SUY NIỆM
LỜI CHÚA
CN 3 THƯỜNG NIÊN C
CN 3 THƯỜNG NIÊN C
MỤC LỤC
29. Video Thánh
Vịnh Nhóm thánh vịnh Nauy
31. Tin mừng
được loan báo....Carolo
Hồ Bạc Xái
32. Lời tiên tri
đã ứng nghiệm Lm Giuse Đinh lập Liễm
33. Tiếp nối sứ
mạng của Chúa Giêsu Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà
34. Hiện thân
lòng thương xót Lm,
Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
40. Niềm tin vào
Đức Kitô ... Achille
Degeest
41. Tiếp nối sứ
vụ Lm Giuse
Nguyễn Hữu An
42. Niềm vui từ
Thiên Chúa Linh
mục GB Văn Hào SDB
43. Phát huy
cuộc sống tâm linh Radio Veritas Asia
44. Chúa Giêsu
và chỗ đứng của .... Lm Phan Kế Sự
1. Ghen tỵ
Có hai đệ tử sau nhiều năm luyện tập, được sư phụ cho xuống núi để
cứu nhân độ thế. Sau nhiều tháng đi khắp nơi giúp đỡ dân lành, họ trở về núi để
tường trình lại cho sư phụ những việc họ đã thực hiện. Sau khi báo cáo, sư phụ
thấy đệ tử A làm thật khá, nhưng đệ tử B còn khá hơn. Sự phụ cảm thấy rất hài
lòng, liền nói: Hai con làm rất tốt. Ta sẽ ban thưởng cho hai con. Tuy nhiên đệ
tử B lập nhiều công trạng hơn, để được công bằng, ta cho đệ tử A xin trước. Nếu
đệ tử A xin một thì ta sẽ cho đệ tử B hai. Suy nghĩ giây lát, đệ tử A, trong
lòng rất bất mãn, bèn nói: Xin sư phụ cho con chột một con mắt.
Trong câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy thái độ và hành động ghen
tỵ của đệ tử A đối với đệ tử B cũng là thái độ và hành động ghen tỵ, thù hiềm
của thính giả đối với Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay. Họ không bằng lòng
đối với sự thành công của Chúa Giêsu. Đây là con ông Giuse thợ mộc, nghèo nàn.
Tại sao ông ta nói hay như thế. Đối với nhà lãnh đạo tôn giáo thì họ cảm thấy
bị đe doạ khi Chúa Giêsu giảng dạy hay. Chúa Giêsu được đưa lên cao, còn họ bị
lép vế. Chiến thuật ghen tỵ của họ rất là đơn giản: Tìm cách hạ Chúa Giêsu
xuống để họ được đưa lên cao. Thái độ ghen tỵ, hiềm thù của họ đã dẫn đến hành
động đả phá. Họ dẫn đưa Người lên triền núi, để xô Người xuống vực thẳm.
Rút từ bài học Phúc Âm và nhìn vào cuộc sống của mỗi người chúng ta
nói riêng và xã hội nói chung, chúng ta phải chân nhận rằng lòng ghen tỵ của
con người len lỏi khắp nơi trong cuộc sống từ trong gia đình cho đến ngoài xã
hội.
Trong gia đình anh chị em ghen tỵ nhau khi cảm thấy rằng mình không
được thương yêu hơn anh chị em khác trong gia đình. Nơi nhà trường học sinh này
ghen tỵ học sinh khác trong khía cạnh học hành. Nơi xưởng thơ nhân công này cảm
thấy không bằng lòng với nhân công khác trong vấn đề tiền lương.
Quả thật, sống trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta thường dễ đem
chính mình so sánh với người khác. Chúng ta so sánh quần áo, xe cộ, nhà cửa,
công danh, sự nghiệp. So sánh để rút ra điều hay điều dở làm cho cuộc sống
chính mình và người khác khá hơn là rất tốt. Tuy nhiên so sánh để rồi mang đến
thái độ ghen tỵ, hiềm thù, đả phá, đè bẹp, gièm pha người khác vì người khác
thành công hơn mình là điều không tốt. Con người ghen tỵ sẽ không tìm thấy
chính mình và không có hạnh phúc vì họ luôn ao ước vài tìm kiếm nơi người khác
điều mà không phải là của họ.
Ước gì mỗi người nhìn vào chính mình để làm sao chúng ta thay đổi
con người cũ đầy ghen tỵ, hiềm thù để mặc lấy con người mới đầy yêu thương, bác
ái của Chúa.
2. Đức Giêsu - Tin Mừng cho mọi người
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
Tin Mừng Luca cho thấy Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, Ngài trở về
Galilê, và tiếng tăm Ngài được đồn ra khắp vùng. Ngài bắt đầu giảng dạy trong
các hội đường của người Do Thái, cụ thể ở hội đường làng Nadarét.
Thánh Thần Chúa ngự trên tôi
Đức Giêsu luôn sống dưới tác động của Thánh Thần. Ngài làm tất cả
dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần, cụ thể Ngài đi chịu phép rửa tại sông Yordan,
Ngài vào hoang địa ăn chay cầu nguyện, và hôm này Ngài ra đi rao giảng. Dưới
tác động của Thánh Thần, Đức Giêsu là người mang tin mừng cho người có tinh
thần nghèo, loan báo tự do cho kẻ bị tù đầy, cho người mù được sáng, cho người
áp bức được giải thoát, và năm hồng ân của Thiên Chúa cho mọi người.
Thánh Thần ở trong Hội Thánh như hồn ở trong thân xác. Trong Hội
Thánh có nhiều chức vụ, nhưng tất cả đều do Thánh Thần ban tặng và tác động:
người làm đầu người làm mắt người làm chân tay. Tất cả đều thuộc về Hội Thánh,
và không thể thiếu một chức vụ nào, cũng như một thân xác không thể thiếu một
bộ phận nào. Không một bộ phận nào trong thân thể bị thiếu mà lại không ảnh
hưởng đến bộ phận khác và toàn thân thể, cũng tương tự vậy những chức vụ trong
Hội Thánh.
Ước gì mỗi người đều ý thức Thánh Thần luôn gần gũi, luôn ở với, và
luôn hướng dẫn mình cùng Hội Thánh trong mọi hành động.
Đức Giêsu- Tin Mừng
Thiên Chúa chúc lành cho con người, làm tất cả cho con người qua
Đức Giêsu.
Có ai hiểu được những người bị tù đầy mong được ngày ra khỏi tù như
thế nào? “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”: một ngày trong tù, lâu như
thể ngàn năm ở ngoài. Ở đây người ta nói tới thời gian tâm lý, và qua đó diễn
tả mong ước ngày được tự do đến độ nào! Đức Giêsu là người công bố ơn đại xá,
được miễn án và ra khỏi tù. Nếu ai hiểu được người mù cực khổ như thế nào, và
người mù mong được sáng đến độ nào, sẽ dễ dàng hiểu câu “Đức Giêsu là người làm
cho người mù được sáng” có nghĩa gì với người mù. Những người bị áp bức hà
hiếp, cực khổ như thế nào, mong được minh oan và được giải thoát đến độ nào!
Đức Giêsu là người giải phóng họ.
Người ta có thể bị tù đày nô lệ trong không gian như bị giam cầm
trong một nơi chốn nào đó, nhưng người ta cũng có thể bị giam hãm trong một cái
nhìn nào đó, có thể bị nô lệ với một thành kiến mà người ta không biết. Đức
Giêsu tới, cho người ta nhận ra giá trị chân thực, giúp con người biết tiêu
chuẩn chân thực để phán đoán. “Chân lý” giải phóng con người khỏi nô lệ, làm
người bị u mê nhận ra sự thật và nhờ đó được tự do.
Tin Mừng cho người nghèo
Tin Mừng Đức Giêsu, không phải mọi người đều nhận ra. Những người
Do Thái không nhận ra, nên muốn giết Đức Giêsu. Để nhận ra Đức Giêsu là Tin
Mừng, cần phải có con mắt của người nghèo, người thấy mình “còn thiếu”, người
thấy mình cần được soi sáng, người sẵn sàng và luôn ngóng chờ Thiên Chúa nói
với mình.
Những người tự mãn, tự cho mình đã đủ không còn thiếu gì nữa, rất
khó đón nhận Tin Mừng Đức Giêsu. Những người này có thể là những người cho rằng
mình đã đạo đức đủ, không nhận ra mình yếu đuối tội lỗi cần Thiên Chúa thương
xót và trợ giúp. Họ cũng có thể là những người cho mình có học, không sẵn sàng
đón nhận mặc khải của Thiên Chúa qua Đức Giêsu với cuộc sống “bình thường”.
Cũng có thể họ là những người giầu, và Đức Giêsu không thêm gì cho họ: Ngài
không làm cho họ giầu hơn hoặc danh tiếng hơn hoặc có địa vị cao hơn.
“Phúc cho người có tinh thần nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của
họ” (Mt.5, 3). Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, người giầu cũng như
người nghèo. Người giầu có nhiều thứ và nhiều bận tâm, nên không còn chỗ và
không sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa không yêu thương
họ. “Nghèo” như thái độ, là mối phúc thật sự.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Đức Giêsu có là Tin Mừng cho bạn không? Xin bạn cho một vài thí
dụ cụ thể trong đời bạn.
2. Thánh Thần là ai? Bạn hiểu gì về Thánh Thần?
3. Bạn có thấy ai ganh tị vì không được làm “đầu” hoặc “mắt” trong
thân thể (Hội Thánh) không? Tại sao họ như vậy?
3. Sống sứ vụ của Chúa – Anmai
Giêsu đã đến trong cuộc đời này. Lời Hứa Cứu Độ đã hoàn thành nơi
Chúa Giêsu. Lời Hứa Cứu Độ ấy được báo trước qua miệng các ngôn sứ. Các ngôn sứ
loan báo hình ảnh của Đấng Cứu Độ. Có lẽ rõ nét nhất là hình ảnh của ngôn sứ
Isaia, một ngôn sứ quá đau khổ.
Mở sách ngôn sứ Isaia, ở Is 52, 13-53 chúng ta bắt gặp ngay: “Này
đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật và được suy tôn
đến tột cùng.” Đọc những dòn tiếp theo, một mảng tối thật u ám nơi cuộc đời của
vị ngôn sứ đau khổ này. Một bản mô tả rất sống động về sự thất thế, đau khổ
cũng của người tôi tớ đó. Ông sẽ không còn được nhận ra nữa: “Khi thấy tôi
trung của Ta, mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa.”
Mọi người ngoảnh mặt đi chẳng dám nhìn người tôi tớ đau khổ. Điều gây sửng sốt
nhất là hình phạt này xem ra là do Thiên Chúa gây nên. Xưa nay vẫn giải thích
như vậy. Thực thế bản văn có một câu làm tôi lưu ý mãi: “Đức Chúa hài lòng khi
thấy người bị nghiền nát trong yếu đuối.” Đức Chúa này là Thiên Chúa nào mà lại
hài lòng vì người vô tội bị nghiền nát?
Nhìn hình ảnh người tôi tớ như thế này, độc giả sẽ nghĩ ngay trong
lòng“Ông Trời đáng ghét của Cựu ước.” Nhưng nhìn kỹ hơn vào toàn thể bài ca thì
đoạn văn này được viết dưới dạng kịch nghệ. Tức có sự thay đổi về người nói.
Khởi đầu thì Thiên Chúa nói, sau đó đến các khách bàng quan bàn tán khi quan
sát người tôi tớ trong khổ đau. Đối với những người này thì rõ ràng Thiên Chúa
đang nghiền nát người tôi tớ vô tội. Chuyện này giống như khi chúng ta kêu ca
về những đau đớn của mình:“Chúa thử thách đức tin của tôi quá sức chịu đựng.
Thật ngã lòng, chẳng thể còn kiên nhẫn hơn nữa.” Đúng vậy, thượng đế đã đẩy
người ta đến bờ vực thẳm của thất vọng?
Rồi thay đổi vai trò của khách bàng quan: Họ cố gắng tìm hiểu căn
do sự đau khổ của người tôi tớ, và khám phá ra rằng chính vì tội lỗi của mình
mà người tôi tớ phải chịu cực hình. Thật là điều gây ngỡ ngàng hết cỡ. Ông ta
chịu đựng đau khổ để cứu chuộc thiên hạ. Họ đã sai lầm khi lên án ông, coi ông
như kẻ có tội. Họ ăn năn hối lỗi, thú nhận sai lầm của mình. Sự thật là người
tôi tớ đã gánh lấy tội thiên hạ và chính họ là những kẻ được hưởng sự tha thứ
của Thượng đế: “Tôi trung của Ta sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ
gánh lấy tội lỗi của họ”.
Do đó, ý muốn của Đức Chúa Trời là tội lỗi nhân loại được tẩy sạch
nhờ đau khổ và cái chết của người tôi tớ. Đúng là một mầu nhiệm. Đường lối suy
nghĩ của chúng ta hoàn toàn sụp đổ, bởi lẽ công việc vĩ đại như gánh tội và xoá
tội trần gian lại không theo lối nhìn cũng như cách hiểu của con người. Với
Thiên Chúa thì khác, người tôi tớ của Thiên Chúa là người khiêm nhường, nhịn
nhục và là người yếu đuối, dễ bị tổn thương, một dấu chỉ của sự chống đối. Cho
nên chẳng lạ gì các tác giả Tân ước sử dụng những bài ca này để nói về Chúa
Giêsu và lòng nhân từ, thương xót của Đức Chúa Trời. Thí dụ, thánh Phaolô nhiều
lần đã chỉ ra cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô
khi Ngài bị dân Do thái khước từ, chối bỏ. Chính trong công việc này mà nhân
loại được lợi không kể xiết. Tác giả thư Do thái cũng thường khích lệ độc giả
của ông không nên hổ thẹn vì thập giá Đức Ki-tô, ngược lại “hãy mạnh dạn tiến
lại gần Ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ
giúp mỗi khi cần”. Bởi lẽ Thiên Chúa đã cho phép Đức Giêsu, người tôi tớ, chia
sẻ những yếu hèn và đau khổ với nhân loại. Cho nên quan niệm về “ông Trời đáng
ghét của Cựu ước” là sai lầm. Chính qua người tôi tớ khiêm nhường mà Thiên Chúa
mặc khải gương mặt yêu thương, nhân từ của Ngài.
Người tôi tớ Giavê đứng làm trung gian cho cả Thiên Chúa và loài
người. Một sự tổng hợp kỳ lạ giữa thần linh và nhân loại. Ông là đại diện cho
thần linh, đứng về phía Thiên Chúa, Ngài gọi ông: “Tôi tớ của Ta”. Trong ông, ý
muốn của Đức Chúa hoàn toàn được thành tựu. Ông cũng đại diện cho nhân loại tội
lỗi, mặt mày tan nát, chịu khổ đau đến cùng cực, chịu chung số phận với loài
người, đồng hoá với anh em mình. Chúng ta nhìn nơi ông hành động của thượng đế
trên nhân loại và vì nhân loại. Chính trong nơi người tôi tớ mà chúng ta cảm
thấy được Thiên Chúa cứu độ.
Nhưng người tôi trung cũng có tham gia phần của mình vào cuộc đau
khổ mà Thiên Chúa đã chỉ định cho ông. Ông đồng ý với chương trình của Đức
Chúa, gánh chịu hậu quả của tội lỗi người khác, vâng lời Thiên Chúa cho đến mức
bằng lòng chịu chết thay cho thiên hạ. Ông là một nhân tố tự do và tự nguyện,
không ai ép buộc ông, nhưng hoàn toàn hiến dâng cho Thượng đế. Đây là một sự
cộng tác lạ lùng giữa Thiên Chúa và nhân loại để mưu ích cho loài người. Kết
quả là một công trình vĩ đại. Bởi người tôi tớ đã “xoá tội trần gian và tranh
thủ được ơn tha thứ cho những kẻ xúc phạm”. Ai đã thi hành cuộc hy sinh? Thiên
Chúa hay người tôi tớ? Câu trả lời là cả hai. Thiên Chúa đã hy sinh người tôi
trung. Người tôi trung đã bằng lòng hiến tế. Trường hợp của Abraham và người
con duy nhất Isaac. Trong văn bản, kẻ có lỗi dùng ở đại từ “chúng ta”: “Sự
thật, chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta… Chính Người đã bị
đâm vì chúng ta phạm tội… Chúng ta đã đi lạc như chiên cừu v.v…” Hoá ra người
tôi tớ này không phải là kẻ phạm tội. Đau khổ của ông có mục đích duy nhất là
thức tỉnh ý thức tội lỗi của nhân loại!
Ngày hôm nay, người tôi tớ mà Isaia loan báo đó đã trở thành hiện
thực nơi cuộc đời ngôn sứ Giêsu. và ngôn sứ Giêsu hôm nay tiến vào hội đường
như là việc hết sức bình thường. Những người trong Hội Đường đã trao cho ngôn
sứ Giêsu sách Isaia và mở ra, bất chợt bắt gặp lại hình ảnh của người tôi tớ
đau khổ cũng như sứ mạng của người ngôn sứ đó Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì
Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người
đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ
được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của
Chúa. Sau đó, Chúa Giêsu đã nói với những người ở trong hội đường rằng:
"Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Một lần nữa,
Chúa Giêsu khẳng định lại vai trò của Ngài. Ngài đến để đem niềm vui, đem bình
an, đem hạnh phúc cho con người.
Sứ vụ của Chúa Giêsu cũng đã được ông Etra nói với dân sau khi nghe
sách Luật mà ông mở ra đọc cho dân: "Anh em hãy về ăn thịt béo, uống rượu
ngon và gửi phần cho những người không sẵn của ăn, vì hôm nay là ngày thánh
hiến cho Chúa chúng ta. Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Đức Chúa là thành
trì bảo vệ anh em."
Vẫn là loan báo Tin Mừng cho người nghèo.
Chúng ta sẽ tự hỏi rằng chúng ta có giàu có gì đâu để loan báo cho
người nghèo?
Và, có ai hỏi ta, ta cũng sẽ nói rằng tôi nghèo lắm, tôi đâu có gì
để mà cho, có gì để mà chia sẻ? Nói như thế mà không biết ngượng.
Thử, lúc nào đó trong lặng thầm, nhìn lại cuộc đời chúng ta xem,
chúng ta được Chúa ban cho quá nhiều ơn đó nhưng chúng ta đã không nhận ra.
Có lúc
nào đó, người hằng nghiền ngẫm suy tư
Cảm thấy
đời ta, chứa chan hồng ân Chúa ban
còn chờ
gì nữa? Không vang khúc hát tri ân Ngài?
Lạy Chúa,
con xin cảm tạ, Lạy Chúa con xin cảm tạ
Ôi lạ
lùng hồng ân Chúa đã ban cho đời!
Chúa ơi,
sao con suy thấu tỏ tường?
Ôi, nhiệm
mầu tình yêu thánh thiêng dâng cao vời!
Chúa ơi, tình Ngài tuyệt
diệu xiết bao
Nghiền ngẫm thử đi sẽ rõ! Những ngày này, những ngày Tết Nguyên Đán
cận kề. Giữa dòng đời ngược xuôi đi tìm miếng cơm manh áo, ta hạnh phúc hơn
nhiều người đó chứ! Ta hạnh phúc hơn nhiều người nhưng ta đâu nhận ra để rồi ta
oán trách Chúa thế này thế kia.
Cứ thử đặt mình vào vai một người di dân xa quê nghèo vì miếng cơm
manh áo ta sẽ rõ hơn ai hết. Đi làm tháng vài triệu bạc, thuê căn phòng trọ ọp
ẹp gần triệu bạc. Cơm ăn, áo mặc nữa, quay đi quay lại hết tháng phải đóng tiền
phòng trọ, tiền điện tiền nước, thử hỏi còn bao nhiêu. Và, những ngày này dắt
díu nhau về quê gặp gia đình được dăm ba bữa. Những ngày này, ra các bến xe, ta
thấy những người nghèo ngược xuôi để về quê với hai bàn tay chai sạm và bờ vai
gầy guộc nhỏ ta mới thấy được Chúa thương ta là dường nào.
Và, nhất là cuộc đời của ta là ta hạnh phúc, ta có Chúa trong đời.
Một chút, một chút thôi một bữa ăn, một chầu karaoke ta có thể làm
ấm lòng những người nghèo. Những người nghèo đó ở đâu xa? Những người nghèo đó
ngay bên cạnh nhà ta mà bấy lâu nay ta vô tâm vô tình không nhớ đến họ.
Có cái để cho nữa đó chứ! Là chút tấm lòng với những người bất
hạnh.
Sứ vụ của Chúa mở ra cho mỗi người chúng ta, chuyện quan trọng là
chúng ta có sống sứ vụ mà Chúa đã sống, đã mời gọi chúng ta hay không mà thôi.
4. Cộng đồng – Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Sách của Nơkhemia diễn tả cuộc lưu đày của dân Dothái từ Babylon
trở về xây lại tường thành Giêrusalem. Khi vua nước Babylon chiếm hữu thành
Giêrusalem và đánh đổ nước Giuđa, đã bắt dân Dothái cư ngụ ở Palestine đi làm
tôi đòi nô lệ tại Babylon. Sau khi các vua nước Medes và Persians đánh thắng
dân thành Babylon vào năm 538 BC, vua Cyrus đã cho phép dân Dothái trở về quê
hương. Đúng ra, có 3 nhóm trở về vào 3 thời kỳ khác nhau. Nhóm thứ nhất dưới sự
hướng dẫn của Zerubbabel vào năm 536 BC. Nhóm thứ hai được dẫn dắt bởi Ezra vào
năm 458 BC và nhóm sau cùng được Nehemia dẫn về quê hương vào năm 445 BC. Sách
của Nehemiah được viết vào trong khoảng thời gian (465-423 BC).
Sách Nơkhemia diễn tả việc ông thư ký Ezra đã quy tụ dân chúng đến
lắng nghe sách lề luật của Chúa: "Ông đứng ở quảng trường phía trước cửa
Nước, đọc sách Luật trước mặt đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi
khôn. Ông đọc từ sáng sớm tới trưa, và toàn dân lắng tai nghe sách Luật."
(Nkm 8,3) Chúng ta biết Sách Luật đã được ghi chép trên các tấm da thuộc hoặc
viết trên cuộn giấy Papyrus. Khắc ghi những lề luật và huấn lệnh được truyền
tụng qua nhiều đời. Các luật lệ bắt nguồn từ Mười Điều Răn mà Chúa đã truyền
cho ông Môisen trên núi Sinai. Dân chúng chăm chú lắng nghe sách Luật từ sớm
tới trưa và họ đã vui mừng hân hoan: Bấy giờ ông Ezra chúc tụng Thiên Chúa là
Thiên Chúa vĩ đại, và toàn dân giơ tay lên đáp rằng: "Amen! Amen! Rồi họ
sấp mặt sát đất mà thờ lạy Thiên Chúa." (Nkm 8,6). Dân Dothái là dân được
tuyển chọn. Họ được Thiên Chúa dẫn dắt qua sự hướng dẫn của các tiên tri và các
vị tư tế cùng các bô lão. Họ sống liên kết thành cộng đồng tin thờ Thiên Chúa
duy nhất.
Từ xa xưa, dưới thời vua Salômon, dân Dothái đã xây dựng đền thánh
để tôn thờ Thiên Chúa. Họ đã có tổ chức xã hội về mọi mặt. Hàng tư tế đã có
những nghi thức thánh hiến và dâng lễ toàn thiêu đền tội. Đền thờ là nơi mọi
người dân tụ lại làm nên một cộng đồng dân Chúa. Đền thờ là trung tâm của cuộc
sống đạo và là trái tim của mọi sinh hoạt. Dân chúng xum họp tại đền thờ để
lắng nghe Lời Chúa, giải thích Kinh Thánh và dâng tiến lễ vật đền tạ. Niềm tin
vào Thiên Chúa độc nhất được hun đúc và phát triển qua đời sống cộng đồng. Trải
qua lịch sử ngàn năm, đạo Dothái vẫn luôn trung thành với các nghi lễ, giờ cầu
nguyện, giữ ngày sabát, tuân giữ các giới răn và huấn lệnh. Ngoài trung tâm đền
thờ chính, nhiều nhóm tại địa phương đã xây dựng nhiều Hội đường để cùng tụ họp
nghe giảng và học hỏi Kinh Thánh.
Khi ra giảng đạo, Chúa đã đi cùng khắp mọi miền. Có khi Chúa giảng
ngoài bãi biển, nơi chân đồi, ngoài cánh đồng, trong tư gia, ngoài đường phố và
hôm nay Chúa đã vào Hội đường: "Người giảng dạy trong các hội đường, và
được mọi người tôn vinh." (Lc 4,15) Nhiều người đi theo Chúa và chăm chú
lắng nghe. Chúa giảng với uy quyền và lời Chúa có sức biến đổi tận tâm can. Khi
vào Hội đường, Chúa Giêsu đã đứng lên đọc sách Tiên tri Isaia với đoạn này:
"Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan
báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm
biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người
bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa." (Lc 4,18-19) Đây là đoạn
sách quan trọng nhất nói về Đấng Thiên Sai đã được chính Chúa Giêsu xác nhận:
"Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." (Lc 4, 21).
Trong 3 năm giảng dạy, Chúa đã hoàn thành mọi lời tiên tri đã loan báo về Ngài.
Chúa Giêsu đã lập Giáo Hội, khởi đầu với một nhóm nhỏ các tông đồ,
môn đệ và các thân hữu. Giáo Hội phát triển như hạt giống được gieo vào lòng
đất, nẩy mầm, lớn lên và sinh nhiều bông hạt. Giáo Hội bao gồm những người cùng
lãnh nhận một phép rửa, một đức tin, đức cậy, đức mến và một niềm hy vọng vào
ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã thi hành sứ mệnh của Chúa Cha đã trao và hoàn tất qua
việc hiến thân mình chịu đau khổ, chịu chết và sống lại. Các tông đồ là những
vị đầu tiên ra đi làm nhân chứng cho Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Đấng
Cứu Độ trần gian. Các nhân chứng sống động được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần đã
không ngừng rao giảng và thiết lập các giáo đoàn phụng vụ khắp nơi. Số tín hữu
ngày thêm đông đảo và đa dạng. Giáo Hội mở cửa đón nhận mọi thành thành qua Bí
tích Rửa Tội và lòng tin ao ước.
Giáo Hội khởi đi từ niềm tin yêu trong lòng người. Niềm tin qui tụ
mọi dân, mọi nước, mọi chủng tộc, ngôn ngữ và văn hoá truyền thống. Thánh Phaolô
Tông đồ đã dùng những hình ảnh rất cụ thể để diễn tả sự liên kết giữa các thành
phần trong Giáo Hội: "Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng
lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một
thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy." (1 Cr 12,12) Giáo Hội là một xã hội của
loài người. Cần có các tổ chức phẩm trật, vai trò nghĩa vụ, mục vụ, phục vụ và
cộng đồng tin yêu. Giáo Hội cần có sự hỗ tương trong tất cả các sinh hoạt đời
sống. Giáo Hội mỗi ngày thêm đông số các thành viên nên phải kết hợp và gắn bó
đoàn kết trong một nguồn sức sống. Kết hợp giống như các nhành nho được liên
kết với cây nho là Chúa Giêsu Kitô. Thánh Phaolô tả hình ảnh bộ phận của thân
thể: "Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một." (1 Cr 12,20)
Chúng ta quan sát một cộng đoàn phụng vụ trong khi cử hành thánh
lễ. Mỗi thành viên có trách nhiệm riêng theo chức vụ của mình. Trong tập thể
bao gồm: cộng đoàn dân Chúa, các thừa tác viên thánh thể, đọc sách, các em giúp
lễ, các vị tiếp tân, ban trật tự, xin tiền, dâng của lễ, ca đoàn và linh mục
chủ tế. Mỗi người có một nhiệm vụ cần được chu toàn ăn khớp với nhau. Chúng ta
biết rằng những bộ phận xem ra yếu đuối và có vẻ thụ động nhưng đây lại là bộ
phận cần thiết nhất, đó là mọi tín hữu tham dự phụng vụ: "Hơn nữa, những
bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất." (1 Cr 12,22)
Không có cộng đoàn dân Chúa, chúng ta sẽ không có các cuộc cử hành phụng vụ
cách long trọng. Mỗi thành viên đều rất quan trọng tùy theo vai trò của mình,
trong đó có các cụ ông cụ bà, các trẻ em và mọi thành phần dân Chúa.
Bí tích Thánh Thể liên kết chúng ta nên một. Trong niềm tin yêu,
chúng ta hỗ trợ và nâng đỡ nhau sống hoàn thiện. Chưa hẳn các linh mục chủ tế
là những người đạo đức tốt lành hơn các thành viên khác. Chủ tế nên chu toàn
các nghi thức và cử hành thánh lễ cách nghiêm trang và sốt sáng. Trước mặt
Thiên Chúa, tất cả chúng ta chỉ là những đầy tớ vô dụng, không ai hơn ai. Điều
quan trọng là trái tim yêu thương và sự gắn bó với thân thể mầu nhiệm của Chúa:
"Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ
phận." (1 Cr 12,27) Các bộ phận trong cơ thể tuần hoàn phát sinh sự sống
khoẻ mạnh và cường tráng. Các thành viên trong cộng đồng dân Chúa phải gắn kết
yêu thương, đùm bọc và nâng đỡ nhau để chu toàn sứ vụ trong sự hài hoà và thuần
thiện.
