỗi là người yếu đuối lầm lỡ trong tội, nhưng đã được Chúa Giêsu bao dung tha thứ, nên đã mau mắn đáp lại tình yêu, để rồi cuộc đời bắt đầu từ nay được đổi mới. Có thể nói: "lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa" (A. Pope). Nhưng người ta chỉ có thể lãnh nhận ơn tha thứ khi đã có lòng tin: Tin vào Thiên Chúa luôn yêu thương, Người sẵn sàng tha thứ. Chính lòng tin đã đem lại ơn tha thứ: "Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy đi bình an" (Lc 7, 50) và ơn tha thứ đã làm đổi mới tội nhân, để họ mãi mãi bước đi trong bình an. Tuy nhiên, tình yêu và lòng tin của chúng ta cần phải được biểu lộ cách cụ thể qua lòng sám hối, nhận mình có lỗi, và chỉ những ai nhận mình lầm lỗi mới được Thiên Chúa thứ tha. "Không nhận ra lầm lỗi là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm". Quả thật, nếu ai cho mình không có tội thì đâu cần Thiên Chúa thứ tha. Nhưng Thánh Gioan lại nói rằng: "Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta" (1 Ga 1, 8).
Thiên Chúa là tình yêu tuyệt hảo, nơi Ngài không có chút chi tội lỗi. Chúng ta hãy mạnh dạn đến với Thiên Chúa, mạnh dạn hối cải, và lãnh nhận ơn Chúa nơi Bí tích Giải tội, siêng năng lãnh nhân Chúa Giêsu Thánh Thể. Chúa ở với chúng ta thì ta được hạnh phúc, Chúa ban bình an, niềm vui và sự thành công cho chúng ta. Chúa sẽ chúc phúc cho gia đình chúng ta nữa. Chúa ở trong lòng chúng ta thì Cháu sẽ giúp chúng ta can dảm nói không với tội tỗi và đáp trả tình yêu trong cuộc sống đối với Thiên Chúa và còn đối với tha nhân nữa.
Vì thế, là bậc phụ huynh, những người làm cha mẹ hãy nêu gương lành cho con cái, dạy dỗ con cái sống yêu thương hòa thuận, tránh xa tội lỗi nhưng còn biết yêu thương tội nhân. Cách dạy dỗ có thể nói hay nhất là sau kinh tối trong gia đình. Ở đó họ sẽ lắng nghe Lời Chúa và sự khuyên dạy của Cha mạ nữa. Gia đình quây quần bên nhau vào buổi tối để đọc kinh cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa thì con cái trong gia đình ấy sẽ nên người hơn, mọi người có cơ hội sống tình hiệp thông, chia sẻ niềm vui nỗi buồn và nhờ đó họ sẳn sàng sống yêu thương, bác ái với mọi người. Bầu khí ấy là sự khởi đầu cho những mầm ơn gọi nên thánh phát triển.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra lỗi lầm của mình, và mau mắn chân thành sám hối, để được Chúa tha thứ và ban cho ơn bình an. Xin cho chúng con biết thực thi giới răn yêu thương của Chúa trong gia đình và ngoaì xã hội. Xin Chúa luôn hiện diện trong lòng chúng con, để chúng con luôn biết làm điều đẹp lòng Chúa. Amen.



30. Thành tâm thống hối
1. Thực tế cuộc sống cho thấy, khi ta lỗi phạm với ai một điều gì, lỗi càng nặng, khi được tha, thì ta càng quý mến người đã tha thứ cho ta. Đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta suy nghĩ về điều đó. Người phụ nữ tội lỗi trong đoạn Tin Mừng nầy là ai? Luca không chú ý đến lý lịch của chị, cho nên ta cũng không cần suy đoán là Madalena, hay Maria làng Bêtania... chỉ cần biết đây là một người phụ nữ tội lỗi, có lẽ là một nàng điếm, hay một người sống ngoại hôn. Nghe tin Đức Giêsu dự tiệc nơi nhà của một người Pharisêu, chỉ tìm đến để xin Chúa tha thứ thể hiện qua việc thành tâm thống hối.
2. Theo phong tục Do thái, nhưng bữa tiệc thịnh soạn, người ta thường nằm mà dự. Lúc Đức Giêsu đang dự tiệc, chị nầy "khóc" và những giọt nước mắt rơi trên chân Chúa, và chị "lấy tóc mà lau", những thái độ nói lên cảm xúc rất mạnh. Cũng nên biết rằng mở khăn che đầu, để tóc xổ ra là điều rất ô nhục đối với phụ nữ Do thái. Tin Mừng cũng ghi lại, chị hôn chân Chúa, một thái độ nói lên sự khiêm tốn và tỏ lòng biết ơn.
Trước thái độ thành tâm thống hối của chị đối với Đức Giêsu chứng tỏ chị tin rằng Người có quyền tha thứ những lỗi lầm, thiếu sót của mình. Đức Giêsu đã nói:"Tội của chị đã được tha rồi". Câu nói nầy của Đức Giêsu khiến cho những người đồng bàn phải thắc mắc: Ông nầy là ai mà có quyền tha tội? Bởi chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền nầy mà thôi (x. Mc 2,7; Lc 5,21). Vâng, Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, bởi vì Người là Thiên Chúa, nên Người không những thực hiện được các phép lạ, mà giờ đây quyển năng ấy còn biểu hiện qua việc tha tội.
3. Đọc Tin Mừng nhất là qua đoạn Tin Mừng hôm nay, có một điều cũng rất đáng cho chúng ta suy nghĩ, đó là những người Pharisêu và Đức Giêsu giống nhau ở điểm coi tội lỗi là xấu, nhưng khác nhau trong cách đối xử với người tội lỗi. Những người Pharisêu tìm cách loại trừ người tội lỗi cho dù họ có thành tâm thống hối đi nữa, còn Đức Giêsu thì tìm cách giúp cho người tội lỗi được tốt hơn.
Loại trừ, hạ thấp người khác để khẳng định cái tôi của mình, nâng mình lên là khuynh hướng tự nhiên của con người. Nhưng đừng quên, Chúa muốn chúng ta không ngừng nâng cao phẩm giá của mình, nhưng cũng phải có trách nhiệm nâng cao phẩm giá của anh chị em mình bằng nhiều phương cách, trong đó đặc biệt là việc tha thứ, tạo cho anh chị em của mình một cơ hội vươn lên. Thiết nghĩ rằng người phụ nữ tội lỗi hôm nay sẽ quyết tâm đổi đời và không bao giờ quên những lời nói chân tình đầy khoan dung của Đức Giêsu:"Tội của chị đã được tha rồi", hay "Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy đi bình an".
4. Là con người, ai dám khẳng định mình là vô tội trước mặt Thiên Chúa. Điều quan trọng là khi lỡ phạm tội thì hãy thành tâm thống hối, như người phụ nữ nầy. Thành tâm thống hối như là điều kiện căn bản để lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Cảnh tượng tha thứ như thế vẫn được tái diễn nơi toà giải tội, hay mỗi khi chúng ta thật lòng năn thống hối về những thiếu sót chúng ta đã phạm. Hãy cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa để rồi từ đó ta quyết tâm sống tốt hơn. Đồng thời cũng phải tha thứ cho nhau như điều kiện để Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta như trong lời kinh Lạy Cha mà chính Đức Giêsu đã dạy.