Chúa Giêsu không đến để kêu gọi nhưng người công chính và thánh
thiện, nhưng là những kẻ tội lỗi. Những thành phần yếu bệnh cả hồn lẫn xác cần
được sự nâng đỡ chở che và chữa lành. Họ là những bộ phận cần được quan tâm
nhất vì: "Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ
phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung." (1 Cr 12,26) Chúng
ta không thể lên thiên đàng một mình, cần có những anh chị em xung quanh cùng
đồng hành dìu dắt và đỡ nâng. Mỗi người đều có bổn phận làm cho thân thể mầu
nhiệm được triển nở và phát sinh kết quả đời này và đời sau.
Lạy Chúa, đừng để chúng con bị lạc xa đường lối Chúa. Xin cho chúng
con biết lắng nghe các huấn lệnh, điều răn, chỉ thị và giáo huấn của Chúa và
Giáo Hội, để chúng con tuân cứ luật pháp của Chúa đêm ngày. Ước mong tên của
mỗi chúng con sẽ được ghi vào sổ hằng sống đời đời, vì: "Ai không có tên
ghi trong Sổ Trường Sinh thì bị quăng vào hồ lửa." (Kh 20,15).
5. Lời quyền năng là Thần trí và là sự sống
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
Mở cuốn Thánh Kinh, chúng ta thấy ngay sức mạnh của Lời, đó là tạo
dựng nên vũ trụ vạn vật. “Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh
sáng…” (x.St 1). Thánh Gioan khởi đầu Tin Mừng bằng những dòng tuyên tín về
tính siêu việt, sự tiền hữu cũng như quyền năng của Ngôi Lời: “ Lúc khởi đầu đã
có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc
khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành, và
không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3).
Thành thật cám ơn anh em Tin Lành đã góp phần một cách nào đó để
rồi trong Công Đồng Vatican II Giáo hội Công giáo mạnh mẽ khẳng định rằng Giáo
hội luôn tôn kính Lời Chúa ngang hàng với Thánh Thể Chúa Kitô (x.MK số 21). Với
các bài Thánh Kinh trích đọc trong Chúa Nhật III TN C này, cách riêng bài đọc
thứ nhất, Thánh vịnh đáp ca và bài Tin mừng, khiến chúng ta dễ nhận ra chủ đề
là Lời Chúa và hiệu năng của Lời.
Khi khẳng định mình luôn tôn kính Lời Chúa như Thánh Thể Chúa Kitô,
thì Giáo hội tuyên tín rằng Lời Chúa không chỉ là những gì được Chúa phán dạy
mà còn chính là một Hữu thể, một Ngôi vị siêu việt, có từ đời đời và đầy quyền
năng. Và Lời quyền năng ấy cũng là Lời Tình Yêu. Chính vì thế hiệu quả của Lời
được tuyên ban luôn là những sự tốt đẹp cả về sự hiện hữu lẫn cách thế hiện hữu
(x. St 1). “Lạy Chúa, Lời Chúa là thần trí và là sự sống” (Đáp ca). Qua bài
trích Tin Mừng thánh Luca của Chúa Nhật III TN C, chúng ta cùng xem xét một vài
hiệu quả của Lời được tuyên ban vốn đã được Chúa Giêsu minh nhiên khẳng định
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 1,21).
Lấy lại lời Ngôn sứ Isaia, Chúa Giêsu minh định rằng Thánh Thần ngự
trên Người, xức dầu tấn phong cho Người để Người loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo
hèn. Và những hiệu quả của Lời Người loan báo đó là: “công bố cho kẻ bị giam
cầm được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp
bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4,18-19).
Công bố năm hồng ân của Thiên Chúa: Đây là năm toàn xá đã được
Thiên Chúa thiết lập trong Cựu Ước. Cuối một chu kỳ bảy năm là năm Sabat, thì
phải để cho đất đai được nghỉ ngơi, không canh tác. Các nô lệ cũng được trả tự
do …(x.Xh 21,2; Lv 25,1-7). Cuối chu kỳ bảy lần bảy năm và bắt đầu ngày mồng
mười tháng bảy năm thứ bốn mười chín thì khởi đầu một năm toàn xá (x.Lv
25,8-54). Trong năm này đặc biệt cần phải thực thi ân tình cách khoáng đạt với
người nô lệ, người nghèo, khách ngụ cư…như tha nợ, trả tự do, trả lại đồ cầm cố…
Những quy định của năm toàn xá không nguyên chỉ để tái lập sự công bằng theo
nghĩa công bằng phân phối, vì “ai giàu ba họ, ai lại khó ba đời!”, mà còn nói
lên lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, đặc biệt dành cho những người nghèo
hèn, bé mọn, cô thân, yếu thế. Tự sức mình, những người này như bất lực để giải
thoát mình khỏi cảnh bần hàn, túng khổ. Và chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải
thoát họ.
Khi công bố năm hồng ân của Thiên Chúa, Chúa Giêsu muốn nói đến
tình yêu vô điều kiện của Cha trên trời, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi ban chính
Con Một để cho thế gian được sống và sống dồi dào (x.Ga 3,16). Sự kiện Ngôi Lời
đã làm người và ở giữa chúng ta là một hồng ân vô giá, vượt quá mọi công trạng
của loài người. Đấng Siêu Việt mà xưa dân Chúa rất đổi kính sợ và cả kinh sợ,
vì bất cứ ai thấy long nhan thảy đều phải chết, thì nay hiện diện giữa loài
người và người ta có thể diện kiến, tiếp xúc, đụng chạm cách trực tiếp để được
lãnh nhận ân phúc (x.1Ga 1,1).
Cho người mù được sáng mắt: Quả thật Chúa Giêsu đã dùng lời quyền
năng của Người cho một vài người mù trong dân Israel thời bấy giờ được nhìn
thấy ánh sáng. Tuy nhiên chắc chắn vẫn còn đó nhiều người về thể lý lúc bấy giờ
chưa được lãnh nhận ân phúc. Như thế việc công bố lời ở đây không nhắm đến sự
mù hay sáng của đôi mắt thể lý. Chúa đến để công bố lời giúp nhân loại nhìn
thấy chân lý. Chân lý ấy chính là Người, Giêsu Kitô, cuộc sống, các hoạt động
và những lời giảng dạy của Người. “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục
đích này: làm chúng cho sự thật” (Ga 18,37).
Chân lý nền tảng mà Chúa Giêsu đã từng long trọng khẳng định lại
lời Kinh Thánh đó là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng dựng nên mọi sự và
là Cha chung của mọi người. Chúng ta phải tôn thờ, yêu mến Người hết lòng, hết
linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Yêu mến Chúa thì phải thực thi lời người
phán dạy. Vì thế chúng ta phải yêu mến tha nhân như chính bản thân mình, dù họ
thương ta hay ghét ta, dù họ làm ơn cho chúng ta hay bách hại chúng ta (x.Mc
12,28-34; Mt 5,43-48). Chính khi bước đi trong ánh sáng chân lý thì chúng ta sẽ
được tự do. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi cảnh tình nô lệ.
Giải thoát, trả tự do cho người bị áp bức, kẻ bị giam cầm: Chúng ta
chớ quên rằng khi Chúa Giêsu công bố những lời này và khẳng định chúng đang ứng
nghiệm thì người anh em họ của Chúa là Gioan Tẩy giả đang ở trong ngục tù. Khi
sai các môn đồ đến hỏi Chúa Giêsu rằng Người có phải là Đấng phải đến chăng,
thì có lẽ Gioan Tẩy giả đang băn khoăn và ít nhiều cũng đang ở trong đêm tối
của đức tin (x.Lc 7,18-23).
“Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội.
Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi.
Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những
người tự do”(Ga 8,34-36). Những lời khẳng định trên của Chúa Giêsu giúp chúng
ta hiểu rõ sứ mạng của Người. Người đến thế gian là để giải phóng chúng ta khỏi
cảnh nô lệ thần dữ, khỏi cảnh ngục tù của tội lỗi. Các bức tường gỗ đá của chốn
lao tù vẫn không thể cướp đi sự tự do của tâm hồn. Chính tội lỗi mới làm cho
chúng ta thành người nô lệ, mặc dù chân vẫn thong dong ngoài đời.
Sau lời tuyên phán “Ta truyền cho anh: Hãy chỗi dậy, vác chõng mà
về nhà” đôi chân của người bất toại được giải phóng.
Nhưng rồi phải đến ngày đôi chân ấy lại bất động vì bệnh tật hay vì
tuổi tác. Chính lời truyền phán: “ Tội lỗi anh được tha” mới là lời giải thoát
người bất toại khỏi cảnh nô lệ, giam cầm. (x.Mc 2,1-12)
Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã ban Ngôi Lời. Ngôi Lời là
Ánh Sáng thế gian. Ánh sáng chân lý dẫn đưa con người thoát cảnh nô lệ tội lỗi
đến cảnh đời tự do của phận người con được sống và sống mãi trong tình Cha trên
trời. Hãy lắng nghe lời của Esdra: Đừng sầu thảm khóc lóc, nhưng hãy hân hoan
vui mừng đón nhận Lời giải thoát, Lời yêu thương. Vậy hãy xét xem, bạn, tôi,
chúng ta đã tham dự phần Phụng Vụ lời Chúa trong các Thánh Lễ, đặc biệt Thánh
Lễ Chúa Nhật ra sao? Cũng hy vọng rằng các thừa tác viên của Lời trên giảng đài
chớ quên rằng những chia sẻ của mình là một phần của Phụng Vụ Lời Chúa. Mong
sao những lời ấy cũng có “quyền năng” vì là thần trí và là sự sống.
6. Đấng Cứu Thế.
Hội đường là nơi tụ họp có tính cách tôn giáo của người Do Thái.
Đồng thời, ngày Sabat, tức là ngày nghỉ lễ được cử hành tại hội đường, với việc
nghe đọc Thánh Kinh và diễn giảng. Mọi người Do Thái trưởng thành, tức là từ 30
tuổi trở lên đều có thể được đề nghị hay tình nguyện lên đọc và giải thích Kinh
Thánh.
Trở về Nadarét lúc này, Chúa Giêsu đã trên 30 tuổi, cho nên Ngài đã
tham dự vào sinh hoạt của cộng đồng tại quê nhà. Theo thánh Luca cho biết, Chúa
Giêsu đã nhiều lần giảng dạy trong các hội đường và lời giảng dạy của Ngài hẳn
đã có được một sức lôi cuốn và hấp dẫn, vì chẳng bao lâu, tiếng tăm Ngài đã
được làn truyền khắp vùng. Tất cả bầu khí phấn khởi này được sử dụng như là
phần nhập đề cho Tin Mừng lớn lao, mà Ngài sẽ rao giảng tại hội đường Nadarét,
như là một xác định lập trường và công bố chương trình hành động của Ngài. Vậy
lập trường ấy như thế nào và chương trình hành động của Ngài ra làm sao?
Tôi xin thưa: Lập trường ấy, chương trình hành động ấy xoay
quanh lời loan báo của tiên tri Isaia: Thánh Thần Chúa ngự trên tôi,
Ngài đã xức dầu tấn phong tôi và sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn,
băng bó những tấm lòng tan nát, giải phóng những kẻ bị giam cầm, làm cho người
mù được sáng, trả lại tự do cho những người bị áp bức, công bố năm hồng ân của
Thiên Chúa. Lời loan báo này có nghĩa là thời cứu chuộc đã bắt đầu, và Chúa
Giêsu, người đang đọc và cắt nghĩa đoạn tiên tri này, chính là Đấng đã được Thiên
Chúa xức dầu và sai đến để thực hiện ý định cứu chuộc mà Thiên Chúa đã ươm mơ
từ muôn ngàn thuở trước.
Lời giải thích của Chúa Giêsu thật ngắn gọn nhưng lại vô cùng quan
trọng, đặt người nghe trước một bối cảnh mới, trước một thời đại mới: Hôm nay
ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe. Có thể xưa cũng như nay,
nhiều người đã chờ đợi ở Vị Cứu Tinh những việc cả thể và lớn lao, những chiến
công lừng lẫy và oanh liệt. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã xuất hiện như một con
người nhân từ và dịu hiền, luôn quan tâm tới những đau khổ của con người khổ
đau, lấy việc giải thoát họ như là nội dung của sứ mạng mình được sai đến và
phải thực hiện. Trước mặt Ngài, thời cứu độ là thời tái lập lại trật tự và tình
thương giữa người với người.
Lời tuyên bố của Chúa Giêsu tại hội đường năm xưa chính là một sự
thách đố đối với cá nhân mỗi người chúng ta, cũng như đối với toàn thể Giáo
Hội, bởi vì cá nhân chúng ta cũng như Giáo Hội có nhiệm vụ tiếp nối sứ mạng cứu
độ của Chúa nơi trần gian, thế nhưng cá nhân chúng ta cũng như Giáo Hội đã thực
sự tái lập trật tự và tình thương yêu giữa người với người hay chưa?
7. Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm
Hôm nay lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm. Nếu tìm hiểu Kinh Thánh,
chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu đã thực thi mọi lời tiên tri nói về Ngài từ hàng
trăm năm trước. Đó là một bằng chứng xác quyết Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng
Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại.
Chẳng hạn về việc Ngài được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, thì
tiên tri Isaia đã loan báo:
- Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người
ta sẽ gọi con trẻ ấy là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Chẳng hạn về việc Ngài sinh ra ở Bêlem, thì tiên tri Mikêa đã nói:
- Và ngươi hỡi Bêlem xứ Giuđêa, ngươi không phải là một thành trì
nhỏ bé, bởi vì từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng cai trị nhà Israel.
Chẳng hạn việc Thánh Gia trốn sang Ai Cập, tiên tri Ôsê đã loan
báo:
- Ta sẽ gọi con Ta ra khỏi đất Ai Cập.
Nhất là những biến cố trong quãng đời công khai và cuộc tử nạn của
Ngài, cũng đã được ứng nghiệm một cách hết sức đầy đủ, chẳng hạn về cuộc khải
hoàn, tiến vào Giêrusalem một cách long trọng, thì tiên tri Giacaria đã mô tả:
- Hỡi Giêrusalem, này vua ngươi đang đến, Ngài cưỡi trên lừa con.
Về cái chết của Ngài, tiên tri Isaia đã công bố:
- Người ta đánh đập Ngài, nhưng Ngài đã bằng lòng chấp nhận, như
con chiên yên lặng trước người thợ xén lông.
Và còn nhiều biến cố, còn nhiều sự việc khác nữa, Chúa Giêsu đã
thực hiện đúng như lời các tiên tri đã loan báo. Và như chúng ta đã xác quyết:
Điều đó chứng tỏ Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa.
Mỗi lời tiên tri là một lời nói trước, về một biến cố nào đó sẽ xảy
ra, liên quan đến hành động tự do của Thiên Chúa. Những lời nói trước về Đức
Kitô, được Thiên Chúa tỏ bày cho các tiên tri, để rồi chính các tiên tri đã
công bố hàng trăm năm về trước cho dân Do Thái.
Nếu suy nghĩ một chút, chúng ta phải tin nhận rằng Đức Kitô đã đến
với chúng ta, Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ muôn dân mong đợi, như trong
đoạn Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu đã dẫn chứng lời tiên tri Isaia, để xác
quyết rằng Ngài là Thiên Chúa đã đến trong trần gian để cứu chuộc những người
nghèo đó, khổ đau và bất hạnh. Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu cũng nói tiên tri
về những chuyện sẽ xảy ra và tất cả đều đã được ứng nghiệm. Chẳng hạn Ngài đã
tiên báo về sự sụp đổ của Giêrusalem: Rồi đây sẽ không còn hòn đá nào chồng
trên hòn đá nào.
Và sự thực đã xảy ra như vậy. Vào năm 70, tướng Titus, người Rôma,
đã mang quân vây hãm Giêrusalem. Sau khi đã lọt được vào trong thành, họ đã đốt
phá và san bằng thành phố.
Còn chúng ta thì sao? Trong giờ phút quan trọng này, chúng ta cũng
đang sống lại những biến cố đã được ứng nghiệm: Thánh lễ là sự giáng sinh, là
cái chết và phục sinh của Đức Kitô được lặp lại trên bàn thờ này. Thế nhưng
chúng ta có đón nhận lời Chúa cùng với Bí tích Thánh Thể một cách trang nghiêm
và sốt sắng, hay chúng ta lại cứng lòng như dân làng Nadarét, để cuối cùng đã
xua đuổi Chúa, và tìm cách xô Ngài xuống vực sâu.
8. Xóa nợ cho nhau – Thiên Phúc.
(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)
Trước lúc lìa đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có giao cho con
cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm
tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh tổng đốc Hải
Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng
tuyệt đối không được ai mở ra xem, trừ quan tổng đốc.
Cái ống tre ấy truyền đến người cháu bảy đời của Trạng, mới rước
lên dinh quan tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống
thấy một cuộn giấy, ông rút ra xem thấy có hai câu chữ nho: ‘Ngã cứu nhi thượng
lương chi ách. Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần’. Nghĩa là: ‘Ta cứu ngươi khỏi xà
nhà đổ. Ngươi cứu cháu bảy đời của ta còn nghèo’.
Đang lúc bận việc, quan tổng đốc thấy hai câu nói xấc xược ấy, ông
liền nổi giận. Sẵn cầm chiếc quạt trên tay, ông đứng phắt dậy, chạy lại định
đánh người cháu bảy đời của Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà ngay
trên đỉnh đầu đổ xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ông mới vừa bước
ra, nên không sao cả.
Quan tổng đốc lúc đó mới giật mình hiểu rõ Trạng đã cứu mình khỏi
cái chết bất đắc kỳ tử. Quan ân cần xin lỗi người cháu ông, mời về tư thất đãi
cơm rượu, rồi cho một số tiền khá lớn, để cứu giúp cho gia đình cháu của Trạng
đang lâm hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.
Nói đến các bậc tiên tri ở nước ta, trước hết phải kể đến Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sinh thời ông đã nổi tiếng về các giai thoại tiên tri,
đến nỗi các sĩ tử nô nức xin theo học và thiên hạ đua nhau tìm đến hỏi về những
việc tương lai.
Tuy nhiên, các lời sấm của ông được ứng nghiệm là do trí thông minh
của ông đã mách bảo. Còn hôm nay, nơi Đức Giêsu đã ứng nghiệm sấm ngôn của
Isaia do Thánh Thần linh ứng. Chính Đức Giêsu cũng là một tiên tri được đầy
tràn Thánh Thần. Một tiên tri cao cả mang ơn gọi và sứ mạng cứu độ.
Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lãnh Thánh Thần như một việc xức
dầu.
Người được sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo hèn, những kẻ nghèo
tiền, nghèo bạn, nghèo văn hóa.
Người được sai đến với những kẻ bị giam cầm trong lao tù, trong ích
kỷ, trong tham lam.
Người cho kẻ mù được sáng mắt, kẻ u mê thoát vòng tối tăm.
Người trả tự do cho người bị áp bức, phá xiềng xích cho những tội
nhân.
Người khai mở một năm Toàn Xá, Năm Thánh, năm Hồng Ân cứu độ.
Chúng ta cũng đã được xức dầu để trở thành tiên tri, đi loan báo
Tin Mừng cứu độ.
Nếu Thánh Thần đã chi phối toàn bộ ngôn từ, hành vi của Đức Giêsu,
chúng ta cũng hãy ngoan ngùy để Thánh Thần hướng dẫn tất cả lời nói, việc làm
của mình.
Nếu sấm ngôn của Isaia đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu; ước gì Lời Chúa
cũng được ứng nghiệm trong cuộc đời chúng ta, bằng sự cộng tác tích cực của bản
thân mỗi người.
Con người ngày nay khắc khoải trong lo âu sầu muộn, người tín hữu
Kitô phải là chứng nhân của niềm vui.
Con người ngày nay ngụp lặn trong bóng tối của lầm lạc, người tín
hữu Kitô phải chiếu tỏa ánh sáng của đức tin.
Con người ngày nay bị kìm tỏa trong vòng nô lệ của tiền bạc, danh
vọng; người tín hữu Kitô phải loan báo sự tự do của con cái Chúa.
Nếu những người đã chịu phép Rửa trong Thánh Thần, mà còn làm ngơ
trước những con người nghèo hèn, áp bức kẻ cô thân cô thế, bịt mắt những anh em
dốt nát, và giam hãm tha nhân trong ngục tù dưới nhiều hình thức; thì quả thật,
Lời Chúa chẳng bao giờ được ứng nghiệm trong cuộc đời họ. Và Năm Đức Tin qua đi
trong cuộc đời mà họ không hề nhận được một chút Hồng Ân nào của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, Đức Thánh Cha đã kêu gọi các nước giàu xóa nợ cho các
nước nghèo. Xin cho chúng con cũng biết xóa nợ cho nhau, không chỉ xóa nợ tiền
bạc mà còn xóa đi những bất bình, nghi kỵ, thành kiến, hiểu lầm nhau…, để mọi
người chung quanh chúng con được nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn, vui tươi hơn.
Xin cho chúng con luôn là những sứ giả đi loan báo và chứng tá cho
tình yêu cứu độ của Chúa. Amen.
9. Thời gian cứu độ đã đến – Cố Lm. Hồng Phúc.
Chúng ta đều biết rằng Thánh lễ gồm hai phần liên kết chặt chẽ là
Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Trong Phụng vụ Lời Chúa, Thiên Chúa
nuôi dưỡng chúng ta bằng lời hằng sống của Chúa. Trong Phụng vụ Thánh Thể, Chúa
nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Thịt và Máu Thánh của Ngài.
Nghi thức Phụng vụ Lời Chúa có từ xa xưa trong đạo cũ Do-thái và
người khởi xướng ra là một tư tế tên là Esdras, sống vào thế kỷ thứ V trước
Thiên Chúa GS. Trong bài đọc I hôm nay, sách Nohemi kể lại việc ông tập họp dân
chúng, mở sách Luật ra đọc và giải thích. Dân chúng nghe, tung hô, rồi phủ phục
trước Thiên Chúa cầu nguyện.
Đó là nghi thức Phụng vụ Lời Chúa thường được tổ chức tại Hội đường
Do-thái trong ngày Sabba.
Thì, trong bài Phúc Âm, Luca kể lại một nghi thức Phụng vụ đặc biệt
tại Hội đường Nagiaret, quê quán của Chúa Giêsu. Trong xóm nghèo Nagiaret, ai
cũng biết Ngài là con bác thợ mộc Giuse và bà Maria. Ngài đã từng sống giữa họ,
chia sẻ đời sống của họ. Rồi gần đây, Ngài bỏ họ, bỏ nghề, bỏ làng đi rao giảng
Tin Mừng, làm nhiều phép lạ. Danh tiếng đồn thổi khắp nơi. Hôm nay, ngày Sabba
lễ nghỉ, họ được tin Ngài trở về làng. Thế là họ ùn ùn kéo đến Hội đường nơi
người sẽ giảng, đến vì muốn xem sự việc xảy ra làm sao. Con bác thợ mộc, ít học
trở thành một Rabbi!
Người ta trao cho Ngài sách Tiên tri Isaia, Ngài mở đúng vào nơi có
chép: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người
nghèo khó, chữa những tâm hồn xám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam
cầm, cho người mù được thấy, trả tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân
và ngày khen thưởng.”
Đoạn đó trích ở Isaia, chương 61, tiên báo về Đấng Messia. Đến đây,
không có gì lạ. Đoạn ấy dân chúng đã nghe nằm lòng. Sự lạ lớn lao như quả bom
nổ là: Người gấp sách lại và dõng dạc tuyên bố: “Hôm nay, Lời Thánh Kinh mà các
ông vừa nghe, đã thực hiện.” Chưa một tiên tri nào nói như thế hay cả dám nói
như thế. Chữ “hôm nay” thật là quan trọng. Lời của Thiên Chúa mà đem áp dụng
vào mình, y rằng mình là Thiên Chúa. Họ ngạc nhiên, họ bàn tán, họ châm biếm:
Đó là con bác thợ mộc Giuse và bà Maria đầu xóm kia mà. Trong Hội đường, có lẽ
chỉ có một người đàn bà hiểu, một người đang đứng với chị em phụ nữ bên kia tấm
chấn song ngăn cách. Đó là Đức Mẹ.
Ngài tuyên bố: Thời gian cứu độ đã đến. Chính Ngài là Đấng “hôm
nay” đến để cứu chuộc nhân loại, khai mạc mùa hồng ân cứu rỗi. Ơn cứu chuộc đó,
mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận, thì trong bài đọc II, Thánh Phaolô dạy
chúng ta phải ăn ở xứng đáng vì “chúng ta là chi thể của Ngài.” Mỗi người trong
thân phận của mình hãy làm sáng danh Chúa.
Lạy Chúa, “giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can, mệnh
lệnh Chúa sáng ngời”, xin sáng soi con mắt và đường lối con đi.
10. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Chúa Giêsu luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Tin
Mừng nhiều lần đề cập đến điều này. Chẳng hạn như: được Chúa Thánh Thần thúc
đẩy, Người vào sa mạc ăn chay cầu nguyện. Hôm nay được Chúa Thánh Thần thúc
đẩy, Người đi rao giảng khắp miền Galilê. Trở về Nagiaréth, Người đọc Sách
Thánh trong hội đường đúng đoạn nói về Ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Nhiều lần
Tin Mừng nói Chúa Giêsu tràn đầy hoan lạc trong Chúa Thánh Thần. Nhờ đâu được
như thế? Một phần nhờ việc đọc Sách Thánh.
Chúa Giêsu thường xuyên đọc Sách Thánh. Tim hôm
nay diễn tả: “Rồi Chúa Giêsu đến Nagiaréth, là nơi Người sinh trưởng. Người vào
hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabbat, và đứng lên đọc Sách Thánh”.
Yêu mến và gắn bó với hội đường, nên Chúa Giêsu thường xuyên đến sinh hoạt với
mọi người trong hội đường. Yêu mến và gắn bó với Sách Thánh nên Chúa Giêsu
thường xuyên đọc Sách Thánh. Còn hơn thế nữa, sau khi đọc, Người đứng ra giải
nghĩa cho mọi người. Đó là nếp sinh hoạt bình thường của Người. Nếp sinh hoạt
này đã thành thói quen từ khi Người còn nhỏ bé. Nên ngay từ khi lên 12 tuổi,
Người đã có thể đối đáp với các bậc tiến sĩ trong Đền Thờ Giêrusalem.
Chúa Giêsu kính cẩn đọc Sách Thánh. Chúa
Giêsu không đọc Sách Thánh theo thói quen. Người đọc một cách trịnh trọng kính
cẩn. Ta hãy chiêm ngắm thái độ của Người theo lời diễn tả của thánh Luca: “Họ
trao cho Người cuốn sách tiên tri Isaia. Người mở ra và đọc… Người cuộn sách
lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường
đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ”. Thật là trang nghiêm kính
cẩn. Thái độ của Người ảnh hưởng đến cả hội đường. Nên khi Người đọc mọi người
chăm chú nhìn Người. Chúa Giêsu trân trọng việc đọc Sách Thánh vì Người luôn
thao thức tìm thánh ý Chúa Cha. Người đọc Sách Thánh để tìm hướng dẫn cho cuộc
đời. Người đọc Sách Thánh để mong chu toàn thánh ý Chúa Cha. Người nhận biết
thánh ý Chúa Cha qua những trang Sách Thánh. Người cố đọc giữa những hàng chữ
để tìm thánh ý Chúa Cha.
Chúa Giêsu nghiêm túc thực hành lời Sách Thánh. Khi nói
với mọi người rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”,
Chúa Giêsu muốn nói đến hai điều. Điều thứ nhất: Người tìm thấy thánh ý Chúa
Cha qua đoạn Sách Thánh. Với thái độ kính cẩn, với lòng khiêm tốn hiếu thảo
lắng nghe, Chúa Giêsu đã đọc được thánh ý Chúa Cha qua đoạn sách tiên tri
Isaia. Biết lời tiên tri Isaia ứng nghiệm vào sứ mạng của mình. Điều thứ hai:
Biết được thánh ý Chúa Cha rồi, Chúa Giêsu cương quyết thực hành. Người coi đó
là chương trình hành động. Người coi đó là chỉ nam hướng dẫn. Dù sứ mạng của
Người vừa mới khởi đầu, Người cũng cương quyết hoàn thành. Suốt đời Người sẽ
thực hành chương trình này. Vì thế đoạn sách Isaia ứng nghiệm vừa do thánh ý
Chúa Cha vừa do ý chí của Chúa Giêsu quyết tâm thực hành thánh ý Chúa Cha.
Đây là mẫu gương cho ta. Đó là kết quả của Ơn Chúa Thánh Thần. Hãy
thường xuyên đọc Kinh Thánh để ta luôn được tiếp xúc với Thiên Chúa. Hãy kính
cẩn tìm thánh ý Chúa trong Kinh Thánh chắc chắn ta sẽ được ơn Chúa soi sáng cho
biết đường đi. Nhất là hãy quyết tâm thực hành Lời Chúa mà ta đã đọc. Ta sẽ
được tràn đầy Ơn Chúa Thánh Thần. Thật vậy, chẳng ai có thể say mê Kinh Thánh
nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần lôi cuốn. Chẳng ai tìm được thánh ý Thiên
Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần soi sáng. Chẳng ai có thể thực hành Lời
Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ. Như một phản hồi hai chiều.
Càng được Ơn Chúa Thánh Thần ta càng say mê Kinh Thánh. Càng say mê Kinh Thánh
ta lại càng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời. Cuộc đời sống theo Ơn Chúa
Thánh Thần hướng dẫn sẽ hoàn toàn ứng nghiệm ý định của Thiên Chúa cho bản thân
và cho tha nhân. Đó chính là cuộc đời đạt được mục đích cao quý nhất.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Bạn có thường xuyên đọc Kinh Thánh không?
2. Bạn tìm gì trong sách Kinh Thánh: khôn ngoan, lịch sử hay thánh
ý Thiên Chúa cho đời bạn?
3. Khi đọc Kinh Thánh bạn có nghĩ rằng Chúa đang nói với bạn không?
4. Bạn có thấy một câu Kinh Thánh ứng nghiệm vào bạn và bạn quyết
tâm thực hiện không?
11. Phát huy cuộc sống tâm linh và các giá trị tinh thần
(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)
Người ta kể: "Có ông nhà giàu Do Thái kia có tên là Rabba,
nhiều ruộng vườn, gia nhân đầy tớ và thợ làm công. Một hôm có người thợ làm
việc cho ông lỡ làm bể một thùng rượu, ông giận dữ mắng, chửi thậm tệ và buộc
bồi thường. Bọn thợ đến than phiền với một tiến sĩ luật, vị này khuyên ông
Rabba tha cho đám thợ nghèo. Ông Rabba hỏi vị luật sĩ: "Đây có phải là
luật Chúa không?" Vị tiến sĩ trả lời: "Phải, nếu ông hiểu biết tinh
thần luật". Nghe thấy, Rabba tha không đòi đám thợ bồi thường nữa. Có lần
khác, đám thợ can đảm than thở thẳng với ông chủ của họ: "Thưa ông, chúng
tôi quá nghèo túng, mặc dầu được ông thương cho việc làm và chúng tôi cũng đã
làm hết sức như ông thấy, nhưng chúng tôi cũng đói khổ và thiếu thốn mọi
sự". Vị tiến sĩ biết chuyện, nói với ông Rabba: "Ông hãy cho họ lãnh
lương tháng trước đi, nhưng đừng ghi sổ và sau đó sẽ quên chuyện này". Ông
Rabba hỏi: "Đây có phải là luật Chúa không?" Vị tiến sĩ luật trả lời:
"Phải, nếu ông hiểu tinh thần luật, vì thật ra luật Chúa đòi buộc công
bằng, nhưng có chủ đích làm cho con người trở nên tốt lành hơn".
Qua các bài đọc Chúa nhật hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta biết
lắng nghe Lời Chúa, mở mắt tinh thần canh tân tâm lòng và sống tốt lành hơn
giữa những suy đồi xã hội một cách đích thực. Esdra và Nêhêmia là hai vị lãnh
đạo Do Thái đã có công rất lớn trong nỗ lực hồi sinh dân Israel, tái thiết
thành Giêrusalem và xây lại đền thờ sau khi họ từ Babylon trở về nước vào năm
537 trước Tây Lịch. Hai tác phẩm mang tên hai vị tường thuật công tác tái thiết
cuộc sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và tôn giáo của dân Do Thái trong
thời ấy. Chương VIII sách Nêhêmia nêu bật vai trò của Lời Chúa trong công trình
tái thiết. Thật vậy, đối với dân Do Thái là dân riêng Chúa chọn, đã nhận được
luật lệ Chúa ban, nghĩa là Lời Người nói với họ, thì công trình tái thiết không
thể chỉ hạn hẹp trên bình diện vật chất như xây lại nhà cửa đền đài, tổ chức
trở lại bộ máy chính trị, kinh tế và các dịch vụ hành chánh của cuộc sống
thường ngày, mà còn phải tái thiết cuộc sống tinh thần nữa.
Tái thiết ở đây, trước tiên có nghĩa là trở về với các đòi buộc của
Giáo Hội, tuân giữ các luật lệ của Chúa, sống chìm ngập trở lại trong bầu khí
đạo hạnh, tin tưởng vững mạnh vào các Lời Chúa hứa vào giao ước và các phúc
lành của Chúa. Nói cách khác, dưới ánh sáng Lời Chúa, việc tái thiết đầu tiên mà
dân Do Thái phải làm là công cuộc tái thiết cuộc sống nội tâm, cuộc sống tinh
thần bị tội lỗi phá hủy. Vì nếu không thì công cuộc tái thiết vật chất cũng sẽ
không giúp dân Do Thái hồi sinh thật sự. Có đền thờ đẹp mà làm gì với tâm lòng
con người đầy tràn tội lỗi và xa rời Thiên Chúa. Đây là lý do giải thích tại
sao mặc dầu có rất nhiều điều phải làm trong giai đoạn tái thiết, ông Nêhêmia
vẫn tổ chức các buổi cử hành Phụng vụ Lời Chúa và dành thời giờ cho việc đọc,
lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, và toàn dân tán thành việc tái thiết cuộc sống
tinh thần do ông đề xướng.
Mặc dầu giờ đây họ cũng đang rách rưới, đói khát cơm bánh, cần đến
nhà cửa và công ăn việc làm, nhưng người dân hiểu rằng trong quá khứ, kiểu cách
sống tội lỗi sa đọa của họ đã khiến cho Giêrusalem bị đánh chiếm và thành thánh
bị phá hủy bình địa, thì giờ đây, chỉ có cuộc sống tâm linh mới giúp họ duy trì
những gì họ sẽ xây dựng mà thôi. Nếu không có nếp sống tinh thần mạnh mẽ, nền
văn minh vật chất cao, sớm muộn gì cũng dẫn đưa con người đến chỗ diệt vong.
Lịch sử thăng trầm của mỗi dân tộc trên thế giới đều minh xác sự
thật này. Sự suy đồi luân lý đạo đức và các giá trị tinh thần là dấu chỉ các
bước đầu suy thoái của một xã hội. Do đó phát huy cuộc sống tâm linh và các giá
trị tinh thần là cách thế hữu hiệu nhất giúp duy trì và thăng tiến cuộc sống xã
hội. Ngay trên bình diện vật chất, lập trường của ông Nêhêmia là một bài học
quí báu cho các vị lãnh đạo tinh thần, cho các cộng đoàn dân Chúa. Công việc
cấp thiết nhất luôn luôn là việc đào tạo nhân lực, củng cố tinh thần sống đạo
sâu đậm của tín hữu, chớ không phải là xây thêm nhiều nhà thờ và cơ sở cho to,
cho lớn, cho đẹp. Các cơ sở cần thiết nhưng chúng không làm nên sức mạnh của
cộng đoàn dân Chúa. Nguyên tắc này đã được thánh Phaolô áp dụng như tường thuật
trong chương 12 thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô.
Cộng đoàn này hồi đó bị chia rẽ nội bộ trầm trọng, các cuộc cải vã,
tranh chấp giành địa vị xảy ra trong các tầng lớp trong cộng đoàn, thêm vào đó
là kiểu cách sống và hành xử đi ngược tinh thần Kitô. Trong các tín hữu có
người sống dâm loạn, buông thả các nhân đức Kitô, đặc biệt là đức bác ái bị
lãng quên. Để tái tạo sự hiệp nhất giữa các thành phần cộng đoàn và cho thấy
tất cả mọi người đều có một chỗ đứng quan trọng và một phận vụ cần thiết đối
với cộng đoàn, thánh Phaolô đã dùng lại hình ảnh thân mình và các chi thể là
một hình ảnh quen thuộc trong nền văn chương Ai cập, và nhà văn Rôma, Titô
Liviô, đã dùng lại để diễn tả nỗ lực của hoàng đế Agrippa làm hòa lại giữa hai
nhóm cùng đinh và quý tộc Rôma tranh chấp chống đối nhau. Tuy nhiên, thánh
Phaolô không chỉ dùng hình ảnh thân mình và chi thể như một kiểu nói ám chỉ,
diễn tả tính cách bổ túc và phối hợp điều hòa giữa các chi thể với nhau trong
thân thể con người, mà thánh nhân cũng còn rất thường hay nói đến thân mình
thật sự của Chúa Kitô là bí tích Thánh Thể và thân mình mầu nhiệm của Chúa Kitô
là cộng đoàn tín hữu, là Giáo Hội. Cộng đoàn tín hữu phải có khả năng diễn tả
cho mọi sinh hoạt và kiểu cách sống của mình, những gì được biểu lộ trong bí
tích Thánh Thể, nghĩa là diễn tả sự hiệp nhất tinh thần, chia sẻ ơn thánh, thái
độ sống tận hiến cho nhau, hòa tan trong nhau và xây dựng cho nhau và với nhau.
Điều đó cũng có nghĩa là các tương quan giữa các tín hữu với cộng đoàn và nhiệm
vụ mỗi người giữa lòng Giáo Hội, phải được sống như trong bí tích Thánh Thể,
phục vụ, hy sinh và tận hiến, chớ không được để cho chủ trương tranh giành địa
vị, đòi hỏi quyền lợi như các thái độ vụ lợi trần tục chi phối và hướng dẫn.
Trong viễn tượng và tinh thần đó, mỗi một Kitô hữu đều tìm ra chỗ
đứng của mình trong lòng cộng đoàn Giáo Hội mà không bị rơi vào chước cám dỗ
coi mình là có nhiều khả năng nhất, tài giỏi nhất và giữ địa vị quan trọng
nhất, không có mình thì không xong. Thay vì cố gắng xây dựng vun trồng cộng
đoàn Giáo Hội vững mạnh thì lại sống phản chứng, ích kỷ, kiêu căng ngạo mạn để
đi đến chỗ trở thành dụng cụ của Satan, đánh phá Giáo Hội, gây chia rẽ kỳ thị
khiến cho cộng đoàn Giáo Hội bị thương tích tan rã và suy yếu đi.
Mỗi khi không sống theo mẫu gương của Chúa Giêsu Kitô và không diễn
tả những gì được thể hiện qua bí tích Thánh Thể, là người tín hữu chối bỏ ơn
cứu độ mà Chúa Giêsu Kitô đã đem đến cho nhân loại khi nhập thể làm người, khi
bước vào lịch sử và sống giữa lòng xã hội con người. Trong chương 1 và 4, thánh
Luca có ý củng cố niềm tin của tín hữu, đặc biệt những người nghi ngờ nền tảng
lịch sử của ơn cứu độ. Thánh nhân đề nghị với mọi người theo sát chương trình
sống của Chúa Giêsu Kitô, chương trình này hiện thực Lời Thiên Chúa hứa, vĩnh
viễn can thiệp vào cuộc sống của con người đã bị tội lỗi biến sự sống trở thành
cái chết. Tất cả những động từ thánh Luca dùng trong chương 4,14-21, như giải
thoát, chữa lành, trao ban ơn thánh cho con người, diễn tả ơn cứu độ toàn vẹn
mà Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại. Chúng cũng phải là kiểu cách sống của một
Kitô hữu, khi nào và ở đâu có bóng dáng Kitô hữu, thì ở đó bóng tối của sự dữ
cũng phải bị đẩy lui. Khi đó, ở con người cũng có cuộc sống sung túc lành mạnh
hơn trên thân xác mà nhất là trong tinh thần. Đây là lý do giải thích mọi nỗ
lực và mọi sinh hoạt của xã hội trong việc củng cố cuộc sống tâm linh và thăng
tiến cuộc sống xã hội cho con người. Tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng
kiện, một thân thể có to lớn mập mạp béo tốt đến đâu mà không có tinh thần và
tâm trí lành mạnh, thì cũng chỉ là một thân thể bệnh hoạn đáng thương.
12. Xin hãy sai con – Lm. Ignatiô Trần Ngà.
Sau khi nghe giảng về Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Chúa đầy lòng
yêu thương, một thính giả không đồng tình với vị giảng thuyết. Đầu óc ông quay
cuồng bởi những câu hỏi như:
Làm sao người ta có thể tin Thiên Chúa là Đấng nhân lành khi Ngài
nhắm mắt làm ngơ trước cảnh biết bao nhiêu người nghèo khổ, tuyệt vọng, mất
phương hướng phải sống trong sầu đau mà không ban cho họ một tin mừng, một tia
hy vọng?
Làm sao người ta tin được Thiên Chúa là Cha nhân ái khi có biết bao
người phải chịu cảnh giam cầm trong ngục tù vật chất, trong sự trói buộc của
các đam mê mà Ngài không ra tay giải thoát?
Thật khó tin có Thiên Chúa là Đấng tốt lành khi Ngài để cho những
người mù, nhất là mù tối trong tâm hồn, không được nhìn thấy ánh sáng chân lý.
Và bao nhiêu người bị áp bức, bị gông cùm sao Chúa không giải thoát
họ?
Đêm hôm ấy, trằn trọc không ngủ được vì những câu hỏi ấy lởn vởn
trong đầu, ông chợt nhận ra câu đáp của Thiên Chúa từ trong vắng lặng của đêm
trường:
- Ta đã ra tay rồi đó, sao con còn trách Ta?
- Ngài ra tay lúc nào đâu? Ngài đã làm gì để cứu vớt những người
tuyệt vọng, những người bị giam cầm, những người mù tối, những người bị áp bức?
- Ta đã dựng nên con và đặt con hiện diện giữa lòng đời để con thay
Ta mà hành động. Thế sao còn trách Ta?
Có một điều quan trọng nhưng thường bị lãng quên, đó là chúng ta là
những cánh tay, là những bàn tay của Thiên Chúa và Ngài hành động, Ngài thực
hiện mọi việc qua chúng ta. Thiên Chúa có làm gia tăng số người trên mặt đất
thì Ngài cũng thực hiện việc đó qua trung gian một người cha và một người mẹ
trong gia đình. Thiên Chúa muốn nuôi dạy cho thiếu nhi nên tốt thì Ngài cũng
thực hiện điều đó qua cha mẹ thầy cô.
Xưa kia Thiên Chúa Cha đã nhờ đến Chúa Giê-su để đem Tin Mừng cho
người nghèo, giải thoát cho kẻ bị giam cầm, đem ánh sáng cho người mù tối, trả
tự do cho người bị áp bức thế nào, thì hôm nay, Ngài cũng cần đến chúng ta để
thực hiện những công việc đó.
Thế là chúng ta phải lựa chọn: Hoặc là chúng ta chấp nhận ở lại
trong nhiệm thể Chúa Giê-su, trở thành cánh tay nối dài của Ngài để tiếp tục sứ
mạng của Ngài, hoặc là chúng ta tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa Giê-su để khỏi bị
Ngài sử dụng và sai khiến.
Tờ Times, một tờ báo nổi tiếng nhất thế giới, vào dịp cuối năm có
thói quen giới thiệu cho độc giả biết những con người làm nên lịch sử của từng
năm. Năm 2004, tờ báo bình chọn tổng thống Bush làm nhân vật quan trọng nhất
trong năm. Năm 2005, tờ báo chọn vợ chồng Bill Gates vì những hoạt động từ
thiện của hai vợ chồng nầy. Cuối năm 2006 vừa qua, báo Times chọn một nhân vật
chẳng ai ngờ, nhân vật đó là, là... "Bạn" (You). Tức là mỗi một người
trong quý ông bà anh chị em.
Đúng vậy, đó không phải là chuỵên đùa. Mỗi người trong chúng ta làm
nên lịch sử. Thế giới nầy có được đổi mới, có được tiến bộ hay không cũng là
nhờ sự cộng tác của từng người, của mỗi một người trong cộng đồng nhân loại.
Đừng nghĩ rằng mình chỉ là một hạt cát bé nhỏ vô ích, vì những bãi
cát mênh mông được tạo nên bằng những hạt cát bé nhỏ như thế đó.
Đừng nghĩ rằng mình chỉ là một giọt nước li ti không nghĩa lý gì,
vì cả đại dương bao la cũng được tạo nên bằng những giọt nước li ti như vậy đó.
Hãy nhận ra rằng mình là chi thể của Chúa, là khí cụ cứu rỗi của
Ngài. Hãy để Chúa sử dụng chúng ta như khí cụ xây dựng hoà bình của Chúa.
Điều chính yếu và quan trọng là chúng ta hãy hiến dâng đời mình cho
Chúa, hãy thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, nầy con đây, xin hãy sai con.
Một khi chúng ta đã hành động theo lời sách tiên tri Isaia hôm nay,
để cho "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để
tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị
giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do
cho người bị áp bức"..., chúng ta có thể mãn nguyện và nói như Chúa Giê-su
hôm xưa rằng: "hôm nay, đã ứng nghiệm nơi tôi đoạn sách mà quý vị vừa
nghe".
13. Sống cho người nghèo – Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền
Mẹ Têrêsa Calcuta đã trở nên mẹ của người nghèo, mẹ của những con
người cùng khổ, bất hạnh và bị bỏ rơi. Với cuộc đời luôn sống với người nghèo,
cho người nghèo, mẹ càng trở nên cao trọng giữa muôn người trong thế kỷ thứ 20.
Mẹ đã được cả thế giới gọi mẹ bằng một tên gọi đầy kính trọng Mẹ Têrêsa
Calcutta. Và có lẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến tên gọi của mẹ do hai cụ thân sinh
đã đặt từ ấu thơ Agnes Gonxha Bojaxhiu.
Trong thánh lễ phong Chân phước cho Mẹ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II đã đề cao mẹ như là một chứng nhân phục vụ theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu.
Ngài nói: "Mẹ Têrêsa không những đã chọn chỗ thấp nhất mà còn muốn đi phục
vụ những người hèn mọn nhất của xã hội. Tựa như một người mẹ của những người
nghèo. Người nghiêng mình xuống trên những người cùng khổ vì đủ mọi thứ nghèo
khổ". Mẹ đã dấn thân đến với người nghèo hầu mong nâng cao phẩm giá họ lên
giữa một xã hội còn đầy những kỳ thị chủng tộc, kỳ thị sang hèn, giai cấp...
Chính Mẹ đã từng nói: "Cái nghèo khổ nhất trên đời này là bị xua đuổi, không
còn được ai đoái hoài đến nữa". Mẹ còn muốn cho công việc của Mẹ được nhân
rộng thêm lên, Mẹ đã thành lập hội dòng Thừa sai bác ái với ước nguyện:
"Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi
biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo".
Lời Chúa hôm nay có thể nói là tin vui cho những người nghèo khổ,
những người bất hạnh và bị bỏ rơi. Chúa Giêsu đã chọn người nghèo để dấn thân,
để phục vụ. Không phải là Chúa Giêsu khinh bỉ người giầu, người quyền thế mà có
thể nói Ngài đến để giúp cho những con người thấp hèn kia được nâng cao, được
tôn trọng như những con người giầu có, quyền quý. Chính Ngài đã chọn sinh ra
trong thân phận một người nghèo. Chính Ngài đã sống một cuộc đời nghèo khó.
Nghèo khó đến nối "không có nơi gối đầu". Mỗi bước chân của Ngài đều
hướng đến những người khổ đau. Mỗi ánh mắt của Ngài đều hướng về những con
người bất hạnh. Mỗi cái nhìn của Ngài đều chạnh lòng thương những ai đang đau
khổ bơ vơ vì bị bỏ rơi, vì thiếu thốn tư bề. Ngài đã thực hiện trọn vẹn sứ vụ
của Đấng Messia mà các tiên tri đã loan báo. "Khi Người đến mắt người mù
sẽ được nhìn thấy. Tai người điếc sẽ được nghe. Người câm nói được và người què
nhảy nhót như nai". Tất cả những điều đó hôm nay đã ứng nghiệm trong con
người Đức Giêsu miền Nagiaret. Thiên Chúa đã nhập thể làm người để nâng con
người nên làm con Thiên Chúa. Thiên Chúa đã trở nên Emmanuel ở lại luôn mãi với
nhân trần. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người để yêu thương và ban phát ơn
lành. Đấng Thiên Sai đã chọn người nghèo, người cùng khổ để dấn thân phục vụ.
Đấng Thiên Sai đã sống một kiếp người trong nghèo khó, thiếu thốn tư bề để cảm
thông với những lắng lo của kiếp người truân chuyên.
Đó cũng là sứ điệp mà Lời Chúa muốn nhắn nhủ con người hôm nay.
Giữa một xã hội quá chênh lệch giầu nghèo, địa vị. Giữa một xã hội quá phân
biệt giai cấp và địa vị. Mức sống của từng giai cấp, địa vị đều khác nhau. Có
những người ăn tiêu một bữa ăn bằng tiền lương cả một tháng lao động vất vả của
một công nhân quèn. Ở Việt Nam hôm nay có những trường học phổ thông dành cho
con nhà giầu, mỗi tháng thu lệ phí mỗi em cả hàng chục triệu đồng, trong khi đó
nhiều gia đình phải chật vật để kiếm vài trăm ngàn cho con có cơ hội đến
trường, đến lớp. Có những người ốm đau bệnh tật kéo dài cả cuộc đời vì không có
tiền trang trải cho viện phí nên đành chấp nhận đau đớn mỗi khi trái gió trở
trời, đang khi đó có biết bao người giầu có dư tiền dư của đến nỗi bỏ ra hàng
triệu đồng để lột da cho tươi trẻ, và còn khoét thêm má lún đồng tiền để thêm
phần duyên dáng thanh cao. Có những người cơm không đủ no, áo không đủ mặc đang
khi đó có biết bao người áo chỉ mặc một lần và đồ ăn thức uống vất ngổn ngang
quanh nhà.
Giữa một xã hội quá nhiều những thị phi như thế, Chúa đang cần
chúng ta hãy tiếp tục công việc của Chúa. Hãy là những chứng nhân cho công việc
phục vụ anh em. Hãy đem tình yêu Chúa trải rộng khắp mọi nẻo đường chúng ta đi.
Hãy biết chạnh lòng thương với những ai đang khốn khổ lầm than. Hãy biết chia
sẻ cơm bánh cho những anh em nghèo đói. Hãy cúi mình phục vụ những ai không có
gì để đền đáp lại chúng ta.
Năm nay, Giáo hội Việt Nam hân hoan đón mừng năm Đức Tin, là dịp để
chúng ta nhìn vào cung cách sống phục vụ quên mình của các nhà truyền giáo đã
không quản ngại vất vả, gian truân, đói khát, thiếu thốn để vun trồng tin mừng
cho quê hương Việt Nam. Chính đời sống yêu thương phục vụ của các nhà truyền
giáo và của các bậc cha ông chúng ta ngày xưa đã đánh động những người dân
Thăng Long đến nỗi họ đã từng nói với nhau: "Kìa nhìn xem người ky-tô hữu
họ yêu thương nhau biết bao". Đó cũng phải là cung cách sống của chúng ta,
những con người thời đại hôm nay hãy biết sống quên mình, biết sống phục vụ vì
lợi ích anh em để làm chứng cho Chúa. Ước gì với tinh thần sống đời kytô giáo
yêu thương và phục vụ sẽ là dấu chỉ thật đẹp của người môn đệ Chúa Kytô giữa
thế giới hôm nay. Amen.
14. Công bố năm hồng ân
(Trích trong ‘Tin Mừng Chúa Nhật’)
Sau khi Chúa Giêsu đã lãnh nhận lễ rửa của Gioan và vào sa mạc để
chịu ma quỷ cám dỗ. Ngài ở lại Giuđê một thời gian rồi quay về Galilê. Nơi đây
Ngài bắt đầu một chức vụ mà Luca để dành sáu đoạn trong Phúc Âm ông viết để nói
đến. Ông kể ra ba đặc điểm của chức vụ này: được thi hành do quyền năng của
Chúa Thánh Thần, danh tiếng Ngài được dồn rộng khắp xứ, cách giảng dạy có uy
quyền giữa công chúng.
Nơi đâu tiên Ngài thăm viếng và giảng bài giảng đầu tiên là tại hội
đường Nadaret không phải là một làng, nó được gọi là ‘Polis’ nghĩa một thành
hay một thị trấn, và có thể có tới hai mươi ngàn dân. Nadaret tọa lạc trong một
vùng đất của sườn đồi của Galilê gần cánh đồng Gitrien. Chỉ cần leo lên đỉnh
đồi vượt cao trên mặt thành là có thể thấy toàn cảnh bao la hàng dặm chung
quanh đó. Geoge Ađam Smith diễn ra phong cảnh từ đỉnh đó như sau: “Lịch sử của
Israel mở ra trước mặt chúng ta: kia là cánh đồng Edroelon, nơi Đêbora và Barac
đã chiến đấu, nơi Giêđêon đã thắng trận vẻ vang, nơi vua Saolê đã thảm bại, và
chính nơi này Giosia đã bị giết trong chiến trận. Kia là vườn nho của Na-bốt,
chỗ Giêhu giết Giêsaben, kìa nữa là đất Sunem, nơi tiên tri Êlia đã sống, kìa
là núi Các-men, nơi tiên tri Êlia đã đánh trận oanh liệt với các tiên tri
Ba-an, và xanh canh ở đàng xa là Địa Trung Hải và các đảo. Nhưng không phải chỉ
có lịch sử Israel ở đó, mà lịch sử thế giới cũng mở ea từ trên đỉnh đồi
Nagiarét. Có ba con đường lớn vây quanh Nagiarét. Có con đường từ phía nam đưa
các khách hành hương lên Giêrusalem. Có con đường lớn dọc bờ biển để đưa những
đoàn thường gia chở nặng hàng háo từ Ai-cập lên tới Đa-mát. Có con đường lớn đi
về Phương Đông cho những đoàn doanh thương từ xứ Arabi tới, và cũng có những
đoàn quân viễn chinh La-mã tiến về các biên giới miền Đông của đế quốc. Thật
sai lầm nếu nghĩ rằng Chúa Giêsu lớn lên tại một nơi hẻo lánh. Ngài lớn lên
trong một thành có tầm cỡ lịch sử và có các trục lộ giao thương của thế giới
chạy qua ngay trước ngọ. Chính nơi đây Chúa Giêsu đã giảng bài quan trọng chứa
đựng cả chương trình chức vụ của Ngài hay cũng có thể gọi được là bản tuyên
ngôn về công tác cứu rỗi mà Ngài đến thực hiện.
Hôm ấy là ngày sabat. Các bà con bạn hữu và những người đồng hương
của Chúa Giêsu đều hội họp đông đảo tại nơi thờ phượng chung là hội đường. Tất
cả đều nóng lòng muốn được nghe một người mà họ quen biết nhiều, một người mới
thình lình nổi tiếng. Có thể là Ngài yêu cầu hoặc là người phụ trách hội đường
đưa cho Ngài cuộn da ghi lời Kinh Thánh của tiên tri Isaia để hướng dẫn giờ đọc
Lời Chúa. Ngài mở nhằm chỗ nói về niềm vui của năm hồng ân, tác giả mô tả sự
vui mừng của những kẻ trở về sau cuộc lưu đày từ Babylon. Chúa Giêsu đọc xong
thì ngồi xuống như cách các giáo sư nhà hội thường làm. Tất cả đều chăm chú
nhìn Ngài chờ đợi, Ngài lợi dụng dịp này để công bố lời tiên tri này được ứng
nghiệm nơi chính Ngài, Ngài tuyên bố Ngài chính là Đấng Mêsia (Cứu Thế) đã được
hứa. Lời tiên tri bắt đâu với câu “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi”, đem áp dụng
cho Ngài, có nghĩa rằng ngài đã được xức dầu tấn phong, không phải bằng dầu
thương như các tiên tri, thượng tế hay vua, nhưng bằng Thánh Thần để làm Đấng
Được Xức Dầu hay Đấng Kitô của Thiên Chúa. Với tư cách ấy, Ngài sẽ giảng Tin
Mừng cho người nghèo về thuộc thể cũng như thuộc linh. Ngài sẽ công bố sự giải
póng hco những kẻ bị tù đày vì tội lỗi, và thiết lập những nguyên tắc rồi đây
sẽ đem lại sự tự do cho nhân loại. Ngài sẽ giúp cho kẻ bị áp bức được tự do,
nghĩa là cởi bỏ những hậu quả và sự độc ác của lòng ích kỷ và tội lỗi. Ngài sẽ
rao truyền một thời đại ân điển cho tất cả. Như vậy với những lời mô tả về sự
giải póng nô lệ và niềm vui của năm hồng ân, Chúa Giêsu đã diễn đạt tính chất
ân điển và phước hạnh của chức vụ Ngài.
Chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng hơn để thấy được dưới tác động của
Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu đã vận dụng Kinh Thánh Cựu ước như thế nào cho sứ
mệnh cứu thế của Ngài.
Khi Chúa Giêsu giảng dậy trong các nhà hội, thường vẫn có đọc Sách
Thánh, như đây là cơ hội duy nhất chúng ta được biết Ngài chọn bản văn. Và
những lời đầu tiên được Ngài công bố trong bản văn Thánh “Thần Khí Chúa ngự
trên tôi.” Người có thể nhận thấy niềm hoan lạc tỏa ra từ giọng nói và nét mặt
khi Ngài thốt ra Thần Khí Chúa, lời mà tiên tri Isaia đã ghi lại mà không nắm
bắt hết nội dung, còn Ngài thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa. Khi công bố “Thần Khí
Chúa”, Ngài muốn tôn vinh tác giả Thần Linh, Đấng đã linh hứng lời tiên tri và
bây giờ đây hướng dẫn việc thực hiện. Âm thầm và mau mắn, Chúa muốn cho thấy
chính Thần Khí Chúa là nguồn gốc sứ mệnh của Ngài và hướng dẫn mọi đường đi
nước bước. Ngài dùng chính từ ngữ mà chính Thần Khí đã bảo nhà tiên tri.