31. Chú giải và suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long
ĐỨC GIÊSU THA THỨ CHO NGƯỜI PHỤ NỮ TỘI LỖI
CÁC PHỮ NỮ ĐI THEO ĐỨC GIÊSU
1.- Ngữ cảnh
Toàn chương 7 Lc được bố trí xung quanh chứng từ của Đức Giêsu về Gioan Tẩy Giả: bắt đầu là hai bài tường thuật về phép lạ (7,1-10 và 7,11-17); sau đó là bài tường thuật về người phụ nữ tội lỗi (7,36-50); ở giữa là ba hoạt cảnh diễn tả quan hệ giữa Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu (7,18-23; 7,23-30; 7,31-35). Chúng ta có thể cho rằng ngữ cảnh là như sau: Ở trong tù, Gioan đã cho người đi gặp Đức Giêsu mà đặt câu hỏi: “Thầy có thật là Đấng phải đến không?…” (7,20). Như Người đã làm trong diễn từ khai mạc ở Nadarét, Đức Giêsu trả lời bằng cách trích ngôn sứ Isaia (26,19; 35,5t; 61,1). Nhưng Người thay thế câu “Hôm nay đã ứng nghiệm …” (4,21) bằng các hành vi: “Người chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền…” (7,21). Người muốn chứng minh cho Gioan và các đồ đệ ông biết rằng Người đúng là Đấng phải đến, bởi vì Người làm ứng nghiệm Kinh Thánh. Hai phép lạ được nêu ra ở đầu ch. 7 (chữa người nô lệ của viên sĩ quan; cho con trai bà góa Nain sống lại) là như một yếu tố để chứng minh. Đứng trước phép lạ Nain, đám đông đã reo lên: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta” (7,16). Vậy Đức Giêsu đúng là vị ngôn sứ được Kinh Thánh loan báo, và Gioan có nhiệm vụ dọn đường cho Người.
Nhưng Người đã được đón tiếp như thế nào? Khi những người Gioan cử đến đã đi, Đức Giêsu giải thích: có những người, đó là toàn dân và đặc biệt những người bị khinh bỉ nhất, những người thu thuế, đã “biện minh” cho Thiên Chúa, đã cho thấy rằng Ngài có lý, khi xin Gioan làm phép rửa cho mình; còn những người khác, những người Pharisêu và các thầy thông luật, khi từ khước phép rửa này, đã làm cho chương trình của Thiên Chúa nên vô ích cho họ.
Có hai yếu tố của bản văn trên đây được nhắc lại trong hoạt cảnh Người phụ nữ tội lỗi, nên đã liên kết hoạt cảnh này vào văn cảnh trên. 1) Tư cách ngôn sứ: Câu nói của người Pharisêu là “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào…” (c. 39); thế mà Đức Giêsu đã trả lời bằng một hành vi: tha tội. 2) Tiếp đón: Vị ngôn sứ này đã được tiếp đón cách tuyệt vời bởi con người bị khinh bỉ nhất, một phụ nữ tội lỗi. Vậy bản văn này phải được kể là thuộc về toàn bộ ch. 7. Đây chính là lối viết văn quen thuộc của tác giả Lc: ngài thích viết các truyện thành hai bảng. Trong bảng thứ nhất, ngài cho thấy cách thức Kinh Thánh được hoàn tất bởi và nơi Đức Giêsu. Sau đó, có một câu hỏi hoặc một sự cố khơi lại đề tài, và Lc sẽ cho thấy rằng cách thức Đức Giêsu hoàn tất Kinh Thánh thì đẹp và sâu hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể hy vọng hoặc tưởng tượng (x. Hoạt cảnh Truyền tin; hoạt cảnh Đức Giêsu trước Thượng Hội Đồng).
Bài đọc Phụng vụ nối thêm vào một đoạn nhỏ nói về các phụ nữ “đi theo” Đức Giêsu, tức là làm môn đệ Người.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Đức Giêsu, ông Pharisêu và người phụ nữ tội lỗi (7,36-50):
1- Phần một (cc. 36-40):
A (36-38)
B (39)
C (40-43)
2- Phần 2 (44-50)
A’ (44-46)
C’ (47)
B’ (48-50)
2) Các phụ nữ đi theo Đức Giêsu (8,1-3).
* Trình bày kết cấu của 7,36-50:
Chúng ta có thể chia bản văn thành hai phần. Cả hai phần đều bắt đầu bằng cử chỉ của Đức Giêsu là “vào” nhà ông Pharisêu Simôn và nhấn trên sự hiện diện của người phụ nữ. Cả hai phần đều nêu ra các cử chỉ của bà này (cc. 37-38) mà đối lập với ông Pharisêu trong phần 2 (cc. 44-46). Do đó, ta có thể đặt song song hai phần nhỏ A (cc. 36-38) và A’ (cc. 44-46).
Hai câu hỏi “trong lòng” (nghĩ bụng) về căn tính của Đức Giêsu cho phép xác định hai phần nhỏ khác là B (c. 39) và B’ (cc. 48-50). Hai phần nhỏ này không có cùng một vị trí như nhau. Tương ứng với phần C (cc. 40-43) trong đó có bài dụ ngôn nhỏ Hai con nợ, là lời tha tội ở C’ (c. 47).
Vậy lược đồ của toàn bản văn là A-B-C x A’-C’-B’. Cấu trúc này xoay quanh chủ đề “xét đoán” (krinô) được diễn tả bởi chi câu trung tâm là c. 43b. Trong phần 1, người “nghĩ bụng (tự nhủ, en heautô) là ông Pharisêu Simôn, ông nghi ngờ căn tính ngôn sứ của Đức Giêsu vì có liên quan đến căn tính của người phụ nữ tội lỗi. Cũng ông Simôn đã được mời dựa vào dụ ngôn và đoán xét về lòng biết ơn của hai con nợ. Trong phần 2, người “xét đoán” là Đức Giêsu, Người tỏ cho thấy là Người biết người phụ nữ có “nhiều tội”, nhưng đồng thời cũng biết là chị ấy “mến” nhiều. Những người đồng bàn “nghĩ bụng” (en heautois) về khả năng của Đức Giêsu là tha tội. Cuối cùng, cả hai phần kết thúc bằng hai từ tương tự: “tha, charizô” (c. 43a) và “cứu, sôzô” (c. 50). Chiều kích “xét đoán” nằm tại trung tâm của mỗi phần: trong B, người Pharise6u xét đoán người phụ nữ và Đức Giêsu, còn trong C’, Đức Giêsu xét đoán (tích cực) người phụ nữ khi chặn ông Pharisêu.
3.- Vài điểm chú giải
- Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa (7,36): TM Lc là Tin Mừng duy nhất cho thấy có ba lần Đức Giêsu được người Pharisêu mời dùng bữa (ở đây; 11,37 và 14,1). Ở chỗ khác, ta thấy người Pharisêu đối xử tốt với Đức Giêsu, chẳng hạn khi họ báo cho Người biết là Hêrôđê tìm giết Người (13,31). Có lẽ Lc gần với thực tế lịch sử hơn Mc và nhất là Mt. Phải chăng Lc có cách nhận định mềm dẻo như thế vì ngài đã chịu ảnh hưởng tông đồ Phaolô, mà vị này thì rất tự hào về tư cách Pharisêu (Pl 3,5; Cv 23,6; 26,5).