Trước những người đồng hương Nagiarét, việc nêu rõ tên như thế này
mang lại một tầm quan trọng hơn. Chúa Giêsu đang ở trong làng nơi đã nhiều năm
sinh sống, ai cũng biết rõ gia đình Ngài: “Đây không phải là con ông Giuse
sao?” Câu nói biểu lộ sự ngạc nhiên thấy con của một người thợ tầm thường lại
có được khôn ngoan và quyền năng như thế. Nhưng cũng hé mở cho thấy niềm xác
tín rằng một giá trị cao cả như thế không thể do nguồn gốc gia đình mang lại.
Chúa Kitô lập tức phải đối đầu với nhóm thính giả gợi ra gia đình thần linh mà
Ngài đang thuộc về. Chẳng phải gia đình nhân loại đem lại cho Ngài những danh
hiệu cho công trình Ngài đang đảm nhiệm, nhưng là Thần Khí của Đức Chúa. Ít ra
các thính giả hiểu rằng Ngài đang nại đến uy quyền thần linh, Ngài tuyên bố
giáo ký và hành động của Ngài là do Thiên Chúa đặt định. Ngay lúc này họ chưa
có thể nhẫn ra Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến một ngôi vị thần linh khác, vì cho
đến lúc này họ chưa hề có được ý tưởng Thần Khí là một Ngôi vị Thiên Chúa.
Nhưng ý tưởng này đã bao hàm trong lời nói của Chúa Cứu Thế.
May mắn hơn dân làng Nagiarét, chúng ta biết được nghĩa Chúa Giêsu
áp dụng cho lời tiên tri. Chúa Giêsu áp dụng cho Ngôi vị thần linh khác là
nguồn gốc và điều khiển sứ mệnh cứu thế của Ngài. Để sứ mệnh của Ngài được điều
hành do Thiên Chúa, chỉ cần Ngôi Hai Thiên Chúa làm người hoàn thành cũng đủ,
thế nhưng Chúa Giêsu dựa vào sự hiện diện của Đức Chúa trên Ngài. Ngài xác nhận
vai trò chủ quản của Thần Khí, và hơn thế, ở phía sau vai trò nguyên thủy tối
quan trọng của Chúa Cha, là nguồn gốc của tất cả; vì nếu từ “Thần Khí” hướng về
Chúa Thánh Thần, thì từ “Đức Chúa” trong ý của Chúa Giêsu phải quy hướng đặc
biệt về Ngôi Cha, và như thế tất cả gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa được gợi lên.
Như thế là theo chương trình của Thiên Chúa, Đức Kitô hoạt động nhờ Chúa Thánh
Thần là Thần của Chúa Cha, đang ngự trong Ngài.
Cần hiểu đúng ý nghĩa việc Thần Khí ngự trên Đức Giêsu. Lời sấm
trong sách tiên tri Isaia cho thấy một sự hiện diện qua việc xức đầu và trao
ban một sứ mệnh. Nếu Thần Khí của Đức Chúa ngự trên Ngài là vì Đức Chúa đã xức
dầu cho Ngài. Xức dầu là dấu chỉ thánh hiến một người, biệt riêng ra để phục vụ
Thiên Chúa và mặc lấy quyền năng do Chúa ban như xưa trong Cựu ước, quyền làm
vua, làm tiên tri, làm tư tế.
Chúa Kitô quả quyết Ngài được xức dầu do Đức Chúa, từ Thiên Chúa
Cha. Không phải dầu vật chất, nhưng là chính Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần
mà Chúa Giêsu được thánh hiến để phục vụ Chúa Cha, chính do Thánh Thần mà Ngài
nhận được quyền năng. Danh hiệu Kitô của Chúa Giêsu là do Thánh Thần, vì danh
hiệu này theo nguyên ngữ là “Đấng được xức dầu”. Vì thế mỗi khi nhắc tới danh
hiệu Kitô là nêu ra việc Ngài được Chúa Thánh Thần thánh hiến.
Việc xức dầu là đề hoàn thành một sứ mạng. Khi đọc lời tiên tri,
Đức Giêsu loan báo sứ mạng mà Thần Khí Chúa trao cho Ngài thi hành. Điều đáng
lưu ý là Ngài cắt ngang ngay giữa câu. Lời sấm ghi: “Thần Khí của Đức Chúa là
Chúa Thượng… Ngài sai tôi công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo
phục của Thiên Chúa chúng ta.” (61,2), Chúa Giêsu ngừng lại sau “Năm hồng ân”
và bỏ qua loan báo “ngày báo phục”. Ngài không đến để loan báo ngày báo phục
của Thiên Chúa, nhưng để công bố năm hồng ân. Như thế chữ cuối cùng “Năm hồng
ân” diễn tả phúc lộc của Thiên Chúa phù hợp với chữ đầu tiên “Thần Khí Chúa”. Thần
Khí Chúa làm cho sứ điệp và công việc của Chúa Giêsu thành dấu chứng của tình
yêu Thiên Chúa. Khi bỏ đi phần báo phục, Chúa Kitô muốn chứng tỏ rằng Chúa
Thánh Thần chỉ thông chuyển tình yêu qua Ngài. Có thể coi Chúa Thánh Thần như
là hồn của sứ mệnh Đức Giêsu. Chính Chúa Cha giao nhiệm vụ cho Chúa Con, khi
thi hành sứ mệnh này, Chúa Thánh Thần đã tác động cho Chúa Con, chính Ngài qua
Chúa con “loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ.” Khi Chúa Giêsu hăng say rao
giảng cho quần chúng, chính Thánh Thần linh động lời Ngài và thấu vào tâm trí
người nghe. Chính Chúa Giêsu cũng không đưa ra dấu hiệu nào khác minh chứng cho
sứ mệnh của Ngài bằng nại đến ban phát tình thương. Khi Gioan Tẩy giả nóng lòng
chờ đợi thiết lập vương quốc thiên sai, từ trong ngục tù sai người hỏi Chúa
Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải chờ đợi đấng nào
khác?” Chúa Giêsu trả lời bằng cách nhắc cho vị Tiền Hô lưu ý tới thể hiện tinh
thần yêu thương, Thần Khí đã giáng xuống dưới hình chim bồ câu để làm cho dung
nhan Đấng Cứu Thế có diện mạo Con Chiên lành. Đừng chờ đợi nơi Đấng Cứu Thế một
quyền năng nào khác ngoài tình yêu được ban phát giờ đây. Để nhắc lại Thần Khí
Chúa ngự trên Ngài, Chúa Giêsu trích dẫn chính lời tiên tri Isaia, và kể lại
cho Gioan điều mắt thấy tai nghe: “Mù được thấy, què được đi, phong cùi được
khỏi, điếc được nghe, kẻ chết sống lại và Tin Mừng được loan báo cho người
nghèo.” (Mt 11,4,6)
Chúng ta đã được tháp nhập vào Đức Kitô với Bí tích Rửa tội. Không
gì thích hợp hơn để chúng ta áp dụng trong thực tế lời kinh Năm Thánh 2000:
“Lạy Cha, xin cho chúng con trong Năm Toàn Xá, biết vâng nghe tiếng Chúa Thánh
Thần, biết trung thành theo Đức Kitô, biết chuyên cần lắng nghe lời Chúa, và
năng đến với nguồn mạch ân sủng.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh,
Chỉ có Chúa là Thiên Chúa và là Đấng Tối Cao,
Chúng con xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời.
Lạy Cha, xin dùng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, làm cho Hội Thánh
thêm nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, cách thích hợp trong thời đại mới. Xin dẫn
bước chúng con trên khắp nẻo đường trần gian, để rao giảng Đức Kitô bằng tất cả
đời sống, và hướng cuộc lữ hành dương thế của chúng con, tiến về thành đô ánh
sáng trên trời. Xin cho các môn đệ Đức Kitô được tỏa sáng nhờ biết yêu thương
những kẻ nghèo hèn và những người bị áp bức. Xin cho họ biết liên đới với những
kẻ khốn cùng và quảng đại sống bác ái yêu thương. Xin cho họ biết khoan dung
với mọi người hầu chính họ cũng được hưởng lòng Cha tha thứ khoan dung…”
15. Năm hồng ân của Chúa.
(Trích trong ‘Manna’)
Suy Niệm
Khi đã khá có tiếng tăm ở vùng Galilê, Đức Giêsu trở về Nadarét,
nơi Ngài sinh trưởng. Làm sao Ngài quên được mảnh đất làng quê đã ấp ủ mình,
nơi có bà con họ hàng, láng giềng, bè bạn. Hơn nữa Ngài cũng không cắt đứt với
tôn giáo của cha ông.
Ngài vẫn là một người Do Thái ngoan đạo, quen lui tới hội đường
cùng với dân làng vào ngày sa-bát, để thờ phượng Thiên Chúa mà Ngài âu yếm gọi
là Cha.
Chúng ta cần chiêm ngắm Đức Giêsu đứng đọc Sách Thánh. rồi ngồi
xuống giải thích Lời Chúa cho mọi người. Cử chỉ của Ngài thật trang trọng, đỉnh
đạc, khi nhận sách, mở sách, cũng như khi cuộn sách để trả lại. Có một bầu khí
cầu nguyện sâu lắng ở hội đường.
Mọi người đều chăm chú nghe lời Ngài giảng. Đoạn sách Ngài đọc hôm
ấy là của ngôn sứ Isaia. Isaia đã nói lên ơn gọi và sứ mạng của mình. Ông được
xức dầu để trở thành ngôn sứ cho những người Do Thái mới thoát khỏi cảnh lưu
đày. Ông được sai đi để loan báo thời cùng khốn đã chấm dứt và công bố khai mở một
thời kỳ đầy ân sủng và tự do.
Đức Giêsu đã bị đánh động bởi đoạn sách này. Ngài thấy nó phản ánh
chính ơn gọi và sứ mạng của mình. Đây là một hướng đi mà Ngài phải theo đuổi,
một chương trình hành động mà Ngài muốn hoàn thành.
Đức Giêsu là người đầy tràn Thánh Thần cách đặc biệt.
Thánh Thần chi phối toàn bộ lời nói, việc làm của Ngài. Ngài được
sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo, nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo
tiếng nói.
Ngài được sai đến với những kẻ bị giam cầm bởi nỗi lo sợ, bởi thành
kiến, bởi ích kỷ tham lam.
Ngài cho người mù được sáng mắt và thấy trong niềm tin.
Ngài trả lại tự do cho cả người bị áp bức lẫn người gây áp bức bóc
lột. Ngài mời gọi cả hai sống thanh thoát như Ngài, sống như con của Cha và anh
em của nhau.
Ngài khai mạc một Năm Thánh, Năm Hồng Ân cứu độ. "Hôm nay đã
ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Chúng ta phải có thể nói một
câu tương tự như Đức Giêsu.
Có nhiều đoạn Lời Chúa chẳng được ứng nghiệm bao giờ vì thiếu sự
cộng tác của bản thân tôi.
Con người hôm nay khao khát niềm vui, ánh sáng, tự do, nhưng ít
người chịu tin vào Đức Kitô chỉ vì đời tôi đầy sầu muộn, bóng tối và nô lệ.
Thậm chí có khi tôi lại là kẻ áp bức anh em, kẻ bịt mắt và giam hãm tha nhân
trong ngục tù.
Lời ngôn sứ Isaia đã được ứng nghiệm trong đời Đức Giêsu. Ước gì
Lời Chúa cũng được ứng nghiệm trong đời tôi, để ngày hôm nay của Chúa được kéo
dài đến tận thế.
Đại Năm Thánh 2000 đã kết thúc, nhưng kết thúc là để tôi bắt đầu
sống quảng đại một thiên niên kỷ mới chan chứa hồng ân.
Gợi Ý Chia Sẻ
Đức Thánh Cha đã mời gọi các nước giàu xóa nợ cho các nước nghèo
nhân dịp Năm Thánh 2000. Bạn nghĩ mình có thể làm gì để những người chung quanh
được vui tươi hơn, nhẹ nhàng hơn?
Thế giới hôm nay vẫn còn nhiều xung đột, chiến tranh. Bạn có thể kể
ra những cuộc xung đột hay chiến tranh mà bạn biết? Đâu là lý do gây ra chúng?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Thánh Thần, Xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của
Ngài giữa lòng thế giới, trong lòng mọi người.
Thế giới hôm nay còn nhiều điểm tối, nhưng vẫn có những đóm sáng
rực rỡ:
khi con người ngồi lại gần nhau - để giải quyết tranh chấp, tìm
kiếm hòa bình;
khi cả thế giới lo chung một mối lo: bảo vệ trái đất, ngăn chận
sida, tận diệt ma tuý;
khi có những người nghèo quan tâm đến những người nghèo hơn;
khi trẻ thơ và người già được chăm sóc;
khi hàng rào ngăn cách các nước được tháo gỡ;
khi không còn nạn kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, màu da;
khi những tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho con người sống hạnh
phúc;
khi mọi người nhận ra mình là anh em của nhau, liên đới với nhau và
chịu trách nhiệm về nhau, sống trên cùng một hành tinh, dưới mái nhà bầu trời.
Lạy Chúa Thánh Thần,
xin cho chúng con thấy Ngài nơi nụ cười người ta trao cho nhau trên
đường phố, nơi những hy sinh vô vị lợi, và cả nơi những thao thức của ai đó,
muốn xây dựng một thế giới huynh đệ hơn.
16. Chúa Giêsu và chỗ đứng của người nghèo hèn
(Suy niệm của Lm Phan Kế Sự)
“Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào
hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh.
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo
Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho: kẻ bị giam cầm biết
họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp
bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay
đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."
Kinh sư Esdra, tư tế kiêm kinh sư, cùng các thầy Lê-vi là những
người đã giảng giải Luật Chúa cho dân chúng, khi nhắc lại những ân huệ mà Giavê
Thiên Chúa dành riêng cho dân tộc Israel, đã làm cho nhiều người cảm động đến
rơi lệ. Qủa vậy, tình yêu của Giavê Thiên Chúa luôn đồng hành và cứu giúp dân
chúng trong mọi hòan cảnh, đặc biệt trong những ngày khốn khổ và cùng cực của
những ngày là nô lệ dân ngọai. Thiên Chúa đã không bỏ rơi, nhưng trái lại, Ngài
hằng thương xót và bảo vệ dân riêng của Ngài, dẫu họ có phản bội và nhiều lần
chối bỏ Ngài mà thờ cúng bụt thần của dân ngọai. “Ông Ét-ra còn nói với dân
chúng rằng: "Anh em hãy về ăn thịt béo, uống rượu ngon và gửi phần cho
những người không sẵn của ăn, vì hôm nay là ngày thánh hiến cho Chúa chúng ta.
Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của ĐỨC CHÚA là thành trì bảo vệ anh em."
Khi trở về quê hương của Mình, Chúa Giêsu mặc khải sứ mạng Mình cho
chính những người bà con thân yêu của Mình, như là một lời giới thiệu về những
việc Mình đã và đang làm cho mọi người. Sứ mạng đó đã được các tiên tri tiên
báo, và Ngài chính là Người đến để hòan tất. Ngài cũng chính là đầu của thân thể
mầu nhiệm, mà mọi chi thể đều phải lệ thuộc và hướng về. Ngài muốn mọi người
đều được cứu rỗi và khỏe mạnh, bởi với Ngài, mọi người đều được Thiên Chúa quan
tâm,yêu thương và chăm sóc. “Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi
người là một bộ phận.”
Mỗi người chúng ta là một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của
Chúa, đặc biệt là những người nghèo. Ngay từ những bài giảng đầu tiên, cho đến
những phép lạ, Chúa Giêsu luôn quan tâm đến những ai không có chỗ tựa nương,
không có chỗ trông nhờ,không có ai giúp đỡ. Sự xuất hiện của Ngài ở đâu,bất cứ
lúc nào, cũng đều là tâm điểm lôi cuốn tất cả mọi người.Ngài đã đồng hành với
mọi người bằng những tiêu chí: cùng ăn, cùng ở và cùng sống với những người đói
khổ, khó nghèo cả tinh thần lẫn vật chất. Ngài không sống riêng cho mình, nhưng
trái lại bị quấy rầy suốt ngày, thậm chí không còn giờ để ăn uống, gia đình
cũng tưởng “Ngài đã mất trí”.
Năm đức tin, năm mà Giáo Hội muốn tất cả chúng ta trở về nguồn, vừa
để học hỏi và đào sâu những Lời Chúa dạy; và cũng để soi dọi lại cách sống của
mình có còn thích hợp với những gì Chúa dạy và những gì Chúa muốn cho xứng với
bậc mình. Thường chúng ta vẫn tự mãn về cái gốc gác của mình: nào là 50 năm đạo
gốc, nào là những chức vụ mình đang mang trên thân mình, nào là những thành
tích rỗng tuếch bằng những con số thống kê ảo, nào là những công trình hòanh
tráng đã thực hiện cho Giáo Hội.
- Liệu những khoe khoang, khoác lác đó có thực sự thích hợp với cái
nhìn và cách sống của Chúa.
- Liệu những con số thống kê có thực sự nói lên những nỗ lực của
chính mình hay cũng chỉ là những nhận vơ, cho những khó nhọc và đóng góp của
những đồng trinh nhỏ của những bà góa nghèo hằng ngày kiếm được bằng cả cuộc
sống cơ cực.
- Liệu cách sống giầu sang khoe mẽ, những thói quen tiêu xài phung
phí, những thái độ chơi ngông có thực sự thích hợp với lời giảng dạy như chính
Chúa đã sống.
- Liệu những hành động tiêu cực hoặc cách đối xử với anh em mình
bằng những thái độ “lọai trừ” có thực sự xứng đáng là những ngừơi đem Chúa Kitô
đến cho người khác, hay chỉ là những lời phản chứng đang ngày đêm âm thầm phá
họai Giáo Hội.
Lời cầu nguyện:
Lạy Thánh Thần Chúa, xin hãy đến trên tất cả chúng con.Xin hãy làm
cho tất cả chúng con trở thành những nhân chứng thực sự của tình thương Chúa
giữa trần thế, để trong mọi hòan cảnh, chúng con là những hiện thân đích thực
của Chúa.
Xin hãy thanh luyện và thanh lọc khỏi chúng con những gì là giả
dối,giả hình và thiếu sót để mỗi người chúng con xứng đáng là những chi thể
lành mạnh và có ích trong thân thể mầu nhiệm của Chúa.
Lạy Chúa xin hãy thánh hóa chúng con. Amen.
17. Hợp nhất
Nhìn vào xã hội, chúng ta nhận thấy con người thời nay đang bị
giằng co, đang bị lôi kéo bởi hai ước muốn, đều tích cực, đều hợp lý như nhau
nhưng chưa bao giờ được dung hòa một cách tốt đẹp.
Thực vậy, từ thẳm sâu cõi lòng, chúng ta đều mong muốn người khác
biết đến những tư tưởng, những tài năng của mình, đòi hỏi họ phải tôn trọng và
giúp đỡ để chúng ta phát triển được toàn diện con người. Khuynh hướng này có
tính cách cá nhân.
Đằng khác, con người lại ước muốn hợp nhất, để xã hội này trở thành
một cộng đồng hợp nhất và thương yêu, trong đó, con người không còn phải trải
qua những sự trống vắng và cô đơn. Ước mơ này ngày càng trở nên mãnh liệt trong
một thế giới bị phân hóa trầm trọng. Đây là một khuynh hướng có tính cách cộng
đồng.
Hai ước mơ trên đây càng mãnh liệt bao nhiêu thì lại càng va chạm
dữ dội bấy nhiêu, và cho đến nay chưa ai có thể dung hòa được một cách tốt đẹp.
Riêng với những người Công giáo, những người có đức tin, thì sự
dung hòa ấy khả dĩ có thể tìm thấy được nơi Đức Kitô và lời Ngài phán dạy. Thực
vậy, qua bài đọc thứ nhất, tiên tri Giêrêmia đã mô tả cái quang cảnh hùng vĩ:
Dân Chúa tụ tập để lắng nghe lời Ngài. Esdras đọc và chú giải lời Chúa, còn dân
Chúa thì vui mừng đến rơi lệ bởi vì Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài. Cảnh
tượng trên đây đã được chính Đức Kitô thực hiện trong Tân ước. Đúng thế, Ngài
đến để thực hiện sự hiệp nhất giữa muôn người. Ngài đến để thực hiện những lời
hứa đã được tiên báo. Ngài đến để phá vỡ những bức tường ngăn cách, như nghèo
đói, bệnh tật và dốt nát. Công cuộc hợp nhất này, cho đến ngày hôm nay, vẫn
không ngừng được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần…
Thực vậy, Chúa Thánh Thần luôn thúc đẩy chúng ta tìm về gặp gỡ để
tạo thành một thân thể, tuy một mà nhiều, tuy duy nhất mà lại đa diện, trong
muôn ngàn sắc thái của ơn Chúa. Nếu suy nghĩ chúng ta cũng sẽ nhận thấy nhân
loại tự bản tính vốn đa diện: Có Do Thái, có Hy lạp, có nam có nữ, có trắng có
đen, nhưng nhờ bí tích Rửa tội, con người đã gặp gỡ, đã hiệp nhất và trở nên
một.
Vì thế sự hiệp nhất không phải chỉ là kết quả của những cố gắng
giữa người với người, mà hơn thế nữa còn là một ơn Thiên Chúa trao ban. Bởi vì,
nếu chỉ cậy dựa vào sức người, chắc chắn chúng ta sẽ thất bại, hay nếu có đạt
được thì đó chỉ là một sự hiệp nhất dổm, một sự hiệp nhất giả hiệu mà thôi.
Sự hiệp nhất đích thực chỉ được tìm thấy trong việc lắng nghe và
thực thi lời Chúa. Nó là kết quả của một công trình lâu dài, của một nỗ lực
không ngừng để tẩy rửa, để tinh luyện tư tưởng dưới sự tác động của Chúa Thánh
Thần.
Tuy nhiên, hiệp nhất không có nghĩa là phải dẹp bỏ, phải bóp chết
các tài năng, các ơn thánh cá nhân. Vườn hoa chỉ đẹp, khi mỗi cánh hoa đều phô
diễn trọn vẹn cái sắc thắm của mình. Cũng thế, tất cả các ơn Chúa ban, đều phải
được xử dụng để làm vinh danh Chúa và góp phần đem lại lợi ích chung.
Thế nhưng trở ngại vẫn còn đó, nào ích kỷ, nào tự ái, nào kiêu
căng. Con đường tiến về hiệp nhất vẫn còn nhiều chông gai và sỏi đá, tuy nhiên,
chúng ta chắc chắn sẽ đạt tới đích, nếu như chúng ta luôn trung thành với lời
Chúa và với Kinh Thánh.
Ước chi hôm nay chúng ta bắt đầu sống sự trung thành ấy trong chính
cuộc sống của mình, bằng cách chấp nhận người khác, để cộng đồng nhân loại sẽ
là một vườn hoa đủ màu đủ sắc của Thiên Chúa.
18. Phải nghe bằng ba lỗ tai
Vào thời Chúa Giêsu, tại Israel có hai nơi dành cho việc phụng tự,
là Đền thờ và Hội đường. Đền thờ thì chỉ có một, tức là Đền thờ tại Giêrusalem,
nhưng có tới hàng trăm hội đường, hầu như mỗi làng đều có một cái. Đền thờ là
nơi dân Do thái dâng hy lễ cho Chúa, chẳng hạn chiên, cừu, bồ câu… Còn hội
đường là nơi dành cho việc giảng huấn, nơi dân chúng lắng nghe Lời Chúa và cố
gắng áp dụng lời ấy vào cuộc sống của họ. Như chúng ta thấy, nghi thức phụng tự
trong hội đường và trong Đền thờ tương ứng với nghi thức phụng tự trong thánh
lễ của chúng ta. Nửa phần đầu của thánh lễ tương ứng với nghi thức trong hội
đường được gọi là phần phụng vụ Lời Chúa, bao gồm việc nghe đọc các bài Kinh
Thánh và áp dụng chúng vào cuộc sống giống như Chúa Giêsu đã chỉ dẫn cho dân
Nagiarét trong Phúc Âm hôm nay. Nửa phần sau của thánh lễ tương ứng với nghi
thức phụng tự trong đền thờ, được gọi là phụng vụ Thánh Thể, liên quan đến việc
dâng hy lễ, giống như Chúa Giêsu đã thực hiện trong bữa Tiệc ly: “Và tới tuần
rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước
mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20)
Giờ đây chúng ta hãy xét một cách sâu sát hơn phần đầu của thánh
lễ, tức phần phụng vụ Lời Chúa. Trong phần này nhiệm vụ chính của chúng ta là
lắng nghe Kinh Thánh. Vấn đề then chốt ở đây là ‘lắng nghe’. Cách đây nhiều năm
có một vở kịch ở Broadway tựa là ‘Hoàng gia đi săn mặt trời’ (The Royal Hunt of
the Sun). Vở kịch kể lại cuộc chinh phục dân da đỏ ở Pêru của người Tây Ban Nha
vào thế kỷ 16, trong đó có một màn kể lại câu chuyện một người nọ biếu cho tù
trưởng bộ lạc da đỏ một cuốn Kinh Thánh và bảo ông ta: “Đây là Lời Chúa, Ngài
nói với chúng ta qua cuốn sách này”. Viên tù trưởng nghiêm trang cầm cuốn Kinh
Thánh lên, xem xét kỹ lưỡng và dịu dàng đặt nó vào lỗ tai. Ông cố gắng nghe đi
nghe lại nhưng chẳng nghe được gì hết. Thế là ông ta nghĩ rằng mình bị phỉnh
gạt, nên giận dữ dằn mạnh cuốn sách xuống đất. Màn bi kịch trên khiến chúng ta
tự nhủ: “Vậy thì chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa thế nào đây?” Chúng ta phải
lắng nghe Lời Chúa bằng cả ba cách thức: bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ
tai của trái tim và bằng lỗ tai của linh hồn.
Trước hết, thế nào là nghe bằng lỗ tai tâm trí?
Đó là cố gắng tìm hiểu Lời Chúa, và hơn nữa, làm cho lời ấy sống
động y như chúng ta đang nghe chính Chúa nói. Chẳng
hạn, thánh Ignatiô Loyola thường nghe Lời Chúa theo kiểu này bằng cách nhắm mắt
lại và tưởng tượng mình đang có mặt trong hội đường Do thái để nghe Chúa Giêsu
nói. Thánh nhân tưởng tượng ra niềm xúc động khiến giọng nói của Chúa Giêsu
nghẹn ngào khi Chúa đọc đến câu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi”, và thánh nhân
còn tưởng tượng ra nỗi phấn kích như điện giật lan truyền nơi cộng đoàn tham dự
khi Chúa Giêsu tuyên bố “Hôm nay, lời Kinh Thánh trên đã được ứng nghiệm khi
anh chị em nghe đọc nó”. Như thế, nghe bằng tâm trí tức là không những chỉ hiểu
Lời Chúa, mà còn làm cho Lời ấy trở nên sống động như thể nghe từ miệng Chúa
nói ra.
Cách thứ hai là lắng nghe Lời Chúa bằng lỗ tai trái tim, nghĩa là
ghi tạc Lời Chúa vào trái tim và cố gắng tìm cách áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh
cụ thể của cuộc sống chúng ta. Cách đây nhiều năm,
Charlie Pitts là chủ nhân một công ty xây dựng chuyên xây đường điện ngầm ở
Toronto, Canada. Công việc làm ăn của ông càng khuếch trương bao nhiêu thì đời
sống cá nhân và gia đình ông càng khốn đốn bấy nhiêu. Ngày nọ, vì thấy tình thế
tồi tệ quá, Charlie phải cầu cứu tới việc đọc Kinh Thánh. Tình cờ trong lúc đọc
Kinh Thánh, một câu nói đập mạnh vào mắt ông: “Nào người ta được ích gì khi
được lời lãi tất cả thế gian, mà lại mất hay thiệt chính mình?” (Lc 9,25).
Những lời này như nói trực tiếp với Charlie, như hàm ý bảo ông: “Này Charlie,
chính điều ấy đang xảy đến cho ông đó!”. Như thế, nghe bằng trái tim tức là ghi
khắc Lời Chúa vào trái tim và xét xem có thể áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh cụ
thể của chúng ta như thế nào.
Và cách thức lắng nghe Lời Chúa sau cùng là lắng nghe bằng lỗ tai
của linh hồn, nghĩa là ngoài việc ghi khắc Lời Chúa vào trái tim, chúng ta còn
chuyện vãn với Ngài về lời ấy, đồng thời làm những gì
mà Charlie Pitts đã làm. Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta thực hiện những
bước cần thiết để làm cho cuộc sống chúng ta phù hợp với Lời Ngài. Chẳng hạn,
sau khi Charlie Pitts cầu nguyện về tình trạng sống của ông và bàn luận với vợ
xong, ông liền bán toàn bộ công ty của ông trước khi nó huỷ diệt đời sống của
ông. Tiếp đó, Charlie bỏ tiền ra mua một khách sạn có bãi sân gôn rồi quản trị
nó. Lợi tức của công việc kinh doanh này ông dùng để truyền bá Phúc Âm.
Như thế bước thứ ba trong việc lắng nghe Lời Chúa là tâm sự với
Ngài để xem Ngài muốn chúng ta làm gì khi nghe lời đọc trên. Dĩ nhiên, chúng ta
không mong Chúa dùng lời nói để đáp trả lại lời nói của chúng ta, vì Ngài
thường nói với chúng ta một cách thiêng liêng từ thâm sâu linh hồn ta. Và hơn
nữa, không phải là Ngài sẽ luôn luôn đáp lời chúng ta ngay lập tức trong giờ
cầu nguyện, mà Ngài thường đáp lời chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, ngoài
giây phút chúng ta cầu nguyện. Chẳng hạn, Ngài làm cho chúng ta từ từ cảm
nghiệm được niềm ước muốn đang lớn mạnh, khiến ta phải làm một điều gì đó để
cải tạo hoàn cảnh hiện tại; Ngài khiến chúng ta tìm ra những ý tưởng về cách
thức cải tạo cảnh ngộ chúng ta; hoặc Ngài khiến chúng ta cảm thấy nghiêng chiều
về một trong những ý tưởng trên. Nói rõ hơn, nhưng chuyển biến tâm linh này có
thể là do Lời Chúa đang âm thầm nói với chúng ta từ sâu thẳm của linh hồn.
Tóm lại, chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng ba cách thức: Bằng
lỗ tai tâm trí, bằng lỗ tai trái tim và bằng lỗ tai linh hồn. Nói cách khác,
chúng ta phải làm sao để Lời Chúa được diễn lại sống động nơi tâm trí chúng ta;
phải ghi khắc lời ấy vào trái tim chúng ta; và phải bàn bạc với Chúa cũng như
lắng nghe điều Ngài muốn nhắn nhủ chúng ta qua lời ấy.
19. Giáo Hội tiếp nối sứ vụ của Chúa Giêsu
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
Ngày 21 tháng 1 (theo giờ Mỹ), Tổng thống Obama và "phó
tướng" Biden đã tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ 2. Hình ảnh "bộ đôi
quyền lực" này đặt tay lên cuốn Kinh Thánh và đọc lời tuyên thệ theo quy
định của Hiến pháp là một hình ảnh rất đặc biệt, gây sự chú ý mạnh mẽ.Báo chí
đưa tin, khi thực hiện nghi thức tuyên thệ, ông Obama giơ tay phải lên và tay
trái đặt lên 2 cuốn Kinh Thánh lịch sử của nhà lãnh đạo nhân quyền huyền thoại
Luther King Jr và cố Tổng thống Abraham Lincoln, vị tổng thống thứ 16 của Mỹ.
Chánh án Toà Tối cao John Roberts chủ trì nghi thức này. Phó Tổng thống Biden
đặt tay lên cuốn Kinh Thánh mà dòng họ của ông sử dụng từ năm 1893. Thẩm phán
tòa tối cao Sonia Sotomayor chủ trì lễ tuyên thệ của Biden. (Antoine Nguyễn).
Các nguyên thủ quốc gia, sau khi được toàn dân tín nhiệm qua lá
phiếu bầu cử, thường đọc diễn văn quan trọng khởi đầu một nhiệm kỳ mới. Nội
dung diễn văn trình bày hành động bao quát nhắm đến lợi ích của đồng bào đang
mong đợi.
Tại quê hương Nazaret, Chúa Giêsu đã mượn bản văn của ngôn sứ Isaia
để chính thức công bố với đồng hương chương trình hành động của mình:
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan
Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm
biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho những
người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa". Người nói với họ:
"Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe".
Trước đó ít lâu, khi Gioan Tiền Hô nghe nói về hoạt động của Chúa
Giêsu, từ trong tù ông đã sai môn đệ đến hỏi Ngài, có phải là Đấng thiên sai
hay không? Chúa Giêsu thẳng thắn trả lời: "Các anh về thuật lại cho ông
Gioan những gì mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què đi được, người
phong cùi được lành sạch, người điếc nghe được, kẻ chết sống lại, người nghèo
được nghe Tin Mừng" (Mt 11,4-5). Qua câu trả lời gián tiếp này, Chúa Giêsu
muốn khẳng định rằng, dấu chỉ hiển nhiên của Đấng thiên sai là hành động chọn
lựa đứng về phía những người nghèo khổ, bé mọn, tật nguyền và xấu số. Ngài tự
đồng hóa với những người đói khát, rách rưới, trần truồng, bệnh tật, đau yếu,
tù tội...Bất cứ những gì đụng chạm đến họ là đụng chạm đến bản thân Ngài. Tất
cả những gì chúng ta làm cho họ là làm cho chính Ngài. Và tất cả những gì chúng
ta không làm cho một trong những người bé mọn nhất của nhân loại khổ đau này là
đã không làm cho chính Ngài (x. Mt 25,31-45). Sau Công Đồng Vaticanô II, một số
thần học gia đã khai triển bản văn này và đặt nổi ba hình thức hiện diện đặc
biệt của Đức Kitô: trong Thánh thể (Lc 22,19-20; 1Cr 11,23-25), trong cộng đoàn
(Mt 18,20) và trong người nghèo (Mt 25,31-45).(x. ĐGM Phaolô Nguyễn Thái Hợp,
Bước theo Đức Kitô, trang 32-33).
Chúa Giêsu thực hiện chương trình hoạt động cứu độ dưới sự hướng
dẫn của Chúa Thánh Thần. Sứ điệp đó, Giáo hội luôn thực thi suốt dòng lịch sử.
1. Sứ điệp và hoạt động cứu độ của Chúa Giêsu
"Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho
kẻ nghèo hèn.Người đã sai tôi đi công bố...". Nội dung của sứ điệp nói lên
đầy đủ sứ mệnh Chúa Giêsu sẽ thi hành gồm bốn hoạt động là rao giảng Tin Mừng
cho người nghèo hèn, công bố sự giải thoát cho người tù đày, sự sáng mắt cho
người mù loà, trả tự do cho người bị áp bức và loan báo năm hồng ân của Thiên
Chúa.
Như vậy sứ điệp gồm hai điểm chính là loan báo Tin Mừng và đi công
bố những gì Thiên Chúa muốn thực hiện cho nhân loại.
Tin Mừng được loan báo là: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã
ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống
đời đời" (Ga 3,16).
Sứ điệp công bố là những gì Thiên Chúa muốn làm cho nhân loại khốn
cùng. Chúa Giêsu đã công bố bằng lời nói và bằng việc làm. Chính nơi Chúa
Giêsu, người tội lỗi nhận được ơn tha thứ, người đau khổ gặp được nguồn an ủi,
người chán nản gặp được niềm vui và người thất vọng tìm lại niềm hy vọng. Biết
bao người tội lỗi đã "bị giam cầm" nay được thứ tha. Ánh sáng là một
báu vật cho những người đang chìm trong tăm tối. Người mù thể lý được Chúa mở
mắt. Người mù thiêng liêng được mở mắt đức tin để nhìn thấy và tin vào Chúa. Tự
do là quà tặng quí giá nhất mà Thiên Chúa ban cho nhân loại. Những người bị áp
bức, bị vùi dập, bị đè nén, những thống khổ nay được giải thoát. Những lo lắng,
bệnh tật, bất công... làm cho con người trở nên nô lệ, mất đi phẩm giá, nay
được Chúa chữa lành bệnh tật, bênh vực kẻ yếu, duy trì công bình xã hội và phục
hồi phẩm giá cho họ. Đó là hồng ân Chúa Giêsu công bố và thực hiện. Đây là sứ
mạng giải thoát con người hoàn toàn khỏi mọi cảnh bất công xã hội, chính trị,
kinh tế, văn hóa hay tôn giáo. Trong Nước Thiên Chúa mọi người đều bình đẳng
trước nhan Thiên Chúa. Hình ảnh lý tưởng ấy đang hiện diện một cách huyền nhiệm
trong Giáo Hội (x. Lumen Gentium, 3).
2. Chúa Thánh Thần, thúc đẩy và hướng dẫn.
Cơ chế xã hội bất công đã tạo nên bao thảm cảnh trong cuộc đời.
Người nghèo chính là nạn nhân của những cơ chế bất công. Vấn đề muôn thuở đó
vẫn luôn mang tính thời sự. Chúa Giêsu có sứ mạng giải thoát những người nghèo
khổ và bị áp bức. Nhưng sứ mạng đó chỉ có thể thực hiện được khi có Thánh Thần
hướng dẫn và Chúa Cha ủy thác.
Nhiều lần Tin Mừng nói, Chúa Giêsu tràn đầy hoan lạc trong Chúa
Thánh Thần. Từ ngày Truyền Tin, Thiên Thần đã loan báo: "Thánh Thần sẽ ngự
xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người
con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc 1,35). Trong
cuộc đời thơ ấu và ẩn dật của Chúa Giêsu, sách Tin Mừng nói rất ít về Người. Dù
vậy, chắc chắn đó phải là những ngày Thần Khí Thiên Chúa giúp cho Chúa Giêsu
"ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa
cùng Thiên Chúa" (Lc 2,40); "ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa
cũng như mọi người thương mến" (Lc 2,52). Khi Chúa Giêsu bắt đầu thi hành
sứ vụ, vai trò của Chúa Thánh Thần thường được nhắc tới dưới hình thức, Chúa
Giêsu "được đầy Thánh Thần, được Thánh Thần dẫn đi, được quyền năng Thánh
Thần thúc đẩy". Vào ngày chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa Giêsu được
Chúa Thánh Thần ngự xuống. Thánh Luca coi đây như là việc "xức dầu",
được tấn phong làm "Đấng được xức dầu" (Cv 10,37-38; Lc 4,18; x. Is
61,1). Xức dầu tấn phong là nghi thức trao ban sứ mệnh, không chỉ là sứ mệnh
của ngôn sứ mà còn là sứ mệnh cứu độ của Đấng đến để chu toàn tất cả những gì
Lề Luật và các Ngôn Sứ đã nói về Người.
3. Giáo Hội tiếp nối sứ vụ của Chúa Giêsu
Chúa Giêsu xác định: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai
quý vị vừa nghe." Trải suốt Tin Mừng Luca, từ "Hôm nay" xuất
hiện tại những đoạn then chốt. Trong ngày Lễ Giáng Sinh, chúng ta đã nghe các
thiên thần loan báo "Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra" (2,11). Khi
Chúa Giêsu gặp ông Giakêu, Người nói với ông "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến
cho nhà này" (19,9). Chúa Giêsu hứa với người trộm bị đóng đinh bên phải
rằng "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (23,43). Ý
nghĩa của từ "Hôm nay" mà Chúa Giêsu công bố không chỉ là "ngày
hôm nay" vào lúc Người tại thế, mà còn là "ngày hôm nay" của
Giáo Hội nữa.
Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục công cuộc cứu thế trong Giáo Hội và
nhờ Giáo Hội.
Chúa Giêsu đã trao cho Giáo Hội tiếp nối sứ mạng của Người. Giáo
Hội luôn ý thức về sứ mạng của mình trong thế giới. Giáo Hội nối dài hoạt động
của Đức Kitô. Qua dọc dài lịch sử, Giáo Hội luôn nỗ lực thực hiện sứ mạng đem
Tin Mừng cho người nghèo hèn. Giáo Hội đã thiết lập các bệnh viện, các trường
học, các cô nhi viện, các trại cùi, nhà dưỡng lão...Những công việc từ thiện,
bác ái, xã hội, văn hóa, Giáo Hội đã làm và đang tiếp tục làm:"Giáo Hội
trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là
nhận biết nơi những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập khó nghèo
và đau khổ, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Kitô trong
họ" (Lumen Gentium, 8). Thời đại hôm nay, sứ mạng của Giáo Hội còn quan
trọng và thiết thực hơn nữa, liên quan đến tự do, công lý, nhân quyền, phát
triển và hòa bình. Những hoạt động bác ái và y tế xã hội chỉ xoa dịu phần nào
nỗi đau khổ của những người nghèo hèn. Còn những người bị giam cầm trong các
trại tù cải tạo, những người bị áp bức đến mất tự do ngoài xã hội và những
người dân đang bị hạn chế tự do, đói khát nhân quyền. Giáo Hội quan tâm nhiều
đến họ và trợ giúp cho họ. Phương tiện của Giáo Hội luôn là Tin Mừng của Chúa
Giêsu Kitô. Tin Mừng là "sự thật giải thoát" (Ga 8,32).
"Có nhiều Kitô hữu hiến đời mình để yêu thương những người cô
thế, bị gạt ra ngoài lề, bị loại trừ, coi họ là những người đầu tiên cần phải
đến gặp và là những người chủ yếu phải được nâng đỡ, vì nơi họ phản chiếu gương
mặt của chính Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra gương mặt Chúa
phục sinh nơi những người đang mong được chúng ta yêu thương". (Cánh cửa
đức tin, số 13). Mỗi Kitô hữu tiếp nối công việc của Chúa Giêsu bằng cách chia sẻ
niềm vui và ánh sáng, nâng đỡ người đau khổ thể xác và tinh thần, tẩy trừ sợ
hãi, giải thoát người bị áp bức, xoa dịu các oán hờn, an ủi kẻ cô đơn, biểu lộ
sự hiện diện tích cực của Chúa bằng những hoạt động bác ái của mình. Trung
thành thực thi sứ vụ của người môn đệ Chúa Kitô, chúng ta góp phần làm cho lời
tiên tri Isaia cũng được ứng nghiệm, năm hồng ân của Chúa được công bố và Nước
Thiên Chúa hiện diện giữa lòng cuộc sống hôm nay.
20. Đường nẻo Chúa
Trong một vài phút ngắn ngủi này, tôi xin chia sẻ một vài ý tưởng
đơn sơ chung quanh lời nói của tiên tri Isaia, mà thánh Luca đã nhắc lại qua
đoạn Tin mừng hôm nay:
- Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để
tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy được rằng: tư tưởng và đường nẻo của
Chúa thật khác với tư tưởng và đường nẻo của chúng ta. Như trời cao hơn đất bao
nhiêu, thì tư tưởng và đường nẻo của Chúa cũng cao hơn tư tưởng và đường nẻo
của chúng ta bấy nhiêu.
Thực vậy, chúng ta thường đánh giá người khác qua những biểu hiện
bên ngoài, dựa trên quyền lực và giàu sang. Đúng thế, người có tiền thì được
yêu mến:
- Bần cư chung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khác tầm. Có
nghĩa là ngèo mà ở giữa phố chợ cũng chẳng ai thăm, còn giàu mà ở trên rừng trên
núi, đèo heo hút gió cũng vẫn có kẻ chịu khó tìm đến. Hay: Thấy người sang bắt
quàng làm họ. Miệng nhà giàu có gang có thép. Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Còn người có quyền, thì được vị nể, trọng kính:
- Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng.
Bởi đó, người đời thường mơ ước được giàu sang và quyền thế. Trong
khi đó, Chúa Giêsu lại đem Tin mừng đến cho những kẻ nghèo hèn. Trong bài giảng
trên núi Ngài còn chúc phúc cho những người nghèo khó, đói khát, đau khổ và bị
bách hại. Lần khác, Ngài cũng đã nguyện cầu:
- Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha, vì Cha đã dấu không cho những người
thông thái biết những sự mầu nhiệm này, mà lại tỏ ra cho những kẻ bé mọn.
Chúa không phải chỉ nói, mà Ngài còn làm như vậy. Một Đavít nhỏ yếu
với vóc dáng của một cậu bé chăn chiên, thế mà Chúa đã cho thắng được Golíat,
lên ngai vàng và trở thành một vị vua hùng mạnh, dẫn đưa dân Do Thái tời một
thời đại hoàng kim. Một Maria khiêm tốn với thân phận của một nữ tì, thế mà
Chúa đã chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế. Và khi Chúa đến, thì ai là những người đầu
tiên được diễm phúc đón nhận tin mừng giáng sinh, nếu không phải là những mục
đồng, những kẻ chăn chiên vất vả nghèo túng. Rồi những môn đệ được Chúa mời gọi
để cộng tác với Ngài trong việc rao giảng Phúc âm là ai nếu không phải là những
bác tuyền chài quê mùa và dốt nát.
Chính Chúa cũng vậy. Ngài không đến với binh đội hùng hậu, nhưng
đến dưới vóc dáng của một hài nhi bé nhỏ, nghèo túng, không một mái nhà ẩn náu.
Vậy tại sao Ngài lại dành Tin mừng và phúc lành cho những kẻ khó nghèo và dành
yêu thương cho những người bất hạnh?
Dĩ nhiên có nhiều lý do, nhưng hôm nay tôi chỉ xin đưa ra một lý do
rất đơn giản mà thôi. Sở dĩ Chúa hành động như vậy là vì người giàu sang và
quyền thế thường hay cậy dựa vào sức riêng của mình, nên rất dễ sinh ra kiêu
căng. Mà đã kiêu căng, thì chắc chắn sẽ bị Chúa loại trừ. Trong Kinh thánh,
Chúa đã phán:
- Ta chống lại kẻ kiêu căng.
Hay trong lời kinh ngợi khen, Mẹ Maria cũng đã nói:
- Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao nhưng người phận nhỏ.
Vì thế, thánh Gregorio đã nói:
- Kiêu căng là dấu chỉ rõ ràng nhất của kẻ đã bị Chúa loại trừ.
Trái lại, người nghèo hèn và bất hạnh sẽ cảm thấy mình yếu đuối,
thấp hèn và thiếu thốn, nên dễ đặt trót niềm tin tưởng, cậy trông và phó thác
vào Chúa, dễ đón nhận Tin mừng và được Chúa chúc phúc.
Muốn bỏ một vật gì vào túi, thì chiếc túi phải rỗng. Nếu túi đã đầy
thì làm sao nhét vào cho được. Cũng thế, kẻ kiêu căng chất đầy tâm hồn những tự
phụ, tự mãn, tự cao thì đâu còn chỗ cho Chúa nữa. Trong khi đó người nghèo hèn
và bất hạnh luôn cảm thấy tâm hồn mình trống để cho tình thương của Chúa hoạt
động.
Từ đó, chúng ta đi tới kết luận: người nào coi mình chỉ là một con
số không, thì sẽ có đủ chỗ cho Đấng vô cùng. Trái lại, kẻ nào coi mình là vô
cùng, thì trước mặt Chúa chỉ là một con số không mà thôi.
21. Lời Chúa
Tác giả tập sách có tựa đề: “Cuộc Săn Đuổi Mặt Trời” kể lại cuộc
mạo hiểm của những người lính Hoàng Gia Tây Ban Nha trong thế kỷ XIX đi chiếm
thuộc địa bên Nam Mỹ, tại vùng đất mà ngày nay gọi là quốc gia Pe-ru.
Một người trong nhóm đem tặng cho viên tù trưởng trong bộ lạc da đỏ
một quyển Kinh Thánh và nói: Đây là quyển sách Thánh, nơi Thiên Chúa nói với
con người và ban cho con, những ai lắng nghe được lời Ngài, một sức mạnh phi
thường vượt qua được mọi gian nan thử thách và được hạnh phúc trường sinh.
Đón nhận quyển sách,viên tù trưởng kia vui mừng vội mau tìm nơi
vắng đưa sách lên tai để lắng nghe Thiên Chúa nói. Nhưng thật là vôi ích, ông
cầm lên, đưa xuống đủ cách mà im lặng vẫn hoàn im lặng, không có tiếng Thiên
Chúa nào phán cả. Bực mình, viên tù trưởng ném sách đi và lẩm bẩm: Ta bị gạt,
ta đã bị gạt.
Có thể ta sẽ cười thái độ ngớ ngẩn của cả hai người, người cho cũng
như kẻ nhận. Không chỉ cầm quyển sách Kinh Thánh trong tay là nghe được Lời
Chúa. Người cho cũng như người nhận cần phải thực thi một vài điều kiện để giúp
cho mình và kẻ khác được nghe Lời Chúa. Bài Phúc Âm của Chúa Nhật III Mùa
thường niên được trích từ Phúc Âm thánh Luca, tác giả đã cẩn thận ghi lại như
sau:
Kinh thánh là sách bán chạy nhất thế giới, vượt mọi kỷ lục từ xưa
đến nay. Kinh thánh được ham mộ vì đó là một cuốn sách chứa đựng kho tàng Lời
Chúa, chứa đựng đầy dẫy những bí quyết giúp con người sống ơn gọi làm người của
mình, đứng đắn và hạnh phúc. Biết lắng nghe lời Chúa và để cho lời Chúa thấm
nhập tấm lòng rồi đem ra thực hiện trong cuộc sống của mình là con người thành
công trong nỗ lực sống ơn gọi làm người hạnh phúc. Cũng chính vì thế nên Mẹ
Giáo Hội cống hiến Lời Chúa cho tín hữu qua các bài đọc phụng vụ mỗi ngày. Từ
sau Công Đồng Vaticano II đến nay, các bài Tin Mừng ngày Chúa Nhật được phân
chia như sau: Hãy Ra Khơi
Chu kỳ A theo Phúc Âm thánh Matthêu.
Chu kỳ B theo Phúc Âm thánh Marcô.
Chu kỳ C theo Phúc Âm thánh Luca.
Còn Tin Mừng theo thánh Gioan thì đặc biệt dùng cho mùa Phục Sinh
và mùa phụng vụ khác.
Trong số bốn thánh sử, thánh Luca là người có óc sử gia hơn cả.
Trong những câu mở đầu đọan Tin Mừng hôm nay, thánh sử cho biết ngài đã sưu
tầm, tra cứu kỹ lưỡng các loại tài liệu truyền miệng cũng như viết tay để viết
ra sách Tin mừng.
Là người gốc Siry Antiôkia, thánh sử Luca không thuộc Do Thái giáo.
Nghề bác sĩ y khoa khiến thánh sử đặc biệt chú ý đến các phép lạ chữa lành bệnh
tật. Thánh sử đã từng là môn đệ của các Tông đồ, bạn đồng hành và cộng sự viên
của thánh Phaolô. Vì là người ngoài Do Thái giáo theo Kitô giáo, thánh Luca chú
ý viết Tin Mừng cho anh chị em không Do Thái giáo, nên hay cắt nghĩa các tập
tục Do Thái để giúp họ hiểu dễ dàng hơn. Thánh sử không chủ ý viết lịch sử cuộc
đời Chúa Giêsu mà chỉ kể lại chứng tích lịch sử. Chứng tích lịch sử của Thánh
sử Luca nhấn mạnh đến mấy mấu điểm thần học chính yếu sau đây:
Chúa Giêsu là ánh sáng chiếu soi cho những người ngoài Do Thái thấy
con đường ơn cứu độ. Ngài thuyết giáo lưu động nhưng là hiện thân tình yêu
thương Thiên Chúa có đối với loài người, đặc biệt đối với những người tội lỗi,
yếu đau, bé nhỏ, bị bỏ rơi, bị khinh miệt ngoài lề xã hội, không tiếng nói,
không quyền lợi, bị áp bức, chèn ép, bóc lột và đối xử tàn tệ nhất. Vì thế, ở
đâu có bước chân và sự hiện diện của Ngài là ở đó bừng lên ánh sáng cứu độ,
niềm an vui và tình yêu thương hòa hợp.
Chúa Giêsu cống hiến ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người, không trừ một
ai và ngay trong thời điểm của hiện tại, ngày hôm nay trong lúc này và ở đây.
Qua Ngài, Thiên Chúa đến thăm và cứu rỗi con người, thế nên mọi người cần phải
biết tỉnh thức, chăm chú lắng nghe, nhìn xem và nhận ra sự hiện diện cứu độ của
Chúa Giêsu, đón nhận Ngài và sống theo Ngài, vượt qua cái chết để đạt đến cuộc
sống Phục Sinh vĩnh cửu mà Thiên Chúa muốn trao ban và dành để cho con người.
Nơi phần hai của bài Phúc Âm Chúa Nhật III Mùa thường niên chúng ta
thấy thánh sử Luca nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thánh Thần Thiên Chúa trong
cuộc đời hoạt động của Chúa Giêsu. Ngài chịu phép thanh tẩy của thánh Gioan
Tiền Hô tại sông Giócđan và Thánh Thần Thiên Chúa đã hiện diện trên Chúa Giêsu
trong những lúc bị cám dỗ. Thánh Thần Thiên Chúa đã hướng dẫn Chúa Giêsu và giờ
đây trong bài giảng đầu tiên tại thành Nagiaréth, Chúa Giêsu cũng được tràn đầy
sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Đây là ngày Chúa Giêsu tỏ mình ra cho những người đồng hương của
Ngài khi Ngài nói: “Đoạn Sách Thánh hôm nay đã được ứng nghiệm”. Chúa Giêsu
muốn nói rằng, ơn cứu độc được Thiên Chúa hứa ban ngày xưa, hôm nay hiện diện
trong con người của Ngài. Sự hiện diện của ơn cứu rỗi đó không theo quan niệm
và tiêu chuẩn của loài người, nhưng là theo chương trình của Thiên Chúa. Ơn cứu
rỗi đó nằm trên một bình diện cao cả hơn, rộng lớn hơn và sâu xa hơn. Nó không
chỉ hạn hẹp trong một số người hay một dân tộc, lại càng không phải là sự giải
phóng về chính trị, kinh tế, văn hóa cấp thời trần thế. Ơn cứu rỗi mà Chúa
Giêsu đem lại cho con người được dành để cho tất cả mọi người tin và chấp nhận
Tin Mừng của Ngài, không phân biệt giai cấp, màu da và chủng tộc.
22. Niềm vui
Trong những tuần lễ đầu của mùa thường niên. Giáo Hội mời gọi chúng
ta đi vào những sự kiện khởi đầu cuộc đời công khai của Đức Kitô. Bài Tin Mừng
hôm nay, Thánh Luca tường thuật lại sứ vụ rao giảng của Đức Kitô tại hội đường
Nagiaréth, chính Đức Kitô đã công bố cho mọi người biết “niềm vui cứu độ” đã
khởi sự. Vì “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh anh em vừa nghe”.
Với lời khẳng định này, Đức Kitô chứng tỏ cho thấy Ngài chính là
“niềm vui cứu độ”., mà chúng ta là những Kitô hữu đã thực sự tin và đón nhận
niềm vui đó chưa? Chúng ta đã làm gì cho niềm vui ấy được triển nở trong thế
giới hôm nay?
1. Đức Kitô chính là niềm vui cứu độ
Câu chuyện tư tế Esdras đã nỗ lực canh tân đời sống dân Chúa và
củng cố giao ước cũ. Cũng như việc ông đứng đọc Luật Môsê trước mặt con cái
Israel, trong bài đọc 1. Đó chỉ là hình ảnh báo trước việc Đức Kitô sẽ rao
giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Chính Đức Kitô mới là Đấng được Thiên Chúa
xức dầu tấn phong, Ngài đến để hoàn tất và kiện toàn Lề luật, bằng chính cuộc
khổ nạn và phục sinh, Ngài thiết lập giao ước mới, giao ước vĩnh cửu giữa Thiên
Chúa và loài người.
Hôm nay tại hội đường, Đức Kitô đã khẳng định Ngài chính là Đấng
Cứu Thế mà tiên tri Isaia đã loan báo.
“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi sai
tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó, băng bó những tấm lòng tan nát,
tuyên cáo luật ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được
sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”.
Đức Kitô đã tự giới thiệu mình là vị ngôn sứ phải đến loan báo
“niềm vui cứu độ”. Sự hiện diện của Ngài đã khai mở một giai đoạn mới, giai
đoạn của năm hồng ấn cứu độ.
Hôm nay, Chúa Thánh Thần đã được ban xuống ngay trong lời của Đức
Kitô, nhờ Thánh Thần mà Lời đã trở thành hiện thực. Người nghèo được ưu ái, kẻ
tù đầy được giải phóng, người mù được xem thấy. Những điều này rõ ràng nói lên
tình yêu thương của Chúa dành cho những kẻ biết đón nhận Đức Kitô bằng một lòng
tin. Đức Kitô đến tái lập trật tự và mặc cho thế giới này một khuôn mặt mới của
công bình tình thương và an vui. Cho nên, việc tuyên xưng niềm tin nơi Đức Kitô
là Con Thiên Chúa làm người, là Đấng cứu độ, là chúng ta đón nhận chính niềm
vui cứu độ ngay giữa những gì là tang thương và bi đát.
2. Đón nhận niềm vui cứu độ
Trong Tông thư “Khởi đầu thiên niên kỷ mới”, Đức Gioan Phaolô II mở
ra cho chúng ta một hướng đi tiến vào thiên niên kỷ mới. Đó là “Gặp gỡ Đức
Kitô, chiêm ngắm Đức Kitô, bước theo Đức Kitô và làm chứng cho tình yêu của Đức
Kitô”.
Đức Kitô đã đem “niềm vui cứu độ” đến thế gian. Ngài biến những đau
buồn thành niêm vui nội giới cho chúng ta… Một niềm vui trọn hảo không gì có thể
làm lu mờ đi được. Niềm vui đó không chỉ ấp ủ trong lòng mà phải được tuôn trào
ra bên ngoài bằng cuộc sống đan kết bởi những việc làm lành thánh.