- vào bàn ăn (7,36): Bản Hy Lạp là keteklithê, “nằm dài ra”. Như vậy, Đức Giêsu đã được mời ăn tiệc, bởi vì trong các bữa ăn thường, người ta ngồi.
- một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành (7,37): Theo các truyền thống của Họi Thánh Tây phương, ít ra từ thời Đức Grêgôriô Cả, người ta đã đồng hóa cô Maria Bêtania với người phụ nữ tội lỗi miền Galilê, và thậm chí với Maria Mácđala (8,2). Tuy nhiên, cách đồng hóa này không có cơ sở trong Tân Ước. Chị này tội lỗi có thể vì là một cô gái điếm, hay là vì đang sống trong một hoàn cảnh hôn nhân không bình thường, hoặc là vợ của một người làm một nghề bất chính (thu thuế, chăn chiên v.v.)? Ta loại bỏ nghĩa cuối cùng, vì c. 49 rõ ràng nhắm đến các tội lỗi cá nhân.
- một bình bạch ngọc đựng dầu thơm (7,37): Thường các bình này được làm bằng đá mềm, với đủ thứ hình dạng.
- lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người (7,38): Lc không cho biết nguyên do khiến chị này khóc. Các nhà chú giải thường phỏng đoán là chị ấy khóc vì hối hận. Nhưng biết đâu chị cũng khóc vì vui sướng, do đã được cảm nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa.
- hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên (7,38): Đây là những cử chỉ bày tỏ lòng biết ơn và tôn kính dành cho Đấng được nhìn nhận là tác nhân đưa lại ơn cứu độ của Thiên Chúa. Người ta hôn đầu gối hoặc bàn chân là để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa
- ông này là ngôn sứ (7,39): Các ý nghĩ của người Pharisêu phản ánh niềm tin thông thường: một ngôn sứ thì phải có khả năng nhận ra được tính cách của các con người mà họ tiếp xúc.
- Thưa Thầy (7,40): Simôn coi Đức Giêsu như là một trong các vị thầy đáng kính của xứ Paléttina. Danh hiệu didaskalos được dùng để gọi Gioan Tẩy Giả (3,12), nay được gán cho Đức Giêsu lần đầu tiên.
- mến chủ nợ (7,42): Các hành vi của chị là những hành vi diễn tả lòng biết ơn; thế nhưng Đức Giêsu lại nói đến “lòng mến”. Đó là vì tiếng Híp-ri, A-ram, Xy-ri không có động từ “cám ơn” hay danh từ “lòng biết ơn”, nên phải dùng một từ ngữ khác để diễn tả; ở đây là từ “yêu mến” (x. c. 42: cc. 44-46 // c. 47).
- Được tha nhiều vì/nên (hoti) đã yêu mến (7,47a): Có thể dịch hai cách: (i) Chị đã được tha nhiều vì đã yêu mến nhiều (= kết quả); (ii) Chị đã được tha nhiều nên đã yêu mến nhiều (= nguyên nhân). Muốn ăn khớp với ngữ cảnh, nên hiểu theo cách thứ hai: Người ta nhận ra được là chị đã được tha nhiều ở chỗ chị yêu mến nhiều. Chính kết luận của Đức Giêsu ở c. 47b cũng khẳng định như vậy, cùng với lời tiếp theo: “Tội của chị đã được tha rồi” (c. 48).
- mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh (8,2): Ta có thể kể ra cả mẹ vợ Simôn (4,38-39), nhưng có thể cho rằng bà ở lại nhà chứ không đi theo Đức Giêsu. Còn các bà khác hẳn là được nhắc đến trong các chi tiết ở 4,40-41 và 6,17-19.
- đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ (8,3): Các mà dùng cách này để bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Giêsu. “Giúp đỡ”, dịch sát là “phục vụ” (diakonein). Từ này được dùng để chỉ hoạt động của các tông đồ (Cv 1,17.25) và của bảy trợ tá (Cv 6,1), và nhất là của chính Đức Giêsu (Mc 10,45; Lc 22,27).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Đức Giêsu, ông Pharisêu và người phụ nữ tội lỗi (36-50)
Đức Giêsu được ông Pharisêu tên là Simôn mời ăn tiệc; đây là dấu chứng tỏ ông tôn kính Người, vì ông nghĩ Đức Giêsu có thể là một ngôn sứ (x. c. 39), hoặc ít ra Người cũng là một vị thầy du thuyết, đã có lần lên tiếng trong hội đường. Tuy nhiên, hoàn cảnh vẫn có tính hàm hồ. Ông chủ nhà nghĩ mình là người quan trọng, ông nắm hoàn cảnh trong tay, ông không phải đánh liều gì cả: ông đã tiếp đón Đức Giêsu nhưng với một mức lịch sự tối thiểu bởi vì ông mong muốn làm vui lòng mọi người. Bằng cách mời Đức Giêsu đến ăn tiệc, ông chứng tỏ ông có tâm trí cởi mở, có khả năng để ý đến các tư tưởng mới, một con người có một trí thông minh nào đó; tuy nhiên, bằng cách bỏ qua những cách tiếp khách quen thuộc (“Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi… Ông đã chẳng hôn tôi một cái”, cc. 44-45), ông luôn luôn có thể nói rằng ông đã giữ khoảng cách và chỉ làm một chuyện là ngó tới Người để nghe xem Người nói gì mà thôi.
Thái độ của ông chủ như thế hẳn đã làm cho bầu khi ra căng thẳng và nặng nề rồi; những người khác lại cũng đang trông chừng nhau và hẳn là cũng nói những chuyện chung chung để khỏi làm mất lòng ai.
Giữa tình thế ấy, một người phụ nữ đi vào, lại là “một người tội lỗi trong thành”, ai cũng biết (c. 37). Bà này bất kể các quy ước xã hội, bà không sợ hãi gì cả, bà tiến đến. Rồi bằng một cử chỉ thú nhận tội lỗi công khai, bà bày tỏ với Đức Giêsu những dấu chỉ diễn tả là quý mến, lòng biết ơn và tôn kính mà không một ai đã bày tỏ với Người trước đó: “lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người” (c. 38; x. c. 44), “lấy tóc mình mà lau” (c. 38; x. c. 44), “hôn chân Người” (c. 38; x. c. 45), “và lấy dầu thơm mà đổ lên” (c. 38; x. c. 46). Lòng biết ơn của bà chan hòa đến độ bà không ngại xõa tóc ra để lau chân Đức Giêsu, cho dù bỏ khăn và xõa tóc ra trước mặt phái nam là một sự ô nhục cùng cực. Bà đã làm như thế, vì bà quá sợ khi thấy nước mắt mình làm hoen ố chân Đức Giêsu, sợ đến mức quên những người đang ở chung quanh.