Như Thánh Phaolô luôn miệng nhắn nhủ tín hữu Philipphê rằng “hãy
vui lên”, mặc dù chính ông đang bị cầm tù và Giáo Hội đang rơi vào cảnh bị bách
hại.
Để được niềm vui đích thực như Thánh Phaolô đã lãnh nhận nơi Đức
Kitô. Chúng ta phải biết thay đổi cách sống bằng tình yêu thương, công bằng bác
ái. Khi đó chúng ta mới thực sự cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Kitô,
chiêm ngắm Ngài và bước theo Ngài bằng chính những việc làm tốt đẹp của chúng
ta. Bằng không, bóng tối của tội lỗi của ích kỷ sẽ bao phủ cõi lòng, cho dù bên
ngoài chúng ta vẫn tỏ ra vui cười, nhưng bên trong sẽ không có được niềm vui
bình an. Vì chỉ có Chúa mới là tình yêu và là “niềm vui cứu độ” cho chúng ta,
“Đức Kitô là đường là sự thật và là sự sống”… Khi chúng ta có Chúa trong lòng
rồi, chính niềm vui sẽ thúc đẩy và biến đổi chúng ta trở thành những chứng nhân
cho tình yêu của Đức Kitô bằng việc đem Tin Mừng Cứu độ đến với những người anh
em vẫn chưa biết Chúa. Đó chính là cách chúng ta trao ban “niềm vui cứu độ” là
chính Đức Kitô…
3. Trao ban niềm vui cứu độ.
Vì chỉ có một Tin Mừng Cứu độ duy nhất cho mọi người mọi thời. Đó
là Đức Kitô, trong Ngài Thiên Chúa đã, đang và sẽ còn biểu lộ “niềm vui cứu độ”
cho nhân loại. Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần mà công cuộc cứu độ của Chúa vẫn
đang sinh hoa trái trong Giáo Hội và qua Giáo Hội từ bây giờ cho đến muôn đời.
Khi chúng ta lãnh nhận các bí tích là chúng ta lãnh nhận chính Đức
Kitô trong ân sủng của Chúa Thánh Thần. Đó là hệ quả của “niềm vui cứu độ” mà
chính Đức Kitô đã đem đến để giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi và nuôi
dưỡng chúng ta bằng Thánh Thể. Nhờ lời rao giảng và giáo huấn của Giáo hội, Đức
Kitô tiếp tục thông truyền ánh sáng của Ngài cho những ai đang ngồi trong tối
tăm.
Một trong những mẫu gương mà chúng ta có thể noi theo chính là Mẹ
Maria, khi vừa có trong lòng, Mẹ đã vội vã lên đường đem Chúa đến cho gia đình
bà Isave. Chúng ta là những kitô hữu đã được lãnh nhận hồng ân Cứu độ trong
ngày chịu phép Rửa tội, chúng ta cũng phải tiếp tục đem “niềm vui cứu độ” đến
cho những anh chị em vẫn chưa biết Chúa, bằng việc rao giảng Tim Mừng và qua
chính đời sống thánh thiện, bác ái và yêu thương.
Ước chi sứ điệp Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta chân nhận và xá tín
rằng “Đức Kitô chính là niềm vui cứu độ” duy nhất, hôm qua, hôm nay và mãi
mãi…Nhờ Ngài mà tâm hồn mọi người được hoan lạc va bình an, nếu biết mở lòng ra
đón nhận thần lương nuôi hồn và mở đôi tay ra để trao ban niềm vui cứu độc cho
những ai còn ngồi trong bóng đêm của tội lôi.
Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết mở lòng đón nhận “niềm
vui cứu độ”, để rồi niềm vui đó không ngừng triển nở trong tâm hồn chúng con.
Amen.
23. Sứ mạng
Sau khi để lại những sự kiện thời thơ ấu của Chúa Giêsu, thánh Luca
nói đến hoạt động của Chúa ở Galilê. Tại đây, Chúa bắt đầu bằng một biến cố bất
ngờ ở hội đường Nadarét. Vào ngày hưu lễ, người ta phải đến hội đường để nghe
đọc Sách Thánh và hát thánh vịnh. Nhân dịp Chúa Giêsu trở về quê nhà, Ngài cũng
vào hội đường với mọi người. Đây là lần đầu tiên Chúa về Nadarét trong quãng
đời công khai.
Theo luật lệ Do thái, bất cứ ai cũng có thể lên diễn đàn đọc và
giải thích Kinh Thánh. Nhưng thường người có trách nhiệm coi sóc hội đường trao
công việc đó cho những người đã am tường Kinh Thánh. Vì Chúa Giêsu đã giảng dạy
ở nhiều nơi trước khi về Nadarét, nên việc người ta mời Ngài lên diễn đàn là
chuyện bình thường. Theo thông lệ, vị diễn giảng đứng dậy đọc Sách Thánh, rồi
ngồi xuống giải thích bài đọc đó. Hômnay cũng vậy, người ta đưa cho Chúa cuốn
sách Thánh. Mở sách ra, Ngài gặp ngay đoạn ngôn sứ Isaia nói về Đấng Cứu Thế sẽ
đến và những việc Người sẽ làm. Đọc xong, Chúa gấp sách lại và ngồi xuống. Mọi
người đều chăm chú nhìn Ngài và chờ đọi những lời giải thích của Ngài.
Ngài dõng dạc tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý
vụi vừa nghe”. Tất cả bài giảng hôm ấy thế nào chúng ta không được b iết, thánh
Luca chỉ ghi lại có một câu mở đầu ấy, nhưng thật đầy đủ ý nghĩa. Lịch sử cứu
chuộc là quá trình giữa lời hứa của Thiên Chúa và sự thực hiện lời hứa ấy. Các
vị ngôn sứ được sai đến để công bố lời hứa và loan báo sự thực hiện. Isaia công
bố về một người tôi tớ của Thiên Chúa sẽ đem ơn lành của Thiên Chúa đến cho mọi
người. Chúa muốn nói cho những người đang nghe Ngài biết: hôm nay họ đang được
nghe chính người tôi tớ mà người đang nói với quý vị, tôi chính là Đấng Cứu
Thế, và sứ mạng của tôi là thực hiện những điều Isaia đã nói.
Quả thực, suốt thời gian Chúa Giêsu sống và rao giảng, Ngài đã thực
hiện từng chi tiết đoạn sách Thánh này.Ngài đã rao giảng Tin Mừng cho mọi
người, nhất là những người nghèo khổ. Ngài đã cảm thông, an ủi những tấm lòng
sầu muộn. Ngài đã giải phóng những người bị tà ma ám ảnh, chữa lành tất cả
những bệnh tật. Ngài đã khích lệ, tha thứ cho những người tội lội. Ngài đã hòa
đồng với những người hèn hạ nghèo khó. Ngài không hề xua đuổi bất cứ ai. Ngài
dạy phải quảng đại, bác ái, yêu thương đối với mọi người, kể cả kẻ thù, và
không bao giờ được xét đoán bất công. Ngài muốn mọi giao tế giữa loài người với
nhau phải được thể hiện trong yêu thương. những dẫn chứng trên cho chúng ta
thấy những lời ngôn sứ Isaia đã loan báo trước được ứng nghiệm đầy đủ nơi Chúa
Giêsu. Ngài là Đấng Cứu Thế, Đấng Thiên Sai, đã thi hành trọn vẹn sứ mạng Thiên
Chúa trao phó cho Ngài.
Sứ mạng của Chúa Giêsu, ngày hôm nay, vẫn được tiếp tục thực hiện
qua Giáo hội và trong Giáo hội. Thực vậy, khi Chúa Giêsu hoàn thành thời gian
sứ mạng của Ngài, Ngài gởi Thánh tần đến cho các môn đệ để họ tiếp tục công bố
Năm Toàn Xá của Thiên Chúa, loan Tin Mừng cho mọi người, rao giảng và thực hiện
sự giải phóng toàn diện con người và xã hội. Nói rõ hơn, Giáo hội được đầy Thánh
Thần từ ngày lễ Ngũ Tuần phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu trong lịch sử.
Như vậy, lời sách Isaia thâu tóm sứ mạng của Chúa Giêsu cũng là lời theu tóm sứ
mạng của Giáo hội mọi thời đại. Hôm nay sứ mạng ấy càng trở nên khẩn trương
hơn.
Từ Công đồng Vaticanô II, Giáo hội đã ý thức sâu xa hơn về sứ mạng
của mình. Điều này không có nghĩa là trước đây Giáo hội đã quên con người mà
chỉ nghĩ đến “linh hồn”. Thử hỏi: ai đã khai sinh ra các bệnh viện, các cô nhi
viện,m các trại phong, trai tế bần, trại dưỡng lãi…Ai đã khai hóa cho thế giới
“Man di” của Âu Châu thời hậu đế quốc Rô-ma? Chính là Giáo hội. Cái mới của
Va-ti-ca-nô II là quan niệm lại cho phù hợp với thời đại mà thôi.
Bài học cho chúng ta: Chúa Giêsu đã thực hiện đầy đủ, trọn vẹn
những lời Kinh Thánh nói về Ngài. Chúng ta cũng vậy, chúng ta có bộn phận thực
hiện những lời Chúa đã giảng dạy. Nghĩa là chúng ta phải sống những lời Chúa đã
giảng dạy. Bởi vì đời sống của người tín hứu rất hệ trọng trong việc mời gọi
mọi người đến với Chúa. Đời sống của chúng ta có thể hoạc xua đuổi hoặc giũ
người khác lại cho Chúa Kitô.
Đối với óc thực nghiệm và đời sống thực dụng ngày nay, cái gì người
ta cũng đòi phải có bằng chứng. Chúng ta là Ki-ti hữu, chúng ta đi lễ đi nhà
thờ, chúng ta làm các việc đạo đức đầy đủ. Nhưng tâm hồn chúng ta có phải là
tâm hồn Ki-tô đích thực không? Đời sống của chúng ta có phải là một thể hiện
những gì chúng ta tuyên xưng không? Nhìn vào đời sống chúng ta, người ta có
nhận ra chúng ta là người Ki-tô hữu không? Vì vậy, để truyền giáo, để làm chứng
cho Chúa, cho đạo, cách hay nhất là chúng ta hãy sống tốt trong gia đình, với
xóm ngõ, trong họ đạo và với người chung quanh, bất cứ là lương hay giáo, mà
sống tốt cụ thể nhất là hãy sống bác ái.
Xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức mình là Kitô hữu, và xin cho
chúng ta hiểu rằng làm Ki-tô hữu có nghĩa là sống trọn vẹn ơn gọi làm người
bằng một cuộc sống quảng đại, yêu thương và đầy tình yêu.
24. Những bàn tay Kitô giáo
Có một câu truyện cổ tích kể về một tên cướp khét tiếng tại vùng
Viễn Đông bị trọng thương và được chở đến một nhà thương của các nhà truyền
giáo. Sau một vài tuần tịnh dưỡng và được săn sóc đầy đủ, tên cướp đã được phục
hồi hoàn toàn. Tên cướp rất biết ơn các nhà truyền giáo và tự hứa là sẽ không
bao giờ ăn cướp của bất cứ Kitô hữu nào. Lời hứa của tên cướp đã được đồn ra và
hễ ai gặp tên cướp ấy đều thú rằng, "Tôi là Kitô hữu." Như thế, tên
cướp đã gặp vấn đề và hắn thắc mắc làm sao biết được ai là Kitô hữu và ai không
phải là Kitô hữu. Hắn đã trở lại nhà thương và hỏi các nhà truyền giáo. Các nhà
truyền giáo đã nói với hắn rằng nếu ai là Kitô hữu thì tất nhiên phải biết Kinh
Lạy Cha và 10 Giới Răn. Từ hôm đó, ai tự xưng với hắn là Kitô hữu thì đều phải
đọc Kinh Lạy Cha và Thập Giới.
Nếu mọi người đang hiện diện nơi đây được hỏi để chứng minh đức tin
của mình bằng Kinh Lạy Cha và Thập Giới, tôi không biết có bao nhiêu người sẽ
thi đậu, tuy nhiên tôi cho rằng đó không hẳn là bài thi của đức tin.
Bạn có thể đọc Kinh Lạy Cha, Thập Giới, và Kinh Tin Kính, và những
bài Thánh Vịnh, thậm chí cả Tám Mối Phúc Thật. Tuy nhiên, tất cả những lời kinh
này không đủ để trả lời cho câu hỏi, "Bạn có phải là Kitô hữu không?"
Nói như vậy có nghĩa là "Bạn có biết khuôn đúc hóa chính mình theo cuộc
sống của Chúa Kitô không? Bạn có cố gắng để sống đời Kitô hữu không? Bạn có trở
nên một với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu hay bạn là người xa lạ đối với Thiên
Chúa?
Qua bài Phúc Âm hôm nay, Thánh Luca kể lại cho chúng ta về cuộc cấm
phòng của Chúa Giêsu trong hoang địa và bị cám dỗ do ma quỉ, Ngài "được
quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người
đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi
người tôn vinh" (Lc 4:14-15). Chúa Giêsu bắt đầu thu hút dân chúng đến với
Ngài để nghe giảng dạy. Sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu được bắt đầu bằng một
cách tốt đẹp. "Rồi Đức Giêsu đến Nagiarét", Thánh Luca tiếp, "là
nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày
Sabát" (Lc 4:16). Ngài đứng trước dân chúng và đọc một đoạn sách trong
sách Isaiah: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong
tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho
kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự
do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4:18).
Tất cả những con mắt trong hội đường đều tập trung vào Chúa Giêsu,
như Thánh Luca đã kể lại. Thêm một lần nữa, Chúa Giêsu lại gây thêm một ấn
tượng mạnh mẽ trên dân chúng. Sau đó Ngài bắt đầu nói với dân chúng, "Hôm
nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe." Nói một cách khác,
"Đoạn văn vừa rồi trích từ trong sách Isia thật ra là nói về tôi. Thần Khí
Chúa ngự trên tôi, và tôi là người được xức dầu để rao giảng cho người nghèo
khổ, mùa lòa, và trả tự do cho người bị áp bức. Đi xa hơn một chút nữa trong
bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy rằng "mọi người đều tán thành và thán
phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người" (Lc 4:19). Nhưng những
người vừa mới khen Chúa Giêsu họ đã trở thành một đám côn đồ muốn giết chết
Ngài.
Thánh Phaolô đã nhắn nhủ chúng ta rằng chúng ta phải có thái độ
giống như của Chúa Kitô. Nói một cách khác, hiểu biết Chúa Kitô đem Tin Mừng về
tình yêu của Thiên Chúa đến và giải thoát cho nhân loại vẫn chưa đủ. Chúng ta
còn phải biết đem Tin Mừng đó thấm nhập vào con người của mình và để cho nó
sinh hoa kết quả. Qua đó, chúng ta biết cử xử làm sao với chính mình và với
người khác giống như Chúa Kitô.
Thái độ này được diễn tả cách sống động qua một câu truyện nhỏ
"Bàn Tay" của tác giả Sylvia Sunderlin.
Vào ngày mừng sinh nhật thứ 100 của người bố chồng, tôi quì bên bố
và nắm lấy bàn tay nhợt nhạt và yếu ớt của ông. Bố chồng tôi nghiêng mình về
phía tai tôi và nói nhẹ, "Con có một đôi bàn tay tuyệt vời." Những
lời khen đó xem như là quá đáng. Tôi vẫn thường cảm thấy xấu hổ với bàn tay của
tôi bởi vì nó xấu quá. Các khớp đốt ngón tay thì không còn xinh xắn, ngón tay
cái thì bị cong sang một bên, còn ngón trỏ thì bị một cái lồi lên nữa. Nghe bố
chồng tôi khen như vậy, tôi thật cảm động và chỉ còn biết thì thào, "Cám
ơn bố!"
Những giây phút đó còn vang vọng trong tôi. Thỉnh thoảng, tôi nhìn
bàn tay mình, và suy nghĩ rằng bố chồng mình thật hiền lành. Nhưng có lẽ ông đã
nói sai... Tuy nhiên, dần dần, tôi bắt đầu quan sát bàn tay của tôi kỹ lưỡng
hơn. Tôi bắt đầu khám phá ra những việc nó đang làm.
Nó đang cầm cây bút chì và kim chỉ, cái chổi và cái xẻng, cuốn sách
và cây vợt tenis. Trộn bột pha bánh và đốt lên những ngọn nến sinh nhật. Các
ngón tay ấn lên ấn xuống trên phím đàn dương cầm và bàn chữ, sử dụng cây cọ để
vẽ và chiếc bàn ủi. Bàn tay này đã dùng để chải tóc cho con cái, gạt đi những
dòng nước mắt, băng bó vết thương, và vỗ vễ những ai sầu khổ...
Rồi một ngày nọ, tôi nhìn bày tay của tôi và nhận ra chúng thật đẹp
đẽ. Bố chồng tôi đã giúp cho tôi nhìn ra cái đẹp mà Thiên Chúa đã muốn tôi phải
nhìn: các món quà quí giá từ Ngài, đã được ban cho tôi để phục vụ!
Thái độ của các bạn phải là thái độ của Chúa Kitô để người khác có
thể nhìn thấy bàn tay của các bạn đẹp đẽ, là những bàn tay Kitô giáo, được ban
tặng để phục vụ.
25. Trở về – Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn
“Đức Giêsu trở về Galilê trong quyền năng của Thánh Thần” (Lc
4:14a).
Đang khi quân Pháp đánh nhau dữ dội với quân Nga, Napôlêon được mật
báo sắp có một cuộc đảo chánh tại Pháp nhằm truất phế ông ta. Tức khắc, vị
tướng lừng danh khắp cõi Châu Âu vội cải trang, lén lút đem theo vài cận vệ rời
khỏi cuộc chiến đang hồi ác liệt để trở về Pháp, nhằm trừng phạt bọn phản loạn
và để bảo tồn ngai triều hoàng đế của mình.
Đến một con sông, đoàn người phải thuê một bác chèo đò đưa qua bờ
bên kia. Đang lúc sang sông, Napôlêon buộc miệng hỏi lão chèo đò: “Ông có thấy
người lính Pháp nào trốn qua khúc sông này không?” Người lái đò, một công dân
Pháp, không biết trước mắt mình là hoàng đế Napôlêon đang cải trang, nên vô
tình mỉa mai đáp lại: “Tôi chỉ thấy ông và những kẻ theo ông là những người
lính Pháp hèn nhát trốn về ngang đây đầu tiên.”
Người kể truyện không nói rõ Napôlêon, vị tướng hùng của dân tộc
Pháp, kẻ chưa từng nếm mùi chiến bại đã phản ứng thế nào với lão chèo đò dám có
những lời khinh thị kia, người viết chỉ kết bằng một câu chua chát: “Đây là một
cuộc trở về ê chề nhất trong đời Hoàng đế.”
Trước đây, mỗi khi Napôlêon với đoàn quân viễn chinh trở về là
những lúc kinh thành Balê tưng bừng náo nhiệt và ngập tràn ánh sáng. Người ta
tung hô, múa nhảy, ăn mừng, bởi vì hoàng đế của họ đang mang lại chiến thắng,
danh dự, an bình, vinh quang cho đất nước và dân tộc. Thế nhưng, hôm nay
Napôlêon đã trở về không phải cho dân hay cho nước, song là cho chính mình-cho
chính ngai vàng và quyền bính của mình, mà nghe đâu đang có kẻ đe doạ lật đổ.
Hậu quả, vị tướng tài đã phải nhục nhã vô cùng khi nghe câu nói châm biếm của lão
chèo đò.
Biến cố trở về của Napôlêon nhắc người ta nhớ đến hình ảnh nổi loạn
của dân Do thái ngày xưa trong sa mạc: giữa một cuộc chiến đang hồi ác liệt với
đói khát, thiếu thốn, nắng nôi trên con đường tiến về miền đất Chúa hứa, dân Do
thái đã trở lòng. Họ muốn quay lui. Họ mơ tưởng đến những nồi súp, miếng thịt,
củ hành, tép tỏi bên vùng đất Ai cập, nơi họ từng phải làm nô lệ, tôi đòi. Mơ
chưa đủ, họ còn nổi loạn bắt Môisen phải cho phép quay về vùng đất đó. Không
tha thiết gì với vùng đất “chảy sữa và mật ong” nữa.
Thế đấy, cả Napôlêon lẫn dân Do thái xưa, tuy khác nhau ở chỗ một
bên đang trên đường trở về, một bên mong mỏi và nổi loạn đòi trở về, nhưng cả
hai đều có cùng một mục tiêu trần tục và phù vân như nhau. Họ điên cuồng tức
giận, bỏ mặc quân lính giữa cuộc chiến đang hồi nóng bỏng để trở về với nồi
khoai, nồi thịt nay đầy mai hết, với những thứ mà Thánh Phaolô cho là “việc vàn
của xác thịt.”
Hôm nay, Phúc Âm Luca cũng nhắc đến việc Đức Giêsu trở về (Lc
4:14). Cuộc trở về này xảy ra ngay sau một cuộc chiến ác liệt: cuộc chiến chống
lại cám dỗ của quỉ ma trong sa mạc, suốt 40 ngày đêm liên tiếp.
Nhưng ngay từ khởi đầu, bài Phúc âm đã không nhắc đến việc Chúa
Giêsu trở về với những gì liên quan đến xác thịt, nhưng lại nhấn mạnh: “Ngài
trở về trong quyền năng của Thần khí.” Chúa Giêsu đã trở về trong quyền năng
của Thánh Thần vì Ngài đã chiến thắng, vượt qua cuộc cám dỗ gay go về cơm bánh,
vinh quang, và uy quyền thế gian. Ngài đã trở về không cho chính mình, song là
cho mọi người, những ai cần đến ơn cứu độ.
Con người gồm có xác hồn, một tổng thể của vật chất và linh thiêng,
của xác thịt và thần khí. Nhưng theo lời Thánh Phaolô trong thư Galata thì xác
thịt và Thần khí luôn chống lại nhau. Nếu phần xác thịt-những đam mê, ham muốn,
dục vọng, vật chất-thắng thế thì phần thiêng liêng tất sẽ bị suy yếu. Song nếu
phần thiêng liêng hay Thần khí trong ta thắng thế thì sẽ chế ngự được những đòi
hỏi của xác thịt.
Đức Giêsu trở về trong Thần khí. Ngài không để cho phần xác thịt là
những đam mê vượt thắng. Ngài không quì gối bái lạy Satan để có được một chút
vinh quang, danh dự, uy quyền. Ngài không để cho cái bao tử hay đồng tiền vật
chất khuất phục mình, khi cương quyết không làm đá hoá bánh, không làm điều
trái nghịch với tự nhiên để thoả mãn những tham muốn hay dục vọng riêng tư.
Trái lại, đối với Đức Giêsu, mọi vinh quang, danh dự, hay sự sống
đều phải qui hướng về Thiên Chúa, chứ không phải Satan hay cá nhân mình. Đây
chính là tinh thần của Đức Kitô. Đây cũng chính là Thần khí mà Ngài đã có khi
trở về đất Galilê để khởi đầu sứ mạng rao giảng.
Có trở về trong Thánh Thần, tức có hướng lòng lên Thiên Chúa để
vươn mình thắng vượt những tham lam, tiền bạc, bất công, và chế ngự những khát
vọng uy quyền, xác thịt, danh lợi, thì mới có thể đem Tin Mừng cho người nghèo
khó, mới giải phóng cho kẻ tù đày, và mới mở mắt cho người đui mù được. Còn nếu
tôi cứ tự cột trói và giam hãm trong đau khổ và lo lắng thái quá về đồng tiền,
của ăn, thế giá thì làm sao ta đem được Tin Mừng hay niềm vui cho người khác;
có chăng chỉ là tranh chấp, gian dối, và u buồn thôi!
Người ta hay nói “đời là một cuộc trở về.” Đúng lắm! Và dưới cái
nhìn của con mắt đức tin, mọi người đang trở về quê trời. Đây là một cuộc trở
về vinh quang cuối cùng này, tôi vẫn cần luôn những cuộc trở về nho nhỏ, hằng
ngày. Rất bình thường, nhưng không kém quan trọng.
Thử hỏi có hôm nào trong cuộc sống mà tôi lại không có một chuyến
trở về nào đó: trở về từ sở làm, trở về sau khi đi nhà thờ, trở về sau lúc đi
chợ, đi chơi, đi học, đi nhậu, trở về sau những cuộc hẹn hò, tiệc tùng v.v..
Nhưng thử hỏi với lần trở về như vậy, tôi mang theo được điều gì? Tôi mang về
bực bội, khó chịu, cay chua, nóng nảy, giận hờn, ghen tuông hay đưa về Thần khí
của Đức Kitô, thứ Thần khí hoa trái là mến yêu, vui mừng, bình an, quảng đại, hiền
từ, tiết độ.
Chợt giật mình tự vấn: “Không biết mỗi ngày khi về nhà, tôi có đem
về niềm vui, sự sống, an bình và thoải mái cho tâm hồn tha nhân, hay vợ chồng
con cái của mình chăng?”
Cách nay không lâu, trên tờ báo Catholic Register người ta học thấy
có câu chuyện “Trở Về” rất đáng suy tư. Số là anh Jim O’Donnell, một công dân
Hoa kỳ 36 tuổi đang làm việc tại Luân Đôn, Anh quốc, cho một nhóm các ngân hàng
của Hồng Kông và Shangai. Jim O’Donnell đã gây sửng sốt cho giới doanh thương
Hồng Kông, Luân Đôn và cả New York khi tuyên bố rằng anh sẽ về nước, nghỉ việc,
mặc dầu khi ấy các ngân hàng vừa tăng lương cho anh với số tiền là 1.650.000
đôla một năm.
Nhiều người thắc mắc tại sao anh Jim không tiếp tục công việc để
hưởng số lương bổng mà không ít kẻ nằm mơ cũng chưa thấy được số lẻ của nó. Bạn
có biết lý do anh trở về nước không?
Rất lạ! Anh về nước là để cho kịp niên học tại một chủng viện vào
mùa Thu 98. Anh muốn đi học để trở thành linh mục. Đúng là anh trở về với tâm
hồn của Đức Kitô, với Thần khí của Thiên Chúa, với tinh thần hy sinh những gì
thuộc về xác thịt, quyền lợi, sở thích riêng tư, để thực hiện một ước vọng mới
là mang Tin mừng, niềm vui và sự sống chân lý cho muôn người.
Xin Chúa cũng ban cho bạn trong những lần trở về với gia đình, cộng
đoàn, có được chính Thần khí của Đức Kitô tác động và dẫn lối.
26. Đức Giêsu tại Nadarét – Lm. PX Vũ Phan Long
1.- Ngữ cảnh
Tác giả Lc đưa Đức Giêsu đi vào lịch sử dưới dấu chỉ là hoàn cảnh
chính trị và tôn giáo của đế quốc Rôma và của Israel. Qua cái cổng này, ngài
lấy lại các chặng của TM Mc.
Lc đặt phần 1 của Tin Mừng dưới dấu chỉ là việc mạc khải của Đức
Giêsu tại Nadarét; các hoạt động đầu tiên của Người tại Caphácnaum và Galilê
đến tiếp vào (Lc 4,14-5,16). Bên trong đoạn này, tác giả bố trí các hoạt cảnh theo
nhiều cách: ngài cố tình nêu bật Galilê. Hơn các tác giả Nhất Lãm khác, ngài
nhấn mạnh việc Đức Giêsu trở về miền Galilê “trong quyền năng Thánh Thần”
(4,14). Ở 4,44, ngài thay thế Galilê bằng Giuđê, nhưng để nói về toàn lãnh thổ
của người Do Thái ; đứng đầu các thành phố và làng mạc được loan báo Tin Mừng,
ngài đặt Nadarét (4,16); tại Galilê, nơi có vai trò quan trọng là Caphácnaum
(4,31 ; 7,1).
Vậy, chỉ có miền Galilê nằm trong nhãn quan của Lc ở đoạn này.
Chuyển động không nằm trong việc thay đổi nơi chốn, nhưng trong việc rao giảng
về Nước Trời: Bằng việc hoán chuyển vị trí của câu truyện Nadarét, Lc cho thấy
rằng con người và sứ mạng của Đức Giêsu mới là ưu tiên (Lc 4,13-30 = Mc 6,1-10;
Mt 13,53-58).
2.- Bố cục
Sách Bài đọc gộp vào đây hai bản văn xa nhau ba chương trong TM Lc.
Khó mà thấy được ý hướng của sự ghép nối này; có lẽ các chuyên viên Phụng vụ
chỉ muốn nối với nhau hai bản văn “mở đầu”: mở đầu Tin Mừng theo Lc (1,1-4) và
khởi đầu việc rao giảng của Đức Giêsu tại Nadarét (4,14tt).
Bản văn Phụng vụ có thể chia thành ba phần:
1) Mở đầu Tin Mừng (1,1-4);
2) Tóm: Bắt đầu sứ vụ (4,14-15);
3) Thăm viếng Nadarét (4,16-21):
a) Thăm viếng hội đường Nadarét (c. 16),
b) Đọc Kinh Thánh (cc. 17-20),
c) Giảng dạy (c. 21).
3.- Vài điểm chú giải
- Nadarét (16): chính xác là Nadara. Đây là lần duy nhất
tác giả Lc gọi quê hương Đức Giêsu bằng cái tên A-ram Nadara (tương tự Mt
4,13), nhưng lại không gọi là “quê hương/quê quán” của Đức Giêsu (khác với Mc
6,1 và Mt 13,54): có lẽ bởi vì Đức Giêsu không sinh ra tại đó (2,4-7), nhất là
bởi vì đối với Lc, “quê hương” của Đức Giêsu là toàn thể đất Israel (x. cc.
24-27).
- đứng lên đọc Sách Thánh (16): Tác giả Lc cho
thấy Đức Giêsu giảng dạy dựa trên Kinh Thánh. Ta có thể hiểu ngầm rằng ở đây
Đức Giêsu đã được ông trưởng hội đường (archisynagôgos) mời đọc và trình bày
mộtbản văn Kinh Thánh (như Phaolô và Banaba ở Antiôkhia miền Pisiđia; x. Cv
13,15). Tại Paléttina vào thế kỷ đầu tiên, việc cử hành ngày sabát tại hội
đường dường như gồm có việc hát một thánh vịnh, đọc kinh Shema (Đnl 6,4-9;
11,13-21; Ds 15,37-41) và tơphillâh [lời cầu khẩn] (hoặc shơmôneh esrêh = “Mười
Tám [lời chúc lành]” và đọc một seder (quyển nghi thức) hay một pârâshâh trích
từ tôrah (Lề Luật = Ngũ Thư) và mộtđoạn các Ngôn sứ (haptârâh; x. Cv 13,15).
Sau đó là bài diễn giải các bản văn Kinh Thánh đã đọc. Cuộc cử hành chấm dứt
bằng lời chúc lành của ông trưởng hội đường và lời chúc lành tư tế (x. Ds
6,24-26).
Tác giả Lc không nhắc đến bài đọc Tôrah, nhưng phải hiểu là có.
Ngài chỉ quan tâm hơn đến việc ứng nghiệm các lời sấm Đệ II Isaia và cách sử
dụng Cựu Ước theo quan điểm Kitô học.
- cuốn sách ngôn sứ Isaia (17): Người ta yêu cầu
Đức Giêsu đọc mộtđoạn Ngôn sứ bằng tiếng Hípri. Tác giả không nói đến Targum,
tức dịch bản Hípri ra tiếng Aram, nhưng có thể giả thiết là có, vì vào lúc ấy,
người Do Thái dùng tiếng Aram chứ không còn hiểu tiếng Hípri nữa. Sự kiện người
ta “trao cho” Đức Giêsu cuốn sách Isaia cho hiểu rằng người ta quy định phải
đọc một đoạn văn Isaia, tức là có mộtchu kỳ các bài đọc Ngôn sứ cũng như các
bài đọc Lề Luật. Nhưng dường như người đọc có thể chọn (x. câu 17b).
- Thần Khí Chúa ngự trên tôi (18): Bản văn trích Đệ
II Isaia trong Lc là mộtđoạn tổng hợp Is 61,1a.b.d; 58,6d; 61,2a. Hai câu bị bỏ
là Is 61,1c ở cuối Lc 4,18 (“băng bó những tấm lòng tan nát”) và Is 61,2b ở
cuối Lc 4,19 (“một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta”). Bỏ Is 61,1c thì
không có hậu quả gì đáng kể, nhưng bỏ Is 61,2b là cố tình bỏ đi mộtphương diện
tiêu cực của sứ điệp II Is.
- vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi (18):
Bản văn cho thấy là chính Thiên Chúa đã cử Thánh Thần xuống trên Đấng Mêsia như
mộtchất dầu xức cho Đấng Mêsia, hầu Người lên đường thi hành sứ mạng cứu thế.
- để tôi loan báo Tin Mừng (18): Bản văn Is Hy Lạp
không rõ là “để loan báo Tin Mừng” là mục tiêu của “Chúa đã xức dầu” hay là mục
tiêu của “Người đã sai tôi”. Giáo sư Fitzmyer dịch theo bản gốc Hípri, “he has
sent me to preach good news to the poor” (dịch sát là “to announce good news to
the poor he sent me”).
- người giúp việc hội đường (20): Ngoài ông trưởng
hội đường (archisynagôgos), còn có các nhân viên là “các kỳ mục” (prebyteroi,
Lc 7,3) và “các người giúp việc” (“người cán sự”, NTT) (hypêretês, Cv 13,5)
giống như “ông từ nhà thờ, người phụ trách phòng thánh”.
- ngồi xuống (20): Khi đọc Kinh Thánh,
người ta đứng; còn khi trình bày ý nghĩa bản văn (logos paraklêseôs, Cv 13,15),
người ta ngồi.
- chăm chú nhìn Người (20): Động từ atenizein
là động từ Lc ưa chuộng (x. Lc 22,56; Cv 1,10; 3,4.12; 6,15; 7,55; 10,4; 11,6;
13,9; 14,9; 23,1). Thường động từ này diễn tả sự trân trọng và tin tưởng (là
điểm của bản văn này).
- Hôm nay (21; HL. sêmeron, x. 2,11 [Giáng sinh]; 3,22
[phép Rửa]; 4,21; 5,26 [người bại liệt]; 13,32-33; 19,5.9 [Dakêu]; 23,43 [người
trộm lành]): Đây là từ ngữ quan trọng của Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian
dài chờ đợi và hy vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những
gì các ngôn sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu
(x. 4,18.19; 5,26; 19,9).
- đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh (21):
Kiểu nói này tương ứng với kiểu nói “thời kỳ đã mãn của Mc 1,15. Hôm nay, niềm
an ủi cho Sion lại được gửi đến cho dân Thiên Chúa (x. Lc 2,25; 7,22).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Mở đầu Tin Mừng (1,1-4)
Lời mở này phù hợp với quy tắc viết thời tác giả Lc. Qua đoạn văn
ngắn ngủi này, chúng ta biết về phương pháp làm việc của tác giả. Hôm nay chúng
ta thừa kế vốn hiểu biết về Đức Giêsu từ bao thế hệ. Các thông tin được những
con người có lương tâm đánh giá, cân nhắc rồi viết ra. Như thế, đức tin chúng
ta không dựa trên những chuyện hoang đường hoặc những chuyện ngụ ngôn do tưởng
tượng, nhưng chủ yếu dựa trên các sự kiện lịch sử được đảm bảo bởi các chứng
nhân thà đổ máu ra chứ không chịu phủ nhận các sự kiện ấy.
* Tóm: Bắt đầu sứ vụ (4,14-15)
Trong khi các TMNL liên kết khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu
với việc Gioan Tẩy Giả bị tù (Mc 1,14; Mt 4,12), Lc lại bắt đầu Tin Mừng của
ngài bằng mộttóm tắt; còn chuyện Gioan bị tù đã được ngài đưa lên phía trước
(3,19-20). Đoạn tóm tắt này cho mộtcái nhìn tổng quát trên sứ vụ của Đức Giêsu
tại Galilê (những tóm tắt: 4,31-32.40-41; 6,17-19; 8,1-3; 19,47-48; 21,37-38).
Tuy đoạn tóm này không nhắc tới nội dung lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước
Thiên Chúa hay lời lêu gọi hoán cải, bản văn vẫn chứa ba nét đặc trưng của Lc:
(a) Một leitmotiv là “quyền năng Thần Khí” (c. 14). (b) Hoạt động của Đức Giêsu
được mô tả trước tiên như mộtviệc “giảng dạy” (c. 15); ta hiểu Đức Giêsu “giảng
dạy” dưới quyền năng Thần Khí. (c) Tính phổ quát vẫn được Lc nhấn mạnh nơi câu
“được mọi người tôn vinh”.
* Thăm viếng Nadarét (4,16-21)
Sau đó, Đức Giêsu “đến Nadara, là nơi Người sinh trưởng”. Theo thói
quen, Người đi vào hội đường ngày sabát. Qua vài câu đó, Lc nhắc lại những gì
ngài đã kể thuộc thời thơ ấu của Đức Giêsu (x. 2,39-40.51-52). Thành này được
ngài gọi mộtlần duy nhất ở đây là Nadara, nhưng không được gọi là “quê hương”
của Đức Giêsu, có thể vì Đức Giêsu không chào đời tại đây, hoặc đúng hơn, bởi
vì ngài coi cả đất Israel là “quê hương” Đức Giêsu (x. cc. 24-27). Trong cuộc
cử hành, Người đứng lên để đọc Sách Thánh (c. 16). Theo tập tục, Người đứng lên
sau bài đọc Lề Luật (Ngũ Thư) để đọc mộtđoạn sách các Ngôn sứ. Dường như vào
thời Đức Giêsu, người ta không quy định rõ mộtchương trình đọc các bản văn Ngôn
sứ. Do đó, Đức Giêsu đã chọn đọc Is 61. Bản văn được Lc ghi lại là Is 61,1-2
theo Bản LXX, với một vài sửa đổi.
Đối với các thính giả của Đức Giêsu, bản văn này là lời của mộtngôn
sứ, mà họ có thể nói là Người Tôi tớ Đức Chúa với bốn Bài ca trứ danh (Is
42,1-7 có những gặp gỡ rất gần với Is 61,1). Ngài loan báo mộtnăm hồng ân có
thể so sánh với năm đại xá theo luật Môsê (Lv 25,8-17), nhưng ở đây không phải
là con người nhưng chính Thiên Chúa sẽ can thiệp với ân sủng của Ngài. Còn tự
do mà Ngài loan báo không phải là việc tha hoàn toàn các món nợ giữa người Do
Thái với nhau, mà là mộtơn cứu độ tuyệt vời thuộc về thời cánh chung, cũng có
thể gọi là Nước Thiên Chúa, mộtthời đại được nồng nhiệt chờ mong.
Nghe đọc đoạn sách ấy, niềm hy vọng bùng lên trong các con tim, và
tất cả các thính giả của Đức Giêsu chờ đợi bài giảng minh giải bản văn đầy hứa
hẹn ấy.
“Người bắt đầu nói với họ: «Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh
quý vị vừa nghe»” (4,21). Qua câu này, Đức Giêsu cho thấy chiều hướng của bài
giảng của Người. Người sẽ hiện tại hóa nơi bản thân Người nội dung của lời sấm
Người vừa đọc. Khi làm như thế, Người đã xử sự như ngôn sứ.
Từ ngữ đầu tiên rất hệ trọng: sự hiện diện của Đức Giêsu chính là
mộtgiai đoạn độc đáo trong thời gian cứu độ, được diễn tả bằng “hôm nay”. Đức
Giêsu áp dụng sấm ngôn Is cho chính mình. Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lấy
Thánh Thần như mộtviệc xức dầu đã đưa lại cho Người phận vụ thánh thiêng là làm
Đấng Mêsia. Nhưng Người không phải là mộtMêsia như mộtvị vua trần thế; để tránh
hiểu lầm, Đức Giêsu không xác định công khai Người là Đấng Mêsia (x. 4,41) và
chỉ mạc khải như thế cho riêng các môn đệ (9,18-21). Tại Nadarét, vào lúc bắt
đầu sức mạng, Người chỉ nhận mình là như vị ngôn sứ mang Tin Mừng cứu độ. Bản văn
Is có lẽ đã cung cấp cho Người dung mạo Người Tôi Tớ của Đức Chúa (Yhwh), và
chắc chắn các đề tài cốt yếu của Tin Mừng của Người: ưu tiên cho người nghèo,
giải phóng những kẻ bị giam cầm và những người bị áp bức, cho người mù được
thấy. Những từ ngữ này cho thấy Đức Giêsu chiếu cố đến những người thấp hèn.
Nhưng các từ ngữ này còn cho thấy rõ hơn nữa các đòi hỏi và các ân huệ của
Người: kêu gọi làm tâm hồn nghèo hèn, hứa ban sự giải phóng cho những người tội
lỗi đang bị sự dữ khống chế, ban khả năng nhìn cho những ai sẽ đi đến với với
đức tin (trong cách giải thích cái nhìn theo nghĩa “thiêng liêng” này, Đức
Giêsu trung thành với tư tưởng của Is 29,18-19 và 35,5-6).
Trong Is 61,2, vị ngôn sứ vừa công bố mộtnăm hồng ân, vừa loan báo
ngày báo phục; đây là đề tài truyền thống của các ngôn sứ liên quan đến Ngày
của Đức Chúa, mộtngày vừa là ngày phán xét vừa là ngày cứu độ. Đức Giêsu không
nói đến phán xét. Thật ra sau này Người có ám chỉ nhiều đến phán xét (x. Lc
6,20-26; 9,26; 10,12-15; 11,30-32; 12,8-9; 12,35-48.49-59; 13,23-30; 16,1-8;
17,1-2; 17,22-37; 18,8; 19,11-27), còn ở đây Người chỉ nhìn đến đến sứ mạng
trần thế của Người, là “thời gian” ơn cứu độ được ban cho Israel; chính thời
gian này được Người gọi là “năm hồng ân của Đức Chúa”, thời gian Thiên Chúa
chiếu cố đến dân. Nói tóm, tư tưởng của Đức Giêsu ở đây trong Tin Mừng Lc giống
với lời Đức Giêsu loan báo trong Mc 1,15 và Mt 4,17, “Nước Trời đã đến gần”,
người ta có thể đi vào Nước Thiên Chúa nhờ sứ mạng của Đức Giêsu. Tuy nhiên,
công thức của Lc chính xác hơn: nó phân biệt thời gian hoạt động của Đức Giêsu
và thời gian hoàn tất cánh chung; nó xác định chính xác hơn vai trò của Đức
Giêsu, các ân huệ và các đòi hỏi của Người.
Tác giả Lc biết rõ là trước sự cố Nadarét này, Đức Giêsu đã hoạt
động ở Caphácnaum và ngài cũng cho biết như thế (4,14-15; 4,23; x. Cv 1,8).
Nhưng ngài vẫn muốn đặt truyện này vào ngày khai mạc công việc rao giảng của
Đức Giêsu và cho thấy chính Đức Giêsu xác định sứ mạng của Người ngay đầu Tin
Mừng. Câu truyện đã xảy ra trong mộthội đường: đó là phương pháp của Đức Giêsu
(4,15.33.44; 6,6; 13,10); đó cũng là cách thực hành của các nhà truyền giáo
trong các xứ sở ngoại giáo (Cv 9,20; 13,3.14.44; 14,1; 17,1.10.17; 18,4.7.19;
19,8). Tác giả muốn cho thấy rằng sứ điệp cứu độ được bao giờ cũng được ngỏ với
người Do Thái trước khởi đi từ Kinh Thánh và trong hành vi phụng tự: Tân Ước
hoàn tất Cựu Ước.
+ Kết luận
Qua bản văn Lc, ta thấy Đức Giêsu giới thiệu chương trình hoạt động
của Người: Người là Đấng Mêsia được giới thiệu ở phép rửa nay xuất hiện trước
công chúng như là vị ngôn sứ có quyền năng Thánh Thần; Người sẽ ưu tiên ngỏ lời
với những người nghèo, những người chịu đau khổ, những người bị áp bức; Người
mang đến cho họ sự giải phóng thiêng liêng, cho họ thấy chương trình của Thiên
Chúa. Đối với Israel, sứ mạng trần thế của Người là thời gian ân sủng, mà họ
phải tận dụng “hôm nay”. Nay không còn phải là những con người được tha các món
nợ và tìm lại được tự do dân sự. Nay chính là Đức Chúa (Yhwh), thân hành đến
nơi bản thân Đấng được xức dầu của Ngài, để tha nợ cho nhân loại và giải thoát
nhân loại khỏi ách nô lệ sự dữ.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Sự kiện Kitô giáo chủ yếu dựa trên can thiệp của Thiên Chúa
trong lịch sử cho thấy Kitô giáo khác mọi tôn giáo khác. Thiên Chúa chúng ta là
mộtThiên Chúa của các sự kiện, những sự kiện thực hữu; Ngài không phải là
mộtthần tượng hoặc mộttư tưởng thuần túy. Vị Thiên Chúa này lại rất quan tâm
đến con người đến độ đi vào trong lịch sử cụ thể của con người. Chính vị Thiên
Chúa này hôm nay vẫn đang kêu gọi chúng ta qua Đức Giêsu, con người cụ thể làng
Nadarét.
2. Ngay từ đầu, Đức Giêsu liên kết hoạt động của Người với Kinh
Thánh, với Lời Chúa. Người khẳng định mạnh mẽ rằng nhờ Người, Thiên Chúa hoàn
tất các lời Ngài đã hứa. Như thế, ngay từ đầu đã có câu trả lời về uy quyền của
Đức Giêsu, nghĩa là về quyền bính đang đứng đàng sau Người: “Thần Khí Chúa ngự
trên tôi”. Đức Giêsu có sức mạnh và quyền năng Thiên Chúa. Người cũng khẳng
định rằng Thiên Chúa đã sai phái Người. Lời khẳng định này có giá trị cho Người
hơn là cho bất cứ ngôn sứ nào, bởi vì Người phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa
trong tư cách là Con Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa nói và hành động qua Người,
toàn thể công trình của Người là công trình cứu độ và phải được đón tiếp với
lòng biết ơn và lòng tin.
3. Tại sao lại có hoàn cảnh của những người nghèo, những người đói
khát, những người bị hành hạ, những người đau ốm, tuyệt vọng và mọi kẻ thất thế
và phải gánh chịu một số phận gian khổ? Họ không may, trong khi những người
khác được may mắn? Có thể có chăng cho họ việc thay đổi số phận, hay là họ cứ
phải cam chịu như thế? Phải chăng Thiên Chúa muốn như thế? Đức Giêsu đã loan
báo sứ điệp của Người cho những con người như thế. Thiên Chúa không hất hủi họ.
Thiên Chúa ở về phía họ và chiếu cố đến họ. Thật ra sứ điệp của Đức Giêsu không
phải là mộtchương trình cải cách xã hội. Người không cổ võ việc phân chia đồng
đều các của cải. Sứ điệp của Người hướng niềm hy vọng của người nghèo không vào
của cải vật chất, nhưng vào Thiên Chúa.
4. Tuy nhiên, chúng ta phải ra sức loại trừ các hoàn cảnh túng quẫn
và bất công. Niềm hy vọng Đức Giêsu mang lại không phải là mộtngày nào đó, loài
người sẽ đạt tới chỗ loại từ mọi túng quẫn và có thể thiết lập công lý bình
đẳng. Sứ điệp của Ngài nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho người nghèo ơn cứu độ
trọn vẹn. Đàng khác, chỉ nguyên việc là người nghèo, người sa cơ thất thế,
không phải là đã đủ. Một người nghèo mà đặt hết niềm cậy trông nơi của cải trần
thế thì vẫn đang lạc đường. Hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục công cuộc cứu thế trong
Hội Thánh và nhờ Hội Thánh. Người cứu thế qua các bí tích. Người đến với con
người qua các thừa tác viên và qua tất cả các Kitô hữu đã hưởng nhờ hoạt động
từ bi thương xót của Người. Chúng ta phải nối dài hoạt động của Đức Kitô ra,
bằng cách gieo rắc niềm vui và ánh sáng, thoa dịu các nỗi khốn cùng về thể lý
và tinh thần, giải thoát người ta khỏi những nỗi lo sợ khiến tê liệt, đưa người
rta ra khỏi sự dốt nát, nâng đỡ người sống trong cô đơn, chế giảm các nỗi hiềm
khích…
27. Chú giải của R. Gutzwiller
LỜI TỰA CỦA THÁNH KÝ.
Lời mở đầu Tin mừng của Thánh Luca đưa ra ánh sáng hai ý niệm quan
trọng:
1. Tin mừng muốn chuyển đạt một sự xác thực. Điều này được nói rõ
như là mục đích riêng của Tin mừng. Sự xác thực này dựa trên những yếu tố khác
biệt nhưng trước hết dựa trên chính nội dung của Tin mừng. Tin mừng trước hết
không phải là một giáo thuyết, nghĩa là không phải là một kiến trúc trí thức,
cũng chẳng phải là một bộ luật với những giới luật và cấm đoán, hay là một vòng
hoa gồm những chuyện thần tiên mà một thế hệ sau đã thêu dệt lên chung quanh
con người Giêsu; hơn thế Tin mừng càng không phải là một huyền thoại, nói khác
đi, là một tư tưởng viết lên thành kịch. Trái lại, trong Tin mừng, các sự kiện
thực sự đã được kể lại. Lòng đạo đức đích thực phải khách quan, xây trên những
thực tại.
Thiên Chúa là nguyên nhân đầu tiên, và việc Ngài đến trong thế gian
này là một việc lớn lao nhất, chính yếu nhất trong các chân lý. Ở đây phát sinh
một sự kiện hiển nhiên, có thể sờ thấy đuợc, nhờ đó mà tất cả mọi hoạt động của
nhân loại và tất cả các sự vật khác có được một giá trị và một ý nghĩa mới mẻ.
Đó là những sự kiện cụ thể mà Tin mừng kể lại.
Tiếp đến là chủ ý nói tới những biến cố xảy ra giữa chúng ta,
‘trong môi trường của chúng ta’. Thánh Luca không phải như là một sử gia cố
gắng tái lập những biến cố cổ xưa từ nhiều thế kỷ nhờ vào các nguồn mạch. Ngài
viết trong chính miền mà những sự việc đã xẩy ra và thuộc về thế hệ chứng nhân
của những việc đó.
Những nguồn mạch Ngài múc ra bảo đảm được sự đích thực. Ngài không
trực tiếp là Tông đồ hay môn đệ của Đức Giêsu. Ngài cũng chẳng hề được diện
kiến Thày hay nghe chính lời Thày. Nhưng những cái Ngài biết, dựa vào những
chứng nhân tận mặt, họ làm chứng về những cái họ đã chứng kiến, mà không phải
chỉ là đứng ngoài nhìn, nhưng còn được tham gia việc phục vụ Lời Chúa nữa.
Nhiệm vụ chính của họ là truyền đạt Tin mừng và tất cả hoạt động của họ đều
nhằm vào viễn tượng này. Họ không nói lại lời nào khác mà trao lại ‘lời’, trao
lại ‘những lời của Ngôi Lời’, những ngôn từ thần linh nhân loại của Ngôi Lời
Thiên Chúa nhập thể.
Thánh Luca đã dùng đến nhiều nguồn khác nhau. Ngoài những bản văn
chính lục của Matthêu và Máccô, Ngài còn sử dụng những nguồn khác và hơn thế,
Ngài đã dùng một số lớn những bằng chứng khẩu truyền. Một khi biết được sự
chính xác của trí nhớ người Phương đông cổ xưa, người ta sẽ hiểu được những
chuyện kể truyền khẩu được quy định nhanh chóng trong một hình thức cố định
được truyền lại hết sức là chính xác.
Cuối cùng, chính Thánh Luca là con người được coi là chắc chắn.
Ngài chú trọng đến tất cả những gì được cung cấp từ nguồn ngọn, Ngài không phải
là con người dễ tin và nhẹ dạ: là người Hy lạp và là thày thuốc, Ngài là một
quan sát viên biết cân nhắc, có tài đánh giá thực tại, không ưa những chuyện mơ
mộng và huyền hoặc. Ngài không hài lòng với việc chỉ nhắc lại cái chính yếu
thôi, nhưng nhấn mạnh tới các nguồn mạch. Tin mừng của Thánh Luca không bắt đầu
như Thánh Máccô bằng cuộc đời công khai của của Chúa Giêsu. Nhưng hơn ai hết,
Ngài thuật lại với nhiều chi tiết, những khởi đầu của một sứ điệp lạ lùng:
truyền tin, giáng sinh và hơn thế nữa sự mong đợi và sinh nhật của Vị Tiền hô.
Cuối cùng, Ngài quyết định ‘cứ tuần tự’ kể lại các biến cố, không
phải kéo dài từ đầu chí cuối mà sắp xếp theo một lược đồ rõ rệt, một tổng hợp
gồm nhiều yếu tố được thích ứng một cách rành mạch, hợp lý.
Như vậy, dưới cái nhìn thế trần, Tin mừng theo Thánh Luca đã làm
thành một văn phẩm chính xác. Còn với các tín hữu, chúng ta chỉ biết dưới những
lời này Thần Khí Thiên Chúa, Đấng linh ứng cho tác giả Tin mừng, tuy dấu mình,
chính Thần khí này là tác giả thực sự của Tin mừng, Đấng ban cho chúng ta niềm
chính xác hoàn toàn do sự thật bất-khả-ngộ.
2. Cùng với mục đích của nó, lời tựa này còn cho chúng ta thấy ít
nhiều đặc tính cá biệt của Tin mừng. Tác giả là người Hy lạp và là một y sĩ.
Hai sự việc này có tầm mức quan trọng đặc biệt: là thày thuốc, Thánh Luca đã
chú trọng rất nhiều tới tác động cứu độ và chữa trị của Đức Giêsu. Vì thế, Ngài
đã học lại cho chúng ta cách dồi dào những cử chỉ giúp đỡ và chưã lành bệnh
nhân thể xác, khuyên nhủ và thứ tha bệnh nhân tinh thần, những tội nhân.
Vậy hình ảnh Đức Kitô đây mới là dung mạo của Đấng Cứu đời đích
thực. Đức Giêsu chữa cả xác lẫn hồn. Qua các cuộc tranh luận, chiến đấu hay qua
đau khổ, tử nạn và sống lại hoặc qua sự thảm bại hay chiến thắng, tất cả đều
được biến đổi dưới sự từ tâm sáng ngời đầy nhân đạo và lòng bác aí của Ngài.
Thánh Luca không phải là một dân thường như Thánh Máccô hay một nhà
tranh luận học thức như Thánh Matthêu, hoặc một thần học gia và một nhà thần bí
như Thánh Gioan, nhưng là một y sĩ, hiểu được nỗi thống khổ của con người và sự
trợ giúp của Thiên Chúa, hiểu được bệnh tật và việc chữa trị được tội lỗi và ơn
tha thứ.
Thánh Luca là người Hy lạp, là dân ngoại chứ không phải là Do thái.
Vì thế sứ điệp của Ngài đã làm nổ tung những khuôn khổ chật hẹp của người Do
thái. Cái nhìn của Ngài bao gồm cả nhân loại, chân trời của Ngài rộng như vũ
trụ. Ngài nhấn mạnh tới yếu tố mới mà Chúa Giêsu đem đến, đó là Tân ước và việc
tạo dựng một dân mới của Thiên Chúa; Lời mời gọi được trao đến tất cả mọi người
như đã âm vang tới cả hoàn vũ, đến nỗi Giáo Hội phổ quát trở thành công việc
của Đấng cứu độ toàn cầu.
Lời tựa ngắn gọn và trọng yếu này thực sự sửa soạn cho yếu tố cấu
thành nên mục đích và nguồn gốc của Tin mừng theo Thánh Luca. Vì thế nó cho
thấy nơi tác giả thái độ trí thức xứng hợp và việc chuẩn bị nội tâm.
Chúa Giêsu tới, đòi hỏi một sự thay đổi toàn bộ cả bên ngoài lẫn
bên trong.. Con người sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi đó nếu nó dựa trên sự chính xác
và mở rộng ra được những viễn tượng lớn lao và rộng rãi. Mục đích, đặc tính của
Tin mừng Luca đã bảo đảm được cả hai điểm đó.
TRỞ VỀ GALILÊ
Trước khi thuật lại một giai đoạn quan trọng trong việc giảng Tin
mừng ở Galilêa, Thánh Luca đã viết một dấu nhập nhắn làm nổi bật tất cả hành
năng của Chúa Giêsu trong giai đoạn này.
‘Chúa Giêsu trở về Galilêa’. Điều này tự nó không hiển nhiên. Hoạt
động có tính cách chờ mong Đấng Messia đã được Gioan Tẩy giả mở đầu ở xứ
Giuđêa; như vậy, khởi đầu công cuộc giảng Tin mừng ở đó hợp lý biết bao.
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn được chuẩn bị để đi vào xứ này bằng bao
biến cố xảy ra bên bờ sông Giođan, vì xứ Giuđêa với thủ phủ là Giêrusalem, quê
hương riêng của dân Thiên Chúa. Chính ở đây có đền thờ, ở đây các lễ hy sinh
được dâng tiến và muôn dân tuôn về đó, ở đây người ta thấy có giai cấp tư tế,
các trường phaí bác học và rồi truyền thống các tiên tri cũng được lưu giữ ở
đây.
Thế nhưng, trái với sự mong chờ, Chúa Giêsu lại trở về Galilêa. Sau
này, Ngài mới lên Giuđêa, ở đó Ngài sẽ đương đầu với các thù địch, sẽ hiến mạng
sống mình làm lễ hy sinh và kết thúc công trình cứu độ của Ngài. Nhưng giờ ấy
chưa đến.
Trước hết, Ngài muốn thư thả để tiếp tục loan báo Nước Thiên Chúa,
đặt nền móng cho Giáo Hội, thu họp những người tin. Ngài thấy xứ Galilêa có số
dân chúng sẵn sàng hơn. Nước Thiên Chúa là một hồng ân: vì thế, những người
quyền cao chức trọng, những người giàu có, những đầu óc kiêu căng không thể
chấp nhận được. Họ ngỡ rằng mình có thể giúp mình được rồi; kẻ tự tin ở sức
riêng mình đâu có hy vọng nơi Đấng Cứu Chuộc. Kẻ câỵ dựa vào sức lực riêng
mình, thì không biết chuẩn bị để đón nhận ơn sủng.