Không một ai đã dám làm một cử chỉ đánh liều; người phụ nữ này đã liều một bước lớn: Đức Giêsu sẽ làm gì, Người đứng về phía nào? Đức Giêsu lại chứng tỏ sự khéo léo mà lật ngược các hoàn cảnh. Người không bắt đầu với một lời trách; Người hành động cách cẩn thận. Người kể một dụ ngôn cho Simôn: “Một chủ nợ kia có hai con nợ…” (cc. 41tt), rồi đến cuối, Người hỏi ông một câu để ông nhận định. Ông đã “xét đúng” về câu chuyện, theo hình thức (c. 43): Kẻ được tha nhiều hơn, thì yêu mến nhiều hơn. Thật ra đây là một lý luận theo số lượng. Nhưng từ đó Đức Giêsu đưa ông đến chỗ biết rằng theo cái nhìn của Thiên Chúa, và cũng từ quan điểm của sự thành thật con người, hoàn cảnh này hoàn toàn ngược lại với những gì mỗi người đang nghĩ. Ông “xét đúng” câu chuyện, nhưng ông lại xét sai những con người (người phụ nữ và Đức Giêsu). Ông có một cái bên ngoài đúng đắn, có học thức và lịch thiệp, và có một cái bên trong đối lập với người phụ nữ và Đức Giêsu. Kẻ không mời mà đến, kẻ phải thật sự xấu hổ về chính mình, kẻ không đã biết cách cư xử, chính là Simôn; còn người đã xử sự đúng như hoàn cảnh đòi hỏi, đáp trả theo một cách đúng là người, đó là người phụ nữ: bà là người đã hiểu và đã nắm lấy đúng hoàn cảnh.
Nói cho cùng, từ ngữ “tình yêu” tuy không được viết ra, lại là từ ngữ trung tâm: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (c. 47). Thật ra, những người tội lỗi, những người không tin nên không mở ra với ân sủng của Đức Giêsu cũng là những người tưởng mình công chính. Đức Giêsu vẫn tiếp tục đồng bàn với họ. Như thế, có một sự lật ngược tình thế, đó là: Đức Giêsu mà người Pharisêu chỉ trích vì “đồng bàn” với người thu thuế và kẻ tội lỗi, cũng là Đức Giêsu không ngại đồng bàn với những kẻ vẫn tưởng mình đàng hoàng, nhưng thật ra có con tim khép kín với tình yêu và sự tha thứ. Với cả hai bên, Đức Giêsu đều có thể nói: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32).
* Các phụ nữ đi theo Đức Giêsu (1-3)
Qua đoạn văn nhỏ này, chúng ta thấy Họi Thánh đã có trước khi Đức Giêsu chết và sống lại. Họi Thánh gồm có Nhóm Mười Hai, và có cả một nhóm các phụ nữ. Họ cũng có một vị trí và một vai trò trong Họi Thánh. Tin Mừng Lc đã tỏ ra đặc biệt quan tâm đến các phụ nữ: tác giả cho thấy, trong khi họ bị khinh bỉ vào thời đó, Đức Giêsu kết hợp họ vào hoạt động của Người: họ phục vụ (diêkonoun, giúp đỡ, 8,3) Người, như các trợ tá, như các tông đồ và hơn nữa, như chính Đức Giêsu. Việc “phục vụ”này là thái độ căn bản của người Kitô hữu.
+ Kết luận
Toàn bản văn hôm nay như nói về chính chính hành trình thiêng liêng của chúng ta. Trước mặt Đức Giêsu, mỗi người chúng ta biết mình là người tội lỗi. Chính vì Người là ngôn sứ mà Đức Giêsu biết rõ mỗi người chúng ta như thế. Nhưng vì Người cũng là Đấng Cứu độ, là Lòng Từ bi của Thiên Chúa nhập thể, nên Người đã đến với chúng ta và tha thứ cho chúng ta. Phía chúng ta, chúng ta đã và sẽ làm gì để bày tỏ lòng biết ơn?
5.- Gợi ý suy niệm
1. Tìm cách làm vui lòng mọi người mà không phải “trả giá” đúng là cách cư xử chúng ta có thể rơi vào: chúng ta làm việc gì đó nhưng theo cách mà không ai có thể chỉ trích chúng ta, và như thế, chúng ta cẩn thận tiến đi giữa hai ý kiến mà không nhận lấy ý kiến nào cả. Thật ra cũng có khi điều này là cần thiết do hoàn cảnh, nhưng cũng chắc chắn là người nào sống như thế thì không sống đầy; người ấy giống như Simôn, chuẩn bị một bữa tiệc mời Đức Giêsu mà lại để cho bầu khí căng thẳng và nặng nề. Kêrygma làm ra như thế: nó đảo lộn các hoàn cảnh, làm cho những người nghĩ mình làm chủ tình hình phải xấu hổ và nâng cao những người hành động trong một tinh thần khiên nhường, sự thật và đơn sơ, vì muốn hiến mình, vì muốn làm một điều gì hơn, vì muốn đánh liều vì yêu thương.
2. Tin Mừng làm cho người ta ý thức về lầm lỗi của họ và ý thức mình cần được thanh tẩy: không phải bằng những lời trách móc nghiêm khắc khiến người ta rơi vào thế tự vệ, nhưng bằng cách ban cho người ta sự can đảm, sự cương quyết và tự do. Chính tất cả những điều này sẽ giúp người ta sẵn sàng đi tìm sự thanh tẩy và đạt được ơn Thiên Chúa tha thứ, khiến cuộc đời mình thay đổi hoàn toàn.
3. Nếu loan báo Tin Mừng có nghĩa là đưa đến một cuộc giải phóng bên trong để con người đạt được tiềm năng sẵn có của mình, khả năng của mình, là tự diễn tả ra và thắng vượt khối nặng các tội lỗi, thì người loan báo Tin Mừng phải cho thấy là tất cả mọi điều này đều đã và đang đúng nơi chính mình. Chính Đức Giêsu đã chứng tỏ điều đó bằng cả cuộc sống của Người.
4. Đi xưng tội là xưng thú các tội mình đã phạm, nhưng trước tiên là tuyên xưng rằng Thiên Chúa thật là cao cả trong tình yêu của Ngài, là loan báo Tin Mừng cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô. Có ý thức rằng Thiên Chúa là tình yêu cứu độ, chúng ta mới đến với Ngài để được cứu độ; có ý thức chúng ta được tha thứ nhiều, chúng ta mới có lòng biết ơn và biết diễn tả lòng biết ơn bằng lời nói và nhất là bằng đời sống, trong các quan hệ hằng ngày.



32. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin
CHÚA GIÊSU THA THỨ CHO NGƯỜI PHỤ NỮ TỘI LỖI (7,36-50)
Luca đưa vào đây một đoạn văn mà độ dài nói lên được tầm quan trọng mà ông gán cho nó; đoạn này là của riêng ông, dù không hoàn toàn không có những đoạn song song ở Mc 14,3 (và Matthêu) và ở Gs 12,3. Một sự liên hệ kép nối liền nó với những gì được nói ở trước (đặc biệt các câu 29-30 và 34 được minh hoạ khá dài ở đây): đó là những người tội lỗi biết nhìn nhận Chúa Giêsu như ngôn sứ; việc Ngài tiếp đón họ làm cho những người Pharisêu từ chối tính cách ngôn sứ của Ngài.
Tuy nhiên, câu chuyện bắt đầu thật hay: một người Pharisêu mời Chúa Giêsu đến nhà dùng một bữa tiệc mừng, trong đó khách được mời nằm mà ăn. Một sự cố mở màn cho câu chuyện: một người phụ nữ tội lỗi đi vào phòng ăn và đến nơi Chúa Giêsu đang nằm và thái độ của cô ta quá suồng sã, đúng là gai mắt thật, mãi dâm có lẽ, dù sao cô ta cũng là một người đàn bà bị ô uế. Bấy giờ Chúa Giêsu đang dùng bữa tại nhà, cô nhận ra nơi Ngài –mà chân Ngài đã đẫm ướt vì nước mắt của cô ta rồi- Đấng mang lại sự thứ tha và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho những người tội lỗi. Đó là ý nghĩa mà Chúa Giêsu –vị Ngôn Sứ sẽ đem đến tiếp theo đó là cử chỉ của người phụ nữ này. Nhưng ông chủ biệt phái lại không nhìn thấy xa được như thế, ông chỉ dừng lại ở ngoài mắt của những đụng chạm này- tất cả đối với ông ta có vẻ khiêu khích quá. Kết luận lầm lạc mà ông nghĩ trong thâm tâm dựa vào hai xác tín: một ngôn sứ phải có khả năng hiểu thấu lý lịch của những kẻ mình tiếp xúc và ông phải giữ khoảng cách giữa cái tinh sạch và cái ô uế (cc.36-39). Thái độ của vị chủ nhà này rất đặc biệt: ông mời Chúa Giêsu vì những lần Ngài chữa lành bệnh tật thể lý –có thể cả những lời giảng dạy của Ngài nữa- đón tiếp kẻ tội lỗi và kẻ bị ruồng bỏ- không ăn khớp với tư tưởng mà ông ta có về một sứ giả của Thiên Chúa.
Khi lên tiếng nói, Chúa Giêsu biểu lộ sự hiểu biết có tính tiên tri của mình mà ông Simêon ngấm ngầm chối bỏ. Ngài bắt đầu kể một dụ ngôn dường như chẳng ăn nhập gì với tình thế này (cc.40-43). Nó không đưa ra một tri thức nào, nhưng trước tiên nó đưa ra một khoảng cách mà Simêon chỉ có thể đồng ý với người mà ông ta vừa chỉ trích trong thâm tâm ông. Câu chuyện này bao hàm một yếu tố đến từ cái bình thường: sẽ thật lạ lùng khi một chủ nợ xoá bỏ những món nợ không thể thanh toán nổi (năm trăm quan tiền bằng tám tháng lương của một công nhân). “Ông thương tình tha cho cả hai” chi tiết không bình thường này cho thấy chuyện thường ngày đó nhắc ta nghĩ đến một thực tại sâu sắc hơn: mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Bởi đó, tình yêu của các con nợ là biết ơn đối với kẻ tha nợ cho mình. Đó là bài học mà Chúa Giêsu rút ra từ vấn nạn được nêu lên với Simon (và với độc giả) và nó mời gọi một lời đáp không có gì bất ngờ. Như vẻ do dự (tôi thiết nghĩ…) của ông cho thấy, Simon đoán được Chúa Giêsu sẽ đưa mình đi tới đâu; nhưng ông bị kẹt trong câu chuyện dụ ngôn và không thể trả lời cách khác được. Ngược với kết luận sai lầm mà ông có trong đầu, lần này ông đã công khai phán đoán đúng.
“Ông thấy người phụ nữ này chứ?”. Vừa được sự đồng tình của người Pharisêu, Chúa Giêsu chuyển chú ý về đối tượng của cuộc tranh cãi và đưa ra việc áp dụng dụ ngôn (cc. 44-47). Ngài đối chiếu cách hành xử của Simon tuy đúng nhưng thiếu sự niềm nở hiếu khách với ba cử chỉ của người phụ nữ vô danh rất quan tâm đến đôi chân Chúa Giêsu (được lặp lại mỗi lần); càng rõ hơn nữa về dầu thơm, Chúa Giêsu phân biệt việc xức dầu trên đầu mà Simon đã không làm cho Ngài với việc người phụ nữ đổ dầu trên chân Ngài. Điều đó làm ta nghĩ tới thái độ khiêm tốn của người phụ nữ đứng bên chân Chúa Giêsu (c. 38); đó là cử chỉ chính yếu đã khiến cho xảy ra ba hành vi được miêu tả ở đây. Trong mạch văn, kết luận mà Chúa Giêsu rút ra (c.47) chỉ muốn nói lên một điều: thái độ của người phụ nữ là hậu quả của tình yêu Thiên Chúa mà chị đã lãnh nhận. Tội lỗi đầy tràn của chị đã được Thiên Chúa tha hết, điều đó thể hiện rõ ràng qua thái độ của chị. Tình yêu là lời đáp của con người khi được Chúa tha nợ và tha tội. Như những người thu thuế – một dạng tội nhân công khai khác (x. 7,29), người phụ nữ này đã nhìn nhận rằng Thiên Chúa công chính và đã đón nhận tha thứ của Người. Trái lại, ông Pharisêu vẫn ở trong chiều hướng của các bạn đồng nghiệp (x. 7,30), ông đã khước từ ý định của Thiên Chúa về ông. Nhưng ai biết được? Bài học tên sẽ mang lại kết quả và ông Pharisêu, sau khi ăn tiệc này, sẽ được biến đổi chăng?
Lần đầu tiên Chúa Giêsu nói với người phụ nữ (cc.48-50) và tuyên bố với chị Thiên Chúa đã tha thứ cho chị và từ nay chị được hưởng ơn tha thứ đó. Khi những khách mời khác phản ứng như các Kinh sư và Pharisêu trong dịp người bại liệt được ơn tha tội (5,20-21), thì Chúa Giêsu lại cho thấy rõ tiến trình của ơn cứu độ. Tình yêu mà người phụ nữ đã bày tỏ đối với Ngài, chứng tỏ rằng chị ta hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa và vào vị sứ giả của Ngài; hình ảnh mà chị có về Thiên Chúa là đúng, trong khi ông Pharisêu lại có ý niệm sai lạc về Ngài. Đức tin của người phụ nữ đã là điểm khởi hành của một tiến trình hoán cải, đức tin ấy là nguyên nhân ơn cứu độ của chị.
NHỮNG PHỤ NỮ ĐI THEO CHÚA GIÊSU (8,1-3)
Với tư cách một văn sĩ Hy Lạp có tài, Luca thay đổi thể loại văn; đây là một tóm lược về cuộc hành trình truyền giáo mà Chúa Giêsu không ngừng thực hiện ở Galilê: Có hai nhóm người là nhân chứng cho những hành động và quyền năng và những giáo huấn của Chúa Giêsu và sẽ sát cánh với nhau làm bảo chứng cho những điều ấy (x.23,49). Trước hết là nhóm Mười Hai, mà chỉ được nói rõ là ở với Người – phải đợi đến 9,1 họ mới cộng tác vào sứ vụ của Chúa Giêsu.