Từ đây, những nét chính trong bố cục Tin mừng của Thánh Luca đã lộ
ra. Xứ Galilêa là điểm khởi hành. Những phân chia chính yếu trong cuốn sách
Thánh này được sắp xếp theo những nơi chốn địa dư: phần thứ nhất diễn biến
trong xứ Galilêa, phần thứ hai trên đường từ Galilêa đến Giuđêa, phần thứ ba ở
ngay trong xứ Giuđêa.
Bên trong hai miền trên, Thánh Luca xen lẫn và phối trí theo một
mức độ nào đó, một loạt các biến cố theo thứ tự niên biểu, nhưng chỉ phác hoạ
những nét chính, vì đó bao giờ cũng là sự liên tục có tính cách luân lý hơn là
vấn đề niên biểu.
‘Trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng một Thần trí đã đưa dẫn Chúa
vào chốn cô tịch, bây giờ lại đưa dẫn Ngài đến giữa loài người. Điều này có ý
nói Chúa Giêsu hoàn toàn để cho Thần trí hướng dẫn.
Ai muốn hướng dẫn đời mình chỉ bằng những ý tưởng của riêng mình,
và tin tưởng ở cảm hứng của mình thì sẽ không tìm được vị thế đúng đắn của mình
trong trật tự cao sang và thánh thiện của Thiên Chúa. Còn người nào biết cầu
nguyện, mở cửa lòng mình đón nhận những sự trên cao, hẳn được Thánh Thần Thiên
Chúa hướng dẫn, dầu trong cảnh tĩnh mịch hay giữa lòng đại chúng. Chúng ta đã
đánh mất tâm tình sẵn sàng để được dẫn dắt như thế, đó là căn cớ của mọi hỗn
độn, vô trật tự.
Thánh Thần Thiên Chúa đồng thời cũng tượng trưng cho mầu nhiệm
riêng tư thâm tình nhất của Chúa Giêsu. Ngài hoàn toàn thấu suốt bí nhiệm đó,
hành động và quyết định của Ngài.
Tin mừng nói về sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Những lời giảng mạnh
mẽ của Chúa Giêsu, sức mạnh của các phép lạ Ngài làm hết thảy đều phát xuất từ
nguồn phong phú mãnh liệt là Thánh Thần Thiên Chúa. Từ ngữ Hy lạp ‘dunamis’ gồm
có ý tưởng chuyển động. Ở đâu Thần trí Chúa hoạt động, ở đó hẳn sẽ có chuyện
lạ. Đây không phải là sự yên nghỉ suông, mà là một hoạt động đang trên đường đi
đến hiện thực.
Những khả năng thực hiện việc lớn, khả năng sáng tạo của Thánh nhân
không thể đem đồng hoá với hoạt động bên ngoài; đó là một năng động, một năng
động tính thực sự, kín múc từ trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Nhiều vị
thánh nhân xác yếu đuối, dễ bị bệnh tật, thế nhưng sức làm việc của các Ngài
chưa chắc người khoẻ mạnh cường tráng có thể theo đuợc. Sức mạnh của các Ngài
là sức mạnh của Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng muốn làm những việc vĩ đại bằng
những công cụ mỏng dòn.
‘Tiếng tăm Ngài lan ra khắp miền xung quanh’. Vẻ tĩnh mịch của làng
Nagiarét, sự cô tịch của vùng hoang địa từ nay thuộc về quá khứ. Chúa Giêsu đã
xuất hiện giữa con người. Sứ điệp của Ngài không còn chi bí mật cả: tiên vàn
lời kêu gọi được chuyển từ làng này qua làng kia, sau được truyền từ xứ này qua
xứ nọ và rồi từ dân này tới dân khác.
Viên đá được ném xuống mặt hồ: những gợn sóng, những vòng đồng tâm
cứ lan rộng cho đến khi đụng vào ngưỡng cửa của vĩnh cửu. Một âm điệu mới đã
vang lên và sẽ chẳng bao giờ ngưng đọng nữa dù là trong thời gian, dù là trong
thế giới bên kia.
Sự lan tràn của Tin mừng này ngay từ khởi đầu, công cuộc giảng phúc
âm ở Galilêa đã mang lại cho lần xuất hiện đầu tiên của Chúa Giêsu trước quần
chúng một tính chất mạnh mẽ vô địch, một vẻ tươi mát của mùa xuân, của giọt
sương mai và niềm vui khi hừng đông xuất đầu lộ diện. Một đàng người ta cảm
thấy có sự trao ban, một đàng là sự đón tiếp đầy nhiệt tình hoan hỷ. Những dân
cư khiêm tốn, quê mùa, những ngư phủ mộc mạc tỏ ra rất sung sướng vì có một vị
tiên tri xuất hiện giữa họ, xuất thân từ giai cấp họ; một người hiểu được họ,
biết được nếp sinh hoạt của họ, chia sẻ số phận của họ, đồng thời lại cao cả
hơn họ, nói năng rõ ràng, hướng dẫn sáng suốt và hành động vì lòng thương yêu.
‘Ngài giảng dạy trong các hội đường của họ’. Chúa Giêsu còn dạy dỗ
ở nhiều nơi khác nữa: ở bờ hồ, trên triền núi, trong tư gia; nhưng tiên vàn
Ngài năng dạy dỗ trong các hôị đường, bởi chính ở nơi đây, dân chúng tụ tập lại
để nghe đọc lề luật và các tiên tri.
Đối vời giáo lý của Thày, lề luật và các tiên tri tượng trưng cho
điểm gặp gỡ bề ngoài lẫn bề trong. Nhưng trước hết nhấn mạnh đến giáo huấn. Đấy
không phải là điểm quan trọng nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu. Cái chết và Phục
sinh của Ngài còn vĩ đại hơn nhiều. Nhưng dầu sao, nếu giáo huấn có được đặt
lên hàng đầu thì cũng là để chứng tỏ giá trị của Lời giảng.
Ngài tỏ mình ra như một tiến sĩ luật, bởi vì Ngài công bố quan niệm
đúng đắn về luật cũ và về luật mới của Tin mừng.
Chúng ta luôn phải lắng nghe Lời Thiên Chúa để khỏi bị những lời
của nhân loại dẫn vào mê lộ. Chính Lời của Thiên Chúa, giáo lý của Chúa Giêsu,
chứ không phải khoa học, sẽ giúp giải quyết những bí ẩn tối hậu, và giải đáp
những vấn đề thâm sâu nhất.
‘Ai nấy đều ca tụng Người”. Con người của Ngài, cách Ngài nói, cách
Ngài tỏ mình, thái độ, hành năng của Ngài có một cái gì hấp dẫn khó cưỡng lại
được. Ai lắng nghe Ngài mà lòng không thành kiến và nội tâm không chai đá thì
hẳn phải thán phục và mến yêu Ngài. Vì Ngài có sức bắt buộc phải chọn lựa. Quần
chúng xôn xao, nọi người và mỗi người phải chọn lựa cho mình một thái độ theo
hay không theo, không ai được kính nhi viễn chi, dửng dưng, trung lập… Một sự
hồ hởi nổ tung. Đây là phản ứng đầu tiên. Từ từ sự chống đối manh nha và rồi
lớn mạnh thành cả một mặt trận phản kháng. Nhưng ở khởi đầu, thì chỉ có một đám
đông dân cư vui mừng hoan hỉ. Mọi người đều vang tiếng hát bài ca mới; Người ta
nói đến cuộc khởi hành mới… Thần khí của Chúa Giêsu Kitô làm phát sinh nhiệt
tình phấn khởi.
Bằng vài lời đó, công cuộc rao giảng Tin mừng ở Galilêa được phác
hoạ như là một giáo lý và hành năng có sức mạnh lớn lao, một khơi động niềm vui
và là công trình của Chúa Thánh Thần.
NAGIARÉT
Theo Thánh Luca, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ chính thức ở Nagiarét.
Thánh ký không muốn nói rằng Chúa Giêsu giảng ở đó lần đầu, vì Ngài có nói đến
bản văn viết về Chúa đã giảng dạy ở Caphanaum. Nhất là vì Thánh Luca muốn chứng
tỏ bằng một thí dụ, và ngay từ đầu cuộc sống công khai của Chúa Giêsu cho thấy
lý do hành năng của Ngài đã gây ra sự phân cách, người chấp nhận, kẻ từ bỏ.
Vì thế, quang cảnh tả ở đây cấu thành một thứ lời tựa và mở đầu cho
hoạt động của Chúa ở Galilêa, nhờ việc khai triển trình thuật đó cùng với bầu
khí của nó.
NHIỆT TÌNH ĐÓN NHẬN.
Trong hội đưỡng, khi hai bài đọc về lề luật và tiên tri chấm dứt,
thì một cử toạ có thể đứng lên chú giải bản văn, hoặc là giải thích, hoặc là
đưa ra bài giáo huấn xây dựng. Chúa Giêsu cũng làm như thế. Ngài bảo người ta
đưa cho Ngài cuốn sách tiên tri Isaia, Ngài đọc bản văn Ngài đã chọn rồi ngồi
xuống để giáo huấn. Mọi người chờ đợi với sự kinh ngạc khôn tả. Chúa Giêsu chưa
làm gì ở Nagiarét khiến người ta chú tâm đến Ngài. Ngài cũng chẳng là một Ra-bi
đã từng tra cứu sách này sách nọ… Bỗng dưng người ta nghe đồn Ngài đã khởi sự
giảng dạy trong những thành khác ở xứ Galilêa.
Đây là lần đầu tiên Ngài trở về ngôi làng nơi Ngài sinh trưởng, nơi
mà ai nấy đều biết Ngài tỏ tường. Ngài sắp nói gì đây?. Trong bản văn Ngài vừa
đọc, tiên tri Isaia mô tả thời cuối cùng kết thúc cuộc lưu đày và mở đầu cho
một thời kỳ huy hoàng tương lai, thời kỳ Đấng Cứu Thế xuất hiện. Với một vẻ đơn
sơ nhưng trang trọng, Chúa Giêsu đã áp dụng những lời tiên tri vào chính bản
thân Ngài cách rất tự nhiên: ‘Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh thánh mà tai các
ngươi vừa nghe’.
‘Thánh Thần Chúa ngự trên tôi’. Nếu ai có thể nói được điều đó thì
hẳn phải là Chúa Giêsu. Không phải Ngài chỉ xem thấy Thần khí ngự xuống trên
mình dưới hình thức mắt trần xem thấy được khi chịu phép rửa ở sông Giođan, đến
độ nói theo loài người thì hiển nhiên Ngài đã được tràn đầy Thần Linh Chúa.
Nhưng nhờ sự kết hợp bản tính Thiên Chúa với bản tính nhân loại nơi một chủ vị,
Ngài còn tràn đầy Thần Linh Thiên Chúa đến độ Thần Linh đồng hoá với Thần Trí
của Ngài tự nhiên và ngự lại ở trên Ngài không phải trong chốc lát nhưng là
cách chủ yếu và thường tồn. Hơn ai hết, Ngài tỏ ra là một người của Thiên Chúa
và một người thiêng liêng.
‘Người đã xức dầu cho tôi’. Chúa Kitô là dầu tuyệt hảo bởi vì Ngài
trổi vượt hơn hết thảy mọi tiên tri, và tỏ mình ra cả về phần Thiên Chúa lẫn
phần riêng của Ngài, như chưa từng có vị nào trong số các tiên tri đã làm. Ngài
là Lơì của Thiên Chúa đã nhập thể; vì là Dầu, nên Ngài là Vua trên hết các vua,
là Đấng Thống trị tối cao, bởi vì Nước của Ngài là Nước Thiên Chúa, Đấng không
hề biết giới hạn là gì cả về không gian lẫn thời gian. Ngài là vị Tư Tế đã được
hiến thánh bởi vì xét như là Người-Chúa, là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và
nhân loại, một hiến lễ của Ngài đã có giá trị mang lại hiệu quả và ý nghĩa cho
mọi hiến lễ khác. Ngài là Đấng Messia dân Israel mong đợi, nay đã đến rồi.
‘Người đã sai tôi’. Một ơn gọi trong Tôn giáo bao giờ cũng kèm
theoi một sứ mạng Xức dầu không phải để cho riêng ngươì-được-xức-dầu, nhưng là
cho những người mà vị này được phái tới. Tự căn bản, Chúa Giêsu là Đấng được
sai đi. Sứ vụ của Ngài là một sự kéo dài việc Ngài sinh ra từ Thiên Chúa: Đấng
xuất phát từ Cha qua việc nghĩa tử nay đi vào trần gian để đưa dẫn thế gian về
với Cha. Cốt tuỷ của sứ vụ Ngài là như thế đó.
‘Đem Tin mừng cho người nghèo khó’. Đây là những người nghèo khó về
vật chất, nhưng trước hết là những người nghèo về phần thiêng liêng. Chỉ có ai
ý thức được sự khốn khổ của mình mới biết chuẩn bị đón nhận ‘Tin mừng’ ban phát
ân sủng. Chúa Giêsu biết không được sai đến với những kẻ ngỡ rằng mình đã đầy
đủ rồi, nhưng là đến với những người đau khổ vì hoàn cảnh của bản thân mình và
hoàn cảnh của trần gian. Đối với những người này sứ điệp của Ngài thực là một
Tin mừng.
‘Loan truyền sự giải thoát cho kẻ tù đày’. Tù đày bề ngoài ở
Babilon, rồi được trở về tự do chỉ là một dấu chỉ phớt qua của ý định lớn lao
này: ‘giải phóng con người khỏi ách tù đày bề trong do tội lỗi và quỷ ma trói
buộc. Nói theo nghĩa chặt, đây mới chính là tù đày và giải phóng. Chúa Giêsu là
một chiến sĩ giải phóng vĩ đại nhất của loài người. Vì thế tự do là một trong
những chân lý chủ yếu, là một trong những yếu tố căn cơ của sứ điệp Kitô giáo.
Ở đâu người ta không còn cảm thấy hơi hướng của tự do này, ở đó câu nệ hình
thức, lo âu, sợ hãi một lần nữa lại làm cho mọi sự tê liệt, Tin mừng bị bóp méo
ngay từ trong bản chất của nó.
‘Cho người mù được thấy’. Ở đây cũng lại có ý chí sự mù loà nội
tâm, sự tối tăm nghi hoặc đối với những vấn đề trọng đại, đêm đen của tâm hồn
vì xa cách ánh sáng Thần Linh. Chúa Kitô soi chiếu trần gian. Nhờ Ngài ánh sáng
bừng lên trong tâm trí người đi tìm kiếm; soi sáng tâm hồn bị áp bức, soi sáng
đêm đen tội lỗi. ‘Người mù loà được xem thấy’. Đức Kitô chỉ cần đụng tay là ánh
sáng trở lại với người mù: đây là dấu chỉ mãi mãi mới mẻ về sự soi sáng thật mà
Chúa Kitô đã mang đến cho những ai bị mù loà phần linh hồn.
Nhờ ánh sáng mạc khải, ánh sáng của lý trí sẽ trở nên ánh sáng có
bản chất đặc biệt cho đến khi nó rạng soi trong ánh sáng vinh quang, không còn
pha lẫn chút tăm tối nào nữa. ‘ánh sáng của lý trí’, ‘ánh sáng của mạc khải’ và
‘ánh sáng của vinh quang’ rốt cuộc đều là hoa trái của ‘Ánh Sáng Chúa Kitô’.
‘Trả tự do cho kẻ bị áp bức’. Đức Kitô đứng về phía những người
yếu, phía kẻ cô thế, bị bóc lột, áp bức. Sứ điệp của Ngài có tính cách xã hội.
Nhưng, ở đây còn có một cái gì thâm thuý hơn. Quyền lực ma quỷ, Satan, áp bức
và đe doạ tâm hồn. Một sự áp bức đè nặng con người và làm cho cuộc sống bị bất
ổn. Satan là thủ lĩnh thế gian: đó là lý do tại sao Kitô giáo là một cuộc cách
mạng tôn giáo, vì nó lật nhào kẻ muốn chiếm đoạt địa vị không thuộc về mình;
thay vào đó là quyền năng tối cao của Thiên Chúa, không áp bức nhưng giải
phóng.
‘Loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa’. Hừng đông của thời kỳ vĩ đại
của ơn cứu độ mở đầu với việc Đức Messia đến. Tất cả mọi năm hoan hỷ của Israel
chỉ là điềm báo cho thời tương lai này, thời mà sự vui mừng vô tận phát sinh từ
âm hưởng của Tin mừng.
Như thế, khi áp dụng những lời tiên tri vào bản thân mình, Chúa
Kitô mô tả con người và sứ vụ của Ngài bằng những từ ngữ đơn sơ nhưng uy nghiêm
đến độ dân chúng nín thở, hồi hộp lắng nghe và cảm kích. Họ ngạc nhiên về sự
kiện Ngài dạy dỗ, con người chưa bao giờ học hành ở đâu cả; họ kinh ngạc về
cách Ngài dạy dỗ, hoàn toàn khác với lề thói của các thày dạy lề luật họ đã
quen; và họ bị những điều Ngài giảng dạy hấp dẫn, vì đây là sứ điệp ban ơn cứu
độ, ánh sáng, sự trợ giúp và tự do.
Theo sau Lời Chúa Giêsu giải thích là một hồi thinh lặng. Cử toạ
nói với nhau, trao đổi cảm tưởng. Trước hết đây là một sự lôi cuốn pha lẫn vui
mừng, rồi lần lần có nhiều tiếng nói khác nổi lên, trước tiên là tiếng của các
luật sĩ có mặt trong buổi họp ấy. Bầu khí từ từ đổi thay, rồi biến đổi hẳn.
Phần thứ hai trong hoạt cảnh này diễn biến theo một chiều hướng hoàn toàn ngược
hẳn.
28. Chú giải của Noel Quesson
Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn
bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta
Luca khi viết Tin Mừng đã có những người đi trước ngoài. Lúc đó
Máccô đã viết Tin Mừng của mình và Luca đã có biết bởi vì ngài đã sử dụng và
đôi khi theo khá sát Tin Mừng của Máccô.
Nhưng rõ ràng là có nhiều cách để soạn thảo về cùng một đề tài. Vả
lại, không phê phán những người đã viết trước mình, Luca đề ra cho mình cách
viết khác, theo phương thức và với những điểm nhấn mạnh của riêng ngài.
Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu
và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta
Do đó, như chúng ta, Luca thú nhận mình là một người đã không
"thấy" Đức Giêsu: Ngài là một Kitô hữu thuộc "thế hệ thứ
hai". Nhưng vì sống rất gần với các biến cố của Đức Giêsu nên ngài đã điều
tra... và nhận trách nhiệm truyền đạt lại (đó là Truyền thống) những gì chính
ngài đã nhận được. Phần tôi, có phải tôi cũng là một mắt xích truyền đạt Đức
Giêsu từ thời này qua thời khác không?
Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì
thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức
được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc
Luca thừa nhận ý định dạy giáo lý của mình một cách rõ ràng: Người
muốn làm cho đức tin của người đọc được vững chắc. Tin Mừng không phải là một
điều hư cấu, một huyền thoại. Tin Mừng rất nghiêm túc. Theo gương của Thánh
Phaolô, thầy mình, và nhắm đến dân ngoại cải giáo (không phải là người Do
Thái), Luca sẽ đề cao một số khía cạnh và giảm nhẹ một số khía cạnh đặc thù của
người Do Thái. Tác phẩm của ngài được linh hứng. Nhưng sự Linh hứng của Thiên
Chúa không loại trừ vai trò bình thường của các khả năng con người, của các tài
năng, của việc tìm tòi của tác giả. Tin Mừng của Thánh Luca là một Tin Mừng độc
đáo. Chúng ta hãy tiếp nhận nó như thế.
Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê, và
tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận
Suối nguồn nội tâm của Đức Giêsu chính là Chúa Thánh Thần. Luca sẽ
không ngừng lặp lại điều đó: Được thụ thai bởi Chúa Thánh 'Thần (Lc 1,35)...
mặc lấy Thần Khí của phép rửa tội (Lc 3,22)... được Thần khí dẫn đưa (Lc
4,l-4,14-4,18)... Nói theo cách của con người, người ta có thể tưởng tượng Đức
Giêsu trong sự kết hiệp không ngừng với Đấng vô hình bằng một thứ cầu nguyện liên
tục: Người không làm điều gì bởi chính Người. Người sẽ nói như thế (Ga 8,28).
Trong Người, về một Hơi Thở là hơi thở của chính Chúa Cha. Trong Người, có một
"người nhắc" nói với Người mọi việc Người làm trong sự tự do tuyệt
đối. Tôi cũng thế, tôi hãy để cho Thần Khí dần đưa tôi.
Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh
Hơn các thánh sử khác, Luca thường cho biết rằng Đức Giêsu
"giảng dạy trong các hội đường" (Lc 4,15; 16,31; 6,6; 13,10) hoặc
trong Đền thờ (Lc 19,47; 20,l; 2l,37). Giảng dạy trong hội trường trước hết có
nghĩa là chú giải Cựu Ước. Đôi khi chúng ta tự hỏi nội dung các bài giảng của
Đức Giêsu là gì. Người mở rộng, đi vào chi tiết, chú giải Kinh Thánh. Tin Mừng
của Đức Giêsu, trong sự mới mẻ của Người, dựa vào các lời hứa: của Kinh Thánh
một cách sâu xa. Việc Công Đồng đưa Cựu ước vào bài đọc thứ nhất mỗi chủ nhật
là một sự đổi mới tìm về một truyền thống cổ xưa! Nhờ có Công Đồng, chúng ta
thực hiện lại điều Đức Giêsu đã làm.
Rồi Đức Giêsu đến Nagiarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội
đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ
trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra gặp đoạn chép rằng: Thần
Khí Chúa ngự trên tôi
Là Đấng Mêsia của những người nghèo khó, Đức Giêsu không lập dị.
Người đến rao giảng không phải ở Giêrusalem, thành phố của các vua và các
Thượng Tế; nhưng trong một tỉnh xa xôi và bị coi thường "vùng Galilê của
dân ngoại" (Mt 4,15), vùng đất của những người phận nhỏ và nghèo khó. Là Đấng
Mêsia và là tư tế, Đức Giêsu không lên Đền Thánh để cử hành các nghi thức thờ
phượng, các hy tế, nhưng Người vào trong một Hội đường ở làng quê, nơi khiêm
tốn để cầu nguyện và lắng nghe lời Chúa, mà tất cả lời Chúa đều tập trung trên
sách thánh. Như thế, Người biểu lộ chức tư tế của Người trước hết thuộc bình
diện ngôn sứ. Ngày nay cũng thế, trước tiên chúng ta hiệp thông với Đức Giêsu
trong phần đầu tiên này của thánh lễ mà người ta gọi là "phụng vụ Lời
Chúa". Đó không phải là một phần nhập đề phụ thuộc và tùy thích. Thánh lễ
đã bắt đầu. Đức Giêsu đã "thánh hiến" một lần duy nhất trong cuộc đời
Người vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng Người đã dùng lời" nhiều lần:
"Đó là chức tư tế của Người. Thánh Phaolô đã hiểu rõ điều ấy khi ngài được
Đức Giêsu Kitô ban ân sủng làm người phục vụ Đức Giêsu Kitô lo việc tế tự là
rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa (Rm 15,16). Cuốn sách mà Đức Giêsu, ngày hôm
đó mang theo, mở ra và đọc luôn trường tồn. Tôi có cuốn sách ấy trong nhà tôi
không? Tôi có dành thời gian để đọc không? Kinh Thánh có là một phẩm đặc biệt
trong việc đọc sách của tôi không? Gặp đoạn chép rằng: "Thần Khí Chúa ngự
trên tôi". Vì thế Đức Giêsu đã xác định sứ mạng của Người là một sứ mạng
của ngôn sứ. Trong ngôn ngữ của Israel, những lời ấy có nghĩa: Tôi là ngôn sứ, tôi
được Thiên Chúa gọi đến để nói nhân danh Người, để nói sứ điệp của Người. Và
Đức Giêsu đặt mình dưới sự bảo trợ của ngôn sứ lớn nhất Isaia. Qua thủ bản
Qumram, người ta biết được rằng ngôn sứ Isaia là một ngôn sứ được sử dụng nhiều
nhất vào thời. Đức Giêsu: Thủ bản cổ thất thế giới rõ ràng là các cuộn da, đã
được tìm thấy trong một: hang động cách nay vài năm và được bảo quản trong Viện
Bảo Tàng Kinh Thánh, ở Gìêrusalem, và trên đó là toàn bộ bản viết tay sách
Isaia. Như một sự tình cờ, một tài liệu duy nhất thuộc loại này trong toàn bộ
văn chương thế giới đến được với chúng ta vào giữa thời kỳ hiện đại. Phải chăng
chỉ do sự tình cờ? Chúng ta xúc động nhận rằng Đức Giêsu đọc sách Isaia đó.
Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi
Chúng ta hãy nhận xét thêm một lần nữa từ "xức dầu” được gọi
là "chrisma" trong tiếng Hy Lạp, và Đấng được xức dầu được gọi là
"christos" do đó mới có danh hiệu Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là Đấng
được Thần Khí: Thiên Chúa xức dầu, thâm nhập và thấm nhuần như dầu thấm vào cơ
thể. Nơi người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện một cách cụ thể
(Côlôsê 2,9).
Để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Những từ "loan báo Tin Mừng" dịch từ một động từ Hy Lạp:
euaggehsasthai có nghĩa là "truyền bá phúc âm". Isaia đã viết ra từ
ấy, mang đến niềm hy - vọng bao la gởi cho những. người bị lưu đầy ở Babylon để
loan báo Tin Mừng họ được giải phóng (Is 52,7-61,1). Tin Mừng chính là sự'
"giải phóng"... và sự "phục hưng" Giêrusalem. Nhưng một
thất vọng to lớn sẽ tiếp nối những loan báo mang tính ngôn sứ của Isaia. Những
người "nghèo hèn" tiếp tục bị đàn áp, và bất hạnh. Dần dần, từ
"nghèo hèn" trong Kinh Thánh bắt đầu gợi ra không chỉ một điều kiện
khó khăn về kinh tế hoặc xã hội, những còn là thái độ nội tâm của người nào còn
tìm được chỗ dựa nơi con người khi đối diện với những kẻ quyền thế của thế gian
nên phải quay về Thiên Chúa. Luca đặc biệt thích nhấn mạnh đến chủ đề này:
Thiên Chúa đã đặc biệt thi ái "những kẻ nghèo hèn "…
Còn bạn là anh chị em tôi, bạn cảm thấy mình bị loại khỏi hạnh phúc
theo kiểu của thế gian, bạn là người mà Lời Đức Giêsu nhắm đến trước tiên. Có
một hạnh phúc khả dĩ dành cho bạn: Bạn hãy tìm hạnh phúc đó bên cạnh Thiên
Chúa.
Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố
một năm hồng ân của Chúa
Tùy theo tính khí, người ta sẽ còn tiếp tục giải thích bản văn này
theo hai hướng trái ngược nhau, nếu như người ta không chịu chấp nhận cả hai:
Vấn đề là sự giải phóng vật chất, chính trị và nhân bản... kẻ bị giậm cầm,
người mù và người bị áp bức?... hay vấn đề là một sự giải phóng tâm linh hơn?
Chắc chắn rằng Đức Giêsu đã không mở cửa tất cả các nhà tù, không
chữa lành mọi người mù và bệnh tật, đã không từ bỏ mọi áp bức khỏi hành tinh
chúng ta. Hỡi ôi như thế chẳng hóa ra là một lời hứa vô ích, lừa phỉnh sao? Tuy
nhiên trước hết người nghèo hèn động ở hàng đầu tiên để chờ đợi sự giải phóng
về vật chất cho họ. Có lẽ chính chúng ta, những môn đệ của Đức Giêsu sẽ có tội
nếu chúng ta không "thực hiện" lời tiên tri ấy. Chúng ta phải làm gì
để giải phóng anh em chúng ta? Để làm giảm nhẹ những người bệnh tật? Nhưng cũng
chắc chắn rằng sự áp bức tệ hại nhất là sự nô lệ nội tâm mà tội lỗi tạo ra
trong chúng ta. Từ được dịch ra ở đây bằng từ "giải phóng" hay trả
lại tự do chính là từ "aphésis" cũng có nghĩa là “tha thứ” (Lc
1,77-3,3-24,47; Cv 2,38,5,31 v.v...) Vâng, lạy Chúa, xin giải phóng chúng con
xin tha thứ chúng con! ôi! trong tầm hồn con, có sự nô lệ khủng khiếp đó, khi
con trở nên tù nhân của xác thịt con, của thù hận, tiền bạc, tiện nghi, khoái
cảm! Sự giải phóng mà Đức Giêsu đã hứa cũng dành cho chính con.
Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi
ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói
với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."
Ngày nay ở thế kỷ 21, điều đó có liên quan gì với tôi? Thánh Luca
sử dụng mười hai lần tiếng "hôm nay" mầu nhiệm và trang nghiêm ấy,
trong Tin Mừng của Ngài; từ “Hôm nay” đã sinh ra cho anh em một “Cứu Chúa"
cho đến "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" lúc Người bị
treo trên thập giá. (Lc 2,11; 3,22; 4,21; 5,26; 12,28; 13,32; 13,33; 19,5;
19,9; 22,34; 22,61; 23,43).