Rồi tới nhóm các phụ nữ được triển khai rộng hơn. Không có chỗ nào Luca mô tả một cách chi tiết những việc trừ quỷ và chữa lành mà các bà được hưởng và duờng như, về phía các bà, những việc đó đóng một vai trò tương tự như việc kêu gọi các ông (5,10-11; 27-28); người ta nhắc đến ba tên trong số các bà như đã làm đối với nhóm Mười Hai (6,12-16). Bù lại, các bà này sẽ lại xuất hiện ở hàng đầu trong những thời điểm then chốt, lúc Chúa Giêsu chết trên thập giá và lúc chôn cất Người (23,49-55), rồi ở ngôi mộ trống ở đó đặc biệt có mặt bà Maria Magđala và bà Gioanna; người ta cũng sẽ gặp các bà này với nhóm Mười Hai và mấy người khác trong phòng lầu trên trước lễ Ngũ tuần (Cv 1,14). Ở đây các bà này sống Chúa Giêsu và nhóm Mười Hai, đặc biệt lấy của cải mình mà giúp đỡ –Luca cũng sẽ dùng cùng một động từ trong Cv 6,2 khi nói nhóm Bảy (phó tế); trong số các bà, có một người trước đây bệnh hoạn nhiều hơn cả (bảy quỷ x. 11,26), Maria gọi là Magđala (một làng gần hồ Gênêsaret); một bà thuộc xã hội thượng lưu, Gioanna, đã từ bỏ chồng và triều đình Hêrôđê (x.5,11), một chi tiết làm ta có thể hiểu được việc can thiệp của vua Hêrôđê ở 9,7-9.
Các phụ nữ chiếm một chỗ quan trọng trong Luca và Công vụ. Tác giả không nêu ra tính cách bất tiện vì sự có mặt của các bà khi họ đi theo Chúa Giêsu và nhóm các ông. Chúa Giêsu tỏ ra tự do một cách làm ta phải kinh ngạc khi đem các bà theo trong nhóm đệ tử lưu động của Người. Như thế, trong Tin Mừng của ông, không một đối thủ nào trách cứ Chúa Giêsu về điểm này, trong khi việc Ngài dám tiếp với những người tội lỗi và ăn uống với họ đã bị chỉ trích nhiều lần.



33. Chú giải của Noel Quesson
Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn.
Ba lần, Luca ghi lại những người Pharisêu đã mời Đức Giêsu dùng bữa (Lc 7,36; 11,37; 14,1). Trái lại Máccô và Mátthêu đã mô tả một cách có hệ thống những người Pharisêu đại thể là những đối thủ của Đức Giêsu. Sự nhận định tinh tế của Luca có lẽ gần với sự thật lịch sử hơn. Đức Giêsu đã không bị loại trừ một cách tiên hiền. Nếu Người đã thường xuyên đụng chạm với một số người thì không phải vì Người khinh bỉ họ. Chính họ đã không chấp nhận thái độ hết sức cởi mở của Người đối với những kẻ tội lỗi.
Lạy Chúa, theo gương Chúa, xin Chúa cho chúng con đừng trở thành tù nhân của bất cứ phe phái nào, xu hướng nào để luôn cởi mở với những người thường chống đối chúng con và không suy nghĩ giống như chúng con. Thật vật Đức Giêsu có thể đã làm cho người ta "khó chịu” một cách chính đáng: hoàn toàn không giống với điều người ta chờ đợi? Chính Gioan Tẩy Giả trong đoạn văn liền trước đó (Lc 7,18-35) phải đặt câu hỏi: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?". Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ của Thiên Chúa sống trong sa mạc lánh xa các thành phố, không ăn gì, không uống gì: ông là một nhà khổ tu (Lc 7,33). Còn Đức Giêsu sống trong thế gian, chấp nhận những bữa ăn mà người ta mời Người, đến nỗi làm người ta phải gọi Người là “tay ăn nhậu” (Lc 7,34). Gioan Tẩy giả loan báo sự phán xét của Thiên. Chúa chống lại kẻ tội lỗi. Còn Đức Giêsu là “bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi" (Lc 7,34). Con nhìn ngắm Đức Giêsu ngồi vào bàn, trong một bữa tiệc, ăn và uống!
Thiên Chúa không chống lại đời sống con người. Chính Người đã ban đời sống ấy cho chúng ta. Môn đệ của Đức Giêsu không phải là một con người rầu rĩ ủ dột. Đức Giêsu chấp nhận những lời mời Từ ngữ Hy lạp được dùng ở đây (Katéklithè): thực ra có nghĩa là; "Người nằm ở bàn ăn". Vậy thì đây là một bữa tiệc mừng mà người ta nằm dài trên các đi văng để dùng bữa, trong một khung cảnh tiện nghi. Xét về bản thân, Đức Giêsu là một người nghèo. Nhưng Người đã sống tiếp xúc với những Người giàu có, và không khinh bỉ một ai.
Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
Ở Phương Đông, người ta có thể tự do vào nhà có tiệc. Cũng thế, khí hậu nóng bức ở Phương Đông giải thích việc sử dụng nhiều nước hoa. Dâng tặng nước hoa làm cho tươi tỉnh là một dấu chỉ lòng hiếu khách bình thường.
Người ta đã biết người phụ nữ ấy. Trong thành phố, mọi người xem ra đều biết trường hợp của chị: Đó là một “phụ nữ tội lỗi", và có lẽ là một gái điếm. Chị ta phạm nhiều tội lỗi. Nhưng chị đã hối hận về những tội lỗi ấy. Chị khóc lóc trước đám đông! Chị chán ngán chính mình. "Sự dễ dãi, trong đời sống đạo đức không làm cho người ta hạnh phúc”. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói như thế với giới trẻ để trả lời mỗi câu hỏi về tình dục.
Thế là người phụ nữ tội lỗi đã quỳ sấp trên mặt đất dưới chân của Đức Giêsu. Những tiếng nức nở vang lên làm toàn thân chị run rẩy. Chị hôn lên chân Đức Giêsu nhiều lần và làm cho phòng tiệc sực nức mùi thơm. Các thánh sử đã có thể kể lại những cảnh hàm hồ như thế ra sao? Về việc này, chính Đức Giêsu đã nói ra nhột sứ điệp chủ yếu.
Tôi nghĩ đến những tội lỗi của tôi, và con thủy triều dơ bẩn màu đen của mọi tội lỗi thế gian. Lạy Chúa, Chúa phải quen thấy con người phạm tội từ khi Chúa đã tạo ra con người có tự do, từ khi có con người trên mặt đất.
Thấy vậy ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: "Một người tội lỗi!”
Ông Pharisêu ấy khinh bỉ đàn bà. Quả thật, theo Luật pháp của Israel, người ta trở thành "ô uế" khi chạm vào một Người đàn bà tội lỗi, cũng như vào một xác chết hay một con heo. Vì thế có dư luận giữa người Pharisêu: Đức Giêsu không phải là một người của Thiên Chúa, không phải là một ngôn sứ.
Vậy bạn thử nghĩ xem, Người đã để cho một phụ nữ xõa tóc mình mà lau chân Người, một hành động đáng xấu hổ và sỗ sàng ngay cả ngày hôm nay cúng thế trong thế giới Do Thái và Hồi giáo truyền thống nơi Người phụ nữ phải dùng khăn trùm mà che giấu tóc họ.
Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: "Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông!". Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói". Đức Giêsu nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?”. Ông Simon đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn". Đức Giêsu bảo: "ông xét đúng lắm".
Thông thường những chủ nợ loài nói thì không như thế! Nhưng Thiên Chúa thì như thế. Đức Giêsu quả là ngôn sứ, Người đã làm cho tình yêu thương của Thiên Chúa Cha trở nên hữu hình…
Sau cùng khi nào chúng ta mới hiểu rằng Thiên Chúa không phải là "Đấng xét xử" nhưng là "Đấng tha nợ", Đấng tha thứ những người tội lỗi? Và ai yêu cầu chúng ta có thái độ giống như thế: "Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con".
Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simon: "ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây đã không ngừng hôn chân tôi Dàu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi còn chị ấy lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.
Đức Giêsu đã ngợi khen chị ấy. Người đề cao chị ấy.
Người nhấn mạnh tất cả những việc tốt chị đã làm, từng chi tiết một. Trước đó, chị đã đau khổ biết bao. Lạy Chúa, xin giúp cho con nhìn những kẻ tội lỗi và cả chính con với ánh mắt của Chúa, đầy lòng nhân từ và thương xót. Xin Chúa ban cho các Kitô hữu quyền năng phục hồi những kẻ có tội dưới mắt họ. Lạy Chúa ước gì mọi lời nói và thái độ của Giáo Hội Chúa nói lên rằng Chúa nhân hậu dường bao! Lạy Chúa, ước gì mọi linh mục của Chúa đều đầy lòng nhân từ. Lạy Chúa Giêsu, xin cho họ giống Chúa, xin cho họ là những thánh chức đem sự hòa giải lại cho mọi kẻ tội lỗi.
Vì thế tôi nói cho ông hay: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít".
Dụ ngôn nói trên về hai người mắc nợ có ý nghĩa rõ ràng: Bởi vì người đã tha thứ cho chị nhiều nên chị đã yêu mến nhiều. Trong khi mà bản dịch của sách Kinh Thánh dường như rút ra kết luận ngược lại: vì chị đã yêu mến nhiều nên người ta đã tha thứ cho chị nhiều. Thật vậy, truyền thống to lớn của Kinh Thánh đã lặp lại không mệt mỏi với chúng ta rằng không phải kẻ tội lỗi xứng đáng được Thiên Chúa tha thứ nhưng Thiên Chúa đã tha thứ không đòi hỏi bởi một sáng kiến tự do của tình yêu phổ quát của Người.
Nhưng, dù sao chân lý có thể có trong cả hai lập luận: Tình yêu là nguyên nhân của sự tha thứ: "Tội của chị được tha vì chị đã yêu mến nhiều”.
- Tình yêu là hậu quả của sự tha thứ: "Người ta càng được tha thứ, người ta càng hướng về lòng yêu mến".
Tình yêu khiến cho tha thứ! Vâng đúng vậy.
Tha thứ khiến cho mến yêu! Còn đúng hơn nữa.
Như thế bản văn này của Luca, vị thánh sử của lòng thương xót, là một viên ngọc quý của Tin Mừng. Đức Giêsu đã trả lời cho người Pharisêu ngạc nhiên khi thấy một phụ nữ tội lỗi chạm vào Đức Giêsu và có vẻ nghi ngờ quyền năng ngôn sứ phải biết được bí mật các tâm hồn của Người: "Tôi biết rất rõ chị ấy là ai và chính vì tôi biết mà tôi đã để cho chị ấy chạm vào tôi: Bởi vì tôi đến vì những kẻ tội lỗi chứ không phải vì nhũng người công chính" (Lc 5,31-32).
Con cám ơn Chúa về sự mạc khải này. Có lẽ vì điều đó Chúa cho phép chúng con lạm dụng sự tự do mà phạm tội để một ngày kia tội lỗi của chúng con biến đổi thành tình yêu to lớn hơn, bởi vì chúng con sẽ hiểu và đón nhận sự tha thứ của Chúa. Ôi mầu nhiệm biết bao khi mỗi tội lỗi của con có thể trở thành một cơ hội yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn: Giây phút tuyệt vời khi con ý thức được lòng thương xót; khi con đoán biết Thiên Chúa yêu thương con đến mức độ nào; Chính sự tha thứ là tình yêu cao cả nhất. Chẳng đáng bỏ công cử hành sự tha thứ ấy trong một bí tích hay sao? Giáo Hội hiện nay thật có lý muốn gọi bí tích này là bí tích "hòa giải", thay vì là bí tích "sám hối"? Tôi có thích thực hành bí tích ấy không? Thánh âu-tinh đã viết: "Sự xưng thú tội lỗi chỉ có ý nghĩa Kitô giáo nếu nó được thực hiện trong sự tuyên xưng lời khen ngợi". Xưng thú tội lỗi của chúng ta, chính là tuyên xưng tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.
Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi". Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội?" Nhưng Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an!".
Một cách hoàn toàn tự nhiên, Đức Giêsu cư xử như một người có quyền bính của Thiên Chúa, Đấng tha thứ mọi tội lỗi. Chính vì những thái độ và lời nói, như thế đã khiến cho các môn đệ thắc mắc về căn tính sâu xa của Người: "Vậy thì người “này là ai?" Ngày trong các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, Người ta đã dám trả lời rằng: "Đức Giêsu Kitô là Đức Chúa!”.
Sau đó, Đức Gìêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ…
Theo thói quen, Luca nhấn mạnh đến các "phụ nữ", như thế là phản ứng lại xã hội và các tôn giáo trong thời của ngài Các giáo trưởng Do Thái đã loại các phụ nữ ra khỏi tập thể các môn đệ của họ. Quả là một cuộc cách mạng thật sự đã bắt đầu với Đức Giêsu. Dù chưa hoàn tất.



34. Chú giải của R. Gutzwiller
LÒNG TIN NƠI MỘT NGƯỜI TỘI LỖI (7, 36-50)
Đây là khung cảnh thứ tư hoàn tất bức hoạ. Ngược lại với các vị thủ lãnh dân Israel kiêu hãnh, với sự đạo đức giả hình (thực tế họ đã không tin), là trường hợp người đàn bà tội lỗi. Cứ sự thường, chẳng hy vọng và trông mong gì nàng có lòng tin. Nhưng dù sống một thân phận đã hư hỏng, tàn héo, kéo lê kiếp sống tội tình, xa cách Thiên Chúa mà Thiên Chúa lại nhận ra nơi nàng một lòng tin tốt lành và sống động nhất, trổi vượt hẳn lòng tin nhiều người khác.
Nàng đã hoang phí vẻ diễm lệ, đã tiêu hao cái tinh tuý tình yêu của nàng cho những kẻ bất xứng, trót lầm lỡ, nàng đau xót mua lấy kinh nghiệm bằng cả cuộc đời và thú nhận rằng nàng đã bị tước đoạt rồi bị bỏ rơi, y như một ly nước đầy được để qua một bên sau khi đã cạn chén. Nàng đành lao mình vào, bán rẻ thân xác, mua bán thú vui, và công khai phạm tội…
Nhưng, Lời Đức Kitô vang vang từ một thế giới khác, đang đến với người phụ nữ lầm lỡ ấy.
Từ lúc đó, nàng phát hiện ra có một tình yêu khác, cao thượng, tình yêu đó không thể ban phát bừa bãi được. Lòng tin nơi nàng khơi dậy và qui hướng những đam mê những khả năng yêu thương của nàng vào một hướng khác, rất khác, chẳng còn e dè gì nữa nàng lại gần Đức Giêsu, suốt bữa tiệc, trước mặt các khách dự tiệc. Nàng phủ phục dưới chân Ngài, như thể hạ nhục cái tính tự cao tự đại của nàng và đổ tràn tình yêu tái sinh cho Chúa.
Cạnh nàng, ông biệt phái quá hẹp hòi và bần tiện, ông ta chẳng sai đầy tớ ông đến rửa chân cho Thày, cũng chẳng tiếp đón Thầy bằng cái hôn thân tình hay xức dầu thơm cho Thầy truớc bữa ăn. Nhà tiến sĩ luật ấy vốn tính tự cao tự đại, chẳng cần gì đến Đức Giêsu cả. Vì ông tự cho là ông chẳng thiếu thốn gì. Ông chẳng ăn năn hối lỗi làm gì vì ông tự cho mình là nhà đạo đức; ông chẳng yêu ai hết trừ ông.
Trái lại, người phụ nữ kia thú nhận lỗi mình và đồng thời cũng biết rằng người ta chỉ đáp trả tình yêu của Thiên Chúa bằng một tình yêu không giới hạn. Nàng có lòng tin chân thực, niềm tin xui khiến nàng khinh chê tất cả để chỉ còn tuyên xưng Đức Kitô như Ngài đáng: Ngài là Chúa giàu tình yêu và ân sủng, luôn tha thứ tội tình.
Trên đây là bốn khung cảnh diễn tả hình ảnh của lòng tin:
- Vị quan Rôma tin vào Đức Giêsu là chủ tể quyền năng, có quyền truyền lệnh cho sức khoẻ và bệnh tật.
- Dân Do thái tin rằng nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài, nhưng lòng tin của họ còn non nớt quá, không vượt ra khỏi quỹ đạo con người.
- Các vị thủ lãnh dân Israel lại không tin vì họ tìm kiếm chính họ chớ không ra khỏi quỹ đạo con người.
- Sau cùng là người phụ nữ thống hối, nàng tin tưởng trong khi say đắm yêu thương.
Như vậy, một kết cục hết sức lạ kỳ, người ngoại giáo và người đàn bà tội lỗi lại tỏ lòng tin vững vàng, chân xác; trong khi dân ưu tuyển dừng lại lưng chừng đường; còn các vị thủ lãnh vẫn giữ thái độ bất tín.
GIÁO DỤC ĐỨC TIN TRÊN LÝ THUYẾT (8, 1-3)
Đức Giêsu gặp gỡ dân chúng và cố huấn luyện lòng tin giữa họ. Cùng với mười hai tông đồ, Ngài ra đi loan báo Tin mừng khắp nơi. Các người phụ nữ theo sau và phục vụ Ngài. Bây giờ là lúc Ngài đi vào giữa lòng đại chúng.
Sau đây, ta thấy Chúa nhấn mạnh đến ba phương diện của lòng tin:
- Tầm quan trọng của lòng tin.
- Việc tuyên xưng đức tin.
- Và đời sống trong niềm tin.



35. Tất cả là yêu thương – An Phong
1. Yêu mến và được tha thứ
Các nhà chú giải Thánh Kinh đã tranh luận nhiều mà không đi đến được một giải thích thoả đáng chung cuộc về mối tương quan giữa tình trạng được tha tội và lòng yêu mến của người phụ nữ. Có ba cách giải thích và cách nào cũng có phần có lý:
- vì đã yêu mến nên có công phúc và được tha tội ("người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ vì đã yêu mến Chúa nhiều"; theo công thức: yêu mến - được tha tội);
- chính vì được tha tội rồi nên mới yêu mến ("người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ bằng cớ là đã yêu mến Chúa nhiều"; theo công thức: được tha tội - yêu mến).
- chính khi yêu mến là được vượt qua được xiềng xích của tội lỗi, vì tội lỗi chẳng qua là bức tường ngăn cách mối tương giao thương yêu giữa các ngôi vị với nhau ("tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, và bà đã yêu mến nhiều"; theo công thức: yêu mến = được tha tội);
2. Tha tội là nối lại tình thân
Trong cuộc sống thường ngày, khi có một sự bất công về của cải hoặc danh dự, thì người ta phải dùng luật lệ để tái lập sự công bằng xã hội bằng cách bắt người này phải trả lại cho người kia điều thuộc về họ. Tuy nhiên, có một hậu quả quan trọng hơn mà luật lệ không thể nào làm được, đó là một sự trục trặc về tương quan tình thân mà hậu quả là hai người đó không còn có thể nói chuyện bình thường với nhau.
Trong một xã hội "văn minh", một xã hội được điều hành bằng những luật lệ thông nhất, người ta chỉ có thể giải quyết những trục trặc theo luật lệ, và biến mọi hành vi xúc phạm đến nhau thành tội theo nghĩa luật pháp. Nhưng việc giải quyết theo luật chỉ là một cách hoá giải sự trục trặc trong thế giới của khái niệm công bằng; còn thực chất sự trục trặc về tình thân thì không thể nào luật pháp làm được.
Để có thể tái lập lại cuộc sống thân tình, cần phải tìm cách nào đó để phá bỏ sự ngăn cách ấy, phá bỏ sự trục trặc về tình thương; điều đó chỉ có thể là tình thương, là thái độ đi bước trước của một bên nào đó... Trong đời sống Kitô hữu, tha tội, thực sự, không phải là tha một món nợ pháp lý nào, nhưng là chấp nhận nối lại mối giây thân tình. Tha tội chính là sự chấp nhận lại người bạn của mình; và được tha tội đó là được chấp nhận trong tình yêu thương.
3. Yêu mến là được tha tội
Phải nhìn lại các mối tương quan giữa Thiên Chúa với con người một cách "người" hơn. Tin, được tha và tình yêu... tất cả những trạng thái đó diễn ra và thực hiện cùng một lúc, diễn ra trên con đường tiến tới gần Chúa hơn. Nó không phải là sự đối chiếu hai bản vẽ để sửa đổi những chỗ sai lạc là xong, nhưng nó là một hành trình tiến đến gần Chúa Giêsu. Càng đến gần Ngài thì càng được tha tội nhiều hơn, càng tin yêu Chúa nhiều hơn. Tóm lại là càng gắn bó toàn thể con người của mình với Ngài nhiều hơn. Yêu thương là tất cả!
Lạy Chúa Giêsu,
Được "động chạm" đến Chúa, đó đã là sự tha thứ
và là tình yêu quảng đại của Chúa dành cho con rồi.
Xin cho con biết trân trọng tình yêu và trân trọng ơn tha thứ
mà Chúa ban cho con qua bí tích Thánh Thể hôm nay.


Không có nhận xét nào: